Tuy nhiên mặt tiêu cực lại xuất phát từ việc thông tin được công bố thiếu chính xác, sai sự thật hoặc chậm công bố, tất cả điều ảnh hưởng không nhỏ đến hoạt động giao dịch, tác động đến
Trang 1KHOA LUẬT -ooOoo -
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP NIÊN KHÓA: 2012-2013
ĐỀ TÀI
CÔNG BỐ THÔNG TIN TRÊN THỊ
TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN
Bộ môn: Luật Thương mại MSSV: 5095456
Cần Thơ, 05/2013
Trang 2
Luận văn tốt nghiệp này là bước cuối cùng giúp người viết trở thành một cử nhân, góp phần vào công việc nghiên cứu và sự phát triển của đất nước Trong suốt quá trình học tập cũng như để hoàn thành tốt luận văn này, người viết xin chân thành cảm ơn gia đình, thầy cô và bạn bè đã tận tình giúp đỡ, tạo điều kiện cho người viết hoàn thành công việc học tập của mình
Cô Lê Thị Nguyệt Châu, người đã trực tiếp hướng dẫn tận tình cho người viết và đã hết lòng giúp đỡ, động viên người viết để có thể hoàn thành tốt luận văn cử nhân của mình
Quý thầy cô trong khoa Luật – Trường đại học Cần Thơ, những người đã tận tình truyền đạt, hướng dẫn và giúp người viết góp nhặt những kiến thức bổ ích cho đến hôm nay Đồng thời người viết xin cảm ơn đến các bạn, những người đã cùng đồng hành và cũng đã giúp người viết hoàn thành tốt luận văn này Với vốn kiến thức tiếp thu được trong quá trình học là những hành trang quý báu, ứng dụng một cách vững chắc vào thực tế đời sống và bản thân
Bên cạnh đó người viết cũng xin cảm ơn đến người thân đã giúp đỡ cho người viết rất nhiều từ khi bước chân đến giảng đường Đại học đến hôm nay
Cuối cùng, người viết xin chân thành chúc sức khỏe và một lời cảm ơn nữa đến mọi người
Trân trọng kính chào!
SNTH: Nguyễn Duy Quang
Trang 3
NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN
Trang 4
NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN PHẢN BIỆN
Trang 5
MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ VIỆC CÔNG BỐ THÔNG TIN TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN 4
1.1 KHÁI QUÁT VỀ CÔNG BỐ THÔNG TIN TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN 4
1.1.1 Thông tin và vai trò của thông tin trên thị trường chứng khoán 4
1.1.2 Công bố thông tin và sự cần thiết của việc công bố thông tin trên thị trường chứng khoán 5
1.2 YÊU CẦU CỦA VIỆC CÔNG BỐ THÔNG TIN 8
1.2.1 Tính chính xác của thông tin 8
1.2.2 Tính đầy đủ của thông tin 8
1.2.3 Tính kịp thời và liên tục của thông tin 9
1.3 PHÂN LOẠI THÔNG TIN TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN 10
1.3.1 Theo loại chứng khoán 10
1.3.2 Theo phạm vi bao quát 10
1.3.3 Theo chủ thể cung cấp thông tin 11
1.3.4 Theo thời gian 12
1.4 ĐỐI TƯỢNG CÓ TRÁCH NHIỆM CÔNG BỐ THÔNG TIN TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN 12
1.4.1 Công ty đại chúng 12
1.4.2 Các tổ chức niêm yết chứng khoán 13
1.4.3 Các tổ chức phát hành 13
1.4.4 Công ty chứng khoán, công ty quản lý quỹ 14
1.4.5 Trung tâm lưu ký chứng khoán 14
1.4.6 Sở giao dịch chứng khoán 15
1.4.7 Uỷ ban chứng khoán nhà nước 17
1.4.8 Các đối tượng có liên quan khác 18
Trang 61.5 ẢNH HƯỞNG CỦA VIỆC CÔNG BỐ THÔNG TIN TRÊN THỊ TRƯỜNG
CHỨNG KHOÁN .19
1.5.1 Ảnh hưởng tích cực 19
1.5.2 Ảnh hưởng tiêu cực 20
1.6 MÔ HÌNH CÔNG BỐ THÔNG TIN Ở MỘT SỐ NƯỚC VÀ BÀI HỌC KINH NGHIỆM CHO VIỆT NAM 22
1.6.1 Mô hình công bố thông tin tại các nước phát triển 22
1.6.1.1 Tại Mỹ 22
1.6.1.2 Tại Trung Quốc 23
1.6.2 Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam .23
CHƯƠNG 2 NHỮNG QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ CÔNG BỐ THÔNG TIN TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN 25
2.1 PHƯƠNG TIỆN, HÌNH THỨC, YÊU CẦU VÀ TRƯỜNG HỢP ĐƯỢC TẠM HOÃN CỦA VIỆC CÔNG BỐ THÔNG TIN TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN 26
2.1.1 Phương tiện thực hiện công bố 26
2.1.2 Hình thức công bố 27
2.1.3 Yêu cầu thực hiện việc công bố 28
2.1.4 Các trường hợp được tạm hoãn công bố thông tin 29
2.2 ĐỐI TƯỢNG CÔNG BỐ VÀ NỘI DUNG THÔNG TIN ĐƯỢC CÔNG BỐ 29 2.2.1 Công ty đại chúng 30
2.2.2 Tổ chức niêm yết chứng khoán, công ty đại chúng quy mô lớn 32
2.2.3 Tổ chức phát hành trái phiếu doanh nghiệp ra công chúng 33
2.2.4 Công ty chứng khoán, công ty quản lý quỹ 34
2.2.5 Về quỹ đại chúng, công ty đầu tư chứng khoán đại chúng 35
2.2.6 Trung tâm lưu ký chứng khoán 36
2.2.7 Sở giao dịch chứng khoán 37
2.2.8 Uỷ ban chứng khoán nhà nước 38
2.2.9 Các đối tượng có liên quan khác 39
2.3 QUY ĐỊNH VỀ BIỆN PHÁP CHẾ TÀI ĐỐI VỚI CÁC VI PHẠM VỀ CÔNG BỐ THÔNG TIN TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN 40
2.3.1 Chế tài dân sự 41
Trang 72.3.3 Chế tài Hành chính .44
CHƯƠNG 3 THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ CÔNG BỐ THÔNG TIN TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN TẠI VIỆT NAM
48
3.1 TÌNH HÌNH CÔNG BỐ THÔNG TIN TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM: THÀNH TỰU VÀ HẠN CHẾ 48
3.1.1 Tổ chức niêm yết chứng khoán 50
3.1.2 Công ty đại chúng, Doanh nghiệp phát hành trái phiếu ra công chúng 53
3.1.3 Công ty kinh doanh chứng khoán 56
3.1.4 Ủy ban chứng khoán nhà nước 57
3.1.5 Các đối tượng khác 58
3.2 NGUYÊN NHÂN CỦA HẠN CHẾ VÀ CÁC NHÓM GIẢI PHÁP NHẰM HOÀN THIỆN HOẠT ĐỘNG CÔNG BỐ THÔNG TIN TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN TRONG THỜI GIAN TỚI 59
3.2.1 Sơ lược về định hướng hoàn thiện việc công bố thông tin trên thị trường chứng khoán tại Việt Nam 59
3.2.2 Nguyên nhân của hạn chế và các nhóm giải pháp 61
3.2.2.1 Hoàn thiện khung hệ thống pháp luật về chứng khoán và thị trường chứng khoán .62
3.2.2.2 Tăng cương tính công khai minh bạch trong việc công bố thông tin trên thị trường chứng khoán 64
3.2.2.3 Ứng dụng công nghệ thông tin vào hoạt động công bố thông tin 65
3.2.2.4 Tuyên truyền và phối hợp phổ biến đến công chúng vế những chủ trương pháp luật 65
3.2.2.5 Nâng cao trình độ cán bộ, đội ngũ quản lý và ý thức chấp hành pháp luật 66
3.2.2.6 Hoàn thiện về công tác thông tin truyền thông .66
3.2.2.7 Hoàn thiện cơ chế giám sát từ các cấp 66
3.2.3 Trách nhiệm của các cá nhân và tổ chức trong việc thực hiện các giải pháp trên 67
KẾT LUẬN 70
Trang 8PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Thị trường chứng khoán chính thức hoạt động vào năm 2000 tại Việt Nam, đây là một lĩnh vực còn khá mới mẻ tại nước ta Sau hơn 10 năm hoạt động thì thị trường này đã đã đem lại nhiều lợi ích khá quan trọng cho việc huy động lượng vốn lớn đối với nền kinh tế từ các nhà đầu tư có lượng vốn nhàn rỗi, cũng như thực hiện các chính sách kinh tế vĩ mô của nhà nước, hướng đến những thành công trong công cuộc hiện đại hóa đất nước Là thị trường rất nhạy cảm và có ảnh hưởng lớn đến nền kinh tế, thực tế cho thấy không chỉ tại Việt Nam mà hầu như ở các nước có nền kinh tế phát triển: Để vận hành tốt thì thị trường cần có thông tin Những thông tin khi được đưa ra có ảnh hưởng rất lớn đến các quyết định đầu tư, nếu các thông tin là chính xác thì họ sẽ có những quyết định phù hợp, đảm bảo sự điều hòa và ổn định cho thị trường chứng khoán, góp phần tăng trưởng nền kinh tế Tuy nhiên mặt tiêu cực lại xuất phát từ việc thông tin được công bố thiếu chính xác, sai sự thật hoặc chậm công bố, tất cả điều ảnh hưởng không nhỏ đến hoạt động giao dịch, tác động đến
sự vận hành bình thường của thị trường chứng khoán, những biến động này không chỉ nhỏ hẹp trong một lĩnh vực, mà nó còn lan sang các lĩnh vực khác như tài chính, ngân hàng hay bất động sản …
Thấy được tầm ảnh hưởng của loại thị trường này, nhà nước luôn có những chính sách nhằm đảm bảo sự vận hành ổn định và công tác quản lý kinh tế diễn ra hiệu quả hơn Đặc biệt trong hoạt động công bố thông tin trên thị trường chứng khoán, các chính sách luôn hướng đến việc thông tin được đưa ra phải chính xác, nhanh chóng và kịp thời, giúp người tham gia nắm bắt được tình hình chung để thực hiện giao dịch bình thường, an tâm hơn khi quyết định tham gia, giúp các cơ quan quản lý kiểm soát tốt hơn Tuy nhiên các hành vi sai phạm ngày càng tinh vi hơn, nên ngay từ lúc này, nghiên cứu và tìm ra các giải pháp ứng phó và phòng tránh là hết sức cần thiết
Nhìn chung, để thị trường chứng khoán phát triển ổn định hơn trong tình hình kinh tế chung như hiện nay, thì các chính sách pháp luật phải trở nên mạnh tay hơn, ngăn chặn các hành vi sai phạm và hướng các đối tượng tham gia chấp hành tốt các quy định để thị trường này hoạt động tốt hơn Do thấy được sự ảnh hưởng của hoạt động công bố thông tin trên thị
trường này tại nước ta, người viết đã chọn đề tài “Công bố thông tin trên thị trường chứng khoán”, nhằm phân tích các chính sách pháp luật, đánh giá tình hình thực tế và đưa
Trang 9trên thị trường này được thực hiện tốt, đúng quy định hơn và quản lý nhà nước thật sự hiệu quả để thực hiện các chính sách kinh tế chung
2 Mục tiêu nghiên cứu
Luận văn tập trung nghiên cứu vào vấn đề công bố thông tin trên thị trường chứng khoán được pháp luật quy định, như đối tượng có nghĩa vụ công bố thông tin, phương thức, hình thức, yêu cầu của thông tin và công bố thông tin, nội dung và thời gian để các đối tượng này công bố, ngoài ra người viết còn nghiên cứu về các biện pháp ngăn chặn hành vi thực hiện sai quy định Mục tiêu kế tiếp người viết muốn đánh giá lại thực tế hoạt động công bố thông tin trên thị trường chứng khoán hiện nay tại Việt Nam, những mặt đạt được và chưa đạt được, những nguyên nhân và có được những giải pháp đóng góp để hoàn thiện và nâng cao hiệu quả cho hoạt động này
3 Phạm vi nghiên cứu
Đề tài luận văn nghiên cứu được giới hạn trong những phạm vi sau:
Không gian: Thị trường chứng khoán Việt Nam
Thời gian: Thực hiện từ đầu tháng 01/2013 đến cuối tháng 04/2013
Đối tượng: Người viết tập trung vào nghiên cứu về công bố thông tin trên thị trường chứng khoán theo quy định của pháp luật đối với Việt Nam
4 Phương pháp nghiên cứu
Các phương pháp và hình thức hổ trợ được người viết sử dụng để góp phần hoàn thành tốt đề tài nghiên cứu bao gồm:
Phương pháp phân tích tổng hợp
Phương pháp so sánh
Phương pháp phân tích luật viết
Thu thập thông tin, tài liệu, các văn bản quy phạm pháp luật, giáo trình của các trường đại học, chuyên gia kinh tế, luật gia
Các tài liệu tham khảo từ Internet, sách báo, tạp chí
Trang 10Chương 2 Những quy định của pháp luật về công bố thông tin trên thị trường chứng khoán
Với chương này, người viết hệ thống hóa những quy định pháp luật được ban hành nhằm quy định về vấn đề công bố thông tin trên thị trường chứng khoán
Chương 3 Thực trạng và giải pháp hoàn thiện pháp luật về công bố thông tin trên thị trường chứng khoán tại Việt Nam
Người viết khảo sát và tóm lược những thực tế về công bố thông tin diễn ra trên thị trường chứng khoán tại Việt Nam hiện nay Từ đó đánh giá những tồn tại, vướng mắc, và đưa ra những giải pháp đề xuất nhằm nâng cao hiệu quả trong hoạt động công bố thông tin trên thị trường chứng khoán
Trang 11CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ VIỆC CÔNG BỐ THÔNG TIN
TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN
1.1 Khái quát về công bố thông tin trên thị trường chứng khoán
1.1.1 Thông tin và vai trò của thông tin trên thị trường chứng khoán
Trong từ điển tiếng Việt thông tin là những điều hoặc tin được truyền đi cho biết, là
sự truyền đạt, sự phản ánh tri thức cho biết về thế giới xung quanh và những quá trình xảy ra trong nó 1 Thông tin còn được hiểu là những tin tức mang lại hiểu biết cho con người, là cơ
sở để chúng ta đưa ra những quyết định về những vấn đề có liên quan
Đối với bất kỳ một ngành nghề hay lĩnh vực nào thì thông tin về các ngành nghề lĩnh vực đó là rất quan trọng Thị trường chứng khoán là một dạng thị trường mà tài sản được giao dịch rất đặc biệt, do tài sản ở đây là các loại chứng khoán như cổ phiếu, trái phiếu được phát hành bởi các tổ chức có quyền Ngoài yếu tố cung – cầu thì giá chứng khoán còn chịu chi phối bởi tình hình hoạt động và nội bộ của tổ chức phát hành, từ đó ảnh hưởng trực tiếp đến giá giao dịch trên thị trường Các thông tin phải giúp cho các chủ thể có được những
cơ sở để quyết định thực hiện các hoạt động khi tham gia vào thị trường chứng khoán bao gồm như:
Tình hình tài chính của các chủ thể phát hành chứng khoán
Các sự kiện quan trọng liên quan đến hoạt động sản xuất kinh doanh hàng ngày của công ty
Các hoạt động ký kết hợp đồng
Triển khai các dự án đầu tư mới
Nguồn vốn của công ty
Thông tin về thay đổi các thành phần nhân sự quan trọng cấp cao của công ty
Sáp nhập chia tách hay giải thể công ty
Thông tin về giá mở cửa, giá chào mua, giá chào bán
1
Từ điển Tiếng Việt, NXB Đà Nẵng, Đà Nẵng, 2011, Tr.1226
Trang 12 Số lượng lệnh đặt, số lượng lệnh được khớp
Khối lượng giao dịch, giá giao dịch
Chỉ số giá thị trường, giá trị giao dịch
Thị trường chứng khoán là một sản phẩm của nền kinh tế thị trường, khi nền kinh tế phát triển, các hoạt động kinh doanh và sản xuất được tăng cường, kéo theo nhu cầu huy động vốn tăng mạnh Do đặc tính của chứng khoán là tính thanh khoản và khả năng sinh lợi cao nên hiện nay có nhiều nhà đầu tư đang tham gia vào thị trường này rất nhiều, nên lượng phát hành và giao dịch chứng khoán tăng, nếu có biến động xảy ra thì sức ảnh hưởng là rất lớn Khi thông tin quan trọng nào đó được đưa ra một cách chính xác, đầy đủ, kịp thời sẽ cung cấp cho nhiều chủ thể những cơ sở quan trọng để có những quyết định giao dịch tốt nhất Cụ thể đối với nhà đầu tư, nắm bắt được thông tin giúp cho chủ thể này biết được nguồn vốn mà mình đầu tư sẽ được sử dụng như thế nào, khả năng được hưởng lợi nhuận là bao nhiêu, tình hình hoạt động của công ty có tốt hay không… từ đó có những quyết đoán rằng giá của loại chứng khoán đó sẽ tăng hay giảm, nên mua hay bán và nhà đầu tư có thể định lượng được giá trị chứng khoán khi thực hiện mua bán trên thị trường Thông tin về thị trường chứng khoán có vai trò hết sức to lớn đối với các chủ thể quản lý, những thông tin sẽ
là cơ sở cho việc giám sát, quản lý, điều tiết thị trường Nhà nước luôn có vai trò lớn trong việc quản lý nền kinh tế vĩ mô, là chủ thể thực hiện các biện pháp và chính sách tốt nhất để tăng trưởng nền kinh tế hiệu quả, bền vững và ổn định Nắm bắt được những thông tin liên quan đến tình hình hoạt động, tài chính, thành phần nhân sự hay diễn biến hoạt động giao dịch mua bán trên thị trường giúp cho việc quản lý trở nên thuận lợi hơn, không còn mơ hồ
vì thiếu thông tin Nhà nước cũng sẽ thực hiện việc giám sát nhằm phát huy hiệu quả, hướng các chủ thể thực hiện đúng các quy định pháp luật, ngăn chặn tình trạng trục lợi bất chính, bảo vệ những nhà đầu tư yếu thế hơn trên thị trường Thêm vào đó là khi có những biến động nào xấu, có được những thông tin đó nhà nước có thể đưa ra hướng giải quyết nhanh chóng, tránh hoặc giảm một cuộc khủng hoảng thị trường cũng như nền kinh tế
1.1.2 Công bố thông tin và sự cần thiết của việc công bố thông tin trên thị trường chứng khoán
Công bố thông tin là việc đưa ra bên ngoài và cung cấp cho những đối tượng tham gia như nhà đầu tư, nhà phát hành hay nhà quản lý… nắm bắt được những thông tin liên quan có phần ảnh hưởng đến những yếu tố như giá, cường độ giao dịch của thị trường chứng khoán
Trang 13Công bố thông tin luôn được xem là một trong những nghĩa vụ quan trọng nhất khi tham gia vào thị trường chứng khoán đã được pháp luật quy định Vai trò của thông tin liên quan trên thị trường chứng khoán là rất lớn, nó không chỉ ảnh hưởng đến giá cả, cung cầu, hoạt động giao dịch… mà còn ảnh hưởng đến toàn bộ nền kinh tế Nếu thông tin không được nhà đầu tư nắm bắt kịp thời, thì họ khó có được cơ sở để đưa ra những quyết định đúng trong hoạt động giao dịch, đôi khi dẫn đến hiện tượng “tâm lý đám đông”, kéo theo việc thị trường hoạt động không bình thường Công bố thông tin nhằm phổ biến rộng rãi thông tin đến công chúng, tạo ra sự bình đẳng cho tất cả các chủ thể tham gia có cơ hội đầu tư như nhau Yếu tố quan trọng là phải công khai minh bạch sẽ giúp nâng cao uy tín và lòng tin cho nhà đầu tư đối với thị trường chứng khoán, cũng như bảo vệ lợi ích của những nhà đầu tư, ngoài ra còn giúp cho nhà nước có thể thực hiện quản lý kinh tế hữu hiệu hơn thông qua các nguồn thông tin đó
Hiện nay việc công bố thông tin bao gồm hai bộ phận chính là công bố thông tin trên thị trường sơ cấp và công bố thông tin trên thị trường thứ cấp
- Công bố thông tin trên thị trường sơ cấp 2: Việc công bố này do các tổ chức phát hành chứng khoán lần đầu ra công chúng tiến hành như nhà nước, doanh nghiệp, quỹ đầu tư Thông tin được công bố phải có liên quan đến tình hình hoạt động của công ty, thành phần nhân sự để từ đó nhà đầu tư có thể có cơ sở ra các quyết định dự báo giá hay định giá đặt mua Trong đó có hai thông tin rất quan trọng là “Bản cáo bạch công ty” và “thông cáo đăng ký phát hành chứng khoán ra công chúng”
Bản cáo bạch công ty là tài liệu hoặc dữ liệu điện tử công khai những thông tin chính xác, trung thực, khách quan liên quan đến việc chào bán hoặc niêm yết chứng khoán của tổ chức phát hành 3 Người có thẩm quyền ký trong bản cáo bạch là chủ tịch hội đồng quản trị, hội đồng thành viên, chủ tịch công ty, giám đốc hoặc tổng giám đốc, giám đốc tài chính hoặc
kế toán trưởng của tổ chức phát hành và người đại diện theo pháp luật của tổ chức bảo lãnh phát hành hoặc tổ chức bảo lãnh phát hành chính Bộ Tài chính ban hành mẫu Bản cáo bạch
Về nội dung chính của bản cáo bạch công ty đã được quy định trong Luật Chứng Khoán năm 2006 (Sửa đổi bổ sung năm 2010) bao gồm:
Lịch sử hình thành và phát triển của công ty
Bộ máy tổ chức của công ty
Trang 14 Ngành nghề sản xuất của công ty
Lược khảo lý lịch của các thành viên trong hội đồng quản trị
Tổng giám đốc (hoặc giám đốc)
Những định hướng và chiến lược phát triển của công ty trong tương lai
Thông tin về việc phát hành chứng khoán
Những yếu tố rủi ro có thể xảy ra
Lợi nhuận của công ty…
Báo cáo tình hình tài chính công ty 4, bao gồm:
o Bảng cân đối kế toán
o Báo cáo kết quả hoạt động sản xuất, kinh doanh
o Báo cáo lưu chuyển tiền tệ
o Thuyết minh báo cáo tài chính…
Thông cáo đăng ký phát hành chứng khoán ra công chúng: đây là những thông báo một cách chi tiết về các vấn đề liên quan đến việc phát hành chứng khoán của tổ chức phát hành Thông tin được công bố bao gồm:
Thời gian phát hành
Hình thức phát hành, giá phát hành
Điều kiện tham gia mua chứng khoán đợt phát hành …
Hai văn bản quan trọng này sẽ được Ủy ban Chứng khoán nhà nước (UBCKNN) xem xét và chấp thuận, bên cạnh đó phải được công bố công khai và kịp thời ra công chúng để các nhà đầu tư nắm bắt và có cơ hội đầu tư tốt nhất
- Công bố thông tin trên thị trường thứ cấp 5: là việc công bố ra bên ngoài những thông tin có liên quan đến tổ chức phát hành chứng khoán trên thị trường thứ cấp như Sở Giao dịch chứng khoán (SGDCK) Việc công bố cần tuân theo những quy định của pháp luật
và của Sở Giao dịch chứng khoán Bên cạnh đó Sở Giao dịch chứng khoán phải công bố thông tin đó ra thị trường Những thông tin ở đây có thể là thông tin về khối lượng, số lượng
Trang 15chứng khoán được giao dịch tại sở, thông tin về các thành viên tổ chức được niêm yết tại sở giao dịch chứng khoán
1.2 Yêu cầu của việc công bố thông tin
Hoạt động công bố thông tin trên thị trường chứng khoán đặt ra yêu cầu là phải công khai minh bạch, việc này tạo ra sự bình đẳng giữa các chủ thể tham gia, giúp trung thực và hoạt động của thị trường chứng khoán diễn ra bình thường Để có thể gọi là công khai minh bạch thì công bố thông tin phải thể hiện được những yêu cầu đặt ra, thông tin được công bố phải chính xác, đầy đủ, kịp thời liên tục
1.2.1 Tính chính xác của thông tin
Một thông tin chính xác sẽ thể hiện được đúng bản chất của sự việc Bất kì một sự việc nào thì tính chính xác có thể tạo cơ sở tiền đề cho những quyết định sau đó trở nên đúng đắn hơn Thông tin đó phải được kiểm định, phê duyệt và thông qua một cách chính thức bởi các bộ phận có thẩm quyền của công ty như Hội đồng quản trị hay hội đồng thành viên Ví
dụ như thông tin về các báo cáo tài chính được kiểm toán, những thông tin về hoạt động của công ty, các dự án đầu tư, ngoài ra thông tin phải phản ánh được các biến động về thành phần nhân sự cấp cao, giao dịch cổ phiếu của các cổ đông…
Tính chính xác của thông tin sẽ cho thấy những thông tin đó khi được kiểm định là hợp lệ hay không, có được chủ thể có quyền và nghĩa vụ công bố không, đây sẽ là các thông tin chính thức, không còn là các thông tin được tạo dựng có chủ ý Những nhà đầu tư sẽ an tâm hơn về nguồn thông tin đó, ngăn chặn tình trạng làm sai lệch thông tin của một số đối tượng để trục lợi Đó còn là sự đảm bảo bởi chính những người thẩm định và phê duyệt, họ
sẽ có trách nhiệm hơn khi có những biến động xảy ra xuất phát từ những nguồn thông tin này Tóm lại, thông tin chính xác phải thể hiện một cách trung thực nhất những bản chất vốn
có của thông tin đó, pháp luật nghiêm cấm mọi hành vi bóp méo xuyên tạc thông tin gây ra hiểu sai lệch nguồn thông tin
1.2.2 Tính đầy đủ của thông tin
Bên cạnh sự chính xác của thông tin, yêu cầu thứ hai rất quan trọng đối với những thông tin khi được công bố là tính đầy đủ của thông tin đó Có thể thấy rằng những thông tin như tình hình hoạt động của công ty tổ chức phát hành, thành phần hay thay đổi thành phần nhân sự cấp cao, tình trạng tài chính của công ty, hoạt động giao dịch trên các sàn giao dịch hoặc rộng ra là môi trường đầu tư kinh tế, chính trị xã hội của quốc gia và quốc tế có phần ảnh hưởng và làm thay đổi đến giá và hoạt động giao dịch trên thị trường chứng khoán
Trang 16Những yếu tố đó tưởng như độc lập với nhau nhưng kỳ thực chúng lại có mối quan hệ mật thiết với nhau Thế nên thông tin được công bố phải thật sự đầy đủ, vì như vậy công chúng hay các nhà đầu tư sẽ có cái nhìn về thị trường chứng khoán một cách bao quát, từ đó có những cơ sở vững chắc ban đầu để đưa ra các quyết định trong giao dịch, tăng cường sự tin tưởng của công chúng vào các tổ chức phát hành, góp phần ổn định thị trường vốn nhạy cảm này Ngược lại, khi thông tin không được công bố một cách đầy đủ sẽ dẫn đến sự hiểu nhầm
và sai lệch của công chúng và các nhà đầu tư, vô tình đẩy giá chứng khoán tăng giảm bất thường, gây ra sự bất bình đẳng giữa những người nắm bắt thông tin không đầy đủ và những những người nắm rõ được thông tin, đây cũng chính là những hình thức của các đối tượng trục lợi thực hiện Vì thế đảm bảo sự đầy đủ của thông tin là một yêu cầu rất quan trọng
1.2.3 Tính kịp thời và liên tục của thông tin
Một yếu tố thứ ba để tạo nên chất lượng tốt cho thông tin ngoài hai yêu cầu chính xác
và đầy đủ đó chính là thông tin được công bố phải kịp thời và liên tục, thời điểm bắt đầu kể
từ lúc thông tin đó được hình thành Thông tin được công bố kịp thời tức là phải chính xác
về thời gian, không quá sớm cũng không quá muộn, đôi khi chỉ cần sai lệch vài ngày hoặc vài giờ thì cũng dẫn đến nhiều hệ quả lớn trên thị trường Nếu một khi thông tin không được công bố kịp thời và liên tục, sẽ dẫn đến việc các nhà đầu tư hiểu sai lầm từ những nguồn thông tin do một số đối tượng tạo dựng lên, dẫn đến những quyết định sai, làm ảnh hưởng đến sự tăng giảm của giá chứng khoán, thay đổi cường độ giao dịch trên thị trường, gây nên tình trạng hoạt động không bình thường của thị trường chứng khoán, sự tiêu cực đó là hình thức mà các đối tượng sử dụng để thực hiện các giao dịch nội gián, tạo ra sự bất bình đẳng giữa những người nắm và không nắm bắt được thông tin Ngoài ra, thông tin được công bố còn phải liên tục không bị đứt quãng, như đã đề cập trong các phần trên, thông tin làm ảnh hưởng đến thị trường chứng khoán rất đa dạng và phong phú, chúng có mối quan hệ mật thiết với nhau, mật thiết về nội dung và cả tính liên kết về thời gian của những thông tin đó Nên thông tin được đưa ra nếu không bảo đảm được sự liên tục, thì dẫn đến cách hiểu lệch
hướng về thông tin, gây nhiều hoang mang cho công chúng và các nhà đầu tư Yêu cầu kịp
thời và liên tục luôn là yếu tố quan trọng cấu thành sự hoàn thiện của thông tin
Tóm lại để tránh tình trạng rò rỉ thông tin, bất bình đẳng giữa các nhà đầu tư hay tình trạng vi phạm pháp luật, dẫn đến hậu quả nặng thì thông tin khi được công bố cần phải đạt được các yêu cầu chính xác, đầy đủ, kịp thời và liên tục Nhiệm vụ đó cũng đã được nhà nước quy định trong các văn bản quy phạm pháp luật, đòi hỏi những chủ thể có trách nhiệm
Trang 171.3 Phân loại Thông tin trên thị trường chứng khoán
1.3.1 Theo loại chứng khoán
- Thông tin về cổ phiếu
Cổ phiếu là loại chứng khoán được phát hành bởi các công ty cổ phần, vì thế thông tin được công bố phải liên quan đến tình hình hoạt động công ty, tài chính, số lượng cổ phiếu đang nắm giữ bởi các cổ đông, các giao dịch của các cổ đông này, khối lượng cổ phiếu được phát hành và giao dịch trên thị trường…
- Thông tin về trái phiếu
Trái phiếu là những chứng chỉ nợ được phát hành bởi tổ chức như chính phủ hay doanh nghiệp Và cũng tương tự như việc công bố thông tin về cổ phiếu, những thông tin liên quan được công bố phải gồm các thông tin về tình hình tài chính, hoạt động, thành phần
và hoạt động của các thành viên cấp cao…
- Thông tin về chứng chỉ quỹ đầu tư
Là loại chứng khoán xác nhận quyền sở hữu của nhà đầu tư đối với một phần vốn góp của quỹ đại chúng, nên thông tin phải liên quan đến mục đích sử dụng và tình hình sử dụng nguồn vốn đó của quỹ đại chúng…
- Thông tin về các chứng khoán phái sinh
Bao gồm các thông tin liên quan đến các loại hợp đồng như hợp đồng quyền chọn mua hoặc chọn bán, quyền mua cổ phiếu, chứng quyền…
1.3.2 Theo phạm vi bao quát
- Thông tin đơn lẻ từng chứng khoán
Những thông tin liên quan đến từng loại chứng khoán mà khi được công bố phải độc lập với nhau Các thông tin liên quan này sẽ đảm bảo không bị nhầm với các thông tin của những loại chứng khoán khác
- Thông tin ngành
Đây là những thông tin liên quan đến ngành hoạt động của chủ thể phát hành Vì các ngành nghề của các chủ thể phát hành luôn có tầm ảnh hưởng nhất định đến giá chứng khoán, đó còn là những thông tin mà các nhà đầu tư rất quan tâm, về nguồn vốn đầu tư được
sử dụng, ngành nghề hoạt động trên thị trường có khả năng phát triển mạnh và hiệu quả hay không… để đưa ra quyết định đầu tư vào chứng khoán của tổ chức đó
Trang 18- Thông tin nhóm ngành
Thông tin này cho giúp công chúng thấy được một cách rộng hơn giữa những chủ thể phát hành chứng khoán có cùng ngành nghề hoạt động Từ đó có được nhũng lựa chọn loại chứng khoán của tổ chức nào là tốt nhất, khi xét thấy khả năng hoạt động sản xuất, cạnh tranh, lợi nhuận cao hơn so với các tổ chức khác
- Thông tin về thị trường trong nước và quốc tế
Trong bối cảnh nền kinh tế nước ta đang hội nhập, xu thế liên kết các ngành kinh tế là rất cao Đối với thị trường chứng khoán cũng vậy Khi trong những năm gần đây, các công
ty Việt Nam đã bắt đầu niêm yết chứng khoán tại nước ngoài, hoặc ngược lại các công ty nước ngoài niêm yết tại Việt Nam Với tình hình trong nước và thế giới có bất kỳ biến động
gì thì vẫn có sự ảnh hưởng đến giá chứng khoán tại các thị trường
1.3.3 Theo chủ thể cung cấp thông tin
- Thông tin của các đơn vị thành viên tham gia giao dịch chứng khoán
Các đơn vị thành viên như tổ chức niêm yết chứng khoán, công ty chứng khoán, các đối tượng liên quan như cá nhân, cổ đông nội bộ công ty…
- Thông tin của các cơ quan quản lý thị trường
Cơ quan quản lý bao gồm Ủy ban Chứng khoán nhà nước, Sở Giao dịch chứng khoán, hiệp hội các nhà kinh doanh chứng khoán…
- Thông tin của các tổ chức phụ trợ như công ty định mức tín nhiệm
Định mức tín nhiệm là việc đánh giá khả năng thanh toán một nghĩa vụ tài chính đúng hạn của một tổ chức phát hành Công ty định mức tín nhiệm sẽ cung cấp thông tin về độ tin cậy của doanh nghiệp trong nghĩa vụ đó như về cổ phiếu, trái phiếu…
- Thông tin từ các cơ quan thông tin truyền thông
Cơ quan truyền thông là những cơ quan có trách nhiệm đưa thông tin đến cho công chúng nhanh và rộng rãi nhất Vì thế các cơ quan này có vai trò quan trọng trong việc công
bố thông tin Cơ quan truyền thông bao gồm các cơ quan như báo chí, đài truyền hình, truyền thanh, mạng internet…
Trang 191.3.4 Theo thời gian
Theo thời gian thông tin được phân thành
- Thông tin quá khứ, thông tin hiện tại và thông tin dự báo tương lai
Thông tin này cho thấy diễn biến của thị trường hay của tổ chức tham gia trên thị trường chứng khoán trong nhiều khoảng thời gian khác nhau Những thông tin trong quá khứ
và hiện tại giúp đánh giá tốt hơn, để có nhũng dự báo trong tương lai, cung cấp các tin tức cho công chúng về những dự báo đó
- Thông tin tổng hợp theo thời gian: ngày, tuần, tháng, quý, năm…
Các biến động trên thị trường luôn thay đổi mỗi ngày, vì thế thông tin phải luôn được cập nhật thường xuyên, kết quả tổng hợp sẽ giúp đánh giá tốt hơn thị trường
- Thông tin theo định kỳ
Là việc các tổ chức niêm yết phải có nghĩa vụ nộp các báo cáo, công bố thông tin vào những thời điểm được quy định trước
- Thông tin tức thời
Khi có một sự kiện quan trọng nào đó xảy ra, tổ chức niêm yết phải công bố tất cả các thông tin có liên quan ra công chúng
Ngoài các loại thông tin kể trên, các tổ chức niêm yết cũng phải công bố thông tin ra thị trường khi có sự yêu cầu của Ủy ban chứng khoán nhà nước hay Sở Giao dịch chứng khoán theo quy định của pháp luật
1.4 Đối tượng có trách nhiệm công bố trên thị trường chứng khoán
Đối tượng có trách nhiệm công bố thông tin trên thị trường chứng khoán là những đối tượng biết rõ nhất về nội dung của thông tin sẽ được công bố Xuất phát từ yêu cầu về tổ chức và quản lý hoạt động của thị trường chứng khoán, Các đối tượng có trách nhiệm công
bố thông tin trên thị trường chứng khoán bao gồm:
1.4.1 Công ty đại chúng
Công ty đại chúng là công ty thực hiện huy động vốn rộng rãi từ công chúng thông qua việc phát hành các loại chứng khoán như cổ phiếu, trái phiếu được niêm yết trên các sàn chứng khoán Công ty đại chúng là công ty cổ phần thuộc một trong ba loại hình:
Công ty đã thực hiện chào bán cổ phiếu ra công chúng
Trang 20 Công ty có cổ phiếu được niêm yết tại Sở Giao dịch chứng khoán hoặc Trung tâm giao dịch chứng khoán
Công ty có cổ phiếu được ít nhất một trăm nhà đầu tư sở hữu, không kể nhà đầu tư chứng khoán chuyên nghiệp và có vốn điều lệ đã góp từ mười tỷ đồng Việt Nam trở lên 6
Theo đó trong quy định chung về quyền và nghĩa vụ của công ty đại chúng, thì đối tượng này phải bắt buộc công bố thông tin, đây là những quy định mới và rất quan trọng Hiện nay, công ty đại chúng đang ngày càng khẳng định được uy tín của mình Với giá phát hành tương đối thấp thì việc phát hành và huy động vốn của công ty sẽ dễ dàng hơn, công chúng sẽ quan tâm và đầu tư vào các loại chứng khoán do công ty này phát hành Vì thế công ty này luôn chịu sự giám sát quan tâm từ công chúng, việc báo cáo công bố thông tin sẽ tạo sự yên tâm và tin tưởng của công chúng đối với công ty
1.4.2 Các tổ chức niêm yết chứng khoán
Niêm yết chứng khoán là việc đưa các chứng khoán có đủ điều kiện vào giao dịch tại các sở giao dịch chứng khoán hoặc Trung tâm giao dịch chứng khoán 7 Các tổ chức niêm yết chứng khoán sẽ phối hợp với các tổ chức tư vấn chứng khoán xây dựng bản cáo bạch và
hồ sơ - theo yêu cầu của các tổ chức có chứng khoán phát hành - và ký kết các hợp đồng Sau đó các tổ chức niêm yết chứng khoán sẽ thực hiện những quy định của Sở giao dịch chứng khoán, để loại chứng khoán đó được niêm yết và giao dịch trên sở giao dịch
Theo đó, tổ chức niêm yết chứng khoán sẽ là đối tượng nắm được các thông tin ảnh hưởng đến giá và khối lượng giao dịch của các loại chứng khoán Tổ chức niêm yết chứng khoán biết được chứng khoán nào đủ điều kiện để giao dịch, biết được tình hình hoạt động
và tài chính của công ty có chứng khoán phát hành Vì thế quy định công bố thông tin là một trong những nghĩa vụ quan trọng đối với hoạt động của tổ chức niêm yết chứng khoán trên thị trường
1.4.3 Các tổ chức phát hành
Tổ chức phát hành là tổ chức thực hiện chào bán chứng khoán 8 Các chủ thể phát hành như chính phủ hay chính quyền địa phương, công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn, các quỹ đầu tư … đây là những chủ thể cung cấp phần lớn các sản phẩm hàng hóa cho
Trang 21
thị trường chứng khoán Nên các vấn đề như tình hình hoạt động, tài chính, các mục đích sử dụng nguồn vốn huy động từ việc phát hành chứng khoán… phải được các tổ chức này công
bố một cách rõ ràng, công khai, trung thực nhằm thể hiện đúng nội dung của các thông tin
mà các chủ thể này nắm giữ
1.4.4 Công ty chứng khoán, công ty quản lý quỹ
Công ty chứng khoán, công ty quản lý quỹ (hay còn gọi là công ty quản lý quỹ đầu
tư chứng khoán) là tổ chức được thành lập dưới dạng công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty
cổ phần theo các quy định của Luật Doanh nghiệp 9
Về hoạt động nghiệp vụ kinh doanh của công ty chứng khoán, dạng công ty này được hoạt động trong các nghiệp vụ: môi giới chứng khoán, tự doanh chứng khoán, bảo lãnh phát hành chứng khoán, tư vấn đầu tư chứng khoán, được nhận ủy thác quản lý tài khoản giao dịch chứng khoán của nhà đầu tư cá nhân Khi thực hiện các nghiệp vụ này, trước hết công
ty chứng khoán phải là đối tượng nắm rõ về các thông tin liên quan Vì vậy đây chính là những đối tượng có nghĩa vụ phải công bố thông tin một cách công khai về những hoạt động của công ty
Còn đối với công ty quản lý quỹ, công ty này thực hiện các hoạt động: quản lý quỹ đầu tư chứng khoán, quản lý danh mục đầu tư chứng khoán, tư vấn đầu tư chứng khoán Quỹ đầu tư chứng khoán là quỹ hình thành từ vốn góp của nhà đầu tư, với mục đích kiếm lợi nhuận từ việc đầu tư vào chứng khoán hoặc các dạng tài sản đầu tư khác, kể cả bất động sản, trong đó nhà đầu tư không có quyền kiểm soát hàng ngày đối với việc ra quyết định đầu tư của quỹ 10 Do tính chất của tổ chức này là một hình thức góp vốn chung cùng nhau có lợi, thế nên mọi lợi ích của các thành viên góp vốn đều như nhau Việc quy định tổ chức này phải có nghĩa vụ công bố thông tin là điều cần thiết nhằm tạo sự bình đẳng cho tất cả các nhà đầu tư khi tham gia vào quỹ, giúp họ nắm bắt được các thông tin cần thiết về tình hình hoạt động của nguồn quỹ, các giao dịch và giá chứng khoán liên quan đến quỹ
1.4.5 Trung tâm lưu ký chứng khoán
Lưu ký chứng khoán là việc nhận ký gửi, bảo quản, chuyển giao chứng khoán cho khách hàng, giúp khách hàng thực hiện các quyền liên quan đến sở hữu chứng khoán 11 Trung tâm lưu ký chứng khoán (TTLKCK) là tổ chức hoạt động theo mô hình công ty trách nhiệm hữu hạn hoặc công ty cổ phần, nhằm thực hiện các hoạt động lưu ký chứng khoán
Trang 22Trung tâm lưu ký chứng khoán phải cung cấp thông tin một cách trung thực nhất các thông tin liên quan đến việc sở hữu chứng khoán của khách hàng theo yêu cầu của công ty đại chúng, tổ chức phát hành Đây là một trong những nghĩa vụ quan trọng của trung tâm lưu ký chứng khoán
1.4.6 Sở giao dịch chứng khoán
Sở giao dịch chứng khoán là nơi thực hiện hoạt động giao dịch các loại chứng khoán được niêm yết, các chức năng chính là quản lý niêm yết, các giao dịch, quản lý công bố thông tin, thanh tra giám sát… Các giao dịch qua Sở Giao dịch chứng khoán mang tính tập trung thông qua sàn giao dịch hoặc hệ thống các mạng máy tính Đa phần những chứng khoán được niêm yết và giao dịch trên sàn giao dịch, là do các chủ thể phát hành có uy tín và tiềm lực mạnh Đây là một trong những thành phần quan trọng tham gia vào thị trường chứng khoán, tổ chức được xem là uy tín, có khả năng biết được những thông tin liên quan đến thị trường chứng khoán Vì là nơi diễn ra các hoạt động giao dịch mua bán chứng khoán, nên việc công bố thông tin của tổ chức này là một nghĩa vụ được pháp luật quy định Có thể thấy hầu như các nhà đầu tư khi tham gia giao dịch trên sàn giao dịch, họ sẽ đặt niềm tin vào
sự công khai và minh bạch từ việc công bố thông tin của sở giao dịch
Hiện nay tại Việt Nam có hai Sở Giao dịch chứng khoán là Sở Giao dịch chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh (HOSE - http://www.hsx.vn) và Sở Giao dịch chứng khoán
Hà Nội (HNX - http://hnx.vn) Đây là hai tổ chức được thành lập từ các quyết định của Chính phủ, có nhiệm vụ và quyền hạn rộng rãi, thực hiện một phần nhiệm vụ của nhà nước
về quản lý thị trường chứng khoán, xử lý các sai phạm nhằm giúp thị trường này hoạt động một cách bình thường và ổn định Trong đó nhiệm vụ quan trọng là việc phải công bố thông tin một cách chính xác và trung thực nhất ra công chúng
Trang 23Website của Sở Giao dịch chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh
Website của Sở Giao dịch chứng khoán Hà Nội
Trang 24Nhiệm vụ chung về công bố thông tin bao gồm: thực hiện công bố thông tin về giao dịch chứng khoán, thông tin về công ty chứng khoán, công ty quản lý quỹ, quỹ đầu tư chứng khoán, công ty đầu tư chứng khoán, thông tin giám sát hoạt động của thị trường chứng khoán, cung cấp thông tin và phối hợp với các cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong công tác điều tra, phòng chống các hành vi vi phạm pháp luật trong lĩnh vực chứng khoán và thị trường chứng khoán, có nhiệm vụ công bố thông tin về tình hình hoạt động của thị trường chứng khoán như: thông tin về giao dịch trên thị trường, về chỉ số giá chứng khoán, về quản
lý thị trường, về các tổ chức niêm yết, công ty quản lý quỹ đầu tư, về các nhà đầu tư, về các thành viên của thị trường chứng khoán… với những nhiệm vụ rộng thì việc công bố thông tin của tổ chức này là hết sức quan trọng Đây là một tổ chức lớn và uy tín có liên hệ với nhà nước và góp phần thực hiện các nhiệm vụ bình ổn thị trường chứng khoán, nên các thông tin được tổ chức này công bố góp phần cho các nhà đầu tư tin tưởng hơn vào tính chính xác của thông tin, qua đó các nhà đầu sẽ tư định hướng được diễn biến của thị trường và có nhũng quyết định đúng đắn, ngăn chặn các hành vi sai phạm pháp luật trong việc công bố thông tin của những đối tượng đầu cơ
1.4.7 Uỷ ban chứng khoán nhà nước
Nhằm quản lý tốt và giúp nền kinh tế hoạt động và phát triển tốt thì cần có một cơ quan chuyên môn chuyên phụ trách quản lý trong một lĩnh vực nhất định đó Mặc dù chỉ mới
ra đời hơn mười năm tại Việt Nam, nhưng sự phát triển nhanh của thị trường chứng khoán tại nước ta đã cho thấy đây là một lĩnh vực rất có tiềm năng, một trong những kênh huy động vốn và khả năng sinh lợi nhuận cao Tuy nhiên, xét thấy tầm ảnh hưởng của một thị trường vốn nhạy cảm như thế, thì rất cần bàn tay quản lý từ phía Nhà nước Sự ra đời của một cơ quan chuyên trách trong lĩnh vực chứng khoán, đó là Uỷ ban chứng khoán nhà nước - thuộc
Bộ Tài chính, đã giúp và tham mưu cho nhà nước quản lý một cách chặt chẽ hơn trong lĩnh vực này
Trong công tác quản lý và công bố thông tin Các đối tượng có nghĩa vụ công bố thông tin, khi công bố thông tin thì phải đồng thời báo cáo cho Ủy ban Chứng khoán nhà nước về nội dung thông tin được công bố Sau đó, Ủy ban Chứng khoán nhà nước sẽ xem xét các nguồn thông tin này và công bố trên website của Ủy ban Chứng khoán nhà nước, hiện tại là www.ssc.gov.vn Ủy ban Chứng khoán nhà nước sẽ thực hiện việc công bố thông tin của những đối tượng trên theo những quy định của pháp luật hiện hành Các đối tượng cung cấp thông tin phải chịu trách nhiệm với nguồn thông tin mà mình cung cấp, điều này
Trang 25cho thấy tính chịu trách nhiệm nghiêm khắc hơn của các đối tượng cung cấp thông tin, tránh tình trạng giả mạo thông tin
Ủy ban chứng khoán nhà nước là cơ quan có thể thu nhận và công bố thông tin một cách rộng rãi Vì các chủ thể tham gia vào thị trường chứng khoán như công ty đại chúng, công ty quản lý quỹ, công ty chứng khoán… đều phải cung cấp thông tin để được sự công bố chính thức từ phía Ủy ban chứng khoán nhà nước Vì là cơ quan quản lý thuộc nhà nước, nên lòng tin của công chúng sẽ cao hơn, là một kênh tham khảo thông tin tổng hợp tốt dành cho những nhà đầu tư
Website của Ủy ban Chứng khoán nhà nước
1.4.8 Các đối tượng có liên quan khác
Ngoài các đối tượng được quy định trên, pháp luật còn quy định thêm những đối tượng có liên quan khác phải có nghĩa vụ công bố thông tin Theo giải thích từ ngữ của Luật Chứng khoán Việt Nam những đối tượng có liên quan bao gồm: cha, cha nuôi, mẹ, mẹ nuôi,
vợ, chồng, con, con nuôi, anh, chị, em ruột của cá nhân, tổ chức mà trong đó có cá nhân là nhân viên, giám đốc hoặc tổng giám đốc, chủ sở hữu trên mười phần trăm số cổ phiếu lưu hành có quyền biểu quyết, thành viên hội đồng quản trị, ban kiểm soát, giám đốc hoặc tổng
Trang 26giám đốc, phó giám đốc hoặc phó tổng giám đốc và các chức danh quản lý khác của tổ chức
đó, người mà trong mối quan hệ với người khác trực tiếp, gián tiếp kiểm soát hoặc bị kiểm soát bởi người đó hoặc cùng với người đó chịu chung một sự kiểm soát, công ty mẹ, công ty con, quan hệ hợp đồng trong đó một người là đại diện cho người kia 12
Thông tin nội bộ là những thông tin liên quan đến công ty đại chúng hoặc quỹ đại chúng chưa được công bố mà nếu được công bố có thể ảnh hưởng lớn đến giá chứng khoán của công ty đại chúng hoặc quỹ đại chúng 13 Do những đối tượng này có mối quan hệ nhất định với các thành viên trong tổ chức phát hành, nên họ sẽ là người có thể biết được thông tin nội bộ này trước nhũng nhà đầu tư bất lợi hơn, như vậy sẽ tạo ra sự bất bình đẳng Trường hợp tiêu cực, các đối tượng này có thể sử dụng những thông tin đó nhằm mục đích thao túng thị trường theo hướng có lợi cho mình, làm thay đổi diễn biến bình thường của thị trường chứng khoán, vi phạm nghiêm trọng các yêu cầu cần có của thông tin Pháp luật quy định những đối tượng này phải có nghĩa vụ công bố thông tin chính xác trung thực, kịp thời
và đầy đủ nhất Như vậy sẽ tránh được việc sử dụng thông tin một cách tiêu cực trong lĩnh vực chứng khoán, tạo sự bình đẳng giữa các nhà đầu tư với nhau
1.5 Ảnh hưởng của việc công bố thông tin trên thị trường chứng khoán
1.5.1 Ảnh hưởng tích cực
Như đã đề cập trong những phần trên, thị trường chứng khoán vốn là một dạng thị trường rất đăc biệt, vì hàng hóa được giao dịch trên thị trường này rất đặc biệt Hàng hóa là những loại chứng khoán, được các tổ chức phát hành ra nhằm huy động một nguồn lực tài
chính rộng rãi trong công chúng Vậy nên giá chứng khoán diễn biến như thế nào là tùy
thuộc rất lớn đến tình hình hoạt động của tổ chức phát hành Khi thông tin liên quan đến tình hình hoạt động, nhân sự cao cấp, tài chính… được công bố đúng chủ thể, chính xác, kịp thời
và đầy đủ sẽ làm cho các nhà đầu tư an tâm hơn cũng như tin cậy hơn nguồn gốc thông tin
đó Từ đây, nhà đầu tư sẽ có cái nhìn hoàn toàn rộng và chuẩn xác về các công ty phát hành,
họ sẽ có được những cơ sở quan trọng ban đầu để đưa ra các quyết định đúng đắn Ngoài ra việc công bố thông tin còn tạo nên sự bình đẳng giữa các chủ thể với nhau, vì trong hoạt động đầu tư chứng khoán không phải tất cả các nhà đầu tư đều có năng lực tài chính như nhau, chưa tính đến việc có một số đối tượng đầu cơ có khả năng nắm bắt được những thông tin nội bộ và sử dụng các thông tin này làm cho thị trường chứng khoán thay đổi bất thường, nhằm mục đích trục lợi Vì thế công bố thông tin công khai minh bạch không những tránh
Trang 27được tình trạng vi phạm pháp luật, mà còn tạo sự bình đẳng và bảo vệ những nhà đầu tư yếu thế hơn
Còn đối với nền kinh tế vĩ mô, việc bảo vệ một trong những thị trường quan trọng và
có quan hệ mật thiết với các thị trường khác là rất cần thiết Công bố thông tin giúp hoạt động quản lý nhà nước trở nên khá dễ dàng hơn, đây là một cách để cơ quan nhà nước nắm bắt được tình hình hoạt động của thị trường, cũng như tính toán và có được những biện pháp khắc phục nhanh chóng khi có những biến động xảy ra trên thị trường này
1.5.2 Ảnh hưởng tiêu cực
Sự tồn tại của một lĩnh vực luôn mang trong đó một vài mặt tiêu cực Đối với thị
trường chứng khoán cũng vậy, do là một thị trường dễ có nhiều biến động và thay đổi Biên
độ của giá hay giao dịch cũng tùy thuộc rất lớn vào việc thông tin được công bố như thế nào
Thứ nhất, công bố thông tin không đúng yêu cầu gây nhiều biến động trên thị trường
Thị trường được xem là phát triển ổn định khi yếu tố về giá không thay đổi một cách đột ngột, mà phải có sự tăng giảm tự nhiên theo đúng các quy luật cung cầu Thông tin chỉ được xem như một chất xúc tác ảnh hưởng đến giá chứng khoán, hơn hết sự thay đổi này lại tùy vào chính các nhà đầu tư, lượng giao dịch chứng khoán sẽ vô tình đẩy giá chứng khoán tăng giảm, thay đổi cường độ giao dịch Xét về mặt tiêu cực, khi thông tin được công bố sai sự thật, không đầy đủ và không phù hợp về thời điểm sẽ làm cho các nhà đầu tư cảm thấy hoài nghi về sự an toàn và ổn định của chứng khoán, từ đây tâm lý đám đông sẽ phát sinh, dẫn đến việc vì muốn bảo vệ nguồn vốn đầu tư của mình hay tránh thiệt hại đến mức thấp nhất, một vài nhà đầu tư sẽ mua bán chứng khoán bất thường, sau đó nhiều nhà đầu tư khác cũng
sẽ cùng nhau mua bán, đến khi một lượng lớn nhà đầu tư giao dịch với cường độ mạnh như thế thì giá chứng khoán bắt đầu thay đổi và đây cũng chính là cơ hội tốt nhất để các hành vi đầu cơ tiêu cực trục lợi, thiệt hại lại do chính những nhà đầu tư nhận lấy Vì vậy tâm lý của nhà đầu tư cũng là một yếu tố rất quan trọng quyết định sự hoạt động bình thường của thị trường chứng khoán Để giữ vững sự an tâm và tránh tình trạng tâm lý thì ngay từ khâu công
bố thông tin phải được thực hiện tốt và đúng quy định, vừa bảo vệ hệ thống hoạt động của cả thị trường, bảo vệ các nhà đầu tư và ngăn chặn tình trạng vi phạm pháp luật trong lĩnh vực chứng khoán và thị trường chứng khoán
Thứ hai, tác động tiêu cực đối với nền kinh tế vĩ mô Do là một thị trường mới phát
triển trong những năm gần đây nên công tác quản lý tương đối chưa chắc chắn, bên cạnh đó
là sự tác động lẫn nhau giữa các thị trường nhạy cảm là rất cao, có quan hệ với các lĩnh vực như vàng, tài chính ngân hàng, bất động sản khi thông tin đưa ra không hợp pháp, việc đó
Trang 28dẫn đến các quyết định sai lầm của nhiều nhà đầu tư dẫn đến giá chứng khoán thay đổi
không bình thường, khiến cả thị trường chao đảo, ảnh hưởng đến lượng vốn mà các nhà phát
hành đã huy động, gây ra tình trạng hoạt động ì ạch của tổ chức do bị thay đổi nguồn vốn đột ngột Lấy ví dụ sự kiện Nguyễn Đức Kiên (Cổ đông tại ngân hàng Á Châu- ACB) bị bắt giữ, tin tức này đã lan truyền trong công chúng một cách không rõ ràng, dẫn đến các hoạt động giao dịch rút tiền tại ngân hàng này tăng đột biến, sau đó thì thị trường chứng khoán đã bị tác động một cách tiêu cực, cả hai sàn giao dịch đều đồng loạt giảm điểm, cổ phiếu của ACB
và EIB đều lần lượt mất điểm là 7% và 4,8% 14 Trong bối cảnh hội nhập kinh tế nếu thị trường chứng khoán được quốc tế hóa, thì sự ảnh hưởng của nó không gói gọn trong phạm
vi quốc gia, sự kiện khủng hoảng tài chính châu Á năm 1997 cho thấy điều đó Vì thế, công
bố thông tin đúng quy định không chỉ bảo vệ được sự ổn định của thị trường chứng khoán,
mà còn bảo đảm hoạt động của cả nền kinh tế vĩ mô, giúp tăng trưởng kinh tế một cách bền vững
Thứ ba, thiệt hại gây ra có phạm vi lớn Đối với nhà đầu tư, những người bỏ vốn ra để
đầu tư vào chứng khoán có thể là những nhà đầu tư nhỏ lẻ, theo phong trào, ngắn hạn, dài hạn nhưng nhìn chung có thể vị thế của họ lại có phần yếu hơn khi có những biến động xảy ra Khi thông tin đươc ra không đúng, chính họ sẽ là những người rơi vào cái bẫy tâm lý của những đối tượng trục lợi, khi đó thiệt hại của bên này sẽ là lợi ích của bên kia Suy xét sâu xa hơn, một số nhà đầu tư lại mua chứng khoán từ việc thế chấp, cầm cố tài sản… thiệt hại sẽ càng khó giải quyết hơn Bên cạnh đó không chỉ các nhà đầu tư mới là người chịu hậu quả, mà một số công ty niêm yết hay phát hành cũng chịu chung thiệt hại Thị trường chứng khoán là một kênh đầu tư cho những cá nhân tổ chức có lượng vốn nhàn rỗi, ngoài ra đó còn thể hiện được tình hình hoạt động và tài chính của công ty phát hành, đây chính là những thông tin cần thiết để những nhà đầu tư xem xét đến yếu tố lợi và hại khi quyết định đầu tư,
vì vậy nếu các thông tin đó được phản ánh một cách trung thực thì nhà đầu tư sẽ có cái nhìn đúng đắn về thị trường, ngược lại đây cũng chính là những công cụ mà một số đối tượng sử dụng, bóp méo sự thật để thu lợi bất chính Có thể thấy rằng, tại sao một số công ty hoạt động tốt nhưng giá chứng khoán của họ trên các sàn lại bị giảm điểm, chưa xét đến việc các nhà đầu tư mất niềm tin vào công ty làm cho hoạt động huy động vốn và phát hành chứng khoán gặp không ít khó khăn
Trang 291.6 Mô hình công bố thông tin ở một số nước và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam
1.6.1 Mô hình công bố thông tin tại các nước phát triển
1.6.1.1 Tại Mỹ
Sàn giao dịch chứng khoán New york (NYSE) là một sàn giao dịch lớn và phát triển bậc nhất trên thế giới được biết đến Đây là một kiểu mẫu trong việc áp dụng công nghệ thông tin, điện tử máy tính hiện đại, sự cập nhật được thay đổi một cách thường xuyên ứng với từng thời kỳ khác nhau NYSE cũng là một trong những thị trường chứng khoán an toàn trên thế giới, độ tin cậy khá cao Nguyên nhân mà NYSE đạt được những hiệu quả đó là do
sự phát triển lâu đời, áp dụng hệ thống công nghệ thông tin mới và công khai minh bạch trong việc công bố thông tin Với việc quản lý thông tin từ phía nhà nước một cách nghiêm ngặt, khắc khe đòi hỏi các tổ chức phát hành, niêm yết chứng khoán phải đạt được một cơ chế quản trị kinh doanh hoàn hảo, đặc biệt là việc công bố thông tin ra công chúng luôn được giám sát và thực hiện đúng quy định pháp luật
Với 200 năm lịch sử và hiện có 14 sở giao dịch, sự phát triển ổn định như vậy là do việc đầu tư tốt cho cơ sở hạ tầng kỹ thuật, cơ chế tổ chức vận hành trôi chảy đã đem lại hiệu quả cao Ủy ban Chứng khoán Mỹ là cơ quan quản lý trong lĩnh vực chứng khoán tại nước này, cùng với việc ban hành một khung pháp lý thật sự khắt khe, cơ chế quản lý, giám sát chặt, làm cho các chủ thể tham gia trên thị trường chứng khoán phải luôn luôn chấp hành các quy định về quản lý và công bố thông tin cũng như thực hiện các hoạt dộng giao dịch Hiện nay tại Mỹ có đạo luật như Luật tư vấn đầu tư, hay đạo luật nhằm bảo vệ nhà đầu tư như Sarbanes-Oxley 15, bên cạnh đó là tính cạnh tranh tại thị trường này cao nên khi các thông tin được đưa ra cho các nhà đầu tư, các công ty phát hành niêm yết hay tư vấn phải rất thận trọng và tuân thủ pháp luật, vì nếu không thì họ sẽ bị loại bỏ và bị thay thế, nên nguồn thông tin sẽ là rất đáng tin cậy Mặt khác công ty bảo vệ người đầu tư sẽ ngăn chặn sự phát triển của hành vi sử dụng thông tin sai trái để trục lợi Các tổ chức niêm yết phát hành lại phải chịu sự giám sát ngược lại của chính những nhà đầu tư, chẳng hạn khi muốn phát hành chứng khoán họ phải lập và nộp bản thông cáo phát hành, nhà đầu tư có quyền khởi kiện những công ty đó nếu họ công bố thông tin trái với bản thông cáo đó
15
Đạo Luật được thông qua 30/07/2002, đây là sự bổ sung quan trọng trong luật chứng khoán Mỹ, nhằm mang lại tính minh bạch cho thị trường chứng khoán, mục tiêu nhằm bảo vệ lợi ích của nhà đầu tư bằng cách buộc các công ty tham
Trang 301.6.1.2 Tại Trung Quốc
Có thể nói thị trường chứng khoán Trung Quốc chỉ thật sự phát triển từ khoảng năm
1992 cùng với sự ra đời của Ủy ban chứng khoán nhà nước Cũng như tại Việt Nam hay Mỹ, đây là cơ quan nhà nước thực hiện quản lý trong lĩnh vực chứng khoán Với việc quản lý và giám sát nghiêm, các công ty phát hành hay tổ chức niêm yết chứng khoán luôn phải công
bố thông tin đúng theo những quy định và những chuẩn mực thống nhất đã được đặt ra Có thể thấy trước những năm 1990, hệ thống khoa học công nghệ thông tin chưa được áp dụng tốt nên dẫn đến việc các sàn giao dịch tại Trung Quốc – điển hình là hai sàn giao dịch Thâm Quyến và Thượng Hải - hoạt động một cách rời rạc dẫn đến việc công tác công bố thông tin
ra công chúng chưa thống nhất và hỗ trợ lẫn nhau, thông tin ở mỗi thị trường là khác nhau, gây nên tình trạng hiểu sai lầm về thông tin Tuy nhiên, với việc phát triển kinh tế của mình, Trung Quốc đã đầu tư và hiện đại hóa từ công tác quản lý đến hệ thống máy tính, có chức năng thu thập và kiểm tra đến công bố thông tin chính xác hơn, điều này làm cho thị trường chứng khoán Trung Quốc phát triển ổn định và mạnh mẽ như hiện nay
1.6.2 Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam
Từ những thành quả mà thị trường chứng khoán ở các nước đạt được, Việt Nam sẽ có rất nhiều kinh nghiệm để áp dụng vào thị trường chứng khoán của mình Do là một trường
non trẻ nên vấn đề đầu tư sớm cho thị trường nước ta là rất cần thiết nhằm phát triển ổn định
hơn, đặc biệt là vấn đề về công bố thông tin, đây là vấn đề khá quan trọng với tất cả các nước phát triển thị trường chứng khoán
Một là áp dụng các thành tựu về công nghệ thông tin Nếu chú trọng vấn đề này vào
việc quản lý và công bố thông tin, thì những tiện ích mang lại sẽ cực kỳ tốt Hiện các nước phát triển trên thế giới đã và đang áp dụng một cách mạnh mẽ công nghệ thông tin trong quản lý các nguồn thông tin như khớp lệnh, nhập lệnh, thanh toán, đăng ký, lưu ký, bù trừ, các vấn đề liên quan đến công ty niêm yết, phát hành… các tiện ích này làm cho thông tin được công khai minh bạch và trung thực hơn, hoạt động quản lý thuận lợi hơn, đặc biệt là các hoạt động đầu tư diễn ra suôn sẻ Hệ thống công nghệ thông tin hiện đại sẽ đem đến nguồn thông tin chính xác, đầy đủ và kịp thời
Hai là Các sở giao dịch chứng khoán phải có một cơ chế quản lý và giám sát thật sự
nghiêm nghặt, luôn thực hiện đúng các quy định pháp luật và thật sự công khai minh bạch trong công bố thông tin, thực hiện công bằng cũng như bảo vệ quyền lợi đối với tất cả các
Trang 31Ba là tạo điều kiện thuận lợi để các nhà đầu tư có cơ hội thực hiện việc giám sát các
tổ chức niêm yết và phát hành chứng khoán Có thể lấy cách thức tại Mỹ, chẳng hạn khi công ty muốn phát hành chứng khoán, họ phải lập và nộp bản thông cáo phát hành, nếu công
ty đó có sai phạm hay công bố thông tin không đúng với bản thông cáo, khi đó nhà đầu tư có quyền khởi kiện chính các công ty này
Cuối cùng là ban hành các đạo luật hoặc thành lập các tổ chức nhằm bảo vệ quyền lợi
của những nhà đầu tư, nhằm ngăn chặn sự sai lệch về cung cấp thông tin Vì nhìn chung khi
có thiệt hại xảy ra, chính những nhà đầu tư yếu thế sẽ là người bị thiệt hại Ví dụ như Luật tư vấn đầu tư hay công ty bảo vệ nhà đầu tư tại Mỹ đã giúp nhà đầu tư yên tâm hơn khi quyết định tham gia thị trường chứng khoán
Xét thấy tầm quan trọng của việc công bố thông tin trên thị trường chứng khoán, nên pháp luật nước ta đã có quy định cụ thể bắt buộc các đối tượng có nghĩa vụ công bố phải thực hiện, góp phần vào hoạt động ổn định của thị trường Phần này sẽ được người viết tiếp
tục trong chương 2: Những quy định của Pháp Luật Việt Nam về công bố thông tin trên
thị trường chứng khoán
Trang 32CHƯƠNG 2 NHỮNG QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ CÔNG BỐ THÔNG TIN TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN
Sự hình thành và phát triển của thị trường chứng khoán là một yếu tố tất nhiên đối với một nền kinh tế đang bước vào xu hướng hội nhập như Việt Nam, đặc biệt với những lợi ích của loại thị trường này đem lại đã giải quyết được các nhu cầu huy động vốn và đầu tư vốn
Là một dạng thị trường rất nhạy cảm, dễ bị tác động từ các yếu tố bên trong và bên ngoài như hoạt động nội bộ của tổ chức phát hành chứng khoán, các hành vi cố ý làm thay đổi giá
và diễn biến của thị trường, đầu cơ tiêu cực… Cơ sở thông tin có thể làm thay đổi rất nhiều đến thị trường chứng khoán, nếu những thông tin này được tuyên truyền đúng quy định, sẽ làm cho công chúng tin tưởng và an tâm vào thị trường, từ đó có cái nhìn và quyết định đúng đắn để đầu tư, ngược lại sẽ dẫn đến nhiều hệ quả lớn đến toàn bộ hoạt động của thị trường và nền kinh tế Nhà nước luôn là chủ thể quan trọng nhằm thực hiện vai trò quản lý nhà nước và giúp đất nước phát triển và ổn định, các văn bản pháp luật luôn là những công cụ hiệu quả để thực hiện chức quản lý đối với xã hội trong lĩnh vực chứng khoán nói chung, công bố thông tin nói riêng Việc ban hành các văn bản pháp luật này mang lại nhiều hiệu quả lớn nhằm hướng các chủ thể tham gia trên thị trường luôn thực hiện các yêu cầu mà pháp luật đã quy định, ngoài ra còn bảo vệ các nhà đầu tư và phòng chống các hành vi tiêu cực trên thị trường như đưa thông tin sai sự thật, sử dụng thông tin nội bộ để giao dịch
Việc ban hành các văn bản quy phạm pháp luật về vấn đề công bố thông tin trên thị trường chứng khoán đã được quy định từ sớm Vấn đề này được ghi nhận tại các văn bản như: Nghị định 48/1998/NĐ-CP (ngày 11/07/1998) và Nghị định 144/2003/NĐ-CP (ngày 28/11/2003) của Chính phủ, văn bản của Bộ Tài chính như Thông tư 57/2004/TT-BTC (ngày 17/06/2004) hướng dẫn thi hành Nghị định 144/2003/NĐ-CP, nhưng các văn bản này vẫn còn quy định rời rạc, không thông nhất với nhau Sau đó Luật Chứng khoán được ban hành năm 2006 đã thống nhất và quy định về công bố thông tin tại chương VIII, ngày 18/04/2007 Bộ Tài chính ban hành Thông tư 38/2007/TT-BTC hướng dẫn thi hành chi tiết Luật chứng khoán 2006 về công bố thông tin, tiếp sau đó Bộ Tài chính đã quy định lại việc công bố thông tin qua việc ban hành thông tư 09/2010/TT-BTC (ngày 15/01/2010) Sau khi Luật Chứng khoán được sửa đổi bổ sung năm 2010, ngày 05/04/2012 Bộ Tài chính ra thông
Trang 33trường chứng khoán, sự ra đời của thông tư này đã giúp các chủ thể có trách nhiệm công bố thông tin thực hiện đúng và dễ dàng hơn nhiệm vụ đó, việc quy định một cách chặt chẽ như thế là rất cần thiết nhằm giúp cho hoạt động của thị trường này diễn ra bình thường theo đúng các quy luật tự nhiên của nó
2.1 Phương tiện, hình thức và yêu cầu của việc công bố thông tin trên thị trường chứng khoán
Nhằm tạo tính chính xác, đầy đủ, kịp thời liên tục, đòi hỏi phải có một số quy định rõ ràng về việc thông tin sẽ được công bố ra công chúng như thế nào Pháp luật Việt Nam đã có những quy định chi tiết về các chủ thể có trách nhiệm công bố thông tin, các yêu cầu đòi hỏi những chủ thể này phải thực hiện, cũng như cách thức thể hiện thông tin ra công chúng Các vấn đề này được quy định tại các văn bản Luật chứng khoán năm 2006 (sửa đổi bổ sung 2010) và thông tư 52/2012/TT-BTC của Bộ Tài chính cụ thể:
2.1.1 Phương tiện thực hiện công bố
Tại khoản 4 điều 100 Luật Chứng khoán có quy định: “Việc công bố thông tin được thực hiện qua các phương tiện thông tin đại chúng, ấn phẩm của tổ chức, công ty và các phương tiện thông tin của Sở Giao dịch chứng khoán, Trung tâm lưu ký chứng khoán” Những quy định này cũng đã được chi tiết hơn tại khoản 1 điều 4 Thông tư 52/2012/TT-BTC:
- Báo cáo thường niên, trang thông tin điện tử (website) và các ấn phẩm khác của tổ chức thuộc đối tượng công bố thông tin
- Các phương tiện công bố thông tin của UBCKNN bao gồm: hệ thống tiếp nhận báo cáo và công bố thông tin, cổng thông tin điện tử và các ấn phẩm khác của UBCKNN
- Các phương tiện công bố thông tin của SGDCK bao gồm: hệ thống tiếp nhận báo cáo và công bố thông tin, trang thông tin điện tử của SGDCK, bảng hiển thị điện tử tại SGDCK
- Phương tiện công bố thông tin của TTLKCK: trang thông tin điện tử của TTLKCK
- Phương tiện thông tin đại chúng khác theo quy định của pháp luật
Theo những quy định này thì bắt buộc các chủ thể có nhiệm vụ công bố thông tin phải
có các trang mạng điện tử riêng hoặc các ấn phẩm sách báo, đây sẽ là những phương tiện nhằm cung cấp cho công chúng các nguồn thông tin riêng của từng tổ chức Các thông tin này lại giám sát quản lý thống nhất với nhau bằng việc được đăng tải trên các phương tiện
Trang 34của các tổ chức như Ủy ban Chứng khoán nhà nước, Sở Giao dịch chứng khoán, trung tâm lưu ký chứng khoán… Với thời đại phát triển của công nghệ thông tin thì các kênh như mạng điện tử, sách, tạp chí và đặc biệt là các phương tiện thông tin truyền thông như đài phát thanh, truyền hình, báo chí… Là những “cánh cửa” nhanh, hiệu quả và phổ biến nhất nhằm giúp các nhà đầu tư cũng như công chúng nắm bắt được các thông tin, ngược lại thì đây là những phương tiện chính để các tổ chức công bố thông tin ra bên ngoài Nhưng quy định vẫn còn khá chung chung ở điểm bắt buộc các đối tượng tham gia phải có trang thông tin điện tử riêng bao gồm cả các cá nhân, nhưng trang thông tin điện tử không phải dễ thực hiện và không phải cá nhân nào cũng có thể thực hiện nên tính khả thi rất thấp
2.1.2 Hình thức công bố
Các khoản 2 và 3 điều 4 Thông tư 52/2012/TT-BTC có quy định về hình thức công
bố thông tin như sau:
- Các tài liệu báo cáo gửi cho UBCKNN, SGDCK được thể hiện dưới hình thức văn bản và hình thức dữ liệu điện tử có sử dụng chữ ký số theo hướng dẫn của UBCKNN, SGDCK Trường hợp UBCKNN, SGDCK triển khai hệ thống tiếp nhận báo cáo và công bố thông tin qua cổng trực tuyến, hình thức công bố thông tin của các đối tượng công bố thông tin quy định được thực hiện theo hướng dẫn của UBCKNN, SGDCK
- Công ty đại chúng phải lập trang thông tin điện tử trong vòng 06 tháng kể từ ngày trở thành công ty đại chúng; công ty chứng khoán, công ty quản lý quỹ phải lập trang thông tin điện tử trong vòng 06 tháng kể từ ngày được cấp phép và chính thức hoạt động, tổ chức phát hành trái phiếu ra công chúng phải lập trang thông tin điện tử trước khi thực hiện chào bán trái phiếu ra công chúng Trang thông tin điện tử phải có chuyên mục riêng về quan hệ
cổ đông (nhà đầu tư), trong đó phải công bố điều lệ công ty, quy chế quản lý nội bộ (nếu có), Bản cáo bạch (nếu có) và các thông tin phải công bố định kỳ, bất thường và theo yêu cầu quy định tại thông tư này Các đối tượng công bố thông tin phải thông báo với UBCKNN, SGDCK và công khai về địa chỉ trang thông tin điện tử và mọi thay đổi liên quan đến địa chỉ này trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày hoàn tất việc lập trang thông tin điện tử hoặc ngày thay đổi về địa chỉ trang thông tin điện tử này
Các đối tượng này phải luôn cập nhật thông tin một cách thường xuyên, đồng thời phải báo cáo nhanh nhất có thể cho UBCKNN, SGDCK, TTLKCK Việc báo cáo này nhằm giúp các chủ thể quản lý có thể lưu trữ lại các nguồn thông tin đó, từ đó có thể quản lý tốt
Trang 35tư điều này giúp họ an tâm hơn khi được chính các chủ thể quản lý công bố các thông tin này Thực tế cho thấy quy định hình thức gửi cho UBCKNN, SGDCK là các văn bản, dữ liệu điện tử hay qua cổng thông tin trực tuyến đã giúp giảm chi phí cho các doanh nghiệp, tổ chức và công khai minh bạch thông tin, cung cấp nhanh nhất các nguồn thông tin tới các nhà đầu tư Thêm vào đó quy định về lập chuyên mục riêng trên trang thông tin điện tử về quan
hệ cổ đông, điều lệ công ty, quy chế quản trị… sẽ tạo điều kiện để cơ quan chức năng và nhà đầu tư có thể giám sát kịp thời phát hiện những sai phạm hoặc khi có những tin đồn sai lệch nhà đầu tư có thể liên hệ và nhận được giải đáp thắc mắc từ phía doanh nghiệp
2.1.3 Yêu cầu thực hiện việc công bố
Về yêu cầu của việc công bố thông tin, hiện nay tại các khoản 2 và 3 điều 100 Luật Chứng khoán có quy định:
- Các đối tượng có nghĩa vụ công bố thông tin, khi công bố thông tin phải đồng thời báo cáo UBCKNN về nội dung thông tin được công bố
- Việc công bố thông tin phải do người đại diện theo pháp luật hoặc người được ủy quyền và người có liên quan thực hiện
UBCKNN sẽ là cơ quan thống nhất các nguồn thông tin của của các đối tượng trên, phân tích đánh giá những nguồn thông tin đã được công bố, từ đó có những cách thức quản
lý tốt hơn đối với thị trường Quy định việc công bố thông tin đúng chủ thể nhằm tạo ra một nguồn thông tin có độ chính xác cao, đáng tin cậy
Tuy nhiên tại điều 3 Thông tư 52/2012/TT-BTC của bộ tài chính quy định khá rành mạch và chi tiết hơn, bao gồm cả các yêu cầu đảm bảo một nguồn thông tin cần có, các đối tượng công bố, cách thức và thời gian như thế nào, quy định về trách nhiệm pháp lý khi có rủi ro xảy ra Những quy định này có thể thấy là khá toàn diện hơn thông tư 09/2010/TT-BTC của Bộ Tài chính về công bố thông tin trên thị trường chứng khoán (đã được thay thế),
cụ thể như sau:
- Công bố thông tin phải đầy đủ, chính xác và kịp thời, do người đại diện theo pháp luật của công ty hoặc người được ủy quyền (được đăng kí 01 người với công ty đại chúng, tổ chức phát hành, công ty chứng khoán, công ty quản lý quỹ) công bố thông tin thực hiện, người đại diện theo pháp luật của công ty phải chịu trách nhiệm về tính chính xác của thông tin do người được ủy quyền công bố; nếu thông tin nào làm ảnh hưởng đến giá chứng khoán thì người đại diện theo pháp luật của công ty hoặc người được ủy quyền công bố thông tin
Trang 36phải xác nhận hoặc đính chính thông tin đó trong vòng 24 giờ, kể từ khi nhận được thông tin
đó hoặc theo quy định của UBCKNN, SGDCK
- Các đối tượng có trách nhiệm công bố thông tin khi công bố phải đồng thời báo cáo cho UBCKNN, SGDCK về nội dung thông tin được công bố, ngày công bố thông tin là ngày thông tin xuất hiện trên phương tiện công bố thông tin, ngày báo cáo việc công bố là ngày gửi fax, dữ liệu điện tử (mail, hệ thống công nghệ thông tin nhận báo cáo), ngày UBCKNN, SGDCK nhận được thông tin công bố bằng văn bản; ngôn ngữ được sử dụng là tiếng việt, có thể là gồm cả tiếng việt hoặc ngôn ngữ khác, nếu có sự thay đổi về nội dung thì các chủ thể công bố thông tin phải báo cáo và có văn bản giải trình cho UBCKNN, SGDCK các đối tượng công bố thông tin thực hiện bảo quản, lưu giữ thông tin đã báo cáo, công bố
2.1.4 Các trường hợp được tạm hoãn công bố thông tin
Theo điều 5 Thông tư 52/2012/TT-BTC thì các trường hợp bất khả kháng sau được hoãn công bố thông tin: thiên tai, hỏa hoạn, chiến tranh và những trường hợp khác được UBCKNN chấp thuận Các đối tượng phải báo cáo cho UBCKNN, SGDCK ngay sau khi xảy ra các sự kiện trên
So với quy định tại Thông tư 09 năm 2010 của Bộ Tài chính, thì Thông tư 52 năm
2012 thay thế, có phần quy định rõ ràng hơn, không còn mang tính chung chung Việc quy định rõ trường hợp thế nào là bất khả kháng, giúp tránh tình trạng các đối tượng sử dụng những quy định chung chung đó để trì hoãn việc công bố thông tin, gây tiêu cực cho thị trường
2.2 Đối tượng công bố và nội dung thông tin được công bố
Các thị trường nói chung và thị trường chứng khoán nói riêng luôn rất cần một cơ chế kiểm soát, quản lý và công bố thông tin một cách nghiêm ngặt, công khai minh bạch Các yếu tố này có ý nghĩa hết sức to lớn, đối với nhà đầu tư đó là những bước đầu để quyết định cho sự đầu tư của mình, nhưng đó cũng là các cơ hội để những nhà đầu tư khác thực hiện các hành vi trục lợi bất chính Các thông tin được công bố có đúng bản chất hay không luôn
có ảnh hưởng nhất định đến hoạt động của thị trường, vì thế luôn cần các cơ chế và quy định
rõ ràng nhằm giúp thông tin được công bố trở nên công khai và minh bạch hơn Bên cạnh đó các nguồn thông tin được đảm bảo như thế nào thì phần lớn vẫn nằm ở các đối tượng công
bố, vì thế quy định ai sẽ có trách nhiệm công bố thông tin nhằm giúp công chúng tin tưởng
và tìm được nguồn thông tin chính xác và dễ dàng hơn
Trang 37Tại khoản 1 Điều 100 Luật Chứng khoán quy định đối tượng phải công bố thông tin bao gồm: Tổ chức phát hành, công ty đại chúng, công ty chứng khoán, công ty quản lý quỹ, công ty đầu tư chứng khoán, sở giao dịch chứng khoán, trung tâm giao dịch chứng khoán, trung tâm lưu ký chứng khoán, người có liên quan có nghĩa vụ công bố thông tin Trong quy định này thì có ba đối tượng được bổ sung có trách nhiệm phải công bố thông tin là công ty đại chúng, Trung tâm lưu ký chứng khoán và người có liên quan Quy định mở rộng này đem lại cho hoạt động công bố thông tin trở nên tốt hơn, thực tế cho thấy Trung tâm lưu ký chứng khoán trong quá trình hoạt động của mình, cũng như những người có liên quan đã có nhiều ảnh hưởng lớn đến hoạt động của thị trường chứng khoán như giá và giao dịch, vì vậy cần được công khai trong công tác công bố thông tin
2.2.1 Công ty đại chúng
- Về công bố thông tin định kỳ:
Khoản 1 điều 101 Luật chứng khoán hiện hành quy định: chậm nhất 10 ngày kể từ ngày tổ chức kiểm toán độc lập ký báo cáo kiểm toán, thì công ty đại chúng phải công bố thông tin về báo cáo tài chính năm đã được kiểm toán trong vòng 90 ngày kể từ ngày kết thúc năm tài chính; báo cáo tài chính 06 tháng được kiểm soát bởi công ty kiểm toán độc lập hay tổ chức kiểm toán được chấp thuận, báo cáo tài chính quý, nghị quyết đại hội đồng cổ đông thường niên Nội dung báo cáo tài chính năm được công bố bao gồm: Bảng cân đối kế toán, báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh, báo cáo lưu chuyển tiền tệ, bản thuyết minh báo cáo tài chính (gồm các nội dung về giao dịch với các bên liên quan); bên cạnh bản báo cáo tài chính bằng ngoại tệ (nếu có) là bản báo cáo đã quy đổi sang đồng Việt Nam Nếu công ty đại chúng là công ty mẹ thì nội dung công bố bao gồm của công ty mẹ và bản hợp nhất Nếu công ty đại chúng là đơn vị kế toán cấp trên thì bao gồm bảng báo cáo của công ty đại chúng
và bảng tổng hợp Đối với báo cáo thường niên, phải lập theo mẫu quy định và công bố chậm nhất 20 ngày sau khi công bố báo cáo tài chính năm được kiểm toán
Báo cáo tình hình quản trị công ty: Cứ 06 tháng và năm công ty đại chúng phải công
bố tình hình quản trị công ty, thời hạn chậm nhất là 30 ngày, kể từ ngày kết thúc kỳ báo cáo
Về họp Đại hội đồng cổ đông, phải công bố thông tin định kỳ về nghị quyết thường niên, các tài liệu họp thường niên/bất thường Cứ 06 tháng phải công bố thông tin về việc chào bán chứng khoán và tiến độ sử dụng vốn thu được từ đợt chào bán, thời hạn công bố là đến khi giải ngân hết vốn huy động từ đợt chào bán
Trang 38- Công bố thông tin bất thường
Khoản 2 điều 101 Luật Chứng khoán quy định trong vòng 24 giờ công ty phải công
bố thông tin bất thường nếu xảy ra các trường hợp sau: Tài khoản công ty bị ngân hàng phong tỏa hoặc được phép hoạt động trở lại; tạm ngừng kinh doanh, bị thu hồi giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh hoặc giấy phép thành lập và/hoặc giấy phép hoạt động; quyết định của Đại hội đồng cổ đông; quyết định mua bán chuyển đổi cổ phiếu/cổ phần của công ty; các chiến lược phát triển trung hạn, kế hoạch kinh doanh hàng năm; thành lập công ty con hoặc liên kết; đóng mở chi nhánh, văn phòng đại diện; thay đổi tên, địa chỉ trụ sở chính; góp vốn
có giá trị từ 10% trở lên tổng tài sản của công ty vào tổ chức khác; góp vốn có giá trị từ 10% trở lên tổng vốn góp của công ty nhận vốn góp; thay đổi phương án kế toán áp dụng; ý kiến ngoại trừ hoặc từ chối đưa ra ý kiến của tổ chức kiểm toán đối với báo cáo tài chính, việc thay đổi công ty kiểm toán; thay đổi thành viên của hội đồng quản trị; ban kiểm soát, tổng giám đốc, phó tổng giám đốc hoặc giám đốc, phó giám đốc, kế toán trưởng; có quyết định khởi tố đối với các thành viên trên; có bản án, quyết định của tòa án liên quan đến hoạt động của công ty; có kết luận của cơ quan thuế về vi phạm pháp luật về thuế của công ty; mua bán tài sản có giá trị lớn hơn 15% tổng tài sản của công ty; quyết định vay hoặc phát hành trái phiếu có giá trị từ 30% vốn chủ sở hữu tại thời điểm báo cáo gần nhất trở lên; Công ty nhận được thông báo của Toà án thụ lý đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản doanh nghiệp; bị tổn thất tài sản có giá trị từ 10% vốn chủ sở hữu trở lên; có sự kiện ảnh hưởng lớn đến hoạt động sản xuất kinh doanh hoặc tình hình quản trị của tổ chức niêm yết; khi xảy ra một trong các sự kiện ảnh hưởng nghiêm trọng đến lợi ích hợp pháp của nhà đầu tư, giá chứng khoán tăng giảm liên tục trong một thời gian nhất định và sự phát triển bền vững của thị trường chứng khoán theo yêu cầu của UBCKNN
Ngoài ra điều 11 thông tư 52/2012/TT-BTC cũng quy định thêm các trường hợp sau phải công bố thông tin bất thường: các nghị quyết hay quyết định của hội đồng cổ đông/quản trị về mức cổ tức, hình thức trả cổ tức, phát hành cổ phiếu thưởng, về chia tách hợp nhất hay sát nhập doanh nghiệp, tách gộp cổ phiếu; công ty nhận được thay đổi nội dung liên quan đến giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, giấy phép thành lập và/hoặc hoạt động; khi có thay đổi số cổ phiếu có quyền biểu quyết đang lưu hành do phát hành thêm, mua bán cổ phiếu quỹ tính tại thời điểm chứng khoán được đăng ký tại TTLKCK; phải công bố thông tin bất thường trong vòng 72 giờ từ khi có quyết định về việc thành lập, mua bán, giải thể công
ty con, đầu tư hoặc không đầu tư vào công ty liên kết, liên doanh; ngoài ra còn phải công bố
Trang 39- Công bố thông tin theo yêu cầu được thực hiện theo điều 12 cùng thông tư, trong 24 giờ từ khi nhận được yêu cầu của UBCKNN, SGDCK khi xảy ra sự kiện ảnh hưởng lớn đến lợi ích hợp pháp của nhà đầu tư; thông tin ảnh hưởng lớn đến giá chứng khoán và cần xác nhận thông tin đó
2.2.2 Tổ chức niêm yết chứng khoán, công ty đại chúng quy mô lớn
Công ty đại chúng quy mô lớn có vốn điều lệ thực góp từ 120 tỷ đồng trở lên và có số lượng cổ đông không thấp hơn 300 cổ đông thì có nghĩa vụ công bố thông tin 16 Luật Chứng khoán năm 2006 có quy định trách nhiệm công bố thông tin của Tổ chức niêm yết chứng khoán 17, nhưng Luật sửa đổi bổ sung năm 2010 thì đã bãi bỏ quy định này; lý do là vì nếu giữ lại quy định này thì nội dung công bố của tổ chức niêm yết sẽ cao và chặt chẽ hơn đối với công ty đại chúng, điều này dẫn đến sự phân biệt đáng kể về nghĩa vụ công bố thông tin giữa công ty đại chúng niêm yết và không niêm yết, gây ra hạn chế các công ty đại chúng đưa chứng khoán vào giao dịch tại thị trường niêm yết, do ngại nghĩa vụ công bố thông tin
Vì thế luật đã khắc phục được tình hình này, nâng cao quyền và nghĩa vụ công bố thông tin
là như nhau, nhằm bảo vệ lợi ích nhà đầu tư và tính minh bạch trên thị trường Còn so với Thông tư 09/2010/TT-BTC thì Thông tư 52/2012/TT-BTC đã bổ sung thêm đối tượng là công ty đại chúng quy mô lớn phải có trách nhiệm công bố thông tin, từ khi có tên đến khi không còn tên trong danh sách công ty đại chúng quy mô lớn do TTLKCK công bố 18, nhưng phải hơn 01 năm Công bố thông tin của tổ chức niêm yết trái phiếu doanh nghiệp được thực hiện như quy định chung đối với tổ chức niêm yết19
- Công bố thông tin định kỳ được thực hiện như của công ty đại chúng và bổ sung thêm các quy định sau: phải công bố thông tin về báo cáo tài chính bán năm (06 tháng đầu năm tài chính) đã được soát bởi tổ chức kiểm toán, thời hạn công bố thông tin không quá 45 ngày kể từ ngày kết thúc 06 tháng đầu năm tài chính Nếu tổ chức niêm yết chứng khoán, công ty đại chúng quy mô lớn là công ty mẹ của công ty khác hoặc có đơn vị kế toán trực thuộc, thì báo cáo tài chính bán niên là bảng báo cáo hợp nhất hoặc tổng hợp trong thời hạn
60 ngày kể từ ngày kết thúc 06 tháng đầu năm tài chính Việc thực hiện công bố thông tin báo cáo quý là trong vòng 20 ngày kể từ ngày kết thúc quý, nếu có bản báo cáo hợp nhất hay tổng hợp thì thời hạn không quá 45 ngày kể từ ngày kết thúc quý, nội dung bao gồm: kết quả lợi nhuận sau thuế thu nhập doanh nghiệp của báo cáo quý (kỳ công bố) so với báo cáo quý
Trang 40cùng kỳ năm trước biến động từ 10% trở lên hoặc kết quả kinh doanh quý bị thua lỗ, tổ chức phải giải trình nguyên nhân cho cả công ty con và đơn vị kế toán trực thuộc, ngoài ra phải công bố các ý kiến ngoại trừ/lưu ý trong báo cáo tài chính năm được kiểm toán và báo cáo tài chính bán niên được soát 20
- Tổ chức niêm yết chứng khoán và công ty đại chúng quy mô lớn phải công bố thông tin bất thường trong thời hạn 24 giờ, khi xảy ra các trường hợp tương tự như của công ty đại chúng hoặc các trường hợp sau: bị tổn thất tài sản trên 10% vốn chủ sở hữu tại kỳ báo cáo năm hoặc bán năm gần nhất, có các quyết định/nghị quyết của Đại hội đồng cổ đông/Hội đồng quản trị về tăng giảm vốn điều lệ; giá trị góp vốn trên 10% tổng tài sản công ty hoặc trên 50% giá trị tài sản của công ty nhận vốn góp, thông qua các hợp đồng (vay, cho vay,…)
có giá trị lớn hơn hoặc bằng 50% tổng giá trị tài sản của công ty, các quyết định mua bán tài sản hơn 15% tổng tài sản công ty, các quyết định đóng mở công ty trực thuộc, chi nhánh, nhà máy, văn phòng đại diện; khi giá chứng khoán của công ty tăng giảm trên 10 kỳ liên tiếp, khi có khác biệt số liệu giữa giải trình báo cáo tài chính so với báo cáo năm Thêm vào
đó khi công bố thông tin về giao dịch đã đăng ký phải báo cáo cho UBCKNN, SGDCK, Tổ chức niêm yết … Về các giao dịch cổ phiếu, ngoài ra phải công bố thông tin trong thời hạn
là 72 giờ và kể từ khi được chấp thuận hay hủy bỏ niêm yết tại SGDCK nước ngoài 21
- Trong thời hạn 24 giờ từ khi nhận được yêu cầu của UBCKNN, SGDCK thì Tổ chức niêm yết chứng khoán, công ty đại chúng quy mô lớn phải công bố thông tin, nếu xảy
ra các trường hợp, sự kiện ảnh hưởng đến lợi ích hợp pháp của nhà đầu tư, ảnh hưởng đến giá chứng khoán và cần sự xác nhận thông tin đó 22
2.2.3 Tổ chức phát hành trái phiếu doanh nghiệp ra công chúng
Quy định tại điều 15 và 16 Thông tư 54/2012/TT-BTC nêu rõ: Trong khoảng thời gian từ khi phát hành trái phiếu ra công chúng, đến khi hoàn tất thanh toán trái phiếu, các tổ chức phát hành trái phiếu ra công chúng phải công bố thông tin theo định kỳ gồm các nội dung sau: Báo cáo tài chính năm đã được kiểm toán, báo cáo tài chính sáu tháng đã được soát xét bởi công ty kiểm toán độc lập hoặc tổ chức kiểm toán được chấp thuận, các báo cáo tài chính quý, nghị quyết của đại hội đồng cổ đông thường niên, công bố thông tin về việc chào bán trái phiếu doanh nghiệp ra công chúng và tiến độ sử dụng vốn thu được từ đợt chào bán (định kỳ 06 tháng kể từ khi kết thúc đợt chào bán) Trong thời hạn 72 giờ kể từ khi có