1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

LUẬN văn LUẬT THƯƠNG mại cơ CHẾ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP của tổ CHỨC THƯƠNG mại THẾ GIỚI WTO

65 236 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 65
Dung lượng 595,42 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mục tiêu mà người viết nghiên cứu đề tài này chính là, thứ nhất, sinh viên thực hiện chỉ mong muốn hiểu thêm về tổ chức thương mại thế giới, các nguyên tắc giải quyết tranh chấp cũng nh

Trang 1

BỘ MÔN LUẬT THƯƠNG MẠI

MSSV: 5054855 Lớp: LUẬT THƯƠNG MẠI 2 - K31

Cần Thơ, 04/2009

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Bốn năm đại học là một khoảng thời gian tương đối dài cho

thời sinh viên Tuy nhiên, để có thể có được những kiến thức

phục vụ cho công việc sau này, thì trong bốn năm đó, chúng tôi

phải cố gắng học tập tích cực để hoàn tất chương trình học mà

nhà trường quy định Những mong đợi giờ đã đến, chúng tôi bắt

đầu làm Luận văn tốt nghiệp, một công việc cuối cùng mà

chúng tôi phải làm Đây có thể được xem là một kỷ niệm, một

dấu ấn mà chúng tôi muốn gửi lại ngôi trường đã gắn kết với

thời sinh viên Để có thể hoàn thành tốt chương trình học, tôi rất

cảm ơn gia đình tôi đã tạo điều kiện cho tôi đi học Tôi chân

thành cảm ơn các Thầy, Cô đã tận tình giảng dạy, truyền tải

những kiến thức hữu ích trong các học phần Để cho Luận văn

được hoàn thành tốt tôi rất cảm ơn cô Bùi Thị Mỹ Hương giúp

đỡ tôi trong việc tìm kiếm tài liệu, hướng dẫn cách viết luận

văn Tôi rất cảm ơn những người bạn của tôi, những người đã

giúp đỡ tôi trong học tập cũng như chia sẽ những niềm vui, nỗi

buồn trong cuộc sống

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Trang 3

  

Trang 4

  

Trang 5

Trang

CÁC THUẬT NGỮ VIẾT TẮT TRONG BÀI 1

LỜI NÓI ĐẦU 2

CHƯƠNG I NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ TỔ CHỨC THƯƠNG MẠI THẾ GIỚI 5

1.1 Khái quát về tổ chức thương mại thế giới – WTO 5

1.1.1 Sự ra đời của WTO 5

1.1.2 Các nguyên tắc cơ bản của WTO 7

1.1.2.1 Nguyên tắc thương mại không phân biệt đối xử 7

1.1.2.2 Nguyên tắc mở cửa thị trường 8

1.1.2.3 Nguyên tắc minh bạch hóa 9

1.1.2.4 Nguyên tắc tăng cường cạnh tranh công bằng 10

1.1.2.5 Nguyên tắc khuyến khích cải cách và phát triển kinh tế 11

1.2 Cơ cấu tổ chức của tổ chức thương mại thế giới – WTO .12

1.2.1 Hội nghị bộ trưởng 12

1.2.2 Đại hội đồng .13

1.2.3 Hội đồng các cấp 13

1.2.4 Tiểu ban .14

CHƯƠNG II CƠ CHẾ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP CỦA TỔ CHỨC THƯƠNG MẠI THẾ GIỚI 15

2.1 Mặt hạn chế trong cơ chế giải quyết tranh chấp của GATT và sự cần thiết ra đời một cơ chế giải quyết tranh chấp thiết thực và hữu hiệu – cơ chế của WTO 15

2.2 Cơ quan và nguyên tắc giải quyết tranh chấp của tổ chức thương mại thế giới 17

2.2.1 Các cơ quan của WTO liên quan đến quá trình giải quyết tranh chấp 17

2.2.1.1 Cơ quan giải quyết tranh chấp – DSB 17

Trang 6

2.2.1.3 Cơ quan phúc thẩm 20

2.2.2 Các nguyên tắc giải quyết tranh chấp của WTO 22

2.3 Thủ tục giải quyết tranh chấp của WTO 23

2.3.1 Giai đoạn tham vấn và hòa giải 23

2.3.2 Giai đoạn giải quyết tranh chấp tại Ban hội thẩm 26

2.3.3 Giai đoạn kháng cáo và phúc thẩm 30

2.3.4 Giai đoạn thi hành phán quyết và khuyến nghị 31

2.4 Một vụ kiện điển hình được giải quyết theo cơ chế của WTO 35

CHƯƠNG III CÁC NƯỚC ĐANG PHÁT TRIỂN VỚI CƠ CHẾ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP CỦA WTO 37

3.1 Tình hình giải quyết tranh chấp của các nước đang phát triển theo cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO 37

3.1.1 Vị trí của các nước đang phát triển trong WTO 39

3.1.2 Các nước đang phát triển trong cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO 41

3.2 Đánh giá cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO đối với các nước đang phát triển nói riêng và các quốc gia nói chung 43

3.2.1 Ưu điểm của cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO .44

3.2.2 Hạn chế của cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO .47

3.3 Kinh nghiệm đối với Việt Nam .51

3.3.1 Xác định rõ những khó khăn cần phải đối mặt .51

3.3.2 Xác định rõ cơ hội Việt Nam gia nhập WTO .53

3.3.3 Đào tạo đội ngũ chuyên gia giỏi để tham gia quá trình hội nhập kinh tế quốc tế 55

KẾT LUẬN 57

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 59

Trang 7

CÁC THUẬT NGỮ VIẾT TẮT TRONG BÀI

  

1 Tổ chức Thương mại thế giới (WTO ): World Trade Organization

2 Hiệp định chung về Thuế quan và Thương mại (GATT): General Agreement Trade

and Tarrif

3 Tổ chức Thương mại quốc tế (ITO): International Trade Organization

4 Đối xử tối huệ quốc (MFN): Most Favoured Nation

5 Đối xử quốc gia (NT): Nation Treatment

6 Hội nghị bộ trưởng (MC): Ministerial Conference

7 Đại hội đồng (GC): General Council

8 Cơ quan giải quyết tranh chấp (DSB): Dispute Settle Body

9 Thỏa thuận về giải quyết tranh chấp (DSU): Dispute Settlement Understanding

Tên chính thức của DSU là Understanding on rules and procedures governing the settlement of disputes annex 2 of the WTO Agreement - Thỏa thuận về các quy tắc thủ tục điều chỉnh việc giải quyết tranh chấp, phụ lục 2 của Hiệp định WTO

Trang 8

LỜI NÓI ĐẦU

  

1 Tính cấp thiết của đề tài

Tổ chức Thương mại thế giới – WTO chính thức thành lập vào ngày 1/1/1995 trên cơ sở Hiệp định chung về thuế quan và thương mại – GATT với mục tiêu điều tiết thương mại quốc tế làm cho nền thương mại ngày càng tự do và bình đẳng Đây được xem là một thành công đặc biệt trong sự phát triển thương mại và pháp lý cuối thế kỷ

XX Một tổ chức với một cơ chế vừa được coi là một chế định có đặc thù, vừa là điểm nổi bậc của hệ thống thương mại toàn cầu Cơ chế đó không chỉ đơn thuần giải quyết

êm thấm các tranh chấp mà nó cũng là công cụ bảo đảm sự tin cậy về mặt pháp lý đối với các cam kết của các chính phủ Bất kỳ một quốc gia nào nếu như vi phạm những quy định mà WTO đưa ra, không còn cách nào khác ngoài việc quốc gia này phải đối mặt với rất nhiều những trừng phạt về thương mại

Tất cả các quốc gia thành viên khi có tranh chấp phát sinh đều có thể đưa ra WTO để giải quyết Tuy nhiên, cơ chế này chủ yếu lại có lợi cho các nước phát triển

Hệ thống giải quyết tranh chấp này cho phép nước thắng kiện tiến hành trả đũa đối với nước thua kiện Chính vì vậy, các nước phát triển – cường quốc thương mại- có đủ sức mạnh về kinh tế, chính trị mà tự khẳng định mình Có thể nói đến Mỹ, EU hoặc Nhật Bản khi phải đối đầu với một sự đe dọa từ một nước thứ ba nào đó, thì xem như với họ không có một sự lo sợ nào Ngược lại, các nước đang phát triển sẽ bị thiệt hại rất nhều nếu bị các cường quốc thương mại tiến hành trả đũa

Để gia nhập WTO, Việt Nam phải nghiên cứu cơ cấu tổ chức cũng như chức năng của tổ chức này, các hiệp định đa phương của WTO, những quyền lợi, nghĩa vụ, những ưu đãi mà Việt Nam phải gánh vác và được hưởng Hơn thế nữa, Việt Nam phải tìm hiểu kỹ cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO để vận dụng nhằm giải quyết các tranh chấp phát sinh, đồng thời cũng chứng minh xem cơ chế giải quyết tranh chấp này

có hiệu quả hay không, có đảm bảo khôi phục được quyền lợi của nước bị vi phạm hay không? Từ đó xem xét có nên đưa các tranh chấp ra giải quyết theo cơ chế của WTO hay không và cần phải làm gì khi tham gia vào quá trình giải quyết tranh chấp đó Chính vì vậy, việc tìm hiểu cơ chế giải quyết tranh chấp của Tổ chức Thương mại Thế giới và việc tìm ra những bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế là một nội dung cần được quan tâm

Trang 9

2 Phạm vi nghiên cứu đề tài

Tổ chức thương mại thế giới là tổ chức quốc tế duy nhất đưa ra những nguyên tắc thương mại giữa các quốc gia trên thế giới Cho nên có rất nhiều vấn đề cần phải được làm rõ, chẳng hạn như: tác động của việc gia nhập WTO hay là WTO đã mang lại cho các quốc gia thành viên những lợi ích gì hoặc WTO thuận lợi và thách thức cho các Doanh nghiệp Việt Nam… Nhưng vì, nhằm phục vụ cho mục đích nêu trên, người

viết chỉ nghiên cứu về vấn đề “Cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO” Tuy nhiên,

do hạn chế về thời gian cũng như khả năng hiểu biết về đề tài này nên phạm vi của Luận văn chỉ dừng lại ở mức cơ bản Do đó, người viết xin cung cấp một số vấn đề cơ bản, thường thức về WTO cũng như một số vấn đề về nguyên tắc giải quyết tranh chấp, thủ tục giải quyết tranh chấp của cơ chế này Đồng thời, chỉ dừng lại ở mức tương đối về tình hình giải quyết tranh chấp đối với các nước đang phát triển mà chưa thể đi sâu vào nghiên cứu quá trình giải quyết tranh chấp của các quốc gia thành viên phát triển cũng như đang phát triển

3 Mục tiêu nghiên cứu đề tài

Như đã đưa ra ý kiến trên, cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO là một chế định đặc thù hay nói đúng hơn là một cơ chế có tầm quan trọng mang tính quốc tế Trong thời đại toàn cầu hóa ngày nay, các quốc gia thành viên xảy ra tranh chấp là điều khó tránh khỏi Và khi tranh chấp phát sinh, tất cả họ đều có thể đưa ra cơ chế này để giải quyết Tuy nhiên, liệu cơ chế này có mang lại lợi ích cho các quốc gia đó không, đặc biệt là cho các quốc gia thành viên đang phát triển Mục tiêu mà người viết

nghiên cứu đề tài này chính là, thứ nhất, sinh viên thực hiện chỉ mong muốn hiểu thêm

về tổ chức thương mại thế giới, các nguyên tắc giải quyết tranh chấp cũng như các thủ

tục của quá trình giải quyết tranh chấp, thứ hai, từ đó góp phần hiểu biết thêm về phía

Việt Nam, một quốc gia đang phát triển trong việc giải quyết tranh chấp khi có tranh chấp phát sinh Đồng thời, rút ra được những bài học kinh nghiệm để hoàn thiện hơn khi tham gia vào quá trình giải quyết tranh chấp

4 Phương pháp nghiên cứu

Trong quá trình nghiên cứu đi đến viết luận văn, trên cơ sở thu thập tài liệu có liên quan Từ đó, góp phần hoàn thiện bài Luận văn được tốt hơn, người viết đã trình bày thông qua phương pháp phân tích, so sánh, tổng hợp thông tin từ những nguồn tài liệu có được

Trang 10

5 Kết cấu của đề tài

Các thuật ngữ viết tắt trong bài

Mục lục

Lời nói đầu

Chương I Những vấn đề cơ bản về Tổ chức Thương mại Thế giới

Chương II Cơ chế giải quyết tranh chấp của Tổ chức Thương mại Thế giới

Chương III Các nước đang phát triển với cơ chế giải quyết tranh chấp của Tổ

chức Thương mại Thế giới

Tài liệu tham khảo

Trong quá trình nghiên cứu, phân tích đề tài mặc dù người viết đã cố gắng hoàn

thành tốt luận văn đến mức có thể Nhưng do gặp khó khăn trong vấn đề thu thập tài

liệu và do chưa có kinh nghiệm cũng như sự hiểu biết về đề tài, nên luận văn còn

nhiều thiếu sót, rất mong được sự góp ý tận tình của quý thầy cô cùng các bạn

Xin chân thành cảm ơn!

Trang 11

CHƯƠNG I NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ TỔ CHỨC THƯƠNG MẠI THẾ

GIỚI

WTO với tư cách là một tổ chức thương mại của tất cả các nước trên thế giới

và kế tục GATT, tiếp tục theo đuổi và phát huy những gì mà GATT đã đạt những

thành tựu to lớn trong thời gian hoạt động Tổ chức thương mại thế giới đã và đang

cố gắng đẩy mạnh vai trò của mình trên trường quốc tế, WTO đặt ra những mục

tiêu đầy tham vọng là thúc đẩy tiến trình tự do hóa thương mại trên toàn cầu; nâng

cao mức sống, tạo công ăn việc làm cho người dân các nước thành viên và giải

quyết các bất đồng, tranh chấp thương mại giữa các nước thành viên trong khuôn

khổ hệ thống thương mại đa phương Sự vận hành của WTO đã và sẽ có tác dụng to

lớn đối với tương lai lâu dài của kinh tế thế giới cũng như kinh tế của từng quốc

gia Góp phần đạt được những mục tiêu trên, WTO có những chức năng cơ bản như

là giải quyết tranh chấp về thương mại giữa các nước thành viên; Rà soát những

chính sách thương mại; Quản lý việc thực thi các hiệp định đã được ký kết; Quản lý

Ban thư ký WTO, trụ sở đặt tại Geneva và một chức năng nữa là hợp tác, kết hợp

với các tổ chức thương mại khác như Ngân hàng thế giới (WB), quỹ tiền tệ quốc tế

(IMF) cũng như các tổ chức quốc tế khác nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động

Như vậy, WTO được ra đời như thế nào, hoạt động dựa trên những nguyên tắc

gì, là câu hỏi của rất nhiều bạn đọc Vấn đề này, người viết xin cung cấp một số thông

tin cơ bản, thường thức và tương đối có hệ thống về WTO

1.1 Khái quát về tổ chức thương mại thế giới –WTO

WTO là chữ viết tắt của Tổ chức Thương mại Thế giới (World Trade

Organization) – tổ chức quốc tế duy nhất đưa ra những nguyên tắc thương mại giữa

các quốc gia trên thế giới Về cơ bản, WTO là sự kế thừa và phát triển của GATT chứ

không thay thế GATT, góp phần tiếp tục thể chế hóa và thiết lập trật tự mới trong hệ

thống thương mại đa phương của thế giới

1.1.1 Sự ra đời của WTO

Tổ chức thương mại thế giới (WTO) có tiền thân là tổ chức hiệp định chung

về thế quan và mậu dịch (GATT) GATT là một tổ chức được thành lập tạm thời sau

thế chiến hai, theo gương các tổ chức đa phương khác tham gia vào hợp tác kinh tế

quốc tế đáng chú ý là tại Hội nghị Brittơn Ut (Bretton Woods), và hai tổ chức Ngân

hàng thế giới và Quỹ tiền tệ quốc tế Với ý tưởng hình thành những nguyên tắc, thể

Trang 12

lệ, luật chơi cho thương mại quốc tế nhằm điều tiết các lĩnh vực về công ăn việc làm, thương mại hàng hóa, khắc phục tình trạng hạn chế, ràng buộc các hoạt động này phát triển, 23 nước sáng lập GATT đã cùng một số nước khác tham gia Hội nghị về thương mại và việc làm và dự thảo Hiến chương La Havana để thành lập Tổ chức Thương mại Quốc tế (ITO) với tư cách là chuyên môn của Liên Hiệp Quốc Đồng thời, các nước này đã cùng nhau tiến hành các cuộc đàm phán về thuế quan và xử lý những biện pháp bảo hộ mậu dịch đang áp dụng tràn lan trong thương mại quốc tế từ đầu những năm 30, nhằm thực hiện mục tiêu tự do hóa mậu dịch, mở đường cho kinh

tế và thương mại phát triển, tạo công ăn việc làm, nâng cao thu nhập và đời sống của nhân dân các nước thành viên

Hiến chương thành lập Tổ chức thương mại Quốc tế (ITO) nói trên đã được thỏa thuận tại Hội nghị Liên Hiệp Quốc về thương mại và việc làm ở Havana từ 11/1947 đến 23/4/1948, nhưng do một số quốc gia gặp khó khăn trong phê chuẩn, nên việc hình thành lập Tổ chức thương mại Quốc tế (ITO) đã không thực hiện được Mặc dù vậy, kiên trì mục tiêu đã định, và với kết quả đáng khích lệ đã đạt được ở vòng đàm phán thuế quan đầu tiên là 45.000 ưu đãi về thuế áp dụng giữa các bên tham gia đàm phán, chiếm khoảng 1/5 tổng lượng mậu dịch thế giới, 23 nước sáng lập đã cùng nhau ký hiệp định chung về Thuế quan và Thương mại (GATT), chính thức có hiệu lực vào 1/1948

Từ đó tới nay, GATT đã tiến hành 8 vòng đàm phán chủ yếu về thuế quan Tuy nhiên, từ thập kỷ 70 và đặc biệt từ hiệp định Uruguay(1986-1994) do thương mại quốc

tế không ngừng phát triển, nên GATT đã mở rộng diện tích hoạt động, đàm phán không chỉ về thuế quan mà còn tập trung xây dựng các hiệp định hình thành các chuẩn mực, luật chơi điều tiết các hàng rào phi quan thuế, về thương mại dịch vụ, quyền sở hữu trí tuệ, các biện pháp đầu tư có liên quan tới thương mại, về thương mại hàng nông sản, hàng dệt may, về cơ chế giải quyết tranh chấp Với diện điều tiết của hệ thống thương mại đa biên được mở rộng, nên Hiệp định chung về Thuế quan và Thương mại (GATT) vốn chỉ là một sự thỏa thuận có nhiều nội dung ký kết mang tính chất tùy ý đã tỏ ra không thích hợp Do đó, ngày 15/4/1994, tại Marrkesh (Maroc), các bên đã kết thúc hiệp định thành lập Tổ chức thương mại Thế giới (WTO) WTO chính thức được thành lập độc lập với hệ thống Liên Hợp Quốc và đi vào hoạt động từ 1/1/1995 Về cơ bản, WTO là sự kế thừa và phát triển của GATT Sự ra đời của WTO giúp tạo ra cơ chế pháp lý điều chỉnh thương mại thế giới trong các lĩnh vực mới là dịch vụ, đầu tư và sở hữu trí tuệ, đồng thời đưa vào khuôn khổ thương mại đa phương trong hai lĩnh vực dệt may và nông nghiệp

Trang 13

1.1.2 Các nguyên tắc cơ bản của WTO

Hiệp định WTO bao gồm 29 văn bản pháp lý riêng biệt, bao trùm mọi lĩnh vực

từ nông nghiệp đến ngành dệt may, từ dịch vụ đến việc mua sắm của chính phủ, các quy tắc xuất xứ và sở hữu trí tuệ Ngoài ra còn có 25 tuyên bố bổ sung, quyết định và văn bản ghi nhớ ở cấp bộ trưởng, quy định những nghĩa vụ và cam kết khác của các thành viên WTO, đặc biệt là một số nguyên tắc cơ bản của tổ chức này Tất cả tạo nên một hệ thống thương mại đa biên

1.1.2.1 Nguyên tắc thương mại không phân biệt đối xử

Là nguyên tắc pháp lý quan trọng nhất của WTO, thể hiện qua hai chế độ là đối

xử tối huệ quốc – MFN và đối xử quốc gia – NT

 Đối xử MFN nghĩa là một thành viên sẽ dành cho sản phẩm của các thành viên

khác sự đối xử bình đẳng Thông thường, nguyên tắt MFN được qui định trong các hiệp định thương mại song phương Khi nguyên tắc MFN được áp dụng đa phương đối với tất cả các nước thành viên WTO thì cũng đồng nghĩa với nguyên tắc bình đẳng và không phân biệt đối xử vì tất cả các thành viên sẽ dành cho nhau sự “ đối xử ưu đãi nhất ” Đối xử tối huệ quốc trong WTO không có tính chất áp dụng tuyệt đối

Mặc dù được coi là “hòn đá tảng” trong hệ thống thương mại đa phương, Hiệp định GATT – 1947 và WTO vẫn duy trì một số ngoại lệ và miễn trừ quan trọng Ví dụ, Điều XXIV của GATT qui định các thành viên trong các hiệp định thương mại khu vực được phép dành cho nhau sự đối xử ưu đãi cao hơn, mang tính chất đối xử với các thành viên khác Hay có sự ngoại lệ dành cho các thành viên là những nước chậm phát triển

MFN được tất cả các thành viên trong GATT/WTO công nhận là nguyên tắc nền tảng, nhưng thực chất đã có rất nhiều sự tranh chấp liên quan đến việc áp dụng nguyên tắc này Do việc không tuân thủ nghiêm túc nguyên tắc MFN của những nước phát triển cũng như những nước đang phát triển Khi đó thì vi phạm của các nước đang phát triển dễ bị phát hiện và bị kiện nhiều hơn những nước phát triển

 Đối xử NT quy định phải dành cho hàng hóa, dịch vụ và doanh nghiệp nước

ngoài sự đối xử bình đẳng như dành cho hàng hóa, dịch vụ và doanh nghiệp trong nước Phạm vi áp dụng của nguyên tắc này đối với hàng hóa, dịch vụ và sở hữu trí tuệ có khác nhau Đối với hàng hóa,sở hữu trí tuệ việc áp dụng là một nghĩa vụ chung, có nghĩa là sẽ có sự đối xử bình đẳng đối với hàng hóa, quyền sở hữu trí tuệ

Trang 14

sau khi đã đóng thuế quan hoặc được đăng ký bảo hộ so với hàng hóa và quyền sở hữu trí tuệ trong nước

Về nguyên tắc, các thành viên không được áp dụng những hạn chế số lượng nhập khẩu, trừ những ngoại lệ được quy định rõ ràng trong các Hiệp định của WTO Một trong những ngoại lệ quan trọng đối với nguyên tắc này là vấn đề trợ giá cho sản xuất hoặc xuất khẩu hay nhập khẩu Điều này được quy định lần đầu tiên tại Điều VI và Điều XVI Hiệp định GATT – 1947 và sau này được điều chỉnh trong thỏa thuận vòng Tokyo 1979 và hiện nay trong thỏa thuận vong đàm phán Urugoay về trợ cấp và các biện pháp chống trợ cấp Thỏa thuận này có một khác biệt lớn so với GATT – 1947 và thỏa thuận Tokyo ở chỗ nó được áp dụng cho cả các nước phát triển và đang phát triển

Việc áp dụng nguyên tắc NT đã gây ra rất nhiều tranh chấp giữa các bên ký kết GATT/WTO bởi do nếu các nước dễ chấp nhận nguyên tắc đối xử bình đẳng với tất cả các nước khác thì tất cả các nước đều muốn dành một sự bảo hộ nhất định đối với sản phẩm nội địa Tạo ra môi trường cạnh tranh bình đẳng giữa những hàng hóa nhập khẩu

và hàng hóa nội địa cùng loại là mục tiêu chính của nguyên tắc NT

Đối xử tối huệ quốc và đối xử quốc gia đều giống nhau ở chỗ không mang tính phân biệt đối xử Tuy nhiên, cả hai đều khác nhau ở đối tượng hướng tới Tối huệ quốc hướng tới hàng hóa ở ngoài nước, dành sự công bằng cho những đối tượng ở ngoài biên giới Đối xử quốc gia hướng tới hàng hóa đã qua nhập khẩu, không phân biệt đối xử khi hàng hóa đã nhập khẩu qua biên giới Đây là hai nguyên tắc nền tảng quan trọng nhất của hệ thông thương mại đa phương, đảm bảo tuân thủ một cách nghiêm túc những cam kết về mở cửa thị trường của tất cả những ai đã là thành viên chính thức của WTO

1.1.2.2 Nguyên tắc mở cửa thị trường

Hay còn gọi là “tiếp cận thị trường”, thực chất là tự do hóa thương mại, mở cửa thị trường cho hàng hóa dịch vụ đầu tư nước ngoài.Trong một hệ thống thương mại đa phương, khi tất cả các bên tham gia chấp nhận mở cửa thị trường của mình thì điều đó đồng nghĩa với việc tạo ra một hệ thống thương mại toàn cầu mở cửa

Về mặt pháp lý, “tiếp cận thị trường” thể hiện nghĩa vụ có tính chất ràng buộc thực hiện những cam kết về mở cửa thị trường mà nước này đã chấp nhận khi đàm phán gia nhập WTO

Để thực thi được mục tiêu tự do hóa thương mại và đầu tư, mở cửa thị trường, thúc đẩy trao đổi, giao lưu, buôn bán hàng hóa, việc tất nhiên là phải cắt

Trang 15

giảm thuế nhập khẩu, loại bỏ các hàng rào phi thuế quan (cấm, hạn chế, hạn nghạch, giấy phép…)

Trên thực tế, lịch sử của GATT và sau này là WTO cho thấy rằng đó chính là lịch sử của cả một quá trình đàm phán cắt giảm thuế quan, rồi bao trùm cả đàm phán dỡ bỏ các hàng rào phi thuế quan, rồi dần dần đi đến lĩnh vực mới như thương mại dịch vụ, sở hữu trí tuệ… Tất nhiên, khi mở cửa thị trường không chỉ có thuận lợi mà còn đưa lại những khó khăn Mỗi nước có một nền kinh tế phát triển khác nhau, “sức chịu đựng” của mỗi nền kinh tế trước sức ép của hàng hóa tràn vào là khác nhau,chính vì vậy, đòi hỏi phải không ngừng từng bước điều chỉnh nền sản xuất trong nước

1.1.2.3 Nguyên tắc minh bạch hoá:

Là nguyên tắc mang tầm quan trọng của WTO Mục tiêu của nguyên tắc này là các nước thành viên phải có nghĩa vụ đảm bảo tính ổn định và có thể dự báo trước được về các cơ chế, chính sách, quy định thương mại của mình nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho nhà đầu tư, kinh doanh nước ngoài có thể hiểu, nắm bắt được lộ trình thay đổi về chính sách, nội dung các cam kết về thuế, phi thuế của nước chủ nhà để từ

đó các doanh nghiệp, các nhà đầu tư có thể dễ dự đoán và hoạch định kế hoạch kinh doanh mà không bị đột ngột thay đổi làm tổn hại đến kế hoạch kinh doanh Nói đúng hơn là các doanh nghiệp nước ngoài, các nhà đầu tư tin chắc rằng hàng rào thuế quan, phi thuế quan của một nước sẽ không bị tăng hay thay đổi một cách tùy tiện Đây là một nỗ lực của hệ thống thương mại đa biên nhằm yêu cầu các nước thành viên của WTO tạo ra một môi trường thương mại ổn định, minh bạch và dễ dự đoán Nội dung của nguyên tắc này bao gồm các công việc như sau:

 Về các thoả thuận cắt giảm thuế quan:Bản chất của thương mại thời WTO là

các thành viên dành ưu đãi, nhân nhượng thuế quan cho nhau Song để chắc chắn là các mức thuế quan đã đàm phán phải được cam kết và không thay đổi theo hướng tăng thuế suất, gây bất lợi cho đối tác của mình, sau khi đàm phán, mức thuế suất đã thoả thuận sẽ được ghi vào một bản danh mục thuế quan Ðây gọi là các mức thuế suất ràng

buộc Nói cách khác, ràng buộc là việc đưa ra danh mục ấn định các mức thuế ở mức

tối đa nào đó và không được phép tăng hay thay đổi theo chiều hướng bất lợi cho các doanh nghiệp nước ngoài Một nước có thể sửa đổi, thay đổi mức thuế đã cam kết, ràng buộc chỉ sau khi đã đàm phán với đối tác của mình và phải đền bù thiệt hại do việc tăng thuế đó gây ra

Trang 16

 Về các biện pháp phi thuế quan: Biện pháp phi thuế quan là biện pháp sử

dụng hạn ngạch hoặc hạn chế định lượng khác như quản lý hạn ngạch Các biện pháp này dễ làm nảy tình trạng tham nhũng, lạm dụng quyền hạn, bóp méo thương mại, gây khó khăn cho doanh nghiệp, làm cho thương mại thiếu lành mạnh, thiếu minh bạch, cản trở tự do thương mại Do đó, WTO chủ trương các biện pháp này sẽ bị buộc phải

loại bỏ hoặc chấm dứt Ðể có thể thực hiện được mục tiêu này, các hiệp định của WTO

yêu cầu chính phủ các nước thành viên phải công bố thật rõ ràng, công khai ("minh bạch") các cơ chế, chính sách, biện pháp quản lý thương mại của mình Ðồng thời, WTO có cơ chế giám sát chính sách thương mại của các nước thành viên thông qua Cơ

chế rà soát chính sách thương mại

1.1.2.4 Nguyên tắc tăng cường cạnh tranh công bằng:

Trên thực tế, WTO tập trung vào thúc đẩy mục tiêu tự do hóa thương mại song rất nhiều trường hợp, WTO cũng cho phép duy trì những quy định về bảo hộ Nói đúng hơn, đây là một hệ thống các nguyên tắc mở trong hoạt động cạnh tranh công khai, công bằng và không bị bóp méo Thế nên, WTO đưa ra nguyên tắc này nhằm đảm bảo môi trường cạnh tranh bình đẳng, hạn chế các tác động tiêu cực của các biện pháp cạnh tranh không bình đẳng như bán phá giá, trợ cấp, hay dành các đặc quyền cho các doanh nghiệp nhất định hoặc các biện pháp bảo hộ khác

Chẳng hạn, các quy tắc về không biệt đối xử được đưa ra để đảm bảo hoạt động thương mại bình đẳng; tương tự các quy tắc về chống phá giá và trợ cấp cũng nhằm mục đích đó Các nguyên tắc của GATT trước đây được thông qua để đặt nền tảng cho chính phủ của nước đưa ra thuế bù trừ đối với hai dạng “cạnh tranh không bình đẳng”

đã được mở rộng và giải thích trong các hiệp định của WTO Hiệp định về nông nghiệp của WTO đưa ra nhằm gia tăng sự công bằng trong thương mại nông sản Còn

về sở hữu trí tuệ, các điều kiện cạnh tranh của nó sẽ được cải thiện tạo môi trường cạnh tranh bình đẳng và công bằng cho tất cả các quốc gia thành viên Còn nhiều ví dụ khác về các điều khoản của WTO được đưa ra để đẩy mạnh cạnh tranh công bằng và không bị bóp méo

Theo đó, để thực hiện nguyên tắc này, WTO quy định trường hợp nào là cạnh tranh bình đẳng, trường hợp nào là cạnh tranh không bình đẳng từ đó các thành viên của WTO có thể được phép hay không được phép áp dụng các biện pháp như trả đũa,

tự vệ, chống bán phá giá…

Trang 17

1.1.2.5 Nguyên tắc khuyến khích cải cách và phát triển kinh tế:

Đây là nguyên tắc dành cho các thành viên đang phát triển và các nước đang chuyển đổi một số ưu đãi Do đó, nhu cầu và lợi ích của các nước này luôn được tính đến trong mọi hoạt động của WTO Chính vì vậy, WTO có các qui định dành cho các nước này nhiều thời gian hơn, điều kiện linh hoạt hơn và một số ưu đãi đặc biệt hơn để điều chỉnh nền kinh tế trong quá trình thực hiện các cam kết tự do hoá của mình Tuy nhiên, việc chiếu cố này không phải mặc nhiên, mà có được là trên cơ sở đàm phán với các thành viên WTO

Các nước thành viên, trong đó có các nước đang phát triển, thừa nhận rằng tự do hoá thương mại và hệ thống thương mại đa biên trong khuôn khổ của WTO đóng góp vào sự phát triển của mỗi quốc gia Song các thành viên cũng thừa nhận rằng, các nước đang phát triển phải thi hành những nghĩa vụ của các nước phát triển Nói cách khác, "sân chơi" chỉ là một, "luật chơi" chỉ là một, song trình độ "cầu thủ" thì không hề ngang nhau

Trong khi đó, hiện số thành viên của WTO là các nước đang phát triển và các nước đang trong quá trình chuyển đổi nền kinh tế chiếm hơn 3/ 4 số nước thành viên của WTO Do đó, WTO đã đưa ra nguyên tắc này nhằm khuyến khích phát triển và cải cách kinh tế ở các nước đang phát triển và các nền kinh tế chuyển đổi bằng cách dành cho những nước này những điều kiện đối xử đặc biệt và khác biệt để đảm bảo sự tham gia sâu rộng hơn của các nước này vào hệ thống thương mại đa biên

Ðể thực hiện nguyên tắc này, WTO dành cho các nước đang phát triển, các nước có nền kinh tế đang chuyển đổi những linh hoạt và ưu đãi nhất định trong việc thực hiện các hiệp định của WTO

Chẳng hạn, WTO cho phép các nước này một số quyền và không phải thực hiện một số quyền cũng như một số nghĩa vụ hoặc cho phép các nước này một thời gian linh động hơn trong việc thực hiện các hiệp định của WTO, cụ thể là thời gian quá độ thực hiện dài hơn để các nước này điều chỉnh chính sách của mình Ngoài

ra, WTO cũng quyết định các nước kém phát triển được hưởng những hỗ trợ kỹ thuật ngày một nhiều hơn

Tóm lại, với những nguyên tắc nêu trên, rõ ràng là WTO đã không áp đặt các chính sách, cũng không vạch đường chỉ lối cho các thành viên trong việc thực hiện các chính sách thương mại, mà là một tổ chức chịu sự điều hành của các thành viên 1

1 Tổng hợp từ Sách Tìm hiểu về WTO của UB Hợp tác kinh tế Quốc tế; Những trang vàng WTO

Trang 18

1.2 Cơ cấu tổ chức của tổ chức thương mại thế giới

WTO hoạt động với một cơ cấu tổ chức như sau:

Cấp cao nhất là Hội nghị Bộ trưởng – MC, có quyền quyết định mọi vấn đề phát sinh từ các hiệp định;

Cấp thứ hai là Đại Hội đồng – GC, vừa là cơ quan thường trực của WTO vừa là

cơ quan giải quyết tranh chấp của WTO;

Cấp thứ ba là Hội đồng các cấp, gồm các Hội đồng Thương mại hoạt động ở nhiều lĩnh vực khác nhau;

Cuối cùng là các tiểu ban trực thuộc Đại hội đồng và các Hội đồng

Ngoài ra, còn có ban thư ký đứng đầu là Tổng Giám đốc thực hiện chức năng hành chính

1.2.1 Hội nghị bộ trưởng

Là cơ quan quyết định cao nhất của WTO, họp ít nhất hai năm một lần Hội nghị có sự tham gia của tất cả các thành viên WTO Các thành viên này có thể là một nước hoặc một liên minh thuế quan ( chẳng hạn như là Cộng đồng châu Âu )

MC có quyền ra quyết định đối với bất kì vấn đề trong các thỏa ước thương mại

đa phương của WTO

Hội nghị bộ trưởng lần đầu tiên họp ở Singapo năm 1996 lập thêm 3 nhóm làm việc về quan hệ thương mại và đầu tư, quan hệ thương mại và cạnh tranh, và tính minh bạch trong mua sắm của Chính phủ

Hội nghị bộ trưởng lần hai họp ở Giơnevơ vào năm 1998 đã quyết định WTO phải nghiên cứu thêm về thương mại điện tử

Hội nghị bộ trưởng lần ba được tổ chức vào ngày 30 tháng 11 đến ngày 03 tháng 12 năm 1999 tại Xiatơn, Hoa Kỳ

Hội nghị bộ trưởng lần tư tại Đôha được tổ chức vào các ngày 9 – 13 tháng

Trang 19

1.2.2 Đại hội đồng

Giữa hai kỳ Hội nghị Bộ trưởng, công việc hàng ngày của WTO được đảm

nhiệm bởi 3 cơ quan: Đại Hội đồng, Hội đồng Giải quyết tranh chấp và Hội đồng rà

cơ quan này đều giống nhau, đều bao gồm đại diện (thường là cấp đại sứ hoặc tương đương) của tất các thành viên Điểm khác nhau giữa chúng là được nhóm họp để thực hiện các chức năng khác nhau của WTO

∗ Đại hội đồng là cơ quan ra quyết định cao nhất của WTO tại Geneva, được nhóm

họp thường xuyên GC bao gồm đại diện (thường là cấp đại sứ hoặc tương đương) của tất

cả các nước thành viên và có thẩm quyền quyết định nhân danh Hội nghị bộ trưởng, chịu trách nhiệm trước Hội nghị bộ trưởng đối với tất cả công việc của WTO

∗ Hội đồng giải quyết tranh chấp được nhóm họp để xem xét và phê chuẩn các

phán quyết về giải quyết tranh chấp do Ban hội thẩm hoặc Cơ quan phúc thẩm đệ trình Hội đồng bao gồm đại diện của tất cả các nước thành viên (cấp đại sứ hoặc tương đương)

∗ Hội đồng rà soát chính sách thương mại được nhóm họp để thực hiện việc rà

soát chính sách thương mại của các nước thành viên theo cơ chế rà soát chính sách thương mại Đối với những thành viên có tiềm lực kinh tế lớn, việc rà soát diễn ra khoảng hai đến ba năm một lần Đối với những thành viên khác, việc rà soát có thể được tiến hành cách quãng hơn

1.2.3 Hội đồng các cấp

Các Hội đồng thương mại hoạt động dưới quyền của Đại hội đồng, gồm ba hội đồng thương mại là: Hội đồng thương mại hàng hóa, Hội đồng thương mại dịch vụ và

đồng đảm trách một lĩnh vực riêng Cũng tương tự như Đại Hội đồng, các Hội đồng bao gồm đại diện của tất cả các thành viên của WTO Bên cạnh ba Hội đồng này còn

có sáu ủy ban và cơ quan độc lập khác chịu trách nhiệm báo cáo lên Đại Hội đồng các vấn đề riêng rẽ như: thương mại và phát triển, môi trường, các thỏa thuận thương mại khu vực, và các vấn đề quản lý khác Đáng chú ý là trong số này có Nhóm Công tác về việc Gia nhập chịu trách nhiệm làm việc với các nước xin gia nhập WTO

∗ Hội đồng thương mại hàng hóa chịu trách nhiệm đối với các hoạt động

thuộc phạm vi của GATT, tức là các hoạt động liên quan đến thương mại quốc tế

và hàng hóa

Trang 20

∗ Hội đồng thương mại dịch vụ chịu trách nhiệm đối với các hoạt động thuộc

phạm vi của Hiệp định chung về Thương mại Dịch vụ (GATS), tức là các hoạt động liên quan đến thương mại quốc tế về dịch vụ

∗ Hội đồng Các khía cạnh của Quyền Sở hữu trí tuệ liên quan đến Thương mại

chịu trách nhiệm đối với các hoạt động thuộc phạm vi của hiệp định về Các khía cạnh của Quyền ở hữu trí tuệ liên quan đến Thương mại (TRIPS), cũng như việc phối hợp với các tổ chức quốc tế khác trong lĩnh vực quyền sở hữu trí tuệ

1.2.4 Tiểu ban

Tiểu ban chịu trách nhiệm điều hành việc thực thi Hiệp định WTO trong từng lĩnh vực thương mại tương đương.Tham gia các Hội đồng là đại diện của các thành viên Dưới các hội đồng trên là các tiểu ban và cơ quan phụ trách các lĩnh vực chuyên môn riêng biệt

Dưới Hội đồng Thương mại Hàng hóa là 11 tiểu ban,1 nhóm công tác, và 1 tiểu ban đặc thù

Dưới Hội đồng Thương mại Dịch vụ là 2 tiểu ban, 2 nhóm công tác,và 2 tiểu ban đặc thù

Dưới Hội đồng Giải quyết Tranh chấp của Đại Hội đồng là ban Hội thẩm và

Cơ quan Phúc thẩm

Ngoài ra, do yêu cầu đàm phán của Vòng đàm phán Doha, WTO đã thành lập

Ủy ban Đàm phán Thương mại trực thuộc Đại Hội đồng để thúc đẩy và tạo điều kiện thuận lợi cho đàm phán Ủy ban này bao gồm nhiều nhóm làm việc liên quan đến các lĩnh vực chuyên môn khác nhau 2

2 Http: //www.wto.org

Trang 21

CHƯƠNG II

CƠ CHẾ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP CỦA TỔ CHỨC

THƯƠNG MẠI THẾ GIỚI

Là một tổ chức quốc tế dựa trên các nghĩa vụ pháp lý GATT trước kia cũng như WTO hiện nay đều cần có một cơ chế giải quyết tranh chấp hiệu quả và công bằng, nhằm đảm bảo để tất cả các nước thành viên dù lớn hay nhỏ, dù là nước phát triển hay đang phát cũng đều phải tuân thủ “luật chơi chung” của thương mại quốc

tế Cơ chế giải quyết tranh chấp của GATT – 1947 đã được hầu hết các chuyên gia

về thương mại quốc tế đánh giá rất cao và được công nhận như là một trong những thành công quan trọng nhất của GATT sau gần 50 năm tồn tại Tuy nhiên, cơ chế của GATT cũng tồn tại những nhược điểm, những hạn chế làm giảm tính hiệu quả và hiệu lực của nó Chính vì vậy, cần phải có một cơ chế giải quyết tranh chấp thiết thực hơn và hữu hiệu hơn Tiếp tục phát huy và không ngừng cải tiến, WTO đã kế thừa và từng bước rút kinh nghiệm từ những bất cập trong cơ chế cũ, một số cải tiến căn bản

về thủ tục đã được đưa vào cơ chế mới, góp phần không nhỏ trong việc nâng cao tính chất xét xử của thủ tục này cũng như tăng cường tính ràng buộc của các quyết định giải quyết tranh chấp

Cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO được xây dựng trên 4 nguyên tắc Đó là công bằng, nhanh chóng, hiệu quả và chấp nhận được đối với các bên tranh chấp, phù hợp với mục tiêu bảo toàn quyền và nghĩa vụ, phù hợp với các hiệp định thương mại

có liên quan trên cơ sở tuân thủ các qui phạm của pháp luật tập quán quốc tế về giải thích điều ước quốc tế

Góp phần trong cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO không thể không nói đến

sự đóng góp quan trọng của các cơ quan và những nguyên tắc giải quyết tranh chấp trong hoạt động của cơ chế này Bên cạnh đó người viết xin trình bày cơ bản một số nét về thủ tục giải quyết tranh chấp theo cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO

2.1 Mặt hạn chế trong cơ chế giải quyết tranh chấp của GATT và sự cần thiết ra

đời một cơ chế giải quyết tranh chấp thiết thực và hữu hiệu – cơ chế của WTO

Không thể phủ nhận rằng hệ thống giải quyết tranh chấp của GATT là một sự đóng góp quan trọng trong quá trình phát triển của hệ thống giải quyết tranh chấp kinh

tế quốc tế Tuy nhiên, thực tế áp dụng cơ chế giải quyết tranh chấp của GATT cũng cho thấy những hạn chế làm giảm tính hiệu quả và hiệu lực của nó, thể hiện:

Trang 22

Trước hết, tiến trình giải quyết tranh chấp của GATT không ổn định, không

rõ ràng, dễ bị trì hoãn ở mọi giai đoạn Nhiều quy định của GATT về giải quyết tranh chấp chỉ mang tính quy tắc, hướng dẫn cho các bên Kết quả là bên vi phạm không thực hiện hoặc thực hiện không đúng với các phán quyết trong Báo cáo của Ban hội thẩm

ở một cấp, tức là chỉ được xem xét thông qua Ban hội thẩm Các bên tranh chấp không

có quyền kháng cáo, GATT không có Cơ quan phúc thẩm để xem xét lại vụ tranh chấp một cách thỏa đáng Do vậy, tính chính xác trong việc giải quyết tranh chấp giữa các bên không được dảm bảo

chấp của GATT Toàn bộ hệ thống giải quyết tranh chấp của GATT được đặt trên cơ

sở ra quyết định đồng thuận, nghĩa là cần phải đạt được sự nhất trí của bên bị khiếu kiện trước khi tiến hành các quy trình cần thiết Đây chính là nguyên nhân gây chậm trễ, bế tắc trong việc thông qua báo cáo của Ban hội thẩm Đồng thời, việc chấp nhận bản báo cáo và thực thi cũng có thể bị ngăn chặn ở mọi bước, và do vậy, có thể gây thiệt hại cho quốc gia bị hại vì thời gian giải quyết tranh chấp kéo dài Suy cho cùng, GATT vẫn là tổ chức dựa trên sự đồng thuận và những biện pháp giải quyết tranh chấp chẳng khác gì gợi ý làm thế nào để giải quyết tranh chấp nhanh chóng hơn

một cơ quan đa phương để giám sát việc thực hiện các khuyến nghị và phán quyết của GATT Với GATT chủ yếu đề cao biện pháp trả đũa, nhưng nó lại cũng rất mơ hồ và hiếm khi được sử dụng Vì lẽ đó, cơ chế giải quyết tranh chấp của GATT bị giảm đi giá trị hiệu lực đối với các phán quyết

Ban hội thẩm thường né tránh hơn là đối đầu trực tiếp với khó khăn và những gì mà Ban hội thẩm tìm được thường không có mấy giá trị trong việc kết thúc tranh chấp Mặt khác, Ban hội thẩm không phải là một cơ quan thường trực, không hỗ trợ cho sự phát triển của cơ chế giải quyết tranh chấp của GATT

các nước đang phát triển và kém phát triển trong quá trình giải quyết tranh chấp

các yêu cầu cho phép đình chỉ nhượng bộ không được chấp nhận và trên thực tế tình trạng này đã làm đau đầu Hội đồng GATT

Trang 23

Với những hạn chế vừa nêu, cơ chế giải quyết tranh chấp của GATT đã được thảo luận tại vòng đàm phán Urugoay và một trong những kết quả của vòng đàm phán này là sự ra đời của Tổ chức thương mại thế giới – WTO Cùng với sự ra đời của WTO, cơ chế giải quyết tranh chấp của GATT cũng được kế thừa và cải tiến Cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO ra đời, đưa ra những quy định pháp lý nhằm bảo vệ các quyền và nghĩa vụ của các thành viên theo hiệp định có liên quan Tuyên bố của WTO nhấn mạnh rằng, việc xúc tiến nhanh chóng vấn đề giải quyết tranh chấp là rất quan trọng đối với sự duy trì cân bằng giữa quyền, nghĩa vụ của các thành viên và hiệu quả hoạt động của WTO Mục tiêu của cơ chế giải quyết tranh chấp theo Hiệp định

của WTO là “bảo đảm có được kết luận đúng cho việc tranh chấp”, vì vậy, việc tìm

kiếm cách giải quyết mà hai bên cùng có lợi và có thể chấp nhận được đồng thời phù hợp với điều khoản của WTO là được khuyến khích

Như vậy, bên cạnh việc kế thừa các giá trị của GATT, WTO đã xây dựng cơ chế giải quyết tranh chấp mạnh hơn cơ chế giải quyết tranh chấp của GATT trước đây Cơ quan giải quyết tranh chấp của WTO có quyền thành lập Ban hội thẩm, thông qua báo cáo của Ban hội thẩm, Cơ quan phúc thẩm, có quyền giám sát thi hành các khuyến nghị trong các báo cáo đã được thông qua và có quyền áp đặt các biện pháp trả đũa nếu một bên không chịu thi hành phán quyết Phạm vi điều chỉnh của WTO đã được

mở rộng bao gồm hàng loạt các lĩnh vực thương mại như: thương mại hàng hóa, thương mại dịch vụ, sở hữu trí tuệ, cơ quan rà soát chính sách thương mại, giải quyết tranh chấp thương mại quốc tế

2.2 Cơ quan và nguyên tắc giải quyết tranh chấp của tổ chức thương mại thế giới

Thủ tục giải quyết tranh chấp trong WTO được thực hiện bởi các cơ quan khác nhau, mỗi một cơ quan có một chức năng riêng biệt, tạo nên tính độc lập trong hoạt động điều tra và thông qua quyết định trong cơ chế này

2.2.1 Các cơ quan của WTO liên quan tới quá trình giải quyết tranh chấp

2.2.1.1 Cơ quan giải quyết tranh chấp – DSB

Đóng vai trò trung tâm của cơ chế giải quyết tranh chấp trong WTO là Cơ quan giải quyết tranh chấp - DSB, Ban hội thẩm và Cơ quan phúc thẩm

toàn độc lập và tách rời khỏi cơ cấu tổ chức của WTO Điều IV.3 – Hiệp định WTO

quy định về cơ cấu của WTO như sau: “ khi cần thiết hội đồng chung sẽ được triệu

tập để đảm nhiệm phần trách nhiệm của cơ quan giải quyết tranh chấp được quy định trong các thỏa thuận trong các quy tắc và thủ tục điều chỉnh việc giải quyết tranh

Trang 24

chấp Cơ quan giải quyết tranh chấp có thể có Chủ tịch riêng 3 và có thể tự xây dựng

ra những quy định về thủ tục mà cơ quan này cho là cần thiết để hoàn thành trách

cơ quan giải quyết tranh chấp của WTO Hay nói cách khác thành viên của DSB cũng chính là đại diện của các nước thành viên trong hội đồng chung DSB có một Chủ tịch riêng và được hỗ trợ bởi Ban thư ký của WTO trong quá trình tiến hành thủ tục giải quyết tranh chấp Ngoài ra Ban thư ký còn có nhiệm vụ giúp đỡ các bên tranh chấp về mặt pháp lý, mà đặc biệt là các nước đang phát triển

DSU quy định “Cơ quan giải quyết tranh chấp được thành lập để thực hiện quy tắc và

thủ tục của Thỏa thuận này và các điều khoản về tham vấn và giải quyết tranh chấp của các hiệp định có liên quan, trừ khi trong hiệp định có liên quan quy định khác Theo đó, DSB có thẩm quyền thành lập Cơ quan phúc thẩm và Ban hội thẩm, thông qua các báo cáo của Ban hội thẩm và Cơ quan phúc thẩm, duy trì sự giám sát và thực hiện các phán quyết, khuyến nghị, cho phép đình chỉ việc thi hành những nhượng bộ

về chức năng của DSB như sau:

DSB chịu trách nhiệm đưa một vụ tranh chấp ra xét xử thông qua việc thành lập Ban hội thẩm;

Việc DSB thông qua báo cáo của Ban hội thẩm, Cơ quan phúc thẩm làm cho giá trị pháp lý ràng buộc các bên có liên phải thực thi;

Giám sát việc thực hiện phán quyết về vụ tranh chấp; cho phép “trả đũa” khi một thành viên không tuân thủ phán quyết

DSU quy định DSB là cơ quan giải quyết tranh chấp, nhưng DSB không trực tiếp tham gia vào quá trình tố tụng để giải quyết vụ việc DSB chỉ tham gia giai đoạn đầu tiên là thành lập Ban hội thẩm và giai đoạn cuối cùng là thông qua báo cáo, kết luận về giải quyết vụ việc DSU quy định một hệ thống xét xử hai cấp: Ban hội thẩm

và Cơ quan phúc thẩm Mọi tranh chấp phát sinh sẽ được điều chỉnh theo hai cấp này Ngoài ra, Hội nghị Bộ trưởng và Tổng Giám đốc của WTO cũng đóng vai trò quan

trọng trong việc giải quyết tranh chấp

3 Là người đứng đầu DSB, được bổ nhiệm theo quyết định đồng thuận của các nước thành viên WTO Đóng vai trò mang tính thủ tục trong việc thông báo tin tức cho các thành viên, chủ trì các cuộc họp, đưa ra và giới thiệu các mục trong chương trình nghị sự, dành quyền phát biểu cho các đại biểu muốn phát biểu, đề xuất quyết định

và công bố nếu quyết định được thông qua Đồng thời, cũng là người truyền đạt thông tin cho các thành viên lên DSB

Trang 25

2.2.1.2 Ban hội thẩm:

Là cơ quan trực thuộc của DSB trong quá trình tham gia giải quyết tranh chấp tại WTO

hành xem xét về một vấn đề tranh chấp cụ thể được đưa ra WTO và sẽ giải tán khi công việc này hoàn thành Theo điều 6 của DSU, khi nhận được yêu cầu bằng văn bản của nguyên đơn, Ban hội thẩm sẽ được thành lập chậm nhất vào ngày cuộc họp tiếp theo của DSB mà tại đó yêu cầu này, lần đầu tiên được đưa ra như một mục của chương trình nghị sự DSB, trừ khi tại cuộc họp đó DSB quyết định trên cơ sở đồng thuận không thành lập Ban hội thẩm Khi đó, nguyên đơn có yêu cầu thì một cuộc họp DSB phải được tổ chức với mục đích này trong vòng 15 ngày kể từ khi nhận được yêu cầu, với điều kiện là phải thông báo cuộc họp trước 10 ngày Điều này có nghĩa là không có Ban hội thẩm thường trực tại WTO, mỗi Ban hội thẩm khác nhau sẽ được thành lập cho một tranh chấp

Đối với vụ kiện có nhiều nguyên đơn thì Điều 9.1 DSU có quy định: “Khi có hai

hay nhiều thành viên yêu cầu thành lập Ban hội thẩm để giải quyết cùng một vấn đề thì một Ban hội thẩm duy nhất có thể được thành lập để xem xét những đơn kiện này

có tính đến quyền của tất cả các thành viên có liên quan Một Ban hội thẩm duy nhất

9 nhưng ở khoản 3 lại chỉ rõ thêm: “nếu có hai hoặc nhiều Ban hội thẩm được thành

lập để xem xét các đơn kiện liên quan đến cùng một vấn đề thì sẽ cố gắng tới mức cao nhất có thể để chọn các hội thẩm viên chung cho các Ban hội thẩm riêng và sẽ sắp xếp thời gian biểu phù hợp cho thủ tục tố tụng của những tanh chấp này”.

Như vậy, việc thành lập Ban hội thẩm như trên sẽ giảm bớt được các thủ tục và chi phí, và đảm bảo tính thống nhất, công bằng trong xử lý các tranh chấp phát sinh có cùng nội dung

sau: “Ban hội thẩm sẽ gồm 3 hội thẩm viên, trừ khi các bên tranh chấp đồng ý một Ban

hội thẩm gồm 5 hội thẩm viên, trong vòng 10 ngày kể từ ngày thành lập Ban hội thẩm

Các hội thẩm viên được DSB lựa chọn trên cơ sở danh sách các chuyên gia do ban thư ký WTO giới thiệu Để bảo vệ quyền lợi cho các nước thành viên là các nước đang phát triển, khoản 10 điều 8 quy định “trong vụ tranh chấp xảy ra giữa một nước

thành viên phát triển và một thành viên đang phát triển, thì Ban hội thẩm phải có ít

Trang 26

nhất một hội thẩm viên từ một thành viên đang phát triển” Tuy nhiên, tại khoản 9 điều 8 lại chỉ rõ thêm, “bất kỳ ai được chỉ định làm hội thẩm viên đều làm việc độc lập

và với tư cách cá nhân và không phải là đại diện cho chính phủ hoặc đại diện cho bất

kỳ tổ chức nào”

năng của Ban hội thẩm là giúp DSB hoàn thành trách nhiệm theo Thỏa thuận này và các hiệp định có liên quan Do đó, Ban hội thẩm cần phải đánh giá một cách khách quan về các vấn đề đặt ra cho mình, gồm cả việc đánh giá khách quan các tình tiết của

vụ việc và khả năng áp dụng và sự phù hợp với các hiệp định có liên quan, và đưa ra những nhận xét, khuyến nghị hoặc các phán quyết được quy định trong các hiệp định

có liên quan Ban hội thẩm cần phải đều đặn tham vấn với các bên tranh chấp và tạo cho họ những cơ hội thích hợp để đưa ra một giải pháp thỏa đáng với các bên”

Như vậy , Ban hội thẩm không phải là một cơ quan xét xử như tòa án hay trọng tài Nhiệm vụ của Ban hội thẩm chỉ dừng lại ở việc điều tra thực tế, chỉ ra các cơ sở pháp lý có liên quan để giải quyết các vụ việc và kiến nghị các biện pháp giải quyết khi cần thiết Kết quả làm việc của Ban hội thẩm là một báo cáo trình lên DSB Báo cáo này khi được DSB thông qua thì được coi là một phán quyết của DSB và có giá trị pháp lý ràng buộc cho các bên tranh chấp, buộc các bên phải thi hành

được quy định tại Phụ lục 3 của DSU Phụ lục này gồm 12 quy định, trong đó có những quy định có tính chất như nguyên tắc làm việc Các nguyên tắc này bao gồm:

Ban hội thẩm sẽ họp kín Các bên có tranh chấp và những bên thứ ba có quyền lợi liên quan chỉ có mặt tại các cuộc họp khi được Ban hội thẩm mời dự;

Việc nghị án của Ban hội thẩm và những tài liệu được đệ trình lên ban phải được giữ bí mật;

Tạo cho các bên tranh chấp có quyền bình đẳng ngang nhau và tạo cơ hội cho bên thứ ba có quyền lợi liên quan đến vụ tranh chấp trình bày quan điểm của họ

2.2.1.3 Cơ quan phúc thẩm:

Khác với Ban hội thẩm, Cơ quan phúc thẩm là cơ quan thường trực của DSB Đây được xem là giai đoạn thứ hai và là giai đoạn cuối cùng trong quá trình giải quyết tranh chấp

kháng cáo báo cáo của Ban hội thẩm Việc xem xét kháng cáo này sẽ do một cơ quan

Trang 27

độc lập thực hiện và đó chính là Cơ quan phúc thẩm Theo khoản 1 Điều 17 DSU, Cơ quan phúc thẩm thường trực do DSB thành lập Cơ quan này bao gồm 7 thành viên

và mỗi vụ việc sẽ do 3 trong số 7 người này xét xử Họ sẽ làm việc một cách luân phiên, và theo đó sẽ được xác định trong văn bản về thủ tục làm việc của Cơ quan phúc thẩm DSB chỉ định người làm việc ở Cơ quan phúc thẩm trong nhiệm kỳ 4 năm và mỗi nhiệm kỳ có thể được tái bổ nhiệm một lần Tuy nhiên, nhiệm kỳ của 3 trong số 7 người được bổ nhiệm ngay sau khi Hiệp định WTO có hiệu lực sẽ hết hạn sau 2 năm, được xác định bằng cách bắt thăm Nếu như số lượng thành viên bị

khuyết thì sẽ được bổ sung “Người được bổ nhiệm thay thế một người mà nhiệm kỳ

chưa hết sẽ giữ vị trí đó trong thời gian nhiệm kỳ còn lại của người tiền nhiệm”

(khoản 2 Điều 17 DSU) Quy định này nhằm đảm bảo cho Cơ quan phúc thẩm luôn

có sự luân phiên giữa người cũ và người mới, nhờ vậy duy trì được quá trình làm việc ổn định của Cơ quan phúc thẩm

quan phúc thẩm bao gồm các thành viên sau:

Có uy tín, có kinh nghiệm chuyên môn về pháp luật, thương mại quốc tế và những nội dung của các hiệp định có liên quan nói chung;

Không được liên kết với bất kỳ một chính phủ nào Cơ cấu thành viên của Cơ quan phúc thẩm phải phản ánh rộng rãi cơ cấu thành viên trong WTO;

Phải sẵn sàng làm việc bất cứ lúc nào và chỉ được thông báo ngắn, phải cập nhật theo kịp các hoạt động giải quyết tranh chấp và hoạt động có liên quan khác của WTO;

Không tham gia vào việc xem xét các tranh chấp khi có thể tạo ra xung đột quyền lợi trực tiếp hay gián tiếp

Đây có thể xem như những điều kiện để được bổ nhiệm là thành viên của Cơ quan phúc thẩm Hiện nay, 7 thành viên củ Cơ quan phúc thẩm là công dân của Ai Cập, Brazil, Ấn Độ, Mỹ, Italia, Nhật Bản và Nam Phi

nhiệm xem xét lại các khía cạnh pháp lý trong các báo cáo của Ban hội thẩm Cơ quan phúc thẩm làm việc đảm bảo theo một số nguyên tắc sau: cơ quan phúc thẩm sẽ họp kín; việc tố tụng tại Cơ quan phúc thẩm phải được giữ bí mật; và cơ quan phúc thẩm sẽ đề cập đến từng vấn đề được nêu trong kháng cáo phúc thẩm Ngoài ra, các

ý kiến của các thành viên Cơ quan phúc thẩm trong phiên họp sẽ được ghi vào báo cáo của Cơ quan phúc thẩm nhưng không được ghi tên của các thành viên đưa ý

Trang 28

kiến đó Các kết luận của Cơ quan phúc thẩm có thể được giữ nguyên, sửa đổi hoặc hủy bỏ các kết luận pháp lý, các phán quyết của Ban hội thẩm

Hệ thống giải quyết tranh chấp của WTO là một yếu tố chủ đạo trong việc tạo ra

sự an toàn và tính khả đoán cho hệ thống thương mại đa biên Hệ thống này ra đời, quyền lợi và nghĩa vụ của tất cả các thành viên trong WTO đều được bảo vệ một cách thỏa đáng Mang tư cách chủ đạo trong cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO, DSB hoạt động trước hết phải theo các nguyên tắc xuyên suốt và chỉ đạo mọi hoạt động của WTO Đó là các nguyên tắc không phân biệt đối xử, nguyên tắc công khai và thúc đẩy cạnh tranh lành mạnh, nguyên tắc bảo hộ thông qua thuế quan, nguyên tắc tiếp cận thị trường, nguyên tắc bảo hộ phòng ngừa bất trắc Các nguyên tắc này đóng vai trò quyết định trong việc duy trì hoạt động thương mại quốc tế thuận lợi, rõ ràng, hiệu quả cũng như tạo ra sự công bằng trong giao thương quốc tế, đảm bảo quyền bình đẳng giữa nước giàu và nước nghèo, giữa những nước phát triển và những nước đang phát triển

Và đây cũng là căn cứ để WTO giải quyết tranh chấp giữa tất cả nước thành viên

Bên cạnh, những nguyên tắc trong quá trình hoạt động của WTO nói chung thì khi có tranh chấp phát sinh cần đưa ra cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO giải quyết, khi đó DSB còn dựa trên những nguyên tắc sau:

tranh chấp phát sinh, tất cả các nước thành viên của WTO không kể là nước lớn hay nhỏ, phát triển hay chậm phát triển đều bình đẳng như nhau trong việc giải quyết tranh chấp đó Nguyên tắc này thực hiện rất khả thi và chi phối tất cả các giai đoạn của quá trình giải quyết tranh chấp; bình đẳng khi tham vấn; bình đẳng khi đưa tranh chấp ra Ban hội thẩm, trong quá trình kháng cáo, khi thi hành khuyến nghị, phán quyết của DSB Và với phương châm giải quyết nhanh chóng các tranh chấp giữa các nước thành

viên là yếu tố cốt lỗi quyết định hiệu quả của WTO

Nguyên tắc bình đẳng cũng chi phối hoạt động của các hội thẩm viên, các thành viên Cơ quan phúc thẩm Trong quá trình hoạt động giải quyết tranh chấp các hội thẩm viên, các thành viên của Cơ quan phúc thẩm hoàn toàn bình đẳng ngang nhau trong việc đưa ra ý kiến, quan điểm về các vấn đề cần giải quyết

thẩm và Cơ quan phúc thẩm là các cuộc họp kín, không công khai, các bên tranh chấp chỉ được mời dự khi cần thiết Như vậy, đối với các nước thành viên thứ 3 cũng sẽ được giữ bí mật trong vấn đề về nội dung về các cuộc họp của Ban hội thẩm và Cơ

Trang 29

quan phúc thẩm Nguyên tắc này phần nào cũng thể hiện trong giai đoạn tham vấn, cụ thể là nội dung tham vấn giữa các nước thành viên tranh chấp không được thông báo

cho các nước thành viên WTO biết

Điều 2.4 DSU: “Khi những quy tắc và thủ tục của Thỏa thuận này quy định DSB phải

là, các quyết định của DSB được thông qua theo nguyên tắc đồng thuận phủ quyết Như vậy, việc ra quyết định thành lập Ban hội thẩm, thông qua các báo cáo của Ban hội thẩm và Cơ quan phúc thẩm đều được dựa trên nguyên tắc này Đây là nguyên tắc mới theo đó một quyết định chỉ không được thông qua khi tất cả các thành viên DSB

bỏ phiếu không thông qua Điều này đồng nghĩa với việc các quyết định của DSB hầu như được thông qua tự động vì khó có thể tưởng tượng một quyết định có thể bị bỏ phiếu chống bởi tất cả các thành viên DSB Nguyên tắc này khắc phục được nhược điểm cơ bản của cơ chế giải quyết tranh chấp trong GATT – 1947 nơi áp dụng nguyên tắc đồng thuận truyền thống – mọi quyết định chỉ được thông qua khi tất cả các thành viên bỏ phiếu thông qua – một rào cản trong việc thông qua các quyết định của cơ

quan giải quyết tranh chấp

Thứ tư, nguyên tắc đối xử ưu đãi đối với các nước thành viên đang phát triển và

chỗ Ban thư ký dành hỗ trợ về mặt pháp lý cho các nước này, có thể kéo dài một số thời hạn trong quá trình giải quyết tranh chấp, quyền lợi và tình hình kinh tế của các

nước này sẽ được chú ý tới trong các giai đoạn của quá trình giải quyết tranh chấp

2.3 Thủ tục giải quyết tranh chấp của WTO

Thủ tục giải quyết tranh chấp theo cơ chế của WTO thường trãi qua các giai đoạn: Tham vấn và hòa giải, giải quyết tranh chấp tại Ban hội thẩm, kháng cáo và phúc thẩm, thi hành phán quyết và khuyến nghị Tuy nhiên không phải bất kỳ các tranh chấp nào cũng trãi qua tất cả các giai đoạn này Tùy thuộc vào nội dung của tranh chấp, tính phức tạp của tranh chấp, thiện chí của các bên mà một tranh chấp có

thể được giải quyết tại giai đoạn tham vấn và hòa giải, hoặc tai giai đoạn hội thẩm

2.3.1 Giai đoạn tham vấn và hòa giải

Tham vấn chính là việc các bên tranh chấp tiến hành đàm phán với nhau để đưa

ra một thỏa thuận thống nhất về giải quyết tranh chấp Đây là thủ tục bắt buộc đối với

4 DSB phải được coi là đã quyết định đồng thuận về vấn đề được đệ trình lên DSB để xem xét, nếu không có thành viên nào tại cuộc họp của DSB quyết định về vấn đề này chính thức phản đối quyết định đã được đề xuất

Trang 30

các bên tranh chấp trước khi thành lập Ban hội thẩm, mục đích là tạo điều kiện để các bên chủ động tìm kiếm những giải pháp mang tính chất xây dựng, cùng có lợi cho cả đôi bên và nhanh chóng giải quyết xung đột Do đó, tham vấn song phương giữa các bên là giai đoạn giải quyết tranh chấp chính thức đầu tiên Các giải pháp đạt được trong giai đoạn này phải phù hợp với các hiệp định của WTO và sẽ không được làm vô hiệu hay suy giảm lợi ích của các thành viên hay cản trở việc đạt được bất kỳ mục tiêu nào của Hiệp định WTO Như vậy, quy định này đã hạn chế việc các bên tranh chấp sử dụng quyền lực chính trị trong khi tìm kiếm giải pháp cho tranh chấp, đồng thời tăng cường tính khả đoán và minh bạch cho hệ thống thương mại quốc tế

Khi một nước thành viên của WTO thấy một nước thành viên khác tiến hành một hay một số hành vi thương mại trái với các quy định của Hiệp định hay Thỏa thuận của WTO, gây thiệt hại cho mình thì nước này có quyền yêu cầu nước thành viên có hành vi gây thiệt hại đó tiến hành tham vấn với mình Khoản 2 Điều 4 DSU có

quy định: “Mỗi thành viên WTO cam kết dành những cân nhắc thiện chí và tạo cơ hội

thỏa đáng cho việc tham vấn về bất kỳ ý kiến nào do một thành viên khác đưa ra có liên quan đến những biện pháp ảnh hưởng tới hoạt động của bất kỳ hiệp định có liên

tiên trong giai đoạn tham vấn

Về mặt hình thức của thủ tục tham vấn được quy định tại Điều 4.4 DSU: “Tất

cả những yêu cầu tham vấn như vậy sẽ được thành viên yêu cầu tham vấn thông báo cho DSB, các Hội đồng và Ủy ban liên quan Bất cứ yêu cầu tham vấn nào cũng sẽ

được đệ trình lên bằng văn bản và sẽ phải đưa ra lý do yêu cầu, kể cả việc xác định

vấn, nước khiếu nại phải thể hiện rõ biện pháp để tiến hành tham vấn, cơ sở pháp lý, nếu không đáp ứng yêu cầu này, thành viên yêu cầu tham vấn sẽ mất quyền được lập Ban hội thẩm để giải quyết tranh chấp nếu tham vấn không thành công Quá trình tham vấn phải được giữ bí mật và không được gây phương hại đến quyền của bất kỳ thành viên nào trong bất kỳ một quy trình tố tụng tiếp theo nào Như vậy, tham vấn vừa có vai trò đặt nền móng cho việc hòa giải tranh chấp lại vừa chuẩn bị cho các bước tiếp sau theo quy định của DSU

Thời hạn của thủ tục tham vấn được DSU quy định rõ tại khoản 3 Điều 4 như

sau: “Nếu có yêu cầu tham vấn theo quy định của hiệp định có liên quan, thành viên

5 Nếu các quy định của bất kỳ hiệp định có liên nào về những biện pháp được thực hiên bởi chính quyền địa phương hay khu vực hoặc các cơ quan có thẩm quyền trong phạm vi lãnh thổ của một thành viên có quy định khác với những quy định nêu trên trong khoản này thì những quy định của hiệp định có liên quan đó phải được

ưu tiên áp dụng

Trang 31

được yêu cầu, trừ khi có thỏa thuận khác, sẽ trả lời yêu cầu này trong vòng 10 ngày

sau ngày nhận được yêu cầu và sẽ tiến hành tham vấn một cách thiện chí trong thời hạn không qua 30 ngày sau ngày nhận được yêu cầu với quan điểm cố gắng đạt được giải pháp thỏa đáng cho các bên Nếu thành viên này không trả lời trong 10 ngày sau ngày nhận được yêu cầu, hoặc không tiến hành tham vấn trong thời hạn không quá 30 ngày, hoặc một thời hạn khác được các bên thỏa thuận, sau ngày nhận được yêu cầu, khi đó thành viên đã yêu cầu tham vấn có thể trực tiếp yêu cầu thành lập Ban hội

ngày kể từ ngày nhận được yêu cầu tham vấn, nguyên đơn có thể yêu cầu thành lập Ban hội thẩm Bên nguyên đơn cũng có thể yêu cầu thành lập Ban hội thẩm trong thời hạn 60 ngày nói trên nếu các bên tham vấn cùng cho rằng việc tham vấn đã không giải quyết được tranh chấp Ngay khi trong trường hợp khẩn cấp, và kể cả trường hợp liên quan đến hàng hóa dễ hư hỏng, nếu việc tham vấn đã không giải quyết được tranh chấp trong thời hạn 30 ngày sau ngày nhận được yêu cầu, bên nguyên đơn có thể yêu cầu thành lập Ban hội thẩm Trong trường hợp này các bên tranh chấp, Ban hội thẩm

và Cơ quan phúc thẩm cố gắng nỗ lực để đẩy nhanh quá trình giải quyết tranh chấp đến mức độ tối đa có thể

Trong khi tham vấn, các thành viên phải đặc biệt chú ý đến những vấn đề cụ thể

về quyền lợi của các nước thành viên là các nước đang phát triển Có thể thấy rằng, tham vấn là một biện pháp giải quyết tranh chấp mang lại khá hiệu quả cho cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO, điều quan trọng hơn hết là đã hạn chế đến mức tối đa các tác động của quyền lực chính trị, đưa các bên tranh chấp đến bàn đàm phán hữu nghị, giảm thiểu đến mức có thể các tác hại của sự tranh chấp và xung đột

Ngoài ra, để khuyến khích các bên giải quyết tranh chấp một cách nhanh chóng

và hiệu quả, tránh sự đối đầu giữa các thành viên, theo Điều 5 DSU ta được hiểu, bất

cứ bên tranh chấp nào đều có thể yêu cầu môi giới, hòa giải hoặc trung gian – những thủ tục được tiến hành tự nguyện, nếu các bên tranh chấp đồng ý vào bất cứ lúc nào Những thủ tục này có thể được bắt đầu và chấm dứt vào bất kỳ thời điểm nào Một khi những thủ tục này đã chấm dứt, nguyên đơn có thể yêu cầu thành lập Ban hội thẩm Nếu các bên tranh chấp đồng ý, thủ tục môi giới, hòa giải hoặc trung gian có thể được tiếp tục ngay cả khi Ban hội thẩm tiến hành tố tụng Tương tự như thủ tục tham vấn, các biện pháp này cũng được tiến hành bí mật và không gây phương hại đến quyền tiến hành các bước tố tụng khác

Trang 32

2.3.2 Giai đoạn giải quyết tranh chấp tại Ban hội thẩm

Vì thủ tục tham vấn là bắt buộc nên chỉ sau khi đã tuân thủ giai đoạn tham vấn

mà không đưa đến một giải pháp hòa giải thỏa mãn, nguyên đơn mới có quyền yêu cầu thành lập Ban hội thẩm Theo đó, các bên tranh chấp có thể yêu cầu thành lập Ban hội

thẩm theo quy định của DSU

Thủ tục tố tụng tại Ban hội thẩm là giai đoạn thứ hai của tiến trình giải quyết tranh chấp theo cơ chế của WTO và khi có yêu cầu thành lập Ban hội thẩm của nước khiếu nại, DSB sẽ nhóm họp để xem xét yêu cầu này Ban hội thẩm sẽ được thành lập vào phiên họp tiếp theo của DSB, trừ khi DSB quyết định trên cơ sở nhất trí không thành lập Ban hội thẩm Nhiệm vụ của Ban hội thẩm là đánh giá khách quan vấn đề tranh chấp, bao gồm cả các tình tiết thực tế, khả năng áp dụng các hiệp định, thỏa thuận có liên quan của WTO và tìm hiểu để hỗ trợ DSB đưa ra các khuyến nghị hoặc phán quyết Bất kỳ nước thành viên thứ ba nào có quyền lợi đáng kể trong vụ tranh chấp đều được Ban hội thẩm xem xét với điều kiện nước thứ ba này phải gửi thông báo về quyền lợi của mình cho DSB Bên cạnh việc thành lập Ban hội thẩm, để góp phần cho giai đoạn giải quyết tranh chấp tại Ban hội thẩm, một việc cần phải làm đó chính là soạn thảo các điều khoản tham chiếu cho Ban hội thẩm Vấn đề này được quy định tại Điều 7 DSU, được xem là những điều khoản tham chiếu mẫu, có nghĩa đây là các điều kiện cơ bản cho hoạt động của Ban hội thẩm: “Kiểm tra, theo tinh thần của các điều khoản có liên quan (tên của các hiệp định có liên quan do các bên tranh chấp trích dẫn), vấn đề được (tên của một bên) dẫn chiếu tới DSB trong văn bản…và việc xem xét như vậy sẽ giúp DSB đưa ra các khuyến nghị hoặc các quyết định được dự kiến trong các hiệp định có lien quan” Và trình tự giải quyết tranh chấp tại Ban hội thẩm bao gồm các bước sau:

tình tiết của vụ kiện và lập luận của mình cho Ban hội thẩm Tất cả tài liệu đệ trình này phải được giữ bí mật Ban hội thẩm

kiểm tra, theo tinh thần của các điều khoản có liên quan, tên của các hiệp có liên quan

do các bên tranh chấp trích dẫn, vấn đề được dẫn chiếu tới DSB trong văn bản

hội thẩm triệu tập phiên xét xử đầu tiên, gọi là cuộc họp chính thức đầu tiên Cuộc họp chính thức đầu tiên dành cho bên nguyên đơn và bị đơn, diễn ra tại trụ sở WTO, Geneva và giống như phiên xét xử tại tòa án, nhưng thủ tục thì không chính thức Tại

đó, hai bên sẽ được trình bày quan điểm của mình và chỉ nêu ý kiến chứ không được

Ngày đăng: 05/04/2018, 23:29

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w