Thể hiện, nó luôn quy định loại trừ một số khoản thu nhập trước khi tính thuế TNCN như thu nhập mang tính trợ cấp xã hội, khoản chi cần thiết cho cuộc sống cá nhân, gia đình người nộp th
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
Trang 2NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN
Trang 3
Trang 4
LỜI NÓI ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 2
3 Phạm vi nghiên cứu 2
4 Phương pháp nghiên cứu 2
5 Bố cục 2
CHƯƠNG 1 TÌM HIỂU VỀ THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN VÀ CÔNG TÁC ĐĂNG KÝ, KÊ KHAI VÀ NỘP THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN 1 Khái quát về thuế thu nhập cá nhân ở Việt Nam 4
1.1 Lịch sử hình thành và phát triển của thuế thu nhập cá nhân ở Việt Nam và các nước 4
1.2 Khái quát về thuế thu nhập cá nhân 5
1.2.1 Khái niệm về thuế thu nhập cá nhân 5
1.2.2 Đặc điểm của thuế thu nhập cá nhân 6
1.2.3 Vai trò của thuế thu nhập cá nhân 6
1.3 Những nội dung cơ bản của thuế TNCN 8
1.3.1 Đối tượng nộp thuế TNCN 8
1.3.2 Thu nhập chịu thuế TNCN 10
1.3.3 Thu nhập miễn thuế, giảm thuế 13
1.3.3.1 Thu nhập miễn thuế 13
1.3.3.2 Thu nhập giảm thuế 15
1.3.4 Căn cứ tính thuế 16
1.3.4.1 Đối với cá nhân cư trú 16
1.3.4.2 Đối với cá nhân không cư trú 21
Trang 52.1 Khái niệm về đăng ký, kê khai, nộp thuế 22
2.1.1 Khái niệm về đăng ký thuế 22
2.1.2 Khái niệm về kê khai thuế TNCN 22
2.1.3 Khái niệm về nộp thuế 23
2.2 Vai trò đăng ký, kê khai, nộp thuế TNCN 23
CHƯƠNG 2 NHỮNG QUY ĐỊNH VỀ ĐĂNG KÝ, KÊ KHAI, NỘP THUẾ TNCN 2.1 Những qui định về đăng ký Thuế TNCN 25
2.1.1 Đối tượng đăng ký Thuế TNCN 25
2.1.2 Mã số thuế (MST) 26
2.1.2.1 Khái niệm MST 26
2.1.2.2 Cấu trúc MST 26
2.1.2.3 Nguyên tắc cấp MST 27
2.1.2.4 Chấm dứt hiệu lực MST 27
2.1.3 Thủ tục đăng ký Thuế TNCN 28
2.1.3.1.Thời hạn nộp hồ sơ đăng ký Thuế TNCN 28
2.1.3.2 Hồ sơ đăng ký Thuế TNCN 29
2.1.3.3 Địa điểm nộp hồ sơ đăng ký Thuế TNCN 31
2.1.3.4 Cấp giấy chứng nhận đăng ký thuế 31
2.1.4 Thay đổi thông tin đăng ký thuế 32
2.1.4.1 Trách nhiệm và thời hạn thông báo thay đổi thông tin đăng ký thuế 32
2.1.4.2 Thủ tục thay đổi thông tin đăng ký thuế 32
2.2 Những qui định về kê khai Thuế TNCN 34
2.2.1 Nguyên tắc kê khai Thuế TNCN 34
Trang 62.2.2.2 Thời hạn nộp hồ sơ khai Thuế TNCN 43
2.2.2.3 Địa điểm nộp hồ sơ khai Thuế TNCN 45
2.2.2.4 Gia hạn nộp hồ sơ khai Thuế TNCN 47
2.2.2.5 Khai bổ sung hồ sơ Thuế TNCN 48
2.2.2.6 Khai thuế điện tử 49
2.3 Những qui định về nộp thuế TNCN 50
2.3.1 Đồng tiền nộp Thuế TNCN 50
2.3.2 Thời hạn nộp Thuế TNCN 50
2.3.3 Gia hạn nộp Thuế TNCN 51
2.3.4 Địa điểm và thủ tục nộp Thuế TNCN 52
2.3.5 Thứ tự thanh toán tiền thuế, tiền phạt và xử lý số tiền nộp thừa 53
2.3.5.1 Thứ tự thanh toán tiền thuế, tiền phạt 53
2.3.5.2 Xử lý số tiền nộp thừa 53
CHƯƠNG 3 TÌNH HÌNH THỰC HIỆN VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CÔNG TÁC ĐĂNG KÝ, KÊ KHAI VÀ NỘP THUẾ TNCN Ở QUẬN NINH KIỀU – TP.CẦN THƠ NÓI RIÊNG VÀ VIỆT NAM NÓI CHUNG 3.1.Tình hình thực hiện công tác đăng ký, kê khai và nộp thuế TNCN 55
3.2 Những vấn đề còn tồn tại 58
3.3 Giải pháp hoàn thiện công tác đăng ký, kê khai và nộp thuế thu nhập cá nhân ở quận Ninh Kiều nói riêng và ở Việt Nam nói chung 65
KẾT LUẬN 72
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 7LỜI NÓI ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Như chúng ta đã biết thuế là nguồn thu chủ yếu của ngân sách nhà nước, nó góp phần quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội của đất nước Mặc dù Nhà nước có nhiều khoản thu nhập khác nhau cho ngân sách và nhiều sự lựa chon khác nhau để có nguồn thu cho ngân sách nhưng suy cho cùng thuế vẫn là công cụ hữu hiệu nhất để Nhà nước thể hiện quyền lực chính trị của mình tạo ra nguồn thu cho ngân sách Nhưng để thực hiện công tác thu thuế vào ngân sách là không hề đơn giản, nhất là trong xu thế nhất thể hóa khu vực và toàn cầu hóa lại đặt ra thử thách lớn đòi hỏi phải có những cải cách phù hợp
Nghị Quyết Đại hội Đảng IX và X đã xác định “Áp dụng thuế thu nhập cá nhân thống nhất và thuận lợi cho mọi đối tượng chịu thuế, bảo đảm công bằng xã hội và tạo động lực phát triển” và “Hoàn thiện hệ thống pháp luật về thuế theo nguyên tắc công bằng, thống nhất và đồng bộ… Điều chỉnh chính sách thuế theo hướng giảm và ổn định thuế suất, mở rộng đối tượng thu, điều tiết hợp lý thu nhập” Cụ thể hoá Nghị quyết đại
hội Đảng, Bộ Chính trị đã thông qua Chiến lược cải cách thuế đến năm 2010, trong đó
đặt ra yêu cầu: “Cần sớm xác định các bước đi thích hợp để tăng tỷ trọng các nguồn thu trong nuớc cho phù hợp với tiến trình hội nhập Mở rộng diện thuế trực thu và tăng tỷ lệ thu từ thuế trực thu”
Hiện tại nước ta đang tồn tại một số loại thuế như Thuế thu nhập doanh nghiệp, Thuế thu nhập cá nhân, Thuế giá trị gia tăng, Thuế tiêu thụ đặc biệt, Thuế xuất - nhập khẩu, thuế nhà đất,… Chính vì nước ta đang tồn tại nhiều loại thuế nên nó đã mang đến một khoảng thu không nhỏ cho ngân sách nhà nước, bên cạnh đó nước ta gặp không ít khó khăn trong quá trình quản lý những loại thuế này Đặc biệt là Thuế thu nhập cá nhân một loại thuế đánh lên thu nhập của mỗi cá nhân, bởi vì theo báo cáo tình hình dân số thế giới 2010 của Liên hiệp quốc thì dân số Việt Nam là 89 triệu (đứng 14 thuế giới) và sẽ tăng 111,7 triệu người vào năm 20501, với một số lượng dân lớn như vậy nó đã tạo ra một lợi thế lớn về nguồn thu của thuế thu nhập cá nhân và cũng là một thách thức lớn đối với nhà nước ta trong quá trình quản lý
Bên cạnh đó để đạt mục tiêu gia nhập vào WTO nước ta đã chủ động cắt giảm nhiều loại thuế nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình hội nhập, giao lưu kinh tế, dẫn
Trang 8đến tình trạng nguồn thu ngân sách của nước ta bị giảm đáng kể Nhận thức được vấn đề này và để tận dụng tối đa nguồn lực về dân số, Nhà nước ta đã kịp thời cho ra đời Luật Thuế thu nhập cá nhân năm 2007 được Quốc hội thông qua ngày 21/11/2007, có hiệu lực
từ ngày 01/01/2009 để có thể bù đắp vào những khoản đã cắt giảm đi Nhưng vấn đề còn lại là làm thế nào để có thể thực hiện tốt Luật này để thu về nguồn ngân sách nhà nước là vấn đề cấp thiết được đặt ra
Vì vậy, vấn đề hoàn thiện công tác quản lý thuế nói chung, thuế TNCN ở Việt Nam nói riêng là vấn đề cấp bách cần giải quyết Đặc biệt là trong công tác đăng ký, kê khai
và nộp thuế thu nhập cá nhân (TNCN) đang gặp nhiều khó khăn Nếu vấn đề này được giải quyết thì chúng ta sẽ tận dụng được thế mạnh rất lớn về tiềm lực dân số, chống lại
sự thất thu của Thuế thu nhập cá nhân, đẩy mạnh nền kinh tế - xã hội của đất nước, làm cho dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ văn minh Đó cũng chính là lý do
em chọn đề tài “Đăng ký, kê khai và nộp thuế thu nhập cá nhân lý luận và thực tiễn” để
nghiên cứu viết luận văn
2 Mục đích nghiên cứu
Với mục đích khái quát lại thuế TNCN đồng thời tìm hiểu thêm về công tác đăng
ký, kê khai và nộp thuế TNCN của nước ta hiện tại, những thuận lợi và khó khăn trong công tác đăng ký, kê khai và nộp thuế TNCN của các cơ quan quản lý thuế cũng như người nộp thuế của nước ta
Cuối cùng là những đóng góp của người viết để hoàn thiện hơn về công tác quản lý thuế TNCN của Việt Nam hiện tại
3 Phạm vi nghiên cứu
Ở đề tài này người viết tập trung nghiên cứu về công tác quản lý thuế thu nhập cá nhân trong phạm vi đăng ký, kê khai và nộp thuế TNCN
4 Phương pháp nghiên cứu
Sử dụng tổng hợp các biện pháp nghiên cứu như phương pháp phân tích, tổng hợp, thống kê và khảo sát thực tế
5 Bố cục
Bố cục luận văn gồm 3 chương
Chương 1: Tìm hiểu về thuế thu nhập cá nhân và công tác đăng ký, kê khai và nộp thuế thu nhập cá nhân ở Việt Nam
Trang 9Chương 2: Những quy định về đăng ký, kê khai và nộp thuế TNCN
Chương 3: Tình hình thực hiện và giải pháp hoàn thiện công tác đăng ký, kê khai và nộp thuế thu nhập cá nhân ở quận Ninh Kiều – TP.Cần Thơ nói riêng và Việt Nam nói chung
Trang 10CHƯƠNG 1 TÌM HIỂU VỀ THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN VÀ CÔNG TÁC ĐĂNG KÝ,
KÊ KHAI VÀ NỘP THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN Ở VIỆT NAM
1 Khái quát về thuế thu nhập cá nhân ở Việt Nam
1.1 Lịch sử hình thành và phát triển của thuế thu nhập cá nhân ở Việt Nam và các nước
Sự ra đời và phát triển của thuế nói chung là tất yếu khách quan của xã hội Bởi vì một chính phủ muốn tồn tại và phát triển thì cần phải có ngân sách để duy trì hoạt động,
có thể có nhiều phương pháp khác nhau để tạo nên nguồn ngân sách đó nhưng suy cho cùng thuế vẫn là công cụ hữu hiệu nhất Bởi vì Nhà nước vốn có sẵn quyền lực chính trị trong tay nếu Nhà nước áp dụng các biện pháp thu thuế một cách hợp lý không những sẽ tạo nên một nguồn thu ngân sách lớn mà thuế còn là công cụ hữu hiệu để điều tiết vĩ mô nền kinh tế và nhằm mục đích thực hiện công bằng xã hội Theo Burg thì thuế có lịch sử rất lâu đời khoảng 2500 năm và cũng có thể là 4500 năm2, thuế nói chung đã xuất hiện rất lâu trên thế giới nhưng đối với Thuế TNCN (individual income tax) là loại thuế được
áp dụng ở các nước phát triển trong những thế kỷ XVIII, XIX, XX, cụ thể là năm 1799 Anh áp dụng thuế này như một hình thức thu tạm thời nhằm mục đích trang trải cho cuộc chiến và áp dụng chính thức vào năm 1842, Nhật Bản áp dụng vào năm 1887, Mỹ 1913
và Pháp 19143 Và ở Việt Nam sự ra đời và phát triển của Thuế TNCN cũng là một tất yếu khách quan xuất phát từ sự phát triển của nền kinh tế, khi nước ta chuyển đổi cơ chế kinh tế từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung sang cơ chế kinh tế thị trường, nhằm đảm bảo công bằng trong phân phối thu nhập và tạo nguồn thu cho Nhà nước để trang trải nhu cầu chi tiêu khi một số loại thuế khác có xu hướng giảm do sự hội nhập kinh tế quốc
tế và những cam kết cắt giảm thuế của các tổ chức, liên minh thương mại quốc tế WTO Lần đầu tiên ở nước ta Thuế TNCN ra đời Ngày 27/12/1990, Hội đồng nhà nước đã ban hành Pháp lệnh về thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao, Pháp lệnh này có hiệu lực từ ngày 01/4/1991 Ðể cho phù hợp với tình hình thực tế của từng giai đoạn phát triển kinh tế- xã hội của đất nước, từ đó đến nay đã có 06 lần sửa đổi, bổ sung Pháp lệnh thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao: lần thứ nhất vào ngày 10/3/1992, lần thứ hai vào ngày 1/6/1994, lần thứ ba vào ngày 6/2/1997, lần thứ tư vào ngày 30/6/1999, lần
2 TS.Lê Thị Nguyệt Châu, Giáo trình Luật tài chính 2, năm 2009 tr.6, trích từ David F.Burg, A world History of Tax Rebellions, Routedge, Oxford UK 2004, tr Xi
3
http://phaply.net.vn/tu-cuoc-song-den-nghi-truong/thue-thu-nhap-ca-nhan-o-mot-so-nuoc-tren-the-gioi.html [Ngày truy cập 02/02/2012]
Trang 11thứ năm vào ngày 13/6/2001( có hiệu lực thi hành từ ngày 1/7/2001) và lần thứ 6 là pháp lệnh sửa đổi, bổ sung số 14/2004/PL-UBTVQH11 ban hàng năm 2004 (có hiệu lực từ ngày 01/07/2004 đến nay) Hiện nay việc thực hiện các quy định của pháp lệnh số 14 này được hướng dẫn bởi thông tư 81/2004/TT-BTC và thông tư số 12/2005/TT-BTC4
Để nâng cao hơn nữa tính chất quan trọng và phải có các biện pháp chế tài đủ mạnh
để việc thực hiện thu thuế TNCN được đi vào ổn định, có hiệu quả, công bằng Tại kỳ họp Quốc hội khoá XII đã thông qua Luật số 04/2007/QH12 - Luật thuế thu nhập cá nhân Luật này có hiệu lực thi hành chính thức từ ngày 01/01/20095
1.2 Khái quát về thuế thu nhập cá nhân
1.2.1 Khái niệm về thuế thu nhập cá nhân
Thuế thu nhập cá nhân là loại thuế trực thu chủ yếu đánh vào thu nhập thực nhận của cá nhân khi phát sinh thu nhập chịu thuế
Tùy theo từng thu nhập cụ thể mà cá nhân có những kỳ tính thuế khác nhau trong năm Trong năm tính thuế cá nhân có thể nộp thuế theo tháng, quý, năm hoặc từng lần phát sinh thu nhập, cụ thể:
- Đối với cá nhân cư trú:
+ Thu nhập từ kinh doanh và thu nhập từ tiền lương, tiền công có thể áp dụng kỳ tính thuế theo năm;
+ Kỳ tính thuế theo từng lần phát sinh thu nhập được áp dụng đối với thu nhập từ đầu tư vốn; Chuyển nhượng vốn, trừ thu nhập chuyển nhượng chứng khoán; Chuyển nhượng bất động sản; Trúng thưởng; Bản quyền; Nhượng quyền thương mại; Thừa kế; Quà tặng
+ Kỳ tính thuế theo từng lần chuyển nhượng hoặc theo năm đối với thu nhập chuyển nhượng chứng khoán Nếu người nộp thuế áp dụng kỳ tính thuế theo năm thì phải đăng ký từ đầu năm với cơ quan thuế
- Đối với cá nhân không cư trú được tính theo từng lần phát sinh thu nhập đối với tất cả các thu nhập chịu thuế
Trang 121.2.2 Đặc điểm của thuế thu nhập cá nhân
- Là loại thuế đánh lên tất cả cá nhân có thu nhập chịu thuế Vì loại thuế trực thu nên người chịu thuế khó có thể chuyển gánh nặng về thuế cho người khác Cho nên tâm
lý của người chịu thuế thường nặng nề hơn khi thực hiện nghĩa vụ thuế này so với các loại thuế gián thu6
- Nhà nước cũng có thể sử dụng loại thuế này để khuyến khích làm việc hay nghỉ ngơi thông qua biểu thuế7 Nếu Nhà nước có nhu cầu công nhân làm thêm giờ thì Nhà nước có thể giảm thuế hay miễn thuế đối với số thu nhập được tạo ra trong thời gian đó, ngược lại nếu nhà nước khuyến khích nghỉ ngơi thì nhà nước có thể đánh thuế vào những khoản thu nhập đó
- Thuế TNCN là một loại thuế thu nhập nhưng khác với thuế Thu nhập doanh nghiệp ở chỗ nó có tính tất yếu gắn với chính sách xã hội của mỗi quốc gia Thể hiện, nó luôn quy định loại trừ một số khoản thu nhập trước khi tính thuế TNCN như thu nhập mang tính trợ cấp xã hội, khoản chi cần thiết cho cuộc sống cá nhân, gia đình người nộp thuế, khoản chi mang tính nhân đạo xã hội…
- Thuế TNCN có diện thu thuế rộng, thể hiện trên hai khía cạnh:
+ Một là đối tượng đánh thuế TNCN là toàn bộ các khoản thu nhập của cá nhân cư trú thuộc diện đánh thuế không phân biệt thu nhập đó có nguồn gốc phát sinh trong nước hay ở nước ngoài
+ Hai là đối tượng nộp thuế TNCN là toàn bộ những người có thu nhập bao gồm những người dân nước sở tại và những người nước ngoài cư trú thường xuyên hay không thường xuyên tại nước sở tại
1.2.3 Vai trò của thuế thu nhập cá nhân
- Thuế thu nhập cá nhân góp phần tăng nguồn thu ngân sách của trung ương và địa phương:
+ Thuế TNCN là một hình thức thu quan trọng trong khoản thu ngân sách Nhà nước Mặc dù ta biết rằng ngân sách nhà nước có được không chỉ có thuế mà còn từ nhiều khoản khác như phí, lệ phí, các khoản viện trợ,…nhưng nguồn thu từ thuế vẫn là nguồn thu chủ yếu của ngân sách nhà nước
6 TS.Lê Thị Nguyệt Châu, Giáo trình Luật tài chính 2 (Thuế), Cần Thơ 2009, tr 25
7 TS.Lê Thị Nguyệt Châu, Giáo trình Luật tài chính 2 (Thuế), Cần Thơ 2009, tr 25
Trang 13+ Trong khi đó sự giảm dần các loại thuế xuất - nhập khẩu do yêu cầu tự do hóa thương mại nên thuế thu nhập cá nhân ngày càng trở thành nguồn thu quan trọng cho ngân sách Nhà nước Nền kinh tế nước ta ngày càng phát triển, thu nhập bình quân đầu người của cá nhân ngày càng tăng từ đó thuế thu nhập cá nhân sẽ góp phần quan trọng vào việc tăng thu cho ngân sách nhà nước
+ Thực tế tỷ trọng thu thuế TNCN trong tổng thu ngân sách của nhiều quốc gia đã phản ánh tiến trình đó, tại các nước khối ASEAN: Có tỷ trọng 5-10%, các nước phát triển có tỷ trọng 15-16% có nước đạt tới tỷ trọng 30- 40% như Anh, Mỹ Ở Việt Nam, mới tiếp cận chính sách thu thuế và còn phân tán ở nhiều sắc thuế nhưng cũng đã có kết quả tăng trưởng thu khá lớn trong những năm gần đây: năm 1991 thu theo chính sách thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao là 62 tỷ, thì đến năm 2000 thu được 1.832 tỷ
và đến năm 2005 số thu đã đạt 8.300 tỷ Tuy vậy tỷ trọng thu cũng mới chỉ đạt khoảng 5% tổng thu ngân sách8 và với sự phát triển này thì thuế TNCN còn góp phần tăng nguồn thu cho ngân sách nhà nước ngày càng nhiều trong những năm sau
- Thuế TNCN nhằm góp phần đảm bảo bình đẳng và công bằng xã hội:
Ở mỗi quốc gia có mỗi trình độ phát triển khác nhau và ở bất kỳ quốc gia nào cũng đều tồn tại những sự phát triển không đồng đều trong dân cư Vì thu nhập của mỗi cá nhân chủ yếu dựa vào khả năng và trình độ lao động, vị trí của cá nhân đó trong xã hội nhưng những yếu tố trên đối với mỗi cá nhân là không giống nhau Vì thế nó tạo ra sự phân hóa thu nhập giữa các tầng lớp trong xã hội Và ở Việt Nam cũng vậy, nhận thức được tầm quan trọng này cho nên Nhà nước ta lần lượt cho ra đời “Pháp lệnh thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao” năm 1990 và “Luật Thuế TNCN” năm 2007 để điều chỉnh, huy động một tỷ lệ thu nhập hợp lý trên một số khoản thu nhập cao của cá nhân trên nguyên tắc thu nhập càng cao thì đóng thuế thu nhập càng cao, vấn đề này đã góp phần lớn tạo nên sự công bằng xã hội giữa các tầng lớp dân cư
- Đối với hệ thống thuế:
Góp phần hạn chế sự thất thu của thuế thu nhập doanh nghiệp (TNDN): Trong doanh nghiệp thường tồn tại song song hai loại thuế là thuế TNDN và thuế TNCN Thuế TNCN góp phần hạn chế sự thất thu của thuế TNDN khi có sự gian lận giữa doanh nghiệp với cá nhân của chính doanh nghiệp đó, bằng cách kê khai các chi phí phải trả cho cá nhân như tiền lương, tiền công cao hơn thực tế để trốn thuế TNDN, nhưng thuế
Trang 14TNCN hạn chế được sự gian lận này, vì lúc này những cá nhân đó sẽ có những khoản thu nhập cao hơn thì cá nhân đó sẽ phải nộp số thuế cao hơn
1.3 Những nội dung cơ bản của thuế TNCN
1.3.1 Đối tượng nộp thuế TNCN
Đối tượng nộp thuế là một trong những vấn đề cần phải được xác định rõ ràng, chính xác Vì mỗi đối tượng đều có qui định riêng để điều chỉnh cho hợp lý, nếu xác định sai đối tượng hoặc qui định đối tượng không hợp lý sẽ dẫn đến sự thiếu công bằng với đối tượng khác và có thể làm thất thu ngân sách Vì vậy, các quốc gia trên thế giới đều có những qui định chặt chẽ vấn đề này, cụ thể là9
:
- Ở Trung Quốc cá nhân cư trú hoặc không cư trú nếu có mặt tại Trung Quốc từ 1 năm trở lên phải đóng thuế TNCN trên thu nhập toàn cầu, nếu có mặt tại Trung Quốc dưới 1 năm phải đóng thuế TNCN phát sinh trong lãnh thổ Trung Quốc;
- Ở Hàn Quốc cá nhân không cư trú là người có thời hạn ở Hàn Quốc dưới 1 năm
và chỉ phải nộp thu nhập phát sinh ở Hàn Quốc;
- Ở Nhật Bản xác định cá nhân cư trú là người cư trú từ 1 năm trở lên, cá nhân không cư trú có thời gian cư trú dưới 1 năm;…
Để xác định đối tượng nộp thuế các nước thường dựa trên 3 tiêu chí là nơi cư trú, nguồn phát sinh thu nhập hay quốc tịch Hiện tại đa số các nước đều áp dụng tiêu chí nơi
cư trú để xác định đối tượng nộp thuế Bởi vì tiêu chí nơi cư trú có tính khả thi hơn, trong thời đại giao lưu kinh tế, luôn có sự dịch chuyển lao động, tài sản giữa các quốc gia Và nếu áp dụng tiêu chí nguồn phát sinh thì cá nhân có thể bị đánh thuế nhiều lần cùng một thu nhập ở nhiều quốc gia Vì khi phát sinh thu nhập thì quốc gia nước sở tại
có quyền đánh thuế lên thu nhập đó Vì vậy, hiệp định tránh đánh thuế hai lần giữa các quốc gia được ký kết ngày càng nhiều, ngày càng hoàn thiện nó góp phần giải quyết được tình trạng cá nhân bị đánh thuế hai lần cùng một lúc
Nhìn lại pháp luật Việt Nam thì thấy rằng những qui định về đối tượng nộp thuế qua các thời kỳ là khác nhau, cụ thể là:
- Thứ nhất theo “Pháp lệnh thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao” ngày 27/12/1990 thì đối tượng nộp thuế TNCN được xác định chủ yếu dựa trên hai tiêu chí là quốc tịch và nơi cư trú, cụ thể tại Điều 1 của Pháp lệnh “Công dân Việt Nam và người nước ngoài có thu nhập tại Việt Nam theo quy định tại Điều 2 của Pháp lệnh này đều
9 www.tuvanthueca.com/tin-quốc-tế/thuế-thu-nhập-cá-nhân-ở-một-số-nước-trên-thế-giới [
Trang 15phải nộp thuế thu nhập.” Bởi vì thời kỳ này nước ta chỉ mới bắt đầu chập chững bước
vào con đường hội nhập, chưa giao lưu được nhiều với các nước trên thế giới nên vấn đề
cá nhân nước ngoài cư trú hay không cư trú chưa phổ biến.Vì thế “Pháp lệnh thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao” có dựa vào tiêu chí quốc tịch để xác định đối tượng nộp thuế
- Thứ hai là theo Điều 2 Luật Thuế TNCN số 04/2007/QH12 được Quốc hội thông qua ngày 21/11/2007 thì tiêu chí xác định đối tượng nộp thuế là tiêu chí cư trú của cá nhân
+ Cá nhân cư trú đáp ứng được những điều kiện sau: Khoản 2 Điều 2 Luật
Số thuế tính trùng được trừ = Thuế năm thứ nhất : 12 x số tháng tính trùng 10
Ngoài việc dựa trên số ngày có mặt, Luật TNCN còn xác định dựa trên nơi ở thường xuyên tại Việt Nam, nơi ở thường xuyên theo hướng dẫn tại Thông tư
Trang 1684/2008/TT-BTC ngày 30/9/2008: Cá nhân có nhà thuê để ở tại Việt Nam với hợp đồng thuê từ 90 ngày trở lên trong năm tính thuế thì cũng được xem là cá nhân cư trú Đây là trường hợp mở để người nước ngoài có thể trở thành cá nhân cư trú và hưởng những lợi ích từ đó, ví dụ: một cá nhân muốn đầu tư vào Việt Nam vào cuối năm tính thuế thì cá nhân đó sẽ thuê nhà ở với hợp đồng thuê trên 90 ngày trước khi tiến hành đầu tư phát sinh thu nhập chịu thuế Thay vì phải có mặt ở Việt Nam 183 ngày để được hưởng quyền lợi này
+ Cá nhân không cư trú:
Cá nhân không cư trú là người không đáp ứng điều kiện quy định tại khoản 2 Điều
2 Khoản 3 Điều 2 Luật Thuế TNCN số 04/2007/QH12 đã dùng phương pháp loại trừ để xác định cá nhân không cư trú, có nghĩa là cá nhân nào không rơi vào trường hợp tại khoản 2 Điều 2 là thỏa điều kiện của một cá nhân không cư trú
1.3.2 Thu nhập chịu thuế TNCN
Vấn đề xác định thu nhập chịu thuế là một trong những vấn đề quan trọng của
Thuế TNCN Vì nó không những ảnh hưởng đến nguồn thu của ngân sách mà nó còn ảnh hưởng đến sự phát triển kinh tế và nó còn đánh giá được sự công bằng xã hội Xác định được thu nhập chịu thuế là tiền đề cho việc xác định số thuế mà người có thu nhập chịu thuế phải nộp
Vì vậy, thu nhập chịu thuế TNCN được qui định cụ thể trong Luật Thuế TNCN số 04/2007/QH12 được thông qua ngày 21/11/2007 và được hướng dẫn chi tiết tại thông tư
số 84/2008/TT-BTC ngày 30/9/2008 của Chính phủ quy định chi tiết hướng dẫn thi hành một số điều của Luật thuế TNCN và hướng dẫn thi hành Nghị định số 100/2008/NĐ-CP ngày 08/9/2008 hướng dẫn thi hành một số điều của Luật thuế TNCN, bao gồm các khoản thu nhập chịu thuế sau:
- Thu nhập từ kinh doanh:
+ Thu nhập từ sản xuất, kinh doanh hàng hoá, dịch vụ thuộc tất cả các lĩnh vực, ngành nghề kinh doanh theo quy định của pháp luật như: sản xuất, kinh doanh hàng hoá; xây dựng; vận tải; kinh doanh ăn uống; kinh doanh dịch vụ, kể cả dịch vụ cho thuê nhà, cho thuê mặt bằng Kể cả các thu nhập từ hoạt động sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch
vụ ở nước ngoài
+ Thu nhập từ hoạt động hành nghề độc lập của cá nhân trong những lĩnh vực,
ngành nghề được cấp giấy phép hoặc chứng chỉ hành nghề theo quy định của pháp luật
Trang 17+ Thu nhập từ hoạt động sản xuất, kinh doanh nông nghiệp, lâm nghiệp, làm muối,
nuôi trồng, đánh bắt thuỷ sản không đáp ứng đủ điều kiện được miễn thuế
- Thu nhập từ tiền lương, tiền công:
Thu nhập từ tiền lương, tiền công là các khoản thu nhập mà người lao động nhận được từ người sử dụng lao động dưới các hình thức bằng tiền hoặc không bằng tiền Những khoản thu nhập này phát sinh từ quá trình làm công ăn lương của người lao động, do chính lao động của họ tạo ra và họ được trả lương trực tiếp hàng tháng hoặc hàng năm từ chính đơn vị của họ Ngoài các khoản tiền lương chính của người lao động
họ còn có thể nhận được những khoản phụ cấp, trợ cấp, tiền thưởng, các khoản có tính chất tiền lương, tiền công cũng được tính vào thu nhập chịu thuế trong kỳ tính thuế, trừ các khoản phụ cấp, trợ cấp được trừ như phụ cấp độc hại, quốc phòng, an ninh, đối với người có công với cách mạng, phụ cấp khu vực, Và các khoản không tính vào thu nhập chịu thuế như khoản tiền ăn giữa ca, tiền đào tạo nâng cao trình độ chuyên môn của người lao động, các khoản chi văn phòng phẩm, công tác phí, điện thoại, trang phục
Vì vậy khi xác định thu nhập chịu thuế đối với thu nhập từ tiền lương, tiền công thì
cơ quan quản lý thuế cần chú ý đến những khoản tiền phụ cấp, trợ cấp và các khoản không tính vào thu nhập chịu thuế để có thể xác định một cách chính xác hơn
- Thu nhập từ đầu tư vốn:
+ Tiền lãi cho vay
là thu nhập từ đầu tư vốn
- Thu nhập từ chuyển nhượng vốn:
+ Thu nhập từ chuyển nhượng vốn được xác định bằng giá bán trừ giá mua và các
Trang 18+ Trường hợp không xác định được giá mua và chi phí liên quan đến việc chuyển nhượng chứng khoán thì thu nhập chịu thuế được xác định là giá bán chứng khoán + Thời điểm xác định thu nhập chịu thuế từ chuyển nhượng vốn là thời điểm giao dịch chuyển nhượng vốn hoàn thành theo qui định của pháp luật
Thu nhập từ chuyển nhượng vốn thường phát sinh từ những cá nhân là thành viên thuộc các công ty cổ phần có các phần vốn góp dưới các hình thức là cổ phần, cổ phiếu
và những cá nhân có thể chuyển các cổ phần, cổ phiếu của họ cho những đối tượng khác theo quy định của pháp luật, khi những cá nhân sở hữu các loại chứng khoán trên chuyển nhượng cho đối tượng kinh doanh khác thì đây là hoạt động chuyển nhượng vốn
- Thu nhập từ hoạt động chuyển nhượng bất động sản:
Thu nhập từ chuyển nhượng bất động sản được xác định bằng giá chuyển nhượng bất động sản theo từng lần chuyển nhượng trừ giá mua bất động sản và các chi phí liên quan, cụ thể như sau:
+ Giá chuyển nhượng bất động sản là giá theo hợp đồng tại thời điểm chuyển nhượng;
+ Giá mua bất động sản là giá theo hợp đồng tại thời điểm mua;
+ Các chi phí liên quan được trừ căn cứ vào chứng từ, hóa đơn theo qui định của pháp luật, bao gồm các loại phí, lệ phí theo quy định của pháp luật liên quan đến quyền
sử dụng đất; Chi phí cải tạo đất, cải tạo nhà, chi phí san lấp mặt bằng; Chi phí đầu tư xây dựng nhà ở, kết cấu hạ tầng và công trình kiến trúc trên mặt đất; và các chi phí khác liên quan đến việc chuyển nhượng bất động sản
Trường hợp không xác định được giá mua và chi phí liên quan đến việc chuyển nhượng bất động sản thì thu nhập chịu thuế được xác định là giá chuyển nhượng
Chính phủ quy định nguyên tắc, phương pháp xác định giá chuyển nhượng bất động sản trong trường hợp giá chuyển nhượng bất động sản trong hợp đồng thấp hơn giá đất do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quy định có hiệu lực tại thời điểm chuyển nhượng thì giá chuyển nhượng được xác định căn cứ vào giá đất do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh ban hành
- Thu nhập từ trúng thưởng, thừa kế, quà tặng:
Thu nhập từ trúng thưởng xổ số, trúng thưởng trong các hình thức khuyến mại, trúng thưởng trong các hình thức cá cược, casino, trúng thưởng trong các trò chơi, cuộc
Trang 19thi có thưởng Và các thu nhập từ việc nhận thừa kế, quà tặng có phần giá trị vượt trên
10 triệu đồng theo từng lần phát sinh trúng thưởng và nhận thừa kế, quà tặng
- Thu nhập từ nhượng quyền thương mại, bản quyền và chuyển giao công nghệ:
Thu nhập từ bản quyền, nhượng quyền thương mại và chuyển giao công nghệ là phần thu nhập có giá trị vượt trên 10 triệu đồng theo từng hợp đồng mà đối tượng nộp thuế nhận được khi chuyển giao quyền sử dụng, quyền sở hữu trí tuệ, nhượng quyền thương mại và chuyển giao công nghệ
+ Nhượng quyền thương mại thường tồn tại dưới dạng phi vật chất của bên nhượng quyền cho bên nhận quyền như nhãn hiệu hàng hóa, bí quyết kinh doanh, tên thương mại, quảng cáo
+ Thu nhập từ bản quyền là thu nhập có được từ các sáng tác như tranh vẽ, kịch bản, tác phẩm văn học, tác phẩm âm nhạc, nghệ thuật và tác giả của những tác phẩm này sẽ nhận được thu nhập từ các các khoản này khi nó phát sinh thu nhập
+ Chuyển giao công nghệ là quá trình chuyển giao các hoạt động như dây chuyền sản xuất, thiết bị mới, công nghệp mới,
Thời điểm xác định thu nhập chịu thuế là thời điểm tổ chức, cá nhân trả thu nhập cho đối tượng nộp thuế
1.3.3 Thu nhập miễn thuế, giảm thuế
1.3.3.1 Thu nhập miễn thuế
- Thu nhập từ chuyển nhượng, thừa kế, quà tặng là bất động sản giữa những người trong gia đình với nhau, cụ thể: giữa vợ với chồng; cha đẻ, mẹ đẻ với con đẻ; cha nuôi,
mẹ nuôi với con nuôi; cha chồng, mẹ chồng với con dâu; cha vợ, mẹ vợ với con rể; ông nội, bà nội với cháu nội; ông ngoại, bà ngoại với cháu ngoại, anh, chị em ruột với nhau Thu nhập giữa những đối tượng có mối quan hệ thân thiết trên không mang tính chất kinh doanh mà chỉ mang tính chất chuyển giao có thu tiền hoặc không thu tiền giữa
họ với nhau nên nó được miễn thuế là điều đúng đắn của Nhà nước ta
- Thu nhập từ chuyển nhượng nhà ở, quyền sử dụng đất ở và tài sản gắn liền với đất
ở của cá nhân trong trường hợp người chuyển nhượng chỉ có duy nhất một nhà ở, quyền
sử dụng đất ở tại Việt Nam
Trang 20người có tài sản duy nhất khi chuyển nhượng tài sản thường không mang tính chất kinh doanh mà do những hoàn cảnh khách quan như để tìm nơi ở mới nên cần chuyển nhượng lại hay vì lý do công việc
- Thu nhập từ giá trị quyền sử dụng đất của cá nhân được nhà nước giao đất không phải trả tiền hoặc được giảm tiền sử dụng đất theo qui định của pháp luật
Vì khi nhà nước giao đất không thu tiền hoặc giảm tiền sử dụng đất thì cá nhân đó rơi vào trường hợp khuyến khích, ưu tiên đối với việc sử dụng đất đó Thứ hai là khi Nhà nước đã giao không thu tiền hay giảm tiền sử dụng đất mà lại đánh thuế thì chẳng khác nào một hình thức thu tiền của Nhà nước
- Thu nhập từ chuyển đổi đất nông nghiệp của hộ gia đình, cá nhân được Nhà nước giao để sản xuất
- Thu nhập của hộ gia đình cá nhân trực tiếp tham gia vào hoạt động sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, làm muối, nuôi trồng, đánh bắt thủy hải sản chưa qua chế biến thành các sản phẩm khác hoặc chỉ qua sơ chế thông thường
Nước ta là nước nông nghiệp những hình hình thức sản xuất trên luôn được Nhà nước quan tâm và khuyến khích người dân tiến hành hoạt động nên việc Nhà nước miễn thuế đối với lĩnh vực này là điều đúng đắn
- Thu nhập từ lãi tiền gửi tại ngân hàng, tổ chức tín dụng, lãi từ hợp đồng bảo hiểm nhân thọ
Thực tế ở Việt Nam, lãi tiền gửi tiết kiệm của cá nhân mang tính tích lũy là chủ yếu Tiền gửi tiết kiệm là nguồn cung cấp vốn quan trọng cho sản xuất kinh doanh thông qua kênh huy động vốn là các ngân hàng thương mại nên việc chưa thu thuế thu nhập từ lãi tiền gửi tiết kiệm sẽ góp phần đáp ứng yêu cầu về vốn phát triển sản xuất kinh doanh của nền kinh tế
- Thu nhập từ kiều hối
- Thu nhập từ phần tiền lương, tiền công làm việc ban đêm, làm thêm giờ được trả cao hơn so với tiền lương, tiền công làm việc ban ngày, làm việc trong giờ theo qui định của luật lao động
Đây là một hình thức khuyến khích cá nhân làm thêm giờ để tạo thêm sản phẩm và thu nhập
Trang 21- Thu nhập từ tiền lương hưu do bảo hiểm xã hội trả theo qui định của luật bảo hiểm xã hội
- Thu nhập từ học bổng
+ Học bổng nhận được từ ngân sách nhà nước
+ Học bổng nhận được từ các tổ chức trong nước và nước ngoài theo chương trình
hỗ trợ khuyến học của tổ chức đó
Thu nhập từ học bổng là một hình thức khuyến khích học sinh, sinh viên, những người có hoàn cảnh khó khăn để thúc đẩy tinh thần học tập và những nổ lực để những người có hoàn cảnh khó khăn vượt lên chính mình Đây là những điều mà Nhà nước ta luôn quan tâm sâu sắc và luôn được thực hiện một cách nghiêm túc
- Thu nhập từ bồi thường hợp đồng bảo hiểm nhân thọ, phi nhân thọ, tiền bồi thường tai nạn lao động, các khoản bồi thường nhà nước và các khoản bồi thường khác theo qui định của pháp luật được miễn thuế
- Thu nhập nhận được từ các quỹ từ thiện được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép thành lập hoặc công nhận, hoạt động vì mục đích từ thiện, nhân đạo, khuyến học, không nhằm mục đích thu lợi nhuận
- Thu nhập nhận được từ nguồn viện trợ của nước ngoài vì mục đích từ thiện, nhân đạo dưới hình thức chính phủ và phi chính phủ được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt
1.3.3.2 Thu nhập giảm thuế
Những thu nhập được miễn thuế không được qui định cụ thể từng khoản thu nhập
mà nó chỉ phát sinh trong trường hợp bất khả kháng như thiên tai, hỏa hoạn, tai nạn, bệnh hiểm nghèo nhưng những trường hợp này chỉ được xét giảm thuế khi nó ảnh hưởng đến khả năng nộp thuế Mức giảm thuế tương ứng với mức độ thiệt hại nhưng không vượt quá số thuế phải nộp Ví dụ: khi một chủ thể có thu nhập đạt mức chịu thuế là 5% nhưng chủ thể đó rơi vào những trường hợp như trên thì mức giảm thuế tối đa của chủ thể đó là 5% thu nhập chịu thuế
Trang 221.3.4 Căn cứ tính thuế
Căn cứ tính thuế là khâu quan trọng dùng để xác định mức thuế mà cá nhân đó phải nộp là bao nhiêu Vì vậy nếu vấn đề này được xác định rõ ràng thì vấn đề tính thuế và thu thuế của Nhà nước sẽ diễn ra thuận lợi hơn Tùy theo đối tượng mà có những phương pháp tính thuế khác nhau, hiện tại Việt Nam có hai đối tượng tính thuế đó là cá nhân cư trú và cá nhân không cư trú:
1.3.4.1 Đối với cá nhân cư trú
1 Thu nhập tính thuế từ tiền lương, tiền công và từ kinh doanh:
Thu nhập tính thuế bằng thu nhập chịu thuế trừ các khoản sau:
+ Các khoản đóng góp bảo hiểm bắt buộc như: Bảo hiểm y tế, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp đối với một số ngành, nghề phải tham gia bảo hiểm bắt buộc và các khoản bảo hiểm khác theo quy định của pháp luật
+ Các khoản giảm trừ gia cảnh
+ Các khoản đóng góp vào quỹ từ thiện, quỹ nhân đạo, quỹ khuyến học
Thu nhập chịu thuế đối với cá nhân vừa có thu nhập chịu thuế từ tiền lương, tiền công, vừa có thu nhập chịu thuế từ kinh doanh là tổng thu nhập chịu thuế từ tiền lương, tiền công cộng thu nhập chịu thuế từ kinh doanh
Thu nhập tính thuế = Thu nhập chịu thuế - các khoản giảm trừ
Số Thuế TNCN phải nộp = Thu nhập tính thuế X Thuế suất
a Thu nhập từ kinh doanh:
- Thu nhập chịu thuế từ kinh doanh được xác định bằng doanh thu trừ các khoản chi phí hợp lý liên quan đến việc tạo ra thu nhập chịu thuế từ kinh doanh trong kỳ tính thuế
- Doanh thu là toàn bộ tiền bán hàng, tiền gia công, tiền hoa hồng, tiền cung ứng hàng hoá, dịch vụ phát sinh trong kỳ tính thuế từ các hoạt động sản xuất, kinh doanh hàng hoá, dịch vụ
Trang 23- Thời điểm xác định doanh thu là thời điểm chuyển giao quyền sở hữu hàng hoá, hoàn thành dịch vụ hoặc thời điểm lập hoá đơn bán hàng, cung ứng dịch vụ
- Các chi phí hợp lý được trừ là các khoản chi phí thực tế phát sinh, có liên quan trực tiếp tạo ra doanh thu, thu nhập chịu thuế trong kỳ tính thuế và có hóa đơn, chứng từ theo quy định của pháp luật
b Thu nhập từ tiền lương, tiền công:
- Thu nhập chịu thuế từ tiền lương tiền công được xác định bằng tổng số tiền lương, tiền công, tiền thù lao, các khoản thu nhập khác có tính chất tiền lương, tiền công mà đối tượng nhận được trong kỳ tính thuế
- Thời điểm xác định thu nhập chịu thuế từ tiền lương, tiền công là thời điểm tổ chức, cá nhân trả thu nhập cho đối tượng nộp thuế hoặc thời điểm đối tượng nộp thuế nhận được thu nhập
Đối với đối tượng nộp thuế là 4 triệu đồng/tháng, 48 triệu đồng/năm
Đối với người phụ thuộc mà người nộp thuế có trách nhiệm nuôi dưỡng là 1,6 triệu đồng/tháng kể từ tháng phát sinh nghĩa vụ nuôi dưỡng
- Giảm trừ đối với các khoản đóng góp từ thiện
- Giảm trừ đối với các khoản đóng góp bắt buộc theo quy định của Bộ Luật Lao động, Luật Bảo hiểm xã hội, Bảo hiểm y tế
Đối với thu nhập từ kinh doanh và thu nhập từ tiền lương, tiền công thì được áp dụng thuế suất theo biểu thuế lũy tiến từng phần
Trang 24Biểu thuế lũy tuyến từng phần
Bậc
thuế
Phần thu nhập tính thuế/năm (triệu đồng)
Phần thu nhập tính thuế/tháng
(triệu đồng)
Thuế suất (%)
2 Đối với các khoản thu nhập khác
- Đối với thu nhập từ đầu tư vốn:
Số thuế TNCN phải nộp = Thu nhập tính thuế x Thuế suất 5%
- Đối với thu nhập từ chuyển nhượng vốn:
Số thuế TNCN phải nộp = Thu nhập tính thuế x Thuế suất 20%
- Đối với thu nhập từ chuyển nhượng từ bất động sản:
Thu nhập chịu thuế từ chuyển nhượng bất động sản được xác định bằng giá chuyển nhượng bất động sản theo từng lần chuyển nhượng trừ giá mua bất động sản và các chi phí liên quan, cụ thể:
+ Giá chuyển nhượng bất động sản là giá theo hợp đồng tại thời điểm chuyển nhượng;
+ Giá mua bất động sản là giá theo hợp đồng tại thời điểm mua;
+ Các chi phí liên quan được trừ căn cứ vào chứng từ, hoá đơn theo quy định của pháp luật, bao gồm các loại phí, lệ phí theo quy định của pháp luật liên quan đến quyền
sử dụng đất; chi phí cải tạo đất, cải tạo nhà, chi phí san lấp mặt bằng; chi phí đầu tư xây
Trang 25dựng nhà ở, kết cấu hạ tầng và công trình kiến trúc trên đất; các chi phí khác liên quan đến việc chuyển nhượng bất động sản
Trường hợp không xác định được giá mua và chi phí liên quan đến việc chuyển nhượng bất động sản thì thu nhập chịu thuế được xác định là giá chuyển nhượng bất động sản
+ Cách tính thuế:
Áp dụng mức thuế suất 25% đối với thu nhập xác định được giá vốn và chi phí liên quan
Số thuế TNCN phải nộp = Thu nhập tính thuế x Thuế suất 25%
Áp dụng mức thuế suất 2% đối với thu nhập không xác định được giá vốn và chi phí liên quan
Số thuế TNCN phải nộp = Thu nhập tính thuế x Thuế suất 2%
- Đối với thu nhập từ chuyển nhượng chứng khoán, có hai phương pháp để tính thuế:
+ Trường hợp cá nhân chuyển nhượng chứng khoán đăng ký nộp thuế theo biểu thuế lũy tiến toàn phần với thuế suất là 20%
Số thuế TNCN phải nộp = Thu nhập tính thuế x Thuế suất 20%
Cá nhân chuyển nhượng chứng khoán đã đăng ký nộp thuế theo thuế suất là 20% vẫn phải tạm nộp thuế suất 0,1% giá chuyển nhượng chứng khoán từng lần
+ Trường hợp cá nhân chuyển nhượng chứng khoán không đăng ký nộp thuế theo biểu thuế lũy tiến toàn phần với thuế suất là 20% thì áp dụng thuế suất 0,1% giá chuyển nhượng chứng khoán từng lần
Số thuế TNCN phải nộp = Thu nhập tính thuế x Thuế suất 0,1%
- Đối với thu nhập từ bản quyền, nhượng quyền thương mại:
Thu nhập tính thuế đối với thu nhập từ bản quyền, nhượng quyền thương mại là phần thu nhập vượt trên 10 triệu đồng
Số thuế TNCN phải nộp = Thu nhập tính thuế x Thuế suất 5%
Trang 26- Đối với thu nhập từ trúng thưởng, thừa kế, quà tặng:
Thu nhập chịu thuế từ trúng thưởng là phần giá trị giải thưởng vượt trên 10 triệu đồng mà đối tượng nhận được theo từng lần trúng thưởng không phụ thuộc vào số lần nhận tiền thưởng
Thu nập chịu thuế từ thừa kế, quà tặng là phần giá trị tài sản nhận từ thừa kế, quà tặng vượt trên 10 triệu đồng mỗi lần nhận
Số thuế TNCN phải nộp = Thu nhập tính thuế x Thuế suất 10%
Đối với các khoản thu nhập từ đầu tư vốn, chuyển nhượng vốn, chuyển nhượng từ bất động sản, bản quyền, nhượng quyền thương mại, trúng thưởng, thừa kế, quà tặng, chuyển nhượng chứng khoán được áp dụng mức thuế suất cố định trong biểu thuế toàn phần
Biểu thuế toàn phần
2 Thu nhập từ chuyển nhượng vốn
- Thu nhập từ chuyển nhượng phần vốn góp
- Thu nhập từ chuyển nhượng chứng khoán + Xác định được giá mua và chi phí liên quan + không xác định được giá mua và chi phí liên quan
20%
20%
0,1%
3 Thu nhập từ chuyển nhượng bất động sản
- Xác định được giá vốn và chi phí liên quan
- Không xác định được giá vốn và chi phí liên quan
25%
2%
4 Thu nhập từ bản quyền, nhượng quyền thương mại 5%
5 Thu nhập từ thừa kế, trúng thưởng, quà tặng 10%
Trang 271.3.4.2 Đối với cá nhân không cư trú
Việc xác định thu nhập tính thuế của cá nhân không cư trú là:
- Không xét giảm trừ gia cảnh;
- Đối với thu nhập từ kinh doanh thì không được khấu trừ chi phí;
- Đối với thu nhập từ chuyển nhượng vốn, bất động sản thì giá vốn và chi phí không được khấu trừ;
- Đối với các khoản thu nhập còn lại thì cách tính tương tự cá nhân cư trú
Cá nhân không cư trú được xác định số thuế phải nộp chủ yếu dựa trên biểu
thuế toàn phần
2 Thu nhập từ kinh doanh
- Kinh doanh hàng hóa
5 Thu nhập từ chuyển nhượng bất động sản 2%
6 Thu nhập từ bản quyền, nhượng quyền thương mại 5%
7 Thu nhập từ thừ kế, trúng thưởng, quà tặng 10%
Tùy theo quan điểm, đường lối và tình hình phát triển của từng quốc gia mà mỗi quốc gia có qui định khác nhau về cách đánh thuế lên từng thu nhập cho phù hợp Thuế suất đánh lên từng thu nhập có ý nghĩa rất quan trọng trong vấn đề điều tiết vĩ mô nền kinh tế Vì vậy khi ấn định một mức thuế suất đối với một thu nhập chịu thuế là một vấn
đề được cân nhắc và tính toán kỹ tùy theo tình hình của đất nước và thế giới để có một mức thuế suất phù hợp
Trang 282 Khái quát về đăng ký, kê khai, nộp thuế TNCN
2.1 Khái niệm về đăng ký, kê khai, nộp thuế TNCN
2.1.1 Khái niệm về đăng ký thuế TNCN
Đăng ký thuế là việc người nộp thuế kê khai những thông tin của mình cho cơ quan quản lý thuế để thực hiện nghĩa vụ về thuế đối với nhà nước theo qui định của pháp luật
Để giúp cho cơ quan quản lý thuế dễ dàng hơn trong quá trình quản lý từng đối tượng nộp thuế, cũng như thu nhập chịu thuế thì điều trước tiên cơ quan quản lý thuế cần nắm bắt được thông tin của họ Từ đó mà cơ quan quản lý thuế có những biện pháp tính thuế và thu thuế khác nhau đối với từng đối tượng một cách hợp lý và có những biện pháp hỗ trợ kịp thời đối với người nộp thuế
Bên cạnh đó nó có thể giúp cho người nộp thuế dễ dàng hơn để làm tròn nghĩa vụ của mình đối với Nhà nước, nếu hệ thống đăng ký cấp mã số thuế được thực hiện một cách đơn giản, thuận lợi
Hay nói một cách khác thì vấn đề đăng ký thuế là tiền đề giúp cho quá trình kê khai, tính thuế và nộp thuế được thực hiện một cách thuận lợi, có hệ thống giúp cho quá trình thanh tra, kiểm tra thuế thực hiện một cách chặt chẽ, rõ ràng hơn
2.1.2 Khái niệm về kê khai thuế TNCN
Kê khai TTNCN là công tác quản lý TTNCN do người nộp thuế tự kê khai số thuế phải nộp theo những thủ tục qui định dưới sự giám sát của cơ quan quản lý thuế
Trong hiện tại cũng như tương lai nước ta luôn hướng đến một đất nước “pháp chế
xã hội chủ nghĩa” ở đây mọi người sống và làm việc theo pháp luật, vì thế ý thức pháp luật của người dân là rất cao Và trong hiện tại Nhà nước ta đã dần biến nó thành thực tế,
và thực tế ở đây là Nhà nước cho quyền người nộp thuế tự kê khai số thuế mà của chính người nộp thuế sẽ nộp, thể hiện sự tin tưởng phần nào của Nhà nước đối với công dân Mặt khác, do quá trình phát triển và ý thức pháp luật của người dân không đồng đều, vì vậy, một mặt Nhà nước trao quyền tự kê khai nộp thuế cho người nộp thuế nhưng dưới
sự giám sát chặt chẽ của các cơ quan nhà nước để kịp thời can thiệp, xử lý nghiêm minh Bên cạnh đó, Nhà nước cho phép người nộp thuế tự kê khai thuế bởi vì chỉ người nộp thuế mới biết chính xác được số thu nhập chịu thuế của mình, Nhà nước không thể nào giám sát được hết từng hoạt động phát sinh thu nhập của người nộp thuế, và Nhà nước sẽ can thiệp nếu có sự sai lệch rõ ràng bằng cách căn cứ vào hồ sơ, hóa đơn, chứng từ để xác định lại số thuế mà người nộp thuế sẽ nộp
Trang 292.1.3 Khái niệm về nộp thuế TNCN
Nộp thuế TNCN là nghĩa vụ và trách nhiệm của người nộp thuế đối với Nhà nước trên từng đối tượng chịu thuế và thu nhập chịu thuế theo qui định của pháp luật
Như chúng ta đã biết thuế dùng để phục vụ cho lợi ích kinh tế, lợi ích xã hội, duy trì
sự hoạt động của bộ máy nhà nước Vì vậy cần phải có biện pháp mệnh lệnh bắt buộc đối với khoản thu nhập này để mọi công dân đều phải tuân thủ một cách tuyệt đối, cho nên Quốc hội đã quy định nghĩa vụ này trong Hiến pháp 1992 sửa đổi bổ sung 2001, Điều 80 “Công dân có nghĩa vụ đóng thuế”
Và công dân phải chịu trách nhiệm của mình trước pháp luật nếu không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ nộp thuế của mình với Nhà nước
2.2 Vai trò đăng ký, kê khai, nộp thuế TNCN
- Đăng ký, kê khai và nộp thuế TNCN là một quy trình trong công tác quản lý thuế TNCN nó có mối quan hệ gắn bó với nhau và đều có mục đích chung là mang lại nguồn thu cho ngân sách nhà nước Nếu thiếu một trong ba thành phần trên thì nó không kết thành một quy trình quản lý chặt chẽ và khó mang về nguồn thuế TNCN cho ngân sách nhà nước
+ Đăng ký thuế giúp cho cơ quan thuế quản lý được thông tin của người nộp thuế
và là tiền đề cho giúp quá trình quản lý kê khai thuế diễn ra một cách thuận lợi hơn Vì
kê khai thuế TNCN do chính người nộp thuế tự kê khai, và để biết được sự trung thực của người nộp thuế hay không thì cơ quan thuế sẽ dựa vào thông tin đăng ký thuế của người nộp thuế với cơ quan thuế
+ Kê khai thuế giúp cho cơ quan thuế nắm bắt được thu nhập chịu thuế của người nộp thuế trong kỳ tính thuế, rồi từ đó làm đơn giản hóa quá trình tính thuế và thu thuế của cơ quan thuế Kê khai thuế còn có vai trò trong việc xác định sự phát triển của các lĩnh vực sản xuất, kinh doanh trong năm tính thuế, qua đó có thể có những chính sách thuế mới trong năm sau như tăng, giảm hoặc miễn thuế tùy theo sự phát triển của từng lĩnh vực cụ thể
+ Nộp thuế TNCN của cá nhân là mục tiêu mà Nhà nước vươn đến, đây là quá trình góp phần trực tiếp làm tăng nguồn thu ngân sách Vì lúc này là lúc cá nhân thực hiện nghĩa vụ của mình một cách thực tế nhất đối với Nhà nước là nộp vào nguồn ngân sách
Trang 30Góp phần quan trọng để quá trình đăng ký, kê khai và nộp thuế hoàn thành nhiệm
vụ, vai trò của nó đối với Nhà nước cũng như đưa nó đến người dân là nhờ vào quá trình thống nhất các thủ tục hành chính theo hướng công khai, minh bạch, đơn giản tại trụ sở
cơ quan thuế tạo điều kiện cho người nộp thuế hiểu và nâng cao ý thức pháp luật về thuế
Trang 31CHƯƠNG 2 NHỮNG QUI ĐỊNH VỀ ĐĂNG KÝ, KÊ KHAI, NỘP THUẾ TNCN 2.1 Những qui định về đăng ký Thuế TNCN
2.1.1 Đối tượng đăng ký Thuế TNCN
Khi xác định được đối tượng đăng ký thuế thì gần như xác định được đối tượng nộp thuế và kịp thời xử lý những đối tượng thuộc diện đăng ký thuế nhưng cố tình lẫn tránh Vấn đề xác định đối tượng đăng ký thuế là rất quan trọng trong quá trình quản lý thuế TNCN Vì vậy vấn đề xác định đối tượng đăng ký thuế có thể xem là vấn đề tiên quết trong quy trình quản lý thuế TNCN, nó được qui định cụ thể như sau:
Theo quy định tại Điều 21 của Luật Quản lý thuế, Điều 2 và Điều 8 của Luật Thuế thu nhập cá nhân, đối tượng phải đăng ký thuế thu nhập cá nhân bao gồm:
- Tổ chức, cá nhân trả thu nhập, bao gồm:
+ Các tổ chức kinh tế, hộ kinh doanh và cá nhân kinh doanh kể cả các chi nhánh, đơn vị phụ thuộc, thuộc đối tượng phải đăng ký thuế theo hướng dẫn tại Thông tư số 85/2007/TT-BTC ngày 18/7/2007 của Bộ Tài chính hướng dẫn thi hành Luật Quản lý thuế về việc đăng ký thuế
+ Các cơ quan quản lý hành chính nhà nước các cấp như Uỷ ban nhân dân, Hội đồng nhân dân các cấp, các Sở, Ban, Ngành của các tỉnh, thành phố thuộc Trung ương + Các tổ chức chính trị, tổ chức chính trị xã hội, tổ chức xã hội nghề nghiệp
+ Các đơn vị sự nghiệp
+ Các tổ chức quốc tế và tổ chức nước ngoài như Ngân hàng thế giới tại Việt Nam,
Tổ chức y tế thế giới, Liên hiệp quốc tại Việt Nam Và các tổ chức khác khi thành lập ở Việt Nam thì có nghĩa vụ đăng ký thuế
+ Các Ban quản lý dự án, Văn phòng đại diện của các tổ chức nước ngoài
Trang 32+ Cá nhân có thu nhập từ tiền lương, tiền công
+ Các cá nhân có thu nhập chịu thuế khác (nếu phát sinh thường xuyên)
2.1.2 Mã số thuế (MST)
Như chúng ta đã biết MST là một phần quan trọng trong công tác quản lý thuế Do
đó quá trình cấp MST cần có những nguyên tắc riêng, đặc thù của nó
2.1.2.1 Khái niệm
MST là một dãy chữ số được qui định theo một nguyên tắc thống nhất để cấp cho từng tổ chức, cá nhân thuộc diện phải kê khai về thuế, khai báo hải quan và phí, lệ phí với cơ quan thuế và cơ quan hải quan (gọi chung là đối tượng nộp thuế) MST được sử dụng để nhận biết đối tượng nộp thuế và được cơ quan thuế, cơ quan hải quan quản lý thống nhất trên phạm vi toàn quốc
2.1.2.2 Cấu trúc của MST
- Cấu trúc MST là một dãy số được chia thành các nhóm sau:
N1 N2 – N3 N4 N5 N6 N7 N8 N9 - N10 – N11 N12 N13
Mười ba chữ số trên được hiểu như sau:
+ Hai chữ số đầu N1 N2 là mã số được qui định để phân biệt giữa các tỉnh với nhau + Bảy chữ số tiếp theo được đánh theo thứ tự từ nhỏ tới lớn (0000001 – 9999999) dùng để xác định các đối tượng đăng ký thuế trước hay sau Chữ số thứ mười là chữ số dùng để kiểm tra
+ Mười chữ số đầu được cấp cho đối tượng nộp thuế độc lập và đơn vị hành chính;
Ba chữ số cuối được đánh theo thứ tự từ nhỏ tới lớn theo từng đơn vị trực thuộc
Trang 332.1.2.3 Nguyên tắc cấp MST
+ MST được cấp duy nhất một lần cho từng doanh nghiệp, tổ chức kinh doanh từ lúc đăng ký cho đến khi không còn tồn tại Có nghĩa là doanh nghiệp, tổ chức kinh doanh đó sẽ được cơ quan thuế cấp MST khi tiến hành đăng ký thuế và MST đó sẽ chấm dứt hiệu lực khi doanh nghiệp đó giải thể, phá sản Và MST đó sẽ không có khả năng hồi sinh khi doanh nghiệp, tổ chức kinh doanh đó phục hồi hoạt động, khi phục hồi hoạt động thì doanh nghiệp, tổ chức kinh doanh phải đăng ký MST mới
+ Đối với cá nhân thì MST chỉ được cấp duy nhất một lần vĩnh viễn cho đến khi cá nhân đó chấm dứt tồn tại Được hiểu là khi cá nhân đó chết, mất tích hoặc mất năng lực hành vi dân sự thì MST đó sẽ chấm dứt hiệu lực nhưng khi cá nhân đó sống lại (đối với cái chết pháp lý), tìm thấy hay phục hồi năng lực hành vi dân sự thì cá nhân đó đăng ký thuế sẽ được cấp MST như trước đây Hoặc khi cá nhân đó ngưng hoạt động kinh doanh nhưng sau đó hoạt động lại vẫn được sử dụng MST trước đây
+ Người nộp thuế được cấp MST mười (10) số từ N1 N2 – N3 N4 N5 N6 N7 N8 N9 -
N10 , trừ trường hợp các đối tượng là “đơn vị trực thuộc” của đơn “các đơn vị chủ quản” thì được cấp MST mười ba (13) số (N1 N2 – N3 N4 N5 N6 N7 N8 N9 - N10 – N11 N12 N13 ) Việc Nhà nước cấp MST cho các cá nhân, cơ quan, tổ chức, đơn vị trực thuộc là để giúp Nhà nước giám sát được quá trình hoạt động của các cá nhân, tổ chức qua đó giúp cho cơ quan quản lý thuế dễ dàng hơn trong quá trình thực hiện quản lý thuế
2.1.2.4 Chấm dứt hiệu lực MST
- Cá nhân kinh doanh chấm dứt hoạt động, hoặc cá nhân chấm dứt tồn tại như chết, mất tích hoặc mất năng lực hành vi dân sự theo quy định của pháp luật phải thực hiện thủ tục chấm dứt hiệu lực mã số thuế
- Chấm dứt hiệu lực mã số thuế là thủ tục cơ quan thuế xác định mã số thuế không còn giá trị sử dụng trong hệ thống dữ liệu đăng ký thuế của ngành thuế Cơ quan thuế thu hồi giấy chứng nhận đăng ký thuế và thông báo công khai danh sách các mã số thuế chấm dứt hiệu lực sử dụng
- Cá nhân khi phát sinh nghĩa vụ thuế sau khi đã làm thủ tục đề nghị chấm dứt hiệu lực mã số thuế phải thực hiện thủ tục đăng ký thuế mới với cơ quan thuế để được sử dụng lại mã số thuế đã được cấp trước đây
Trang 34phương để nắm thông tin về những cá nhân nộp thuế nhưng không nộp thuế quá 3 tháng Nếu xác định cá nhân đã chết, mất tích, hạn chế hoặc mất năng lực hành vi dân sự theo quy định của pháp luật, cơ quan thuế đề nghị chính quyền địa phương xác nhận để làm căn cứ chấm dứt hiệu lực mã số thuế của cá nhân đó
2.1.3 Thủ tục đăng ký Thuế TNCN
Thủ tục đăng ký thuế là phần không thể thiếu trong quá trình tiến hành đăng ký thuế Vì mục đích của việc đăng ký thuế là để giúp cho nhà nước thuận lợi hơn trong quá trình quản lý thông tin của từng đối tượng, giúp cho quá trình quản lý thuế được diễn ra
dễ dàng và chính xác
2.1.3.1.Thời hạn nộp hồ sơ đăng ký Thuế TNCN
Theo qui định tại Điều 22 Luật Quản lý thuế năm 2006 thì thời hạn đăng ký thuế của đối tượng thuộc diện đăng ký thuế phải đăng ký thuế trong thời hạn 10 ngày làm việc, kể từ ngày:
- Thứ nhất là kể từ ngày “được cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh hoặc giấy phép thành lập và hoạt động hoặc giấy chứng nhận đầu tư” Để quản lý được các đối tượng này thì cơ quan quản lý thuế cần phải có sự liên hệ thông tin chặt chẽ với cơ quan cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh hoặc giấy phép thành lập và hoạt động hoặc giấy chứng nhận đầu tư Có như vậy thì mới đảm bảo được sự quản lý của cơ quan thuế đối với đối tượng này Nhận thức được vấn đề quan trọng này nên nhà nước đã qui định trách nhiệm của cơ quan cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh hoặc giấy phép thành lập và hoạt động hoặc giấy chứng nhận đầu tư trong thời hạn bảy ngày làm việc kể từ ngày cấp có trách nhiệm cung cấp thông tin về người nộp thuế cho cơ quan quản lý thuế
11 Đăng ký thuế là sự tự giác trong thời hạn qui định của pháp luật, nếu đối tượng đăng
ký thuế không thực hiện đăng ký thuế trong thời hạn qui định thì sẽ bị xử lý theo qui định của pháp luật Vì vậy, mối quan hệ giữa đối tượng đăng ký thuế này (khoản 1 Điều 22) và qui định của điều 72 Luật Quản lý thuế năm 2006 có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, giúp cho cơ quan quản lý thuế kịp thời phát hiện và xử lý
- Thứ hai là kể từ ngày “bắt đầu hoạt động kinh doanh đối với hộ gia đình, cá nhân thuộc diện đăng ký kinh doanh nhưng chưa được cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh” (Khoản 2 Điều 22 Luật Quản lý thuế năm 2006) Theo khoản này thì ta có thể hiểu một cách đơn giản là mặc dù hộ gia đình, cá nhân đó thuộc diện đăng ký kinh doanh
11 Điều 72 Luật Quản lý Thuế số 78/2006/QH11 ngày 29 tháng 11 năm 2006 của Quốc hội khoá XI, kỳ họp thứ 10 năm 2006
Trang 35đã bắt đầu hoạt động kinh doanh nhưng chưa được cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh thì cũng phải đăng ký thuế trong vòng 10 ngày làm việc
Nhưng theo thông tư 85/2007/TT-BTC ngày 18/7/2007 của Bộ tài chính hướng dẫn qui định này là:
+ Bắt đầu hoạt động kinh doanh trong trường hợp không có giấy chứng nhận đăng
- Thứ ba là kể từ ngày “phát sinh trách nhiệm khấu trừ thuế và nộp thuế thay” Khi
tổ chức, cá nhân có trách nhiệm khấu trừ thuế hay nộp thuế thay các đối tượng nộp thuế TNCN thì tổ chức, cá nhân đó có trách nhiệm đăng ký thuế TNCN trong 10 ngày làm việc kể từ ngày phát sinh trách nhiệm
- Thứ tư là kể từ ngày “phát sinh nghĩa vụ nộp thuế TNCN” Ngày phát sinh nghĩa
vụ thuế TNCN được xác định là ngày cá nhân nhận được thu nhập
2.1.3.2 Hồ sơ đăng ký Thuế TNCN
- Đối với cá nhân, nhóm cá nhân kinh doanh, hộ kinh doanh:
Tờ khai đăng ký thuế theo mẫu số 03-ĐK-TCT ban hành kèm theo Thông tư 85/2007/TT-BTC ngày 18/7/2007 của Bộ tài chính, kèm theo bảng kê khai cửa hàng, cửa hiệu kinh doanh tại địa bàn quận, huyện, thị xã hoặc tỉnh khác với cơ sở kinh doanh chính (nếu có)
+ Bản sao giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh (nếu có)
+ Bản sao giấy chứng minh nhân dân
+ Riêng các cá nhân có cửa hàng, cửa hiệu đóng khác địa bàn (tỉnh, thành phố,
Trang 3603.1-ĐK-TCT ban hành kèm theo Thông tư 85/2007/TT-BTC ngày 18/7/2007 của Bộ tài chính
- Đối với cá nhân có thu nhập từ tiền lương, tiền công thu nhập từ đầu tư vốn, chuyển nhượng vốn (bao gồm chuyển nhượng chứng khoán) và các cá nhân có thu nhập chịu thuế khác, hồ sơ đăng ký thuế gồm:
+ Tờ khai đăng ký thuế theo mẫu số 01-ĐK-TNCN ban hành kèm theo Thông tư 175/2010/TT-BTC ngày 05/11/2010 của Bộ tài chính
+ Bản sao (không cần công chứng) chứng minh thư nhân dân hoặc hộ chiếu còn thời hạn sử dụng
- Đối với đơn vị chi trả thu nhập không phải là tổ chức kinh doanh thì thực hiện tờ khai đăng ký thuê theo mẫu số 01-ĐK-TCT ban hành kèm theo Thông tư 85/2007/TT- BTC ngày 18/7/2007 của Bộ tài chính:
* Hiện tại để thuận tiện hơn trong quá trình đăng ký, thì hệ thống đăng ký thuế qua mạng internet đã được nhà nước ta thực hiện Đây là hình thức đăng ký đơn giản, gọn nhẹ, tạo tâm lý nhẹ nhàng hơn đối với người dân Mặt khác nó góp phần giảm nhẹ những thủ tục hành chính Để có thể đăng ký thuế qua mạng thì trước tiên các tổ chức, cá nhân cần tải phần mềm đăng ký thuế, phần mềm hỗ trợ đăng ký thuế TNCN mới nhất ban hành ngày 21/3/2011 là bản HTĐKT TNCN 2.412 và sau đó cài đặt chương trình này vào máy tính Khi cài đặt thành công thì ta cập nhật các thông tin đăng ký thuế vào phần mềm theo hướng dẫn Sau đó truy cập vào wedsite tncnonline.com.vn gửi dữ liệu, sau đó
cơ quan thuế sẽ phản hồi trong thời gian sớm nhất
Được hỗ trợ bởi thủ tục đăng ký thuế qua mạng đã tạo nên nhiều thuận lợi cho những người làm công ăn lương và những tổ chức chi trả thuế TNCN Họ không cần phải đến cơ quan thuế để đăng ký mà họ chỉ cần bỏ ra ít thời gian trên máy tính thì họ có thể hoàn thành nghĩa vụ đăng ký thuế Góp phần đơn giản hóa thủ tục hành chính, hạn chế sự quá tải tại cơ quan đăng ký thuế, tạo tâm lý làm việc thoải mái hơn cho người dân
và cả cơ quan đăng ký thuế
12 http://ketoan.org/thu-vien/phan-mem-ho-tro-dang-ky-ma-so-thue-thu-nhap-ca-nhan-htdkt-tncn-2-4.html[Ngày truy cập 22/4/2012]
Trang 372.1.3.3 Địa điểm nộp hồ sơ đăng ký Thuế TNCN
- Tổ chức, cá nhân có trách nhiệm khấu trừ thuế và nộp thay thuế đăng ký thuế tại
cơ quan quản lý thuế nơi tổ chức, cá nhân có trụ sở Riêng đối với cá nhân nộp thuế thu nhập thông qua cơ quan chi trả thu nhập thì nộp tờ khai đăng ký thuế tại cơ quan chi trả thu nhập Cơ quan chi trả thu nhập tổng hợp tờ khai đăng ký thuế của từng cá nhân để nộp cho cơ quan thuế trực tiếp quản lý thu thuế
- Hợp tác xã, hộ gia đình , tổ hợp tác, cá nhân kinh doanh thực hiện đăng ký thuế tại Chi cục thuế cấp huyện
2.1.3.4 Cấp giấy chứng nhân đăng ký thuế
* Trường hợp người nộp thuế chưa có giấy chứng nhận đăng ký thuế:
- Thời hạn cấp MST: Điều 2 Thông tư 175/2010/TT-BTC ngày 05/11/2010 của Bộ tài chính
+ Đối với hồ sơ đăng ký thuế nộp trực tiếp tại cục Thuế, thời hạn cấp MST không quá 03 ngày làm việc, kể từ ngày nhận hồ sơ đăng ký thuế đã được kê khai đầy đủ các chỉ tiêu
Trường hợp nhận hồ sơ đăng ký thuế qua hệ thống bưu điện, thời hạn cấp MST không quá 02 ngày làm việc, kể từ ngày nhận (theo sổ đăng ký công văn đến) hồ sơ đăng
ký thuế đã được kê khai đầy đủ các chỉ tiêu
+ Đối với hồ sơ đăng ký thuế nộp trực tiếp tại chi cục thuế, thời hạn cấp MST không quá 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận hồ sơ đăng ký thuế đã được kê khai đầy đủ các chỉ tiêu
Trường hợp nhận hồ sơ đăng ký thuế qua hệ thống bưu điện, thời hạn cấp MST không quá 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận (theo sổ đăng ký công văn đến) hồ sơ đăng
ký thuế đã được kê khai đầy đủ các chỉ tiêu
- Khi thực hiện đầy đủ thủ tục hợp lệ trong thời hạn quy định người nộp thuế được
cơ quan thuế cấp “Giấy chứng nhận đăng ký thuế” theo mẫu số 10-MST kèm theo thông
tư 85/2007/TT-BTC ngày 18/7/2007 của Bộ tài chính
- Đối với các trường họp không đủ điều kiện cấp giấy chứng nhận đăng ký thuế thì được cơ quan thuế cấp “Thông báo MST” theo mẫu số 11-MST
Trang 38* Trường hợp người nộp thuế được cấp lại “Giấy chứng nhận đăng ký thuế” :
- Thứ nhất là trường hợp bị mất giấy chứng nhận đăng ký thuế
- Thứ hai là trường hợp chỉ tiêu trên giấy chứng nhận đăng ký thuế thay đổi
- Thứ ba là trường hợp giấy chứng nhận đăng ký thuế bị rách, nát
- Thứ tư là cấp lại thẻ số thuế cá nhân trong trường hợp MST cá nhân hoặc thẻ bị rách, nát, hỏng thì làm đơn đề nghị cơ quan thuế cấp lại thẻ MST cá nhân
Trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận được yêu cầu của người nộp thuế
cơ quan thuế cấp lại giấy chứng nhận đăng ký thuế và thẻ MST cá nhân cho người nộp thuế
2.1.4 Thay đổi thông tin đăng ký thuế
2.1.4.1 Trách nhiệm và thời hạn thông báo thay đổi thông tin đăng ký thuế
Thông tin của người nộp thuế là vấn đề quan trọng mà cơ quan thuế cần phải nắm bắt chính xác và kịp thời Nếu không nắm được thông tin của người nộp thuế sẽ dẫn đến trường hợp không xác định được ngành nghề, lĩnh vực kinh doanh của người nộp thuế, dẫn đến thu thừa hoặc thu thiếu số thuế của người nộp thuế
Vì vậy, khi có thay đổi về thông tin đăng ký thuế thì người nộp thuế phải có trách nhiệm thông báo bổ sung, thay đổi với cơ quan quản lý trực tiếp theo mẫu số 08-MST trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày phát sinh sự thay đổi thông tin hoặc trước khi chấm dứt toàn bộ các hoạt động phát sinh nghĩa vụ thuế
2.1.4.2 Thủ tục thay đổi thông tin đăng ký thuế
- Đối với trường hợp đổi tên cơ sở kinh doanh thì người nộp thuế phải khai bổ sung với cơ quan thuế trực tiếp quản lý Hồ sơ gồm:
+ Tờ khai điều chỉnh đăng ký thuế theo mẫu số 08-MST ban hành kèm theo thông
tư 85/2007/TT-BTC ngày 18/7/2007 của Bộ tài chính
+ Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh điều chỉnh theo tên mới (bản sao có chứng thực)
+ Giấy chứng nhận đăng ký thuế (bản gốc)
Sau 05 ngày kể từ ngày nhận đủ hồ sơ kê khai bổ sung của cơ sở kinh doanh, cơ quan thuế cấp lại giấy chứng nhận đăng ký thuế cho cơ sở kinh doanh theo tên mới, với MST đã được cấp trước đây, đồng thời thu hồi giấy chứng nhận đăng ký thuế cũ
Trang 39- Trường hợp chuyển địa điểm kinh doanh:
+ Thứ nhất trường hợp chuyển địa điểm kinh doanh trong địa bàn tỉnh thì thực hiện theo tờ khai điều chỉnh đăng ký thuế theo mẫu số 08-ĐK-TCT ban hành kèm theo thông
tư 85/2007/TT-BTC ngày 18/7/2007 của Bộ tài chính, trong đó ghi rõ thông tin thay đổi
về địa điểm kinh doanh
Nếu người nộp thuế do Cục thuế quản lý thì hồ sơ gửi đến Cục thuế
Nếu người nộp thuế thuộc Chi cục thuế quản lý thì hồ sơ lập thành 2 bộ, 1 bộ gửi Chi cục thuế nơi chuyển đi và 1 bộ gửi Chi cục thuế nơi chuyển đến Chi cục thuế nơi người nộp thuế chuyển đi lập thông báo tình hình nộp thuế và thanh toán hóa đơn của người nộp thuế theo mẫu số 09-MST ban hành kèm theo thông tư 85/2007/TT-BTC ngày 18/7/2007 của Bộ tài chính, cho Chi cục thuế nơi chuyển đến và Cục thuế trong thời hạn
8 ngày kể từ ngày nhân được hồ sơ đề chuyển địa điểm
+ Thứ hai là trường hợp chuyển địa điểm kinh doanh giữa các tỉnh
Tại nơi người nộp thuế chuyển đi thì hồ sơ khai thuế gồm: Thông báo chuyển
địa điểm; Giấy chứng nhận đăng ký thuế (bản gốc)
Trong thời hạn 05 ngày kể từ ngày nhận được hồ sơ kê khai chuyển địa điểm của người nộp thuế, cơ quan thuế nơi người nộp thuế chuyển đi thu hồi giấy chứng nhận đăng ký thuế và phải lập thông báo tình hình nộp thuế của người nộp thuế theo mẫu số 09-MST ban hành kèm theo thông tư 85/2007/TT-BTC ngày 18/7/2007 của Bộ tài chính,
để gửi 01 bản cho người nộp thuế và 01 bản cho cơ quan thuế nơi người nộp thuế chuyển đến
Tại nơi người nộp thuế chuyển đến thì trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày được
cấp đổi giấy phép kinh doanh theo địa chỉ mới, người nộp thuế phải đăng ký thuế tại cơ quan thuế nơi chuyển đến
Hồ sơ đăng ký thuế gồm: Tờ khai đăng ký thuế (ghi MST đã được cấp trước đó); Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh do cơ quan đăng ký kinh doanh nơi chuyển đến cấp (bản sao có chứng thực)
Trong thời hạn 05 ngày kể từ ngày nhận hồ sơ đăng ký thuế đầy đủ, chính xác, cơ quan thuế phải cấp lại Giấy chứng nhận đăng ký thuế cho người nộp thuế và giữ nguyên MST mà người nộp thuế đã được cập trước đó
Trang 40- Trường hợp thay đổi các chỉ tiêu khác trên tờ khai đăng ký thuế: Trong thời
hạn 10 ngày khi có sự thay đổi các chỉ tiêu trên tờ khai thuế thì người nộp thuế thực hiện thông báo thay đổi thông tin đăng ký thuế theo mẫu số 08-MST ban hành kèm theo thông tư 85/2007/TT-BTC ngày 18/7/2007 của Bộ tài chính
Hồ sơ bổ sung đăng ký thuế gồm:
+ Tờ khai điều chỉnh đăng ký thuế theo mẫu số 08-MST ban hành kèm theo thông
tư 85/2007/TT-BTC ngày 18/7/2007 của Bộ tài chính;
+ Bản sao giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh bổ sung hoặc giấy phép thành lập
và hoạt động hoặc giấy chứng nhận đầu tư đối với các trường hợp thay đổi thông tin phải cấp lại
2.2 Những qui định về kê khai Thuế TNCN
2.2.1 Nguyên tắc kê khai Thuế TNCN
- Trên cơ sở tự ý thức của người nộp thuế, người nộp thuế tự kê khai số thuế mà người nộp thuế phải nộp trong kỳ tính thuế Mặc dù cho quyền người nộp thuế tự mình
kê khai số thuế phải nộp nhưng để đảm bảo cho việc kê khai của người nộp thuế được thực hiện một cách khách quan thì người nộp thuế phải tuân thủ những nguyên tắc nhất định theo qui định của pháp luật, đó là những nguyên tắc sau:
+ Thứ nhất người nộp thuế phải khai một cách trung thực, chính xác, đầy đủ các nội dung trong tờ khai thuế với cơ quan thuế theo mẫu do Bộ tài chính qui định và nộp đầy đủ chứng từ, tài liệu qui định trong hồ sơ khai thuế
Sự đầy đủ đối với các nội dung trong tờ khai thuế theo mẫu qui định là vấn đề dễ
quản lý, không cần bàn cãi nhiều Vì người nộp thuế chỉ cần dựa vào những mẫu có sẵn
và điền nội dung nên đây chỉ là vấn đề đơn giản Vấn đề cần nói đến ở đây là vấn đề
“trung thực và chính xác” của người nộp thuế Để nắm được vấn đề này là không hề dễ
dàng, bởi vì có một số thu nhập không có cơ sở để xác định sự chính xác của nó và ở nguyên tắc này không có qui định rõ ràng như thế nào là chính xác hay trung thực Nhưng ở Điểm d Khoản 1 Điều 37 Luật Quản lý thuế 2006 qui định các trường hợp ấn định thuế đối với người nộp thuế khi “Không phản ánh hoặc phản ánh không đầy đủ, trung thực, chính xác số liệu trên sổ kế toán để xác định nghĩa vụ thuế” Như vậy, từ điều này có thể suy ra sự “trung thực và chính xác” ở nguyên tắc này được dựa trên số liệu của sổ kế toán để xác định nghĩa vụ thuế