Đề nghị này không được thông qua, nhưng các thành viên của Ủy ban cũng không ủng hộ việc đòi hỏi đảo nhất thiết phải là vùng đất tự nhiên.4 Tại Hội nghị của Liên Hiệp Quốc về Luật biển l
Trang 1……
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN LUẬT
NIÊN KHÓA 2009 - 2013
ĐẢO VÀ QUY CHẾ PHÁP LÝ CỦA ĐẢO THEO
CÔNG ƯỚC LUẬT BIỂN 1982 VÀ LUẬT BIỂN VIỆT NAM 2012
LỚP: LUẬT THƯƠNG MẠI 2 K35
Cần Thơ, tháng 5/2013
Trang 2
Lời đầu tiên, em xin trân trọng cảm ơn quý thầy, cô Khoa luật – Trường đại học Cần Thơ, không những đã trang bị cho em về kiến thức chuyên ngành Luật mà còn trang bị cả những kỹ năng bổ ích trong cuộc sống trong suốt bốn năm qua Những kiến thức và kỹ năng mà em nhận được trên giảng đường đại học sẽ là hành trang giúp em tự tin vững bước trong tương lai
Đặc biệt, em xin gởi lời cảm ơn chân thành đến Thầy Kim Oanh Na, người đã trực tiếp hướng dẫn, góp ý và động viên em trong suốt quá trình thực hiện Luận văn tốt nghiệp này
Con xin cảm ơn gia đình và cám ơn những người bạn đã giúp đỡ, tạo điều kiện thuận lợi tốt nhất cả về vật chất và tinh thần cho em hoàn thành được luận văn này
Trong quá trình nghiên cứu đề tài, tuy bản thân có nhiều nỗ lực và cố gắng nhưng nhận thức của bản thân vẫn còn hạn chế nên Luận văn sẽ không tránh khỏi những thiếu sót Vì thế, người viết rất mong nhận được sự quan tâm và những ý kiến đóng góp quý báu của quý thầy cô để luận văn được hoàn thiện
Xin chân thành cảm ơn
Cần Thơ, tháng 4 năm 2013
Sinh viên thực hiện
Hoàng Thị An Bình
Trang 3……
………
………
… ………
… ………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
Trang 4……
………
………
… ………
… ………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
Trang 5LỜI MỞ ĐẦU ERROR! BOOKMARK NOT DEFINED.1
CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ BIỂN ĐẢO ERROR! BOOKMARK NOT DEFINED.3
1.1 MỘT SỐ KHÁI NIỆM VỀ BIỂN, ĐẢO E RROR ! B OOKMARK NOT DEFINED 3
1.1.1 Biển Error! Bookmark not defined.3
1.1.2 Đảo Error! Bookmark not defined.4
1.1.3 Quần đảo Error! Bookmark not defined.9
1.1.4 Quốc gia quần đảo Error! Bookmark not defined.11
1.1.5 Đảo nhân tạo, thiết bị và công trình trên biển Error! Bookmark not defined.12
1.1.6 Bãi cạn lúc chìm lúc nổi Error! Bookmark not defined.13
1.2 TẦM QUAN TRỌNG CỦA BIỂN, ĐẢO E RROR ! B OOKMARK NOT DEFINED 14
1.2.1 Về chính trị Error! Bookmark not defined.14
1.2.2 Về kinh tế Error! Bookmark not defined.15
1.2.3 Về an ninh quốc phòng Error! Bookmark not defined.17
1.3 QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN PHÁP LUẬT VỀ BIỂN,
ĐẢO E RROR ! B OOKMARK NOT DEFINED 18
1.3.1 Giai đoạn trước Công ước Luật biển 1982 Error! Bookmark not defined.18
1.3.2 Công ước của Liên Hiệp Quốc về Luật biển 1982 Error! Bookmark not defined.20
CHƯƠNG 2 QUY CHẾ PHÁP LÝ CỦA ĐẢO THEO CÔNG ƯỚC LUẬT BIỂN
1982 ERROR! BOOKMARK NOT DEFINED.24
2.1 QUY CHẾ PHÁP LÝ CỦA ĐẢO THUỘC QUỐC GIA VEN BIỂNE RROR ! B OOKMARK NOT DEFINED 24
2.2 QUY CHẾ PHÁP LÝ CỦA QUẦN ĐẢO THUỘC QUỐC GIA VEN BIỂNE RROR ! B OOKMARK NOT DEFINED 34 2.3 QUY CHẾ PHÁP LÝ CỦA CÁC ĐẢO NHÂN TẠO, THIẾT BỊ VÀ CÔNG
TRÌNH TRÊN BIỂN E RROR ! B OOKMARK NOT DEFINED 36
2.4 QUY CHẾ PHÁP LÝ CỦA BÃI CẠN LÚC CHÌM LÚC NỔIE RROR ! B OOKMARK NOT DEFINED 40
2.5 QUY CHẾ PHÁP LÝ CỦA QUỐC GIA QUẦN ĐẢOE RROR ! B OOKMARK NOT DEFINED 42
Trang 63.1 GIỚI THIỆU CHUNG VỀ BIỂN, ĐẢO VIỆT NAME RROR ! B OOKMARK NOT DEFINED 46
3.1.1 Khái quát chung về biển đảo Error! Bookmark not defined.46
3.1.2 Việt Nam với việc gia nhập và thực thi Công ước Luật biển 1982 Error! Bookmark not defined.49
3.1.3 Vấn đề nội luật hóa Công ước Luật biển 1982 Error! Bookmark not defined.50
3.2 THỰC TIỄN ÁP DỤNG QUY CHẾ ĐẢO Ở VIỆT NAM VÀ CÁC NƯỚC
TRÊN THẾ GIỚI E RROR ! B OOKMARK NOT DEFINED 52
3.2.1 Thực tiễn áp dụng ở một số nước trên thế giới Error! Bookmark not defined.52
3.2.2 Thực tiễn áp dụng ở Việt Nam Error! Bookmark not defined.55
3.3 NHỮNG TỒN TẠI TRONG CÔNG ƯỚC LUẬT BIỂN 1982 VÀ MỘT SỐ
KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN E RROR ! B OOKMARK NOT DEFINED 59
3.3.1 Những tồn tại trong Công ước Luật biển 1982 và trong thực tiễn áp
dụng Error! Bookmark not defined.59
3.3.2 Một số kiến nghị hoàn thiện Error! Bookmark not defined.62
KẾT LUẬN ERROR! BOOKMARK NOT DEFINED.64
Trang 7LỜI MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Ngay từ xa xưa, biển đảo đã tỏ ra được tầm quan trọng của mình Ngày nay, cùng với quá trình phát triển của nhân loại, sự gia tăng dân số, sự cạn kiệt của tài nguyên thiên nhiên thì biển, đảo lại khẳng định của tầm quan trọng của mình là không thể thay thế, mà tiêu điểm đó chính là các hải đảo, quần đảo và việc xác lập các vùng nước xung quanh các đảo, quần đảo đó Tại sao các vấn đề liên quan đến đảo, quần đảo lại có ý nghĩa như vậy? Theo như những tài liệu của các nhà nghiên cứu thì tài nguyên ở các đảo, quần đảo này không hề nhỏ nhất là ở thềm lục địa và vùng đặc quyền kinh tế của chúng Bên cạnh đó,
nó còn có ý nghĩa về mặt chính trị, chiến lược quân sự và an ninh quốc phòng Với những
ý nghĩa to lớn trên nên các nước đã đưa ra các yêu sách có lợi cho mình nhất song song đó
là những hành động thực hiện các yêu sách nhằm mục đích xác lập chủ quyền đối với các đảo, quần đảo và vùng nước xung quanh chúng, chính vì vậy mà không ít những tranh chấp và mâu thuẫn đã xảy ra Để hạn chế tình hình trên cộng đồng quốc tế đã lần lượt xây dựng các Công ước 1958 và Công ước Luật biển 1982 với các quy định khá cụ thể, chặt chẽ về khái niệm, đặc điểm, cách thức xác định và quy chế pháp lý của đảo
Biển Đông là một vùng biển rộng lớn, có vị trí chiến lược quan trọng, đặc biệt là nguồn tài nguyên dồi dào đã và đang giữ vai trò quan trọng trong việc phát triển kinh tế của các nước trong khu vực Đông Nam Á và trên thế giới Trong thời gian gần đây, với tình hình diễn biến phức tạp trên thế giới, đặc biệt là khu vực biển Đông với vấn đề tranh chấp các đảo, quần đảo của các quốc gia và việc áp dụng quy chế đảo được hiểu và thực hiện theo những cách khác nhau gây ra những tranh cải gay gắt làm dấy lên mối quan tâm,
lo ngại của cả cộng đồng thế giới Việt Nam với đường bờ biển dài, một vùng biển rộng lớn và hàng ngàn đảo lớn nhỏ cũng mong muốn xác lập chủ quyền thiêng liêng của mình đối với các đảo cũng như các vùng biển bao quanh các đảo theo quy định của Luật biển quốc tế Từ những vấn đề trên, người viết thấy rằng việc tìm hiểu, nghiên cứu các quy định, quy chế pháp lý của đảo là thực sự cần thiết Xuất phát từ lí do trên, người viết chọn
đề tài "Quy chế pháp lý của đảo theo Công ước Luật biển 1982 và Luật biển Việt Nam
2012" để làm đề tài tốt nghiệp cử nhân Luật
2 Mục đích, đối tượng nghiên cứu
Người viết nghiên cứu đề tài này nhằm mục đích tìm hiểu, nghiên cứu quy chế pháp
lý đảo theo Công ước Luật biển 1982 cũng như trong Luật biển Việt Nam 2012 Đồng thời,
Trang 8tìm hiểu những quy định của Việt Nam đã phù hợp với Công ước Luật biển 1982 hay chưa? Việc áp dụng Công ước Luật biển 1982 vào Việt Nam như thế nào? Còn những tồn tại gì trong các quy định cũng như trong việc áp dụng Công ước Luật biển 1982? Từ đó tìm ra những mặt hạn chế, chưa phù hợp trong Công ước cũng như trong Luật biển Việt Nam để
có hướng giải quyết vấn đề Từ đó có thể giúp cho người đọc có thêm nhiều thông tin để
so sánh, đối chứng, kiểm nghiệm lại vấn đề
Đối tượng nghiên cứu đề tài là quy chế pháp lý của đảo mà cụ thể là các vùng nước
mà đảo được hưởng cũng như quyền mà quốc gia ven biển có đảo được hưởng Ngoài ra, còn có các quyền của các quốc gia khác như quyền tự do hàng hải, hàng không ở các vùng nước trên,
3 Phạm vi nghiên cứu
Trong đề tài này, người viết nghiên cứu quy chế pháp lý đảo kể từ khi có Công ước Giơnevơ 1958 về lãnh hải và vùng tiếp giáp đến khi Công ước Luật biển 1982 ra đời và cho tới thời điểm hiện nay Và nghiên cứu đề tài này giới hạn trong phạm vi các quy định của Công ước Luật biển 1982 và Luật biển Việt Nam 2012
4 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu, người viết sử dụng phương pháp luận Mác – Lênin, phương pháp phân tích và tổng hợp, phương pháp so sánh, phương pháp thống kê, dẫn chứng, quy nạp và diễn giải
5 Bố cục đề tài
Lời mở đầu
Nội dung: 3 chương
- Chương 1: Khái quát chung về biển đảo
- Chương 2: Quy chế pháp lý của đảo theo Công ước Luật biển 1982
- Chương 3: Thực tiễn áp dụng quy chế đảo ở Việt Nam và một số nước trên thế giới – Những tồn tại và kiến nghị
Kết luận
Trang 9CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ BIỂN ĐẢO
Vai trò của biển, đảo và đại dương đối với mỗi quốc gia cũng như cộng đồng quốc tế
đã sớm được khẳng định Từ xa xưa, biển đã tỏ ra được tầm quan trọng vô cùng to lớn của mình, bằng con đường hàng hải các châu lục được nối liền với nhau từ đó mở ra các mối quan hệ giao lưu giữa các quốc gia Ngày nay, trong xu thế phát triển của thế giới, với tốc
độ phát triển của khoa học, công nghệ và sự gia tăng nhu cầu của các quốc gia về tài nguyên thì biển, đảo càng có ý nghĩa đặc biệt quan trọng và đã dần khẳng định vị trí, vai trò của mình là không thể thay thế Do ý nghĩa và vai trò quan trọng của biển, đảo nên sự hợp tác quốc tế về biển cũng không ngừng được mở rộng, bao gồm việc xây dựng khuôn khổ pháp lý thông qua các Công ước mà tập trung nhất là Công ước Luật biển năm 1982 của Liên Hiệp Quốc (hay còn được gọi là Công ước Luật biển 1982), hình thành các cơ chế, tổ chức hợp tác toàn cầu và khu vực Trong chương này, người viết xin giới thiệu những vấn đề cơ bản về Luật biển và biển, đảo
1.1 MỘT SỐ KHÁI NIỆM VỀ BIỂN, ĐẢO
1.1.1 Biển
Biển không phải là điều gì xa lạ với con người, biển chiếm một diện tích khá lớn trên
bề mặt trái đất nhưng để hiểu và định nghĩa đúng bản chất của biển thì không phải dễ Hiện nay, chưa một văn bản pháp lý nào định nghĩa một cách đầy đủ và chính xác khái
niệm "biển là gì" kể cả Công ước Luật biển 1982 Theo cách hiểu thông thường biển là
vùng nước mặn rộng lớn trên bề mặt trái đất.1 Đây là một định nghĩa còn đơn giản, chung chung và chưa thể hiện được đúng bản chất của biển cũng như những vật chất gắn liền với biển
Về phương diện phạm vi địa lí, biển là toàn bộ vùng nước biển của Trái đất với tất cả những gì có trong đó Biển của một quốc gia có thể được hiểu là một vùng của biển, đại dương và trải rộng từ bờ biển và các hải đảo cho tới ranh giới trên biển được thỏa thuận hoặc tới giới hạn 200 hải lý của vùng đặc quyền kinh tế hoặc tới ranh giới ngoài cùng của thềm lục địa của quốc gia đó.2
Phân tích định nghĩa trên cho thấy, biển là vùng mà tại đó con người khai thác các tài nguyên sinh vật và không sinh vật, là nơi được sử dụng để giao tiếp, nghỉ ngơi, giải trí và
Trang 10đó là nơi đóng một vai trò cơ bản trong việc duy trì các điều kiện sống trên Trái đất Biển
là hệ thống mà tại đó các quá trình lý, hóa, sinh tương tác và hoạt động đảm bảo cân bằng
hệ sinh thái động thực vật biển và đảm bảo cho các mục đích sử dụng biển khác nhau của con người Biển bao gồm không chỉ các vùng biển với các đặc trưng lý hóa của chúng mà còn cả các nguồn tài nguyên sinh vật, tài nguyên không sinh vật của vùng cửa sông, các vùng ngập mặn bao gồm cả trầm tích, các vùng thủy triều lên xuống, các vùng đầm lầy, bãi triều, đất ướt
1.1.2 Đảo
Đảo hiểu đơn giản là một vùng đất có nước bao quanh Theo cách hiểu này, ta có đảo nằm trong các sông hồ và đảo nằm trong biển (hải đảo) Đối với người đi biển thì đảo được hiểu là các hải đảo nói chung, bao gồm các đảo, đá
Trong các văn bản pháp lý, khái niệm về đảo được thống nhất và ghi nhận lần đầu
tiên trong Công ước 1958 về lãnh hải và vùng tiếp giáp: "Một đảo là một vùng đất tự
nhiên có nước bao bọc, khi thủy triều lên vùng đất này vẫn ở trên mặt nước" Sau đó, tại
Hội nghị của Liên Hiệp Quốc về Luật biển lần III đã cho ra đời Công ước Luật biển 1982, định nghĩa đảo trong Công ước này được thừa kế theo định nghĩa đảo trong Công ước
có thể là bùn, san hô, cát, đất sét, đá rắn Yêu cầu là "một vùng đất tự nhiên" chứa hai
yếu tố Thứ nhất, vùng đất đó phải gắn tự nhiên với đáy biển Thứ hai, vùng đất đó phải
tồn tại thường xuyên trên mặt biển Hay nói một cách khác, khi nói đảo là "một vùng đất"
thì cũng có nghĩa là đảo không thể là vật thả trôi hay là các tảng băng mà phải gắn bó hữu
cơ với đáy biển
Cả khoản 1 Điều 10 của Công ước 1958 về lãnh hải và vùng tiếp giáp và điều 121 khoản 1 của Công ước Luật biển 1982 cũng khẳng định đảo phải là một vùng đất tự nhiên Như vậy, cả hai Công ước đều không coi thành phần cấu tạo địa chất của đảo là một tiêu chuẩn để xác định quy chế đảo
Trang 11Trước Hội nghị của Liên Hiệp Quốc về Luật biển lần I, yếu tố đảo phải là một vùng đất hình thành tự nhiên chưa được coi là một tiêu chuẩn để xác định quy chế đảo
Tại Hội nghị Pháp điển hóa Luật pháp quốc tế LaHaye 1930, một số nước như Pháp, Đức vẫn còn đề nghị cho các cấu trúc nhân tạo quy chế đảo Hội nghị không chấp nhận đề nghị này và không dành các quy chế đảo cho các đảo nhân tạo Tuy vậy, Hội nghị cũng không loại đảo nhân tạo ra khỏi định nghĩa khái niệm đảo
Báo cáo của Ủy ban Luật pháp Quốc tế của Liên Hiệp Quốc năm 1954 còn đề nghị các bãi cạn nửa nổi nửa chìm có nhà cửa xây dựng ở trên cũng được hưởng quy chế đảo
Đề nghị này không được thông qua, nhưng các thành viên của Ủy ban cũng không ủng hộ việc đòi hỏi đảo nhất thiết phải là vùng đất tự nhiên.4
Tại Hội nghị của Liên Hiệp Quốc về Luật biển lần I, tiêu chuẩn là một vùng đất hình thành một cách tự nhiên đã được các quốc gia coi là một tiêu chuẩn đề xác định quy chế đảo và ghi nhận chính thức trong Điều 10 của Công ước 1958 về lãnh hải và vùng tiếp giáp, Công ước Luật biển 1982 cũng đã ghi nhận nội dung tương tự trong Điều 121 Như
vậy, yếu tố "hình thành tự nhiên" là yếu tố được bổ sung khi xây dựng khái niệm đảo
trong Công ước về lãnh hải và vùng tiếp giáp và tiếp tục được khẳng định trong Công ước
Luật biển 1982 trong khi, trước đó "sự hình thành tự nhiên" không được ghi nhận trong
định nghĩa đảo tại Hội nghị Pháp điển hóa Luật pháp quốc tế LaHaye 1930 Việc bổ sung yếu tố này nhằm phân biệt đảo tự nhiên với đảo nhân tạo hoặc với công trình do bàn tay con người tạo ra với mục đích mở rộng vùng biển thuộc chủ quyền và quyền chủ quyền của quốc gia ven biển, ảnh hưởng đến các quyền tự do biển cả Đồng thời, trong cả Hội nghị của Liên Hiệp Quốc về luật biển lần I và lần III các quốc gia đã dứt khoát không dành cho các công trình nhân tạo quy chế đảo dù nó có kích thước và đặc điểm như thế nào
- Có nước bao bọc xung quanh
Đây cũng là một trong các tiêu chuẩn khách quan để xác định quy chế của đảo Tiêu chuẩn này giúp phân biệt đảo với bán đảo Khác với đảo có nước bao bọc xung quanh , bán đảo là phần đất liền nhô ra mặt nước Bán đảo vừa nối với đất liền, vừa có mặt tiếp xúc với nước Do đó, nếu bán đảo được coi là bộ phận cấu thành của bờ biển thì đảo được xác định là cấu tạo tự nhiên tương đối độc lập với bờ biển Trong trường hợp, vùng đất có nước bao bọc xung quanh khi thủy triều lên cao nhưng lại nối với lãnh thổ đất liền khi
4
Nguyễn Bá Diến: Quy chế pháp lý quốc tế chung về biển, đảo và những vấn đề cần áp dụng đối với Hoàng Sa, Trường Sa, Tạp chí khoa học Đại học Quốc gia Hà Nội, Luật học 25, 2009, tr.147
Trang 12thủy triều xuống thấp thì được coi là bán đảo chứ không được coi là đảo Tuy nhiên, vùng đất có nước bao bọc xung quanh sẽ vẫn được coi là đảo nếu được nối với đất liền bởi cầu hoặc đường hầm
Theo Điều 11 Công ước 1958 về lãnh hải và vùng tiếp giáp lãnh hải và Điều 13 của Công ước Luật biển 1982, những bãi cạn lúc nổi lúc chìm thì không có quy chế đảo Các công trình nhân tạo cũng không được hưởng quy chế đảo dù rằng chúng có nước biển bao bọc xung quanh
- Thường xuyên ở trên mặt nước lúc thủy triều lên
Tại Hội nghị Pháp điển hóa Luật pháp quốc tế LaHaye 1930, đảo đã được định nghĩa
là "một vùng đất có nước bao bọc xung quanh, thường xuyên ở trên mực nước cao" Năm
1954, trong dự thảo Điều 11 về định nghĩa đảo của Báo cáo viên đặc biệt của Ủy ban Luật
pháp quốc tế, đảo được định nghĩa là "một vùng đất có nước bao quanh, thường xuyên ở
trên mực nước cao" Trong khóa họp tiếp theo của Ủy ban, Báo cáo viên đã đề nghị đưa
cụm từ "trong hoàn cảnh bình thường" vào trước cụm từ "thường xuyên trên mực nước
cao" Có 9 phiếu của Ủy ban Luật pháp Quốc tế ủng hộ đề nghị trên Tuy vậy, đoàn Mỹ có
ý kiến cho rằng các yêu cầu đảo phải ở trên mực nước cao "trong hoàn cảnh bình thường"
và "thường xuyên" rất mâu thuẫn nhau; rằng không có cái gọi là thủy triều bình thường và bất bình thường, vì vậy, họ đề nghị trong định nghĩa đảo nên bỏ đi các cụm từ "trong hoàn
cảnh bình thường" và "thường xuyên" mà chỉ nêu đơn giản là "đảo là một vùng đất hình thành tự nhiên, có nước bao bọc và ở trên mặt nước khi thủy triều lên" Dự thảo định
nghĩa đảo của đoàn Mỹ đã được Hội nghị của Liên Hiệp Quốc về Luật biển lần I chấp nhận và được đưa vào trong Điều 10 của Công ước 1958 về lãnh hải và vùng tiếp giáp.5
Như thế, Công ước 1958 về lãnh hải và vùng tiếp giáp đã dùng tiêu chuẩn "thường
xuyên ở trên mặt biển khi thủy triều lên" để phân biệt những cấu tạo tự nhiên nào được
hưởng quy chế đảo và những cấu tạo nào không được hưởng quy chế này Tiêu chuẩn này loại bỏ tất cả bãi cạn lúc chìm lúc nổi khỏi khái niệm đảo
Điều 11 của Công ước 1958 về lãnh hải và vùng tiếp giáp dành cho các cấu tạo tự nhiên nửa nổi nửa chìm một quy chế pháp lý hạn chế Nếu các cấu tạo tự nhiên ở dưới mực nước thủy triều cao nhất và ở trên mực nước lúc thủy triều thấp nhất, nằm hoàn toàn hay từng phần không vượt quá chiều rộng của lãnh hải (12 hải lí) của đất liền hoặc một đảo thì thường ngấn nước thủy triều thấp nhất sẽ được sử dụng làm đường cơ sở để đo
5
Nguyễn Bá Diến: Quy chế pháp lý quốc tế chung về biển, đảo và những vấn đề cần áp dụng đối với Hoàng Sa, Trường Sa, Tạp chí Khoa học Đại học Quốc gia Hà Nội, Luật học 25, 2009, tr.147-148
Trang 13chiều rộng của lãnh hải (Điều 11 khoản 1) Trong trường hợp này, các cấu trúc tự nhiên nửa nổi nửa chìm sẽ có tác dụng mở rộng vùng lãnh hải của phần đất lục địa hoặc của đảo Trong trường hợp cấu trúc tự nhiên đó nằm xa hoàn toàn bờ biển ở một khoản cách rộng hơn lãnh hải thì nó sẽ không có tác dụng đó hoặc không có các vùng biển riêng
- Có kích thước nhất định
Ngoài các tiêu chuẩn khách quan nói trên, vấn đề một đảo phải có kích thước như thế nào mới được coi là một đảo thật sự đã được thảo luận nhiều từ cuối thế kỷ 19 cho đến Hội nghị của Liên Hiệp Quốc về Luật biển lần I nhưng chưa đạt được những thỏa thuận cụ thể Dự thảo Luật biển của Hội nghị Pháp điển hóa luật pháp quốc tế LaHaye 1930 và các Công ước 1958 đều không nhắc đến yếu tố kích thước trong định nghĩa đảo Như vậy thì
dù nhỏ đến như thế nào thì đảo cũng có lãnh hải và thậm chí cả thềm lục địa
Tuy vậy, đến trước Hội nghị lần III, quan điểm truyền thống về kích thước của đảo bắt đầu thay đổi Tại Ủy ban Đáy đại dương của Liên hiệp quốc, Malta đã đưa ra đề nghị
là đảo phải có diện tích trên 1km2 Trong Hội nghị này, một số đại diện của Tổ chức Thống nhất Châu Phi đã ra tuyên bố về các vấn đề về luật biển, trong đó công nhận sự cần thiết phải tính đến các yếu tố và hoàn cảnh đặc biệt bao gồm cả kích thước của đảo Đối với các đảo nhỏ dưới 1km2, các nước Châu Phi và Rumani đề nghị không dành cho các đảo này quyền có các vùng biển như các đảo khác mà chỉ dành cho chúng những vùng biển có giới hạn hạn chế Người ta nhận ra rằng, nếu bất kỳ đảo nào dù có kích thước nhỏ tới đâu cũng có các vùng biển xung quanh nó thì sẽ tạo ra lợi ích không bình đẳng cho các quốc gia ven biển có các đảo nhỏ và không có người ở nằm rải rác ở khắp đại dương, thậm chí tạo ra các vùng đặc quyền kinh tế còn lớn hơn vùng đặc quyền của quốc gia đó tính từ ven biển Xuất phát từ ý tưởng đó, người ta đã sửa đổi lại định nghĩa đảo trong Công ước
1958 về lãnh hải và vùng tiếp giáp Tuy vậy, việc xác định kích thước của đảo như là tiêu chuẩn bắt buộc để xác định đảo không đạt được thỏa thuận do có sự xung đột về lợi ích giữa các quốc gia có đảo nhỏ như Anh, Venezuela và các quốc đảo ở Nam Thái Bình Dương Các quốc gia này cho rằng các đảo tuy nhỏ nhưng có dân sinh sống và có khả năng tự cung cấp thì không thể bị bỏ qua Họ đề nghị cần dành quy chế đảo cho các đảo nếu chúng có đủ diện tích để cho cư dân sinh sống và tồn tại.6
Về khái niệm "đảo đá", trong thực tiễn và trong lý luận, người ta chưa thống nhất
được các tiêu chuẩn nào để xác định thế nào là một đảo đá Điều 121 khoản 3 của Công
6
Nguyễn Bá Diến: Quy chế pháp lý quốc tế chung về biển, đảo và những vấn đề cần áp dụng đối với Hoàng Sa, Trường Sa, Tạp chí khoa học Đại học Quốc gia hà Nội, Luật học 25, 2009, tr.147
Trang 14ước Luật biển 1982 cũng không đưa ra định nghĩa "đảo đá" mà chỉ nêu quy chế pháp lý
của "đảo đá", theo đó "những đảo đá nào không thích hợp cho con người đến ở hoặc có
một đời sống kinh tế riêng thì không có vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa" Như vậy,
theo Điều 121 khoản 3, đảo đá được hiểu là những đảo đá đáp ứng được các tiêu chuẩn khác của một đảo bình thường, nghĩa là chúng là một vùng đất tự nhiên có nước bao bọc, khi thủy triều lên vùng đất này vẫn ở trên mặt nước nhưng không đáp ứng được các tiêu
chuẩn "thích hợp cho con người đến ở hoặc có một đời sống kinh tế riêng"
Thuật ngữ "những đảo đá nào không thích hợp cho con người đến ở hoặc có một đời
sống kinh tế riêng" là một thuật ngữ hết sức mập mờ, không có một sự giải thích chính xác
Một đảo đá có khả năng đã được con người đến ở nhưng sau khi đã khai thác hết tài nguyên họ có thể ra đi Một đảo đá không thích hợp cho con người đến ở ngày hôm nay sẽ trở thành một đảo đá có người đến ở ngày mai nhờ những cố gắng của con người Vì vậy, cần có một khái niệm cụ thể để xác định như thế nào là đảo đá
Phân loại đảo cũng là một vấn đề quan trọng, cho đến nay vẫn chưa có sự phân loại các đảo một cách cụ thể của bất kỳ cơ quan, tổ chứa quốc tế nào Dù vậy, cũng có nhiều tiêu chí được đưa ra để phân loại đảo như dựa vào kích thước, dựa vào khả năng thích hợp cho cuộc sống con người hay cho đời sống kinh tế riêng Tuy nhiên, tiêu chí được sử dụng rộng rãi là dựa vào vị trí của đảo Đây là tiêu chí quan trọng bởi nó quyết định tới mức độ ảnh hưởng của đảo đối với việc xác định các vùng biển thuộc chủ quyền và quyền chủ quyền của quốc gia
- Dựa vào kích thước của đảo
Mặc dù có một quy chế cho các đảo nhưng Công ước Luật biển 1982 không đưa ra được các tiêu chí để phân loại đảo Trước đây, trong dự thảo các điều khoản liên quan tới việc hoạch định quyền tài phán của quốc gia ven biển trong các vùng biển thuộc quyền tài phán của họ đưa ra trong Hội nghị lần III của Liên Hiệp Quốc về Luật biển 17-7-1973 có
đưa ra đề nghị đảo "là một diện tích tự nhiên có diện tích trên 1km 2 " Kiến nghị này có vẻ
giống như các nổ lực phân loại của văn phòng Thủy văn Quốc Tế và một số chuyên gia:
Đá (rocks) có diện tích nhỏ hơn 0,001 dặm vuông7
(hải lí vuông)
Đảo nhỏ (islets) có diện tích 0,001 đến 1 dặm vuông
Đảo vừa (isles) có diện tích 1 đến 1.000 dặm vuông
7
Dặm vuông (gọi tắt của dặm vuông Anh) là đơn vị đo diện tích bằng diện tích một hình vuông có bề dài là một dặm Anh cho mỗi cạnh 1 dặm vuông = 2.589.988,11m2 = 2,58998811 km2
Trang 15Đảo lớn (islands) có diện tích trên 1.000 dặm vuông.8
- Dựa vào khả năng thích hợp cho cuộc sống con người hay cho đời sống kinh tế
riêng của đảo, có thể chia làm hai nhóm: đảo hợp cho cuộc sống con người hay cho đời
sống kinh tế riêng và đảo không hợp cho cuộc sống con người hay cho đời sống kinh tế riêng Trên phương diện nào đó, có thể hiểu đảo sẽ thích hợp cho con người đến ở hoặc có đời sống kinh tế riêng nếu điều kiện tự nhiên về khí hậu, địa lý của đảo cho phép ổn định cuộc sống lâu dài của những người dân trên đảo Ngoài ra, tài nguyên trên đảo được đánh giá là hiện hữu và có giá trị kinh tế
Theo quy định của Công ước Luật biển 1982, vùng biển của hai nhóm đảo này rất khác nhau Nhóm thứ nhất, có đầy đủ các vùng biển thuộc chủ quyền và quyền chủ quyền như lãnh thổ đất liền của quốc gia Trong khi đó, nhóm thứ hai lại không có vùng biển thuộc quyền chủ quyền là vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa Ngoài ra, mức độ ảnh hưởng của hai nhóm này đến quá trình xác định các vùng biển thuộc chủ quyền và quyền chủ quyền của quốc gia cũng khác nhau
- Dựa vào khoảng cách của đảo đến bờ biển của quốc gia, có thể chia đảo thành hai
nhóm: đảo ven bờ nằm ngay sát lục địa và đảo xa bờ Mặc dù Công ước Luật biển 1982 không xác định rõ nhưng trong thực tiễn đảo ven bờ là đảo cách bờ không quá hai lần chiều rộng lãnh hải (24 hải lí) Đảo cách bờ quá khoảng cách trên sẽ được xếp vào nhóm đảo xa bờ
Đảo ven bờ có thể được xem xét là bộ phận của bờ biển và được tính đến khi xác định đường cơ sở của quốc gia ven biển Đối với đảo xa bờ mối liên hệ giữa đảo với bờ biển khá lỏng lẻo Khi đó, đảo có tính độc lập chứ không được coi là bộ phận cấu thành của bờ biển Đảo trong trường hợp này không thể coi là căn cứ xác định đường cơ sở của quốc gia ven biển Tuy nhiên, đảo xa bờ sẽ có các vùng biển riêng theo quy định tại Điều
121 của Công ước Luật biển 1982.9
Trang 16Ở Điều 46b của Công ước Luật biển 1982 định nghĩa: "Quần đảo là một tổng thể các
đảo, kể cả các bộ phận của các đảo, các vùng nước tiếp liền và các thành phần tự nhiên khác có liên quan với nhau đến mức tạo thành về thực chất một thể thống nhất về địa lí, kinh tế và chính trị, hay được coi như thế về mặt lịch sử" Như vậy, để một nhóm đảo trở
thành quần đảo thì các đảo trong nhóm đảo đó phải thỏa mãn đầy đủ hai tiêu chuẩn:
Thứ nhất, là một tổng thể các đảo Theo tiêu chuẩn này, quần đảo phải là tập hợp
gồm một dãy, chuỗi hoặc một nhóm đảo Trong Công ước Luật biển 1982 không đưa ra yêu cầu về số lượng chính xác để các đảo hợp thành quần đảo Trong thực tiễn, số lượng của một quần đảo phải có nhiều hơn hai đảo Khái niệm quần đảo của Công ước Luật biển
1982 không đơn giản chỉ là tập hợp các đảo mà còn được mở rộng hơn bởi việc thừa nhận thêm bộ phận khác của quần đảo như vùng nước tiếp liền giữa các đảo trong quần đảo và thành phần tự nhiên khác có liên quan
Thứ hai, các đảo trong quần đảo tạo thành thể thống nhất về địa lý, kinh tế, chính trị
hay được coi như thế về mặt lịch sử Mặc dù, không yêu cầu về số lượng đảo hợp thành quần đảo nhưng Công ước luật biển 1982 đòi hỏi các đảo trong quần đảo phải có tính tổng thể, được xác định bởi tính phụ thuộc giữa tất cả các bộ phận của đảo trên cả ba phương diện: địa lý, kinh tế, chính trị hay sự tồn tại của danh nghĩa lịch sử Nếu thiếu đi mối liên
hệ này thì các đảo dù nằm gần nhau cũng không được coi là quần đảo mà thường chỉ được coi là nhóm đảo Tuy nhiên, Công ước Luật biển 1982 chưa có quy định cụ thể về căn cứ
để xác định sự thống nhất về địa lý, kinh tế, chính trị hay được coi như thế về mặt lịch sử giữa các đảo của quần đảo Dựa vào thực tiễn quan hệ quốc tế, sự thống nhất đó được xác định dựa trên các khía cạnh:
- Về địa lý: các đảo trong quần đảo phải có sự gần gũi về địa lý, cụ thể là khoảng
cách giữa các đảo phải đủ gần để được xem là một tổng thể về mặt địa lý Khoảng cách này không chỉ tạo ra sự liên kết giữa các đảo mà còn giữa đảo với các vùng biển tiếp liền Tuy nhiên, khoảng cách giữa các đảo là bao nhiêu để tạo ra sự gắn kết về địa lý là vấn đề gây tranh luận giữa các quốc qia tại các Hội nghị Luật biển Ý kiến được đa số quốc gia ủng hộ là khoảng cách giữa các đảo trong quần đảo không vượt quá hai lần chiều rộng của lãnh hải (24 hải lí)
- Về kinh tế: Phải có mối quan hệ kinh tế giữa các nhóm đảo với những vùng biển
xung quanh Mối quan hệ này có thể được xác định dựa trên: 1) Sự phụ thuộc của người dân sống trên đảo vào nguồn tài nguyên của vùng biển bao quanh: tài nguyên này là cơ sở
có ý nghĩa nguồn sống cho người dân, sự cạnh tranh trong việc khai thác tài nguyên có thể
Trang 17gây khó khăn cho sự sinh sống tại đây; 2) Sự phụ thuộc đó phải được thiết lập đối với tất
cả các đảo và vùng biển bao quanh trong quần đảo; 3) Có bằng chứng về khai thác tài nguyên của quốc gia đối với vùng biển bao quanh trong một thời gian
Tài nguyên của vùng biển bao quanh quần đảo có ảnh hưởng đến nguồn sống của người dân trên đảo có thể là tài nguyên sinh vật biển (chủ yếu là các loại cá, hải sản), tài nguyên khoáng sản (chủ yếu là dầu lửa, khí ga tự nhiên), nước biển, năng lượng thủy triều Nguồn tài nguyên này cung cấp thực phẩm cũng như đáp ứng nhu cầu thiết yếu của con người Ngoài ra, vùng biển bao quanh quần đảo còn phục vụ cho giao thông hàng hải,
du lịch, bảo vệ môi trường sinh thái
- Về chính trị: Ngoài sự gần gũi địa lý và có mối quan hệ về kinh tế thì sự gắn kết
chính trị giữa các đảo trong quần đảo phải chặt chẽ Các đảo trong quần đảo phải được đặt dưới chủ quyền của một quốc gia độc lập, ngoài quan tâm về tính thống nhất giữa dân cư các đảo thì mối quan tâm chung về chính trị, an ninh phải có sức thuyết phục Đảm bảo an ninh không chỉ đối với một đảo mà tất cả các đảo trong quần đảo, tạo nên mối liên hệ gắn kết chặt chẽ của các đảo này Quốc gia có chủ quyền phải duy trì kiểm soát cần thiết đối với tất cả các đảo cũng như vùng biển bao quanh nhằm bảo vệ chủ quyền lãnh thổ quốc gia
- Sự tồn tại của danh nghĩa lịch sử: Trong một số trường hợp, mặc dù không thể
chứng minh được sự thống nhất về địa lý, kinh tế và chính trị giữa các đảo nhưng nhóm đảo vẫn có thể được coi là quần đảo nếu như có sự tồn tại của danh nghĩa lịch sử Điều đó
có nghĩa là việc một quốc gia khai thác, sử dụng đảo với tính chất là một bộ phận hợp thành quần đảo đã được tiến hành trong thời gian dài mà không gặp sự phản đối của quốc gia khác
Trong bốn yếu tố trên, sự gắn kết về địa lý, chính trị là yếu tố quan trọng nhằm đảm bảo tính tổng thể của các đảo trong quần đảo Sự tồn tại của danh nghĩa lịch sử chỉ là yếu
tố có tính chất thay thế khi không thể chứng minh hoặc chứng minh không đầy đủ hai yếu
tố trên Tuy nhiên, việc xác định danh nghĩa lịch sử để chứng minh sự gắn kết giữa các đảo, trong nhiều trường hợp, không được sự chấp thuận của các quốc gia liên quan, đặc biệt khi quốc gia có quần đảo tham vọng mở rộng chủ quyền lãnh thổ của mình làm ảnh hưởng đến lợi ích của các quốc gia khác trong khu vực cũng như lợi ích chung của cộng đồng quốc tế trong việc sử dụng đường hàng hải
1.1.4 Quốc gia quần đảo
Trang 18Khái niệm chính thức về quốc gia quần đảo lần đầu tiên được quy định tại Điều 46a
Công ước Luật biển 1982: "Quốc gia quần đảo là một quốc gia hoàn toàn được cấu thành
bởi một hay nhiều quần đảo và có khi bởi một số hòn đảo khác nữa" Vấn đề này đã được
đặt ra từ Hội nghị LaHaye 1930 nhưng đến Hội nghị Luật biển lần I năm 1958 cũng vẫn không được giải quyết Từ khái niệm trên có thể thấy, để trở thành một quốc gia quần đảo trước hết các đảo trong nhóm đảo đó phải thỏa mãn những yếu tố cấu thành quần đảo như
đã phân tích trong khái niệm quần đảo: 1) Là một tổng thể các đảo; 2) Các đảo trong quần đảo tạo thành thể thống nhất về địa lý, kinh tế, chính trị hay được coi như thế về mặt lịch
sử Các quốc gia này có lãnh thổ nằm hoàn toàn trên các hòn đảo và không có chung đường biên giới đất liền với các quốc gia khác Diện tích của của các quần đảo cấu tạo nên quốc gia quần đảo không bắt buộc nhưng nhìn chung chúng phải đủ lớn để dân cư có thể sinh sống Bên cạnh đó, quốc gia quần đảo có thể bao gồm cả những đảo khác mà không nằm trong tổng thể các đảo nhưng trong một khuôn khổ nào đó các đảo này cũng phải có
sự gắn kết nhất định với quần đảo
1.1.5 Đảo nhân tạo, thiết bị và công trình trên biển
Công ước 1958 đã xây dựng quy chế pháp lý riêng cho các cấu trúc nhân tạo, theo đó
tại khoản 4 Điều 5 Công ước về lãnh hải và vùng tiếp giáp 1958 quy định: "các công trình
thiết bị này thuộc quyền tài phán của quốc gia ven biển, nhưng không có quy chế pháp lý như các đảo, không có lãnh hải riêng và sự có mặt của chúng không ảnh hưởng tới việc xác định biên giới lãnh hải của quốc gia ven biển" và trong công ước Luật biển 1982 cũng
quy định như vậy Tuy nhiên, trong luật pháp quốc tế, định nghĩa “đảo nhân tạo” và
“công trình nhân tạo” chưa được quy định rõ ràng Cho đến nay, chưa có một định nghĩa
nào về đảo nhân tạo và công trình nhân tạo được các quốc gia chấp nhận rộng rãi
Có thể hiểu một cách chung nhất về đảo nhân tạo, thiết bị và công trình trên biển là các cấu trúc do con người tạo ra Theo Bách khoa toàn thư về công pháp quốc tế, đảo nhân tạo được định nghĩa là những cấu trúc được tạo ra bằng cách đặt, đổ lên các vật chất tự nhiên như sỏi, cát và đá; còn các công trình nhân tạo được định nghĩa là những cấu trúc cố định hay tạm thời được gắn với đáy biển bằng hệ thống chân cọc Các định nghĩa này còn chưa đầy đủ, chưa bao gồm hết được những loại hình công trình nhân tạo dần dần xuất hiện ngày càng nhiều như thành phố trên biển, các dàn khoan dầu khí, các đảo nhân tạo phục vụ đánh bắt cá, nhà máy điện, bến tàu nổi…
Công ước luật biển 1982 của Liên Hiệp Quốc chỉ đưa ra định nghĩa về "đảo", không
có định nghĩa về "đảo nhân tạo" Tuy vậy, để xác định thế nào là đảo nhân tạo, người ta
Trang 19có thể suy ra từ định nghĩa "đảo" trong Công ước luật biển 1982 Theo Công ước, "đảo" tự
nhiên là một vùng đất được hình thành tự nhiên, bao quanh là nước và nổi trên mặt nước khi thủy triều lên So với đảo tự nhiên, cấu trúc nhân tạo thỏa mãn tất cả các yếu tố cấu
thành trừ yếu tố "sự hình thành tự nhiên" Những đảo không phải là vùng đất, không được
nước biển bao quanh, chỉ nổi lên trên mặt nước khi thủy triều lên nhờ những công trình xây dựng của con người thì được coi là các đảo nhân tạo, không phải là đảo tự nhiên Chỉ
có một yếu tố khác biệt duy nhất song các cấu trúc nhân tạo này không được các Công ước dành cho quy chế pháp lý đảo bởi việc áp dụng quy chế sẽ dẫn đến nhiều hệ quả khác nhau Trước hết, các công trình này do con người tạo ra nên có kích thước rộng hay hẹp,
số lượng ít hay nhiều tùy thuộc vào ý chí của quốc gia ven biển Điều này có nghĩa là các quốc gia có tiềm lực kinh tế, trình độ khoa học kỹ thuật cao có thể xây dựng nhiều cấu trúc nhân tạo, từ đó mà xác lập các vùng biển rộng lớn; nó làm xuất hiện tình trạng bất bình đẳng với các quốc gia khác Mặt khác, sự hiện diện của các cấu trúc nhân tạo với số lượng lớn trên khắp đại dương sẽ ảnh hưởng trực tiếp tới các luồng hàng hải quốc tế và việc bảo đảm an toàn cho các phương tiện lưu thông trên biển
Với những hệ quả trên mà các cấu trúc nhân tạo được định rất chặt chẽ các tiêu chuẩn
an toàn trong quá trình xây dựng, hoạt động và ngay cả khi tháo gỡ các cấu trúc này
1.1.6 Bãi cạn lúc chìm lúc nổi
Điều 11 Công ước 1958 về lãnh hải và vùng tiếp giáp định nghĩa: "Bãi cạn lúc chìm
lúc nổi là những vùng đất nhô cao tự nhiên có biển bao quanh, khi thủy triều xuống thấp thì lộ ra, khi thủy triều lên cao thì bị ngập nước"
Tại Hội nghị Liên Hiệp Quốc về Luật biển lần III, các quốc gia nhắc đến khái niệm tương tự ở Điều 13 khoản 1 Công ước Luật biển 1982 Thuật ngữ bãi cạn lúc nổi lúc chìm được coi như bao gồm cả bãi ngầm, đá ngầm và đá cạn – là những cấu tạo địa lý ở phía ngoài bờ biển chỉ nổi lên khi thủy triều thấp và ngập nước khi thủy triều lên cao Cũng giống như đảo, bãi cạn lúc chìm lúc nổi phải là vùng đất tự nhiên gắn bó hữu cơ với đáy biển, không phải là vật thả trôi như tàu, thuyền hay là các tảng băng, nó được hình thành
mà không do bàn tay của con người xây dựng và các mặt giáp với biển
Trong số các tiêu chuẩn để xác định quy chế của một đảo thì tiêu chuẩn đảo phải ở trên mặt nước lúc thủy triều lên là tiêu chuẩn tương đối khách quan Đây là cơ sở quan trọng để phân biệt giữa đảo và những bãi nổi nửa cạn nửa chìm Đối chiếu với định nghĩa đảo tại Điều 121 Công ước Luật biển 1982 ta thấy rõ, dù có giống nhau về nhiều yếu tố nhưng có một yếu tố cơ bản để phân biệt đảo với các bãi cạn lúc nổi lúc chìm là yếu tố
Trang 20"thường xuyên ở trên mặt nước khi thủy triều lên" Trong khi các đảo thông thường luôn ở
trên mặt nước trong mọi điều kiện thì ngược lại các bãi cạn lúc nổi lúc chìm chỉ ở trên mặt nước khi thủy triều xuống thấp Tuy vậy, cũng đã từng có tranh chấp về tiêu chuẩn này Trong vụ tranh chấp giữa Anh và Pháp về ý nghĩa của quy chế đảo đối với đảo đá Eddystone, phía Anh cho rằng Eddystone có quy chế của một đảo vì nó nổi lên trên mực nước thủy triều cao nhất vào mùa xuân Nhưng Pháp đã bác bỏ lập luận này với lí do là luật tập quán quốc tế không phân biệt về mức thủy triều lên vào mùa xuân hay với mức thủy triều lên vào mùa khác Mặc dù, Eddystone có thể nổi khi thủy triều lên vào mùa xuân nhưng nó lại chìm khi thủy triều lên trong các mùa khác thì nó vẫn không được coi là một đảo.11
Cả Công ước 1958 về lãnh hải và vùng tiếp giáp lãnh hải và Công ước Luật biển
1982 đều khẳng định tiêu chuẩn một đảo phải ở trên mặt biển lúc thủy triều cao nhất và không phân biệt thủy triều theo các mùa Như vậy, cả hai Công ước đều không dành quy chế đảo cho những cấu trúc tự nhiên lúc chìm lúc nổi
1.2 TẦM QUAN TRỌNG CỦA BIỂN, ĐẢO
Biển, đảo có vai trò rất quan trọng đối với sự phát triển và an ninh của các nước có biển nói riêng và của thế giới nói chung Một số nước và vùng lãnh thổ đã tận dụng thế mạnh về biển, đảo và đạt trình độ phát triển kinh tế rất cao Ngay nay, trong xu hướng các quốc gia có những hoạt động tiến ra biển thì tầm quan trọng của biển, đảo càng được thể hiện rõ hơn Biển, đảo là một bộ phận cấu thành phạm vi chủ quyền thiêng liêng của Tổ quốc, cùng với đất liền tạo ra môi trường sinh tồn và phát triển của con người Ý nghĩa và tầm quan trọng của biển, đảo được thể hiện trên nhiều lĩnh vực cũng như các khía cạnh khác nhau như: là nơi dân cư sinh sống, nơi kiểm soát các hoạt động kinh tế biển, nơi phát triển các làng nghề truyền thống gắn với biển đảo, đảo còn là nơi trú ngụ tránh bão, thiên tai khác trên biển của các tàu thuyền, là yếu tố cơ bản để xác định đường cơ sở trên biển, Trong phạm vi của chương này, người viết sẽ nêu lên ba khía cạnh mà biển đảo
có ảnh hưởng lớn nhất
1.2.1 Về chính trị
Như chúng ta đã biết, chủ quyền của một quốc gia không chỉ là phần lãnh thổ trên đất liền mà bao gồm cả phần biển và đảo của quốc gia đó trong phạm vi không gian được giới hạn bởi biên giới quốc gia Đây là những bộ phận quan trọng nhất cấu thành nên lãnh thổ
11
Nguyễn Bá Diến: Quy chế pháp lý quốc tế chung về biển, đảo và những vấn đề cần áp dụng đối với Hoàng Sa, Trường Sa, Tạp chí Khoa học Đại học Quốc gia Hà Nội, Luật học 25, 2009, tr.148
Trang 21quốc gia, làm cơ sở để xác định vùng trời, nội thủy, lãnh hải Chủ quyền quốc gia khẳng định quyền làm chủ của quốc gia đó trên vùng lãnh thổ của mình, các quốc gia khác không được xâm phạm, điều này áp dụng đối với cả phần đất liền và vùng biển, đảo của quốc gia
có chủ quyền
Vấn đề chủ quyền đối các vùng biển, hải đảo ngày càng được quan tâm hơn, nó không đơn giản ảnh hưởng tới một quốc gia độc lập mà còn ảnh hưởng mạnh mẽ đến các quan hệ chính trị, ngoại giao giữa các nước Trong xu hướng vận động, phát triển của nền kinh tế thế giới hiện nay, biển và đảo đang là một mục tiêu của nhiều quốc gia hướng tới Vấn đề chủ quyền biển đảo đang nổi lên như một tôn chỉ lớn cho các quốc gia có biển Ngày nay nước nào cũng quan tâm đến biển và các hải đảo, có xu hướng “tiến ra biển” vì lợi ích nhiều mặt, thành thử dễ dẫn đến các tranh chấp về chủ quyền biển, đảo Nhiều nước đưa ra các yêu sách về quyền của mình đối với các vùng biển và hải đảo, từ đó có thể gây
ra những bất đồng, xung đột ở cấp khu vực và Quốc tế Điều này đòi hỏi sự điều chỉnh công bằng, khách quan, mạch lạc bằng một văn bản pháp luật có giá trị quốc tế Sự quan tâm đó được thể hiện ở việc cộng đồng quốc tế đã lần lượt xây dựng các Công ước có liên quan, đặc biệt là Công ước Luật biển 1982 với các quy định khá cụ thể và chặt chẽ về khái niệm, đặc điểm, cách thức xác định và quy chế pháp lý của biển, đảo
Do có ý nghĩa quan trọng, ảnh hưởng tới tất cả các quốc gia và các quan hệ ngoại giao quốc tế về biển, cùng với sự ra đời của các Công ước Luật biển thì hiện nay hầu hết các quốc gia trên thế giới đã ban hành các Luật biển của riêng mình và ký kết các Điều ước quốc tế có liên quan Đây là một minh chứng cho thấy ý nghĩa chính trị và pháp lý của biển đảo trong thời đại ngày nay
1.2.2 Về kinh tế
Biển, đảo là nơi chứa đựng nguyền tài nguyên phong phú và đa dạng Nó có ý nghĩa quan trọng cho đời sống và sự phát triển kinh tế của một quốc gia Một quốc gia nếu sở hữu một vùng biển rộng lớn thì chắc hẳn nước đó đang sở hữu một nguồn tài nguyên phong phú cùng việc phát triển kinh tế biển bền vững Đề cập đến vai trò kinh tế của đại dương và biển, các chiến lược gia đều thống nhất nhận định “Đại dương và biển là nơi dự trữ cuối cùng của loài người về lương thực, thực phẩm và các nguồn nguyên nhiên liệu ở thế kỷ 21 và tiếp tới”, đặc biệt khi thế giới đang lâm vào cuộc khủng hoảng thiếu tài nguyên thiên nhiên trên đất liền Thực tế lịch sử cũng cho thấy những đột phá phát triển mang tầm thế giới hầu như đều bắt nguồn từ những quốc gia biển và mỗi thời đại phát triển lớn đều gắn kết với đại dương và được định nghĩa bằng biển và đại đương
Trang 22Biển và đại dương chiếm trên 71% diện tích Trái đất Biển được cấu tạo từ ba thành phần được quan tâm nhiều: Khối lượng nước có nhiều tài nguyên sinh vật quý giá cũng như các tài nguyên không sinh vật hòa tan trong nước biển (trên 40 thành phần hóa chất trong nước biển); thềm lục địa chứa 90% trữ lượng dầu khí ngoài khơi; đáy đại dương và các dãy núi đại dương nơi chứa đựng các quặng đa kim.12
Vùng thềm lục địa có các lớp trầm tích là một tầng sinh dưỡng vô cùng màu mỡ Nhờ
có nguồn thức ăn phong phú ở đáy và rìa lục địa mà thềm lục địa trở thành môi trường rất thuận lợi cho các loài động - thực vật biển sinh sống và phát triển nhanh chóng các vùng thềm ở độ nước sâu 200 đến 300 mét cung cấp một sản lượng lớn tài nguyên sinh vật biển Trong đó, đặc biệt phát triển và có kinh tế cao các loài cá biển Thống kê nhiều năm về phân bố địa lý các vùng đánh cá cho thấy, sản lượng đánh bắt cá biển thế giới từ năm 1990
là vào khoảng 90 triệu tấn/năm, khoảng 15% sản lượng đánh bắt thuộc về vùng biển Đông, 85% thuộc về các vùng biển khác Trong đó, Đại Tây Dương 45%, Thái Bình Dương 50%,
Ấn Độ Dương 5% Riêng vùng thềm lục địa chiếm gần 90% sản lượng đánh bắt trên toàn thế giới Sản lượng sản xuất thực vật biển khoảng 300 tỷ tấn/năm, trong đó động vật ăn cỏ tiêu thụ 70 tỷ tấn, con người tiêu thụ trực tiếp 250-300 triệu tấn Chính vì nguồn lợi sinh vật biển giàu có mà ngày nay các quốc gia trên thế giới đã và đang khẳng định chủ quyền
và mở rộng khai thác tối đa vùng thềm lục địa.13
Tài nguyên không sinh vật biển có thể chia làm ba loại: các tài nguyên của đáy biển
và lòng đất dưới dáy biển: cát, sỏi, san hô, than, dầu khí ; Các tài nguyên do các dòng sông và hiện tượng xói lở của bờ biển đưa ra biển như các hạt khoán sản hoặc các hạt bụi kim loại có nguồn gốc từ đất liền; các hóa chất kết tủa của biển như muối, á kim và các quặng đa kim
Hiện nay, dầu mỏ và khí đốt là nguồn năng lượng chủ yếu, cung cấp đến trên 65% nhu cầu sử dụng năng lượng của loài người trên Trái đất Đây là loại tài nguyên vô cùng quý giá đối với sự phát triển của nhân loại nói chung và là tiềm năng vô giá của các quốc gia có biển Dầu khí được khai thác đầu tiên trên thế giới vào năm 1923 tại Louisian, sau
đó tại Venezuela Năm 1960, các dàn khoan biển chỉ dừng lại ở độ sâu 30 mét Ngày nay, các mũi khoan thí nghiệm có thể thực hiện ở độ sâu 3.000- 4.000 mét Dầu mỏ và khí đốt
có ở cả trên lục địa và đại dương nhưng phần lớn phân bố ở các đại dương trong đó tập trung chủ yếu ở thềm lục địa và đáy biển sâu Tính toán trữ lượng hidrocacbon trong đại
Trang 23dương thế giới trên cơ sở xác định khối lượng của các tầng trầm tích chỉ ra rằng đại dương tiềm năng chứa khoảng trên 65% toàn bộ tầng chứa dầu tiềm năng của Trái đất, trong đó ở rìa ngầm của các lục địa (thềm và sườn lục địa) chứa gần 38% Kết quả điều tra sơ bộ cho thấy, tổng diện tích các bồn trầm tích lớn có triển vọng dầu mỏ ở các vùng biển vào khoảng 500 tỷ km2 Do việc khai thác ở vùng đáy biển sâu đòi hỏi trình độ kỹ thuật và sự đầu tư lớn, việc khai thác không thuận lợi nên hiện nay khai thác dầu mỏ tập trung chủ yếu
ở các vùng biển nông, đến độ sâu không quá 100 mét.14
Khí hydrate (hay còn gọi là băng cháy) là khí mêtan tồn tại dưới dạng băng hình thành trong hàng trăm triệu năm dưới áp suất cực lớn Băng cháy là nguồn năng lượng vô cùng quý giá mới được phát hiện trong những năm gần đây có giá trị gấp nhiều lần các nguồn năng lượng khác như than đá, dầu mỏ và khí đốt Băng cháy được tìm thấy nhiều ở đáy biển và thềm lục địa khắp các đại dương thế giới và cả ở những vùng băng tuyết phủ quanh năm như Seberi của Nga với trữ lượng đủ cung cấp cho toàn thế giới trong hàng trăm năm
Các quặng đa kim lần đầu tiên được tàu nghiên cứu Challenger phát hiện ở độ sâu 3.000 mét từ năm 1872- 1876 Đánh giá trữ lượng hiện nay vào khoảng 60.000 km2 trong một số vùng của Thái Bình Dương Các quặng này chứa đồng, coban, titan nhưng phần lớn là sắt và mangan Tại các vùng thềm nằm trong độ nước sâu 2.500 đến 3.000 mét chứa đựng 93% than đá và trong các vùng biển thuộc quyền tài phán quốc gia có một trữ lượng đáng kể về mangan và một số quặng khác Các hoạt động khai thác này đã và đang mang lại những giá trị kinh tế của các quốc gia cũng như nền kinh tế thế giới, nhưng đồng thời cũng gây nên không ít căng thẳng đối với các quan hệ quốc tế nói chung và quan hệ giữa các quốc gia có biển nói riêng
Ngoài những tài nguyên biển nói trên để phát triển những ngành công nghiệp thì ngành du lịch biển cũng được xem là một thế mạnh mà các quốc gia ven biển đang hướng đến và ngày càng phát triển mạnh Với những lợi thế về đường bờ biển dài, những hòn đảo, vũng, vịnh đẹp, hang động kỳ bí đã tạo nên một không gian mới lạ thu hút khách du lịch Ngành du lịch đã và đang đóng góp một phần không nhỏ cho sự phát triển kinh tế của các quốc gia có biển đảo
Trang 24Biển, đảo thuộc chủ quyền quốc gia là thiêng liêng và bất khả xâm phạm, vùng biển
có vị trí chiến lược quan trọng, là "tuyến đầu", "cửa ngõ" của mỗi quốc gia, dân tộc, đồng thời là vấn đề nhạy cảm trong các quan hệ Quốc tế Biển, đảo có thể được sử dụng để lắp đặt các trang thiết bị để phục vụ mục đích quân sự, nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú của biển, đảo có thể sử dụng cho công nghiệp quốc phòng Nó không chỉ là vị trí quân
sự quan trọng trong bảo vệ lãnh thổ đất liền mà đối với các nước có tham vọng thì nó có thể trở thành bàn đạp tấn công các nước khác khi cần thiết Do tầm quan trọng của biển, đảo mà từ lâu cuộc chạy đua trong sự phát triển kinh tế biển cũng như triển khai lực lượng quân sự trên biển và sự tranh chấp trên biển diễn ra rất gay gắt Có không ít trường hợp,
do những tranh chấp về lãnh thổ, biển, đảo giải quyết không thỏa đáng mà xảy ra nhiều cuộc chiến tranh giữa các quốc gia với các quy mô khác nhau Chính những ý nghĩa này
mà việc khai thác và sử dụng biển, đảo đã vượt ra ngoài khuôn khổ khai thác, sử dụng thông thường vì mục đích kinh tế mà có thêm những ý nghĩa về chiến lược quân sự đa dạng hơn
Thế kỷ XXI được các nhà chiến lược xem là "Thế kỷ của đại dương", bởi cùng với tốc độ tăng trưởng kinh tế và dân số hiện nay, nguồn tài nguyên thiên nhiên, nhất là tài nguyên không tái tạo được trên đất liền, sẽ bị cạn kiệt sau vài ba thập kỷ tới Trong bối cảnh đó, các nước có biển, nhất là các nước lớn đều vươn ra biển, xây dựng chiến lược biển, tăng cường tiềm lực mọi mặt để khai thác và khống chế biển Riêng trong lĩnh vực khai thác tài nguyên, các nước, nhất là các nước lớn đều có thiên hướng bảo tồn tài nguyên trên đất liền và vùng biển của mình, vươn ra điều tra, khai thác tài nguyên trên đại dương Với những lợi ích về kinh tế - xã hội, chính trị, an ninh quốc phòng mà biển, đảo đem lại cho các quốc gia ngày càng lớn và đa dạng nên đã phát sinh nhiều mâu thuẫn quyền lợi giữa các nước có biển, gây ra những tranh chấp quyết liệt, phức tạp về chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán và lợi ích quốc gia trên biển, đảo
1.3 QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN PHÁP LUẬT VỀ BIỂN, ĐẢO 1.3.1 Giai đoạn trước Công ước Luật biển 1982
Luật biển là một ngành luật trong hệ thống pháp luật quốc tế, bao gồm tổng hợp các nguyên tắc, quy phạm được hình thành bằng sự thỏa thuận giữa các chủ thể của luật quốc
tế (trước tiên và chủ yếu là giữa các quốc gia) nhằm điều chỉnh các quan hệ phát sinh
Trang 25giữa các chủ thể trong hoạt động khai thác, sử dụng, quản lý và và bảo vệ môi trường biển vì mục đích hòa bình 15
Luật biển được hình thành từ rất sớm trong lịch sử, vào thời cổ đại, ở Hy Lạp, Ai Cập
và La Mã đã xuất hiện các tập quán về biển, và tiếp đến vào khoảng Thế kỷ XIII đã xuất hiện một số nguyên tắc về Luật biển ở vùng biển Bắc Âu, sau đó đã được phổ biến sang khu vực Địa Trung Hải.16 Văn kiện đầu tiên là Sắc chỉ "Inter Coetera" của giáo hoàng
Alexendre VI ngày 04/5/1493 điều chỉnh về phân định biển Đường chia của giáo hoàng cách phía Tây của đảo Cap Vert 100 liên17, phân đại dương thành hai khu vực ảnh hưởng cho Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha Thực chất đó là đường phân chia khu vực truyền đạo của hai quốc gia này đã nhanh chóng chuyển thành khu vực ảnh hưởng của họ
Năm 1609, Hugo Grotius viết cuốn "Mare Liberum" (tự do biển cả) để biện minh cho các quyền tự do trên biển Tư tưởng này được các quốc gia tư bản mới hoan nghênh vì nó tạo sức cạnh tranh với sự phân chia trên, tạo điều kiện cho các quốc gia hàng hải khác như
Hà lan, Anh phát triển Năm 1635, luật gia người Anh John Selden đáp lại bằng tác
phẩm "Mare Clausum" (biển đóng), khẳng định quyền của vua Anh thực hiện chủ quyền
trên các vùng biển bao quanh nước Anh Tuy nhiên, nguyên tắc tự do trên biển của Hugo Grotius đã thắng thế.18
Quá trình pháp điển hóa Luật biển phát triển mạnh sau đại chiến thế giới thứ hai Thông qua ba Hội nghị lớn của Liên hiệp quốc vào các năm 1958, 1960 và năm 1973-
- Công ước về thềm lục địa (có hiệu lực ngày 10/06/1964, 54 quốc gia là thành viên);
- Công ước đánh cá và bảo vệ tài nguyên sinh vật biển (có hiệu lực ngày 20/03/1966,
36 quốc gia là thành viên);
- Công ước về biển cả (có hiệu lực ngày 30/09/1962, 57 quốc gia là thành viên)
Trang 26Bốn Công ước trên đã đặt nền móng cho việc pháp điển hóa luật biển, Công ước đã quy định nhiều nguyên tắc tập quán quốc tế về khai thác, sử dụng biển
Ngoài biển thì đảo từ lâu đã được các luật gia quan tâm nghiên cứu trong khoa học pháp lý quốc tế Tuy nhiên, việc thống nhất khái nệm cũng như xác lập quy chế pháp lý của đảo trong Luật biển quốc tế gặp không ít khó khăn Cho tới trước khi Hội nghị pháp điển hóa Luật quốc tế La Haye 1930 diễn ra thì chưa có một hội nghị chính thức nào bàn
về đảo và các quy chế của đảo Tới năm 1930, tại Hội nghị quốc tế đầu tiên về Luật biển được triệu tập ở LaHaye - Hà Lan thì vấn đề về đảo mới có tiếng nói riêng Đây là diễn đàn đầu tiên chính thức thảo luận về định nghĩa đảo và các điều kiện để đảo có thể tạo ra lãnh hải Dự thảo định nghĩa đảo đã được Ủy Ban II của Hội nghị (Ủy ban xây dựng dự
thảo về lãnh hải) đã đưa ra khái niệm: "đảo là một vùng đất có nước bao bọc xung quanh,
thường xuyên ở trên mực nước cao" Đây là định nghĩa còn khá sơ lược, chủ yếu dựa trên
các tiêu chí khách quan để xác định; gần với định nghĩa theo nghĩa địa lý tự nhiên với ba yếu tố cấu thành: là một vùng đất, có nước bao bọc xung quanh và thường xuyên ở trên mực nước cao.19 Dù được đưa vào thảo luận như một vấn đề cơ bản nhưng nhìn chung, trong Hội nghị La hay 1930 định nghĩa đảo không dành được sự quan tâm của các quốc gia và kết quả cuối cùng của hội nghị cũng không thống nhất định nghĩa đảo
Tại Hội nghị lần I của Liên Hiệp Quốc về Luật biển, các nước đã đưa ra một định nghĩa thống nhất về đảo Đây là một thành công rất lớn đối với những nổ lực mà các quốc gia thành viên đã tham gia, theo đó tại khoản 1 điều 10 của Công ước 1958 về lãnh hải và
vùng tiếp giáp định nghĩa: "Đảo là một vùng đất hình thành tự nhiên có nước bao bọc, khi
thủy trều lên vùng này vẫn ở trên mặt nước" Bên cạnh đó, các khái niệm pháp lý có liên
quan đến đảo cũng được định nghĩa trong các công ước 1958 như các cấu trúc nhân tạo, bãi cạn nửa chìm nửa nổi
So với khái niệm được đưa tại Hội nghị LaHaye 1930, khái niệm đảo của Công ước
1958 về lãnh hải và vùng tiếp giáp đã được bổ sung thêm tiêu chuẩn "sự hình thành tự
nhiên" Yếu tố này đưa ra nhằm phân biệt đảo tự nhiên với đảo nhân tạo, hạn chế trường
hợp những quốc gia có khoa học kỹ thuật phát triển xây dựng các đảo nhân tạo để thực hiện tham vọng lấn chiếm biển của mình
1.3.2 Công ước của Liên Hiệp Quốc về Luật biển 1982
19
Nguyễn Bá Diến: Quy chế pháp lý quốc tế chung về biển, đảo và những vấn đề cần áp dụng đối với Hoàng Sa, Trường Sa, Tạp chí Khoa học Đại học Quốc gia Hà Nội, Luật học 25, 2009, tr.145
Trang 27Hội nghị lần II của Liên Hiệp Quốc về Luật biển được tổ chức vào ngày 17/3/1960 tại Gionevơ Nhưng do những mâu thuẫn và bất đồng giữa các quốc gia tham gia nên Hội nghị kết thúc mà không đạt được thỏa thuận nào Tuy nhiên, nhìn nhận khách quan mà nói, mặc dù Hội nghị LaHaye 1930 chưa đạt được những thành công như mong muốn nhưng lại cũng chính là cơ hội tạo điều kiện cho bốn Công ước trong Hội nghị lần thứ I được thực thi Bởi sự thành công lớn nhất của Hội nghị lần I là cho đã ra đời bốn Công ước, mà các Công ước này đều có hiệu lực sau năm 1960 Như vậy, nếu như Hội nghị lần II thành công thì bốn Công ước trên chưa kịp áp dụng vào thực tế thì đã có công ước mới thay thế Hội nghị lần III của Liên Hiệp Quốc về Luật biển được tổ chức tại New York sau năm năm trù bị (1967- 1972) và chín lần đàm phán thương lượng (1973- 1982) với 144 quốc gia, 8 cơ quan đại diện đặc biệt tham gia đã thông qua được công ước mới về Luật biển Văn bản cuối cùng được ký kết tại Mongtego - Bay, Giamaica ngày 10/12/1982 bởi 117 quốc gia và thực thể, trong đó có Việt Nam Lần đầu tiên trong lịch sử, Công ước 1982 đưa ra các quy định tổng thể các tính chất bao trùm trong hầu hết các lĩnh vực biển: cách xác định các vùng biển, chế độ pháp lý của các vùng biển; các quy định về hàng hải và hàng không; sử dụng, khai thác và quản lý các tài nguyên biển, sinh vật và không sinh vật; bảo vệ môi trường biển; nghiên cứu khoa học biển; an ninh trật tự trên biển, đấu tranh chống các tội phạm trên biển; vấn đề phân định biển và giải quyết các tranh chấp quốc tế liên quan đến biển
Với 329 điều khoản, 17 phần và 9 mục lục, Công ước biển 1982 thực sự là một bản
"Hiến pháp của Đại dương" của cộng đồng quốc tế, là văn kiện tổng hợp toàn diện đề cập tới tất cả các vấn đề, nó phản ánh một sự nhất trí rộng rãi hầu hết các vấn đề liên quan đến biển và nhằm mục đích xác lập một trật tự pháp lý để điều chỉnh hoạt động của các quốc gia trong quá trình khai thác, sử dụng biển và đại dương Những diễn biến trên đã mở rộng đáng kể bề rộng và phạm vi chủ quyền, quyền tài phán của các quốc gia ven biển đối với các vùng biển, đồng thời cũng đảm bảo các quyền tự do cơ bản cho quốc gia khác Công ước Luật biển 1982 có hiệu lực từ ngày 16/11/1994 và có giá trị hơn bốn Công ước 1958 Phần lớn các điều khoản của Công ước kế thừa từ bốn Công ước 1958
Tại Hội nghị của Liên Hiệp Quốc về Luật biển lần III, ngoài việc đạt được những kết quả về những vấn đề liên quan đến các vùng biển thì các vấn đề về đảo lại một lần nữa được nhắc đến Ở Hội nghị này, các quốc gia tiếp tục hoàn thiện và phát triển khái niệm đảo trong quá trình đàm phán và ký kết Công ước Luật biển 1982, những vấn đề liên quan đến đảo cũng như quy chế của đảo về cơ bản đại diện các quốc gia cho rằng định nghĩa đảo trong Công ước luật biển mới nên kế thừa định nghĩa đảo trong Công ước 1958 về
Trang 28lãnh hải và vùng tiếp giáp Bên cạnh đó, định nghĩa trong Công ước mới này cũng phải phản ánh được những phát triển mới và xác định rõ ràng hơn các yếu tố cấu thành đảo Sau một quá trình thảo luận rất dài và căng thẳng, cuối cùng các quốc gia đã đi đến một công thức thỏa hiệp về định nghĩa đảo và đưa vào một điều khoản xác định - Điều 121 Công ước luật biển 1982 như sau:
"1 Một đảo là một vùng đất hình thành một cách tự nhiên có nước bao bọc khi thủy triều lên vùng đất này vẫn ở trên mặt nước
2 Với điều kiện phải tuân thủ khoản 3, lãnh hải, vùng tiếp giáp, vùng đặc quyền kinh
tế và thềm lục địa của hòn đảo được hoạch định theo đúng các quy định của công ước áp dụng cho các lãnh thổ đất liền khác
3 Những hòn đảo khác không thích hợp cho người đến ở hoặc cho một đời sống kinh
tế riêng, thì không có vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa."
Như vậy, khoản 1 của điều 121 Công ước Luật biển 1982 có nội dung giống nội dung của định nghĩa đảo trong Công ước 1958 về lãnh hải và vùng tiếp giáp Sự phát triển khái niệm đảo được thể hiện ở nội dung khoản 2 và 3 của Công ước Khoản 2 Điều 121 Công ước Luật biển 1982 quy định cách thức xác định các vùng biển do đảo tạo ra như lãnh hải, vùng tiếp giáp lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa Các vùng biển này được xác định theo đúng các quy định của Công ước áp dụng cho lãnh thổ đất liền Khoản 3 Điều 121 đưa ra tiêu chuẩn để phân biệt một đảo đá và một hòn đảo bình thường Đó là tiêu chí liên quan đến điều kiện thích hợp cho cuộc sống con người hoặc cho đời sống kinh tế riêng Có thể thấy, khoản 3 Điều 121 đã gián tiếp quy định là các đảo đá chỉ có lãnh hải và vùng tiếp giáp lãnh hải
Sự phát triển và hoàn thiện khái niệm đảo là một phần trong sự phát triển chung của Luật biển quốc tế Sự phát triển này phản ánh xu hướng mở rộng chủ quyền và quyền chủ quyền quốc gia ra phía biển Tuy nhiên, trong xu hướng mở rộng đó luôn có sự xung đột
về lợi ích giữa quốc gia ven biển với lợi ích của quốc gia khác cũng như lợi ích chung của toàn nhân loại Chính vì vậy, ngoài quy định cho phép quốc gia mở rộng vùng biển của mình (chẳng hạn các vùng biển với quy chế pháp lý khác nhau bao quanh đảo), Luật biển quốc tế cũng có những quy định nhằm hạn chế sự mở rộng thái quá của quốc gia ven biển làm ảnh hưởng đến lợi ích của quốc gia khác Tiêu chuẩn xác định đảo ngày càng được quy định rõ trong các Công ước quốc tế Ngoài ra, sự phân loại đảo đá và đảo bình thường
từ đó hình thành các vùng biển tương ứng cũng như quy định về sự gắn bó chặt chẽ giữa
Trang 29các đảo để tạo thành quần đảo trong công ước Luật biển 1982 cũng không nằm ngoài mục đích đó
Có thể thấy, pháp luật về biển đảo được hình thành từ lâu, nó được thể hiện qua nhiều hình thức, trải dài qua nhiều thế kỷ và ngày càng phát triển hơn Sự ra đời của các Công ước Luật biển đã đánh dấu một bước lớn trong sự phát triển các quy định về biển, đảo Nội dung Công ước đã tiếp cận mọi khía cạnh của đại dương Công ước đã đáp ứng được lợi ích và nhu cầu của hầu hết các quốc gia Mặc khác, để phù hợp với luật quốc tế, một số quốc gia mặc dù chưa phải là thành viên của Công ước nhưng nhiều quy định của Công ước vẫn có giá trị ràng buộc đối với những quốc gia này Các Công ước dù khá phức tạp nhưng lại được tuân thủ bởi đa số các quốc gia trên thế giới chính là bằng chứng về sự công bằng của trật tự pháp lý biển trong Công ước
Trang 30CHƯƠNG 2 QUY CHẾ PHÁP LÝ CỦA ĐẢO THEO CÔNG ƯỚC LUẬT BIỂN 1982
Dự thảo định nghĩa đảo lần đầu tiên được đưa ra tại Hội nghị Pháp điển hóa Luật quốc
tế LaHaye 1930 nhưng do không nhận được sự quan tâm từ các các quốc gia tham dự nên định nghĩa đảo không được thống nhất, do vậy những quy chế pháp lý mà đảo được hưởng cũng không được đưa ra trong Hội nghị này Đến Công ước 1958 về lãnh hải và vùng tiếp giáp, một định nghĩa thống nhất về đảo đã được đưa ra, đảo đã đạt được sự quan tâm nhất định của các nước, những quy định pháp lý dành cho đảo cũng được đặt ra Đồng thời, tại Hội nghị lần này một số khái niệm, quy chế liên quan đến đảo cũng được thảo luận và đạt được sự nhất trí Khi Công ước Luật biển 1982 ra đời, các quy định trên càng được hiện thực hóa, vừa rõ ràng vừa cụ thể hơn Các quy định vừa kế thừa những gì tiến bộ đã được thống nhất trong các Công ước trước đó, đồng thời cũng đưa ra những quy định phù hợp với tình hình hiện tại của thế giới Trong giới hạn của chương này, người viết sẽ phân tích để làm rõ thêm các quy chế pháp lý này
2.1 QUY CHẾ PHÁP LÝ CỦA ĐẢO THUỘC QUỐC GIA VEN BIỂN
Theo Điều 121 Công ước Luật biển 1982 thì để được xem là đảo và được hưởng các quy chế của đảo thì phải thỏa mãn được các điều kiện: là một vùng đất hình thành tự nhiên,
có nước bao bọc xunh quanh, thường xuyên ở trên mực nước lúc thủy triều lên thì sẽ được hưởng đầy đủ các quy chế của đảo.Tuy nhiên, đó chỉ là các điều kiện cần nhưng chưa đủ
mà còn cần thêm một yếu tố quan trọng khác, đó là: "Những hòn đảo đá nào không thích
hợp cho con người đến ở hoặc cho một đời sống kinh tế riêng, thì không có vùng đặc quyền về kinh tế và thềm lục địa" được quy định tại khoản 3 Điều 121 Công ước Luật biển
1982 Như vậy đảo tồn tại dưới dạng tảng đất, đá hoang, không có người ở hoặc không có đời sống kinh tế riêng thì chỉ có lãnh hải mà không có vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa. Tóm lại, để một đảo được hưởng đầy đủ quy chế của đảo đảo đó có thêm một yếu tố
bắt buộc nữa, đó là: "Thích hợp cho con người đến ở hoặc cho một đời sống kinh tế riêng",
nếu không có đủ các điều kiện đảo đó chỉ có thể có vùng nội thủy, lãnh hải
Thích hợp cho người đến ở là một thuật ngữ không có nội dung rõ ràng Tại hội nghị Pháp điển hóa Luật pháp quốc tế 1930 đã có một số ý kiến nêu nên sử dụng tiêu chuẩn
"thích hợp cho con người sinh sống" để phân biệt một đảo thực sự với đảo nhân tạo Tại
hội nghị này, Anh đã cho rằng một đảo muốn có lãnh hải mà không phải chỉ có thể ở được
mà còn "có thể sử dụng được" Tuy vậy, Hội nghị đã bác bỏ đề nghị của Anh
Trang 31Tại Ủy ban Luật pháp quốc tế khi chuẩn bị cho Hội nghị Luật biển lần I, Lauterpacht20 có ý kiến cho rằng muốn được coi là một đảo thật sự, đảo đó phải được
"chiếm đóng và kiểm soát có hiệu quả" Tuy vậy, Báo cáo viên của Ủy ban đã không đồng
ý với ý kiến trên rằng bất cứ một đảo đá nào cũng có thể như một đài quan sát khí tượng hoặc một đài phát thanh và điều đó có nghĩa là đảo đó đã được kiểm soát và chiếm đóng
có hiệu quả Như vậy, tại hội nghị Luật biển lần I, tiêu chuẩn "có người ở" và "có thể sử
dụng được" đã không được đưa vào trong định nghĩa đảo của Công ước 1958 về lãnh hải
và vùng tiếp giáp lãnh hải.21
Từ phiên họp thứ bảy cho đến phiên họp cuối cùng của Hội nghị của Liên hiệp quốc
về Luật biển lần III được tổ chức lần lượt vào năm 1978 và 1982, một số kiến nghị và sửa đổi liên quan đến quy chế của đảo đã được đưa ra thảo luận Một số quốc gia bao gồm Nhật Bản, Hy Lạp, Pháp, Venezuela, Vương quốc Anh, Barazil đã đề xuất và ủng hộ việc xóa bỏ khoản 3 Điều 121 Công ước Luật biển 1982 Trong lúc đó, một số quốc gia khác phản đối việc sửa đổi hoặc xóa bỏ điều này trong đó có Ireland, Đức, Singapore, Thổ Nhĩ Kỳ, Đan Mạch, Hàn Quốc Nhật Bản đưa ra ba lí do để ủng hộ cho quan điểm của mình về việc xóa bỏ khoản 3 Điều 121 của Công ước: 1) Việc phân biệt giữa các đảo dựa trên diện tích của chúng hay dựa trên việc chúng có thích hợp với đời sống của con người không là không đúng đắn; 2) Công ước 1958 về Thềm lục địa không hề phân biệt giữa các đảo thích hợp hay không thích hợp với đời sống con người; 3) Rất nhiều quốc gia khi đưa
ra tuyên bố về vùng đặc quyền kinh tế 200 hải lí của mình cũng không có sự phân biệt như vậy Pháp ủng hộ đề xuất của Nhật Bản trong việc xóa bỏ khoản 3 nhưng không đưa ra giải thích Vương quốc Anh cũng đưa ra đề xuất như trên và đưa ra giải thích rằng: trong luật quốc tế không có một cơ sở nào để đưa ra một sự phân biệt giữa các dạng lãnh thổ khác nhau nhằm xác định các vùng biển và một sự phân biệt như thế sẽ đi trái với quyền của các quốc gia đối với các lãnh thổ của mình Brazil cũng ủng hộ đề xuất của Anh với lập luận rằng không có một cách giải thích hợp lý nào cho Điều 121 khoản 3 cả Tuy nhiên, Hàn Quốc thì lại thấy khó mà ủng hộ việc xóa bỏ điều khoản này vì việc này sẽ phá hỏng trạng thái cân bằng mong manh đạt được sau một quá trình đàm phán lâu dài về quy chế của đảo Rumani, quốc gia chủ chốt trong quá trình soạn thảo Điều 121 Công ước Luật biển 1982, đã đệ trình một đề xuất sửa đổi Điều 121 bằng cách thêm một khoản 4 quy định
như sau: "các đảo nhỏ không có người sinh sống sẽ không ảnh hưởng đến các vùng biển
20
Sir Hersch Lauterpacht (sinh 8/4/1897- mất 8/5/1960) là thành viên của Ủy ban Luật pháp quốc tế từ năm 1952
đến năm 1954 và là thẩm phán của phiên tòa công bình quốc tế từ năm 1955 đến năm 1960
21
Nguyễn Bá Diến: Quy chế pháp lý quốc tế chung về biển, đảo và những vấn đề cần áp dụng đối với Hoàng Sa, Trường Sa, Tạp chí khoa học Đại học Quốc gia Hà Nội, Luật học 25, 2009, tr.149
Trang 32thuộc đất liền của quốc gia có liên quan".22 Mặc dù vậy, bất chấp phản đối từ một số đoàn
đại biểu khoản 3 Điều 121 quy chế đảo vẫn được thông qua với 130 phiếu thuận
Điều 121 khoản 3 của Công ước Luật biển 1982 quy định rằng một đảo thích hợp cho
con người đến ở thì sẽ được hưởng quy chế đầy đủ của đảo Tuy vậy, thế nào là "thích hợp
cho con người đến ở" lại không được Công ước giải thích rõ ràng
Trên thực tế rất khó xác định thế nào là một đảo thích hợp cho con người đến ở Người ta có thể đến ở một đảo nhưng rồi sau đó lại ra đi do các điều kiện tự nhiên khắc nghiệt Ngược lại, một đảo san hô giữa biển khơi hôm nay còn không thể là nơi sinh sống của con người nhưng nhờ vào tiến bộ khoa học kỹ thuật rất có thể sau nay sẽ trở thành nơi con người có thể sinh sống được Bất kỳ mỏm đá nào, bãi cạn nào cũng có thể làm nơi cư trú của con người nếu quốc gia đó đầu tư thích đáng để con người có thể sinh sống ở đó Trong phán quyết của Tòa án quốc tế về phân định biển giữa Nauy và Aixolen cũng như trong phán quyết của Tòa án quốc tế về phân định biển giữa Nauy và Đan Mạch, mặc
dù có diện tích nhỏ bé và chỉ có 20-30 người là các nhân viên kỹ thuật làm công tác dự báo thời tiết nhưng đảo Jan Mayen23 vẫn được coi có quy chế đảo.24
Có thể nhận thấy nội dung của tiêu chuẩn "thích hợp cho đời sống kinh tế riêng" còn khó xác định hơn cả tiêu chuẩn "thích hợp cho người đến ở" Người ta không biết rằng tiêu chuẩn "thích hợp cho đời sống kinh tế riêng" bao gồm những yếu tố gì Một đảo được
coi là thích hợp cho một đời sống kinh tế riêng có hoàn toàn phải có khả năng tự chủ so với đất liền hay không? Nếu đúng như vậy thì dựa vào tiêu chuẩn nào ? Những đảo không
có triển vọng phát triển kinh tế nhưng chúng có thể tồn tại được nhờ các hoạt động đánh
cá xung quanh các đảo đó thì có thể coi là có đời sống kinh tế riêng hay không? Một vấn
đề nửa là Điều 121 khoản 3 Công ước Luật biển 1982 sử dùng từ hoặc giữa hai cụm từ
"thích hợp cho con người đến ở" và "cho một đời sống kinh tế riêng" thì khi cần chứng
minh sẽ phải thỏa hai điều kiện trên hay chỉ cần một trong hai? Điều 121 khoản 3 Công
ước Luật biển 1982 quy định một đảo "thích hợp cho con người đến ở hoặc cho một đời
22
Yann-huei Song: Việc áp dụng điều 121 khoản 3 Công ước Luật biển đối với năm đảo tranh chấp ở biển Đông,
nguồn: 1213-cong-c-lut-bin-i-vi-nm-o-tranh-chp bin-ong- , [ngày truy cập 20/3/2013]
http://nghiencuubiendong.vn/trung-tam-du-lieu-bien-dong/doc_details/74-yann-huei-song-vic-ap-dng-iu-23Đảo Jan Mayen là một phần của Vương quốc Na Uy, là một đảo núi lửa bắc cực có chiều dài 55 km (tây nam- đông bắc) và có diện tích 373 km², sông băng bao phủ một phần Nó được chia làm hai phần: Nord-Jan lớn hơn và Sor-Jan nhỏ hơn, được nối với nhau bởi một eo đất rộng 2,5 km
24
Nguyễn Bá Diến: Quy chế pháp lý quốc tế chung về biển, đảo và những vấn đề cần áp dụng đối với Hoàng Sa, Trường Sa, Tạp chí khoa học Đại học Quốc gia Hà Nội, Luật học 25, 2009, tr.149
Trang 33sống kinh tế riêng" nhưng đã không đưa ra những chỉ dẫn cụ thể để xác định các yếu tố
cần thiết để giải thích cho vấn đề này
Mục đích của Điều 121 khoản 3 là để hạn chế việc áp dụng quy chế pháp lý đầy đủ
cho các đảo Do có yếu tố "thích hợp cho con người đến ở" phải hiểu rằng con người ở
đây là một cộng đồng người đang sinh sống trên đảo và họ tới đảo với một mục đích xây
dựng cuộc sống xã hội ổn định, lâu dài Một đảo "thích hợp cho con người đến ở" là một
đảo mà điều kiện tự nhiên về khí hậu, địa lý cho phép ổn định cuộc sống cho dân cư trên
đảo Đảo đá có "đời sống kinh tế riêng" nghĩa là các tài nguyên trên đảo và ở xung quanh
đảo được đánh giá là có giá trị kinh tế, đang tồn tại trên thực tiễn mà cộng đồng dân cư trên đảo đã tạo lập một đời sống kinh tế xã hội từ các nguồn lợi đó
Như vậy, những đảo đá này chỉ có lãnh hải 12 hải lý và vùng tiếp giáp lãnh hải 12 hải
lý, không được phép có vùng thềm lục địa và vùng đặc quyền về kinh tế Tuy nhiên, trong thực tiễn quốc tế, có những trường hợp, bãi đá chỉ được 3, 6 hay 9 hải lý lãnh hải và vùng tiếp giáp, tùy vào sự thỏa thuận của các quốc gia liên quan hoặc phán quyết của Tòa án Quốc tế, Tòa Trọng tài hoặc các cơ quan tài phán quốc tế khác mà các bên liên quan chấp nhận đề nghị hoặc trưng cầu
Về mặt pháp lý, các đảo, thuộc chủ quyền của một quốc gia được coi giống như đất liền Trong trường hợp đảo gần bờ, luật quốc tế cho phép kéo đường cơ sở đi qua các đảo ngoài cùng, để vạch đường cơ sở thẳng cho nước ven biển, từ đó định ra bề rộng của lãnh hải Nhờ các đảo gần bờ, vùng nước nội thủy ở phía trong đường cơ sở được nới rộng và lãnh hải cũng mở rộng ra ngoài biển Trường hợp đảo ở ngoài khơi, xa đất liền thì người ta
áp dụng chế độ pháp lý đảo theo Công ước Luật biển quy định Theo đó mỗi đảo đều có vùng lãnh hải, vùng tiếp giáp lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế, thềm lục địa của riêng nó như đối với quốc gia lục địa ven biển
Khi một đảo thỏa mãn toàn bộ các yếu tố cấu thành theo Điều 121 Công ước Luật biển 1982 thì đảo đó sẽ có quy chế pháp lý đầy đủ với các vùng biển là: nội thủy, lãnh hải, vùng tiếp giáp, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa áp dụng như đối với lãnh thổ đất liền25, quy định này cho thấy các đảo có cùng một danh nghĩa và được đối xử ngang bằng như các vùng lãnh thổ đất liền khác, còn các đảo không đáp ứng được khoản 3 Điều 121 thì chỉ có quyền có nội thủy, lãnh hải và vùng tiếp giáp
Giống như đất liền, để xác định các vùng nước bao quanh một đảo đủ điều kiện thì các quốc gia có đảo phải vạch được đường cơ sở Có hai phương pháp để xác định dường
25
Điều 121 khoản 2 Công ước Luật biển 1982
Trang 34cơ sở: phương pháp đương cơ sở thông thường và đường cơ sở thẳng Tùy vào địa hình của đảo mà quốc gia sẽ xác định đường cơ sở phù hợp Về đường cơ sở thông thường để xác định chiều rộng lãnh hải của đảo là ngấn nước triều thấp nhất dọc theo bờ biển của đảo, như đã được thể hiện trên các hải đồ tỷ lệ lớn đã được quốc gia ven biển chính thức
định "trong trường hợp những bộ phận đảo cấu tạo bằng san hô hoặc các đảo có đá ngầm
ven bờ bao quanh thì đường cơ sở là ngấn nước triều thấp nhất ở bờ phía ngoài cùng của các mỏm đá, như đã được thể hiện trên các hải đồ được quốc gia ven biển chính thức công nhận" Trong nội thủy, quốc gia sở hữu đảo có chủ quyền hoàn toàn, tuyệt đối như
đối với lãnh thổ đất liền
Đối với đường cơ sở thẳng được áp dụng ở những nơi có bờ biển và địa hình phức tạp, có nhiều đảo ven bờ hoặc những vùng ngấn nước thủy triều thấp nhất không thể hiện
rõ.27 Người ta chọn những điểm nhô ra xa nhất của các đảo ven bờ, của các mũi hoặc những điểm xác định mà khi nối các điểm đó lại với nhau tạo thành một đường gãy khúc liên tiếp chạy dọc theo chiều hướng chung của bờ biển làm đường cơ sở để tính chiều rộng lãnh hải Để tránh tình trạng khi xác định đường cơ sở theo phương pháp này, các nước thường có xu hướng kéo đường cơ sở ra quá xa, tùy ý nối tắt nhiều điểm không thực chất thành một đường thẳng để có một vùng nội thủy rộng lớn, Điều 7 khoản 3,4,5,6 Công ước Luật biển đã quy định điều kiện khi xác định đường cơ sở thẳng để tránh tình trạng trên
- Nội thủy
Nội thủy là vùng nước nằm phía bên trong của đường cơ sở dùng để tính chiều rộng của lãnh hải, tại đó quốc gia ven biển có chủ quyền hoàn toàn và tuyệt đối Hầu hết các quy định cơ bản trong Công ước 1958 về lãnh hải và vùng tiếp giáp và Công ước Luật biển 1982 đều áp dụng cho các đảo, các vùng nước ở phía bên trong đường cơ sở của lãnh hải của đảo cũng được coi là vùng nước nội thủy của đảo Có thể thấy, vùng nội thủy của đảo được xác định giống như khi xác định nội thủy của đất liền Trong vùng nội thủy của đảo, quốc gia có đảo không chỉ có chủ quyền với toàn bộ vùng nước biển mà cả với không phận phía trên và đáy biển phía dưới vùng nước Công ước cũng như thực tiễn quốc tế đều khẳng định chủ quyền không thể tranh cãi của quốc gia ven bờ đối với vùng lãnh thổ này
Vì vậy, thuật ngữ "chủ quyền" cũng được sử dụng đối với vùng nội thủy và lãnh hải của đảo thuộc quốc gia ven biển Đối với quốc gia quần đảo, Công ước 1982 có những quy
Trang 35định riêng trong phần IV của Công ước Luật biển 1982 Có sự khác biệt này là do địa hình lãnh thổ của những quốc gia này rất đặc biệt nên toàn bộ vùng nước quần đảo là vùng nước mặc dù nằm phía trong đường cơ sở quần đảo nhưng không thể hiểu một cách thuần thúy là vùng nội thủy
Trong vùng nội thủy, quốc gia ven biển sẽ thực hiện đầy đủ quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp giống như trên đất liền Mọi luật lệ do quốc gia ban hành đều được áp dụng cho vùng nội thủy mà không có một ngoại lệ nào Các tàu thuyền muốn đi qua nội thủy của đảo cũng phải xin phép và được sự đồng ý của quốc gia sở hữu đảo, đồng thời quốc gia này cũng có quyền thực hiện quyền tài phán của mình đối với các hành vi vi phạm của tàu thuyền nước ngoài trong vùng nội thủy của đảo của quốc gia ven biển Trong vùng nội thủy không có quyền "đi qua lại không gây hại", quyền này chỉ áp dụng đối với vùng nước lãnh hải Tuy nhiên, có trường hợp ngoại lệ là khi áp dụng đường cơ sở thẳng dẫn đến việc gộp vào nội thủy những vùng nước trước đó chưa được coi là nội thủy.28
- Lãnh hải
Theo luật pháp Quốc tế trước đây, một đảo có quyền có lãnh hải như lãnh thổ đất liền Trong Hội nghị pháp điển hóa Luật pháp Quốc tế Lahaye 1930, Ủy ban II của Hội nghị đã
khuyến nghị "tất cả các đảo đều có lãnh hải riêng" Nhìn chung, đại diện các quốc gia
tham gia Hội nghị đều tán thành với khuyến nghị đó Chiều rộng của lãnh hải được xác định trong thời kỳ đó là 3 hải lý như áp dụng đối với lãnh thổ đất liền
Sau tuyên bố Truman năm 1945, trong đó Chính phủ Mỹ mở rộng quyền tài phán đối với thềm lục địa ngoài bờ biển của Mỹ Năm 1952, Chính phủ các nước như: Chilê, Costa
Rica, Ecuador, Peru cũng đã tuyên bố "bất kỳ đảo nào hoặc một nhóm đảo hình thành một
phần lãnh thổ của quốc gia" cũng có vùng biển rộng 200 hải lý.29
Đến Hội nghị của Liên Hiệp Quốc về luật biển lần I, thì việc một đảo có lãnh hải không còn là vấn đề gây tranh cãi Trong Hội nghị này, các quốc gia tập trung vào thảo luận hai vấn đề là loại đảo nào được hưởng quy chế đảo (tức có lãnh hải riêng) và chiều rộng của lãnh hải là bao nhiêu Hội nghị đã không thỏa thuận được chiều rộng của lãnh hải nhưng đã đưa ra được một định nghĩa đảo tương đối tiến bộ so với những định nghĩa đảo trước kia Lãnh hải của các đảo được xác định theo đúng các quy định của điều 10 khoản 2 Công ước 1958 lãnh hải và vùng tiếp giáp áp dụng cho lãnh thổ đất liền Sau Hội nghị,
Trang 36nhìn chung trong thực tiễn, nhiều quốc gia đã đơn phương tuyên bố lãnh hải có chiều rộng không quá 12 hải lý như: Năm 1954 Nam Tư ban hành luật quy định vùng lãnh hải 10 hải
lý, năm 1960 Liên Xô cũng quy định vùng lãnh hải 12 hải lý.30
Đến Hội nghị của Liên Hiệp Quốc về Luật biển lần III, các quốc gia thỏa thuận được khá dễ dàng về chiều rộng 12 hải lý của lãnh hải và về việc dành cho đảo quyền có lãnh hải Chiều rộng lãnh hải của đảo được xác định theo đúng các quy định của khoản 2 điều
121 Công ước Luật biển 1982 áp dụng cho các lãnh thổ đất liền khác Như vậy, theo điều
3 của Công ước Luật biển 1982 thì các quốc gia ven biển có quyền ấn định chiều rộng lãnh hải của các đảo của mình không vượt quá 12 hải lý kể từ đường cơ sở được vạch ra theo đúng Công ước Ranh giới phía ngoài của lãnh hải là một đường mà mỗi điểm ở trên đường đó cách điểm gần nhất của đường cơ sở một khoảng cách bằng chiều rộng của lãnh hải.31
Vấn đề đặt ra là lãnh hải của một đảo nằm gần bờ biển của một quốc gia khác nên được xác định như thế nào? Cả Công ước 1958 về lãnh hải và vùng tiếp giáp và Công ước Luật biển 1982 đều không đề cập đến vấn đề này Dường như trong trường hợp này, Công ước Luật biển 1982 dành cho các quốc gia quyền thương lượng với nhau để giải quyết vấn
đề Ví dụ điển hình là trường hợp đảo Aegean của Hy Lạp nằm gần bờ biển của Thổ Nhĩ
Kỳ Năm 1974, Hy Lạp có ý định mở rộng lãnh hải của đảo ra đến 12 hải lý và như vậy thì lãnh hải của đảo sẽ chiếm đến 2/3 diện tích của biển Aegean Do sự phản đối của Thổ Nhĩ
Kỳ, Hy Lạp tạm ngừng mở rộng lãnh hải của đảo Aegean nhưng vẫn bảo lưu quyền được
mở rộng trong tương lai Tuy vậy, hai bên cũng có những thỏa hiệp nhất định Năm 1976,
Hy Lạp đã phải chấp nhận thương lượng để giải quyết vấn đề này cũng với những vấn đề nảy sinh trên biển khác liên quan đến các vịnh và vùng trời trong giải pháp cả gói Thổ Nhĩ Kỳ cũng phải gián tiếp công nhận là đảo Aegean có lãnh hải thông qua việc xác nhận giữa hai nước có biên giới lãnh hải chung.32
Các quốc gia có đảo có quyền mở rộng chủ quyền trong lãnh hải của đảo đến vùng trời phía trên, cũng như đến đáy và lòng đất dưới đáy của vùng biển này Chủ quyền này là chủ quyền hoàn toàn và đầy đủ, quốc gia ven biển có chủ quyền trên cả ba mặt lập pháp, hành pháp và xét xử nhưng lại bị giới hạn bởi quyền qua lại không gây hại của tàu thuyền
Trang 37nước ngoài Các tàu thuyền qua lại không gây hại trong lãnh hải của đảo cũng phải thực hiện đúng và đầy đủ nghĩa vụ như lãnh hải của đất liền khác
- Tiếp giáp lãnh hải
Nếu các đảo có khả năng tạo ra lãnh hải thì dường như chúng cũng được quyền có vùng tiếp giáp với lãnh hải Tuy vậy, Công ước 1958 về lãnh hải và vùng tiếp giáp không quy định trực tiếp về vấn đề này Mặc dù điều 24 Công ước1958 về lãnh hải và vùng tiếp giap1 có xác định thẩm quyền của quốc gia ven biển đối với một vùng biển cả tiếp giáp
với lãnh hải: "quốc gia ven biển có quyền tiến hành các hoạt động kiểm soát cần thiết tại
vùng tiếp giáp, nhằm: Ngăn ngừa những vi phạm đối với các luật và quy định về hải quan, thuế khoá, y tế hay nhập cư trên lãnh thổ hay trong lãnh hải của mình; trừng trị những vi phạm đối với các luật và quy định nói trên xảy ra trên lãnh thổ hoặc trong lãnh hải của
mình" nhưng Công ước lại không hề xác định vùng tiếp giáp cho đảo
Tại Hội nghị của Liên Hiệp Quốc về Luật biển lần III, các quốc gia đã đi đến được thỏa thuận là các đảo cũng có vùng tiếp giáp tương đối dễ dàng Thỏa thuận này được đưa vào Công ước Luật biển 1982, trong đó quy định rõ đảo đáp ứng được các tiêu chuẩn để được hưởng quy chế đảo thì có vùng tiếp giáp và vùng tiếp giáp của đảo được xác định theo đúng các quy định áp dụng cho các lãnh thổ đất liền.33 Theo Công ước, vùng tiếp giáp của đảo không thể mở rộng quá 24 hải lý kể từ đường cơ sở để tính chiều rộng lãnh hải của đảo.Trong vùng biển này, quốc gia có đảo có quyền ngăn ngừa và trừng trị những vi phạm đối với các luật lệ, quy định về hải quan, thuế khóa, y tế hay nhập cư 34
- Vùng đặc quyền kinh tế
Tại Hội nghị của Liên Hiệp Quốc về Luật biển lần III, vấn đề vùng đặc quyền kinh tế được thảo luận rất gay gắt Bởi vì không giống như các vùng lãnh hải, việc cho phép các đảo có vùng đặc quyền kinh tế sẽ đưa đến những hệ quả nghiêm trọng Chỉ cần một hòn đảo nhỏ ở đại dương cũng có thể tạo ra một vùng đặc quyền kinh tế rộng lớn trong khi đó trên toàn thế giới có đến gần nửa triệu đảo nhỏ (nếu tính tất cả cấu tạo tự nhiên nổi lên trên biển) Nếu tất cả các cấu tạo tự nhiên đó đều có vùng đặc quyền về kinh tế thì sẽ gây ra rất nhiều tranh chấp giữa các quốc gia trong việc phân định ranh giới thềm lục địa và vùng đặc quyền kinh tế Như vậy, đại dương sẽ bị chia thành các hồ lớn và ngăn trở đến các hoạt động trên biển của các quốc gia