1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

LUẬN văn LUẬT THƯƠNG mại CHẾ ĐỊNH NGƯỜI làm CHỨNG TRONG bộ LUẬT tố TỤNG HÌNH sự 2003

64 204 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 64
Dung lượng 561,45 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mục tiêu nghiên cứu Mục tiêu của việc nghiên cứu đề tài này là làm rõ một số vấn đề lý luận và thực tiễn của chế định NLC ở Việt Nam bao gồm: - Nghiên cứu cơ sở lý luận về vai trò, ý ng

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ

Giáo viên hướng dẫn: Sinh viên thực hiện:

Th.S Mạc Giáng Châu Huỳnh Thị Cẩm Hồng

Bộ môn Tư pháp MSSV: 5085804

Lớp: Thương Mại 2- K34

Cần Thơ, 01/2012

Trang 2

LỜI CẢM TẠ

-   -

Qua bốn năm học tập ở trường Đại học Cần Thơ, em đã tích lũy được những kiến thức vô cùng quý giá và học hỏi được nhiều điều từ tấm gương của quý thầy cô trong trường Em sẽ cố gắng sử dụng những vốn kiến thức này để phục vụ cho quê hương, đất nước sau khi ra trường Trước khi hoàn thành luận văn này em xin chân thành cảm ơn đến:

- Cha mẹ, anh chị em trong gia đình và những người thân luôn nhắc nhở và

động viên em trong suốt quá trình học tập

- Quý thầy cô bộ môn luật Tư pháp cũng như tất cả các giáo viên của khoa Luật trường Đại học Cần Thơ đã tận tình truyền đạt cho em những kiến thức chuyên môn sâu sắc

- Các bạn sinh viên trường Đại học Cần Thơ đặc biệt là các bạn lớp Luật Thương Mại II, K34 đã quan tâm giúp đỡ trong học tập cũng như trong cuộc sống

- Em xin chân thành cảm ơn sâu sắc đến cô Mạc Giáng Châu, bộ môn Tư pháp, trường Đại Học Cần Thơ đã tận tình hướng dẫn, tạo điều kiện thuận lợi, giúp đỡ em trong suốt quá trình nghiên cứu, để em có thể thực hiện tốt luận văn này

Xin chân thành cảm ơn!

Trang 3

NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

……… ………

……….………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI NÓI ĐẦU……….1

CHƯƠNG 1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ NGƯỜI LÀM CHỨNG……….5

1.1 Khái quát chung về người làm chứng……… 5

1.1.1 Định nghĩa người làm chứng……….…… 5

1.1.2 Đặc điểm……….….6

1.1.3 Phân loại………10

1.2 Cơ sở lý luận của chế định NLC trong TTHS Việt Nam……… 12

1.2.1 Bản chất pháp lý của việc làm chứng………12

1.2.2 Vai trò của của lời khai của NLC trong TTHS……… 15

1.2.2.1 Lời khai NLC là một nguồn chứng cứ quan trọng trong việc giải quyết đúng đắn VAHS………15

1.2.2.2 Lời khai NLC trong nghĩa vụ chứng minh……… 16

a) Lời khai của NLC đối với việc làm sáng tỏ sự thật vụ án………17

b) Lời khai của NLC đối với việc bảo vệ pháp luật, bảo vệ những quyền cơ bản của công dân……… 19

c) Vai trò lời khai của NLC trong nghĩa vụ chứng minh đối với công cuộc đấu tranh phòng chống tội phạm………20

CHƯƠNG 2 NHỮNG QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ HIỆN HÀNH VỀ QUYỀN VÀ NGHĨA VỤ CỦA NGƯỜI LÀM CHỨNG…22 2.1 Quyền của NLC……….22

2.1.1 Quyền được bảo vệ về nhân thân và tài sản……… 22

2.1.2 Quyền được khiếu nại………25

2.1.3 Quyền được thanh toán chi phí……… 26

2.2 Nghĩa vụ của NLC……….28

2.2.1 Nghĩa vụ có mặt theo giấy triệu tập của CQTHTT……… 28

Trang 6

2.2.2 Nghĩa vụ khai báo trung thực………31

CHƯƠNG 3 MỘT SỐ BẤT CẬP VÀ PHƯƠNG HƯỚNG HOÀN THIỆN CHẾ ĐỊNH NGƯỜI LÀM CHỨNG……… 33

3.1 Tồn tại về mặt pháp lý……… 33

3.1.1 Quy định quyền làm chứng của NLC………33

3.1.2 Quy định đối tượng không được trở thành NLC……… 35

3.1.3 Về đảm bảo quyền công dân của NLC……… 36

3.1.4 Về đảm bảo quyền tố tụng của NLC……… 38

3.1.5 Vấn đề đãi ngộ NLC……… 41

3.1.6 Quy định trách nhiệm của CQTHTT và người tiến hành tố tụng… 44

3.1.7 Quy định về quyền được bảo đảm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, tài sản, quyền và lợi ích khác của NLC và người thân của NLC………45

3.1.8 Về quyền khiếu nại của NLC……….47

3.2 Vấn đề thực tiễn……….49

3.2.1 Quy định về NLC là trẻ em………49

3.2.2 Quy định về quyền miễn trừ làm chứng………51

KẾT LUẬN………55

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 7

LI NÓI ĐẦ U

1.Tính cấp thiết của đề tài

Đi đôi với quá trình hội nhập phát triển kinh tế là yêu cầu xây dựng một xã hội

có những thiết chế pháp luật chặt chẽ và cụ thể, theo đó chế định “người làm chứng” phải được quy định cụ thể đảm bảo tính phù hợp với thực tế khách quan và đảm bảo tính thi hành Chế định “người làm chứng” được quy định trong BLTTHS Việt Nam là

cơ sở pháp lý quan trọng để bảo vệ NLC, là chủ thể góp phần xác định rõ sự thật khách quan của vụ án Là một trong những chế định lâu đời trong hệ thống pháp luật nước ta cũng như nhiều nước trên thế giới, xuất phát từ lời khai của NLC là một trong những chứng cứ có vai trò rất quan trọng giúp vụ án được sáng tỏ Cùng với quá trình hội nhập, sự hoàn thiện chế định pháp luật NLC và sự bảo đảm của nhà nước về địa vị pháp lý của NLC sẽ có ý nghĩa thiết thực trong việc bảo vệ quyền lợi của con người, quyền lợi của toàn xã hội nói chung cũng như quyền lợi của NLC nói riêng; góp phần củng cố niềm tin của nhân dân vào sự công minh của pháp luật, của Nhà nước và đồng thời góp phần quan trọng để xây dựng Nhà nước pháp quyền Xã hội chủ nghĩa vững mạnh

Cùng với sự phát triển của nền kinh tế - chính trị xã hội thì vấn đề tội phạm cũng ngày càng tinh vi và nguy hiểm, đặc biệt là tội phạm có tổ chức Hoạt động xét xử

ở nước ta cũng như ở một số nước trên thế giới hiện nay đang gặp phải trở ngại to lớn

là sự tác động của giới tội phạm đối với những NLC và người thân của họ Các hình thức cưỡng bức NLC để họ không hợp tác với CQTHTT thông qua việc trình bày lời khai gian dối, phản cung, không khai báo… ngày càng tinh vi và phức tạp hơn Do điều kiện khách quan cũng như chủ quan, nên việc ban hành chế định NLC trong BLTHHS năm 2003 còn có nhiều bất cập, công tác áp dụng pháp luật vào thực tiễn thì còn chưa nghiêm chỉnh Đòi hỏi cấp thiết đặt ra là cần phải xây dựng một chế định NLC hoàn thiện hơn, cụ thể hơn Đồng thời cũng cần có nhiều công trình tìm hiểu, nghiên cứu về

đề tài này hơn nữa để đáp ứng được tình hình mới là một trong những yêu cầu rất cấp

thiết được đặt ra

Việc bất cập trong pháp luật cũng như trong thực tiễn về NLC, dẫn đến thực trạng NLC không nhiệt tình trong khi hợp tác với CQTHTT, nhiệm vụ của hoạt động

Trang 8

Đồng thời cũng gây hoang mang trong dư luận, là một “mảng” để các phần tử phản động lợi dụng chống phá Đảng và Chính quyền nhà nước.

Các chế định về NLC ở nước ta đã trải qua những thăng trầm nhất định Hiện nay, Nhà nước ta đã ban hành và sửa đổi ngày càng hoàn thiện chế định NLC trong BLTTHS Theo đó, chế định NLC đã được thay đổi theo hướng mở rộng quyền của họ

và những biện pháp bảo đảm tố tụng cho các quyền đó Tuy nhiên, những quy định về NLC trong BLTTHS năm 2003 vẫn chưa tạo cơ sở pháp lý phù hợp để khuyến khích NLC tích cực thực hiện nghĩa vụ công dân của mình - hợp tác với Nhà nước trong đấu tranh phòng chống tội phạm và xác minh sự thật khách quan của vụ án - chưa thực sự bảo đảm các quyền, lợi ích chính đáng của NLC … Trong khi đó, hoạt động của tội phạm thì lại ngày càng nguy hiểm và táo tợn hơn trong việc trả thù, đe dọa hành hung, hành hung NLC Hiện nay, những quy định về NLC trong pháp luật hiện hành còn khá nhiều những bất cập trong nội dung cũng như chưa có cơ chế giải quyết

Từ những vấn đề trên, NLC trong VAHS nhất là trong các vụ án lớn NLC thường ít ra làm chứng, từ chối làm chứng, khi khai báo thì lại chịu tác động của nhiều yếu tố khách quan và chủ quan chi phối… gây ra thiệt hại lớn cho nhà nước và xã hội Cùng với việc đẩy mạnh hội nhập phát triển kinh tế - xã hội, Đảng và Nhà nước ta cũng đã tiến hành cải cách tư pháp, hoàn thiện hệ thống pháp luật trong nước, phù hợp với quá trình hội nhập quốc tế, trong đó chế định về NLC là một dẫn chứng cụ thể

Qua những phân tích trên, nhiệm vụ tìm hiểu và hoàn thiện chế định về NLC trong BLTTHS là một yêu cầu cấp thiết đặt ra hiện nay Từ những lý do trên, cùng với mong muốn tìm hiểu thực tiễn áp dụng các quy định pháp luật về NLC ở Việt Nam

trong thời gian qua, sinh viên đã mạnh dạn chọn đề tài: “Chế định người làm chứng

trong bộ luật tố tụng hình sự Việt nam” làm đề tài nghiên cứu khoa học của mình.

2

Phạm vi nghiên cứu đề tài

Vì thời gian có hạn nên sinh viên chưa có điều kiện đi sâu nghiên cứu tất cả các quy định về NLC, mà chỉ nghiên cứu những vấn đề cơ bản về NLC được quy định trong BLTTHS năm 2003 Việt Nam bao gồm đặc điểm, quyền và nghĩa vụ của NLC…từ đó thấy được những bất cập trong quy định của Luật cũng như trong thực tiển áp dụng, mà không đi sâu phân tích trình tự thủ tục triệu tập NLC, quá trình tham

Trang 9

gia tố tụng của NLC Vì sinh viên muốn tập trung nghiên cứu những quy định cơ bản của BLTTHS năm 2003 về NLC để có cái nhìn tổng quát và rút ra những kết luận làm căn cứ trong việc bảo vệ quyền con người của NLC, nâng cao tính thực thi của pháp luật trong vấn đề bảo vệ NLC cũng như những ưu đãi cho họ để góp phần nâng cao hiệu quả tố tụng.

4

Mục tiêu nghiên cứu

Mục tiêu của việc nghiên cứu đề tài này là làm rõ một số vấn đề lý luận và thực tiễn của chế định NLC ở Việt Nam bao gồm:

- Nghiên cứu cơ sở lý luận về vai trò, ý nghĩa cũng như quyền và nghĩa vụ của chế định NLC theo quy định của BLTTHS năm 2003;

- Phân tích, đánh giá tính khả thi của pháp luật về chế định NLC trong thực tiễn,

từ đó nêu lên những bất cập tồn tại trong quy định của Luật cũng như trong quá trình

áp dụng luật;

- Tìm hiểu đề ra những giải pháp, phương hướng hoàn thiện các quy định pháp luật và việc áp dụng thống nhất pháp luật của chế định này, nhất là vấn đề tạo cơ sở pháp lý vững chắc trong hoạt động bảo vệ NLC;

- Góp phần nâng cao hiểu biết pháp luật cho mọi người nhất là cho NLC, giúp

họ ra tố giác tội phạm và ra làm chứng bảo vệ công lý một cách mạnh dạn hơn;

- Nâng cao trình độ hiểu biết pháp luật, lý luận của bản thân về vấn đề này

5

Phương pháp nghiên cứu đề tài

Để có được kết quả trình bày trong đề tài, trên cơ sở những kiến thức đã được

trang bị trong quá trình học tập tại trường, sinh viên đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau: phương pháp phân tích, so sánh các quy định hiện hành của Luật: đây

là các phương pháp quan trọng và được sinh viên sử dụng chủ yếu trong quá trình thực hiện đề tài của mình; thu thập, tổng hợp, phân tích các văn bản quy phạm pháp luật, tài liệu có liên quan đến chế định NLC; nghiên cứu thực tiễn như sưu tầm và phân tích các bất cập trong các vụ án có NLC kết hợp chứng minh làm rõ vấn đề làm rõ chế định

Trang 10

6 Bố cục của đề tài

Đề tài nghiên cứu của sinh viên ngoài những viết tắt, lời nói đầu, kết luận và

danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của đề tài gồm các phần sau:

Chương 1 Lý luận chung về người làm chứng

Chương 2 Những quy định của pháp luật tố tụng hình sự hiện hành về quyền và nghĩa vụ của người làm chứng

Chương 3 Một số tồn tại và phương hướng hoàn thiện chế định người làm chứng

Hy vọng rằng bằng lòng nhiệt huyết, sức trẻ và những kiến thức đã và đang

được trang bị, tích lũy trên ghế nhà trường, cùng sự với sự giúp đỡ, chỉ dẫn tận tình của

tập thể các thầy cô giáo Trường Đại Học Cần Thơ, nhất là Thạc sỹ Mạc Giáng Châu –

bộ môn Tư pháp, Khoa Luật, trường Đại Học Cần Thơ, đã tạo điều kiện để em có thể

đi sâu phân tích, đánh giá và rút ra những kết luận mang tính khoa học, thực tế nhằm

góp phần hoàn thiện địa vị pháp lý của NLC đã hình thành và tồn tại trong quy định của pháp luật

Là một sinh viên năm cuối, lần đầu tiên làm quen với một đề tài nghiên cứu khoa học mà thời gian nghiên cứu còn hạn chế cũng như vốn kiến thức hiểu biết có giới hạn Vì vậy, có những thiếu sót, khiếm khuyết hay sai lầm trong đề tài nghiên cứu này là điều không thể tránh khỏi Sinh viên rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến

đánh giá, phê bình của thầy cô, các nhà nghiên cứu pháp luật và các bạn sinh viên

Trang 11

CHƯƠNG 1

LÝ LUẬN CHUNG VỀ NGƯỜI LÀM CHỨNG

1.1 Khái quát chung về người làm chứng

1.1.1 Định nghĩa người làm chứng

Theo hệ thống pháp luật TTHS của nhiều nước trong đó có hệ thống pháp luật TTHS của Việt Nam, chế định “người làm chứng” là một trong những chế định hình thành từ rất lâu đời Trải qua những thăng trầm nhất định trong quá trình hoàn thiện hệ thống pháp luật TTHS, cho đến nay chế định NLC trong BLTTHS 2003 cơ bản đã

được xây dựng một cách đầy đủ và hoàn thiện, góp phần phát huy được vai trò tích cực

của NLC trong quá trình giải quyết các VAHS

Tuy nhiên, cho đến nay vẫn chưa có một văn bản nào đưa ra định nghĩa thống nhất về NLC, và mặc dù BLTTHS năm 2003 không nêu một cách cụ thể khái niệm về

NLC nhưng căn cứ vào quy định tại Điều 55 là “người nào biết được những tình tiết

liên quan đến VAHS đều có thể được triệu tập đến làm chứng” thì theo đó NLC được

hiểu là người biết được những tình tiết có liên quan đến VAHS chẳng hạn như thời gian, địa điểm xảy ra vụ án, động cơ, mục đích, người thực hiện tội phạm… và được CQTHTT như CQĐT, VKS, TA triệu tập đến để làm chứng, khai báo thành thật tất cả những gì mình biết có liên quan tới vụ án với cơ quan có thẩm quyền để góp phần làm sáng tỏ vụ án đó

Thuật ngữ “người làm chứng” trong dân gian thường gọi là “nhân chứng” thì chỉ

đơn thuần là người mà theo đó bằng mắt thấy tai nghe, họ chứng kiến hay nghe được

một hoặc một số tình tiết liên quan đến VAHS hoặc do một số nguồn thông tin khác cung cấp mà biết

Nói tóm lại, NLC là người biết được những tình tiết có liên quan đến VAHS hoặc những tình tiết có giá trị chứng minh, làm sáng tỏ vụ án đó và tham gia vào quá trình tố tụng để cùng với CQTHTT tìm ra sự thật khách quan của VAHS trên cơ sở triệu tập của của những cơ quan có thẩm quyền

Trang 12

1.1.2 Đặc điểm

Cũng giống như các chế định khác trong hệ thống pháp luật TTHS thì NLC cũng có những đặc điểm pháp lý đặc thù, tìm hiểu về những đặc điểm đó để có cách hiểu thống nhất và đúng đắn từ đó khai thác và tận dụng vai trò của NLC trong TTHS một cách hiệu quả nhất và đạt mục đích tố tụng

Trong khoa học pháp lý TTHS để được thừa nhận là NLC thì đòi hỏi phải thỏa mãn hai yếu tố bắt buộc là NLC phải biết được những tình tiết liên quan đến VAHS và phải được triệu tập bởi CQTHTT Trước hết, NLC phải là người biết những tình tiết cần phải chứng minh, làm sáng tỏ trong VAHS,1 vì xuất phát từ mục đích của sự có mặt của NLC, vai trò của NLC trong TTHS, mà yêu cầu NLC phải biết được các tình tiết cần được chứng minh, cần được làm sáng tỏ trong VAHS là yếu tố bắt buộc NLC cùng với CQTHTT, người THTT và những người tham gia tố tụng khác cùng nhau đi tìm sự thật khách quan của VAHS, do đó NLC khi tham gia vào quá trình tố tụng, phải

là người biết được những tình tiết có liên quan tới VAHS, bằng việc cung cấp lời khai một cách cụ thể và thành thật, mới có thể tham gia vào quá trình làm sáng tỏ VAHS,

đạt được mục đích tố tụng và yêu cầu của BLTTHS đặt ra Thứ hai, người đó phải được CQTHTT triệu tập đến để tham gia vào quá trình điều tra, hợp tác và khai báo về

những tình tiết cần xác minh, làm sáng tỏ trong VAHS mà mình biết, NLC tham gia vào vụ án trên cơ sở quyết định triệu tập của CQTHTT Chỉ được trở thành NLC trong TTHS nếu được CQTHTT triệu tập bởi vì BLTTHS chỉ coi việc làm chứng là nghĩa vụ phải làm của công dân, chứ không phải là quyền mà công dân được hưởng, trên cơ sở xác định và triệu tập của CQTHTT Những cơ quan có thẩm quyền đó nhân danh Nhà Nước, để triệu tập NLC đến và giao cho họ nhiệm vụ làm chứng trên cơ sở xác định họ

có đầy đủ điều kiện để trở thành NLC hoặc có khả năng làm tròn nghĩa vụ của NLC hay không, chứ bản thân họ không tự có được quyền này Ngoài ra, việc triệu tập NLC phải tuân theo một trình tự thủ tục nhất định của BLTTHS để đảm bảo áp dụng thống

1 “ Có hành vi phạm tội xảy ra hay không, thời gian, địa điểm và những tình tiết khác của hành vi phạm tội; Ai là người thực hiện hành vi phạm tội; có lỗi hay không có lỗi, do cố ý hay vô ý; có năng lực trách nhiệm hình sự hay không; mục đích, động cơ phạm tội; Những tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình

sự của bị can, bị cáo và những đặc điểm về nhân thân của bị can, bị cáo; Tính chất và mức độ thiệt hại do hành

vi phạm tội gây ra” (Điều 63 BLTTHS 2003)

Trang 13

nhất, đồng bộ và đạt được hiệu quả cao Sở dĩ có quy định này là vì đảm bảo tính cần thiết của việc lấy lời khai NLC CQTHTT là cơ quan chuyên môn trong việc điều tra, giải quyết VAHS trên cơ sở nghiệp vụ, kinh nghiệm và khả ngăn phân tích sẽ đánh giá

được mức độ cần thiết và tầm quan trọng như thế nào trong việc lấy lời khai của NLC

này mà không phải là người khác, giả sử nếu như ai biết được tình tiết có liên quan đến

vụ án đang được điều tra cũng đều đến khai báo với CQTHTT mà không cần thông qua việc triệu tập của CQTHTT thì dẫn đến hiện tượng mất trật tự, không có hệ thống trong việc lấy lời khai NLC, chưa kể đến việc làm mất thời gian, công sức và tiền bạc của Ngân sách nhà nước khi bố trí nhân lực cho việc lấy lời khai của NLC nếu như những người đó cung cấp lời khai không có giá trị chứng minh trong vụ án Thêm vào đó, việc này rất dễ xãy ra tình trạng xuyên tạc, vu khống, cho lời khai giả nhằm làm mất danh

dự, uy tín của người khác Từ đó, nhận thấy rằng, cả hai yêu cầu trên liên quan mật thiết và bổ sung cho nhau Biết những tình tiết có liên quan đến vụ án, những tình tiết

có tác dụng chứng minh, làm sáng tỏ trong VAHS là điều kiện về mặt nội dung để có thể trở thành NLC, đó cũng là điều kiện cần, điều kiện tiên quyết làm tiền đề đảm bảo NLC có thể thực hiện vai trò tố tụng với tư cách NLC Bên cạnh đó, sự triệu tập của CQTHTT lại là điều kiện đủ và là điều kiện về mặt hình thức để hợp thức hóa vai trò NLC trong TTHS

Thứ 3, về chủ thể là NLC, theo quy định của pháp luật TTHS Việt Nam thì

những đối tượng sau đây không được trở thành NLC “Người bào chữa của bị can, bị

cáo; Người do có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất mà không có khả năng nhận thức được những tình tiết của vụ án hoặc không có khả năng khai báo đúng đắn”

(Khoản 2 Điều 55 BLTTHS) Theo đó người bào chữa có thể là “Luật sư; Người đại

diện hợp pháp của bị can, bị cáo; Bào chữa viên nhân dân” (Điều 35 BLTTHS 2003)

với vai trò tố tụng của mình là “Người bào chữa trong tố tụng hình sự là người tham

gia tố tụng để chứng minh sự vô tội hoặc làm giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của người

bị buộc tội, giúp người bị buộc tội về mặt pháp lý nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ, thông qua đó góp phần bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa”.2 Việc quy

định không cho người bào chữa của bị can, bị cáo được trở thành NLC vì hai lý do sau

2

ThS Trần Văn Bảy, Người bào chữa trong tố tụng hình sự, tạp chí khoa hoc pháp lý, Trường Đại Học

Luật Thành phố Hồ Chí Minh, số 1 (40), năm 2011

Trang 14

Thứ nhất là để bảo vệ quyền lợi của bị can, bị cáo Do đặc thù công việc, người bào chữa tham gia tố tụng từ rất sớm,3 nên họ dễ dàng tiếp xúc với bị can, bị cáo và tìm hiểu kỹ VAHS ngay từ đầu, họ biết rõ và thu thập được nhiều những thông tin, tình tiết của vụ án có lợi hoặc có hại cho bị can, bị cáo Thế nên nếu được làm chứng rất có thể người bào chữa sẽ đưa ra những chứng cứ mà người bào chữa đã thu thập được trong quá trình tìm hiểu vụ án mà đó có thể gây bất lợi hoặc là căn cứ để khởi tố bị can hoặc

là căn cứ buộc tội bị cáo, tình tiết tăng nặng, hoặc định khung hình phạt… Thêm vào

đó thì người bào chữa cũng đã làm trái đi nghĩa vụ của mình là “làm sáng tỏ những

tình tiết xác định người bị tạm giữ, bị can, bị cáo vô tội, những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị can, bị cáo; Giúp người bị tạm giữ, bị can, bị cáo về mặt pháp lý nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ; Không được tiết lộ bí mật điều tra mà mình biết được khi thực hiện việc bào chữa” (Khoản 3 Điều 58 BLTTHS 2003) và họ

đã vi phạm vào một trong những quy định về hành vi bi nghiêm cấm “Tiết lộ thông tin

về vụ, việc, về khách hàng mà mình biết được trong khi hành nghề, trừ trường hợp

được khách hàng đồng ý bằng văn bản hoặc pháp luật có quy định khác” (Điểm c

Khoản 1 Điều 9 Luật Luật Sư 2006) Quy định cấm người bào chữa tham gia vào tố tụng với tư cách là NLC cũng nhằm đảm bảo cho họ có thời gian để tập trung sức lực, chuyên tâm thực hiện tốt vai trò bào chữa của mình, giúp bị can, bị cáo trong việc chứng minh mình vô tội hoặc làm nhẹ trách nhiệm hình sự theo đúng quy định của pháp luật, hỗ trợ cần thiết về mặt pháp lý cho bị can, bị cáo trong quá trình tố tụng Thứ hai, là để đảm bảo tính khách quan trong lời khai của NLC, như đã phân tích thì người bào chữa là người biết rõ nhiều thông tin, tình tiết của vụ án, người bào chữa lại tiếp xúc và có nhiều mối liên hệ chẳng hạn về vật chất, tinh thần với bị can, bị cáo, thế nên nếu được làm chứng thì lời khai của người bào chữa sẽ bị chi phối bởi nhiều yếu tố

và không còn khách quan nữa, điều đó thì hoàn toàn đi ngược lại những gì mà BLTTHS đang hướng tới, chẳng hạn để đảm bảo yếu tố khách quan trong lời khai của

NLC mà BLTTHS 2003 có quy định “Trước khi người làm chứng được hỏi về vụ án,

chủ tọa phiên tòa có thể quyết định những biện pháp để cho những người làm chứng

3

“Người bào chữa tham gia tố tụng từ khi khởi tố bị can Trong trường hợp bắt người trong trường hợp khẩn cấp và Bắt người phạm tội quả tang hoặc đang bị truy nã của Bộ luật này thì người bào chữa tham gia tố tụng từ khi có quyết định tạm giữ Trong trường hợp cần giữ bí mật điều tra đối với tội xâm phạm an ninh quốc gia, thì Viện trưởng Viện kiểm sát quyết định để người bào chữa tham gia tố tụng từ khi kết thúc điều tra”

(Khoản 1 Điều 58 BLTTHS 2003)

Trang 15

không nghe được lời khai của nhau hoặc tiếp xúc với những người có liên quan Trong trường hợp lời khai của bị cáo và người làm chứng có ảnh hưởng lẫn nhau thì chủ tọa phiên tòa có thể quyết định cách ly bị cáo với người làm chứng trước khi hỏi người làm chứng” (Khoản 2 Điều 204 BLTTHS 2003) Loại người thứ hai không được luật

cho phép làm NLC đó là “Người do có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất mà

không có khả năng nhận thức được những tình tiết của vụ án hoặc không có khả năng khai báo đúng đắn” (Điểm b Khoản 2 Điều 55 BLTTHS 2003) Việc hạn chế quyền tố

tụng của loại người này trong việc trở thành NLC là điều dễ hiểu bởi khi tham gia tố tụng với tư cách là NLC thì họ chẳng nhận thức được hoặc khai báo đúng đắn được sự việc mà họ đã thấy hoặc nghe, tác dụng chứng minh và làm sáng tỏ vụ án từ lời khai của họ không có, mục đích của TTHS không đạt được, thì việc hạn chế đó là điều hợp

Thứ 4, về quyền pháp lý mà pháp luật TTHS trang bị cho NLC Không phụ thuộc vào chức vụ, trình độ học vấn, công sức đóng góp làm sáng tỏ VAHS khi tham gia vào quá trình tố tụng thì NLC đều được hưởng một số quyền và một số nghĩa vụ nhất định mà BLTTHS năm 2003 quy định Điều 55 BLTTHS 2003 quy định NLC có

quyền “Yêu cầu cơ quan triệu tập họ bảo vệ tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm,

tài sản và các quyền, lợi ích hợp pháp khác của mình khi tham gia tố tụng; Khiếu nại quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng; Được

cơ quan triệu tập thanh toán chi phí đi lại và những chi phí khác theo quy định của pháp luật” NLC có nghĩa vụ “Có mặt theo giấy triệu tập của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Toà án; trong trường hợp cố ý không đến mà không có lý do chính đáng và việc vắng mặt của họ gây trở ngại cho việc điều tra, truy tố, xét xử thì có thể bị dẫn giải; Khai trung thực tất cả những tình tiết mà mình biết về vụ án” BLTTHS 2003 tiến

bộ đã trao cho NLC một số quyền khi thực hiện nhiệm vụ tố tụng của mình thể hiện

tính nhân đạo của Nhà Nước trong việc tôn trọng “quyền con người” được quy định trong Hiến Pháp 1992 và nguyên tắc “tôn trọng và bảo vệ các quyền cơ bản của công

dân” được thừa nhận tại Điều 4 BLTTHS 2003 Nhưng cần nhận thấy rằng BLTTHS

2003 đã trao cho NLC một số quyền nhất định chỉ là để đảm bảo cho NLC thực hiện nghĩa vụ làm chứng của họ, hay chỉ để đề phòng, khắc phục những hậu quả, bù đắp những mất mát của việc làm chứng gây ra, chứ ngoài ra NLC không có một quyền lợi vất chất hay quyền lợi cá nhân nào từ những quy định về quyền của NLC

Trang 16

1.1.3 Phân loại

Việc phân loại NLC thành nhiều loại khác nhau căn cứ vào một hoặc một số

điểm chung như ngôn ngữ, tuổi tác hay quốc tịch… có ý nghĩa rất quan trọng trong

việc hình thành những quy định của pháp luật để điều chỉnh từng loại đối tượng, hoặc

có những phương pháp điều chỉnh, nghiệp vụ linh hoạt, thích hợp hơn cho từng loại đối tượng cụ thể Về cơ bản, có thể phân loại NLC thành những nhóm chính sau:

a) Căn cứ vào độ tuổi, có thể chia NLC thành hai loại

NLC là người đã thành niên: Tại điều 18 BLDS 2005 về người thành niên và

chưa thành niên có quy định cụ thể “Người từ đủ mười tám tuổi trở lên là người thành

niên” theo đó NLC là người thành niên là người từ đủ 18 tuổi trở lên NLC loại này là

người đã trưởng thành về mặt tâm lý và sinh lý, họ có đầy đủ khả năng tự mình thực hiện quyền và nghĩa vụ theo quy định của pháp luật Pháp luật TTHS quy định tương

đối đầy đủ về nghĩa vụ mà một NLC thành niên phải thực hiện

NLC là người chưa thành niên: Tại điều 18 BLDS 2005 về người thành niên và

chưa thành niên có quy định cụ thể “Người chưa đủ mười tám tuổi là người chưa thành

niên” theo đó NLC là người chưa thành niên là người chưa đủ 18 tuổi BLTTHS 2003

quy định NLC là người không thể thay thế trong tố tụng, tức là không thể tham gia tố tụng thông qua chế định ủy quyền mà phải tham gia tố tụng để trực tiếp khai báo cho CQTHTT về những điều mình biết liên quan đến vụ án và, khi cần thiết thì tham gia

đối chất với NBH, với các NLC khác khi có mâu thuẫn trong lời khai, hoặc tham gia

thực nghiệm điều tra để giúp làm sáng tỏ các tình tiết của vụ án… thêm vào đó thì Luật không khống chế độ tuổi để được trở thành NLC nên bất cứ người nào kể cả trẻ em, người tàn tật, người bị hạn chế về thể chất nhưng chưa đến nỗi bị mất khả năng nhận thức… thì họ sẽ được CQTHTT triệu tập để khai báo về những gì mà họ biết, thế nên rất khó để bảo đảm cho họ các quyền mà luật chuyên ngành quy định hoặc có các quy

định không thống nhất giữa BLTTHS và Luật chuyên ngành điều chỉnh cho đối tượng

đó vì BLTTHS chưa phân loại NLC theo một tiêu chí cụ thể nào

Một đối tượng đặt biệt trong nhóm này là NLC là trẻ em – loại NLC này là chủ thể được bảo vệ bởi các văn bản pháp luật khác như Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em… Trẻ em là đối tượng chưa bị ảnh hưởng nặng nề của những quan hệ kinh tế và

Trang 17

xã hội mà người lớn thường mắc phải, nên việc lấy lời khai của đối tượng này thu được giá trị chứng minh cao trong VAHS Cũng chính vì thế mà quá trình tố tụng đối với trẻ

em sẽ ít nhiều ảnh hưởng đến tâm hồn và nhận thức thơ ngây của trẻ Thế nên, nếu không có một quy định riêng về trình tự, thủ tục tiến hành tố tụng trong việc lấy lời khai của NLC là trẻ em thì sẽ mang lại những ảnh hưởng xấu đến tâm sinh lý của loại

đối tượng này

b) Căn cứ vào quốc tịch, có thể chia NLC thành hai loại

NLC là người việt nam: Tại khoản 1 điều 5 Luật Quốc Tịch Việt Nam 2008 có

quy định “Người có quốc tịch Việt Nam là công dân Việt Nam” Vì thế NLC là người

Việt Nam có nghĩa là NLC có quốc tịch việt Nam

NLC là người nước ngoài: Người nước ngoài là người không có quốc tịch Việt Nam bao gồm: người có quốc tịch nước ngoài mà không có quốc tịch Việt Nam và người không quốc tịch Như vậy NLC loại này bao gồm NLC không có quốc tịch Việt Nam và NLC không có quốc tịch của bất cứ một quốc gia nào Khi tiến hành tố tụng với loại đối tượng này phải được tiến hành thông qua cơ quan tư pháp ở nước mà NLC này có quốc tịch và phải được sự hỗ trợ, hợp tác của cơ quan này

c) Căn cứ vào đặc điểm ngôn ngữ, có thể chia NLC thành hai loại

NLC nói được tiếng Việt: là NLC có thể giao tiếp được bằng tiếng Việt Quá trình tố tụng với loại đối tượng này rất dễ trong việc giao tiếp và lấy lời khai, trao đổi thông tin trực tiếp mà không cần phải thông qua một người trung gian – người phiên dịch

NLC không nói được tiếng Việt: là người không giao tiếp được bằng tiếng Việt Thông thường đối tượng này bao gồm người nước ngoài và người dân tộc thiểu số, họ không biết, không thể giao tiếp hoặc biết mà không diễn đạt ý mình muốn nói bằng tiếng việt một cách trọn vẹn và đầy đủ Quá trình tố tụng đối với đối tượng này không thể thực hiện một cách trực tiếp mà phải thông qua người phiên dịch BLTTHS năm

2003 không trao cho NLC quyền được lựa chọn người phiên dịch, điều đó không chỉ vi phạm quyền tố tụng của NLC mà còn ảnh hưởng đến hiệu quả của quá trình tố tụng

Trang 18

d) Căn cứ vào lời khai của NLC có thể chia NLC thành hai loại

Về bản chất thì tác dụng chính của lời khai của NLC chỉ là ở giá trị chứng minh

sự thật cho VAHS, mặc dù có những đối trọng với nhau trong lời khai NLC nhưng chung quy tất cả những lời khai đều có tác dụng chứng minh, làm sáng tỏ các tình tiết trong VAHS, nhưng thông thường thì lời khai của NLC có thể bất lợi hoặc có thể có lợi cho bị can, bị cáo hoặc NBH, nên khi căn cứ vào đặc điểm này có thể chia NLC thành hai loại sau

NLC có lời khai có giá trị bảo vệ người bị tình nghi: là loại NLC mà lời khai của

họ có lợi cho bên bị can, bị cáo Lời khai của NLC loại này thì có vai trò bào chữa theo hướng chứng minh những tình tiết trong VAHS giúp bị can, bị cáo trong việc chứng minh mình vô tội hoặc làm nhẹ trách nhiệm hình sự theo đúng quy định của pháp luật

NLC có lời khai buộc tội: Lời khai của NLC loại này thì trình bày những tình tiết buộc tội, tăng nặng tội cho bị can, bị cáo Tác dụng chứng minh tội phạm thể hiện

rõ gàng trong lời khai của NLC loại này Tuy nhiên, trong một trường hợp đặc biệt lời khai của NLC chẳng những bất lợi có bị can hoặc bị cáo mà còn trở thành một trong những căn cứ để chống lại chính NLC – là một căn cứ khởi tố bị can đối với chính NLC đó

Ngoài ra, còn rất nhiều cách phân loại NLC khác nữa như căn cứ vào giới tính, trình độ học vấn Nhưng chung quy lại, thì tác dụng chính của việc phân loại chủ yếu

là xây dựng những quy định phù hợp và phương pháp nghiệp vụ điều chỉnh thích hợp cho từng loại đối tượng NLC, giúp cho chế định NLC ngày càng phát huy vai trò tốt hơn trong TTHS

1.2 Cơ sở lý luận của chế định NLC trong TTHS Việt Nam

1.2.1 Bản chất pháp lý của việc làm chứng

Mỗi chế định trong BLTTHS đều có một địa vị pháp lý nhất định Tìm hiểu vị trí pháp lý của NLC sẽ thấy được vai trò và tầm quan trọng của chế định NLC trong BLTTHS

Trang 19

Địa vị pháp lý của NLC trong lý luận TTHS không được định nghĩa một cách cụ

thể, nên đôi khi có sự nhầm lẫn hay những cách hiểu không thống nhất về bản chất pháp lý của NLC NLC là chủ thể tham gia tố tụng chỉ với tư cách là người phối hợp với CQTHTT trong quá trình giải quyết và làm sáng tỏ vụ án, với mong muốn duy nhất

là tìm ra sự thật khách quan của VAHS Nhìn chung, khi tham gia vào TTHS, NLC là chủ thể không có sự quan tâm pháp lý về kết cục của vụ án Lý do tham gia của NLC trong TTHS không phải lợi ích cá nhân của họ, mà là lợi ích của bị can, bị cáo, NBH, của CQTHTT và lợi ích chung của xã hội: đó là làm sáng tỏ sự thật khách quan của vụ

án, NLC hoàn toàn không được bất cứ quyền lợi về mặt vật chất nào từ việc làm chứng Sự tham gia của họ góp phần vào việc chứng minh, làm sáng tỏ sự thật khách quan của VAHS Khi so sánh vai trò, chức năng tố tụng của NLC với NBH và bị can,

bị cáo sẽ nhận thấy rõ sự khác biệt về tư cách tố tụng của NLC với các chủ thể khác trong TTHS Theo đó NBH tham gia tố tụng với tư cách là chủ thể buộc tội, thực hiện quyền công dân và quyền tố tụng, cùng với CQTHTT xác định có tội phạm xảy ra, bảo

vệ quyền lợi của mình Cũng giống NBH, bị can, bị cáo tham gia vào tố tụng với tư cách chủ thể rõ ràng là vì lợi ích cá nhân của mình Trong khi đó, NLC tham gia tố tụng chỉ với tư cách là người phối hợp với CQTHTT trong quá trình giải quyết vụ án, tham gia tố tụng không vì lợi ích cá nhân Bằng việc cung cấp lời khai mà mình biết có liên quan với VAHS, NLC làm sáng tỏ những tình tiết cần thiết trong quá trình điều tra, chứng minh tội phạm Đối với NLC thì tham gia vào vụ án và trình bày lời khai trung thực tất cả những gì mà mình biết không những là quyền và nghĩa vụ công dân

mà là nghĩa vụ tố tụng của họ Còn đối với nhà nước thì NLC chính là những người phối hợp với nhà nước, với CQTHTT và thật sự Nhà nước cần đến sự hợp tác đó trong công cuộc đấu tranh phòng chống tội phạm

Chức năng chính của NLC là hỗ trợ tư pháp Sẽ dễ dàng nhận thấy được chức năng TTHS của NLC hoặc sự khác biệt giữa chức năng TTHS của NLC với những người tham gia tố tụng khác khi so sánh với vai trò TTHS của NBH Theo đó, NBH là nạn nhân trực tiếp của hành vi tội phạm nên lời khai của họ có thể phản ánh đậm nét hơn những đánh giá, cảm xúc chủ quan về các tình tiết của vụ án so với lời khai của

NLC “Lời khai NBH không chỉ là nguồn chứng cứ làm sáng tỏ sự thật của vụ án mà

còn là lời buộc tội, là công cụ bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của người đó Trình bày lời khai không chỉ là nghĩa vụ tố tụng mà đồng thời còn là quyền tố tụng của

Trang 20

NBH”.4 Ở góc độ này NBH được nhìn nhận là chủ thể thực hiện chức năng buộc tội Còn NLC là người trợ giúp cho CQTHTT trong quá trình điều tra, chứng minh có hay không có hành vi phạm tội, là chủ thể của chức năng hỗ trợ tư pháp - chức năng không

cơ bản trong TTHS Chức năng này hiện chưa được đề cập nhiều trong khoa học TTHS

ở nước ta Sự hạn chế về lý luận khoa học này chính là nguyên nhân chậm thay đổi

trong tư duy lập pháp khi sửa đổi BLTTHS 2003 và thái độ đối xử không công bằng với NLC trong thực tiễn tố tụng

Lời khai NLC là loại chứng cứ được cung cấp và thể hiện bởi con người - tính

cá biệt cao Những thông tin về vụ án được phản ánh và tái hiện lại qua lời khai của những con người cụ thể hoàn toàn khác nhau về tâm lý, về kinh nghiệm xã hội, về tính cách và nhân cách… Thêm vào đó, thì thông thường lời khai của NLC có thể bất lợi hoặc có thể có lợi cho bị can, bị cáo hoặc NBH, nhưng về bản chất thì NLC là chủ thể tham gia tố tụng không có sự quan tâm pháp lý về kết cục của vụ án, mà chỉ là làm sáng tỏ sự thật khách quan của vụ án NLC không có bất cứ một lợi ích vật chất nào trong quá trình tham gia tố tụng Dù lời khai của NLC có lợi cho bên nào thì đứng ở góc độ của NLC đều có sự quan tâm duy nhất là sự thật khách quan của vụ án phải

được làm sáng tỏ và sự tham gia của họ góp phần cho nhiệm vụ đó

Đối với NLC thì tham gia vào vụ án và trình bày lời khai trung thực về tất cả

những gì mà mình biết vừa là quyền và nghĩa vụ công dân vừa là nghĩa vụ tố tụng của

họ Bằng việc tham gia vào TTHS, tham gia vào việc khai báo đúng đắn những gì đã biết có liên quan đến VAHS, góp phần làm rõ sự thật khách quan của vụ án, NLC đã

thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ công dân của mình trong việc “phát hiện, tố giác

hành vi phạm tội; tham gia đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm, góp phần bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, tổ chức” (Khoản 1 Điều

25 BLTTHS 2003) theo quy định của Hiến pháp và pháp luật Bên cạnh đó, việc thực hiện đầy đủ những yêu cầu mà BLTTHS quy định tại Khoản 4 Điều 55 BLTTHS 2003

“Có mặt theo giấy triệu tập của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Toà án; Khai trung

thực tất cả những tình tiết mà mình biết về vụ án”, NLC cũng đã thực hiện đầy đủ

nghĩa vụ tố tụng của mình, góp phần vào công cuộc phòng ngừa và phát hiện tội phạm

4 Nguyễn Thái Phúc, Bảo vệ NLC và quyền miễn trừ làm chứng trong tố tụng hình sự, tạp chí khoa học pháp lý, Trường Đại Học Luật Thành phố Hồ Chí Minh, số 3 (40), năm 2007

Trang 21

1.2.2 Vai trò của của lời khai của NLC trong TTHS

1.2.2.1 Lời khai NLC là một nguồn chứng cứ quan trọng trong việc giải quyết

đúng đắn VAHS

Một VAHS xảy ra bao giờ cũng để lại dấu vết và những dấu vết đó được thể hiện dưới những hình thức khác nhau, có ý nghĩa quan trọng trong việc giải quyết đúng

đắn VAHS, nhằm xác định có hay không có hành vi phạm tội Các CQTHTT sẽ căn cứ

vào những dấu vết đã thu thập được để khởi tố, truy tố hay xét xử một người đã có

hành vi phạm tội Những dấu vết đó được gọi là chứng cứ “Chứng cứ là những gì có

thật, được thu thập theo trình tự, thủ tục do Bộ luật này quy định mà Cơ quan điều tra, VKS và Toà án dùng làm căn cứ để xác định có hay không có hành vi phạm tội, người thực hiện hành vi phạm tội cũng như những tình tiết khác cần thiết cho việc giải quyết

đúng đắn vụ án” (Khoản 1 Điều 64 BLTTHS 2003) Bên cạnh các chứng cứ là “vật

chứng, lời khai của NBH, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa

vụ liên quan đến vụ án, người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo, Kết luận giám

định, Biên bản về hoạt động điều tra, xét xử và các tài liệu, đồ vật khác …” (Khoản 2

Điều 64 BLTTHS năm 2003), thì lời khai của NLC là một nguồn chứng cứ rất quan

trọng cho việc giải quyết đúng đắn VAHS bởi lẽ NLC nắm được diễn biến hoặc một hoặc một số tình tiết của VAHS, hoàn cảnh phạm tội, nhân thân người phạm tội, NBH sẽ cung cấp thông tin hữu ích cho CQTHTT trong việc chứng minh, làm sáng

tỏ vụ án Thêm vào đó thì NLC tham gia tố tụng với tư cách là người vì lợi ích chung, lợi ích xã hội, không có bất cứ lợi ích cá nhân, với mong muốn duy nhất là làm sáng tỏ

vụ án, nên lời khai không phiến diện như lời khai của NBH, bị can, bị cáo… chính vì vậy lời khai của NLC có tác dụng chứng minh càng cao

Hoạt động tố tụng càng có tính tranh tụng bao nhiêu, sự bình đẳng về quyền của các bên trong hoạt động chứng minh càng được thừa nhận đầy đủ bao nhiêu thì lời khai NLC càng quan trọng và được sử dụng phổ biến bấy nhiêu Lời khai NLC là loại chứng

cứ mà được cung cấp và thể hiện qua những con người cụ thể Cho nên lời khai sinh

động, dễ hiểu và cụ thể hơn vật chứng, nó luôn phản ánh đúng đắn những gì mà NLC

muốn biểu hiện, lời khai NLC luôn được hiểu một cách trực tiếp hơn là vật chứng – phải phân tích, làm rõ và tổng hợp với các tình tiết khác mới hiểu được vật chứng đó

đang chứng minh điều gì Và đặc biệt, NLC luôn chịu trách nhiệm về lời khai của

Trang 22

mình, luôn luôn bị ràng buộc về trách nhiệm pháp lý với những gì mình nói, “NLC

phải cam đoan không khai gian dối” (Điều 204, BLTTHS 2003) nên tính chính xác,

xác minh càng cao

Có thể nói là trong tương lai dù khoa học kỹ thuật có phát triển đến đâu đi nữa,

dù máy móc tự động có thể thay thế hoạt động của con người trong nhiều lĩnh vực khác nhau đi chăng nữa thì lời khai NLC vẫn có vai trò to lớn trong hoạt động xét xử Sự phát triển của khoa học kỹ thuật chỉ có thể mở rộng khả năng, làm thuận tiện hơn, dễ dàng hơn quá trình thu thập, lưu trữ, truyền tải và sử dụng lời khai NLC nhưng không thể thay thế được lời khai của NLC Lời khai NLC vẫn là một trong những công cụ không thể thiếu được trong quá trình chứng minh, làm sáng tỏ sự thật khách quan của

vụ án

1.2.2.2 Lời khai NLC trong nghĩa vụ chứng minh

Chứng minh được hiểu “là làm cho thấy rõ là có thật, là đúng bằng sự việc

hoặc bằng lý lẽ”.5 Theo đó, chứng minh trong TTHS là một dạng của hoạt động chứng minh nói chung nhưng khác biệt ở chỗ hoạt động này là hoạt động mang tính chất pháp

lý được điều chỉnh bởi luật TTHS và pháp luật liên quan, được thực hiện bởi các chủ thể có quyền, quá trình chứng minh có hay không có tội phạm đó là nghĩa vụ bắt buộc

của những cơ quan có chức năng như CQĐT, VKS, TA “Trách nhiệm chứng minh tội

phạm thuộc về các cơ quan tiến hành tố tụng Bị can, bị cáo có quyền nhưng không buộc phải chứng minh là mình vô tội” (Đoạn 2 Điều 10 BLTTHS 2003), chứ không

phải thuộc về đương sự như trong tố tụng dân sự 6 và kết quả của hoạt động này sẽ là một bản án, quyết định của TA mang tính chất cưỡng chế thi hành Đó công cụ để TA

có thể nhận thức được chính xác vụ việc đã xảy ra trên thực tế, làm cơ sở để đưa ra phán quyết cho vụ án một cách nhanh chóng, chính xác và khách quan

Trang 23

a) Lời khai của NLC đối với việc làm sáng tỏ sự thật vụ án

Như đã phân tích, thì về bản chất NLC tham gia TTHS với tư cách là người hỗ trợ tư pháp, là người cộng tác với CQTHTT trong quá trình chứng minh, làm sáng tỏ VAHS, chỉ với mong muốn duy nhất là tìm ra sự thật khách quan của vụ án, cho nên tác dụng chính của lời khai của NLC là chứng minh, làm sáng tỏ vụ án, tìm ra sự thật khách quan của vụ án như đúng như bản chất của NLC

Quá trình chứng minh làm sáng tỏ vụ án trong TTHS là nghĩa vụ thuộc về

CQTHTT “Trách nhiệm chứng minh tội phạm thuộc về các cơ quan tiến hành tố tụng”

(Điều 10 BLTTHS năm 2003), trong quá trình đi tìm sự thật của vụ án thì nghĩa vụ chứng minh làm sáng tỏ VAHS là quan trọng nhất và luôn luôn tồn tại trong các giai

đoạn của quá trình tố tụng Từ khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử CQTHTT luôn luôn cố

gắng chứng minh “Có hành vi phạm tội xảy ra hay không, thời gian, địa điểm và

những tình tiết khác của hành vi phạm tội; Ai là người thực hiện hành vi phạm tội; có lỗi hay không có lỗi, do cố ý hay vô ý; có năng lực trách nhiệm hình sự hay không; mục đích, động cơ phạm tội; Những tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị can, bị cáo và những đặc điểm về nhân thân của bị can, bị cáo; Tính chất và mức độ thiệt hại do hành vi phạm tội gây ra” (Điều 63 BLTTHS 2003) và

trong hầu hết các giai đoạn của quá trình tố tụng, thì CQTHTT luôn cần đến sự cộng tác của NLC Bằng việc cung cấp lời khai cho CQTHTT thì khi đó vai trò lời khai của NLC trong việc hỗ trợ CQTHTT trong quá trình chứng minh làm sáng tỏ VAHS được tận dụng triệt để và phát huy tác dụng tối đa

Vì lời khai của NLC chứa đựng những yếu tố mà “họ biết về vụ án, nhân thân

của người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo, NBH, quan hệ giữa họ với người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo, NBH…” (Điều 67 khoản 1 BLTTHS), nên khi căn

cứ vào những gì NLC cung cấp trong lời khai sẽ có tác dụng rất lớn trong quá trình CQTHTT chứng minh làm sáng tỏ vụ án Bởi quá trình chứng minh làm sáng tỏ vụ án

là quá trình đi tìm những gì có liên quan đến vụ án, rồi bằng những phương pháp nghiệp vụ, trên cơ sở phân tích, đánh giá và tổng hợp những chứng cứ thu thập được trong quá trình tố tụng, CQTHTT sẽ rút ra kết luận một cách khoa học và logic nhất về

vụ án đó làm căn cứ cho phán quyết của TA Giống như các chứng cứ khác thì lời khai của NLC luôn chứa đựng những yếu tố có giá trị chứng minh, làm sáng tỏ VAHS Bên

Trang 24

cạnh đó, lời khai của NLC khác với vật chứng ở chỗ là luôn luôn phản ánh đúng đắn và sinh động những gì mà NLC muốn thể hiện hơn là vật chứng vì đó là sự phản ánh của một con người thật, qua lời nói và hành động của mình Đặc biệt, trong trường hợp đối với những vụ án không có chứng cứ nào khác ngoài lời khai của NLC, thì khi đó để giải quyết loại án này, CQTHTT chỉ duy nhất căn cứ vào lời khai của NLC mà vẫn có thể chứng minh, làm sáng tỏ vụ án một cách nhanh chóng và chính xác Thì khi đó tác dụng chứng minh đối với VAHS được thể hiện rõ nét

Ví dụ như liên quan đến vụ án cứu người bị nạn, hai cảnh sát giao thông bị nghi oan” như Pháp Luật TP.HCM đã phản ánh ngày 29-11-2011 Vào khoảng hơn 20 giờ ngày 26-11, hai CSGT là Thiếu úy Nguyễn Thanh Tùng và Thiếu úy Đào Minh Lâm (Đội cảnh sát giao thông An Lạc, Phòng cảnh sát giao thông đường bộ - đường sắt, Công an TP.HCM) đang làm nhiệm vụ trên quốc lộ 1A (đoạn qua phường Bình Hưng Hòa B, quận Bình Tân) thì được người dân thông báo có một vụ tai nạn gần đó, người

bị nạn là ông Phạm Viết Hưng (51 tuổi, ngụ quận Bình Tân) trong tình trạng nguy kịch

Do đó, hai cảnh sát giao thông đó đến tìm cách đưa đi cấp cứu Tuy nhiên, sau đó lại xảy ra va chạm lần hai trên đường đi cấp cứu, và vì chậm trễ nên ông Hưng đã chết Khi thấy ông Hưng nằm chết trên xe ba gác và cạnh đó xe của hai cảnh sát giao thông

bị ngã bên đường nên nhiều người dân hiếu kỳ đã kéo đến xem rất đông, tưởng nhầm hai cảnh sát giao thông gây tai nạn nên có những lời lẽ thóa mạ, xúc phạm hai cảnh sát giao thông

Hiện CQĐT Công an quận Bình Tân kêu gọi những nhân chứng có mặt tại hiện trường như người đến báo tin tai nạn, người đàn ông tự nguyện điều khiển xe ba gác chở nạn nhân từ trạm xá đến bệnh viện cấp cứu và xảy ra va chạm sớm đến làm việc để phục vụ công tác điều tra

Sau khi Công an quận Bình Tân tiến hành điều tra và xác minh sự việc trên cơ

sở lời khai của NLC, thì xác định nguyên nhân dẫn đến tử vong của nạn nhân là hoàn toàn không liên quan đến hai cảnh sát giao thông, mà họ chỉ cứu giúp người bị nạn 7

7

Pháp luật, “vụ cứu người bị nạn, hai cảnh sát bị nghi oan, kêu gọi người làm chứng”, Hoàng Tuyết, http://phapluattp.vn/20111128112038809p0c1027/vu-cuu-nguoi-bi-nan-hai-csgt-bi-nghi-oan-keu-goi-nguoi-lam- chung.htm [23-3-2012]

Trang 25

Trong trường hợp NLC cho lời khai không khách quan, không chính xác, lời khai không đúng như những gì NLC biết được, thì điều đó không những làm cho quá trình tố tụng trở nên khó khăn, phức tạp hơn mà đôi khi làm cho hướng điều tra bị sai lệch, quá trình điều tra kéo dài, hao phí tiền của ngân sách nhà nước, thậm chí còn dẫn

đến oan sai, thiệt hại về công lý… Đặc biệt, lợi dụng sự ảnh hưởng của lời khai NLC đến quá trình tố tụng, phán quyết của TA… một số đối tượng đã mua chuộc NLC cho

lời khai không đúng, không khách quan, nhằm để che dấu hành vi tội phạm hoặc gây khó khăn trong quá trình tố tụng cho CQTHTT, bằng lợi ích về vật chất hoặc đe dọa tính mạng, sức khỏe, danh dự NLC hoặc người thân của họ Từ đó, thấy được vai trò quan trọng và sức ảnh hưởng vô cùng lớn của lời khai của NLC đối với việc làm sáng

tỏ sự thật của VAHS Lời khai của NLC có thể giúp CQĐT định hướng được quá trình

điều tra, có thể là căn cứ cho VKS ra quyết định khởi tố, truy tố và có thể là cơ sở cho

TA ra phán quyết cuối cùng để giải quyết VAHS…Khi lời khai của NLC không khách quan, không chính xác cũng có thể làm cho quá trình tố tụng khó khăn, kéo dài, thậm chí gây oan sai, thiệt hại về người và tiền của…

b) Lời khai của NLC đối với việc bảo vệ pháp luật, bảo vệ những quyền cơ bản của công dân

Trong quy định về nhiệm vụ của BLTTHS năm 2003, thì một trong những

nhiệm vụ cơ bản đó là “không bỏ lọt tội phạm” và “bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa”

(Điều 1 BLTTHS năm 2003) được coi là kim chỉ nam cho phương hướng hoạt động trong TTHS Theo đó, NLC cũng như các chủ thể khác trong quá trình tố tụng luôn cố gắng chứng minh tội phạm, không để có người bị oan, không để cho những người lợi dụng pháp luật làm những điều sai trái, hoặc những người vi phạm pháp luật sống ngoài vòng pháp luật, thì đó cũng là một trong những cách bảo vệ pháp luật hữu hiệu nhất Bằng sự tham gia đóng góp vào quá trình chứng minh tội phạm, lời khai của NLC luôn chứng minh có hay không có hành vi phạm tội xảy ra trên thực tế, tìm ra tội phạm

để trừng trị theo đúng như những quy định của pháp luật hình sự, làm cho những quy định của pháp luật hình sự, pháp luật TTHS được thực thi trên thực tế thể hiện trên qua

các mặt Thứ nhất, pháp luật TTHS đã trừng trị những hành vi phạm tội, giáo dục được công dân, phòng chống những kẻ xấu lợi dụng “khe hở” của pháp luật để xuyên tạc, chống phá pháp luật nước ta Như vậy, trong quá trình thực hiện theo những quy định của pháp luật, góp phần tuyên truyền pháp luật trong xã hội thì NLC đã thực hiện chức

Trang 26

năng bảo vệ pháp luật trên thực tế Thứ hai, việc thực hiện đúng những quy định của pháp luật tố tụng, tham gia cộng tác với CQTHTT, cho lời khai một cách chính xác,

thành thật và cụ thể góp phần làm sáng tỏ vụ án, NLC đã góp phần “đảm bảo pháp chế

xã hội chủ nghĩa” trong TTHS, góp phần bảo vệ pháp luật TTHS

BLTTHS coi việc đảm bảo các quyền của công dân là một trong những nguyên tắc cơ bản của hoạt động TTHS Điều này thể hiện bản chất của nền dân chủ xã hội chủ nghĩa luôn đề cao và tôn trọng các quyền của con người vì lợi ích của con người bao gồm cả quyền Hiến định và luật định Khi NLC tham gia tố tụng, cung cấp lời khai, hỗ trợ tư pháp thì cũng đồng nghĩa với NLC đang thực hiện quyền của mình - quyền công dân, một trong những quyền rất cơ bản của công dân được pháp luật khuyến khích và

tôn trọng trong công cuộc “đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm” được long trọng tuyên bố tại Điều 25 BLTTHS “Các tổ chức, công dân có quyền và nghĩa vụ phát hiện,

tố giác hành vi phạm tội; tham gia đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm, góp phần bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, tổ chức” (Khoản 1

Điều 25 BLTTHS năm 2003) Làm tốt vai trò của một NLC đồng nghĩa với việc bảo vệ

quyền lợi của mình – bảo vệ quyền công cơ bản công dân Ngoài ra, NLC cung cấp lời khai làm sáng tỏ vụ án cũng có nghĩa là NLC đang bảo vệ bị can, bị cáo tránh khỏi những hàm oan, trả lại sự trong sáng và khôi phục danh dự cho họ trong thời gian bị tạm giam, tạm giữ trong trường hợp họ không thực hiện tội phạm… hoặc làm cho sáng

tỏ vụ án, trả lại sự công bằng cho NBH, bù đấp những mất mát do những hành vi do tội phạm gây ra, thì lúc đó lời khai NLC đã có tác dụng bảo vệ cho NBH Lúc đó thì những quyền cơ bản của công dân như quyền được sống, quyền công bằng… đã được bảo vệ, Do đó, lời khai của NLC chẳng những có tác dụng làm sáng tỏ vụ án, bảo vệ công lý, bảo vệ pháp luật mà còn phát huy tác dụng trong việc bảo vệ quyền con người

c) Vai trò lời khai của NLC trong nghĩa vụ chứng minh đối với công cuộc đấu tranh phòng chống tội phạm

Mọi công dân trong xã hội dù ở vị trí nào thì cũng đều bị chi phối bởi pháp luật, tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội đều chịu sự điều chỉnh của những quy định của pháp luật, không ai có quyền cho mình “đứng trên pháp luật” Nhiệm vụ của công dân trong xã hội là tuân theo pháp luật, biểu hiện cụ thể của quá trình này là tuân thủ theo những quy định của pháp luật Nhiệm vụ chính của TTHS không những là phát hiện tất

Trang 27

cả hành vi phạm tội đã diễn ra trên thực tế mà còn hạn chế tới mức thấp nhất trên thực

tế những hành vi đó NLC là một chủ thể của quá trình tố tụng tuân thủ theo những quy

định của pháp luật về TTHS về trình tự, thủ tục và tính minh bạch, cung cấp lời khai

cho CQTHTT trong quá trình minh làm sáng tỏ vụ án, với mong muốn tìm ra người phạm tội, mục đích, động cơ của hành vi và quá trình thực hiện tội phạm như thế nào

Từ đó những người thực thi pháp luật sẽ có cái nhìn tổng quát và toàn diện hơn về những hành vi phạm tội mà có phương hướng và phương pháp cụ thể có hiệu quả để phòng chống tội phạm xảy ra

Trang 28

CHƯƠNG 2 NHỮNG QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ HIỆN HÀNH VỀ QUYỀN VÀ NGHĨA VỤ CỦA NGƯỜI LÀM CHỨNG

2.1 Quyền của NLC

Khác với quy định của BLTTHS năm 1988 là NLC không được hưởng bất kỳ một quyền dân sự nào trong khi phần lớn những chủ thể tham gia tố tụng khác tùy theo mức độ đều được Bộ luật quy định quyền và những bảo đảm cho việc thực hiện quyền của họ trong TTHS Trong khi Bộ luật quy định họ phải thực hiện một loạt các nghĩa

vụ như: phải có mặt khi được CQTHTT triệu tập và phải khai đúng sự thật, nếu khai báo gian dối hoặc trốn tránh việc khai báo mà không có lý do chính đáng thì có thể phải chịu chế tài hình sự và bị xử lý theo pháp luật Sự không tương xứng giữa quyền

và nghĩa vụ này trái với nguyên tắc “Tôn trọng và bảo vệ các quyền cơ bản của công

dân” quy định tại Điều 3 BLTTHS năm 1988 và tiếp tục được khẳng định tại Điều 4

BLTTHS năm 2003 - một trong những nguyên tắc quan trọng trong TTHS nhằm đề cao và tôn trọng các quyền của con người theo nghĩa rộng trong mọi hoạt động tố tụng Theo đó, BLTTHS năm 2003 đã được sửa đổi theo hướng bổ sung một số quyền cần thiết cho NLC khi thực hiện nhiệm vụ tố tụng của mình

Việc bổ sung một loạt quyền của NLC quy định tại khoản 3 Điều 55 bao gồm cả quyền hiến định và quyền luật định - điều mà không thể tìm thấy trong BLTTHS năm

1988 bao gồm các quyền: quyền được bảo vệ về nhân thân và tài sản; quyền được khiếu nại; Quyền được thanh toán chi phí khi đi làm chứng, là một điểm tiến bộ so với BLTTHS năm 1988 Thể hiện sự hoàn thiện của pháp luật nước ta và đó là cơ sở để tiếp tục hoàn thiện chế định NLC trong pháp luật TTHS Ngoài ra, những sửa đổi bổ sung tiến bộ về bảo đảm quyền của NLC trong TTHS hiện hành đã quan tâm đến quyền con người theo nghĩa rộng; cụ thể là đã bảo đảm một số quyền hiến định và luật

định cho NLC

2.1.1 Quyền được bảo vệ về nhân thân và tài sản

Khác với BLTTHS 1988 không hề trao cho NLC bất cứ quyền lợi nào khi tham gia tố tụng, NLC tham gia vào hoạt động TTHS, trước hết với tư cách là một con

Trang 29

người, với tư cách là một công dân đầy đủ và đồng thời là người tham gia đảm bảo công lý, một điều cần khẳng định ở đây là lí do mà họ tham gia vào VAHS không phải

là vì lợi ích cá nhân của riêng họ mà vì lợi ích chung của toàn xã hội, góp phần làm sáng tỏ sự thật khách quan của vụ án, một việc làm đáng được tuyên dương và hoan nghênh Vì vậy, họ có quyền được hưởng và xứng đáng được hưởng các quyền dân sự

đầy đủ, xứng đáng được hưởng các quyền về nhân thân và tài sản và các quyền đó

không những được long trọng thừa nhận trong Hiến Pháp năm 1992 – một văn bản luật

tối cao của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam “ở nước Cộng hoà xã hội chủ

nghĩa Việt Nam, các quyền con người về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hoá và xã hội

được tôn trọng, thể hiện ở các quyền công dân và được quy định trong Hiến pháp và

luật” (Điều 50 Hiến Pháp năm 1992) mà còn phải được quy định trong BLTTHS năm

2003 – văn bản chủ đạo trong quá trình tố tụng tôn trọng và đảm bảo thực thi trên thực

tế để “bảo vệ tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, tài sản và các quyền, lợi ích

hợp pháp khác” (Điểm a Khoản 3 Điều 55 BLTTHS năm 2003)

Theo nghĩa rộng, quyền con người của NLC trong TTHS là khả năng được hưởng, được làm trong TTHS Còn theo nghĩa hẹp là quyền của NLC được làm những

gì mà BLTTHS quy định Xuất phát nguyên tắc có tính chất hiến định “ở Nước Cộng

hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, các quyền con người về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa và xã hội được tôn trọng, thể hiện ở các quyền công dân và được quy định trong Hiến pháp và luật” (điều 50 Hiến pháp năm 1992), nên phần lớn các quyền của NLC

quy định tại điều 55 BLTTHS năm 2003 được cụ thể hóa từ các quyền hiến định của công dân quy định trong đạo luật cơ bản của Nhà nước cụ thể:

Điểm a Khoản 3 Điều 55 BLTTHS năm 2003 quy định một tập hợp các quyền

của NLC được “Yêu cầu cơ quan triệu tập họ bảo vệ tính mạng, sức khoẻ, danh dự,

nhân phẩm, tài sản và các quyền, lợi ích hợp pháp khác của mình khi tham gia tố tụng” Điều luật này là sự cụ thể hóa một số quyền cơ bản của công dân thuộc nhóm

quyền về dân sự và kinh tế được Hiến pháp năm 1992 long trọng tuyên bố như: Quyền

được pháp luật bảo hộ về tính mạng, quyền được pháp luật bảo hộ về sức khỏe, quyền

được pháp luật bảo hộ về danh dự, quyền được pháp luật bảo hộ về nhân phẩm “Công

dân có quyền bất khả xâm phạm về thân thể, được pháp luật bảo hộ về tính mạng, sức khoẻ, danh dự và nhân phẩm” (Điều 71 Hiến Pháp năm 1992); Quyền được pháp luật

bảo hộ về quyền sở hữu đối với tài sản, thu nhập hợp pháp “Công dân có quyền sở hữu

Trang 30

về thu nhập hợp pháp, của cải để dành, nhà ở, tư liệu sinh hoạt, tư liệu sản xuất, vốn

và tài sản khác trong doanh nghiệp hoặc trong các tổ chức kinh tế khác; đối với đất

được Nhà nước giao sử dụng; Nhà nước bảo hộ quyền sở hữu hợp pháp và quyền thừa

kế của công dân” (Điều 58 Hiến Pháp năm 1992)

Điểm a Khoản 3 Điều 55 BLTTHS năm 2003 còn là sự cụ thể hóa một trong

những nguyên tắc cơ bản của hoạt động TTHS - nguyên tắc bảo hộ tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tài sản của công dân, được quy định tại Điều 7 BLTTHS

năm 2003 như sau: “Công dân có quyền được pháp luật bảo hộ về tính mạng, sức

khoẻ, danh dự, nhân phẩm, tài sản;Mọi hành vi xâm phạm tính mạng, sức khoẻ, danh

dự, nhân phẩm, tài sản đều bị xử lý theo pháp luật; NBH, NLC và người tham gia tố tụng khác cũng như người thân thích của họ mà bị đe dọa đến tính mạng, sức khỏe, bị xâm phạm danh dự, nhân phẩm, tài sản thì cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải áp dụng những biện pháp cần thiết để bảo vệ theo quy định của pháp luật” Việc

BLTTHS lần này xác định rõ quyền của NLC được yêu cầu cơ quan triệu tập bảo vệ tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tài sản và các quyền, lợi ích hợp pháp khác của mình khi tham gia tố tụng và CQTHTT có thẩm quyền có trách nhiệm phải áp dụng những biện pháp cần thiết để bảo vệ theo quy định của pháp luật là một đòi hỏi khách quan, thể hiện thái độ trách nhiệm của Nhà nước đối với dân để nhân dân có thể tin tưởng và an tâm tham gia đấu tranh phòng, chống tội phạm Đây là một trong những quy định mang tính thời sự và cấp thiết bởi trong quá trình làm chứng, NLC đã đang tự mình đứng ra để vạch trần tội ác, bảo vệ pháp luật, thế nhưng trong quá trình thực hành quyền và nghĩa vụ đó thì NLC luôn đứng trước những khó khăn và nguy hiểm bởi sự rình rập trả thù của những người phạm tội, thân nhân của người phạm tội nhất là trong những vụ án lớn, những vụ án có tội phạm xuyên quốc gia, những tên đầu sỏ thì vấn đề bảo vệ NLC luôn được quan tâm sâu sắc, điều này chẳng những khuyến khích, tạo điều kiện cho NLC tham gia tố tụng nhiệt tình và chủ động hơn, mặt khác còn thể hiện tính nhân đạo sâu sắc của Nhà Nước ta Đây còn là sự đánh dấu lần đầu tiên trong hoạt

động TTHS vấn đề bảo vệ NLC được quy định trong luật, đó còn là dấu hiệu thể hiện

pháp luật TTHS Việt Nam đang ngày càng hoàn thiện hơn trong lĩnh vực này

Vấn đề bảo vệ của nhà nước đối với NLC vì lý do hợp tác của họ với CQTHTT

là vấn đề cực kỳ quan trọng và có tính thời sự ở nhiều nước trên thế giới Các quy định của luật về bảo vệ NLC là một trong những yếu tố nâng cao đáng kể tính xác thực và

Trang 31

giá trị chứng minh cho lời khai của chủ thể này trong vụ án vì nó loại trừ được nguyên nhân chủ yếu của hiện tượng khai gian dối, phủ nhận lời khai ban đầu của NLC – tâm

lý sợ bị trả thù Đồng thời cũng tác động tích cực đến hoạt động tố tụng của các cơ quan bảo vệ pháp luật, nâng cao hiệu quả đấu tranh chống tội phạm

2.1.2 Quyền được khiếu nại

“Khiếu nại quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan, người có thẩm quyền tiến

hành tố tụng” (Điểm b Khoản 3 Điều 55 BLTTHS năm 2003) là một trong những quy

định tiến bộ của BLTTHS năm 2003 về NLC Theo tinh thần sửa đổi của bộ luật mới

nên Nhà Nước trao cho NLC ngày càng nhiều những quyền công dân trong đó đáng

chú ý là quyền tố tụng thể hiện rõ rệt là quyền “Khiếu nại quyết định, hành vi tố tụng

của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng” (Điểm b Khoản 3 Điều 55

BLTTHS năm 2003) Việc trao cho NLC quyền khiếu nại là cần thiết và hợp lý bởi vì NLC là người tham gia tố tụng với tư cách đầy đủ của một người công dân nên việc pháp luật quy định họ có “quyền khiếu nại” là hoàn toàn hợp lý xuất phát từ nguyên tắc hiến định.8 NLC rất cần Nhà Nước đảm bảo cho họ quyền khiếu nại để họ có thể tham quá trình tố tụng một cách dân chủ, có thể phát huy tích cực vai trò NLC của mình

Hơn thế, việc bảo đảm quyền tố tụng cho NLC đặc biệt là “quyền khiếu nại” sẽ góp phần giúp cho quá trình xác minh sự thật của VAHS một cách khách quan, toàn diện, đầy đủ hơn, vì qua việc xem xét các khiếu nại của NLC về quyết định hoặc hành

vi mà NLC cho rằng chưa thỏa đáng hoặc trái pháp luật sẽ giúp CQTHTT hoặc người tiến hành tố tụng có cơ hội xem xét về hành vi và quyết định của mình một lần nữa mà

từ đó thấy được những sai trái của mình trong khi thi hành nhiệm vụ, giải quyết vụ án hoặc có thể rút ra được những kinh nghiệm trong quá trình tố tụng, làm cho quá trình tố tụng đạt hiệu quả cao nhất, góp phần bảo đảm pháp chế, hoặc là cơ hội để cho CQTHTT, người tiến hành tố tụng giải thích, phân tích cho NLC biết được những quyết định, hành vi tống tụng đúng đắn của mình một cách cụ thể hơn, trình bày cụ thể tính hợp lý, căn cứ pháp lý của quyết định hoặc hành vi của họ, góp phần tuyên truyền pháp luật trong nhân dân

8 “Công dân có quyền khiếu nại, quyền tố cáo với cơ quan nhà nước có thẩm quyền về những việc làm sai trái pháp luật của cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân hoặc bất cứ cá nhân nào” (Điều 74 Hiến pháp năm 1992)

Trang 32

Cũng tương tự quyền được bảo vệ nhân thân và tài sản của NLC, xuất phát từ

nguyên tắc có tính chất hiến định “Quyền của công dân không tách rời nghĩa vụ của

công dân; Nhà nước bảo đảm các quyền của công dân; công dân phải làm tròn nghĩa

vụ của mình đối với Nhà nước và xã hội” (Điều 51 Hiến Pháp 1992), theo đó, NLC

tham gia tố tụng với việc trình bày tất cả những gì mình biết về vụ án để giúp CQTHTT, người tiến hành tố tụng xác định sự thật khách quan VAHS là đã làm tròn nghĩa vụ tố tụng của mình với Nhà nước, cho nên theo nguyên tắc nêu trên Nhà nước cần thiết phải đảm bảo cho NLC quyền tố tụng mà nổi bật là quyền khiếu nại nhằm

giúp NLC thực hiện tốt vai trò của mình Cụ thể là quyền “khiếu nại quyết định,hành vi

tố tụng của cơ quan, người có thẩm quyền tố tụng” quy định tại Điểm b Khoản 3 Điều

55 là sự cụ thể hóa một trong những quyền hiến định cơ bản của công dân thuộc nhóm

quyền về chính trị quy định tại điều 74 Hiến pháp năm 1992 là công dân có: “Quyền

khiếu nại với cơ quan nhà nước có thẩm quyền về những việc làm trái pháp luật của cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân hoặc bất cứ

cá nhân nào” Cho thấy Nhà Nước ta đã đảm bảo cho NLC quyền khiếu nại theo đúng

quy tắc Hiến định khi họ thực hiện vai trò tố tụng của mình

2.1.3 Quyền được thanh toán chi phí

Ngoài việc cụ thể hóa một số nguyên tắc cơ bản của công dân được quy định trong Hiến Pháp năm 1992, BLTTHS năm 2003 còn trao cho NLC một quyền nữa là:

“Được cơ quan triệu tập thanh toán chi phí đi lại và những chi phí khác theo quy định

của pháp luật” (Điểm c Khoản 3 Điều 55 BLTTHS năm 2003)

Điều đó là hoàn toàn hợp lý bởi, khi NLC được triệu tập tham gia tố tụng thì họ

phải hoãn lại công việc riêng của mình để có mặt theo giấy triệu tập của CQTHTT và hoàn thành đầy đủ nhiệm vụ của một NLC, việc ra làm chứng ảnh hưởng rất nhiều đến thời gian và trình tự công việc hàng ngày của NLC, chưa kể đến những mất mát về tài chính mà NLC phải gánh chịu, nên họ có quyền được bù đắp và hoàn toàn xứng đáng

có được quyền này, là yêu cầu CQTHTT bù đắp cho những thiệt thòi về tài chính mà NLC phải chịu trong quá trình thực hiện nhiệm vụ tố tụng

Quy định này được coi là một “đặc quyền” của NLC mà những người tham gia trong TTHS khác không có Điều này cho thấy Nhà Nước ta đã quan tâm sâu sắc đến

Ngày đăng: 05/04/2018, 23:30

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w