Tuy nhiên, khi đem phần di sản phân chia có thể ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến một trong số những người thừa kế hoặc giả trong trường hợp vấn đề phân chia đã hoàn tất lại xuất hi
Trang 1ttr KHOA LUẬT
BỘ MÔN LUẬT TƯ PHÁP
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN LUẬT
NIÊN KHÓA: 2008 – 2012
Đề tài:
CHẾ ĐỘ PHÁP LÝ VỀ THANH TOÁN VÀ PHÂN CHIA DI SẢN TRONG LUẬT DÂN SỰ VIỆT NAM
Giảng viên hướng dẫn: Sinh viên thực hiện:
Cần Thơ, 5/2012
Trang 3
Trang 4
Trang 5
Trang
LỜI NÓI ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ THANH TOÁN VÀ PHÂN CHIA DI SẢN 3
1.1 Khái quát chung về thanh toán và phân chia di sản 3
1.1.1 Khái niệm thừa kế 3
1.1.2 Khái niệm di sản 4
1.1.3 Khái niệm thanh toán di sản 6
1.1.4 Khái niệm phân chia di sản 7
1.1.5 Mối quan hệ giữa thanh toán và phân chia di sản 7
1.2 Sơ lược lịch sử hình thành và phát triển quy định thanh toán và phân chia di sản 8
1.3 Những nội dung mới trong chế định thanh toán và phân chia di sản của BLDS 2005 so với BLDS 1995 11
1.3.1 Hạn chế phân chia di sản 11
1.3.2 Phân chia di sản trong trường hợp có người thừa kế mới hoặc có người thừa kế bị bác bỏ quyền thừa kế 13
1.4 Ý nghĩa của việc thanh toán và phân chia di sản 14
CHƯƠNG 2 QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ THANH TOÁN VÀ PHÂN CHIA DI SẢN 16
2.1 Thanh toán nợ di sản 16
2.1.1 Khái niệm tài sản nợ 16
2.1.2 Thành phần tài sản nợ của di sản 16
2.1.2.1 Những nghĩa vụ do người có di sản xác lập 16
2.1.2.2 Các chi phí liên quan đến thừa kế 18
2.1.2.3 Những nghĩa vụ có nguồn gốc từ việc quản lý di sản 18
2.1.3 Trách nhiệm đối với trả nợ di sản 19
2.1.3.1 Người chịu trách nhiệm về trả nợ di sản 19
2.1.3.2 Phạm vi trách nhiệm 20
Trang 62.1.4.1 Trả nợ di sản trong trường hợp có người quản lý chính thức 28
2.1.4.2 Trả nợ di sản trong trường hợp không có người quản lý chính thức 31
2.2 Phân chia di sản 32
2.2.1 Những người có liên quan đến việc phân chia di sản 32
2.2.2 Thời điểm phân chia 34
2.2.3 Điều kiện về hình thức của việc phân chia 35
2.2.3.1 Phân chia theo thỏa thuận 35
2.2.3.2 Phân chia bằng con đường Tư pháp 36
2.2.4 Điều kiện về nội dung của việc phân chia 37
2.2.4.1 Xác định khối tài sản phân chia 38
2.2.4.2 Cấu tạo các phần tài sản phân chia 39
2.2.4.3 Hiệu lực của việc phân chia 42
CHƯƠNG 3: THỰC TIỄN ÁP DỤNG QUY ĐỊNH THANH TOÁN VÀ PHÂN CHIA DI SẢN VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN 47
3.1 Thực tiễn áp dụng quy định thanh toán và phân chia di sản 47
3.1.1 Vấn đề thanh toán nghĩa vụ tài sản 47
3.1.2 Vấn đề phân chia di sản 48
3.2 Khó khăn và giải pháp hoàn thiện về vấn đề thanh toán và phân chia di sản 50
3.2.1 Vấn đề trả thù lao cho người quản lý di sản 50
3.2.2 Vấn đề liên quan đến thời hiệu khởi kiện để yêu cầu phân chia di sản 53
3.2.2.1 Hết thời hiệu khởi kiện phân chia di sản 53
3.2.2.2 Một phần di sản hết thời hiệu khởi kiện 55
3.2.3 Vấn đề di tặng được dùng để thanh toán nghĩa vụ tài sản của người lập di chúc 57
KẾT LUẬN 60 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 7LỜI NÓI ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Sự tồn tại của con người là một quá trình “Sinh – Lão – Bệnh – Tử”, thế nhưng không phải ai cũng có thể đi hết cả bốn giai đoạn của một quá trình ấy trong cuộc đời của mình Người ta thường nói chết là hết, là đã trả xong món nợ cho một kiếp nhân sinh Tuy nhiên đó là cái nhìn từ góc độ tâm linh, khi đến với cuộc sống thực tại, lúc này một người chết đi, phần nợ tài sản và di sản sẽ được chuyển giao cho những người thừa kế của họ Những người này sẽ thay họ giải quyết những món nợ mà họ chưa kịp thực hiện thì đã chết trong phạm vi di sản để lại Phần tài sản có còn lại (nếu còn) sẽ được đem ra phân chia cho những người thừa kế
Có hai vấn đề mà người viết suy nghĩ, đầu tiên là vấn đề thanh toán di sản Về lẽ công bằng thì các chủ nợ ai cũng có quyền được trả nợ như nhau bởi lẽ không ai cho không ai cái gì cả Nhưng, giả sử khối di sản do người chết để lại không đủ để thanh toán cho các chủ nợ, khi này những món nợ nào được xem là quan trọng nhất, theo thứ
tự, sẽ được đem ra thanh toán cho các chủ nợ trong phạm vi di sản của người để lại Thông thường khi tiến hành thanh toán nợ tài sản thì chủ nợ và cả người đứng ra thanh toán sẽ giải quyết món nợ bằng cách ai đến trước thì được trả trước (nếu tài sản nợ nhiều hơn tài sản có) Rất có thể sẽ xảy ra tranh chấp giữa chủ nợ với người thanh toán hoặc giữa các chủ nợ với nhau Khi này chủ nợ đáng lẽ được trả nợ thì lại không được nhận tài sản, trong khi các chủ nợ khác lại được nhận
Thứ hai là phân chia di sản: Một di sản sau khi trừ đi các chi phí thanh toán phần
nợ tài sản thì phần tài sản có còn lại sẽ được tiến hành phân chia cho những người thừa
kế, có thể là theo di chúc (nếu có di chúc) hoặc theo pháp luật Tuy nhiên, khi đem phần di sản phân chia có thể ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến một trong số những người thừa kế hoặc giả trong trường hợp vấn đề phân chia đã hoàn tất lại xuất hiện thêm một người thừa kế mới thì, lúc này phần di sản thừa kế của người này sẽ được giải quyết như thế nào; hoặc trong trường hợp có người thừa kế bị bác bỏ quyền thừa kế trong khi di sản mà họ nhận được đã được chuyển hóa sang tài sản của họ, nó không còn ở trạng thái ban đầu nữa thì cần giải quyết theo hướng nào Trong khi những đối tượng trên họ đang cần có một cách giải pháp để ổn định cuộc sống của mình
Với những suy nghĩ trên, tác giả đã chọn đề tài “Chế độ pháp lý về thanh toán và phân chia di sản trong Luật dân sự Việt Nam”
Trang 82 Mục tiêu nghiên cứu
Thông qua việc nghiên cứu đề tài ““Chế độ pháp lý về thanh toán và phân chia
di sản trong Luật dân sự Việt Nam”, giúp ta hiểu thêm quy định của pháp luật cũng
như những vấn đề còn hạn chế của chế độ pháp lý về thanh toán và phân chia di sản trong Luật dân sự Việt Nam về mặt lý luận Từ đó đưa ra quan điểm của người viết, góp phần bảo vệ quyền lợi chính đáng cho những người thân thuộc của người để lại di sản, các chủ nợ của tài sản cùng những người có liên quan trong khối di sản của người
để lại Và hiểu thêm về bản chất, ý nghĩa của việc thanh toán và phân chia di sản để một lần nữa nhấn mạnh sự quan tâm của Đảng và Nhà nước đối với sự ổn định, phát triển của gia đình tạo nền tảng cho sự phát triển xã hội
3 Phạm vi nghiên cứu
Thanh toán và phân chia di sản là một trong những lĩnh vực quan trọng được quy định trong BLDS 2005 nói chung và chế định về thừa kế nói riêng Đây chính là giai đoạn chuyển giao tài sản cho những người thừa kế và thanh toán nợ tài sản cho các chủ nợ Trong lĩnh vực này tác giả tập trung nghiên cứu ở phương diện pháp lý của vấn đề thanh toán và phân chia di sản Được quy định tại Chương XXV, gồm có 07 Điều, từ Điều 681 đến Điều 687 BLDS 2005 cùng một số điều luật và văn bản khác có liên quan Người viết dựa trên cơ sở những tài liệu, những văn bản pháp luật được áp dụng trong cả nước
4 Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu, người viết vận dụng phương pháp phân tích luật viết giữ vai trò chủ đạo để xem xét vấn đề Các vấn đề pháp lý được xem xét đánh giá nhờ vào việc sử dụng các phương pháp phân tích, so sánh với các quy định của các văn bản trước đó, so sánh đối chiếu giữa lý luận và thực tiễn
5 Bố cục luận văn
Bên cạnh lời nói đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo thì bố cục của Luận văn được người viết trình bày trong 3 Chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận chung về thanh toán và phân chia di sản;
Chương 2: Quy định của pháp luật về thanh toán và phân chia di sản;
Chương 3: Thực tiễn áp dụng quy định thanh toán và phân chia di sản và giải pháp
hoàn thiện
Trang 9Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ THANH TOÁN VÀ PHÂN CHIA DI SẢN
Ở chương 1, tác giả sẽ giới thiệu các khái niệm về thừa kế, di sản, thanh toán di sản và phân chia di sản, mối quan hệ giữa thanh toán và phân chia di sản Tiếp theo, sơ
lược lịch sử hình thành và phát triển quy định thanh toán và phân chia di sản Sau đó,
tác giả sẽ trình bày những nội dung mới trong chế định thanh toán và phân chia di sản của BLDS 2005 so với BLDS 1995 và cuối cùng là phần ý nghĩa của việc thanh toán
và phân chia di sản
1.1 Khái quát chung về thanh toán và phân chia di sản
1.1.1 Khái niệm thừa kế
Như một quy luật tự nhiên, con người sinh ra và đến một thời điểm nào đó họ sẽ chết Trong quá trình sinh tồn họ phải tạo ra của cải vật chất để đáp ứng nhu cầu thiết yếu của con người về ăn, mặc, ở, đi lại Lao động sản xuất giúp họ tích lũy được nhiều kinh nghiệm và tạo ra ngày càng nhiều của cải vật chất (hay gọi là tài sản) Tài sản có thể tồn tại lâu dài hoặc chuyển hóa từ dạng này sang dạng khác nhưng con người thì không thể tồn tại mãi mãi1 Lúc tử, con người cũng không thể mang tài sản theo khi đó
họ sẽ để lại tài sản cho những người còn sống Việc dịch chuyển tài sản từ người chết sang người sống được hiểu là thừa kế tài sản
Thừa kế tài sản là một quan hệ xã hội có mầm móng từ thời kỳ đầu của chế độ cộng sản nguyên thủy Nghiên cứu về thừa kế Ăng ghen nhận xét “Theo chế độ mẫu quyền, nghĩa là chừng nào mà huyết thống chỉ kể về bên mẹ và theo tập tục thừa kế nguyên thủy trong thị tộc mới được thừa kế những người trong thị tộc chết Tài sản phải để lại trong thị tộc, vì tài sản để lại không có giá trị lớn, nên lâu nay trong thực tiễn có lẽ người ta vẫn trao tài sản đó cho những bà con thân thích nhất, nghĩa là trao cho những người cùng huyết tộc với mẹ”2 Thừa kế là một hiện tượng khách quan và gắn liền với lợi ích của người thừa kế Sự mâu thuẫn về lợi ích của con người nói chung và mâu thuẫn từ lợi ích của việc thừa kế tài sản của người chết là không thể tránh khỏi Vì thế, thừa kế tài sản trong bất cứ chế độ xã hội nào cũng cần điều chỉnh bởi các quy tắc xử sự chung Khi nhà nước chưa xuất hiện, thừa kế tài sản được điều chỉnh bởi phong tục tập quán Sau ba lần phân công lao động, nhà nước ra đời theo đó
là sự hình thành của hệ thống pháp luật nói chung và quy phạm pháp luật điều chỉnh
về thừa kế nói riêng Quy phạm pháp luật là quy tắc xử sự chung do nhà nước ban
1 TS Lê Đình Nghị (chủ biên), Giáo trình Luật dân sự Việt Nam tập 1 năm 2009, NXB giáo dục Việt Nam Tr
237
2
Ăng ghen “Nguồn gốc của gia đình, của chế độ tư hữu và nhà nước” năm 1961, NXB sự thật, Hà nội Tr79
Trang 10hành và bảo đảm thực hiện để điều chỉnh quan hệ xã hội theo những định hướng nhất định3 Trong quan hệ pháp luật thừa kế có chủ thể (người để lại di sản, người thừa kế, người quản lý di sản), khách thể là khối di sản mà người thừa kế được hưởng, nội dung
đó là quyền và nghĩa vụ của những người thừa kế, người quản lý di sản thừa kế Như vậy, từ một phạm trù kinh tế mang tính khách quan, khi được điều chỉnh bởi pháp luật thừa kế trở thành một phạm trù pháp lý mang tính chủ quan và có sự thay đổi theo từng gia đoạn của lịch sử phù hợp với điều kiện kinh tế, chính trị của từng thời kỳ
Về mặt pháp lý, thừa kế là việc chuyển quyền sở hữu tài sản có hoặc không có gắn liền với các nghĩa vụ của người chết (gọi là di sản) cho người khác là cá nhân hoặc
tổ chức theo trình tự thủ tục do pháp luật quy định4 Di sản thừa kế bao gồm tài sản riêng của người chết và phần tài sản của người chết trong khối tài sản chung với người khác, các quyền về tài sản và nghĩa vụ tài sản của người chết Người thừa kế là cá nhân còn sống vào thời điểm mở thừa kế nhưng đã thành thai trước khi người để lại di sản chết5 Nếu cơ quan, tổ chức thì phải tồn tại vào thời điểm mở thừa kế Thừa kế là quyền cơ bản của mỗi công dân và được nhà nước bảo hộ, quyền luôn đi đôi với nghĩa
vụ6 Khi nhận di sản của người chết thì người thừa kế sẽ thực hiện nghĩa vụ tương ứng với phần mình đã nhận trừ trường hợp có thỏa thuận khác (Khoản 1 Điều 637 BLDS
2005) Điều 631 BLDS 2005: “Cá nhân có quyền lập di chúc để định đoạt tài sản của
mình; để lại tài sản của mình cho người thừa kế; hưởng di sản theo di chúc hoặc theo pháp luật” Theo quy định này thì việc dịch chuyển tài sản cho người thừa kế theo hai
hình thức: một là, thừa kế theo di chúc (việc dịch chuyển tài sản của người đã chết cho người khác còn sống theo quyết định của người đó trước khi chết được thể hiện trong
di chúc) nếu trước khi chết người có tài sản lập di chúc định đoạt tài sản của mình và
di chúc này có hiệu lực (di chúc không có hiệu lực toàn bộ hoặc di chúc không có hiệu lực một phần), hai là, nếu người thừa kế theo di chúc từ chối nhận di sản thì những người thừa kế khác sẽ hưởng di sản thừa kế theo pháp luật (việc dịch chuyển tài sản của người chết cho những người còn sống theo hàng thừa kế, điều kiện và trình tự thừa
kế do pháp luật quy định)
1.1.2 Khái niệm di sản
Như đã phân tích ở trên thì một người chết đi dù ít hay nhiều, dù là một số tiền, một mảnh đất, một ngôi nhà thì đó cũng chính là phần tài sản mà họ có được sau bao nhiêu năm phấn đấu và tạo dựng lúc còn sống Phần tài sản ấy họ để lại cho người thân
3
Trường Đại học luật Hà Nội, Giáo trình lý luận nhà nước và pháp luật năm 2004, NXB tư pháp Tr.374
4
Luật gia Nguyễn Ngọc Điệp, Những điều cần biết về quyền thừa kế năm 2001, NXB phụ nữ Tr7
5 Điều 23 Nghị định 158/2005/NĐ-CP ngày 27/12/2005 về đăng ký và quản lý hộ tịch còn sống sau khi sinh tức
là sống 24 giờ trở lên
6
Xem Điều 51, 58 Hiến pháp năm 1992, sửa đổi bổ sung năm 2001
Trang 11với mong muốn là khi họ chết đi thì những người còn sống sẽ có cuộc sống tốt hơn, nó
sẽ là nguồn vốn để tạo dựng và phát triển cho cuộc sống sau này Hơn nữa, đó cũng là niềm tự hào của người đã khuất bởi cả cuộc đời lao động, phấn đấu nhằm đem lại cuộc sống sung túc cho bản thân, gia đình và còn tự hào hơn nữa khi để lại di sản cho đời sau Phần tài sản đó được pháp luật gọi là di sản thừa kế Vậy di sản thừa kế là tài sản
của người chết để lại cho người còn sống Theo quy định tại Điều 634 BLDS 2005 “Di
sản bao gồm tài sản riêng của người chết, phần tài sản của người chết trong tài sản chung của người khác”
Như vậy di sản thừa kế là toàn bộ tài sản thuộc quyền sở hữu hợp pháp của người
đã chết, quyền về tài sản của người đó Quyền sở hữu tài sản là một trong những quyền cơ bản của công dân được Nhà nước bảo hộ “Công dân có quyền sở hữu về thu nhập hợp pháp, của cải để dành, nhà ở, tư liệu sản xuất, vốn và tài sản khác trong doanh nghiệp hoặc trong các tổ chức kinh tế… Nhà nước bảo hộ quyền sở hữu hợp pháp và quyền thừa kế của công dân” (Điều 58 Hiến pháp 1992)
Di sản thừa kế bao gồm:
Tài sản riêng của người chết
Tài sản riêng của người chết là tài sản do người đó tạo ra bằng thu nhập hợp pháp, tài sản được tặng cho, được thừa kế, tư liệu sinh hoạt riêng, nhà ở, tư liệu sản xuất các loại, vốn dùng để sản xuất kinh doanh
Phần tài sản của người chết trong khối tài sản chung với người khác
Trong thực tế có nhiều trường hợp do nhiều người cùng góp vốn để cùng sản xuất kinh doanh, nên có khối tài sản thuộc quyền sở hữu chung của nhiều người (đồng
sở hữu chủ với một khối tài sản nhất định) Nếu một trong đồng sở hữu chủ chết, thì di sản thừa kế của người chết là phần tài sản thuộc sở hữu của người đó đã đóng góp trong khối tài sản chung
Khác với hình thức sở hữu chung theo phần, tài sản của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân là tài sản thuộc sở hữu chung hợp nhất của vợ chồng Theo Điều 219 BLDS
2005 quy định sở hữu chung của vợ chồng là sở hữu chung hợp nhất Vợ, chồng cùng nhau tạo lập, phát triển khối tài sản chung bằng công sức của mỗi người; có quyền ngang nhau trong việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung Điều 17 Luật hôn
nhân và gia đình năm 2000 quy định: “Khi một bên chết trước, nếu cần chia tài sản
chung của vợ chồng thì chia đôi Phần tài sản của người chết được chia theo quy định của pháp luật về thừa kế” Vì vậy, khi một bên chết trước, một nữa khối tài sản chung
Trang 12đó là tài sản của người chết và được chuyển sang cho người thừa kế theo di chúc hoặc theo quy định của pháp luật về thừa kế
Quyền về tài sản do người chết để lại
Đó là các quyền dân sự được phát sinh từ các quan hệ hợp đồng hoặc do việc bồi thường thiệt hại mà trước khi chết họ đã tham gia vào những quan hệ này (như quyền đòi nợ, đòi lại tài sản cho thuê, hoặc cho mượn, chuộc lại tài sản đã thế chấp, cầm cố, yêu cầu bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng…)
Ngoài những quyền tài sản nói trên, quyền tác giả, quyền sở hữu công nghiệp cũng được xem là di sản Chủ sở hữu quyền tác giả để lại thừa kế quyền tài sản như quyền hưởng nhuận bút và các lợi ích vật chất khác Đối với quyền sở hữu công nghiệp – một loại tài sản có tính chất đặc thù, nên những quy định về thừa kế đối với quyền sở hữu công nghệp cũng có những nét riêng Theo quy định của Luật Sở hữu Trí tuệ, quyền sở hữu các đối tượng sở hữu công nghiệp được cấp văn bằng bảo hộ có hiệu lực
Việc quy định về quyền tài sản do người chết để lại là di sản thừa kế, góp phần bảo vệ những quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, tăng cường tinh thần trách nhiệm của các chủ thể khi tham gia vào các quan hệ pháp luật dân sự Tuy nhiên, các quyền về tài sản gắn liền với nhân thân của người chết không là di sản thừa kế
Bên cạnh những quyền tài sản nói trên thì đất đai cũng là di sản Đất đai thuộc quyền sở hữu của toàn dân, Nhà nước là người quản lý toàn bộ đất đai và giao cho tổ chức, cá nhân sử dụng ổn định lâu dài Để tạo điều kiện cho các cá nhân, tổ chức đầu
tư công sức vào sản xuất, Nhà nước cho phép cá nhân có năm quyền, trong đó có quyền để lại thừa kế quyền sử dụng đất
Di sản và thừa kế là hai khái niệm không thể tách rời – Trong luật học Việt Nam hiện đại, di sản là những tài sản do người chết để lại còn thừa kế là việc chuyển dịch tài sản của một người sau khi người đó chết Vì vậy thừa kế là một trong những phương thức xác lập quyền sở hữu tài sản Phương thức ấy được đặc trưng bằng các mối liên hệ giữa người để lại di sản và người hưởng di sản
1.1.3 Khái niệm thanh toán di sản
Thanh toán di sản là việc những người có quyền hưởng di sản thừa kế phải thực
hiện các nghĩa vụ về tài sản cũng như các khoản chi phí liên quan đến thừa kế trong phạm vi di sản của mình được hưởng theo thứ tự do pháp luật quy định7
7
Xem Điều 683 Bộ Luật dân sự năm 2005
Trang 13Nghĩa vụ về tài sản do người chết để lại về nguyên tắc thì những người thừa kế phải thực hiện Việc thực hiện nghĩa vụ về tài sản có thể được thực hiện trước hoặc sau khi phân chia di sản tùy từng trường hợp nhất định Trên nguyên tắc người thừa kế chỉ phải thực hiện nghĩa vụ về tài sản trong phạm vi di sản mà họ được hưởng, tuy nhiên nghĩa vụ về tài sản do người chết để lại có thể lớn hơn phần di sản mà họ có Do đó,
họ cũng có thể thực hiện vượt mức di sản mà họ được hưởng theo sự tự nguyện của họ hoặc theo sự thỏa thuận giữa những người thừa kế
1.1.4 Khái niệm phân chia di sản
Phân chia di sản là phần di sản do người chết để lại sẽ được dịch chuyển cho
những người thừa kế quyền sở hữu theo di chúc (ý chí của người để lại di chúc) hoặc theo pháp luật (ý chí của Nhà nước) Người quản lý di sản có thể là người phân chia di sản Người phân chia di sản có thể được chỉ định trong di chúc hoặc những người thừa
kế có thể thỏa thuận cử ra
Tóm lại, thanh toán và phân chia di sản trong chế định thừa kế là hai việc nhưng nằm trong cùng một vấn đề Thanh toán hay phân chia thì việc nào thực hiện trước là tùy vào sự thỏa thuận của những người thừa kế Điều cần quan tâm ở đây là thanh toán phải theo đúng trình tự pháp luật quy định và phân chia theo như ý chí của người
để lại di chúc (nếu có di chúc) hoặc theo ý chí của Nhà nước (nếu không có di chúc)
1.1.5 Mối quan hệ giữa thanh toán và phân chia di sản
Thanh toán di sản và phân chia di sản thoạt nhìn cứ nghĩ nó là hai phần riêng biệt nhưng thực chất nó là 2 mản trong cùng một vấn đề, chúng có mối quan hệ tương hỗ lẫn nhau Một di sản có thể tiến hành phân chia trước hoặc thanh toán trước tùy thuộc vào từng trường hợp nhất định
Trường hợp 1, di sản được đem ra thanh toán trước thì phần di sản còn lại nếu còn sẽ được đem ra phân chia cho những người thừa kế Khi này những người thừa kế
sẽ được hưởng phần di sản sau thanh toán theo di chúc hoặc theo pháp luật Ngược lại trong quá trình thanh toán di sản có thể tài sản của người chết không đủ để thanh toán thì những người thừa kế không được hưởng phần di sản do người chết để lại
Trường hợp 2, nếu di sản được đem ra phân chia trước thì đến khi thanh toán di sản những người thừa kế sẽ chịu phần theo một tỷ lệ di sản mà người thừa kế được nhận
Trang 141.2 Sơ lược lịch sử hình thành và phát triển quy định thanh toán và phân chia di sản
Mở đầu, tác giả sẽ trình bày sơ lược về lược sử hình thành và phát triển của chế định thừa kế từ chế độ phong kiến cho đến BLDS 2005 Sau đó, tác giả sẽ đề cập đến
ba văn bản chính có liên quan đến thanh toán và phân chia di sản: Pháp lệnh thừa kế
1990, Bộ luật dân sự năm 1995 và Bộ luật dân năm 2005 Đây là ba văn bản quy định
rõ nhất về vấn đề thanh toán và phân chia di sản trong chế định thừa kế nói riêng và trong BLDS nói chung
Chế độ phong kiến Việt Nam tồn tại qua nhiều thế kỷ Mỗi nhà nước phong kiến đều ban hành các văn bản luật để củng cố quyền lực và phục vụ cho công việc quản lý nhà nước Đáng chú ý là các bộ luật của các triều đại phong kiến như Bộ luật Hồng Đức (1483), Bộ luật Gia Long (1815) Ngoài bộ luật, các nhà nước phong kiến còn ban hành nhiều văn đơn hành như: chiếu chỉ dụ, lệnh của vua…Nội dung của các bộ luật điều chỉnh nhiều quan hệ xã hội thuộc đối tượng của nhiều ngành luật hiện nay Trong
đó có những quy định về thừa kế theo di chúc và theo pháp luật Xét về mặt nội dung, các quy định về thừa kế trong luật Hồng Đức và Gia Long tương đối chặt chẽ và đầy
đủ
Thời kỳ Pháp thuộc, ở Việt Nam áp dụng các bộ luật sau: Dân luật Bắc Kì 1931
và Hoàng Việt Trung Kì hộ luật 1936 Trong các bộ luật này đều có các quy định về thừa kế theo di chúc và theo pháp luật
Đến giai đoạn sau cách mạng Tháng 8 năm 1945 Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ra đời Ngày 22/5/1950 Hồ Chủ Tịch đã ký Sắc Lệnh 97/SL về việc sửa đổi một số quy lệ và chế định trong luật dân sự, quy định một số nguyên tắc mới để áp dụng trong điều kiện của nền dân chủ nước ta Riêng trong lĩnh vực thừa kế đã quy định vợ, chồng có quyền thừa kế tài sản của nhau; con trai, con gái đều có quyền thừa
kế di sản của cha, mẹ; chồng góa, vợ góa, các con đã thành niên có quyền xin chia di sản; con, cháu hoặc vợ góa, chồng góa không bắt buộc phải nhận thừa kế của người đã chết; các chủ nợ của người đã chết không có quyền đòi người thừa kế phải thanh toán
nợ quá phần di sản mà người đó nhận được
Trong giai đoạn từ 1959 đến 1980, Hiến pháp 1959 đã công nhận vấn đề thừa kế
thành nguyên tắc, Điều 19 quy định: “Nhà nước chiếu theo pháp luật, bảo hộ quyền
thừa kế tài sản của công dân” Luật hôn nhân và gia đình năm 1959 quy định: “Các con đều có quyền lợi và nghĩa vụ ngang nhau trong gia đình và trong việc hưởng thừa
kế, không phân biệt con trai, con gái, con ngoài giá thú, con đẻ, con nuôi” Sau này
Trang 15để đáp ứng yêu cầu của công tác xét xử trong phạm vi chức năng do luật tổ chức Tòa
án quy định Tòa án nhân dân tối cao ra nhiều thông tư hướng dẫn
Từ năm 1980 đến nay, ở giai đoạn này có Hiến pháp năm 1980 ghi nhận “Pháp
luật bảo hộ quyền thừa kế của công dân” (Điều 27) Để phục vụ cho công tác xét xử
các tranh chấp về thừa kế, đồng thời bổ sung một số điểm cho phù hợp với Hiến pháp mới, qua tổng kết rút kinh nghiệm công tác xét xử, Tòa án nhân dân tối cao đã ban hành Thông tư 81 ngày 24/7/1981 hướng dẫn giải quyết các tranh chấp về thừa kế (Di sản thừa kế, thừa kế theo di chúc, thừa kế theo pháp luật, phân chia di sản thừa kế…) Thông tư số 81 đã là một văn bản tương đối hoàn chỉnh về các quy phạm liên quan đến quyền thừa kế Tiếp đó, Luật hôn nhân và gia đình ban hành năm 1986 đã quy định một số điều liên quan đến quyền thừa kế của vợ chồng
Ngày 30/8/1980 Hội đồng nhà nước Cộng hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam đã thông qua Pháp lệnh thừa kế Qua hơn 5 năm thực hiện Pháp lệnh thừa kế và thực tiễn xét xử cho thấy Pháp lệnh này đã đi vào cuộc sống, về cơ bản vẫn phù hợp với thực trạng các quan hệ thừa kế hiện nay, bảo đảm được quyền thừa kế của công dân và được các tầng lớp nhân dân đồng tình, chấp nhận Vì vậy, chế định thừa kế trong Bộ luật dân sự năm 1995 đã thừa kế hầu hết các quy định của Pháp lệnh Ngoài ra còn bổ sung một số vấn đề mới trong lĩnh vực thừa kế, đặc biệt là việc thừa kế quyền sử dụng đất của cá nhân và thành viên hộ gia đình
Tuy nhiên do nhiều nguyên nhân khác nhau mà đặc biệt là do sự thay đổi và phát triển về kinh tế và xã hội Nhiều phát sinh lớn mà luật chưa kịp thời điều chỉnh gây khó khăn người dân và cả những người đại diện cho cơ quan có thẩm quyền để thi hành pháp luật Vì vậy ngày 14/6/2005 tại kỳ hợp thứ 7 Quốc hội khóa XI, đã thông qua Bộ luật Dân sự Bộ luật này sẽ có hiệu lực từ ngày 1-1-2006 thay thế BLDS 1995 bên cạnh việc thừa kế các quy định của BLDS 1995 thì BLDS 2005 đã có những sửa đổi bổ sung cho phù hợp nhằm giải quyết những vấn đề bất cập mà BLDS 1995 chưa giải quyết được Riêng đối với chế định thừa kế, BLDS 2005 đã có những thay đổi cho phù hợp với tình hình phát triển trong xã hội hiện nay
Trên đây là lược sử về chế định thừa kế qua các thời kỳ Tiếp theo, tác giả sẽ trình bày về phần thanh toán và phân chia di sản được quy định trong ba văn bản như
đã giới thiệu
Ngày 30/8/1980 Hội đồng nhà nước Cộng hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam đã thông qua Pháp lệnh thừa kế Trong pháp lệnh này đã dành riêng Chương V (từ Điều
Trang 1633 đến Điều 36)8 quy định khá cụ thể về bảo quản, thanh toán và phân chia di sản: bảo quản di sản, thanh toán các khoản chi từ di sản trước khi chia di sản, phân chia di sản, thời hiệu khởi kiện về thừa kế
Theo sự phát triển và thay đổi của xã hội thì Pháp lệnh thừa kế 1990 có những điểm chưa kịp điều chỉnh cho phù hợp Vì vậy năm 1995 Bộ luật dân sự ra đời thay thế cho Pháp lệnh thừa kế 1990, tại Phần thứ tư BLDS 1995 đã thừa kế hầu hết các quy định của Pháp lệnh về thừa kế trong đó phần thanh toán và phân chia di sản cũng không phải là trường hợp ngoại lệ Với 06 Điều từ Điều 684 đến Điều 689, BLDS
1995 đã bổ sung một số vấn đề mới trong lĩnh vực thanh toán và phân chia di sản như: sau khi có thông báo về việc mở thừa kế hoặc di chúc được công bố những người thừa
kế có thể họp mặt để thỏa thuận một số vấn đề có liên quan đến thừa kế, bên cạnh đó còn xuất hiện thêm người phân chia di sản, vấn đề hạn chế phân chia di sản cùng một
số bổ sung khác
Sau 10 năm áp dụng BLDS 1995 về vấn đề thanh toán và phân chia di sản với những bổ sung thay thế Pháp lệnh thừa kế 1990 cho thấy BLDS 1995 đã từng bước đi vào cuộc sống của người dân Chế định đã điều chỉnh được hầu hết các vấn đề phát sinh trong xã hội lúc bấy giờ, đem lại lòng tin từ phía người dân đối với hệ thống pháp luật của nước ta, khắc phục được tình trạng không có luật điều chỉnh những vướng mắc mà Pháp lệnh thừa kế 1990 gặp phải Tuy nhiên, BLDS 1995 vẫn chưa điều chỉnh được những vấn đề phát sinh mang tính cấp thiết trong xã hội hiện nay, có những tình huống mà BLDS 1995 vẫn chưa dự liệu được Bởi lẽ xã hội luôn phát triển nhưng những quy định của pháp luật vẫn đứng im một chổ nên cần thiết sửa đổi bổ sung cho phù hợp với sự phát triển của xã hội, để giải quyết những vấn đề phát sinh mà hiện BLDS 1995 chưa có điều khoản điều chỉnh, chính vì lí do này BLDS 2005 ra đời Không thể nói là hoàn thiện nhưng với BLDS năm 2005 đã giải quyết được những vấn
đề phát sinh mà BLDS 1995 chưa điều chỉnh được Theo đó Phần thứ tư BLDS 2005
về cơ bản vẫn giữ nguyên như quy định BLDS 1995 Tuy nhiên, trong BLDS năm
2005 tại Chương XXV quy định thanh toán và phân chia di sản thừa kế gồm 07 điều (từ Điều 681 đến Điều 687) Nhiều hơn BLDS 1995 01 điều, quy định về phân chia di sản trong trường hợp có người thừa kế mới hoặc có người bị bác bỏ quyền thừa kế Bên cạnh đó còn có một số thay đổi nhỏ để khắc phục những vướng mắc chưa phù hợp với thực tế trong quá trình giải quyết về thanh toán và phân chia di sản trong thời gian qua
8
Xem Pháp lệnh thừa kế 1990
Trang 171.3 Những nội dung mới trong chế định thanh toán và phân chia di sản của BLDS 2005 so với BLDS 1995
Kết quả thu được từ phỏng vấn trực tiếp đối với các đối tượng, thành phần khác nhau về việc chia thừa kế cho thấy có 57% di sản được chia theo thỏa thuận của các thừa kế, theo di chúc 12,67%, theo luật tục là 12,92%, tại Tòa án nhân dân là 10,77% Thông thường các tranh chấp về thanh toán và phân chia di sản không đưa ra Tòa án nhân dân mà các bên tranh chấp tự giải quyết bằng nhiều con đường hòa giải khác nhau: anh chị em thuyết phục nhau rồi thỏa thuận hoặc nhờ trưởng họ, hội đồng gia tộc hoặc nhờ người có uy tín hiểu biết pháp luật… giúp đỡ viết biên bản cùng ký tên Bất đắc dĩ những người thừa kế mới đưa đơn khởi kiện tại Tòa án nhân dân và đó thường
là những tranh chấp phức tạp, thời điểm mở thừa kế đã quá lâu, người thừa kế thuộc hàng thứ nhất cũng đã có người đã chết… Nhìn chung, việc giải quyết tranh chấp vô cùng phúc tạp, liên quan đến nhiều quan hệ dân sự khác nhau như: quan hệ mua, bán, tặng cho, thế chấp, cầm cố, vay mượn…trong một thời gian dài; các chủ thể tham gia các quan hệ này có người mất người còn… Những quy định thanh toán và phân chia di sản có ảnh hưởng rất nhiều trong việc thực hiện, áp dụng và giải quyết tranh chấp thừa
kế9
Chương thanh toán và phân chia di sản thừa kế của phần thừa kế trong BLDS
2005 có 07 Điều, từ Điều 681 đến Điều 687 Như vậy, về số điều của chương này nhiều hơn BLDS 1995 là 01 điều (như đã nói ở phần trên), quy định về phân chia di sản trong trường hợp có người thừa kế mới hoặc có người bị bác bỏ quyền thừa kế Bên cạnh đó luật còn bổ sung thêm đoạn 2 trong Điều 689 BLDS 2005 quy định rõ thời hạn của việc hoãn phân chia di sản
1.3.1 Hạn chế phân chia di sản
Việc hạn chế phân chia di sản của BLDS 1995 được quy định lại tại Điều 686 BLDS 2005 như sau:
“Trong trường hợp theo ý chí của người lập di chúc hoặc theo thỏa thuận của tất
cả những người thừa kế, di sản chỉ được phân chia sau một thời hạn nhất định, thì chỉ khi đã hết thời hạn đó di sản mới được đem chia”
Để giải quyết những trường hợp mà thực tế thường xảy ra đồng thời để phù hợp với Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 (Điều 31)10 và Nghị quyết 02/2000/NQ-HĐTP, ngày 23.12.2000 của Hội đồng thẩm phán Tòa án Nhân dân tối cao có hướng
9 TS Đinh Trung Tụng (chủ biên), Bình luận những nội dung mới của Bộ Luật dân sự năm 2005, NXB Tư pháp,
Hà nội – 2005 Tr 234
10
Xem Điều 31 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000
Trang 18dẫn "thời gian nhất định" nói trên là 3 năm11 Bộ luật dân sự đã bổ sung nội dung hạn chế phân chia di sản có ảnh hưởng nghiêm trọng tới đời sống của người còn lại… vào đoạn 2 Điều 686 là:
“Trong trường hợp yêu cầu chia di sản thừa kế mà việc chia ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống của bên vợ hoặc bên chồng còn sống có quyền yêu cầu Tòa án xác định phần di sản mà những người thừa kế được hưởng nhưng chưa cho chia di sản trong thời hạn nhất định nhưng không quá 3 năm kể từ thời điểm mở thừa kế; nếu hết thời hạn do Tòa án xác định hoặc bên còn sống đã kết hôn với người khác thì những người thừa kế khác có quyền yêu cầu Tòa án cho chia di sản thừa kế”
Điều luật này đặt ra nhằm bảo vệ ý chí và quyền lợi của người lập di chúc cùng những người thừa kế Bởi lẽ, trước khi chết người lập di chúc có thể đã dự liệu được tình huống sẽ phát sinh sau khi họ qua đời nên có ý nguyện sau khi họ chết, trong một khoảng thời gian nhất định thì mới được đem phần di sản mà họ để lại ra phân chia Đối với những người thừa kế vì một lý do khách quan hoặc chủ quan nào đó mà họ mong muốn một thời gian sau họ mới đem phần di sản được thừa hưởng từ người thân của họ ra để phân chia chẳn hạn
Khi này đoạn 2 của Điều 686 BLDS 2005 sẽ được áp dụng Theo như quy định của đoạn này thì vợ hoặc chồng và gia đình được pháp luật cho thêm một quyền là gia hạn thời gian phân chia di sản nếu việc phân chia đó ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống của họ Ở đây mức độ nghiêm trọng tùy thuộc vào nhiều yếu tố và điều này còn phụ thuộc vào quyết định của Tòa án có thẩm quyền Khi đó, Tòa án sẽ tiến hành xác định phần di sản mà những người thừa kế được hưởng nhưng chưa cho chia di sản trong một thời gian nhất định Thời gian này không được quá ba năm kể từ thời điểm
mở thừa kế Vì sao lại có khoảng thời gian không quá 3 năm này? Đó là vì, pháp luật muốn hạn chế quyền này ở một thời gian nhất định nhằm bảo vệ quyền lợi cho những người thừa kế khác và đây chính là điểm tiến bộ hơn so với quy định trong BLDS
1995 Nếu hết thời hạn do Tòa án xác định hoặc bên còn sống đã kết hôn với người khác thì những người thừa kế khác có quyền yêu cầu Tòa án cho chia di sản thừa kế
Như vậy, người lập di chúc có thêm một quyền bên cạnh Điều 648 12 và người nhận di sản trong phân chia di sản có thêm 2 quyền bên cạnh những quyền lợi được pháp luật bảo vệ được quy định trong chế định thừa kế Mọi quyền lợi được quy định
11
Nghị quyết nêu rõ: "Tòa án cần giải thích cho người có yêu cầu chia di sản thừa kế biết là họ mới chỉ có quyền yêu cầu xác định phần di sản mà họ được hưởng và họ chỉ có quyền yêu cầu chia di sản sau một thời hạn nhất định, cụ thể là ba năm, nếu trong thời hạn này bên còn sống là vợ hoặc chồng của người đã chết chưa kết hôn với người khác"
12
Xem Điều 648 Bộ Luật dân sự 2005
Trang 19trong chế định này thể hiện ý chí của nhà nước để bảo vệ quyền lợi cho người được hưởng di sản
1.3.2 Phân chia di sản trong trường hợp có người thừa kế mới hoặc có người thừa kế bị bác bỏ quyền thừa kế
Xung quanh vấn đề này cũng có rất nhiều ý kiến cho rằng như vậy là không công bằng cho người thừa kế mới, cần phải chia lại bằng hiện vật nếu không ít nhất cũng phải bằng tiền tại thời điểm thanh toán… BLDS 2005 quy định chỉ thanh toán bằng tiền tại thời điểm chia di sản thừa kế Theo người viết, quy định của pháp luật về vấn
đề phân chia di sản trong trường hợp có người thừa kế mới hoặc có người thừa kế bị bác bỏ quyền thừa kế chỉ được thanh toán bằng tiền là hợp lý vì những vụ việc kiện đòi thừa kế xảy ra đến hàng chục năm mà những người thừa kế vẫn yêu cầu chia đi chia lại nhiều lần, trong khi khối di sản không chỉ đã bị biến đổi qua nhiều năm tháng (được tôn tạo, sữa chữa) hoặc vì phá vỡ xây dựng mới, mà còn được mua đi bán lại nhiều lần Quy định mới này đã giải quyết bằng cách không chia bằng hiện vật, mà thanh toán lại bằng tiền tại thời điểm chia thừa kế cho những trường hợp có người thừa
kế mới hoặc có người thừa kế bị bác bỏ quyền thừa kế Đây là giải pháp tối ưu, không chỉ bảo vệ quyền lợi cho người thừa kế mà còn tôn trọng tính ổn định trong giao dịch dân sự
Phân chia di sản trong trường hợp có người thừa kế mới hoặc có người thừa kế bị bác bỏ quyền thừa kế được quy định tại Điều 687 BLDS 2005 là:
“1 Trong trường hợp đã phân chia di sản mà xuất hiện người thừa kế mới thì không thực hiện việc phân chia lại di sản bằng hiện vật, nhưng những người thừa kế
đã nhận di sản phải thanh toán cho người thừa kế mới một khoản tiền tương ứng với phần di sản của người đó tại thời điểm chia thừa kế theo tỉ lệ tương ứng với phần di sản đã nhận, trừ trường hợp có thỏa thuận khác
2 Trong trường hợp đã phân chia di sản mà có người thừa kế bị bác bỏ quyền thừa kế thì người đó phải trả lại di sản hoặc thanh toán một khoản tiền tương đương với giá trị di sản được hưởng tại thời điểm chia thừa kế cho những người thừa kế, trừ trường hợp có thỏa thuận khác”
Như vậy, với những quy định mới trong BLDS 2005 đã mở rộng thêm chủ thể tham gia vào việc phân chia di sản và đã đưa ra giải pháp dự liệu trong trường hợp khi
có người bị truất quyền thừa kế Bởi lẽ khi rơi vào một trong hai trường hợp này thì BLDS 1995 vẫn chưa có điều khoản để điều chỉnh được, dẫn đến trường hợp người có quyền thì không được nhận di sản trong khi người không có quyền lại được tiếp nhận
Trang 20phần di sản một cách bất hợp pháp và bất hợp lý Bên cạnh đó, với quy định thời hạn không quá 3 năm khi gia hạn thời gian để phân chia di sản, một mặt là bảo vệ quyền lợi cho những người khi rơi vào trường hợp thuộc đoạn 2 của Điều 686 này, mặt khác cũng nhằm bảo vệ quyền lợi cho những người thừa kế khác
Nhìn chung, so với BLDS 1995 thì BLDS 2005 cũng không có thay đổi gì nhiều nhưng với những sửa đổi bổ sung mới này đã giải quyết được những vấn đề phát sinh mới trong vấn đề thanh toán và phân chia di sản nhằm bảo vệ quyền và lợi ích cho các chủ thể có liên quan khi tham gia vào quan hệ pháp luật này
1.4 Ý nghĩa của việc thanh toán và phân chia di sản
Thanh toán và phân chia di sản là sự bảo vệ của pháp luật, liên quan đến nhiều chủ thể: cá nhân, tổ chức và kể cả Nhà nước Thanh toán phần tài sản của người chết
để lại là mối quan tâm của những người có liên quan bởi lẽ khi một người chết đi có thể họ vẫn còn nhiều nghĩa vụ chưa kịp thực hiện hoặc sau khi họ chết lại phát sinh thêm một vài nghĩa vụ mới Để thực hiện các phần nghĩa vụ ấy thì những người còn sống sẽ đem phần tài sản mà người chết để lại tiến hành thanh toán các nghĩa vụ ấy cho những người có quyền Trong quá trình thực hiện nghĩa vụ khó có thể tránh khỏi xung đột về quyền lợi giữa các bên nếu phần tài sản không đủ để thanh toán, bởi có thể cùng một lúc phải thực hiện nhiều nghĩa vụ khác nhau Khi này pháp luật với vai trò bảo vệ cho các bên, quy định rõ ràng thứ tự thanh toán tức là nghĩa vụ nào sẽ được đem ra thực hiện trước và nghĩa vụ nào sẽ được thanh toán sau nhằm dung hòa phần quyền và nghĩa vụ của các bên chủ thể
Sau khi thực hiện xong nghĩa vụ về tài sản cho các chủ thể có liên quan, phần tài sản còn lại sẽ được đem ra phân chia cho những người thuộc hàng thừa kế của người
để lại di sản Tuy nhiên, vấn đề được đặt ra ở đây là không phải mọi chuyện lúc nào cũng diễn ra một cách suông sẽ như mong đợi, có những vấn đề mới phát sinh ngoài tầm kiểm soát, không như dự tính ban đầu Chẳng hạn như sau khi phân chia di sản lại xuất hiện thêm người thừa kế mới, người thừa kế bị bác bỏ quyền thừa kế Kể cả trường hợp tất cả những người thừa kế đều đồng ý tiến hành phân chia di sản nhưng duy nhất có một người vì một lý do nào đó không đồng ý chia dẫn đến tranh chấp xảy
ra và đây cũng không phải là một chuyện hi hữu Để bảo vệ quyền lợi cho những người thừa kế khi họ rơi vào những trường hợp nêu trên pháp luật đã kịp thời ban hành giúp đem lại sự công bằng và mở rộng đồng thời cũng giới hạn phần quyền đối với một số trường hợp nhất định cho các chủ thể nhằm bảo vệ quyền lợi cho các chủ thể có liên quan
Trang 21Qua phân tích chương 1, ta thấy việc thanh toán và phân chia di sản nó là một chuỗi các quan hệ mắc xích với nhau và phải được thực hiện theo những trình tự mà pháp luật đã quy định Thanh toán di sản là việc những người có quyền hưởng di sản thừa kế phải thực hiện các nghĩa vụ về tài sản cũng như các khoản chi phí liên quan đến thừa kế trong phạm vi di sản của mình được hưởng theo thứ tự do pháp luật quy định còn phân chia di sản là tiến hành dịch chuyển tài sản của người chết cho những thừa kế theo di chúc hoặc những người thuộc hàng thừa kế theo pháp luật Phần tài sản được nhận đó chính là phần tài sản còn lại sau khi đã được thực hiện các nghĩa vụ tài sản của người chết Song song đó là lịch sử hình thành và phát triển của nó Thanh toán và phân chia di sản được quy định rõ ràng nhất trong trong ba văn bản pháp lý: Pháp lệnh thừa kế 1990, Bộ luật dân sự 1995 và Bộ luật dân sự 2005 Về cơ bản, bản chất của việc thanh toán và phân chia di sản này là không thay đổi chỉ có sự thay đổi trong cách gọi tên và bổ sung thêm một số điều kiện áp dụng Việc tìm hiểu chế độ pháp lý về thanh toán và phân chia di sản có ý nghĩa quan trọng trong việc bảo vệ lợi ích hợp pháp và hợp tình của các chủ thể liên quan đến vấn đề thanh toán và phân chia
di sản bởi pháp luật vừa bảo vệ quyền lợi cho những người có quyền vừa bảo vệ quyền lợi cho những người thực hiện nghĩa vụ, đem lại công bằng cho các bên chủ thể
Trang 22Chương 2 QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ THANH TOÁN VÀ PHÂN CHIA DI SẢN
Trong chương 2 này tác giả sẽ trình bày hai nội dung lớn Đầu tiên, tác giả sẽ giới thiệu vấn đề thanh toán nợ di sản: những món nợ nào cần phải trả, chủ thể chịu trách nhiệm về món nợ đó và việc trả nợ được thực hiện như thế nào Sau khi đã thanh toán xong nợ di sản, phần tài sản có còn lại sẽ được đem ra phân chia cho những người thừa kế Điều kiện về hình thức, điều kiện về nội dung là những điều kiện phải thỏa khi tiến hành phân chia di sản sẽ được tác giả trình bày trong chương này
2.1 Thanh toán nợ di sản
2.1.1 Khái niệm tài sản nợ
Tài sản nợ là tất cả các nghĩa vụ tài sản của một người được xác lập với danh nghĩa của mình nhằm đạt được một lợi ích nào đó cho mình hay cho một người thứ ba Khi xác lập nghĩa vụ thì người mắc nợ phải thực hiện nghĩa vụ tài sản của mình bằng bất kỳ tài sản nào thuộc quyền sở hữu của mình cho đến khi khối tài sản có không còn đủ khả năng thanh toán
Ví dụ: Ông Nghĩa và bà Lý góp vốn mỗi người là 500 triệu đồng để xây dựng
khách sạn Hương Bình nhưng giữa chừng thì thiếu kinh phí nên hai người đã vay ngân hàng thêm 700 triệu đồng nữa Sau đó một khoảng thời gian không lâu Bà Lý bị tai nạn giao thông chết, để lại cho những người thừa kế phần quyền về tài sản của bà Những người con này phải có nghĩa vụ cùng với ông Nghĩa thanh toán số nợ 700 triệu
đồng cho ngân hàng và các chi phí cần thiết
2.1.2 Thành phần tài sản nợ của di sản
2.1.2.1 Những nghĩa vụ do người có di sản xác lập
Đây là nghĩa vụ phát sinh trước khi người để lại di sản chết xác lập, được thể hiện trong hai trường hợp: ngoài hợp đồng và trong hợp đồng
Nghĩa vụ ngoài hợp đồng là nghĩa vụ phát sinh bởi sự kiện của người thụ trái, đó
là những hành động cố ý hay vô ý gây thiệt hại cho người thứ ba hay nghĩa vụ phát sinh như khi có một hợp đồng, nhưng thực tế không có hợp đồng Nghĩa vụ này được pháp luật quy định và nó phát sinh ngoài những hành vi hay sự kiện của người thụ trái Nghĩa vụ ngoài hợp đồng do người có di sản xác lập bao gồm nghĩa vụ cấp dưỡng, thuế và các khoản nợ khác đối với Nhà nước, bồi thường thiệt hại Khoản 2 Điều 683 BLDS 2005 có quy định khoản tiền cấp dưỡng còn thiếu là khoản tiền nằm trong nghĩa vụ phải thanh toán lấy từ di sản của người đã mất Đây là khoản tiền mà
Trang 23người để lại di sản khi còn sống phải thực hiện đối với người được cấp dưỡng theo quy định của pháp luật (như cấp dưỡng nuôi con ngoài giá thú hoặc ly hôn, cấp dưỡng cho người bị người để lại di sản gây thiệt hại…) nhưng chưa kịp thực hiện thì đã chết Tuy nhiên, chỉ dùng di sản để thanh toán cho khoản cấp dưỡng còn thiếu, chứ không phải
để thanh toán cho khoản tiền cấp dưỡng cho người được cấp dưỡng sau khi người để lại di sản chết Vì nghĩa vụ này gắn liền với nhân thân của người có nghĩa vụ cấp dưỡng không chuyển giao cho người khác
Ví dụ: Trước khi lấy mẹ A, bố A đã có vợ nhưng ly hôn và có một người con
riêng đang sống nay sống với mẹ Đến nay, người con riêng đó bị tâm thần phân liệt nên mặc dù đã hơn 18 tuổi, nhưng bố A hàng tháng vẫn gửi cho người vợ cũ 500 nghìn đồng để nuôi con và mua cho hai mẹ con một căn nhà để sống riêng Căn nhà mà gia đình A đang ở do bố mẹ A mua sau ngày cưới Bố mẹ đã cùng viết di chúc chung là sau khi cả hai mất căn nhà đó được để lại thừa kế cho A sau khi người sau cùng mất
Vừa qua, bố A không may qua đời do bị bệnh tim
Như vậy, trong trường hợp nêu trên đến thời điểm bố A mất, bố A đã thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng cho người con riêng của bố A, thì kể từ thời điểm bố A mất, không phải lấy di sản thừa kế để tiếp tục thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng này Di sản sẽ được chia theo di chúc chung khi bố mẹ A qua đời
Tiếp theo là thuế và các khoản nợ khác đối với Nhà nước được quy định tại Khoản 6 Điều 683 BLDS 2005 bao gồm các khoản tiền mà một người phải nộp tính theo từng loại thuế đối với Nhà nước, cùng với các khoản tiền mà họ còn nợ Nhà nước nhưng họ chưa thực hiện hoặc thực hiện chưa hết thì đã chết
Cuối cùng là nghĩa vụ bồi thường thiệt hại được quy định tại Khoản 5 Điều 683 BLDS 2005 đây là khoản tiền phát sinh theo hợp đồng hoặc ngoài hợp đồng do người
để lại di sản chưa bồi thường hoặc không còn có điều kiện để bồi thường Người bị thiệt hại đưa ra các căn cứ chứng minh cho thiệt hại của mình và yêu cầu bồi thường Nghĩa vụ trong hợp đồng là nghĩa vụ được tạo nên bởi ý chí chung của các bên đương sự Theo quy định tại Khoản 4 Điều 683 thì đây là khoản tiền phải trả đủ cho công sức của người lao động trong trường hợp nếu người để lại di sản còn sống đã sử dụng sức lao động của người đó Khoản tiền này được xác định theo hợp đồng lao động hoặc theo các hợp đồng dân sự khác mà người để lại di sản phải trả, nhưng chưa kịp trả thì đã chết
Trang 242.1.2.2 Các chi phí liên quan đến thừa kế
Đây chính là những món nợ do hệ quả trực tiếp từ cái chết của người có di sản
Đó không phải là nợ do người chết để lại, bởi chúng phát sinh sau khi thừa kế được
mở nhưng có mối liên hệ chặt chẽ với việc thừa kế di sản, chúng được coi như nợ của
di sản chứ chưa phải của riêng người thừa kế Việc phân biệt này rất quan trọng bởi hoạt động làm phát sinh chi phí có thể do một người thừa kế giao kết và thực hiện nhưng nó ràng buộc tất cả những người thừa kế khác
Các chi phí này bao gồm:
Chi phí hợp lý theo tập quán cho việc mai táng: chỉ chấp nhận những chi phí
hợp lý, phù hợp với tính ngưỡng cũng như thuần phong mỹ tục của nhân dân, không chấp nhận những chi phí tốn kém, xa xỉ, nặng về mê tín, dị đoan Đó là những chi phí phát sinh lo cho việc chôn cất, phúng điếu người chết Những chi phí này phải được xác định trên cơ sở kết hợp giữa sự cần thiết phải chi và sự phù hợp với phong tục, tập quán của từng địa phương Chi phí mai táng bao gồm: tiền mua quan tài, vải khâm liệm Tiền chi phí cho việc đưa tang và tiền thực hiện các lễ nghi theo các tập quán như: mở cửa mã, làm lễ 49 ngày…đang được thừa nhận ở mỗi địa phương khác nhau Nếu chi phí mai táng được lấy từ tài sản của người chết thì di sản thừa kế sẽ là phần di sản còn lại Vì vậy chỉ đặt ra vấn đề thanh toán chi phí mai táng nếu các khoản chi phí
đó là do một người nào đó bỏ ra hoặc do những người đó đã vay của người khác để chi cho việc mai táng
Chi phí cho việc bảo quản di sản: có thể kể đến trong mục này các chi phí lập
danh mục di sản, kiện tụng để thu hồi tài sản, chi phí cho việc niêm phong Nhưng không thể ghi vào đây các chi phí liên quan đến việc bảo quản các tài sản thuộc di sản theo nghĩa thông thường, như chi phí sửa chữa, chi phí bảo trì,… Các chi phí này không có liên quan gì đến cái chết của người có di sản và việc chuyển giao di sản Nếu chấp nhận giải pháp ngược lại, thì sẽ có những hệ quả không hợp lý, ví dụ: người lập
di chúc quyết định di tặng một số tài sản và di tặng ấy đúng ra đã được thi hành trọn; nay người thừa kế cố tình tiến hành sửa chữa, tu bổ các tài sản thuộc di sản nhằm làm gia tăng khối tài sản nợ và bằng cách này thu hẹp tài sản có của di sản Khi này di tặng
sẽ không được thi hành hoặc phải bị cắt giảm
2.1.2.3 Những nghĩa vụ có nguồn gốc từ việc quản lý di sản
Quản lý di sản là việc giữ gìn, bảo tồn di sản, làm cho khối di sản không bị mai một, mất mát theo thời gian Đây là một loại lao động có ích và vì lợi ích của các thừa
kế Vì vậy công sức mà người quản lý di sản đã bỏ ra là cơ sở cho việc người thừa kế
Trang 25phải trả thù lao cho họ Theo quy định tại Điều 643 BLDS 2005 thì người quản lý di
sản “được hưởng thù lao theo thỏa thuận với những người thừa kế” Thù lao cho
người quản lý chính thức di sản theo di chúc (nếu có), chi phí và lệ phí thanh toán và phân chia di sản Tuy nhiên, các khoản nợ của di sản, tiền thù lao chi cho người quản
lý chính thức được cử theo thỏa thuận của những người thừa kế hoặc người quản lý thực tế mà việc trả thù lao đó được giao kết giữa người đó với những người thừa kế thì các chi phí này không được xem là chi phí để trả thù lao cho người quản lý di sản bởi
lẽ các chi phí này không do người chết giao kết và cũng không gắn liền với cái chết của người đó Đây là cơ sở pháp lý để Tòa án trích từ khối di sản một khoản tiền, hoặc hiện vật để trả công cho người quản lý di sản
2.1.3 Trách nhiệm đối với trả nợ di sản
Trong phần trách nhiệm đối với nợ di sản sẽ có hai vấn đề lớn được trình bày: chủ thể của trách nhiệm và phạm vi của trách nhiệm
2.1.3.1 Người chịu trách nhiệm về trả nợ di sản
Theo pháp luật hiện hành có hai nhóm chủ thể sẽ chịu trách nhiệm về trả nợ di sản đó là người thừa kế theo pháp luật và người thừa kế theo di chúc Theo Khoản 1
Điều 637 BLDS 2005, “Những người hưởng thừa kế có trách nhiệm thực hiện nghĩa
vụ tài sản trong phạm vi di sản do người chết để lại, trừ trường hợp có thỏa thuận khác” Những người thừa kế ở đây bao gồm người thừa kế theo di chúc và người thừa
kế theo pháp luật Kể từ thời điểm người để lại di sản chết, người thừa kế có quyền hưởng di sản theo di chúc hoặc theo pháp luật đồng thời phải chịu những nghĩa vụ tài sản mà người chết để lại Đây là những nghĩa vụ tài sản mà người chết phải chịu khi còn sống mà người đó chưa thực hiện được, vì vậy những nghĩa vụ này được chuyển sang cho những người thừa kế của họ Tuy nhiên, phần trách nhiệm mà những người
thừa kế phải gánh chịu là “nghĩa vụ tài sản trong phạm vi di sản do người chết để lại”
và từng người thừa kế cũng chỉ “…thực hiện nghĩa vụ tài sản do người chết để lại
tương ứng nhưng không vượt quá phần tài sản mà mình đã nhận” Bên cạnh đó luật
còn mở rộng thêm “trừ trường hợp có thỏa thuận khác”; đó là trong những trường hợp
người thừa kế có thể vì danh dự gia đình, tình nghĩa cha con, vợ chồng đã đứng ra chịu toàn bộ cho dù họ phải “bỏ tiền túi” của mình để thực hiện nghĩa vụ về tài sản mà người chết để lại, khi không có di chúc hoặc được giao nghĩa vụ thừa kế như quy định tại Khoản 4 Điều 438 BLDS 2005 về quyền của người lập di chúc quy định như vậy không bị bó buộc và khống chế chỉ trong phạm vi di sản của người chết để lại
Bên cạnh hai nhóm chủ thể này còn xuất hiện thêm một chủ thể nữa đó là người được di tặng Theo Điều 671 BLDS 2005 quy định di tặng là việc người lập di chúc
Trang 26dành một phần di sản để tặng cho người khác Việc di tặng phải được ghi rõ trong di chúc Người được di tặng không phải thực hiện nghĩa vụ tài sản đối với phần di tặng Tuy nhiên, nếu rơi vào trường hợp toàn bộ di sản không đủ để thanh toán nghĩa vụ tài sản của người lập di chúc thì phần di tặng cũng được dùng để thực hiện phần nghĩa vụ còn lại của người này Ngoài quy định trên thì người được di tặng còn chịu hai ngoại lệ:
Thứ nhất, người lập di chúc có quyền ràng buộc hiệu lực của việc di tặng vào
điều kiện thi hành một nghĩa vụ tài sản nào đó được xác định
Ví dụ: Hưởng di sản với điều kiện cấp dưỡng hàng tháng cho mẹ của người chết Khi này người được di tặng phải thực hiện điều kiện trên thì mới được nhận phần di sản do người chết để lại Ngoài ra người nhận di sản không buộc phải có trách nhiệm đối với các khoản nợ khác của di sản như người thừa kế theo di chúc hoặc người thừa
kế theo pháp luật
Thứ hai, người được di tặng vẫn phải thực hiện các nghĩa vụ tài sản do người
chết để lại trong trường hợp các nghĩa vụ ấy lại là một trong những yếu tố cấu thành vật được di tặng
Ví dụ: Ông Nhân trước khi qua đời có để lại di chúc, trong đó có phần di sản được di tặng dành cho con của ông là anh Nghĩa đó là doanh nghiệp tư nhân Nhân Nghĩa Anh Nghĩa ngoài việc tiếp nhận phần tài sản được di tặng còn phải tiếp nhận cả
nợ của doanh nghiệp
Hơn nữa trong trường hợp di tặng một bất động sản bị thế chấp thì người được di tặng sẽ phải trực tiếp thanh toán số nợ liên quan cho bên nhận thế chấp, bởi tài sản thế chấp là tài sản có bảo đảm Theo Khoản 4 Điều 349 BLDS 2005 quy định bên thế chấp được tặng cho tài sản thế chấp nếu tài sản thế chấp không phải là hàng hóa luân chuyển trong quá trình sản xuất, kinh doanh nếu được bên nhận thế chấp đồng ý Bên nhận thế chấp luôn được bảo đảm trả nợ bằng tài sản thế chấp, dù tài sản có được chuyển cho nhiều người trong thời gian nợ chưa được trả đủ Sau khi người được di tặng đã thanh toán xong phần nợ đó thì người được di tặng có quyền đòi những người thừa kế hoàn trả số nợ ấy cho mình
2.1.3.2 Phạm vi trách nhiệm
Về phạm vi nghĩa vụ trả nợ di sản, pháp luật hiện hành có xu hướng thiên về hệ thống thừa kế tài sản Song, việc triển khai giải pháp trong tình trạng hiện tại của luật chịu ảnh hưởng ít nhiều của tục lệ truyền thống dẫn tới việc thiết lập các quy tắc đặc biệt không có trong luật phương Tây Trên nguyên tắc, người thừa kế chịu trách nhiệm
Trang 27về nợ di sản trong phạm vi di sản nếu di sản chưa chia Tuy nhiên, nguyên tắc này chịu một ngoại lệ Ngoài ra, cần xem xét trường hợp đặc biệt liên quan đến nghĩa vụ Nhà nước đối với nợ di sản
Nghĩa vụ của người thừa kế trong trường hợp di sản chưa được chia
Theo Khoản 2 Điều 637 BLDS 2005 quy định: “Trong trường hợp di sản chưa
được chia thì nghĩa vụ tài sản do người chết để lại được người quản lý di sản thực hiện theo thỏa thuận của những người thừa kế”
Có ba khối tài sản mà chủ nợ quan tâm: di sản, tài sản riêng của người thừa kế và tài sản riêng của người quản lý di sản được chỉ định trong di chúc hoặc được những người thừa kế thỏa thuận cử ra Khi di sản được giao cho người quản lý di sản chính thức thì các chủ nợ có quyền đến để thanh toán phần tài sản nợ của mình Người thừa
kế không phải trực tiếp trả nợ, do đó các chủ nợ không có quyền gì đối với tài sản riêng của người thừa kế nhưng những người thừa kế có quyền dùng tài sản riêng của
họ để trả nợ cho phần nợ của người chết khi tài sản của người chết không đủ để trả nợ
Do đó, tài sản riêng của người thừa kế cũng được liệt kê vào danh mục thuộc đối tượng mà các chủ nợ quan tâm Mặc dù người quản lý di sản chỉ thực hiện các nhiệm
vụ của một người được ủy quyền, thế nhưng dưới con mắt của các chủ nợ thì người quản lý di sản là người thay thế người chết giữ vai trò con nợ Tất cả các hành vi mà người quản lý di sản làm trong khuôn khổ thi hành các nghĩa vụ của một người được
ủy quyền không ràng buộc các tài sản riêng của người này, trừ trường hợp có có sự lẫn lộn giữa các tài sản riêng ấy với các tài sản thuộc di sản
Vậy, chừng nào di sản còn đặt dưới thẩm quyền của người quản lý và không bị trộn lẫn vào sản nghiệp của người này, thì việc trả nợ di sản được bảo đảm chỉ bằng tài
sản có thuộc di sản Quy định “nghĩa vụ tài sản do người chết để lại được người quản
lý di sản thực hiện theo thỏa thuận của những người thừa kế” nên được hiểu rằng
người quản lý chỉ được phép trả nợ với sự đồng ý của những người thừa kế
Thỏa thuận để giải quyết vấn đề là phương pháp được ưu tiên hàng đầu trong giải quyết các vụ việc dân sự đặc biệt là trong chế định thừa kế Vì khi các bên đã thống nhất được ý chí với nhau sẽ không có tranh chấp xảy ra và mọi chuyện sẽ được dàn xếp một cách êm đẹp Bên cạnh các quy định trên thì những người thừa kế có thể thỏa thuận một số vấn đề có liên quan đến di sản như sau:
Trường hợp bỏ rơi di sản cho các chủ nợ: Những người thừa kế có thể thỏa
thuận với nhau rằng di sản sẽ được bỏ lại cho các chủ nợ tùy ý định đoạt trong trường hợp khả năng thanh toán di sản không chắc chắn Khi này người quản lý di sản là
Trang 28người chịu trách nhiệm trả nợ trong phạm vi di sản, còn những người thừa kế có thể không quan tâm tới di sản nữa
Trường hợp thỏa thuận lãnh toàn bộ nợ vượt quá số tài sản có của di sản: người
thừa kế có quyền thỏa thuận về việc trả nợ trong phạm vi di sản, nhưng họ cũng có quyền không sử dụng quyền đó Đây là trường hợp chủ nợ đã bán đi toàn bộ di sản mà vẫn chưa trả hết nợ và người thừa kế chấp nhận trả nợ bằng tài sản của mình Tuy nhiên, việc thỏa thuận của những người thừa kế về việc trả nợ di sản bằng tài sản riêng lại không phải là chuyện riêng của họ nữa mà đây là một hợp đồng giao kết vì lợi ích của người thứ ba Thỏa thuận này có thể chấm dứt theo ý chí của các bên giao kết nhưng với điều kiện sau:
- Có sự đồng ý của các chủ nợ của di sản, tức là của người thứ ba mà vì lợi ích của người đó, thỏa thuận được giao kết và thực hiện (Điều 412 BLDS 2005)
- Có sự nhất trí của những người thừa kế: chỉ cần có một người phản đối, thì thỏa thuận giữa những người thừa kế về việc trả nợ di sản một cách vô hạn tiếp tục có hiệu lực và người từ chối hành vi thỏa thuận có thể bị cưỡng chế thi hành bằng một quyết định của Tòa án, theo yêu cầu của một người thừa kế nào đó hoặc của chủ nợ
Các chủ nợ khi đòi nợ thì mục tiêu chính mà họ hướng tới đó chính là người quản lý di sản Tuy nhiên, người quản lý di sản ở đây chỉ với danh nghĩa là người được
ủy quyền để quản lý phần tài sản đó chứ không phải là con nợ chính thức, mà con nợ chính thức là tất cả những người thừa kế Những người này sẽ trả nợ trong giới hạn phần di sản do người chết để lại Khi kiện cáo để đòi nợ, họ kiện cả một nhóm người chứ không kiện từng người và chính vì lý do này nên không có nguyên tắc phân chia
nợ về mặt nghĩa vụ Khi này những người thừa kế giống như một công ty trách nhiệm hữu hạn được đại diện bởi người quản lý di sản
Sau khi di sản được chia thì những người thừa kế sẽ đóng góp theo tỷ lệ vào việc trả nợ trừ trường hợp người lập di chúc quyết định khác hoặc những người thừa kế có thỏa thuận khác
- Khi người có di sản giao nghĩa vụ cho người thừa kế: Theo Khoản 4 Điều 648 BLDS 2005 quy định người lập di chúc có quyền giao nghĩa vụ cho người thừa kế Nếu người lập di chúc sử dụng quyền này thì những người thừa kế phải tuân theo những quy định trong di chúc Khi đó phần đóng góp của mỗi người vào nợ di sản không nhất thiết phải tương ứng với phần di sản nhận được Đối với những khoản nợ
mà trách nhiệm chi trả được người lập di chúc giao cho một người thừa kế, nhưng lại
Trang 29bị đòi trong thời kỳ di sản được đặt dưới sự quản lý chính thức, thì có ba cách thực hiện việc đóng góp:
Cách thứ nhất: Người thừa kế thỏa thuận rằng tài sản có của di sản được dùng để
trả nợ Đến khi phân chia di sản, người thừa kế được giao nghĩa vụ nhận phần của mình được xác định theo di chúc hoặc theo pháp luật nhưng trừ đi số nợ đã trả
Cách thứ hai: Những người thừa kế thỏa thuận rằng nợ được trả bằng tài sản
riêng của người thừa kế được giao nghĩa vụ Đến khi phân chia di sản thì người thừa
kế trả nợ nhận trọn phần của mình trong tài sản có
Cách thứ ba: Những người thừa kế thỏa thuận rằng mỗi người hùng trả nợ bằng
tài sản riêng theo khả năng Đến khi phân chia di sản, người thừa kế được giao nghĩa
vụ nhận phần của mình trong tài sản có, nhưng trừ đi phần đóng góp vào việc trả nợ của những người thừa kế khác
Ngoài ba cách nêu trên thì còn có rất nhiều cách khác nữa Tuy nhiên, suy cho cùng, bất kỳ cách nào khác cũng chỉ, hoặc là sự biến dạng của một trong ba cách trình bày ở trên, hoặc là sự tổng hợp của ba cách đó
- Khi người có di sản không giao nghĩa vụ cho người thừa kế: Những người thừa
kế có thể thỏa thuận về việc phân bổ trách nhiêm đối với nợ trả trong thời gian di sản được đặt dưới sự quản lý chính thức, mà cũng có thể không
Phân bổ trách nhiệm về nợ di sản trong trường hợp không có thỏa thuận giữa những người thừa kế: Nếu người có di sản không giao nghĩa vụ tài sản cho những người thừa kế và họ cũng không đạt được sự thỏa thuận cần thiết thì mỗi người đóng góp vào việc trả nợ trong thời kỳ di sản được đặt dưới sự quản lý chính thức tương ứng với phần di sản nhận được sau khi phân chia di sản Mặc dù chưa có điều khoản nào trong luật viết khẳng định giải pháp này nhưng nếu rơi vào trường hợp không có di chúc thì có thể dựa vào Khoản 2 Điều 676 BLDS 2005 để buộc những người thừa kế
phải gánh chịu như nhau các khoản nợ của di sản: “Những người thừa kế cùng hàng
được hưởng phần di sản bằng nhau”, điều đó có nghĩa rằng mỗi người thừa kế nhận
một phần tài sản có bằng nhau và lãnh một phần nợ cũng bằng nhau Trường hợp có di chúc thì nên ghi nhận rõ ràng một nguyên tắc đóng góp vào việc trả nợ trong một văn bản hướng dẫn nào đó, nếu không, Tòa án không thể xét xử một khi có tranh chấp về phần đóng góp của mỗi người đối với những món nợ đã trả trong thời kỳ di sản còn đặt dưới sự quản lý chính thức Mà nếu ghi nhận, thì nên chọn, về mặt đóng góp, nguyên tắc trả nợ theo tỷ lệ nói trên chứ không nên lấy nguyên tắc trả nợ bình quân
Trang 30theo đầu người Bởi vì, khi có di chúc thì phần mỗi người được hưởng trong di sản có thường không ngang nhau
Phân bổ trách nhiệm về trả nợ theo thỏa thuận giữa những người thừa kế: Việc thỏa thuận này được thực hiện trong một phạm vi nhất định, không thể có chuyện thỏa thuận “người nhận ít trả nợ nhiều” trong khuôn khổ thanh toán nợ di sản Chỉ có những người thừa kế trả nợ dùm người thừa kế khác và việc trả dùm này được xem là đã tặng cho gián tiếp tài sản của mình cho người sau này Tuy nhiên, điều đó không có nghĩa người thừa kế phải luôn tuân thủ nguyên tắc đóng góp vào việc trả nợ theo tỷ lệ khi thanh toán nợ di sản Họ có thể phá vỡ nguyên tắc ấy miễn là không vi phạm các quy định liên quan đến việc xác định quyền thừa kế về số lượng
Nghĩa vụ của người thừa kế trong trường hợp di sản đã được chia
Theo Khoản 3 Điều 637 BLDS 2005 quy định “Trong trường hợp di sản đã
được chia thì mỗi người thừa kế thực hiện nghĩa vụ tài sản do người chết để lại tương ứng nhưng không vượt quá phần tài sản mà mình đã nhận, trừ trường hợp có thỏa thuận khác” Các nghĩa vụ tài sản ở đây là những khoản nợ chưa được trả hoặc chưa
được trả hết cho đến ngày chấm dứt nhiệm vụ của người quản lý di sản Có hai nguyên tắc cơ bản về phạm vi trách nhiệm của người thừa kế đối với nợ di sản được công nhận trong trường hợp có nhiều người thừa kế: phân chia nợ về mặt nghĩa vụ và đóng góp vào việc trả nợ theo tỷ lệ
Nguyên tắc phân chia nợ về mặt nghĩa vụ: nguyên tắc này cho phép người thừa
kế khi bị kiện đòi trả nợ, yêu cầu chia nhỏ nghĩa vụ liên quan giữa những người thừa
kế Nó được áp dụng cho tất cả những người thừa kế không phân biệt thừa kế theo di chúc hay thừa kế theo pháp luật và cho việc chi trả tất cả các khoản nợ của người chết cũng như cho việc thi hành di tặng vật cùng loại
Nhờ nguyên tắc trả nợ về mặt nghĩa vụ, người thừa kế có thể giới hạn quyền khởi kiện của các chủ nợ di sản đến mức tương ứng với tỷ lệ phần di sản được hưởng: người thừa kế nhận 1/3 tài sản có chỉ chịu trách nhiệm đối với 1/3 tổng số nợ di sản, chủ nợ không thể yêu cầu người thừa kế trả nhiều hơn Trái lại, nguyên tắc này cũng gây bất lợi cho các chủ nợ trong trường hợp người thừa kế không tự giác trả nợ, họ phải khởi kiện với số lần bằng đúng số người thừa kế Ngoài ra, nếu có một người thừa
kế không trả được phần nợ của mình thì họ không thể buộc người thừa kế khác trả thay
Trang 31Tuy nhiên, trong một vài trường hợp đặc thù nguyên tắc phân chia nợ về mặt nghĩa vụ có thể bị loại trừ do bản thân tính chất của nợ, do ý chí của người lập di chúc hoặc do ý chí của những người thừa kế
Đầu tiên là trường hợp do bản thân tính chất của nợ: Ví dụ điển hình nhất là nợ
được bảo đảm bằng việc thế chấp bất động sản Chủ nợ có bảo đảm, trong trường hợp này có quyền yêu cầu kê biên và cho bán đấu giá bắt buộc bất động sản thế chấp mà không cần biết nó thuộc về ai Người thừa kế được chia bất động sản nên phải trả toàn
bộ số nợ được bảo đảm nếu không muốn mất tài sản được chia Đây không hẳn là một ngoại lệ, bởi vì các chủ nợ có bảo đảm chỉ có quyền đối với bất động sản được thế chấp chứ không có quyền gì đặc biệt đối với tài sản riêng của người được chia Trong trường hợp tài sản không đủ trả nợ thì khi đòi trả nợ phần còn lại chủ nợ có bảo đảm trở thành một chủ nợ thường được xếp cùng hàng với các chủ nợ khác và phải kiện từng người thừa kế một để đòi phần nợ mà mỗi người sau này phải trả Vả lại nếu người được chia là người được di tặng, thì họ phải trả món nợ có bảo đảm đó dù theo luật họ không phải chịu trách nhiệm đối với nợ di sản
Tiếp theo là trường hợp do ý chí của người có di sản: người có di sản có thể
quyết định chỉ định một người thừa kế nào đó chịu trách nhiệm trả toàn bộ khoản nợ
cụ thể Nhưng việc chỉ định ghi nhận trong di chúc không có hiệu lực bắt buộc đối với chủ nợ Người này có thể viện dẫn nó để buộc người được chỉ định phải thực hiện toàn
bộ nghĩa vụ, nếu họ muốn; còn nếu không muốn thì họ có thể coi như không có việc chỉ định, họ có quyền kiện từng người thừa kế để đòi mỗi người trả phần nợ tương ứng với phần tài sản nhận được theo chế độ chung
Cuối cùng do ý chí của người thừa kế: Những người thừa kế thỏa thuận lúc phân
chia di sản thì một trong số họ nhận trả trọn một món nợ Cũng có khi một người thừa
kế tự động từ chối thụ hưởng nguyên tắc phân chia nợ về mặt nghĩa vụ dù không có thỏa thuận gì với những người thừa kế khác Trong cả hai trường hợp, chủ nợ liên quan có quyền chấp nhận hay không chấp nhận ý chí của người thừa kế: nếu thích họ chỉ kiện người thừa kế nhận lãnh nợ; nếu không thích họ kiện từng người thừa kế một,
để yêu cầu mỗi người trả nợ tương ứng với phần tài sản nhận được
Nguyên tắc đóng góp vào việc trả nợ theo tỷ lệ: Đây là nguyên tắc người thừa
kế chỉ phải gánh chịu phần nợ tương ứng với phần di sản mà họ được hưởng theo di chúc hoặc theo pháp luật Ở đây xét hai trường hợp:
Trường hợp thứ nhất: Đóng góp vào việc trả nợ được phân bổ theo tỷ lệ nhưng
một người thừa kế lại trả toàn bộ số nợ cho chủ nợ Người thừa kế trả nợ nhiều hơn
Trang 32phần tương ứng với tỷ lệ phần tài sản được hưởng có quyền kiện đòi người thừa kế khác hoàn lại phần chi trả vượt mức
Trường hợp thứ hai: Đóng góp vào việc trả nợ được phân bổ không theo tỷ lệ, do
ý chí của người lập di chúc hoặc của người thừa kế, nhưng chủ nợ lại không chấp nhận
ý chí hoặc sự thỏa thuận ấy và đã vận dụng nguyên tắc phân chia nợ về mặt nghĩa vụ
để kiện từng người thừa kế Những người thừa kế, sau khi trả nợ xong sẽ kiện cáo lẫn nhau để đòi thi hành các điều khoản trong di chúc hoặc trong văn bản phân chia di sản liên quan đến việc phân bổ trách nhiệm về nợ
Một khi di sản đã được chia thì trên nguyên tắc người thừa kế phải chịu trách nhiệm một cách vô hạn đối với nợ di sản Vấn đề này không hợp lý ở chổ di sản của người chết để lại và phần tài sản của người thừa kế là hai loại tài sản hoàn toàn tách biệt và không có liên quan gì đến nhau, nếu phải chịu trách nhiệm vô hạn đối với nợ di sản, trong trường hợp, tài sản nợ lớn hơn phần tài sản có thì không có một người thừa
kế nào dám nhận phần tài sản này Giải pháp cho vấn đề này là, nếu danh mục di sản được thiết lập hợp lệ và nếu việc phân chia di sản được ghi nhận bằng các văn bản có giá trị hiển nhiên (một chứng thư do công chứng viên lập hoặc một bản án của Tòa án), thì người thừa kế có thể tiếp tục được hưởng nguyên tắc giới hạn nghĩa vụ trong phạm vi phần tài sản nhận được, dù di sản đã được chia: danh mục và văn bản phân chia sẽ là chứng cứ về tình trạng phân biệt giữa di sản và khối tài sản của người thừa
kế13
Trường hợp chỉ có một người thừa kế: Người viết các điều luật về thanh toán nợ
di sản quan tâm đặc biệt đến các di sản có nhiều người hưởng vì đây là trường hợp phổ biến nhất Tuy nhiên, cũng có trường hợp chỉ có một người thừa kế để nhận phần di sản do người chết để lại Do đó, nếu chỉ có một người thừa kế, nhưng người quản lý di sản lại được chỉ định hoặc đề cử một cách hợp lệ thì trong thời gian người quản lý thi hành nhiệm vụ của mình, người thừa kế duy nhất phải được hưởng nguyên tắc giới hạn nghĩa vụ trả nợ trong phạm vi tài sản có của di sản Nếu người quản lý di sản chính là người thừa kế thì người này phải tiến hành lập danh mục di sản để phân biệt giữa tài sản riêng của người thừa kế với di sản thừa kế để được hưởng nguyên tắc ấy Tuy nhiên cần phải ấn định rõ thời hạn thời hạn lập danh mục di sản để các chủ nợ biết các sản nghiệp có được phân biệt hay không
13
TS Nguyễn Ngọc Điện, Một số suy nghĩ về thừa kế trong luật dân sự Việt Nam, NXB trẻ TPHCM 2001 Tr
455
Trang 33 Khi có sự lẫn lộn sản nghiệp của người thừa kế với di sản:
Người thừa kế được cử làm người quản lý chính thức di sản, nhưng lại để lẫn lộn các sản nghiệp (ví dụ: do không lập được danh mục di sản)14 – Khi đó, người thừa kế đồng thời là người quản lý di sản phải chịu trách nhiệm trả nợ di sản một cách vô hạn
vì di sản không tồn tại như là một khối thống nhất, độc lập với các khối tài sản khác, việc giới hạn nghĩa vụ trả nợ di sản trong phạm vi tài sản là điều vô nghĩa Nhưng trong giả thuyết này, chỉ có người thừa kế quản lý di sản chịu sự chế tài đó Những người thừa kế khác vẫn tiếp tục được hưởng nguyên tắc giới hạn nghĩa vụ trả nợ trong phạm vi tài sản có của di sản
Trường hợp di sản được giao cho Nhà nước
Khoản 4 Điều 637 BLDS 2005 chỉ nói về nghĩa vụ của nhà nước đối với nợ di sản trong trường hợp Nhà nước là người thừa kế theo di chúc Vì vậy, cần phân biệt hai trường hợp Nhà nước là người thừa kế hay Nhà nước là người có quyền tuyệt đối đối với các tài sản không có chủ nằm trên lãnh thổ
- Đầu tiên, xét trường hợp Nhà nước là người thừa kế: Nhà nước sẽ là người
thừa kế duy nhất đối với các duy sản không người nhận Theo quy định chung Nhà nước chỉ có thể được hưởng nguyên tắc giới hạn nghĩa vụ trả nợ nếu cử được người quản lý di sản chính thức
- Và Nhà nước là người có quyền tuyệt đối đối với các tài sản không có chủ nằm trên lãnh thổ Khi này Nhà nước sẽ quyết định chấp nhận lãnh nợ di sản tùy ý mình
Tất nhiên việc Nhà nước tuyên bố chịu trách nhiệm vô hạn về các khoản nợ của một di sản tư chỉ được dự liệu về mặt lý thuyết Trên thực tế, một di sản không người nhận bị mất khả năng thanh toán, Nhà nước tổ chức việc trả nợ trong giới hạn của khối tài sản
do người chết để lại
2.1.4 Thực hiện việc trả nợ
Sau khi đã xác định được trách nhiệm về nợ di sản, vấn đề còn lại là làm thế nào
để trả nợ di sản Theo quy định của pháp luật hiện hành thì thực hiện việc trả nợ di sản được thiết lập tùy theo có hay không có quản lý chính thức di sản
Trong trường hợp di sản được quản lý chính thức thì toàn bộ tài sản thuộc di sản
là vật bảo đảm dùng để trả nợ cho các chủ nợ của di sản, chủ nợ của người thừa kế không được phép động đến phần tài sản này Ngược lại, chủ nợ của di sản không có
14
Giả định rằng đã có một quy định về thời hạn lập danh mục di sản và thời hạn đã hết mà người quản lý di sản vẫn chưa lập xong
Trang 34quyền gì đối với tài sản riêng của người thừa kế Việc trả nợ được người quản lý di sản
tổ chức và thực hiện theo một thứ tự bắt buộc do luật định
Trong trường hợp di sản không được quản lý chính thức: khi di sản và các tài sản riêng của người thừa kế bị trộn lẫn và tạo thành một khối thì chủ nợ của di sản cũng như chủ nợ của người thừa kế có quyền yêu cầu kê biên và bán các tài sản thuộc khối
đó để thu hồi nợ Việc trả nợ không được tổ chức theo một thủ tục đặc biệt nào: ai đến trước được trả trước, ai đến sau được trả sau hoặc không được trả do không còn tài sản
2.1.4.1 Trả nợ di sản trong trường hợp có người quản lý chính thức
Về việc trả nợ di sản luật chỉ đề cập đến vai trò của người quản lý chính thức theo định nghĩa của Khoản 1 và 2 Điều 638 BLDS 2005 theo đó người quản lý chính thức có nghĩa vụ quản lý toàn bộ di sản do người có di sản để lại, quyền và nghĩa vụ của người này được quy định tại Điều 639 và 640 BLDS 200515, một nghĩa vụ quan trọng mà người quản lý di sản cần phải thực hiện là lập danh mục di sản để tránh trường hợp lẫn lộn giữa di sản được giao quản lý với tài sản của người quản lý Bên cạnh đó, trong trường hợp người quản lý thực tế nếu được chủ nợ công nhận là có tư cách của một người quản lý chính thức trong việc trả nợ di sản cũng sẽ có quyền thực hiện việc trả nợ như một người quản lý chính thức Người quản lý thực tế chỉ có quyền quản lý tài sản do mình đang thực tế quản lý, người quản lý thực tế có thể trở thành người quản lý chính thức nếu toàn bộ di sản nằm trong tay họ
Việc quản lý chính thức di sản được thiết lập đúng theo các quy định tại Khoản 1
và 2 Điều 638 BLDS 2005 có hiệu lực đối với tất cả mọi người kể cả các chủ nợ của di sản: người quản lý được chỉ định trong di chúc hoặc được những người thừa kế thỏa thuận cử ra là người đại diện hợp pháp của cộng đồng thừa kế và di sản được đặt dưới thẩm quyền của người này, không ai có quyền nói hoặc thỏa thuận khác đi
Việc quản lý di sản được thiết lập theo các quy định tại Khoản 3 Điều 638 BLDS
2005 chỉ được coi là quản lý chính thức đối với chủ nợ nào tự nguyện công nhận tính chất chính thức của việc quản lý Đối với những người khác đó vẫn là quản lý thực tế hay đúng hơn là không có quản lý
Khối tài sản bảo đảm cho việc trả nợ di sản
Quản lý chính thức là sự quản lý của người được chỉ định phù hợp với các quy định của Khoản 1 và 2 Điều 637 BLDS 2005 hoặc là sự quản lý thực tế mà tính chính thức được một hoặc nhiều chủ nợ công nhận Khi có sự quản lý chính thức thì di sản sẽ
15
Xem Điều 639 và 640 Bộ luật dân sự năm 2005