1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

LUẬN văn LUẬT THƯƠNG mại cơ sở PHÁP lý của HOẠT ĐỘNG đấu THẦU

75 157 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 75
Dung lượng 1,3 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Các chủ thể tham gia có thể bao gồm:  Các đối tượng tham gia trực tiếp vào hoạt động đấu thầu: Bên mua: Chính là Nhà nước mà đại diện là các cơ quan của Nhà nước theo từng lĩnh vực, từn

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ

CƠ SỞ PHÁP LÝ CỦA HOẠT ĐỘNG ĐẤU THẦU

MSSV: 5054944 Lớp: Luật Thương mại 2-K31

Cần Thơ, 4/2009

Trang 2

NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN

Trang 3

MỤC LỤC

LỜI MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ HOẠT ĐỘNG ĐẤU THẦU 4

1 1 Khái niệm đấu thầu, hoạt động đấu thầu 4

1.1.1 Khái niệm về đấu thầu 4

1.1.2 Khái niệm về hoạt động đấu thầu 4

1.2 Phân biệt giữa đấu thầu và đấu giá 5

1.2.1 Hoạt động mua hay bán 5

1.2.2 Về đối tượng mua và bán 6

1.2.3 Xét trên giác độ giá cả 6

1.2.4 Đặt cọc tham dự mua và bán 6

1.3 Đặc điểm của hoạt động đấu thầu 6

1.4 Chủ thể của hoạt động đấu thầu 7

1.5 Vai trò, tầm quan trọng của hoạt động đấu thầu 7

1.6 Mục tiêu của hoạt động đấu thầu 9

1.6.1 Các mục tiêu chung của công tác đấu thầu 9

1.6.1.1 Các mục tiêu căn bản 9

1.6.1.2 Các mục tiêu khác của công tác đấu thầu 10

1.6.2 Các mục tiêu cơ bản của công tác đấu thầu của Việt Nam 11

1.6.2.1 Tăng cường cạnh tranh trong đấu thầu 11

1.6.2.2 Thống nhất quản lý việc chi tiêu sử dụng tiền của Nhà nước 11

1.6.2.3 Công khai, minh bạch trong đấu thầu 12

1.6.2.4 Đảm bảo công bằng trong đấu thầu 13

1.6.2.5 Bảo đảm hiệu quả của công tác đấu thầu 13

1.6.2.6 Phòng, chống tham nhũng trong đấu thầu 14

1 7 Tính tất yếu của hoạt động đấu thầu 14

CHƯƠNG 2 CƠ SỞ PHÁP LÝ CỦA HOẠT ĐỘNG ĐẤU THẦU 17

2.1 Phương pháp đấu thầu 17

2.1.1 Hình thức lựa chọn nhà thầu 17

2.1.2 Mua sắm trực tiếp 19

2.1.3 Chào hàng cạnh tranh trong mua sắm hàng hóa 19

2.1.4 Tự thực hiện 19

2.1.5 Lựa chọn nhà thầu trong trường hợp đặc biệt 20

2.2 Phương thức đấu thầu 20

2.2.1 Phương thức đấu thầu một túi hồ sơ 20

2.2.2 Phương thức đấu thầu hai túi hồ sơ 20

2.2.3 Phương thức đấu thầu hai giai đoạn 20

Trang 4

2.3 Hợp đồng đấu thầu 21

2.3.1 Nguyên tắc thực hiện hợp đồng 21

2.3.2 Hình thức hợp đồng 21

2.3.2.1 Hình thức hợp đồng trọn gói 21

2.3.2.2 Hình thức hợp đồng theo đơn giá 22

2.3.2.3 Hình thức hợp đồng theo thời gian 23

2.3.2.4 Hình thức hợp đồng theo tỷ lệ phần trăm 24

2.3.2.5 Hợp đồng chung 24

2.3.3 Điều chỉnh hợp đồng 24

2.3.4 Thành phần hợp đồng 25

2.3.5 Thanh toán, giám sát, nghiệm thu, thanh lý hợp đồng 25

2.3.5.1 Thanh toán hợp đồng 25

2.3.5.2 Giám sát thực hiện hợp đồng 26

2.3.5.3 Nghiệm thu hợp đồng 27

2.3.5.4 Thanh lý hợp đồng 27

2.4 Kế hoạch đấu thầu 27

2.4.1 Nguyên tắc lập kế hoạch đấu thầu 27

2.4.2 Căn cứ lập kế hoạch đấu thầu 28

2.4.3 Nội dung kế hoạch đấu thầu 28

2.4.4 Trình, thẩm định, phê duyệt kế hoạch đấu thầu 29

2.4.4.1 Trình duyệt kế hoạch đấu thầu 29

2.4.4.2 Thẩm định kế hoạch đấu thầu 30

2.4.4.3 Phê duyệt kế hoạch đấu thầu 30

2.5 Quy trình đấu thầu 30

2.5.1 Chuẩn bị đấu thầu 31

2.5.1.1 Sơ tuyển nhà thầu 31

2.5.1.2 Lập hồ sơ mời thầu 32

2.5.1.3 Mời thầu 37

2.5.2 Tổ chức đấu thầu 39

2.5.2.1 Phát hành hồ sơ mời thầu 39

2.5.2.2 Làm rõ hồ sơ mời thầu 39

2.5.2.3 Tiếp nhận và quản lý hồ sơ dự thầu 40

2.5.2.4 Mở thầu 40

2.5.3 Đánh giá hồ sơ dự thầu 41

2.5.3.1 Đánh giá sơ bộ hồ sơ dự thầu 41

2.5.3.2 Đánh giá chi tiết hồ sơ dự thầu 42

2.5.5 Làm rõ hồ sơ dự thầu 44

Trang 5

2.5.6 Xét duyệt trúng thầu 44

2.6 Trình duyệt, thẩm định, phê duyệt, thông báo kết quả đấu thầu, thương thảo, hoàn thiện hợp đồng và ký kết hợp đồng 44

2.6.1 Trình duyệt và thẩm định kết quả đấu thầu 44

2.6.2 Phê duyệt kết quả đấu thầu 46

2.6.3 Thông báo kết quả đấu thầu 47

2.6.4 Thương thảo, hoàn thiện hợp đồng và ký kết hợp đồng 47

2.7 Trách nhiệm pháp lý của các bên trong hoạt động đấu thầu 49

CHƯƠNG 3 THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG ĐẤU THẦU VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN 53

3.1 Đánh giá công tác đấu thầu trong thời gian qua và sự cần thiết ban hành Luật đấu thầu 53

3.2 Những hạn chế, tồn tại trong Luật đấu thầu 54

3.2.1 Những điểm khác biệt giữa Luật đấu thầu trong nước và Luật đấu thầu thế giới 54

3.2.2 Hạn chế, tồn tại và những biện pháp khắc phục 56

3.3 Thực trạng hoạt động đấu thầu ở Việt Nam hiện nay 60

3.3.1 Tầm quan trọng của đấu thầu trong bối cảnh hội nhập kinh tế kinh tế quốc tế 60

3.3.2 Hạn chế của hoạt động đấu thầu trong thực tiễn 61

3.4 Những biện pháp khắc phục hạn chế của hoạt động đấu thầu 63

KẾT LUẬN 68

Trang 6

LỜI MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Trong công cuộc xây dựng và đổi mới đất nước, Việt Nam chúng ta đã đạt được những thành tựu đáng kể về kinh tế Nền kinh tế đất nước phát triển sẽ kéo theo nhu cầu của đất nước ngày càng tăng, một đất nước có nhu cầu cao thì có nghĩa là hoạt động mua sắm công cũng rất phát triển Và một hoạt động cùng song song phát triển với hoạt động mua sắm công chính là hoạt động đấu thầu

Đấu thầu là một hoạt động của nền kinh tế thị trường, nó tuân theo các quy luật khách quan của thị trường như quy luật cung-cầu, quy luật giá cả-giá trị Thông qua hoạt động đấu thầu, những người mua (bên mời thầu) có nhiều cơ hội để lựa chọn những người bán phù hợp với mình, mang lại hiệu quả cao nhất, xứng với giá trị của đồng tiền

mà người mua sẵn sàng bỏ ra Đồng thời những người bán (nhà thầu) có nhiều cơ hội để cạnh tranh nhằm đạt được các hợp đồng, có thể cung cấp các hàng hóa sản xuất ra, cung cấp các kiến thức mà mình có hoặc các dịch vụ mà mình có khả năng đáp ứng nhằm tối

đa hóa lợi nhuận

Hoạt động đấu thầu được áp dụng vào Việt Nam trong khoảng thời gian trên 10 năm trở lại đây, kể từ khi hoạt động viện trợ của các định chế tài chính được nối lại Thông qua đấu thầu, các chủ đầu tư đã lựa chọn được những nhà thầu đủ năng lực, kinh nghiệm để thực hiện các dự án, gói thầu làm thay đổi diện mạo kết cấu hạ tầng kinh tế-xã hội của đất nước Hàng loạt các con đường, cây cầu, bến cảng, sân bay, nhà máy điện, xi măng, các công trình cấp nước, thoát nước, dầu khí đã được xây dựng, góp phần quan trọng trong việc thúc đẩy nền kinh tế đất nước phát triển Thông qua đấu thầu, các nhà thầu trong nước từ khi chỉ làm thầu phụ cho các nhà thầu nước ngoài đến nay đã lớn mạnh có thể tham gia đấu thầu cạnh tranh bình đẳng với nhà thầu nước ngoài để dành được các hợp đồng lớn Ngoài ra, các chủ đầu tư, bên mời thầu đã được tăng cường rất nhiều về năng lực, từ chỗ hiểu đấu thầu còn mơ hồ đến nay đã có thể thực hiện công tác đấu thầu thuần thục

 Có thể nói trong giai đoạn hiện nay hoạt động đấu thầu là hoạt động có vai trò quan trọng và đặc biệt không thể thiếu được trong nền kinh tế hội nhập Và để tạo ra

sự cạnh tranh trong hoạt động đấu thầu nhà nước đã có nhiều biện pháp tiến hành, nhưng một biện pháp hiệu quả nhất là nhà nước đã ban hành các văn bản như là Luật Đấu thầu được Quốc Hội thông qua ngày 29/11/2005, Nghị định 58/2008/NĐ-CP ngày 05/5/2008 hướng dẫn thi hành Luật Đấu thầu và lựa chọn nhà thầu xây dựng theo Luật Xây dựng (sau đây gọi tắt là Nghị định 58) làm cơ sở pháp lý cho hoạt động đấu thầu

Trang 7

Hoạt động này của Nhà nước rất phù hợp với yêu cầu hiện nay của ngành đấu thầu nói riêng và của xu hướng phát triển kinh tế nói chung Chế độ đấu thầu cho các nhà đầu tư trong nước và quốc tế tham gia vào đầu tư, tạo cơ sở pháp lý cho các hoạt động đấu thầu Chế độ đấu thầu đã quy định hoạt động tổ chức lựa chọn nhà thầu, tham gia đấu thầu Nhà thầu được chọn phải là nhà thầu tiêu biểu nhất, đáp ứng tốt nhất nhu cầu của bên mời thầu Như vậy chế độ đấu thầu đã tạo ra được tính cạnh tranh trong hoạt động kinh tế, đem lại ích cho hoạt động kinh tế, đem lại lợi ích cho sản xuất, cho xã hội, hiệu quả cho hoạt động sản xuất kinh doanh

Nhận thức được tầm quan trọng của hoạt động đấu thầu và để cho họat động đấu thầu có cái nhìn hoàn thiện hơn, bằng kiến thức học tập ở nhà trường cùng với những kiến thức qua quá trình tìm hiểu người viết đã đi sâu vào nghiên cứu đề tài cơ

sở pháp lý của hoạt động đấu thầu và đó cũng là đề tài mà người viết chọn để làm luận văn tốt nghiệp của mình

2 Mục tiêu ng hiên c ứu

Việc xác định rõ mục đích nghiên cứu của đề tài có ý nghĩa quan trọng trong việc đưa ra những định hướng vững chắc cho quá trình thực hiện đề tài, đồng thời làm cho việc thực hiện đề tài không đi lệch khỏi những định hướng đã chọn Với đề tài này người viết đã nghiên cứu về những cơ sở pháp lý về hoạt động đấu thầu để từ đó có những nhận xét nhằm đưa ra hướng hoàn thiện pháp luật và thực tiển Trong đề tài người viết đã đi vào làm rõ những vấn đề sau:

 Làm rõ hơn về hoạt động đấu thầu ở nước ta hiện nay, đăc biệt là nêu lên được tầm quan trọng cũng như vai trò của hoạt động đấu thầu đối với nền kinh tế.Từ đó có thể tạo được sự chú ý của mọi người hơn về hoạt động này

 Làm rõ hơn về những quy định của pháp luật về hoạt động đấu thầu, chủ yếu nghiên cứu về quy trình thực hiện đấu thầu Để cho mọi người hiểu thêm về cách thức

và thủ tục thực hiện, từ đó hạn chế được những nhược điểm trong quá trính đấu thầu

 Làm rõ hơn về vai trò của Luật Đấu thầu đối với hoạt động đấu thầu, từ đó nêu

ra những mặt tiêu cực, tích cực và đề ra những kiến nghị nhằm làm hoàn thiện hơn về Luật và thực tiễn hoạt động đấu thầu

 Làm rõ thực trạng của hoạt động đấu thầu đã và đang diễn ra, bên cạnh đó cũng đưa ra những biện pháp nhằm khắc phục những hạn chế và phát huy những mặt tiến

bộ

3 Phạm vi nghiên cứu

Việc làm rõ phạm vi nghiên cứu của đề tài có ý nghĩa quan trọng trong việc nêu

rõ những nội dung cơ bản của đề tài, đồng thời còn xác định được khuynh hướng nghiên cứu và nhiệm vụ nghiên cứu Trong đề tài người viết đi sâu nghiên cứu những quy định của luật về hoạt động đấu thầu, mà chủ yếu là về hoạt động đấu thầu xây lắp

Trang 8

4 Phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện đề tài nghiên cứu người viết đã sử dụng các phương pháp truyền thống đó là những phương pháp sau:

+ Phương pháp phân tích luật viết

+ Phương pháp tổng hợp

+ Phương pháp so sánh kết hợp lý luận với thực tiễn

+ Phương pháp thu thập dữ liệu thứ cấp: thu thập thông tin dựa trên những qui định của pháp luật và các sách báo, tạp chí, internet…

5 Cơ cấu của luận văn

 Lời nói đầu

 Phần nội dung: gồm 3 chương

Chương 1: Khái quát về hoạt động đấu thầu

Chương 2: Cơ sở pháp lí của hoạt động đấu thầu

Chương 3: Thực trạng hoạt động đấu thầu và biện pháp hoàn thiện

Để hoàn thành bài luận văn này, người viết xin chân thành cảm ơn quý Thầy,

Cô khoa Luật trường Đại học Cần thơ đã giảng dạy truyền đạt kiến thức trong suốt quá trình học tập và đặc biệt cảm ơn cô Phạm Mai Phương đã tận tình hướng dẫn người viết trong suốt quá trình làm luận văn, giúp người viết có những hiểu biết nhất định để hoàn thiện luận văn này

Xin chân thành cảm ơn!

Trang 9

CHƯƠNG 1

KHÁI QUÁT CHUNG VỀ HOẠT ĐỘNG ĐẤU THẦU

1 1 Khái niệm đấu thầu, hoạt động đấu thầu

1.1.1 Khái niệm về đấu thầu

Thuật ngữ “đấu thầu” đã xuất hiện trong thực tế xã hội từ xa xưa Theo Từ điển tiếng Việt (Viện Ngôn ngữ học xuất bản năm 1998) thì đấu thầu được giải thích là việc

“đọ công khai, ai nhận làm, nhận bán với điều kiện tốt nhất thì được giao cho làm hoặc được bán hàng (một phương thức giao làm công trình hoặc mua hàng)” Như vậy bản chất của việc đấu thầu đã được xã hội thừa nhận như là một sự ganh đua (cạnh tranh) để được thực hiện một việc nào đó, một yêu cầu nào đó

Từ khi đất nước ta tiến hành công cuộc đổi mới, nền kinh tế đã mở cửa với thế giới thì bắt đầu xuất hiện khái niệm “đấu thầu” Ta có thể hiểu “đấu thầu” là một quá trình chủ đầu tư lựa chọn được một nhà thầu đáp ứng các yêu cầu của mình” Trong nền kinh tế thị trường, người mua tổ chức đấu thầu để người bán (các nhà thầu) cạnh tranh nhau Mục tiêu của người mua là có được hàng hóa và dịch vụ thỏa mãn các yêu cầu của mình về kỹ thuật, chất lượng và chi phí thấp nhất Mục đích của nhà thầu là giành được quyền cung cấp hàng hóa dịch vụ đó với giá đủ bù đắp các chi phí đầu vào và đảm bảo mức lợi nhuận cao nhất có thể

Theo khoản 2 điều 4 Luật đấu thầu 2005 thì “đấu thầu là quá trình lựa chọn nhà thầu đáp ứng các yêu cầu của bên mời thầu để thực hiện gói thầu thuộc các dự án quy định tại Điều 1 của Luật Đấu thầu trên cơ sở bảo đảm tính cạnh tranh, công bằng, minh bạch và hiệu quả kinh tế”

1.1.2 Khái niệm về hoạt động đấu thầu

Nhằm tạo ra tính đúng đắn, khách quan, công bằng, đồng thời đảm bảo được tính cạnh tranh trong các hoạt động tuyển chọn tư vấn, mua sắm vật tư thiết bị và thi công xây lắp để triển khai các dự án đầu tư thì cấn phải tiến hành đấu thầu Đấu thầu là quá trình lựa chọn nhà thầu đáp ứng được các yêu cầu của bên mời thầu trên cơ sở cạnh tranh giữa các nhà thầu Thực chất của hoạt động đấu thầu đó là sự cạnh tranh của các nhà cung ứng hàng hóa hay dịch vụ Trong hoạt động đấu thầu thì bên mua (nhà đầu tư) là có một người, còn bên bán (các nhà thầu) là có nhiều người Tất cả các nhà thầu đều muốn bán được hàng hóa của mình, nhưng người mua chỉ có một và chỉ mua được hàng của một người Vì vậy tất cả những người bán đều cạnh tranh với nhau để được người mua lựa chọn Trên ưu thế của mình, người mua sẽ lựa chọn hàng hóa, dịch vụ mà họ cho là tốt nhất Sự cạnh tranh của người bán làm cho giá cả của hàng hóa, dịch vụ rẻ hơn và chất lượng cao hơn

Trang 10

Tuy nhiên, phải có người đứng ra tổ chức hoạt động cạnh tranh giữa các nhà thầu

và hoạt động này được gọi là hoạt động đấu thầu giữa các nhà thầu

Hoạt động đấu thầu bao gồm các hoạt động của các bên liên quan trong quá trình lựa chọn nhà thầu 1

Thông qua hoạt động đấu thầu, nhà đầu tư có thể lựa chọn được nhà thầu có khả năng thỏa mãn tốt nhất các điều kiện về kỹ thuật, về tài chính, về tiến bộ, thời gian thi công, thời gian thực hiện cung ứng vật tư, về trình độ tư vấn

Thực chất của hoạt động đấu thầu theo Luật Đấu thầu 2005 là hoạt động chi tiêu,

sử dụng vốn nhà nước Hoạt động này bao gồm 7 hình thức lựa chọn nhà thầu để thực hiện các gói thầu đó là: đấu thầu rộng rãi, đấu thầu hạn chế, chỉ định thầu, mua sắm trực tiếp, chào hàng cạnh trạnh trong mua sắm hàng hóa, tự thực hiện, lựa chọn nhà thầu trong trường hợp đặc biệt

1.2 Phân biệt giữa đấu thầu và đấu giá

Cần phân biệt hai khái niệm “đấu thầu” và “đấu giá” vì chúng có nhiều nét trái ngược nhau, nhưng có lúc bị hiểu lẫn lộn như một khái niệm “đấu thầu” Có người nói rằng “địa phương tôi đang tiến hành đấu thầu khu đầm nuôi tôm X” hoặc “trên Internet hiện đang tiến hành đấu thầu gói thầu mua 200 chiếc máy tính văn phòng” Nói như vậy là chưa chuẩn xác Hai ví dụ nêu trên xét về bản chất là hai hoạt động đấu giá và đấu thầu riêng biệt, nhưng lại được sử dụng ngôn ngữ đấu thầu trong thông báo Hoạt động thứ nhất không phải là hoạt động đấu thầu vì người bán lại chính là người có khu đầm nuôi tôm Đây chính là hoạt động đấu giá Họ sẽ chọn người nào (bên mua) chào giá cao nhất (ngược với hoạt động đấu thầu) Hoạt động thứ hai mới là hoạt động đấu thầu Người mua sẽ chọn được người bán máy tính văn phòng đảm bảo các tính năng

kỹ thuật theo yêu cầu và có chi phí trên một mặt bằng thấp nhất và bảo đảm không vượt dự toán đã định Sau đây là một số điểm lưu ý giúp ta phân biệt khái niệm đấu thầu và đấu giá

1.2.1 Hoạt động mua hay bán

Xét trên giác độ quan hệ mua-bán của chủ thể là Nhà nước, các cơ quan, tổ chức đại diện cho Nhà nước (bên chủ động tiến hành, tổ chức hoạt động đấu thầu hay đấu giá), có thể nói đấu thầu là hoạt động mua, ngược lại đấu giá là hoạt động bán Trong đấu thầu, bên chủ động tổ chức cuộc thầu (bên mời thầu) là người mua hàng hoá, dịch

vụ, công trình từ các nhà thầu Bên mời thầu chủ động tổ chức hoạt động đấu thầu nhằm mua được hàng hoá, dịch vụ có chất lượng tốt nhất, giá cả thấp nhất, đảm bảo các yêu cầu kỹ thuật, chất lượng, và tiến độ đề ra Trong đấu giá, bên chủ động tổ chức phiên đấu giá nhằm bán được hàng hoá, dịch vụ của mình với giá cao nhất có thể

1.2.2 Về đối tượng mua và bán

1 Khoản 3 điều 4 Luật đấu thầu

Trang 11

Trong đấu giá đối tượng bán là rõ ràng, người mua có thể kiểm tra, đánh giá trước khi đưa ra giá mua Nhưng ngược lại, trong đấu thầu, đối tượng chào bán của nhà thầu là chỉ có trên hồ sơ và bên mời thầu chỉ có được sản phẩm định mua sau khi nhà thầu thực hiện xong hợp đồng đã ký

1.2.3 Xét trên giác độ giá cả

Đấu thầu cần thiết phải có sự khống chế về giá (trừ trường hợp đặc biệt), được gọi

là giá gói thầu hay dự toán Bên mời thầu (bên mua) mua hàng hoá, dịch vụ của người bán (nhà thầu) đảm bảo yêu cầu nhưng trong giới hạn về nguồn lực tài chính của họ, nhà thầu đưa ra giá cao hơn khả năng tài chính của chủ thể, thì dù có tốt đến mấy nếu bên mời thầu không thể thu xếp được thì cũng không thể trúng thầu vì vượt khả năng thanh toán của bên mời thầu Nhà thầu nào đáp ứng các yêu cầu của bên mời thầu, mà có giá bán càng thấp (tính trên một mặt bằng chi phí) thì sẽ càng có cơ hội chiến thắng Trái lại, đấu giá cần thiết phải khống chế giá thấp nhất khi các bên tham gia đặt giá, được gọi là giá sàn (giá khởi điểm) Sở dĩ như vậy là vì giá mà các bên tham gia đưa ra phải đủ bù đắp những chi phí giới hạn của chủ thể Ai đưa ra giá cao hơn sẽ là người chiến thắng trong phiên đấu giá (trừ trường hợp đấu giá theo phương thức đặt giá xuống)

1.2.4 Đặt cọc tham dự mua và bán

Trong đấu thầu, để mua được dịch vụ, hàng hoá, công trình của người bán (nhà thầu) thường phải qua hai giai đoạn là đấu thầu để chọn được nhà thầu phù hợp nhất và giai đoạn thương thảo, hoàn thiện hợp đồng và ký hợp đồng Chính vì lẽ đó, khi đấu thầu để xác định trách nhiệm của nhà thầu đối với gói thầu người ta quy định hai lần đặt cọc: đặt cọc khi tham dự thầu (bảo đảm dự thầu) và đặt cọc thực hiện hợp đồng (bảo đảm thực hiện hợp đồng) Đối với đấu giá, người tham dự chỉ cần đặt cọc một lần

để xác định trách nhiệm khi tham dự đấu giá

1.3 Đặc điểm của hoạt động đấu thầu

Bản chất của hoạt động đấu thầu là việc bỏ tiền để đạt được được mục tiêu nhất định trong một thời gian xác định Theo đó, hoạt động đấu thầu để mua sắm bằng tiền của Nhà nước được gọi là “Mua sắm công” hay “Mua sắm chính phủ” Các quy định để thực hiện các hành vi mua sắm thông qua đấu thầu được chi phối, điều tiết bởi người sở hữu nguồn tiền sử dụng cho việc mua sắm Tuỳ thuộc vào nguồn tiền được sử dụng mà việc mua sắm có những đặc điểm khác nhau Với việc sử dụng tiền của Nhà nước, hoạt động đấu thầu mua sắm có những đặc điểm riêng, khác với các nguồn tiền không phải của Nhà nước

 Mua sắm từ nguồn vốn tư nhân (không phải vốn Nhà nước)

Trong trường hợp mua sắm từ nguồn vốn không phải của Nhà nước công tác mua sắm có thể hiểu như công tác “đi chợ” hàng ngày, đi mua sắm đồ dùng trang thiết bị, xây dựng nhà cửa cho nhu cầu của bản thân, gia đình Việc mua sắm này không tuân theo

Trang 12

một quy định bắt buộc, tự cá nhân có tiền tuỳ ý thích mua sắm miễn là bảo đảm không trái các quy định của pháp luật và khả năng tài chính của cá nhân

Một cách khái quát, đây là cách mua sắm theo cách “mặc cả hay thương thảo” trực tiếp Theo đó bên bán thường đưa ra giá bán có tính chất gợi ý để cùng người mua thảo luận theo cách nâng lên hạ xuống Khi đã có sự thống nhất thì việc mua bán được hoàn tất

Trong mua sắm theo hình thức này có nhiều nội dung được điều chỉnh tuỳ theo sự làm rõ giữa hai phía Nguồn vốn ở đây thường là các khoản tiền thuộc sở hữu của người mua vì vậy quyết định mua sắm thường nhanh gọn tuỳ thuộc vào chủ quan của người mua Nếu người mua có đủ thông tin, có kinh nghiệm mua sắm và có nghệ thuật trong thương thảo, nghĩa là đủ năng lực mua sắm thì sẽ dễ dàng thành công và ngược lại

 Mua sắm sử dụng nguồn vốn của Nhà nước (mua sắm công)

Mua sắm sử dụng nguồn vốn của Nhà nước được coi là mua sắm công, vì nó

sử dụng vốn thuộc sở hữu Nhà nước, sở hữu toàn dân để mua sắm phục vụ lợi ích cộng đồng Nói chung, nguồn vốn của Nhà nước được hiểu là nguồn vốn thuộc sở hữu toàn dân hoặc có nguồn gốc sở hữu toàn dân do đó cần được nhà nước quản lý theo pháp luật

Đây chính là đặc điểm cơ bản để hình thành các quy định đấu thầu mua sắm của Nhà nước nhằm làm cho việc sử dụng, chi tiêu các nguồn tiền của Nhà nước đảm bảo hiệu quả, tránh thất thoát, tiêu cực

1.4 Chủ thể của hoạt động đấu thầu

Có nhiều chủ thể tham gia vào quá trình đấu thầu Khi đấu thầu sử dụng tiền của Nhà nước thì hoạt động này được thực hiện bởi các cơ quan của Nhà nước, các doanh nghiệp nhà nước hoặc các đơn vị có sử dụng nguồn tiền của Nhà nước nên có nhiều chủ thể tham gia vào quá trình đấu thầu để bảo đảm được các mục tiêu của đấu thầu là cạnh tranh, công bằng, minh bạch và hiệu quả kinh tế Các chủ thể tham gia có thể bao gồm:

 Các đối tượng tham gia trực tiếp vào hoạt động đấu thầu:

Bên mua: Chính là Nhà nước mà đại diện là các cơ quan của Nhà nước theo từng lĩnh vực, từng ngành kinh tế, bao gồm:

Thứ nhất là Người có thẩm quyền quyết định việc đấu thầu mua sắm (người phê

duyệt quyết định đầu tư);

Thứ hai là Chủ đầu tư: Đó là cơ quan, tổ chức được giao nhiệm vụ hoặc sử dụng

tiền của Nhà nước (doanh nghiệp nhà nước, các tổ chức vay tiền của Nhà nước hoặc do Nhà nước bảo lãnh cho khoản vay) thực hiện đầu tư, đấu thầu;

Thứ ba là bên mời thầu: đó là tổ chức được chủ đầu tư giao nhiệm vụ (trường hợp

thuộc Chủ đầu tư) hoặc thuê (thông qua hợp đồng) tổ chức đấu thầu;

Trang 13

Thứ tư là Tổ chuyên gia đấu thầu, bao gồm các cá nhân được Chủ đầu tư quyết

định thành lập để thực hiện nhiệm vụ đánh giá hồ sơ dự thầu, lựa chọn nhà thầu phù hợp với yêu cầu căn cứ hồ sơ mời thầu

Bên bán: Nhà thầu (nhà cung cấp, nhà xây dựng và nhà tư vấn) tham gia đấu thầu các gói thầu phù hợp với điều kiện năng lực và kinh nghiệm của mình để dành được các hợp đồng trên cơ sở cạnh tranh hoặc thông qua các hình thức lựa chọn khác theo quy định

 Các đối tượng tham gia gián tiếp vào hoạt động đấu thầu:

Ngoài bên mua và bên bán là các đối tượng tham gia trực tiếp hoạt động đấu thầu còn có một bộ phận thứ ba gián tiếp tham gia vào hoạt động đấu thầu, bao gồm:

o Cơ quan thanh tra, kiểm tra, giám sát;

o Tổ chức, công ty kiểm toán độc lập;

o Công luận, các cơ quan báo chí;

o Sự tham gia của cộng đồng với vai trò giám sát

1.5 Vai trò, tầm quan trọng của hoạt động đấu thầu

Thông qua hoạt động đấu thầu, các hoạt động kinh tế đều được kích thích phát triển như các ngành sản xuất trực tiếp, các ngành công nghiệp phụ trợ, chế biến Với việc nhiều nhà thầu đứng vai trò tổng thầu để kết hợp được các nhà chế tạo, nhà sản xuất, các chuyên gia tư vấn nhằm thực hiện các gói thầu quy mô lớn, tổng hợp nhiều lĩnh vực đã làm cho hoạt động kinh tế được diễn ra theo hướng chuyên môn hóa sâu và đa phương hóa rộng

Với tầm quan trọng của hoạt động đấu thầu là nhằm quản lý việc chi tiêu, sử dụng các nguồn tiền một cách có hiệu quả nên trên thế giới hiện nay các định chế tài chính đều

áp dụng các quy định về đấu thầu để giải ngân đối với các khoản tài trợ cho các quốc gia vay vốn Có thể kể đến các quy định trên thế giới về đấu thầu mua sắm như Luật mẫu về Đấu thầu của UNCITRAL (Liên hợp quốc), Hiệp định mua sắm chính phủ của WTO, Hướng dẫn đấu thầu mua sắm của WB (Ngân hàng thế giới), ADB (Ngân hàng phát triển Châu á) Bên cạnh đó, hầu hết các quốc gia cũng đều có các quy định riêng về đấu thầu theo các hình thức khác nhau có thể là luật, nghị định, sắc lệnh

Hoạt động đấu thầu đóng góp những thành tựu to lớn cho sự phát triển kinh tế, thể hiện vai trò quan trọng trong các hoạt động của kinh tế thị trường, cụ thể vai trò của hoạt động đấu thầu thể hiện cơ bản qua các mặt sau:

Là một công cụ quan trọng của kinh tế thị trường, giúp người mua (bên mời thầu)

và người bán (nhà thầu) gặp nhau thông qua cạnh tranh;

Phát triển các ngành sản xuất theo hướng chuyên môn hoá sâu và hợp tác hoá rộng đồng thời phát triển thị trường đấu thầu Thông qua đấu thầu đã phát triển được thị trường người bán, nhiều doanh nghiệp nhà thầu lớn mạnh, nhiều doanh nghiệp được

Trang 14

thành lập mới hoặc đặt chân vào thị trường đấu thầu, kích thích thị trường trong nước phát triển chống được sự độc quyền tự nhiên Các chủ đầu tư, bên mời thầu cũng được tăng cường về năng lực, họ có thêm kiến thức, thông tin và trở thành những người mua ngày một thông thái hơn Bên cạnh đó, hoạt động đấu thầu góp phần tạo động lực cho sự phát triển nhờ tăng cường sự công khai, minh bach, công bằng, hiệu quả và thúc đẩy cạnh tranh các hoạt động mua sắm bằng nguồn vốn của Nhà nước cho các công trình công cộng;

Là một công cụ quan trọng giúp các chính phủ quản lý chi tiêu, sử dụng các nguồn vốn của Nhà nước sao cho có hiệu quả và chống thất thoát, lãng phí Đó là những khoản tiền được chi dùng cho đầu tư phát triển mà có sự tham gia của các tổ chức nhà nước, doanh nghiệp nhà nước ở một mức độ nào đó, cũng như cho mục tiêu duy trì các hoạt động của bộ máy Nhà nước;

Cùng với pháp luật về thực hành tiết kiệm chống lãng phí, pháp luật về tham phòng-chống tham nhũng tạo thành công cụ hữu hiệu để chống lại các hành vi gian lận, tham nhũng và lãng phí trong việc chi tiêu các nguồn tiền của Nhà nước, góp phần làm lành mạnh hóa các quan hệ xã hội nhờ thực hiện các hoạt động mua sắm công theo đúng luật pháp của Nhà nước;

Thúc đẩy chuyển giao công nghệ, chia sẻ kiến thức, kinh nghiệm giữa các quốc gia, các tổ chức phát triển với các quốc gia đang phát triển Hoạt động đấu thầu không chỉ diễn ra trong phạm vi hẹp mà được diễn ra trên toàn thế giới Các nhà thầu danh tiếng trên thế giới họ là những người sẵn sàng và có khả năng tham gia vào tất cả các hoạt động của các quốc gia, thông qua đó họ sẵn sàng chuyển giao công nghệ, chia sẻ kiến thức, kinh nghiệm;

Việc chi tiêu, sử dụng tiền của Nhà nước thông qua đấu thầu sẽ giúp các cơ quan quan lý có điều kiện xem xét, quản lý và đánh giá một cách minh bạch các khoản chi tiêu

do quá trình đấu thầu phải tuân thủ các quy trình chặt chẽ với sự tham gia của nhiều bên;

Tạo điều kiện để thúc đẩy tiến trình đổi mới nền kinh tế từ cơ chế tập trung bao cấp, cơ chế “xin”, “cho” sang cơ chế cạnh tranh;

Thực hiện dân chủ hóa nền kinh tế, khắc phục những nhược điểm của những thủ tục hành chính nặng nề cản trở sự năng động, sáng tạo

1.6 Mục tiêu của hoạt động đấu thầu

1.6.1 Các mục tiêu chung của công tác đấu thầu

1.6.1.1 Các mục tiêu căn bản

Kinh tế

Chỉ tiêu kinh tế được tập trung chủ yếu vào “giá cả” nhưng cũng bao gồm các chỉ tiêu khác mà mang đến các lợi ích kinh tế đối với các chủ thể tham gia vào hợp đồng, cụ thể như sau:

Trang 15

+ Phù hợp với mục tiêu (cụ thể là chất lượng)

+ Đáp ứng tiến độ và khả năng sẵn có của hàng hóa, dịch vụ; khả năng sẵn sàng cung cấp dịch vụ tư vấn, dịch vụ xây dựng

+ Chi phí cả đời dự án (ví dụ chi phí vận hành, bảo dưỡng)

+ Chi phí phù hợp (ví dụ vận tải và lưu kho)

+ Quản lý chi phí đối với các hoạt động đấu thầu

Hầu hết các hợp đồng kinh tế không phải lúc nào cũng đồng nghĩa với giá cả rẻ nhất Giá trị tốt nhất của đồng tiền cần đạt được các mục tiêu kinh tế và có thể được tổng hợp theo “5 Đúng” sau đây:

+ Đúng số lượng đối với hàng hóa, Đúng con người đối với tư vấn và xây lắp + Đúng chất lượng

Công khai

Một hệ thống công khai mang đến cơ hội công bằng cho tất cả các nhà thầu hợp

lệ trong việc cạnh tranh để cung cấp hàng hóa, công trình và dịch vụ

1.6.1.2 Các mục tiêu khác của công tác đấu thầu

 Hệ thống đấu thầu mua sắm công ở nhiều các quốc gia thường được sử dụng

để thực hiện các mục tiêu riêng của chính phủ các nước Các mục tiêu đó có thể bao gồm:

 Thúc đẩy công nghiệp trong nước và giải quyết việc làm

 Bảo đảm cho các vấn đề an ninh quốc gia

 Thực hiện các phúc lợi xã hội, chính sách lương tối thiểu và loại trừ việc sử dụng lao động trẻ em

Trang 16

1.6.2 Các mục tiêu cơ bản của công tác đấu thầu của Việt Nam

1.6.2.1 Tăng cường cạnh tranh trong đấu thầu

Một trong những yếu tố đạt được hiệu quả của công tác đấu thầu là phải bảo đảm được quy luật cạnh tranh theo cơ chế thị trường Trong hoạt động đấu thầu nói chung và công tác đấu thầu của Việt Nam nói riêng, mục tiêu cạnh tranh đang ngày càng được tăng cường Có cạnh tranh thì mới có động lực để sáng tạo, cải tiến, kích thích người mua đưa ra các yêu cầu phù hợp (thể hiện trong hồ sơ mời thầu) và người bán (nhà thầu) cạnh tranh với nhau để giành được hợp đồng (bán được hàng) với giá bán cạnh tranh song vẫn bảo đảm chất lượng của hàng hoá, công trình, dịch vụ Một nguyên tắc cơ bản

để bảo đảm được cạnh tranh trong đấu thầu đó là việc tạo ra sự ”mâu thuẫn lợi ích” hay

“xung đột lợi ích” Xung đột lợi ích trong đấu thầu có thể hiểu một cách nôm na rằng chủ đầu tư, bên mời thầu, luôn mong muốn “nhanh, bền, tốt, rẻ” trong khi đó, nhà thầu thì luôn muốn “làm ít, hưởng nhiều” và có nhiều hợp đồng Tuy vậy, do hoạt động đấu thầu là việc chi dùng tiền nhà nước nên việc mong muốn của các chủ thể tuy là chính đáng song không thể tùy tiện mà cần theo quy định Như vậy, khi có sự xung đột lợi ích giữa các bên sẽ tạo ra động lực cạnh tranh giữa chủ đầu tư, bên mời thầu và các nhà thầu

để đạt được sự cân bằng về lợi ích thì cuộc đấu thầu sẽ diễn ra và hàng hoá, dịch vụ, công trình được cung cấp sẽ bảo đảm về chất lượng Bên cạnh đó, giữa các nhà thầu cũng phải có sự cạnh tranh để giành lấy được hợp đồng và đó sẽ là điều kiện để kích thích các nhà thầu phát huy sáng tạo, cải tiến biện pháp thi công, cải tiến công nghệ

Để thực hiện mục tiêu này, bên mời thầu phải tạo mọi điều kiện để các nhà thầu

có cơ hội tham dự đấu thầu Điều này được thể hiện trên nhiều khía cạnh được đổi mới trong Luật Đấu thầu so với Quy chế đấu thầu trước đây, thể hiện:

+ Ngay từ giai đoạn lập và phê duyệt kế hoạch đấu thầu, việc phân chia công việc

phải thực hiện đấu thầu thành các gói thầu đã phải tính đến việc tăng khả năng cạnh tranh

+ Thông tin về đấu thầu, thông báo mời thầu phải được đăng tải trên tờ báo về đấu thầu và trang thông tin điện tử về đấu thầu của cơ quan quản lý Nhà nước về đấu thầu 2

1.6.2.2 Thống nhất quản lý việc chi tiêu sử dụng tiền của Nhà nước

Việc mua sắm bằng nguồn vốn nhà nước (mua sắm công) cần phải được quản

lý thống nhất, tránh việc mỗi nơi lại theo những chỉ đạo, hướng dẫn khác nhau, thậm chí trái ngược nhau Nhìn chung việc tổ chức đấu thầu ở Việt Nam thời gian qua đảm bảo thực hiện theo luật pháp của Nhà nước Tuy nhiên, thực tế cho thấy, việc tuân thủ luật pháp còn mang nặng tính hình thức Điều đó có nghĩa là chúng ta đã có quy định, người thực hiện tuân thủ một cách nghiêm túc, nhưng trên thực tế rất nhiều hoạt động không diễn ra công khai (như thông đồng, dàn xếp, móc nối, quân xanh quân đỏ, ) để

2 Điều 5, Điều 6 và Điều 8 Luật đấu thầu

Trang 17

“lách Luật” Do vậy, ngoài việc hiểu Luật, tuân thủ Luật Đấu thầu, điều quan trọng là cần phải tăng cường thanh tra các hoạt động đấu thầu và xử lý các vi phạm pháp luật

 Hoạt động đấu thầu không mang tính đặc thù theo ngành mà cần hiểu các ngành đều có đặc thù về tính kỹ thuật chuyên biệt để phân biệt ngành này với ngành khác Vì vậy, khi thực hiện các gói thầu của các ngành khác nhau bao giờ cũng phải quan tâm tới các yếu tố kỹ thuật chuyên biệt và điều đó đòi hỏi nhà thầu phải có năng lực, kinh nghiệm phù hợp Các yếu tố khác biệt đó đều phải được thể hiện trong hồ sơ mời thầu (cụ thể ở phần yêu cầu kỹ thuật, tiêu chuẩn đánh giá) Như vậy, các gói thầu khác nhau (kể cả cùng ngành, cùng dự án nhưng khác nhau về quy mô) sẽ có hồ sơ mời thầu khác nhau chứ không phải có quy định khác nhau cho từng ngành hay cụ thể hơn là từng gói thầu Chính

vì lẽ đó, trong đấu thầu các trình tự thực hiện là như nhau, không phải vì đặc thù của từng ngành mà dẫn tới trình tự thực hiện khác nhau Tuy nhiên, hiện tại một số tổ chức, cá nhân vẫn cho rằng có đặc thù về đấu thầu trong ngành mình để ”vận dụng” hướng dẫn quy định đấu thầu riêng cho ngành mình không theo quy định chung, không phù hợp với thông lệ quốc tế Điều này sẽ làm ảnh hưởng tiêu cực tới tính thống nhất quản lý chi tiêu, sử dụng tiền nhà nước

1.6.2.3 Công khai, minh bạch trong đấu thầu

Công khai, minh bạch trong đấu thầu vừa là một trong những mục tiêu, vừa là một trong những yêu cầu cần quán triệt

Công khai trong đấu thầu có thể hiểu là sự không ”che đậy, dấu giếm”, không

bí mật vì lợi ích của một cá nhân hoặc tổ chức nào đó mà cần thể hiện, bày tỏ các nội dung thông tin theo quy định cho mọi người liên quan hoặc có quan tâm được biết

Nội dung công khai cần thể hiện trên khía cạnh thông tin, bao gồm các yêu cầu

về gói thầu được thể hiện trong hồ sơ mời thầu bảo đảm thể hiện rõ ràng, dễ hiểu, tránh đa nghĩa Theo đó, tất cả những nội dung trong hồ sơ mời thầu mới được coi là yêu cầu, ngoài hồ sơ mời thầu không thể được coi là yêu cầu và nhà thầu không bị bắt buộc thực hiện các nội dung công việc ngoài hồ sơ mời thầu Kể cả tiêu chuẩn đánh giá (tổng hợp đến chi tiết) đều phải được thể hiện rõ ràng, minh bạch trong hồ sơ mời thầu, quá trình xét thầu không được thêm bớt, bổ sung

Trang 18

Các thông tin liên quan tới việc tham dự thầu, tổ chức các cuộc thầu, thông tin

về dự án, thông tin về trao thầu đều phải được thông báo công khai rộng rãi theo quy định

1.6.2.4 Đảm bảo công bằng trong đấu thầu

Đây là mục tiêu rất quan trọng trong đấu thầu Trong toàn bộ quá trình thực hiện Luật Đấu thầu, phải hết sức tôn trọng quyền lợi của các bên có liên quan Mọi thành viên từ chủ đầu tư đến các nhà thầu, các tổ chức tư vấn được thuê thực hiện một phần công việc của đấu thầu đều bình đẳng với nhau trước pháp luật Mỗi bên có quyền và trách nhiệm được quy định Chủ đầu tư không được phép cho rằng mình là người có quyền cao nhất muốn làm gì thì làm, muốn cho ai trúng thầu thì cho Nhà thầu không được lợi dụng quan hệ thân thiết, hoặc những tác động vật chất đối với các thành viên tổ chuyên gia đấu thầu để làm sai lệch kế hoạch đấu thầu theo hướng có lợi cho mình

Tính công bằng trong đấu thầu thể hiện rằng các chủ thể tham gia đều phải thực hiện theo quy định của pháp luật về đấu thầu Cụ thể hơn là người có thẩm quyền phê duyệt các nội dung quan trọng trong đấu thầu phải thực hiện theo quy định mà không thể dùng ảnh hưởng cá nhân để phê duyệt tạo thuận lợi cho một hoặc một số cá nhân,

tổ chức có lợi ích liên quan Còn đối với chủ đầu tư phải có trách nhiệm lập hồ sơ mời thầu bảo đảm công bằng, không được tạo lợi thế cho một hoặc một số cá nhân, hạn chế

sự tham gia của các nhà thầu khác Khi hồ sơ mời thầu đã được phê duyệt thì chủ đầu

tư, bên mời thầu, tổ chuyên gia phải thực hiện theo đúng các nội dung nêu trong hồ sơ mời thầu, không được thiên vị, đối xử bất công với bất kỳ nhà thầu nào Ngoài ra, mọi thông tin liên quan đến quá trình tổ chức đấu thầu đều phải được công khai theo quy định đến tất các nhà thầu để có cơ hội tiếp cận như nhau trong quá trình tham gia đấu thầu

1.6.2.5 Bảo đảm hiệu quả của công tác đấu thầu

 Hiệu quả của công tác đấu thầu chính là việc sử dụng một cách có hiệu nguồn tiền của Nhà nước Việc sử dụng các nguồn tiền của Nhà nước có thể mang lại hiệu quả ngắn hạn cho dự án và hiệu quả dài hạn về kinh tế - xã hội

 Hiệu quả ngắn hạn là các gói thầu đều được thực hiện bảo đảm chất lượng trong phạm vi nguồn ngân sách dự kiến sẽ bảo đảm được tính khả của dự án

 Hiệu quả dài hạn về mặt kinh tế có thể dễ dàng nhìn nhận và đánh giá thông qua chất lượng hàng hoá, công trình, dịch vụ ứng với số tiền bỏ ra và chính các công trình, nhà máy, dịch vụ, các chính sách được tạo lập sẽ có tác động tạo ra các nguồn thu mới, các giá trị thặng dư cho đất nước Hiệu quả xã hội có thể nhìn nhận qua các khía cạnh như tạo thêm nhiều công ăn việc làm, nâng cao mức sống dân cư, tạo diện mạo mới cho bộ mặt kinh tế của đất nước thông qua các công trình kết cấu hạ tầng kinh tế

Trang 19

xã hội được nâng cấp, cải thiện sẽ là những động lực để thu hút đầu tư nước ngoài, tạo

môi trường thông thoáng cho các hoạt động đầu tư kinh doanh

1.6.2.6 Phòng, chống tham nhũng trong đấu thầu

Mục tiêu tiếp theo của đấu thầu là loại trừ tham nhũng Đây là mục tiêu vừa có tính lâu dài, vừa có tính cấp bách trước mắt vì Việt nam đã ký vào công ước quốc tế về chống tham nhũng Có thể nói rằng, tham nhũng là một trong những căn bệnh dễ có nguy cơ nảy sinh trong quá trình mua sắm công vì công quỹ, tài sản là của Nhà nước, của chung, thuộc sở hữu toàn dân, đặc biệt trong lĩnh vực xây lắp, xây dựng giao thông, lĩnh vực mua sắm công có lượng vốn đầu tư thường rất lớn

Tham nhũng có thể xẩy ra trong đấu thầu dưới nhiều hình thức khác nhau, có thể kể đến các hành vi tham nhũng như:

+ Lợi dụng chức vụ, quyền hạn được giao, cố ý làm trái pháp luật dẫn đến có hành động sai trong việc quyết định trúng thầu, ký hợp đồng để được hưởng bổng lộc

Để thực hiện mục tiêu loại trừ tham nhũng này, công tác đấu thầu cần phải:

Thứ nhất, công khai các thông tin về đấu thầu, các yêu cầu, điều kiện, tiêu

chuẩn đánh giá hồ sơ dự thầu trong hồ sơ mời thầu;

Thứ hai, tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra về đấu thầu nhằm phát hiện và

ngăn chặn kịp thời các hành vi tham nhũng;

Thứ ba, xử lý nghiêm theo đúng quy định của luật pháp những hành vi tham

nhũng

7 Tính tất yếu của hoạt động đấu thầu

Cùng với sự phát triển của khoa học kỹ thuật là những thành tựu kinh tế Chúng ta

đã đạt được những kết quả to lớn trong công cuộc xây dựng và đổi mới đất nước Những thành tựu kinh tế đã đạt được do chúng ta có đường lối phương hướng đúng đắn Bên cạnh những thành công đã đạt được, chúng ta cần phải hoàn thiện hệ thống pháp luật, tạo

ra môi trường kinh tế ổn định, an toàn hấp dẫn

Khi nước ta chuyển sang nền kinh tế nhiều thành phần, chúng ta công nhận sự bình đẳng của các thành phần kinh tế, điều nay được hiến pháp nước ta quy định: “mọi thành phần kinh tế, điều đều bình đẳng trước pháp luật.” Trong lĩnh vực xây dựng cơ bản, nếu có đủ điều kiện thì mọi thành phần kinh tế đều được tham gia vào Để nâng cao hiệu quả, chất lượng công trình, tạo ra tính cạnh tranh và cũng chính là sự thừa nhận sự công

Trang 20

bằng, sự bình đẳng của các thành phần kinh tế, các chủ đầu tư phải tổ chức đấu thầu những dự án, công trình theo quy định của pháp luật

Mặt khác trong nền kinh tế thị trường, nhà nước có vai trò quản lý nền kinh tế ở góc độ vĩ mô, không can thiệp sâu vào nền kinh tế, còn các chủ thể kinh tế tự do hoạt động trong khuôn khổ pháp luật, tự do tìm kiếm, thỏa thuận về công việc, tự do ký kết các hợp đồng kinh tế theo chế độ hợp đồng kinh tế hiện hành và hoạt động trên được nhà nước coi là một phần tất yếu của nền kinh tế Vì vây, cần phải tiến hành đấu thầu để bên

có hàng bán (bên mời thầu) và người mua hàng (nhà thầu) có thể tự do lựa chọn đối tác của mình cho phù hợp

Trong cơ chế kế hoạch tập trung, các đơn vị kinh tế thực hiện nhiệm vụ theo chỉ tiêu pháp lênh, ký kết hợp đồng theo chỉ tiêu pháp lệnh Công việc của họ là do nhà nước giao cho và họ buộc phải thực hiện Cơ chế này được gọi là cơ chế ”giao-nhận” Các đơn

vị kinh tế không có quyền tự tìm kiếm công việc, không được tự thỏa thuận và ký kết hợp đồng Vì vậy trong cơ chế này không thể tồn tại được chế độ đấu thầu Bởi vậy nếu có hoạt động đấu thầu là có sự tự do tìm kiếm công việc, tự do ký kết và thực hiện hợp đồng Và như vậy là có mâu thuẫn với nguyên tắc chung của nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung

Cơ chế “giao - nhận” trong nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung có nhiều điểm giống với hình thức “chỉ định thầu” trong chế độ đấu thầu Chỉ định đấu thầu có nhiều hạn chế

là đáp ứng được yêu cầu về tính cạnh tranh, tính công bằng, bình đẳng nên không có sự rộng rãi Chỉ định thầu là hình thức chủ đầu tư giao một công việc nào đó cho nhà thầu và gần giống với việc Nhà nước giao chỉ tiêu pháp lệnh cho một đơn vị kinh tế Vì vậy trong nền kinh tế thị trường phải tổ chức đấu thầu chứ không thể áp dụng hình thức chỉ định thầu một cách rộng rãi được

Khoa học kỹ thuật ngày càng phát triển, yêu cầu của các dự án công trình ngày càng hiện đại, thẩm mĩ, vì vậy vấn đề đặt ra là các nhà đầu tư phải có năng lực về kỹ thuật, về công nghệ tiên tiến mới có thể đáp ứng được Sự lựa chọn nhà thầu đáp ứng tốt nhất các yêu cầu của trình độ khoa học kỹ thuật hiện nay là tất yếu khách quan

Hoạt động đấu thầu thống nhất quản lý các nguồn vốn đầu tư trong cả nước thông qua quy định của Nhà nước về quy mô của dự án là bao nhiêu thì phải đấu thầu Nó tạo ra một cơ sở pháp lý hoàn chỉnh cho hoạt động của các chủ thể trong phạm vi điều chỉnh cho hoạt động của các chủ thể trong phạm vi điều chỉnh Luật đấu thầu Thông qua chế độ đấu thầu, các chủ thể sẽ căn cứ để xác định hành vi của mình trong khuôn khổ pháp luật Chế độ đấu thầu quy định các mối quan hệ ràng buộc giữa chủ đầu tư, nhà thầu và nhà nước, tạo ra quyền và nghĩa vụ pháp lý của các chủ thể tham gia Chế độ đấu thầu do Nhà nước ban hành đưa ra các chỉ dẫn, trình tự, thủ tục của hoạt động đấu thầu Thông qua đó, hoạt động của các chủ thể nhanh chóng, hiệu quả và đúng pháp luật

Trang 21

Nguồn vốn đầu tư vào nước ta một phần là đầu tư trong nước, phần còn lại là đầu

tư nước ngoài Đối với đàu tư nước ngoài, các nhà đầu tư mong muốn vốn của họ phải được sử dụng hiệu quả, đúng mục đích Vì vậy, đấu thầu là hoạt động tất yếu xảy ra để lựa chọn nhà thầu tốt nhất Đối với nguồn vốn ODA, nhà đầu tư quốc tế yêu cầu phải đấu thầu quốc tế để lựa chọn được nhà thầu mang tầm cỡ quốc tế và có năng lực nhất

Hoạt động kinh tế được điều chỉnh bởi các quy định kinh tế, trong đó có quy luật cạnh tranh Mọi hoạt động kinh tế đều mang tính cạnh tranh Cạnh tranh làm cho nền kinh tế hoạt động hiệu quả hơn, mạnh mẻ hơn, nó thúc đẩy các nhà sản xuất-kinh doanh nâng cao chất lượng sản phẩm hàng hóa của họ, và vô hình chung, cạnh tranh đã đưa lại lợi ích lớn hơn cho xã hội Hoạt động đấu thầu chính là hình thức tổ chức cạnh tranh cho các nhà thầu Nhà thầu nào mạnh nhất, đáp ứng tốt nhất yêu cầu của bên mời thầu, nhà thầu đó sẽ thắng

Với lý do trên giúp ta khẳng định chắc chắn rằng đấu thầu là một hoạt động tất yếu ở nước ta trong giai đoạn hiện nay

Tất cả những nội dung mà người viết đã trình bày trong chương 1 là những vấn

đề tổng quát về hoạt động đấu thầu của nước ta hiện nay Để tìm hiểu rõ thêm về hoạt động đấu thầu, người viết đã đi sâu vào tìm hiểu và nghiên cứu về cơ sở pháp lý của hoạt động đấu thầu, và nội dung này xin đượi trình bày sau đây trong chương 2 của đề tài

Trang 22

CHƯƠNG 2

CƠ SỞ PHÁP LÝ CỦA HOẠT ĐỘNG ĐẤU THẦU

2.1 Phương pháp đấu thầu

2.1.1 Hình thức lựa chọn nhà thầu

Trong hoạt động đấu thầu, tùy theo tính chất của từng dự án mà có hình thức lựa chọn nhà thầu khác nhau Đó là hình thức: Đấu thầu rộng rãi, đấu thầu hạn chế và chỉ định thầu

 Nhóm hình thức không có điều kiện (đấu thầu rộng rãi)

Đấu thầu rộng rãi là hình thức đấu thầu này khuyến khích áp dụng nhằm đạt được tính cạnh tranh cao trên cơ sở tham gia của nhiều nhà thầu 3 Tuy nhiên, hình thức đấu thầu này được áp dụng tùy theo từng dự án cụ thể trong phạm vi một địa phương, một vùng, liên vùng, toàn quốc hoặc quốc tế Khi tổ chức đấu thầu rộng rãi, vấn đề quan trọng là thông tin Mọi nhà thầu đều phải biết được những thông tin về dự án mời thầu

tham gia càng đông và kết quả đấu thầu sẽ tốt hơn

 Nhóm hình thức có điều kiện:

Đấu thầu hạn chế: được áp dụng trong các trường hợp sau đây:

Theo yêu cầu của nhà tài trợ nước ngoài đối với nguồn vốn sử dụng cho gói thầu

Gói thầu có yêu cầu về kỹ thuật hoặc kỹ thuật có tính đặc thù; gói thầu có tính chất nghiên cứu, thử nghiệm mà chỉ có một số nhà thầu khả năng đáp ứng của gói thầu

Khi thực hiện gói thầu hạn chế, phải mời tối thiểu 5 nhà thầu được xác định là

có đủ năng lực và kinh nghiệm tham gia đấu thầu; trường hợp thực tế có ít hơn 5 nhà thầu, chủ đầu tư phải trình người có thẩm quyền xem xét, quyết định cho phép tiếp tục

tổ chức hạn chế hay áp dụng hình thức lựa chọn khác 4

 Chỉ định thầu: được áp dụng trong các trường hợp sau:

+ Sự cố bất khả kháng do thiên tai, địch họa, sự cố cần khắc phục ngay thì chủ đầu tư hoặc cơ quan chịu trách nhiệm quản lý công trình, tài sản đó được chỉ định ngay nhà thầu để được thực hiện; trong trường hợp này chủ đầu tư hoặc cơ quan chịu trách nhiệm quản lý công trình, tài sản đó phải cung với nhà thầu được chỉ định tiến hành thủ tục chỉ định thầu theo quy định trong thời hạn không quá mười lăm ngày kể

từ ngày chỉ định thầu

+ Gói thầu do yêu cầu của nhà tài trợ nước ngoài

3

Điều 18 Luật đấu thầu

4 Điều 19 Luật đấu thầu

Trang 23

+ Gói thầu thuộc dự án bí mật quốc gia; dự án cấp bách vì lợi ích quốc gia, an ninh an toàn năng lượng do Thủ tướng chính phủ quyết định khi cần thiết

+ Gói thầu mua sắm các loại vật tư, thiết bị để phục hồi, duy tu, mở rộng công suất của thiết bị, dây truyền công nghệ sản xuất mà trước đó đã được mua từ một nhà thầu cung cấp và không thể mua từ các nhà thầu cung cấp khác do phải bảo đảm tính tương thích của thiết bị công nghệ

+ Gói thầu dịch vụ tư vấn có giá gói thầu dưới 500 triệu đồng, gói thầu mua sắm hàng hóa, xây lắp có giá gói thầu dưới 1 tỷ đồng thuộc dự án đầu tư phát triển; gói thầu mua sắm hàng hóa có giá gói thầu dưới 100 triệu đồng thuộc dự án hoặc dự toán mua sắm thường xuyên; trường hợp thấy cần thiết thì tổ chức đấu thầu

+ Khi thực hiện chỉ định thầu, phải lựa chọn một nhà thầu được xác định là có

đủ năng lực và kinh nghiệm đáp ứng các yêu cầu của gói thầu và phải tuân thủ quy trình thực hiện chỉ định thầu do Chính phủ quy định 5

 Ba trường hợp đặc biệt 6

1 Lập đồ án quy hoạch xây dựng;

2 Lập dự án đầu tư xây dựng công trình và thiết kế xây dựng công trình sau khi thi tuyển phương án thiết kế kiến trúc công trình xây dựng

Sau khi có kết quả thi tuyển, chủ đầu tư và tác giả của phương án thiết kế kiến trúc được lựa chọn trực tiếp đàm phán, ký kết hợp đồng để thực hiện việc lập dự án đầu tư xây dựng công trình và thiết kế xây dựng khi tác giả của phương án thiết kế kiến trúc có đủ điều kiện năng lực theo quy định; trường hợp tác giả phương án kiến trúc không đủ điều kiện năng lực thì có thể liên danh với tổ chức tư vấn thiết kế có đủ điều kiện năng lực để ký kết hợp đồng với chủ đầu tư Nếu tác giả của phương án thiết

kế kiến trúc được lựa chọn từ chối thực hiện lập dự án đầu tư xây dựng công trình và thiết kế xây dựng thì chủ đầu tư tổ chức lựa chọn nhà thầu khác theo quy định của pháp luật;

3 Rà phá bom mìn, vật nổ để chuẩn bị mặt bằng thi công xây dựng công trình thuộc đối tượng quy định tại Quyết định số 96/2006/QĐ-TTg ngày 04 tháng 05 năm

2006 của Thủ tướng Chính phủ về việc quản lý và thực hiện công tác rà phá bom, mìn, vật nổ

 Tư vấn lập, đánh giá báo cáo chiến lược, quy hoạch

 Tư vấn lập PFC, báo cáo đầu tư

 Tư vấn lập FC, dự án đầu tư

 Thi công tượng đài, phù điêu, tranh hoành tráng, tác phẩm nghệ thuật

Trang 24

 Chương trình mục tiêu quốc gia

 Danh mục các dự án trọng điểm do Thủ tướng quyết định

 Các trường hợp khác do Thủ tướng quyết định

Vì hình thức chỉ định thầu không tạo ra được tính cạnh tranh giữa các nhà thầu, cho nên khuyến khích các dự án đầu tư không sử dụng vốn nhà nước tổ chức đấu thầu và khuyến khích các dự án được phép chỉ định thầu chuyển sang hình thức đấu thầu toàn bộ hoặc từng phần dự án khi có điều kiện

2.1.2 Mua sắm trực tiếp 7

 Mua sắm trực tiếp được áp dụng khi hợp đồng đã ký trước đó cho gói thầu có nội dung mua sắm tương tự thông qua đấu thầu hạn chế và mua sắm

 Thời gian áp dụng không qua 6 tháng kể từ khi nhà thầu trước đó ký hợp đồng

 Đơn giá đối với các nội dung thuộc gói thầu áp dụng mua sắm trực tiếp không được vượt đợn giá của các nội dung tương ứng thuộc gói thầu tương tự đã ký hợp đồng trước đó

 Được áp dụng mua sắm trực tiếp để thực hiện gói thầu tương tự thuộc cùng một dự án hoặc thuộc dự án khác

2.1.3 Chào hàng cạnh tranh trong mua sắm hàng hóa 8

Chào hàng cạnh tranh được áp dụng trong trường hợp có đủ các điều kiện sau đây:

 Gói thầu có giá gói thầu nhỏ hơn 2 tỷ đồng

 Nội dung mua sắm là những hàng hóa thông dụng, sẳn có trên thị trường với đặc tính kỹ thuật được tiêu chuẩn và tương đương nhau về chất lượng

 Khi thực hiện chào hàng cạnh tranh, phải gửi yêu cầu chào hàng cho các nhà thầu Nhà thầu gửi báo giá đến bên mời thầu một cách trực tiếp, bằng fax hoặc qua đường bưu điện Đối với mỗi gói thầu phải có tối thiểu ba báo giá từ ba nhà thầu khác nhau

2.1.4 Tự thực hiện 9

 Chủ đầu tư có đủ năng lực và kinh nghiệm

 Dự án do chủ đầu tư quản lý và sử dụng

 Phải có dự toán được duyệt

 Phải tư vấn giám sát độc lập: áp dụng giám sát độc lập khi pháp luật chuyên nghành có yêu cầu, gói thầu cải tạo, sửa chữa lớn các thiết bị, dây chuyền sản xuất không buộc phải thuê tư vấn giám sát

7

Điều 21 Luật đấu thầu

8

Điều 22 Luật đấu thầu

9 Điều 23 Luật đấu thầu

Trang 25

 Chủ đầu tư tự giám sát, trường hợp không có tư vấn quan tâm, không chọn được do ở vùng xâu vùng xa hoặc gói thầu nhỏ hơn một tỷ thì chủ đầu tư phải thực hiện giám sát cộng đồng

2.1.5 Lựa chọn nhà thầu trong trường hợp đặc biệt 10

 Chỉ áp dụng khi các hình thức trong luật đấu thầu đều không phù hợp

 Chủ đầu tư lập phương án lựa chọn Thủ tướng chính phủ phê duyệt

2.2 Phương thức đấu thầu

2.2.1 Phương thức đấu thầu một túi hồ sơ 11

 Áp dụng đối với hình thức đấu thầu rộng rãi và hạn chế cho gói thầu mua sắm hàng hóa, xây dựng, EFC

 Hồ sơ dự thầu gồm đề xuất kỹ thuật và đề xuất tài chính

 Việc đấu thầu được tiến hành một lần

2.2.2 Phương thức đấu thầu hai túi hồ sơ 12

 Áp dụng đối với hình thức đấu thầu rộng rãi và đấu thầu hạn chế cho gói thầu cung cấp dịch vụ tư vấn

 Nhà thầu nộp đề xuất kỹ thuật và đề xuất tài chính riêng biệt theo yêu cầu của

hồ sơ mời thầu

 Việc mở thầu được tiến hành hai lần; trong đó, đề xuất kỹ thuật sẽ được mỏ trước để đánh giá, đề xuất về tài chính của tất cả các nhà thầu có đề xuất kỹ thuật được đánh giá là đáp ứng yêu cầu được mở sau để dánh giá tổng hợp Trường hợp gói thầu có yêu cầu kỹ thuật cao thì đề xuất về tài chính của nhà thầu đạt số điểm kỹ thuật cao nhất sẽ được mở để xem xét thương thảo

2.2.3 Phương thức đấu thầu hai giai đoạn

 Phương thức đấu thầu hai giai đoạn áp dụng đối với hình thức đấu thầu rộng rãi

và hạn chế cho gói thầu mua sắm hàng hóa, xây dựng, EFC có kỹ thuật công nghệ mới, phức tạp, đa dạng và được thực hiện theo trình tự sau đây:

+ Trong giai đoạn một, theo hồ sơ mời thầu giai đoạn một, các nhà thầu nộp

đề xuất về kỹ thuật, phương án tài chính nhưng chưa có giá dự thầu; trên cơ sở trao đổi với từng nhà thầu tham gia giai đoạn này sẽ xác định hồ sơ mời thầu giai đoạn hai

+ Trong giai đoạn hai, theo hồ sơ mời thầu giai đoạn hai, các nhà thầu đã tham gia giai đoạn một được mời nộp hồ sơ dự thầu giai đoạn hai bao gồm: đề xuất về

kỹ thuật, đề xuất về tài chính, trong đó có giá dự thầu; biện pháp bảo đảm dự thầu

10

Điều 24 Luật đấu thầu

11

Khoản 1 điều 26 Luật đấu thầu

12 Khoản 2 điều 26 Luật đấu thầu

Trang 26

2.3 Hợp đồng đấu thầu

2.3.1 Nguyên tắc thực hiện hợp đồng

 Hợp đồng là văn bản ký kết giữa nhà thầu và chủ đầu tư được lựa chọn trên cơ

sở thỏa thuận giữa các bên, nhưng phải phù hợp với quyết định phê duyệt kết quả lựa chọn nhà thầu

 Một gói thầu được thực hiện theo một hợp đồng Trường hợp gói thầu gồm nhiều phần độc lập thì được thực hiện theo một hoặc nhiều hợp đồng

Một hợp đồng được thực hiện theo một hoặc nhiều hình thức hợp đồng

 Hợp đồng phải phù hợp với Luật Đấu thầu và pháp luật có liên quan

Trường hợp có liên danh thì hợp đồng phải có chữ ký của tất cả thành viên tham gia liên danh

 Giá hợp đồng không được vượt giá trúng thầu

Trường hợp phát sinh khối lượng công việc hoặc số lượng nằm ngoài phạm vi

hồ sơ mời thầu dẫn đên giá hợp đồng vượt giá trúng thầu thì phải được người có thẩm quyền xem xét, quyết định 13

2.3.2 Hình thức hợp đồng

Hợp đồng đấu thầu phải được lập thành văn bản và căn cứ theo tính chất, quy

mô, thời gian thực hiện… của từng gói thầu mà lựa chọn các hình thức hợp đồng sau:

2.3.2.1 Hình thức hợp đồng trọn gói

Hình thức trọn gói được áp dụng cho những phần công việc được xác định rõ

về số lượng, khối lượng; giá hợp đồng không thay đổi trong suốt thời gian thực hiện hợp đồng (trừ trường hợp bất khả kháng), giá hợp đồng không thay đổi trong suốt thời gian thực hiện hợp đồng chủ đầu tư thanh toán cho nhà thầu bằng đúng giá ghi trong hợp đồng khi nhà thầu hoàn thành các nghĩa vụ theo hợp đồng 14

Nguyên tắc thanh toán đối với hình thức hợp đồng trọn gói:

 Giá hợp đồng không được điều chỉnh trong quá trình thực hiện hợp đồng, trừ trường hợp bất khả kháng theo thỏa thuận trong hợp đồng (là những tình huống thực tiễn xảy ra nằm ngoài tầm kiểm soát và khả năng lường trước của chủ đầu tư, nhà thầu, không liên quan đến sai phạm hoặc sơ xuất của chủ đầu tư, nhà thầu, như: chiến tranh, bạo loạn, đình công, hỏa hoạn, thiên tai, lũ lụt, dịch bệnh, cách ly do kiểm dịch, cấm vận) Việc thanh toán được thực hiện nhiều lần hoặc thanh toán một lần khi hoàn thành hợp đồng Tổng số tiền mà chủ đầu tư thanh toán cho nhà thầu cho đến khi nhà thầu hoàn thành các nghĩa vụ theo hợp đồng bằng đúng giá ghi trong hợp đồng Trường hợp bất khả kháng thì thanh toán theo thỏa thuận trong hợp đồng (nếu có)

13

Điều 46 Luật Đấu thầu

14 Điều 49 Luật Đấu thầu và Điều 48 Nghị định 58

Trang 27

 Đối với hợp đồng theo hình thức trọn gói thuộc gói thầu gồm hai hoặc nhiều phần công việc như lập báo cáo nghiên cứu tiền khả thi, báo cáo nghiên cứu khả thi, thiết kế kỹ thuật thì trong hợp đồng cần quy định phương thức thanh toán cho từng phần, trong đó quy định cụ thể: trong trường hợp báo cáo nghiên cứu tiền khả thi không được phê duyệt thì nhà thầu chỉ được thanh toán cho phần công việc lập báo cáo nghiên cứu tiền khả thi; trong trường hợp báo cáo nghiên cứu khả thi không được phê duyệt thì nhà thầu chỉ được thanh toán cho công việc lập báo cáo nghiên cứu tiền khả thi và báo cáo nghiên cứu khả thi

 Đối với nhà thầu được lựa chọn thông qua các hình thức lựa chọn nhà thầu khác ngoài hình thức chỉ định thầu, việc thanh toán phải căn cứ vào giá hợp đồng và các điều khoản thanh toán nêu trong hợp đồng, không căn cứ theo dự toán cũng như các quy định, hướng dẫn hiện hành của Nhà nước về định mức, đơn giá; không căn cứ vào đơn giá trong hóa đơn tài chính đối với các yếu tố đầu vào của nhà thầu như vật tư, máy móc, thiết bị và các yếu tố đầu vào khác

 Đối với công việc xây lắp, trước khi ký kết hợp đồng, các bên liên quan cần rà soát lại bảng khối lượng công việc theo thiết kế được duyệt, nếu nhà thầu (bao gồm cả nhà thầu được chỉ định thầu) hoặc chủ đầu tư phát hiện bảng khối lượng công việc bóc tách từ thiết kế chưa chính xác, chủ đầu tư cần báo cáo người có thẩm quyền xem xét, quyết định việc bổ sung khối lượng công việc để bảo đảm phù hợp với thiết kế

Trường hợp cần cắt giảm khối lượng công việc để đảm bảo phù hợp với thiết kế thì chủ đầu tư không cần báo cáo người có thẩm quyền Đối với công việc xây lắp này, sau khi hợp đồng theo hình thức trọn gói được ký kết, khối lượng công việc thực tế nhà thầu đã thực hiện để hoàn thành theo thiết kế (nhiều hơn hay ít hơn khối lượng công việc nêu trong hợp đồng) không ảnh hưởng tới số tiền thanh toán cho nhà thầu

Chủ đầu tư chịu trách nhiệm về tính chính xác của số lượng, khối lượng công việc Trường hợp có thất thoát xảy ra (do tính toán sai số lượng, khối lượng công việc) thì cá nhân, tổ chức thuộc chủ đầu tư làm sai có trách nhiệm đền bù và xử lý theo quy định của pháp luật

Trường hợp trong hợp đồng giữa chủ đầu tư và nhà thầu tư vấn lập hồ sơ mời thầu, hồ sơ yêu cầu, lập dự toán có quy định về việc xử lý đối với việc tính toán sai số lượng, khối lượng công việc thì chủ đầu tư được đền bù theo thỏa thuận trong hợp đồng với nhà thầu tư vấn này

2.3.2.2 Hình thức hợp đồng theo đơn giá

Theo Điều 50 Luật Đấu thầu Hình thức theo đơn giá áp dụng cho những phần công việc chưa đủ điều kiện xác định chính xác về số lượng, khối lượng; chủ đầu tư thanh toán cho nhà thầu theo số lượng, số lượng thực tế trên cơ sở đơn giá do nhà thầu chào

Trang 28

Nguyên tắc thanh toán đối với hình thức theo đơn giá được quy định cụ thể như sau:

+ Giá trị thanh toán được tính bằng cách lấy đơn giá trong hợp đồng hoặc đơn giá được điều chỉnh nêu trong hợp đồng nhân với khối lượng, số lượng công việc thực tế

mà nhà thầu đã thực hiện

+ Đối với công việc xây lắp, trường hợp khối lượng công việc thực tế mà nhà thầu đã thực hiện để hoàn thành theo đúng thiết kế ít hơn khối lượng công việc nêu trong hợp đồng, nhà thầu chỉ được thanh toán cho phần khối lượng thực tế đã thực hiện Trường hợp khối lượng công việc thực tế mà nhà thầu đã thực hiện để hoàn thành theo đúng thiết kế nhiều hơn khối lượng công việc nêu trong hợp đồng, nhà thầu được thanh toán cho phần chênh lệch khối lượng công việc này

+ Chủ đầu tư, tư vấn giám sát và nhà thầu chịu trách nhiệm xác nhận vào biên bản nghiệm thu khối lượng hoàn thành để làm cơ sở thanh toán cho nhà thầu 15

2.3.2.3 Hình thức hợp đồng theo thời gian

Hình thức theo đơn giá áp dụng cho những phần công việc nghiên cứu phức tạp, tư vấn thiết kế xây dựng, đào tạo, huấn luyện; chủ đầu tư thanh toán cho nhà thầu theo tháng, tuần, ngày, giờ làm việc thực tế trên cơ sở mức thù lao được chuyên gia nêu trong hợp đồng hoặc mức thù lao được chấp nhận điều chỉnh theo quy định tại Điều 57 của Luật Đấu thầu 16

 Việc thanh toán cho nhà thầu đối với hình thức theo thời gian được thực hiện như sau:

+ Mức thù lao cho chuyên gia là chi phí cho chuyên gia, được tính bằng cách lấy lương cơ bản và các chi phí liên quan do chủ đầu tư và nhà thầu thỏa thuận được nêu trong hợp đồng hoặc được điều chỉnh theo Điều 57 của Luật Đấu thầu nhân với thời gian làm việc thực tế (theo tháng, tuần, ngày, giờ)

+ Các khoản chi phí ngoài chi phí cho chuyên gia quy định tại khoản 1 Điều

50 Nghị định 58, bao gồm chi phí đi lại, khảo sát, thuê văn phòng làm việc và các chi phí khác thì thanh toán theo phương thức quy định trong hợp đồng Đối với mỗi khoản chi phí này, trong hợp đồng cần quy định rõ phương thức thanh toán: thanh toán theo thực tế dựa vào hóa đơn, chứng từ hợp lệ do nhà thầu xuất trình hoặc thanh toán trên

cơ sở đơn giá thỏa thuận trong hợp đồng

Tổng số tiền thanh toán cho nhà thầu được nêu ở trên phải đảm bảo không được vượt tổng giá trị nêu trong hợp đồng 17

Trang 29

Hình thức theo tỷ lệ phần trăm được áp dụng cho những phần công việc tư vấn thông thường, đơn giản; giá hợp đồng không thay đổi suốt thời gian thực hiện hợp đồng; giá hợp đồng được tính theo phần trăm giá trị của công trình hoặc khối lượng công việc; chủ đầu tư thanh toán cho nhà thầu bằng đúng giá ghi trong hợp đồng khi nhà thầu hoàn thành các nghĩa vụ theo hợp đồng 18

+ Trường hợp có khối lượng, số lượng tăng hoặc giảm trong quá trình thực hiện hợp đồng nhưng trong phạm vi của hồ sơ mời thầu và không do lỗi của nhà thầu gây ra thì việc tính giá trị tăng hoặc giảm phải căn cứ vào đơn giá của hợp đồng

 Trường hợp khối lượng công việc phát sinh này nhỏ hơn 20% khối lượng công việc tương ứng ghi trong hợp đồng mà đã có đơn giá trong hợp đồng thì sử dụng đơn giá đã ghi trong hợp đồng để thanh toán

 Trường hợp khối lượng công việc phát sinh này từ 20% khối lượng công việc tương ứng trở lên ghi trong hợp đồng hoặc khối lượng công việc phát sinh chưa

có đơn giá trong hợp đồng thì chủ đầu tư và nhà thầu thống nhất xác định đơn giá mới theo các nguyên tắc quy định trong hợp đồng về đơn giá các khối lượng phát sinh

+ Trường hợp giá nhiên liệu, vật tư, thiết bị nêu trong hợp đồng do Nhà nước kiểm soát có biến động lớn ảnh hưởng trực tiếp đến việc thực hiện hợp đồng thì phải báo cáo người có thẩm quyền xem xét, quyết định

Việc điều chỉnh hợp đồng chỉ áp dụng trong thời gian thực hiện hợp đồng theo hợp đồng đã ký và phải được người có thẩm quyền xem xét, quyết định Giá hợp đồng sau điều chỉnh không được vượt dự toán, tổng dự toán hoặc giá gói thầu trong kế hoạch đấu thầu được duyệt, trừ trường hợp được người có thẩm quyền cho phép 19

Đối với phần công việc xây lắp, trước khi ký kết phụ lục bổ sung hợp đồng cần phê duyệt dự toán đối với khối lượng công việc phát sinh theo quy định của pháp luật

2.3.4 Thành phần hợp đồng

18

Điều 52 Luật đấu thầu

19 Điều 57 Luật Đấu thầu và Điều 52 Nghị định 58

Trang 30

Thành phần hợp đồng là các tài liệu hình thành nên hợp đồng để điều chỉnh trách nhiệm và nghĩa vụ của chủ đầu tư và nhà thầu Thành phần hợp đồng và thứ tự

ưu tiên pháp lý như sau:

+ Văn bản hợp đồng (kèm theo Phụ lục gồm biểu giá và các nội dung khác nếu có)

+ Biên bản thương thảo, hoàn thiện hợp đồng

+ Quyết định phê duyệt kết quả lựa chọn nhà thầu

+ Điều kiện cụ thể của hợp đồng (nếu có)

+ Điều kiện chung của hợp đồng (nếu có)

+ Hồ sơ dự thầu, hồ sơ đề xuất và các văn bản làm rõ hồ sơ dự thầu, hồ sơ đề xuất của nhà thầu được lựa chọn (nếu có)

+ Hồ sơ mời thầu, hồ sơ yêu cầu và các tài liệu bổ sung hồ sơ mời thầu, hồ sơ yêu cầu (nếu có)

+ Các tài liệu kèm theo khác (nếu có)

Đối với hợp đồng xây lắp, biểu giá phải được xây dựng trên cơ sở biên bản thương thảo, hoàn thiện hợp đồng; quyết định phê duyệt kết quả lựa chọn nhà thầu; hồ

sơ dự thầu, hồ sơ đề xuất của nhà thầu được lựa chọn căn cứ theo các hạng mục chi tiết nêu trong bảng tiên lượng của hồ sơ mời thầu hoặc hồ sơ yêu cầu

Trường hợp được người có thẩm quyền cho phép bổ sung, điều chỉnh khối lượng công việc trước khi ký kết hợp đồng thì biểu giá còn bao gồm khối lượng công việc bổ sung, điều chỉnh này

Trường hợp ký kết phụ lục bổ sung hợp đồng theo quy định tại khoản 2 Điều 52 Nghị định 58, phụ lục bổ sung hợp đồng sẽ là một thành phần của hợp đồng 20

2.3.5 Thanh toán, giám sát, nghiệm thu, thanh lý hợp đồng

2.3.5.1 Thanh toán hợp đồng

Giá hợp đồng và các điều khoản cụ thể về thanh toán được ghi trong hợp đồng

là cơ sở để chủ đầu tư thanh toán cho nhà thầu 21

Hồ sơ thanh toán gồm có:

 Đối với phần công việc xây lắp áp dụng hình thức theo đơn giá:

+ Biên bản nghiệm thu khối lượng thực hiện trong giai đoạn thanh toán có xác nhận của đại diện nhà thầu, chủ đầu tư và tư vấn giám sát (nếu có);

+ Bản xác nhận khối lượng điều chỉnh tăng hoặc giảm so với hợp đồng có xác nhận của đại diện nhà thầu, chủ đầu tư và tư vấn giám sát (nếu có)

+ Bảng tính giá trị đề nghị thanh toán trên cơ sở khối lượng công việc hoàn thành đã được xác nhận và đơn giá ghi trong hợp đồng

Trang 31

+ Đề nghị thanh toán của nhà thầu, trong đó nêu rõ khối lượng đã hoàn thành

và giá trị hoàn thành, giá trị tăng (giảm) so với hợp đồng, giá trị đã tạm ứng, giá trị đề nghị thanh toán trong giai đoạn thanh toán

 Đối với phần công việc xây lắp áp dụng hình thức trọn gói:

+ Biên bản nghiệm thu khối lượng thực hiện trong giai đoạn thanh toán có xác nhận của đại diện nhà thầu, chủ đầu tư và tư vấn giám sát (nếu có) Biên bản xác nhận khối lượng này là xác nhận hoàn thành công trình, hạng mục công trình, công việc của công trình phù hợp với thiết kế mà không cần xác nhận khối lượng hoàn thành chi tiết;

+ Các tài liệu khác theo quy định tại điểm b, c, d khoản 1 Điều 53 NĐ 58

 Đối với công việc mua sắm hàng hóa:

Tùy tính chất của hàng hóa để quy định hồ sơ thanh toán cho phù hợp như hóa đơn của nhà thầu, danh mục hàng hóa đóng gói, chứng từ vận tải, đơn bảo hiểm, Giấy chứng nhận chất lượng, biên bản nghiệm thu hàng hóa, Giấy chứng nhận xuất xứ và các tài liệu, chứng từ khác liên quan

 Đối với công việc áp dụng hình thức theo thời gian và hình thức theo tỷ lệ phần trăm:

Tùy tính chất của công việc tư vấn để quy định hồ sơ thanh toán cho phù hợp như biên bản nghiệm thu kết quả của công việc tư vấn, tài liệu xác nhận tiến độ thực hiện hợp đồng và các tài liệu, chứng từ khác liên quan

 Đối với công việc xây lắp và công việc mua sắm hàng hóa, trừ trường hợp điều khoản điều chỉnh giá hợp đồng quy định rõ chủ đầu tư và nhà thầu thỏa thuận áp dụng đơn giá nêu trong hóa đơn đầu vào (đối với yếu tố như máy móc, vật tư, thiết bị và các yếu tố đầu vào khác) làm căn cứ điều chỉnh giá, việc yêu cầu nhà thầu xuất trình hóa đơn đầu vào chỉ nhằm xác định xuất xứ và các thông tin liên quan khác mà không căn

cứ đơn giá nêu trong hóa đơn đầu vào để thanh toán cho nhà thầu Việc thanh toán phải căn cứ vào giá hợp đồng và các điều khoản thanh toán nêu trong hợp đồng, không căn cứ theo dự toán cũng như các quy định, hướng dẫn hiện hành của Nhà nước về định mức, đơn giá, trừ trường hợp đối với nhà thầu được chỉ định thầu 22

2.3.5.2 Giám sát thực hiện hợp đồng

Việc giám sát thực hiện hợp đồng được thực hiện theo quy định sau đây:

+ Chủ đầu tư chịu trách nhiệm giám sát nhà thầu trong việc thực hiện hợp đồng + Cá nhân được giao nhiệm vụ giám sát thực hiện hợp đồng phải bảo đảm công tâm, trung thực, khách quan, có đủ năng lực, kinh nghiệm, kiến thức chuyên môn để thực hiện nhiệm vụ và phải chịu trách nhiệm trước chủ đầu tư và trước pháp luật về việc thực hiện nhiệm vụ của mình;

22 Điều 53 Nghị định 58

Trang 32

+ Nhà thầu tư vấn giám sát thi công thiếu trách nhiệm hoặc thông đồng với nhà thầu xây dựng xác nhận sai khối lượng, chất lượng công trình thì nhà thầu tư vấn và nhà thầu xây dựng phải bồi thường thiệt hại và bị xử lý theo quy định tại Điều 75 của Luật Đấu thầu và quy định của pháp luật có liên quan;

+ Cộng đồng dân cư tham gia giám sát hoạt động đấu thầu theo quy định của Chính phủ 23

2.3.5.3 Nghiệm thu hợp đồng

Việc nghiệm thu hợp đồng được thực hiện theo quy định sau đây:

 Việc nghiệm thu từng phần hay toàn bộ hợp đồng phải được tiến hành phù hợp với nội dung hợp đồng đã ký kết;

 Cá nhân tham gia vào quá trình nghiệm thu phải bảo đảm công tâm, trung thực, khách quan, có đủ năng lực, kinh nghiệm, kiến thức chuyên môn và phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về việc thực hiện nhiệm vụ của mình 24

2.3.5.4 Thanh lý hợp đồng

Việc thanh lý hợp đồng phải được thực hiện xong trong thời hạn bốn mươi lăm ngày kể từ khi chủ đầu tư và nhà thầu hoàn thành các nghĩa vụ theo hợp đồng; trường hợp gói thầu thật sự phức tạp thì được phép kéo dài thời hạn thanh lý hợp đồng nhưng không quá chín mươi ngày 25

2.4 Kế hoạch đấu thầu

2.4.1 Nguyên tắc lập kế hoạch đấu thầu

 Kế hoạch đấu thầu do người có thẩm quyền phê duyệt theo đề nghị của chủ đầu

tư và cơ quan (tổ chức) thẩm định

 Trường hợp đủ điều kiện thì phê duyệt kế hoạch đấu thầu đồng thời với quyết định đầu tư, trừ gói thầu cần thực hiện trước khi có quyết định đầu tư

 Phải lập cho toàn bộ dự án, trường hợp chưa đủ điều kiện có thể lập kế hoạch đấu thầu cho một số gói thầu để thực hiện trước

 Việc phân chia dự án thành các gói thầu phải căn cứ theo tính chất kỹ thuật, trình tự thực hiện, bảo đảm tính đồng bộ, quy mô hợp lý

 Mỗi gói thầu chỉ có một hồ sơ mời thầu, một hợp đồng Trường hợp gói thầu gồm nhiều phần độc lập thì thực hiện theo một hoặc nhiều hợp đồng 26

2.4.2 Căn cứ lập kế hoạch đấu thầu

Khoản 3 Điều 59 Luật Đấu thầu

26 Điều 6 Luật Đấu thầu

Trang 33

 Quyết định đầu tư và các tài liệu để ra quyết định đầu tư; Giấy chứng nhận đăng

ký kinh doanh, Giấy chứng nhận đầu tư Đối với các công việc chuẩn bị dự án thì căn

cứ theo quyết định của người đứng đầu cơ quan chuẩn bị dự án

 Điều ước quốc tế hoặc văn bản thỏa thuận quốc tế đối với các dự án sử dụng vốn ODA

 Thiết kế dự toán được duyệt (nếu có)

 Nguồn vốn cho dự án

 Các văn bản pháp lý khác liên quan (nếu có) 27

2.4.3 Nội dung kế hoạch đấu thầu

Nội dung của từng gói thầu bao gồm:

 Tên gói thầu

Tên gói thầu thể hiện tính chất, nội dung và phạm vi công việc của gói thầu, phù hợp với nội dung nêu trong dự án Trường hợp đủ điều kiện và căn cứ đặc thù của

dự án, gói thầu có thể bao gồm các nội dung công việc lập báo cáo nghiên cứu tiền khả thi, lập báo cáo nghiên cứu khả thi và thiết kế kỹ thuật Trường hợp gói thầu gồm nhiều phần riêng biệt (nhiều lô), trong kế hoạch đấu thầu cần nêu tên của từng phần

 Giá gói thầu

Giá gói thầu (bao gồm cả dự phòng) được xác định trên cơ sở tổng mức đầu tư hoặc tổng vốn đầu tư, dự toán được duyệt (nếu có) và các quy định liên quan Đối với các gói thầu dịch vụ tự vấn lập báo cáo nghiên cứu tiền khả thi, báo cáo nghiên cứu khả thi, giá gói thầu được xác định trên cơ sở các thông tin sau: giá trung bình theo thống kê các dự án đã thực hiện liên quan của ngành trong khoảng thời gian xác định; ước tính tổng mức đầu tư theo định mức suất đầu tư của các dự án thuộc từng lĩnh vực chuyên ngành; sơ bộ tổng mức đầu tư

 Nguồn vốn

Đối với mỗi gói thầu phải nêu rõ nguồn vốn hoặc phương thức thu xếp vốn để thanh toán cho nhà thầu; trường hợp sử dụng vốn ODA thì phải nêu rõ tên nhà tài trợ vốn và cơ cấu nguồn vốn (ngoài nước, trong nước)

Hình thức lựa chọn nhà thầu và phương thức đấu thầu

Nêu hình thức lựa chọn nhà thầu (trong nước, quốc tế, sơ tuyển nếu có) theo quy định từ Điều 18 đến Điều 24 của Luật Đấu thầu và Điều 97 của Luật Xây dựng; phương thức đấu thầu theo quy định tại Điều 26 của Luật Đấu thầu Trường hợp cần

áp dụng sơ tuyển đối với các gói thầu không thuộc quy định tại khoản 1 Điều 32 của Luật Đấu thầu, cần áp dụng thủ tục lựa chọn danh sách nhà thầu để mời tham gia đấu thầu tư vấn và cần lựa chọn tư vấn cá nhân thì người quyết định đầu tư quy định trong

kế hoạch đấu thầu

27 Điều 9 Nghị định 58

Trang 34

 Thời gian lựa chọn nhà thầu

Nêu thời gian tổ chức thực hiện việc lựa chọn nhà thầu thực hiện gói thầu để bảo đảm tiến độ của gói thầu

 Hình thức hợp đồng

Tùy theo tính chất của gói thầu, xác định các hình thức hợp đồng áp dụng đối với hợp đồng cho gói thầu theo quy định từ Điều 49 đến Điều 53 của Luật Đấu thầu và Điều 107 của Luật Xây dựng

 Thời gian thực hiện hợp đồng

Thời gian thực hiện hợp đồng phải bảo đảm việc thực hiện gói thầu phù hợp với tiến độ thực hiện dự án 28

2.4.4 Trình, thẩm định, phê duyệt kế hoạch đấu thầu

2.4.4.1 Trình duyệt kế hoạch đấu thầu

 Trách nhiệm trình duyệt

Chủ đầu tư có trách nhiệm trình kế hoạch đấu thầu lên người quyết định đầu tư hoặc người được uỷ quyền quyết định đầu tư xem xét, phê duyệt; đồng thời gửi cho cơ quan, tổ chức thẩm định; trường hợp trình kế hoạch đấu thầu lên Thủ tướng Chính phủ, chủ đầu tư còn phải gửi cho bộ quản lý ngành để có ý kiến bằng văn bản trình Thủ tướng Chính phủ xem xét, phê duyệt

Đối với các gói thầu dịch vụ tư vấn được thực hiện trước khi có quyết định đầu

tư thì chủ đầu tư, đơn vị được giao nhiệm vụ chuẩn bị dự án có trách nhiệm trình kế hoạch đấu thầu lên người đứng đầu cơ quan mình (người giao nhiệm vụ) để xem xét, phê duyệt Trong trường hợp này, người đứng đầu cơ quan liên quan chịu trách nhiệm chỉ định một đơn vị trực thuộc tổ chức thẩm định kế hoạch đấu thầu trước khi phê duyệt

 Hồ sơ trình duyệt

Văn bản trình duyệt kế hoạch đấu thầu bao gồm những nội dung sau đây:

+ Phần công việc đã thực hiện bao gồm những công việc liên quan tới chuẩn bị

dự án với giá trị tương ứng và căn cứ pháp lý để thực hiện

+ Phần công việc không áp dụng được một trong các hình thức lựa chọn nhà thầu quy định từ Điều 18 đến Điều 24 của Luật Đấu thầu và Điều 97 của Luật Xây dựng

+ Phần kế hoạch đấu thầu bao gồm những công việc hình thành các gói thầu được thực hiện theo một trong các hình thức lựa chọn nhà thầu quy định từ Điều 18 đến Điều 24 của Luật Đấu thầu và Điều 97 của Luật Xây dựng, kể cả các công việc như rà phá bom mìn, xây dựng khu tái định cư, bảo hiểm công trình, đào tạo; cơ sở của việc chia dự án thành các gói thầu Đối với từng gói thầu, phải bảo đảm có đủ các nội

28 Điều 10 Nghị định 58

Trang 35

dung quy định tại Điều 10 Nghị định 58 Trường hợp không áp dụng đấu thầu rộng rãi thì phải nêu rõ lý do

Tổng giá trị các phần công việc đã thực hiện, phần công việc không áp dụng các hình thức lựa chọn nhà thầu và phần công việc thuộc kế hoạch đấu thầu không được vượt tổng mức đầu tư của dự án

Trường hợp cần thiết phải lập kế hoạch đấu thầu cho một hoặc một số gói thầu

để thực hiện trước theo quy định tại khoản 2 Điều 6 của Luật Đấu thầu thì trong văn bản trình duyệt vẫn phải bao gồm các nội dung như quy định tại khoản 2 điều 11 Nghị định 58

 Tài liệu kèm theo văn bản trình duyệt

Khi trình duyệt kế hoạch đấu thầu, chủ đầu tư phải gửi kèm theo bản chụp các tài liệu làm căn cứ lập kế hoạch đấu thầu theo quy định tại Điều 9 Nghị định 58 29

2.4.4.2 Thẩm định kế hoạch đấu thầu

Cơ quan, tổ chức được giao nhiệm vụ có trách nhiệm nghiên cứu và lập báo cáo thẩm định 30

2.4.4.3 Phê duyệt kế hoạch đấu thầu

Người quyết định đầu tư hoặc được uỷ quyền quyết định đầu tư hoặc người đứng đầu cơ quan chuẩn bị dự án có trách nhiệm phê duyệt kế hoạch đấu thầu trong thời hạn không quá 10 ngày, kể từ ngày nhận được báo cáo của cơ quan, tổ chức thẩm định Việc phê duyệt kế hoạch đấu thầu thuộc trách nhiệm của Thủ tướng Chính phủ được thực hiện theo Quy chế làm việc của Chính phủ 31

2.5 Quy trình đấu thầu

Luật Đấu thầu 2005 có quy định về quy trình đấu thầu tư vấn, đấu thầu mua sắm hàng hóa, đấu thầu xây lắp Cả ba quy trình đấu thầu đều tương tự nhau, chúng chỉ có vài điểm cơ bản khác nhau Và trong bài viết này người viết chỉ đi sâu vào nghiên cứu quy trình đấu thầu xây lắp

Hoạt động đấu thầu xây lắp bao gồm các trình tự sau:

 Chuẩn bị đấu thầu

 Tổ chức đấu thầu

 Làm rõ hồ sơ mời thầu

 Đánh giá hồ sơ dự thầu

Trang 36

 Phê duyệt kết quả đấu thầu

 Thông báo kết quả đấu thầu

 Thương thảo, hoàn thiện hợp đồng và ký kết hợp đồng

2.5.1 Chuẩn bị đấu thầu

Theo quy định tại điều 32 Luật đấu thầu 2005 thì chuẩn bị đấu thầu gồm các trình tự sau:

2.5.1.1 Sơ tuyển nhà thầu

Việc sơ tuyển nhà thầu được áp dụng đối với gói thầu mua sắm hàng hóa, xây lắp được thực hiện theo quy định sau đây:

Việc sơ tuyển nhà thầu được thực hiện trước khi tổ chức đấu thầu nhằm chọn được các nhà thầu đủ năng lực và kinh nghiệm theo yêu cầu của gói thầu để mời tham gia đấu thầu; đối với các gói thầu mua sắm hàng hoá, gói thầu EPC có giá gói thầu từ

ba trăm tỷ đồng trở lên, gói thầu xây lắp có giá gói thầu từ hai trăm tỷ đồng trở lên phải được tiến hành sơ tuyển

Trường hợp cần áp dụng sơ tuyển đối với các gói thầu không thuộc quy định tại khoản 1 điểm a Luật đấu thầu 2005 thì người quyết định đầu tư quy định trong kế hoạch đấu thầu 32

 Trình tự thực hiện sơ tuyển

Trình tự thực hiện sơ tuyển bao gồm:

 Lập hồ sơ mời sơ tuyển: Bên mời thầu lập hồ sơ mời sơ tuyển trình chủ đầu tư phê duyệt Hồ sơ mời sơ tuyển bao gồm thông tin chỉ dẫn về gói thầu và các yêu cầu sau đây đối với nhà thầu:

+ Yêu cầu về năng lực kỹ thuật

+ Yêu cầu về năng lực tài chính

+ Yêu cầu về kinh nghiệm

Tiêu chuẩn đánh giá hồ sơ dự sơ tuyển được xây dựng theo tiêu chí “đạt”,

“không đạt” và cần được nêu trong hồ sơ mời sơ tuyển, bao gồm tiêu chuẩn đối với từng yêu cầu về năng lực kỹ thuật, về năng lực tài chính và về kinh nghiệm

Đối với gói thầu xây lắp, gói thầu lựa chọn tổng thầu xây dựng, trừ tổng thầu thiết kế, tiêu chuẩn đánh giá hồ sơ dự sơ tuyển còn phải phù hợp với yêu cầu về điều kiện năng lực đối với từng loại, cấp công trình xây dựng theo quy định của Luật Xây dựng

 Thông báo mời sơ tuyển: Thông báo mời sơ tuyển (theo mẫu hướng dẫn của

Bộ Kế hoạch và Đầu tư) phải được đăng tải trên Báo Đấu thầu 3 kỳ liên tiếp và trên trang thông tin điện tử về đấu thầu; đối với đấu thầu quốc tế còn phải đăng tải đồng thời trên một tờ báo tiếng Anh được phát hành rộng rãi Sau khi đăng tải theo quy

32 Khoản 2 Điều 13 Nghị định 58

Trang 37

định trên có thể đăng trên các phương tiện thông tin đại chúng khác Hồ sơ mời sơ tuyển được cung cấp miễn phí cho các nhà thầu sau 10 ngày, kể từ ngày đăng tải đầu tiên thông báo mời sơ tuyển và được kéo dài đến thời điểm hết hạn nộp hồ sơ dự sơ tuyển (đóng sơ tuyển) 33

 Tiếp nhận và quản lý hồ sơ dự sơ tuyển: Thời gian chuẩn bị hồ sơ dự sơ tuyển tối thiểu là 7 ngày đối với đấu thầu trong nước và 15 ngày đối với đấu thầu quốc tế, kể

từ ngày đầu tiên phát hành hồ sơ mời sơ tuyển

Bên mời thầu tiếp nhận hồ sơ dự sơ tuyển do các nhà thầu nộp và quản lý theo chế độ quản lý hồ sơ “mật” Hồ sơ dự sơ tuyển được nộp theo đúng yêu cầu nêu trong

hồ sơ mời sơ tuyển sẽ được mở công khai ngay sau thời điểm đóng sơ tuyển Hồ sơ

dự sơ tuyển được gửi đến sau thời điểm đóng sơ tuyển sẽ không được mở và được bên mời thầu gửi trả lại nhà thầu theo nguyên trạng

 Đánh giá hồ sơ dự sơ tuyển: Việc đánh giá hồ sơ dự sơ tuyển do bên mời thầu thực hiện theo tiêu chuẩn đánh giá nêu trong hồ sơ mời sơ tuyển

 Trình và phê duyệt kết quả sơ tuyển: Bên mời thầu chịu trách nhiệm trình chủ đầu tư phê duyệt kết quả sơ tuyển

 Thông báo kết quả sơ tuyển: Sau khi chủ đầu tư phê duyệt kết quả sơ tuyển, bên mời thầu có trách nhiệm thông báo bằng văn bản về kết quả sơ tuyển đến các nhà thầu tham dự sơ tuyển và mời các nhà thầu trúng sơ tuyển tham gia đấu thầu 34

2.5.1.2 Lập hồ sơ mời thầu

 Căn cứ lập hồ sơ mời thầu:

 Quyết định đầu tư và các tài liệu để quyết định đầu tư; Giấy chứng nhận đăng

ký kinh doanh, Giấy chứng nhận đầu tư

 Kế hoạch đấu thầu được duyệt

 Tài liệu về thiết kế kèm theo dự toán được duyệt (đối với gói thầu xây lắp);

 Các quy định của pháp luật về đấu thầu và các quy định của pháp luật liên quan; điều ước quốc tế hoặc văn bản thỏa thuận quốc tế (nếu có) đối với các dự án sử dụng vốn ODA;

 Các chính sách của Nhà nước về thuế, tiền lương, ưu đãi nhà thầu trong nước hoặc các quy định khác liên quan

 Nội dung hồ sơ mời thầu được lập theo mẫu do Chính phủ quy định và bao gồm các nội dung sau:

 Yêu cầu về mặt kỹ thuật:

Đối với gói thầu tư vấn, bao gồm các yêu cầu về kiến thức và kinh nghiệm chuyên môn đối với chuyên gia (điều khoản tham chiếu);

33

Khoản 2 Điều 14 Nghị định 58

34 Điều 14 Nghị định 58

Ngày đăng: 05/04/2018, 23:29

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w