Phạm vi nghiên cứu Đề tài sẽ tập trung nghiên cứu về những lí luận cơ bản của các phương thức giải quyết tranh chấp được áp dụng hiện nay trong thương mại quốc tế như thương lượng, hòa g
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
CÁC PHƯƠNG THỨC GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP
TRONG THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ
Giảng viên hướng dẫn: Sinh viên thực hiện:
ThS BÙI THỊ MỸ HƯƠNG NGUYỄN THỊ THANH THOẢN MSSV: 5075067
LỚP: Luật Thương mại 1 – K33
Cần Thơ, 5/2011
Trang 2NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
Trang 3NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
Trang 4MỤC LỤC
LỜI NÓI ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Phạm vi nghiên cứu 2
3 Mục đích nghiên cứu 3
4 Phương pháp nghiên cứu 3
5 Bố cục đề tài 3
CHƯƠNG 1: LÍ LUẬN CHUNG VỀ CÁC PHƯƠNG THỨC GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP TRONG THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ 5
1.1 Khái niệm và vai trò của các phương thức giải quyết tranh chấp trong thương mại quốc tế 5
1.1.1 Khái niệm về phương thức giải quyết tranh chấp trong thương mại quốc tế .5
1.1.2 Vai trò của phương thức giải quyết tranh chấp trong thương mại quốc tế 5
1.2 Các phương thức giải quyết tranh chấp trong thương mại quốc tế 7
1.2.1 Giải quyết tranh chấp thương mại quốc tế thông qua thương lượng 7
1.2.1.1 Khái niệm 7
1.2.1.2 Đặc điểm của thương lượng 8
1.2.1.3 Hình thức của thương lượng 8
1.2.2 Giải quyết tranh chấp thương mại quốc tế thông qua hòa giải 10
1.2.2.1 Khái niệm 10
1.2.2.2 Đặc điểm cơ bản của hòa giải 10
1.2.2.3 Các hình thức hòa giải 11
1.2.2.4 Một số nguyên tắc hòa giải và mục tiêu cần đạt được thông qua hòa giải .12
1.2.3 Giải quyết tranh chấp trong thương mại quốc tế thông qua trọng tài thương mại quốc tế 14
1.2.3.1 Khái niệm về trọng tài thương mại quốc tế 14
1.2.3.2 Đặc điểm của trọng tài thương mại quốc tế 15
1.2.3.3 Các hình thức trọng tài thương mại quốc tế 15
1.2.3.4 Các nguyên tắc cơ bản trong việc giải quyết tranh chấp bằng trọng tài
18
1.2.4 Giải quyết tranh chấp trong thương mại quốc tế thông qua tòa án 19
1.2.4.1 Khái niệm 19
1.2.4.2 Các nguyên tắc đặc thù của việc giải quyết tranh chấp thương mại quốc tế tại tòa án Việt Nam 19
Trang 51.3 Ưu và nhược điểm của các phương thức giải quyết tranh chấp trong thương
mại quốc tế 21
1.3.1 Ưu và nhược điểm của việc giải quyết tranh chấp thông qua thương lượng .21
1.3.2 Ưu và nhược điểm của việc giải quyết tranh chấp thông qua phương thức hòa giải 22
1.3.3 Ưu và nhược điểm của việc giải quyết tranh chấp thông qua trọng tài thương mại quốc tế 24
1.3.4 Ưu và nhược điểm của việc giải quyết tranh chấp thương mại quốc tế thông qua tòa án 27
CHƯƠNG 2: PHÁP LUẬT VỀ CÁC PHƯƠNG THỨC GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP TRONG THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ 28
2.1 Giải quyết tranh chấp trong thương mại quốc tế thông qua khiếu nại (thương lượng) 28
2.1.1 Căn cứ khiếu nại 28
2.1.1.1 Hợp đồng và các thỏa thuận có liên quan của các bên 29
2.1.1.2 Nguồn luật liên quan điều chỉnh quyền và nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng 29
2.1.2 Hồ sơ khiếu nại 31
2.1.3 Thời hạn khiếu nại 31
2.1.4 Cách giải quyết khiếu nại 32
2.2 Giải quyết tranh chấp thương mại quốc tế thông qua con đường hòa giải
32
2.2.1 Thủ tục tiến hành hòa giải 32
2.2.2 Vai trò của hòa giải viên 35
2.3 Giải quyết tranh chấp trong thương mại quốc tế thông qua trọng tài thương mại quốc tế 35
2.3.1 Thẩm quyền của trọng tài thương mại quốc tế 36
2.3.2 Thỏa thuận trọng tài 36
2.3.2.1 Khái niệm 36
2.3.2.2 Hình thức của thỏa thuận trọng tài 37
2.3.2.3 Nội dung của thỏa thuận trọng tài 38
2.3.2.4 Vai trò của trọng tài viên 40
2.3.3 Tố tụng trọng tài 41
2.3.3.1 Khởi kiện tại trọng tài 41
2.3.3.2 Thành lập Ủy ban trọng tài 42
2.3.3.3 Hòa giải trước Ủy ban trọng tài 44
Trang 62.3.3.4 Thủ tục xét xử 45
2.3.3.5 Quyết định của trọng tài 46
2.3.3.6 Chi phí trọng tài và phí tổn 47
2.3.3.7 Công nhận và thi hành quyết định của trọng tài nước ngoài 48
2.4 Giải quyết tranh chấp thương mại quốc tế thông qua con tòa án 52
2.4.1 Khái quát chung về việc giải quyết tranh chấp thương mại quốc tế thông qua tòa án 52
2.4.2 Giải quyết tranh chấp thương mại quốc tế tại tòa án Việt Nam 53
2.4.2.1 Thẩm quyền của tòa án Việt Nam trong việc giải quyết tranh chấp thương mại quốc tế 54
2.4.2.2 Trình tự, thủ tục giải quyết tranh chấp tại tòa án 58
CHƯƠNG 3: CÁC PHƯƠNG THỨC GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP Ở VIỆT NAM – THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP 68
3.1 Thực trạng về các phương thức giải quyết tranh chấp trong thương mại quốc tế ở Việt Nam hiện nay 68
3.1.1 Giải quyết tranh chấp thông qua thương lượng và hòa giải 68
3.1.2 Giải quyết tranh chấp thông qua trọng tài thương mại quốc tế 71
3.1.3 Giải quyết tranh chấp thông qua tòa án 73
3.2 Giải pháp về các phương thức giải quyết tranh chấp thương mại quốc tế ở Việt Nam hiện nay 73
3.2.1 Đối với phương thức thương lượng và hòa giải 73
3.2.2 Đối với phương thức trọng tài và tòa án 74
3.2.2.1 Một số vướng mắc trong quy định của pháp luật và giải pháp về việc giải quyết tranh chấp thông qua tòa án 75
3.2.2.2 Hướng hoàn thiện của phương thức giải quyết tranh chấp thương mại quốc tế thông qua trọng tài thương mại quốc tế Việt Nam 80
KẾT LUẬN 86
Trang 7Các phương thức giải quyết tranh chấp trong thương mại quốc tế
GVHD: Ths Bùi Thị Mỹ Hương SVTH: Nguyễn Thị Thanh Thoản 1
LỜI NÓI ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Có thể nói sự phát triển của văn minh loài người luôn gắn liền với sự phát triển của buôn bán và trao đổi hàng hóa Từ rất lâu con người đã tìm ra lợi ích của việc trao đổi buôn bán, giao lưu giữa các nước Cách đây hàng ngàn năm, người Trung Hoa, Ấn
Độ đã thường xuyên mang các sản phẩm của mình sang các nước châu Âu, châu Á để trao đổi lấy những sản phẩm mà nước mình không có, họ đã tìm thấy những lợi ích rất lớn từ thương mại quốc tế; từ việc giao thương, mua bán giữa các quốc gia khác nhau
Và thật sự, không thể có một quốc gia nào trên thế giới có thể tồn tại độc lập, phát triển có hiệu quả mà không có mối quan hệ nào với các quốc gia khác trên thế giới, đặc biệt là trong lĩnh vực kinh doanh – thương mại
Là một thành viên của cộng đồng quốc tế, Việt Nam không thể đứng ngoài xu thế phát triển chung của thế giới Đảng và Nhà nước ta đã chủ trương mở rộng quan hệ hợp tác và phát triển kinh tế thế giới với các quốc gia khác và hội nhập càng sâu rộng vào nền kinh tế toàn cầu Năm 1986, Nghị quyết Đại hội VI của Đảng đã đề ra đường lối đổi mới, nền kinh tế nước ta chuyển từ cơ chế quản lí tập trung, bao cấp sang nền kinh tế sản xuất hàng hóa nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lí của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa Sự chuyển đổi tư duy kinh tế
có ý nghĩa lớn lao này đã đặt nền móng cho sự phát triển, tăng trưởng kinh tế liên tục của nước ta Từ khi chúng ta thực hiện chính sách mở cửa, Việt Nam đã có quan hệ thương mại với nhiều quốc gia khác trên thế giới, kí kết hàng loạt các hiệp định song phương và đa phương, tiêu biểu là Hiệp định thương mại Việt - Mỹ, Hiệp định về buôn bán hàng dệt may Việt Nam - EU, Hiệp định về khu vực mậu dịch tự do AFTA,…và ngày nay Việt Nam đã trở thành thành viên chính thức của các tổ chức WTO, ASEAN,…
Bối cảnh đó đã đặt ra cho Việt Nam những thời cơ để phát triển, những cơ hội giao lưu với các quốc gia khác trên thế giới, đặc biệt là trong lĩnh vực kinh doanh – thương mại Hiện nay, Việt Nam ngày càng có mối quan hệ kinh doanh hợp tác sâu rộng với nhiều nước trên thế giới, đã tạo nhiều điều kiện cho đất nước ngày càng phát
Trang 8Các phương thức giải quyết tranh chấp trong thương mại quốc tế
GVHD: Ths Bùi Thị Mỹ Hương SVTH: Nguyễn Thị Thanh Thoản 2
triển theo xu thế chung Bên cạnh những thuận lợi đó, cũng không ít những thách thức mà chúng ta cần phải đối mặt Bởi trong kinh doanh - thương mại, tranh chấp luôn tồn tại như một tất yếu, các mối quan hệ càng nhiều, càng phức tạp thì khả năng xảy ra tranh chấp càng lớn, đặc biệt là trong quan hệ thương mại quốc tế Do các bên tham gia trong mối quan hệ thương mại này có những đặc điểm khác biệt về pháp luật; tập quán kinh tế, kinh doanh; ngôn ngữ và các đặc điểm văn hóa cũng rất khác nhau và nhất là sự thay đổi về điều kiện thực hiện hợp đồng nên tranh chấp phát sinh giữa các bên liên quan là điều khó tránh khỏi
Chính vì vậy, việc giải quyết các tranh chấp trên là vấn đề cần phải được chú trọng và việc lựa chọn các phương thức giải quyết tranh chấp trong thương mại quốc tế cũng cần phải được quan tâm đúng mức Tranh chấp trong thương mại nói chung và trong thương mại quốc tế nói riêng với tính chất là hệ quả của quá trình phát triển không ngừng của hoạt động thương mại cũng như thương mại quốc tế đã trở nên phong phú hơn về chủng loại; gay gắt, phức tạp hơn về tính chất và quy mô Bởi vậy, yêu cầu phải áp dụng những hình thức và phương thức giải quyết tranh chấp phù hợp,
có hiệu quả là một đòi hỏi khách quan để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể kinh doanh, đảm bảo nguyên tắc pháp chế, thông qua đó góp phần tạo lập môi trường pháp lí lành mạnh để thúc đẩy quá trình phát triển kinh tế - xã hội
Có nhiều phương thức để giải quyết khi tranh chấp xảy ra, vấn đề là các chủ thể
có liên quan cần biết và phải biết phương thức nào có thể được áp dụng đối với loại tranh chấp của mình để quyền và lợi ích hợp pháp của họ được đảm bảo một cách tốt nhất Với các nguyên nhân trên, người viết đã chọn đề tài “Các phương thức giải quyết tranh chấp trong thương mại quốc tế” nhằm nghiên cứu và để tìm hiểu rõ hơn
về các phương thức giải quyết tranh chấp trong thương mại quốc tế
2 Phạm vi nghiên cứu
Đề tài sẽ tập trung nghiên cứu về những lí luận cơ bản của các phương thức giải quyết tranh chấp được áp dụng hiện nay trong thương mại quốc tế như thương lượng, hòa giải, trọng tài và tòa án, cũng như tìm hiểu về những quy định của pháp luật về việc điều chỉnh các phương thức giải quyết nêu trên Thông qua đó, người viết sẽ đi vào tìm hiểu thực trạng cũng như các giải pháp tương ứng cho việc giải quyết tranh chấp trong thương mại quốc tế
Trang 9Các phương thức giải quyết tranh chấp trong thương mại quốc tế
GVHD: Ths Bùi Thị Mỹ Hương SVTH: Nguyễn Thị Thanh Thoản 3
3 Mục đích nghiên cứu
Trong thương mại quốc tế, tranh chấp xảy ra như là một tất yếu khách quan, và việc giải quyết các tranh chấp đó như là một đòi hỏi tự thân của nó Vì vậy, mục đích nghiên cứu của đề tài là từ việc tìm hiểu về khái niệm, vai trò của phương thức giải quyết tranh chấp trong thương mại quốc tế nói chung cũng như đi sâu vào tìm hiểu các khái niệm, đặc điểm, ưu và nhược điểm của từng loại phương thức nói riêng; quy định của pháp luật điều chỉnh về các phương thức giải quyết Từ đó khi xảy ra tranh chấp,
sẽ giúp cho các chủ thể liên quan có thể hiểu rõ và chọn những phương thức tối ưu, đạt hiệu quả cao mà vẫn đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của họ Việc giải quyết tranh chấp hiệu quả sẽ xóa đi mâu thuẫn, đối nghịch giữa các bên, tạo nên một môi trường kinh doanh ngày càng lành mạnh, thúc đẩy kinh tế quốc tế ngày một phát triển
Bên cạnh đó đề tài này cũng góp phần tìm hiểu, nâng cao và hoàn thiện kiến thức cũng như góp thêm vào nguồn tài liệu tham khảo về các phương thức giải quyết tranh chấp trong thương mại quốc tế
4 Phương pháp nghiên cứu
Dựa trên các văn bản pháp qui, tạp chí, sách báo, cũng như các bài viết trên các website, v.v đề tài sử dụng các phương pháp như: phương pháp phân tích luật, phương pháp so sánh, phương pháp luận, phương pháp tổng hợp, v.v để tìm hiểu rõ quy định của pháp luật Việt Nam cũng như các điều ước quốc tế mà Việt Nam đã tham gia kí kết về các phương thức giải quyết tranh chấp trong thương mại quốc tế
5 Bố cục đề tài
Ngoài lời nói đầu và phần kết luận, đề tài được chia thành ba chương
Chương 1 Lí luận chung về các phương thức giải quyết tranh chấp trong thương mại quốc tế
Chương này sẽ tìm hiểu về khái niệm, vai trò, đặc điểm của phương thức giải quyết tranh chấp nói chung cũng như tìm hiểu rõ về các phương thức giải quyết tranh chấp hiện nay (thương lượng, hòa giải, trọng tài, tòa án) Từ đó, giúp cho người viết có cái nhìn tổng quát về các phương thức giải quyết tranh chấp trong thương mại quốc tế Chương 2 Pháp luật về các phương thức giải quyết tranh chấp trong thương mại quốc tế
Chương này sẽ đi vào tìm hiểu quy định của pháp luật Việt Nam cũng như các điều ước mà Việt Nam đã tham gia ký kết điều chỉnh về các phương thức giải quyết
Trang 10Các phương thức giải quyết tranh chấp trong thương mại quốc tế
GVHD: Ths Bùi Thị Mỹ Hương SVTH: Nguyễn Thị Thanh Thoản 4
tranh chấp trong thương mại quốc tế Hiểu được những quy định của pháp luật hiện hành về các phương thức giải quyết tranh chấp sẽ tạo điều kiện cho các bên liên quan
có được những thuận lợi nhất định trong việc lựa chọn các phương thức mà họ cho là tối ưu đối với tranh chấp của mình, đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp cho các bên Chương 3 Thực trạng và giải pháp về các phương thức giải quyết tranh chấp trong thương mại quốc tế
Chương 3 sẽ tìm hiểu về thực trạng giải quyết tranh chấp của các phương thức;
từ đó sẽ đề ra một số giải pháp nhằm hoàn thiện việc giải quyết tranh chấp trong thương mại quốc tế thông qua các phương thức trên
Do thời gian cũng như kiến thức pháp luật có giới hạn trong quá trình nghiên cứu Người viết rất mong sự đóng góp của quý thầy cô và các bạn có quan tâm để đề tài được hoàn thiện hơn!
Trang 11Các phương thức giải quyết tranh chấp trong thương mại quốc tế
GVHD: Ths Bùi Thị Mỹ Hương SVTH: Nguyễn Thị Thanh Thoản 5
CHƯƠNG 1
LÍ LUẬN CHUNG VỀ PHƯƠNG THỨC GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP
TRONG THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ
về sự tin cậy lẫn nhau so với bạn hàng trong nước Chính vì vậy, việc giải quyết tranh chấp là một vấn đề quan trọng và việc áp dụng các hình thức, phương thức giải quyết tranh chấp phù hợp, có hiệu quả là một đòi hỏi khách quan để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể trong kinh doanh, bảo đảm nguyên tắc pháp chế, và thông qua đó góp phần tạo lập một môi trường pháp lí lành mạnh để thúc đẩy quá trình phát triển kinh tế xã hội
Tranh chấp trong thương mại quốc tế theo nghĩa chung nhất là những bất đồng xảy ra trong quá trình thực hiện các hoạt động thương mại quốc tế mà chủ yếu là khi thực hiện các hợp đồng thương mại quốc tế
Tranh chấp trong kinh doanh là điều tất yếu sẽ xảy ra nên việc giải quyết các tranh chấp phát sinh được coi như là đòi hỏi tự thân của các quá trình kinh tế và phương thức giải quyết tranh chấp có ý nghĩa vô cùng to lớn Phương thức giải quyết tranh chấp thương mại theo nghĩa chung nhất có thể được hiểu là những cách thức, phương pháp hay các hoạt động để điều chỉnh các bất đồng, các xung đột nhằm khắc phục và loại trừ các tranh chấp đã phát sinh, nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các thương nhân và các chủ thể khác, bảo vệ trật tự kỷ cương của xã hội
tế
Do những điểm khác nhau về pháp luật, ngôn ngữ, văn hóa, phong tục tập quán,… giữa các chủ thể tham gia trong hoạt động mua bán quốc tế nên việc xảy ra
Trang 12Các phương thức giải quyết tranh chấp trong thương mại quốc tế
GVHD: Ths Bùi Thị Mỹ Hương SVTH: Nguyễn Thị Thanh Thoản 6
tranh chấp là điều khó tránh khỏi và việc giải quyết các tranh chấp đó là nhu cầu tất yếu khách quan Vì vậy, các phương thức giải quyết tranh chấp trên đóng một vai trò
vô cùng quan trọng
Khi bắt đầu một vụ mua bán, đương nhiên các chủ thể kinh doanh không bao giờ muốn tranh chấp sẽ xảy ra, bởi tranh chấp là đồng nghĩa với sự ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh của họ, sẽ làm gián đoạn quá trình kinh doanh, mất nhiều thời gian, chi phí và công sức để giải quyết tranh chấp Vì đây là hoạt động kinh doanh quốc tế, do các chủ thể của hợp đồng mua bán là những chủ thể ở cách xa nhau về địa
lí, nên khi giải quyết tranh chấp sẽ tốn rất nhiều thời gian, chi phí cho việc đi lại mà đối với các thương nhân thì thời gian của họ luôn rất quý giá Không những thế còn liên quan đến các chủ thể khác có quan hệ với các bên tranh chấp, uy tín của các chủ thể trên thương trường có thể ảnh hưởng bởi họ, cũng như các yếu tố khác thuộc về bí mật kinh doanh có thể bị tiết lộ hoặc bị lợi dụng, v.v…Bởi thế, việc giải quyết kịp thời
và hiệu quả các tranh chấp sẽ cho phép hạn chế đến mức tối thiểu sự gián đoạn trong việc sản xuất kinh doanh cũng như đặt ở mức thấp nhất về thời gian và tiền bạc Song, vấn đề quan trọng nhất đó là phải bảo vệ một cách có hiệu quả lợi ích hợp pháp và chính đáng của các bên khi tham gia vào hoạt động thương mại trong nước cũng như quốc tế
Mặt khác, giải quyết tốt tranh chấp là động lực thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế Muốn có một nền kinh tế phát triển thì các quan hệ xã hội nói chung và quan
hệ thương mại, thương mại quốc tế nói riêng phải được điều chỉnh bằng pháp luật Cho nên, việc đầu tiên để hạn chế các tranh chấp có thể xảy ra là bằng cách đặt ra các chế định và chế tài tạo nên một sân chơi lành mạnh, một môi trường kinh doanh thuận lợi,
an toàn và công bằng nhằm tạo tâm lý an toàn cho các thương nhân khi họ đầu tư, tham gia hoạt động mua bán Bởi khi tranh chấp xảy ra phải có các thủ tục, phương pháp để giải quyết, nếu không giải quyết kịp thời thì hiệu quả sẽ dây dưa, kéo dài và sẽ dẫn đến những thiệt hại rất lớn có thể kéo theo Điều đó không những làm thiệt hại, kìm hãm sự phát triển của nền kinh tế mà còn gây một khuyết điểm lớn cho môi trường kinh doanh, các chủ thể sau tranh chấp có thể sẽ quay lưng, trở mặt lại với nhau, đố kỵ và không tin tưởng lẫn nhau, từ đó mối quan hệ kinh doanh, hợp tác sẽ có thể không còn tồn tại Hãy tạo nên một môi trường đầu tư lành mạnh, tạo tâm lý yên tâm đầu tư cho các nhà kinh doanh, từ đó sẽ góp phần cải thiện nền kinh tế
Bên cạnh đó, giải quyết kịp thời tranh chấp còn có vai trò cực kỳ quan trọng trong việc quản lí xã hội bằng pháp luật, vừa tháo gỡ khó khăn cho các thương nhân, vừa góp phần tạo môi trường pháp lí kỷ cương Trong mua bán, sẽ tạo niềm tin, thực hiện công bằng và bình đẳng giữa các thương gia với nhau nhằm thực hiện việc kinh doanh, mua bán có hiệu quả hơn
Trang 13Các phương thức giải quyết tranh chấp trong thương mại quốc tế
GVHD: Ths Bùi Thị Mỹ Hương SVTH: Nguyễn Thị Thanh Thoản 7
Ngoài ra, tranh chấp thương mại quốc tế là tranh chấp luôn liên quan đến ít nhất hai chủ thể của hai quốc gia khác nhau Việc giải quyết tranh chấp trong thương mại quốc tế còn góp phần đảm bảo mối quan hệ hợp tác lâu dài giữa các thương nhân nói riêng cũng như mối quan hệ quốc tế giữa các quốc gia nói chung, đảm bảo trật tự xã hội, môi trường kinh doanh lành mạnh trên thương trường kinh doanh quốc tế
1.2 Các phương thức giải quyết tranh chấp trong thương mại quốc tế
Trong hoạt động thương mại quốc tế, các bên đừng bao giờ nghĩ rằng mỗi khi hợp đồng đã được kí kết thì các bên sẽ thực hiện đúng nghĩa vụ của mình theo quy định của hợp đồng Bất kì người bán hay người mua khôn khéo như thế nào; hợp đồng được soạn thảo, nghiên cứu cẩn thận, kỹ lưỡng đến mức độ nào đi nữa, thì các bên cũng phải nghĩ đến những công cụ pháp lí trong mối quan hệ qua lại với bên kia trong trường hợp họ vi phạm hợp đồng để có thể hạn chế được thiệt hại của mình Và vấn đề thỏa thuận trước việc lựa chọn phương thức giải quyết tranh chấp là điều cần thiết, làm sao để tranh chấp được giải quyết một cách thuận tiện nhất và nhanh chóng nhất Trong thực tiễn, hoạt động thương mại tranh chấp giữa các bên trong hợp đồng có thể được giải quyết bằng các hình thức sau:
- Các bên tự thương lượng;
- Trong trường hợp thương lượng không đạt đến kết quả thì các bên có thể giải quyết bằng con đường hòa giải; hoặc
- Tranh chấp sẽ được giải quyết bằng trọng tài thương mại nếu có thỏa thuận của các bên về việc này; hoặc
- Nếu tranh chấp không thể giải quyết bằng thương lượng, hòa giải và khi kí kết hợp đồng hay sau khi tranh chấp phát sinh, các bên không có thỏa thuận sẽ giao tranh chấp cho cơ quan trọng tài giải quyết thì tranh chấp sẽ được giải quyết bằng hình thức tòa án phù hợp với quy định của luật áp dụng cho hợp đồng
1.2.1 Giải quyết tranh chấp trong thương mại quốc tế thông qua phương thức thương lượng
1 1 1 1
Thương lượng là phương thức giải quyết tranh chấp xuất hiện sớm nhất, thông dụng và phổ biến nhất được các bên tranh chấp áp dụng rộng rãi để giải quyết mọi tranh chấp phát sinh trong đời sống xã hội, nhất là trong hoạt động thương mại cũng như trong thương mại quốc tế Xét về tính lịch sử thì thương lượng là hình thức giải quyết tranh chấp có sớm nhất trong lịch sử loài người, thương lượng thể hiện quyền tự
do của các bên trong việc tìm giải pháp giải quyết tranh chấp
Sau khi kí kết hợp đồng, các bên phải thi hành nghĩa vụ của mình ghi trong hợp đồng Tuy nhiên, trên thực tế, có nhiều hợp đồng đã bị một trong các bên không thực hiện và hậu quả của nó là làm ảnh hưởng đến quyền lợi của bên kia Để bảo vệ quyền
Trang 14Các phương thức giải quyết tranh chấp trong thương mại quốc tế
GVHD: Ths Bùi Thị Mỹ Hương SVTH: Nguyễn Thị Thanh Thoản 8
và lợi ích của mình, bên bị vi phạm phải tiến hành thủ tục pháp lí đầu tiên đối với người vi phạm hợp đồng Có thể nói, thương lượng là cách thức đầu tiên mà các bên
thông qua việc các bên tranh chấp gặp nhau bàn bạc, thỏa thuận để tự giải quyết những bất đồng phát sinh mà không cần có sự hiện diện của bên thứ ba để trợ giúp hoặc đưa
ra phán quyết
nguyên tắc pháp lí hay những quy định mang tính khuôn mẫu nào của pháp luật về thủ tục giải quyết tranh chấp Việc thương lượng do các bên chủ động thực hiện
giữa các bên mà không có bất kì cơ chế pháp lí nào đảm bảo việc thực thi đối với thỏa thuận của các bên trong quá trình thương lượng Như đã đề cập ở trên, kết quả thương lượng là pháp luật giữa các bên, các bên có nghĩa vụ thực hiên quyền và nghĩa vụ đối với nhau
sẽ chủ động gặp bên vi phạm để thương lượng Trong quá trình thương lượng, bên bị
vi phạm sẽ sử dụng các văn bản pháp lí cũng như các chứng cứ cụ thể có liên quan để chứng minh sự vi phạm hợp đồng và yêu cầu bên vi phạm hợp đồng phải có trách nhiệm bồi thường cho mình những thiệt hại tương đương Và trong đại đa số trường hợp, khi bắt đầu phát sinh tranh chấp, các bên thường tự nguyện và nhanh chóng liên
1
Diệp Ngọc Dũng , Tập bài giảng Luật Thương mại quốc tế - Trường Đại học Cần thơ - Khoa Luật, trang 71
Trang 15Các phương thức giải quyết tranh chấp trong thương mại quốc tế
GVHD: Ths Bùi Thị Mỹ Hương SVTH: Nguyễn Thị Thanh Thoản 9
hệ, gặp gỡ nhau để thương lượng, tìm cách tháo gỡ bất đồng với mục đích chung là giữ mối quan hệ kinh doanh tốt đẹp và lâu dài giữa họ
Ưu điểm của thương lượng trực tiếp so với thương lượng gián tiếp là thông qua những cuộc đàm phán, tiếp xúc trực tiếp, các bên có thể nhanh chóng hiểu được quan điểm, thái độ hợp tác và thiện chí của mỗi bên và có sự điều chỉnh thích ứng để ý chí của các bên sớm được gặp nhau nhằm tiến tới một giải pháp chung nhất có thể lựa chọn để giải quyết vụ tranh chấp Bởi vậy, khi quan điểm, thái độ và ý chí của các bên
có sự khác biệt quá lớn, khó có thể đạt được sự thỏa thuận thì thông qua cách thức thương lượng trực tiếp, các bên tranh chấp có thể nhanh chóng quyết định thay đổi phương thức giải quyết tranh chấp khác thích hợp hơn nhằm hạn chế kéo dài vụ tranh chấp
Tuy nhiên, thương lượng trực tiếp có thể gặp những trở ngại nhất định so với thương lượng gián tiếp, nếu các bên tranh chấp ở quá xa nhau, việc đi lại gặp nhiều khó khăn Trong những trường hợp này, chi phí về thời gian và tiền bạc cho việc đi lại,
ăn ở, v.v… để đàm phán trực tiếp lớn hơn nhiều so với đàm phán gián tiếp (các bên trong tranh chấp thường là chủ thể của những quốc gia khác nhau), nhất là khi một bên thiếu sự hợp tác và tính thiện chí không cao trong quá trình đàm phán Ngoài ra, sự thành công của thương lượng trực tiếp còn phụ thuộc rất lớn vào thái độ và kĩ năng đàm phán của đại diện mỗi bên tranh chấp Trường hợp đại diện đàm phán của mỗi bên không biết lắng nghe, không có sự bình tĩnh, kiên nhẫn và mềm dẻo cũng như không có khả năng thuyết phục đối tác thì cơ hội thành công sẽ không cao Trở ngại này lại có thể được khắc phục, hỗ trợ bằng thương lượng gián tiếp Bởi quan điểm, thái
độ và ý chí của mỗi bên thể hiện qua ngôn từ đã được trau chuốt, gọt giũa bởi văn phong viết trong đàm phán gián tiếp nên tính chặt chẽ, thuyết phục thường cao hơn
Hạn chế của phương pháp thương lượng gián tiếp dễ nhận thấy khi các bên tranh chấp chưa có sự hiểu biết nhất định về nhau, quan điểm, thái độ và ý chí của các bên tranh chấp còn nhiều sự khác biệt sẽ làm cho quá trình thương lượng bị kéo dài, thậm chí dẫn đến bế tắc Bởi vậy, tùy hoàn cảnh cụ thể của mỗi bên tranh chấp mà có thể áp dụng hình thức thương lượng trực tiếp hay thương lượng gián tiếp hoặc phối
Trang 16Các phương thức giải quyết tranh chấp trong thương mại quốc tế
GVHD: Ths Bùi Thị Mỹ Hương SVTH: Nguyễn Thị Thanh Thoản 10
hợp thích ứng cả hai phương pháp này nhằm tăng cường hiệu quả và khả năng thành công của phương thức giải quyết tranh chấp trong thương mại quốc tế bằng thương lượng
1.2.2 Giải quyết tranh chấp thương mại quốc tế thông qua hòa giải
cơ bản giữa hòa giải và thương lượng là hòa giải luôn có sự xuất hiện của bên thứ ba (do các bên tranh chấp lựa chọn) tham gia vào quá trình tranh chấp, còn thương lượng
là sự tự giải quyết tranh chấp giữa các bên mà không cần sự trợ giúp của bên thứ ba
Ngoài ra, hòa giải không phải là quá trình phán xét đúng hay sai của các bên, do vậy hòa giải viên không phải là người đứng ra xét xử Nhiệm vụ của hòa giải viên là làm người trung gian giúp các bên tìm được tiếng nói chung để giải quyết tranh chấp Trong quá trình hòa giải, hòa giải viên không có quyền quyết định, ràng buộc trách nhiệm pháp lí đối với các bên mà chỉ có quyền đưa ra những ý kiến tư vấn, hướng dẫn
để giải quyết tranh chấp giữa các bên
1 1 1 1
!
, việc giải quyết tranh chấp có sự xuất hiện của bên thứ ba đóng vai trò
là trung gian hòa giải (do các bên tranh chấp lựa chọn) để trợ giúp các bên tìm ra giải pháp tối ưu nhằm loại trừ tranh chấp phát sinh
Hòa giải là hình thức giải quyết tranh chấp giữa các bên thông qua một người thứ ba gọi là hòa giải viên Hòa giải viên được các đương sự chọn có nghĩa vụ “trung lập” tạo điều kiện giúp đỡ các bên tranh chấp đạt được một giải pháp để điều hòa lợi ích, khắc phục mâu thuẫn, bất đồng đã phát sinh Hòa giải viên sẽ tiến hành họp kín với riêng từng bên hoặc họp chung với cả hai bên để tìm hiểu rõ về nội dung tranh chấp, để đưa ra các lý giải, phân tích cho các bên thấy rõ quyền và nghĩa vụ của họ, từ
đó tìm ra một giải pháp thống nhất giải quyết tranh chấp hợp tình hợp lý Hòa giải viên không có quyền hạn gì để ra quyết định hoặc áp đặt một giải pháp nào đó đối với các bên
, hòa giải luôn luôn mang tính chất tự nguyện và có thể kéo dài chừng nào các bên còn quan tâm đến quá trình hòa giải Sự bắt đầu và quá trình hòa giải hoàn toàn phụ thuộc vào ý chí của các bên
Trang 17Các phương thức giải quyết tranh chấp trong thương mại quốc tế
GVHD: Ths Bùi Thị Mỹ Hương SVTH: Nguyễn Thị Thanh Thoản 11
Hòa giải chỉ thành công khi hai bên có thiện chí giải quyết tranh chấp và nhìn chung thể thức này không có giá trị bắt buộc trừ khi các bên đạt được sự thỏa thuận và
tự nguyện thực hiện nghiêm túc thỏa thuận đó Nếu các bên cứ khăng khăng bảo thủ quan niệm của mình thì tranh chấp cũng không giải quyết được vì hòa giải viên không thể đưa ra những quyết định mang tính chất bắt buộc các bên phải thi hành
!
, bản chất của hình thức hòa giải chính là sự hòa giải, bởi vì sau khi hòa giải thành, mỗi bên đều không cho mình là người thua cuộc và các bên đều hài lòng với kết quả hòa giải Ngoài ra, kết quả hòa giải không ảnh hưởng đến quan hệ hợp tác trong tương lai của các bên
Khi hòa giải các bên sẽ thỏa thuận về việc giải quyết tranh chấp, sẽ không có kẻ thắng, người thua như hình thức giải quyết tranh chấp thông qua tòa án, các bên sẽ khó
có thể còn thiện chí tốt đẹp về nhau sau khi đã tham gia tố tụng tại Tòa án Từ đó, khi hòa giải thành, quan hệ hợp tác giữa các bên sẽ vẫn có thể tiếp tục duy trì, đôi khi sẽ khắng khích hơn do các bên đã hiểu rõ về nhau
, đây là đặc điểm cơ bản của hòa giải, quyết định hòa giải không có hiệu lực pháp lí bắt buộc đối với các bên Kết quả hòa giải được thực thi hay không cũng hoàn toàn phụ thuộc vào sự tự nguyện của các bên tranh chấp mà không có bất kì
cơ chế pháp lí nào đảm bảo thi hành những cam kết của các bên trong quá trình hòa giải
1 1 1 1
Như đã đề cập ở trên, hòa giải là hình thức giải quyết tranh chấp có sự tham gia của bên thứ ba độc lập do hai bên tranh chấp cùng chấp nhận hoặc chỉ định đóng vai trò trung gian để hỗ trợ các bên nhằm tìm kiếm những giải pháp thích hợp cho việc giải quyết xung đột Hòa giải là phương pháp mang tính tự nguyện, tùy thuộc vào sự lựa chọn của các bên Bên thứ ba, với tư cách trung gian hòa giải (hòa giải viên) phải không có lợi ích đối lập với các bên hoặc không có lợi ích gắn liền với lợi ích của một trong các bên trong vụ tranh chấp đó, đồng thời không phải là người đại diện bất kì của bên nào và cũng không có quyền quyết định hay phán xét như một trọng tài viên Hòa giải viên thông thường là những cá nhân, tổ chức có trình độ chuyên môn hoặc có kinh nghiệm về những vụ việc có liên quan đến tranh chấp phát sinh
Trang 18Các phương thức giải quyết tranh chấp trong thương mại quốc tế
GVHD: Ths Bùi Thị Mỹ Hương SVTH: Nguyễn Thị Thanh Thoản 12
Có hai hình thức hòa giải chủ yếu là hòa giải ngoài thủ tục tố tụng và hòa giải trong thủ tục tố tụng
: là hình thức hòa giải thông qua trung gian, được các bên tiến hành trước khi đưa vụ tranh chấp ra cơ quan tài phán Khi thống nhất được các hình thức giải quyết tranh chấp, các bên phải tự nguyện thực hiện theo phương án đã thỏa thuận Đối với hòa giải ngoài thủ tục tố tụng, pháp luật của nhiều quốc gia trên thế giới đã coi đây là công việc riêng tư của các bên
: Đây là hình thức hòa giải được tiến hành tại tòa án hoặc trọng tài khi các cơ quan này giải quyết tranh chấp theo yêu cầu của các bên Người trung gian hòa giải trong trường hợp này có thể là thẩm phán hay trọng tài viên phụ trách vụ việc Hòa giải trong thủ tục tố tụng được coi là một giai đoạn trong quá trình giải quyết tranh chấp bằng con đường tòa án hoặc trọng tài và chỉ có thể được tiến hành khi một bên có đơn khởi kiện đến tòa án hoặc đơn yêu cầu trọng tài giải quyết và đơn này đã được thụ lí Trong quá trình hòa giải, thẩm phán hoặc trọng tài viên phải tôn trọng tính tự nguyện, tự do ý chí của các bên Khi các đương sự đạt được thỏa thuận với nhau về việc giải quyết tranh chấp công nhận sự thỏa thuận của các đương sự Khi đó quyết định này sẽ có hiệu lực và được thi hành như một bản án của tòa án hay như một phán quyết của trọng tài
Ưu điểm nổi bậc của hòa giải ngoài thủ tục so với hoà giải trong thủ tục tố tụng
là về chi phí thực hiện Do hòa giải ngoài thủ tục tố tụng, trong quá trình thực hiện, các bên sẽ tự hòa giải, nên sẽ tốn ít chi phí hơn hòa giải trong thủ tục tố tụng – hình thức hòa giải được tiến hành tại Trọng tài hoặc Tòa án
hòa giải phải dựa trên sự tự do ý chí của các bên có liên quan
Sự tự do ý chí là yếu tố quyết định trong mọi giai đoạn của hòa giải, các bên phải tự nguyện đưa tranh chấp ra hòa giải; tự do thỏa thuận về phương pháp, quy trình hòa giải, lựa chọn hòa giải viên; tự do ý chí thảo luận, đề xuất giải quyết hoặc thỏa thuận chấp nhận ý kiến giải quyết do hòa giải viên đưa ra cũng như khi quyết định chấm dứt hòa giải để quyết định chuyển sang phương thức giải quyết tranh chấp khác
hòa giải chủ yếu theo nguyên tắc “khách quan, công bằng, hợp lí”, tôn trọng tập quán thương mại trong nước và quốc tế
Hòa giải viên là người tạo điều kiện thuận lợi cho các bên tranh chấp đối thoại
tự do, là người chuyển giao thông tin giữa các bên, giúp họ nhìn nhận những điểm yếu/sai và những điểm mạnh/đúng của mình cũng như của phía cùng đối thoại để giúp
Trang 19Các phương thức giải quyết tranh chấp trong thương mại quốc tế
GVHD: Ths Bùi Thị Mỹ Hương SVTH: Nguyễn Thị Thanh Thoản 13
họ hiểu ra và phân biệt được giữa cái họ muốn và cái họ cần, xác định rõ những lợi ích
ưu tiên số một mà mỗi bên cần đạt được qua giải quyết tranh chấp v.v… Từ đó họ tự điều chỉnh lại quan điểm, lập trường cho phù hợp Hòa giải viên có thể đề xuất (nhưng không được ép buộc) với các bên những phương án lựa chọn để giải quyết một cách hợp lí, công bằng nhằm đáp ứng các nhu cầu ưu tiên của họ
bảo toàn bí mật những tài liệu, chứng cứ, ý kiến của các bên và của hòa giải viên trong quá trình hòa giải
Do tính chất riêng tư, tự nguyện của hòa giải nên phải đảm bảo rằng các chứng
cứ, tài liệu và ý kiến của các bên trong quá trình hòa giải sẽ không bị sử dụng như chứng cứ bất lợi cho họ trong bất cứ quá trình tố tụng nào tiếp theo nếu hòa giải không thành
Mỗi một quá trình thực hiện đều có một mục tiêu cụ thể, và mục tiêu cần đạt được thông qua hòa giải là:
Hòa giải sẽ giải quyết tranh chấp một cách thân thiện nhằm tiếp tục giữ gìn và phát triển các mối quan hệ kinh doanh trong thời gian dài vì lợi ích chung của hai bên Việc giải quyết thể hiện mong muốn về tâm lí của các bên là dàn xếp vụ việc sao cho không có bên nào bị coi là thua cuộc, không dẫn đến tình trạng đối đầu, thắng thua như kết cục thường diễn ra sau quá trình kiện tụng tại Tòa án
Bên cạnh đó, bằng hòa giải có thể tập trung sự chú ý và quan tâm của các bên vào vấn đề chính, cơ bản của vấn đề tranh chấp, hạn chế tối đa sự hao phí thời gian và tiền bạc vào các vấn đề mang tính chất hình thức tố tụng; tăng cường sự tham gia tranh chấp và khả năng kiểm soát của các nhà kinh doanh đối với quá trình giải quyết cũng như đối với kết quả giải quyết tranh chấp
Hai phương thức trên có thể giải quyết tranh chấp thành công hay không đều phụ thuộc rất luôn vào sự tự nguyện và thiện chí của các bên Thiếu những yếu tố đó việc giải quyết tranh chấp sẽ thất bại Do đó, tranh chấp cần phải được giải quyết bằng các phương thức khác, quyết định của cơ quan giải quyết tranh chấp phải được tuân thủ Người có quyền lợi bị vi phạm sau khi không thành công trong việc áp dụng hai biện pháp trên có thể kiện ra trọng tài hoặc tòa án để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình
Trang 20Các phương thức giải quyết tranh chấp trong thương mại quốc tế
GVHD: Ths Bùi Thị Mỹ Hương SVTH: Nguyễn Thị Thanh Thoản 14
1.2.3 Giải quyết tranh chấp thương mại quốc tế bằng trọng tài thương mại quốc tế
1 1 1 1
)
Trong thương mại quốc tế, hoàn toàn không có một tòa án quốc tế nào, không
có một trình tự mang tính quốc tế nào để giải quyết tranh chấp mang tính thương mại, không có một bộ luật nào được mọi người chấp nhận và áp dụng cho tất cả, mà chỉ tồn tại một số điều ước quốc tế trong lĩnh vực thương mại quốc tế và những điều ước này không được nhiều quốc gia phê chuẩn, chúng chỉ được áp dụng hạn chế trong phạm vi
đặc biệt để giải quyết những tranh chấp phát sinh từ hợp đồng thương mại quốc tế - Trọng tài thương mại quốc tế
Vậy khi nào một vụ xét xử trọng tài sẽ mang tính chất quốc tế? Theo Khoản 3 Điều 1 Luật mẫu UNCITRAL về Trọng tài thương mại quốc tế, trọng tài sẽ mang tính quốc tế nếu:
Nếu các bên có nhiều trụ sở kinh doanh thì tính đến trụ sở kinh doanh có quan
hệ mật thiết nhất đối với thỏa thuận trọng tài, còn nếu các bên không có trụ sở kinh doanh thì sẽ căn cứ theo nơi cư trú thường xuyên của các bên; hoặc
Trang 21Các phương thức giải quyết tranh chấp trong thương mại quốc tế
GVHD: Ths Bùi Thị Mỹ Hương SVTH: Nguyễn Thị Thanh Thoản 15
Như vậy, trọng tài thương mại quốc tế có ba đặc điểm cơ bản:
họ Một khi thỏa thuận trọng tài đã có hiệu lực thì không bên nào được đơn phương rút
ý kiến Điều khoản trọng tài được coi là độc lập với các điều khoản khác của hợp đồng chinh, điều này có nghĩa là ngay là cả khi hợp đồng chính đã kết thúc hoặc bị vô hiệu thì cũng không làm cho điều khoản trọng tài bị vô hiệu một cách tương ứng
cả ở trong nước lẫn ở nước ngoài
1 1 1 1
Mặc dù trọng tài thương mại ở các nước được tổ chức dưới các dạng khác nhau
và tên gọi khác nhau nhưng chủ yếu tồn tại dưới hai hình thức là trọng tài vụ việc
và quy chế hoạt động riêng, cũng không có quy tắc tố tụng cụ thể Vì thế, mỗi khi
4
Giáo trình Luật Kinh tế - Trường Đại học Luật Hà Nội, Nhầ xuất bản Tư pháp, trang 417
Trang 22Các phương thức giải quyết tranh chấp trong thương mại quốc tế
GVHD: Ths Bùi Thị Mỹ Hương SVTH: Nguyễn Thị Thanh Thoản 16
được lựa chọn, các trọng tài viên có thể cùng nhau xây dựng một thủ tục xét xử cho từng vụ việc cụ thể
Khi áp dụng hình thức trọng tài ad-hoc, các bên phải tự thỏa thuận và lập ra quy tắc tố tụng, lựa chọn trọng tài viên và địa điểm xét xử Về cơ bản các bên không bị ràng buộc bởi các quy định pháp lý về tố tụng mà họ vẫn được đảm bảo được nguyên tắc khách quan trong quá trình xét xử vụ việc của họ
Giải quyết bằng Trọng tài ad-hoc khá đơn giản, nhanh chóng và tiết kiệm được chi phí cho bộ máy hành chính Đây là hình thức tổ chức đơn giản, khá linh hoạt và mềm dẻo về phương thức hoạt động, các bên tranh chấp hoàn toàn có quyền tự do lựa chọn trọng tài viên và có thể tham gia xây dựng thủ tục giải quyết tranh chấp, vì thế cũng được áp dụng khá nhiều trong thực tiễn thương mại quốc tế Nói chung nó phù hợp với những tranh chấp ít tình tiết phức tạp, có nhu cầu giải quyết nhanh chóng và nhất là các bên tranh chấp có kiến thức và hiểu biết về pháp luật cũng như có kinh nghiệm tranh tụng
Tuy nhiên, Trọng tài vụ việc còn có nhược điểm là tính hiệu quả của nó còn phụ thuộc vào tinh thần hợp tác toàn diện của các bên tranh chấp và cần có sự hỗ trợ của một hệ thống pháp luật hoàn chỉnh Nguyên tắc “tự do thỏa thuận” sẽ chỉ có hiệu quả nếu các bên có thiện chí với nhau Trình tự xét xử sẽ dễ bị trì hoãn nếu các bên không thống nhất được thủ tục giải quyết hoặc trở ngại trong việc lựa chọn trọng tài viên
Do không có trước một quy tắc tố tụng riêng nên có những trường hợp việc thỏa thuận giữa các trọng tài viên để xây dựng quy tắc tố tụng cũng có những phiền hà nhất định Và để khắc phục nhược điểm này Ủy ban pháp luật thương mại của Liên hiệp quốc (UNCITRAL) đã thông qua một bản quy tắc trọng tài (UNCITRAL arbitration Rules – 1976), coi đó là một quy tắc tố tụng mẫu để các tổ chức trọng tài Ad – hoc có thể áp dụng trong việc giải quyết các tranh chấp phát sinh trong thương mại quốc tế
: Trọng tài thường trực là tổ chức trọng tài hoạt động thường xuyên, có tổ chức, trụ sở ổn định, có danh sách trọng tài viên, có điều lệ riêng và có quy chế hoạt động cụ thể Phần lớn các tổ chức trọng tài lớn, có uy tín đều
tổ chức theo mô hình này
Trọng tài thường trực là hình thức trọng tài do các Trọng tài viên thành lập ra
để giải quyết tranh chấp thương mại Nó tồn tại độc lập và tồn tại trước khi có tranh chấp phát sinh và sẵn sàng giải quyết ngay khi có yêu cầu Khác với trọng tài vụ việc , khi có vụ việc nó mới được thành lập, trọng tài thường trực có bộ máy tổ chức gồm: Chủ tịch, một hoặc các Phó chủ tịch, có thể có Tổng thư ký, có tư cách pháp nhân, có
5
Giáo trình Luật Kinh tế - Trường Đại học Luật Hà Nội, Nhà xuất bản Tư pháp, trang 418
Trang 23Các phương thức giải quyết tranh chấp trong thương mại quốc tế
GVHD: Ths Bùi Thị Mỹ Hương SVTH: Nguyễn Thị Thanh Thoản 17
Đặc điểm tố tụng trọng tài thường trực là quy chế tố tụng chặt chẽ Bởi mỗi tổ chức trọng tài thường trực đều có điều lệ riêng nên có điều kiện thay đổi, bổ sung, hoàn thiện để ngày càng thích ứng với những điều kiện và đòi hỏi của thực tiễn Hơn nữa để tăng cường khả năng cạnh tranh, ngoài việc hạ thấp biểu phí, các tổ chức trọng tài trên thế giới đều cố gắng cải tiến để rút ngắn thời gian tố tụng và đưa vào danh sách trọng tài viên những người có uy tín, hiểu biết rộng và giàu kinh nghiệm trong lĩnh vực giải quyết tranh chấp Đây chính là một trong những yếu tố góp phần nâng cao chất lượng hoạt động của các tổ chức trọng tài, làm cho hình thức giải quyết tranh chấp bằng trọng tài ngày càng chiếm ưu thế, hấp dẫn giới kinh doanh nhiều hơn
Trọng tài thường trực là hình thức trung gian giữa tòa án và trọng tài vụ việc Trọng tài thường trực giống trọng tài ad-hoc ở việc lựa chọn trọng tài viên, tuy có phần hạn chế hơn (vì khi đó phải chọn trọng tài viên trong danh sách trọng tài viên của trung tâm trọng tài) Mặt khác, trong tố tụng trọng tài thường trực, các bên đương sự buộc phải tuân theo các quy chế xét xử của từng trung tâm trọng tài mà họ chọn, cho dù nó phức tạp đến đâu
Lợi thế lớn nhất của trọng tài thường trực là có sẵn các bộ quy tắc tố tụng trọng tài và các bên đương sự chỉ cần thỏa thuận áp dụng quy tắc của Trung tâm trọng tài mà không cần tốn công tạo ra quy tắc mới Các bản quy tắc trọng tài cũng được bổ sung thường xuyên, điều chỉnh cho phù hợp với sự thay đổi của môi trường kinh doanh Những điều này rất thuận lợi cho các doanh nghiệp mới bước vào nghề, hoặc không
am hiểu về pháp luật, về thủ tục kiện tụng Nếu họ không muốn có điều gì bất lợi cho mình thì họ chọn trọng tài thường trực với bộ quy tắc có sẵn để giải quyết tranh chấp Hơn nữa, trọng tài quy chế hoạt động thường xuyên, có tổ chức chặt chẽ tạo điều kiện cho các bên dễ dàng quy định một thỏa thuận trọng tài riêng Một trong những ưu điểm khác của trọng tài quy chế là vấn đề lựa chọn trọng tài viên Trong trường hợp vụ việc tranh chấp bị một bên gây căng thẳng làm cản trở việc lựa chọn trọng tài viên thì sự chỉ định của Chủ tịch hội đồng trọng tài là hết sức cần thiết Bên cạnh đó, các trọng tài viên của Trung tâm là những người được tuyển chọn kỹ càng, là những người có chuyên môn, giàu kinh nghiệm và các bên có thể hoàn toàn đặt niềm tin vào trình độ chuyên môn cũng như sự khách quan của họ
Bên cạnh những ưu điểm nói trên thì trọng tài thường trực cũng có những hạn chế nhất định như chi phí trọng tài cao hơn so với trọng tài ad-hoc Ngoài chi phí trọng tài, các tổ chức trọng tài còn thu thêm phí hành chính Và cũng do bộ máy hành chính nên đôi khi quá trình tố tụng trọng tài thường trực có thể phải kéo dài vì phải tuân thủ những thủ tục trong quy tắc tố tụng một cách tuần tự và nghiêm chỉnh
Trang 24Các phương thức giải quyết tranh chấp trong thương mại quốc tế
GVHD: Ths Bùi Thị Mỹ Hương SVTH: Nguyễn Thị Thanh Thoản 18
1 1 1 1
/ ! ) !
Do trọng tài là một tổ chức xã hội nghề nghiệp được hình thành trên cơ sở tự nguyện của các trọng tài viên theo quy định của pháp luật, hoặc trên cơ sở lựa chọn của các đương sự (trọng tài ad-hoc), nên không tồn tại một tố tụng thống nhất Tuy nhiên, việc giải quyết tranh chấp bằng trọng tài phải đảm bảo các nguyên tắc sau:
!
nguyên tắc bình đẳng giữa các bên tranh chấp Khi giải quyết tranh chấp, các bên đều bình đẳng về quyền và nghĩa vụ Hội đồng trọng tài có trách nhiệm tạo điều kiện để họ thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình Mọi biện pháp, quyết định của trọng tài đều phải đảm bảo sự bình đẳng giữa các bên tranh chấp
nguyên tắc giữ bí mật trong giải quyết tranh chấp
Việc giải quyết tranh chấp bằng trọng tài được tiến hành không công khai, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác Đây là nguyên tắc xuất phát từ mong muốn và lợi ích của các bên tranh chấp Theo đó, các buổi họp xét xử của trọng tài sẽ được tiến hành tại nơi mà ngoài trọng tài viên và các đương sự thì những người không có trách nhiệm hoặc không có quyền và nghĩa vụ liên quan thì không được có mặt Trọng tài viên có trách nhiệm phải đảm bảo bí mật mọi vấn đề mà mình biết khi tiến hành giải quyết vụ việc Bởi đối với các nhà doanh nghiệp, bí mật kinh doanh là một trong những yếu tố quan trọng, có vai trò quyết định cho sự thành công của doanh nghiệp
phán quyết trọng tài là chung thẩm Quyết định của trọng tài có giá trị bắt buộc và các bên không thể kháng cáo
Trang 25Các phương thức giải quyết tranh chấp trong thương mại quốc tế
GVHD: Ths Bùi Thị Mỹ Hương SVTH: Nguyễn Thị Thanh Thoản 19
1.2.4 Giải quyết tranh chấp trong thương mại quốc tế thông qua tòa án
1 1 1 1
Giải quyết tranh chấp bằng tòa án là hình thức giải quyết tranh chấp do cơ quan tài phán Nhà nước thực hiện Tòa án nhân danh Nhà nước để đưa ra phán quyết bắt buộc bên có nghĩa vụ phải thực hiện nghĩa vụ của mình đối với bên có quyền, kể cả bằng sức mạnh cưỡng chế của Nhà nước Do đó, các đương sự thường tìm đến sự trợ giúp của tòa án như là một giải pháp cuối cùng để bảo vệ có hiệu quả các quyền và lợi ích hợp pháp của mình khi họ thất bại trong việc sử dụng cơ chế thương lượng hoặc hòa giải và cũng không muốn đưa vụ tranh chấp của họ ra giải quyết bằng Trọng tài
Hiện nay chưa có một tòa án quốc tế nào được thành lập ra để chuyên xét xử các tranh chấp phát sinh trong thương mại quốc tế Vì vậy, khi có tranh chấp phát sinh
từ hợp đồng thương mại quốc tế mà các bên lại không quy định rõ thủ tục giải quyết tranh chấp bằng trọng tài, thì nguyên đơn phải gởi đơn kiện đến tòa án có thẩm quyền
Khác với hòa giải, thương lượng và trọng tài là các phương thức giải quyết tranh chấp mang tính thỏa thuận tự nguyện, quyền lực của trọng tài viên là quyền lực theo hợp đồng do các bên tranh chấp giao phó, việc giải quyết tranh chấp bằng Tòa án gắn liền với quyền lực Nhà nước – quyền tư pháp Việc giải quyết tranh chấp trong thương mại quốc tế trước tòa án của Việt Nam trên nguyên tắc mới chỉ được thực hiện
tế và tranh chấp thương mại quốc tế, việc giải quyết tranh chấp trong thương mại quốc
tế tại tòa án còn phải tuân theo các nguyên tắc sau:
nguyên tắc tự định đoạt và hòa giải của các đương sự Nguyên tắc tự định đoạt và hòa giải là một trong những nguyên tắc cơ bản của nền kinh tế thị trường – một nền kinh tế tự do kinh doanh, tự do hợp đồng theo pháp luật trên cơ sở Nhà nước không can thiệp vào các hoạt động kinh doanh của các chủ thể thực hiện đúng theo quy định của pháp luật Nhà nước với tư cách là chủ thể công quyền không thể tự đưa các tranh chấp thương mại quốc tế ra tòa án để phán quyết và tòa án cũng không thể can thiệp vào tranh chấp thương mại quốc tế nếu các bên tranh chấp không có yêu cầu Vì vậy, yêu cầu giữa các đương sự trong giải quyết tranh chấp thương mại quốc tế tại tòa án là yếu tố cần thiết và bắt buộc
Trang 26Các phương thức giải quyết tranh chấp trong thương mại quốc tế
GVHD: Ths Bùi Thị Mỹ Hương SVTH: Nguyễn Thị Thanh Thoản 20
Quyền tự định đoạt giữa các chủ thể trong giải quyết tranh chấp thương mại quốc tế được thể hiện qua nhiều hình thức giải quyết như thông qua hoạt động tư vấn hòa giải của bên thứ ba mà các bên tranh chấp chọn ra, thông qua các cơ quan tài phán như trọng tài và Tòa án, các bên tự định đoạt và có thể lựa chọn hình thức giải quyết tranh chấp thích hợp với quan hệ tranh chấp, v.v…
Tòa án chỉ giải quyết tranh chấp trên cơ sở có yêu cầu khởi kiện của các đương
sự nếu thỏa mãn các điều kiện sau:
- Không có sự thỏa thuận trước của các bên thì tranh chấp đó sẽ được giải quyết theo thủ tục trọng tài
- Nếu các bên không thể tự hòa giải hoặc thương lượng được với nhau
nguyên tắc bình đẳng trước pháp luậtQuyền bình đẳng trước pháp luật là quyền cơ bản của người kinh doanh được
pháp luật kinh doanh, trong đó có Bộ luật Tố tụng Dân sự Điều 8 Bộ luật Tố tụng Dân
sự quy định: “Các đương sự đều bình đẳng về quyền và nghĩa vụ trong tố tụng dân sự, Tòa án có trách nhiệm tạo điều kiện để họ thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình”
Trong hoạt động thương mại quốc tế, sự bình đẳng giữa các chủ thể tham gia là
gia sẽ tạo được môi trường kinh doanh thuận lợi cho các chủ thể, thúc đẩy quan hệ thương mại quốc tế phát triển, mối quan hệ giao lưu hợp tác ngày càng được mở rộng, còn nếu không có sự bình đẳng giữa các chủ thể thì sẽ kìm hãm sự phát triển của quan
hệ thương mại quốc tế Trong quá trình giải quyết tranh chấp thương mại quốc tế, cần đảm bảo quyền bình đẳng cho các chủ thể kinh doanh được tham gia tố tụng không phân biệt đó là doanh nghiệp Nhà nước hay doanh nghiệp thuộc các loại hình khác như công ty trách nhiệm hữu hạn, doanh nghiệp tư nhân, v.v… Các bên có quyền và nghĩa
vụ tuân thủ các quy định trong pháp luật tố tụng kinh tế và được bình đẳng về quyền
và nghĩa vụ trong quá trình giải quyết vụ án
!
nguyên tắc tòa án không tiến hành điều tra mà chỉ xác minh, thu thập chứng cứ
Khi giải quyết tranh chấp thương mại quốc tế, tòa án chủ yếu dựa vào các căn
cứ do các đương sự đưa ra để ra phán quyết đúng pháp luật Tòa án sẽ thu thập, xác minh chứng cứ và nghe các bên trình bày trước Tòa những gì mà họ cho là cần thiết đối với mình Trong trường hợp thấy cần phải làm rõ hơn nhằm giải quyết vụ án đúng pháp luật, tòa án sẽ tiến hành xác minh nhưng không tiến hành điều tra
8 Điều 52 Hiến pháp 1992 quy định: “ Mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật”
9 Bởi các chủ thể tham gia vào hoạt động này thuộc các quốc gia khác nhau nên vấn đề bình đẳng trước pháp luật
là một vấn đề quan trọng Việc giải quyết tranh chấp trong thương mại quốc tế phải đảm bảo sự ngang hàng về quyền và nghĩa vụ giữa các bên, tính công bằng, không phân biệt đối xử của pháp luật
Trang 27Các phương thức giải quyết tranh chấp trong thương mại quốc tế
GVHD: Ths Bùi Thị Mỹ Hương SVTH: Nguyễn Thị Thanh Thoản 21
nguyên tắc giải quyết vụ án nhanh chóng và kịp thời Đối với nhà kinh doanh, vấn đề vốn và thời gian là hai yếu tố quan trọng, có thể quyết định đến sự thành bại trong kinh doanh Xuất phát từ đó, việc giải quyết tranh chấp thương mại quốc tế không chỉ đơn thuần đúng pháp luật mà còn phải đảm bảo yếu tố nhanh chóng, kịp thời và dứt điểm tạo điều kiện cho các chủ thể tham gia hoạt động thương mại quốc tế có thể yên tâm tiến hành hoạt động kinh doanh Nếu vụ tranh chấp kéo dài, các bên đương sự sẽ phải theo đuổi vụ kiện tụng, sẽ mất nhiều thời gian
và tiền bạc, bên cạnh đó họ còn mất thời gian tập trung vào việc kinh doanh
Ngoài các nguyên tắc cơ bản trên, pháp luật về tố tụng kinh tế còn quy định một
số nguyên tắc cơ bản khác như nguyên tắc xét xử công khai, nguyên tắc sử dụng tiếng nói, chữ viết trong quá trình giải quyết vụ án, v.v…
1.3 Ưu và nhược điểm của các phương thức trong thương mại quốc tế
gây tác động xấu trong môi trường kinh doanh, quan hệ hai bên vẫn tồn tại khi các bên thương lượng xong
Tuy đây là một phương pháp có nhiều ưu điểm, được nhiều thương gia lựa chọn
để giải quyết khi có tranh chấp phát sinh, nhưng điều đó không có nghĩa là biện pháp tối ưu, nó vẫn có một số nhược điểm nhất định:
- Hình thức thương lượng chỉ thích hợp đối với hai bên có thiện chí muốn tìm giải pháp đối với tranh chấp, nếu có bên nào muốn dùng hình thức thương lượng để kéo dài thời gian thực hiện nghĩa vụ thì thương lượng chỉ làm tốn kém và kéo dài thời gian hơn Ví dụ, hợp đồng mua bán hàng hóa được kí kết do một bên bị lừa dối hay bị
đe dọa thì sẽ không thể có sự thương lượng được, bởi vì bên có hành vi lừa dối không thể có thiện chí mà việc thương lượng đòi hỏi phải có sự thiện chí của cả hai bên Trong trường hợp này việc thương lượng chỉ là cách để các bên có hành vi lừa dối hay
đe dọa khi kí kết hợp đồng kéo dài thời gian
10
Trần Đình Hào, Hòa giải, thương lượng trong việc giải quyết tranh chấp hợp đồng kinh tế, Tạp chí Nhà nước
và pháp luật số 1/2000, trang 30
Trang 28Các phương thức giải quyết tranh chấp trong thương mại quốc tế
GVHD: Ths Bùi Thị Mỹ Hương SVTH: Nguyễn Thị Thanh Thoản 22
- Vì một bên không có thiện chí nên qua thương lượng có thể kéo dài thời gian
và vì như vậy bên bị thiệt hại sẽ không được đền bù kịp thời Rõ ràng là trái với nguyên tắc “thiệt hại phải được đền bù kịp thời”
- Hình thức giải quyết khép kín, không công khai đôi khi lại nảy sinh những tiêu cực, trái pháp luật
chế tài ra sao nếu các bên không thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ so với thỏa thuận lúc thương lượng cũng như kết quả thương lượng này có được tòa án công nhận hay không,…
thứ ba, đóng vai trò trung gian để hỗ trợ hoặc thuyết phục các bên tranh chấp tìm kiếm các giải pháp nhằm chấm dứt xung đột hoặc bất hòa… với sự tham gia của trung gian hòa giải, họ có trình độ chuyên môn, có kinh nghiệm, am hiểu lĩnh vực đang tranh chấp, có nghĩa vụ trong việc đàm phán, do đó có khả năng giúp các bên loại trừ tranh chấp Bên trung gian đóng vai trò hỗ trợ đôi bên đi đến giải pháp có lợi cho đôi bên đi đến giải pháp có lợi nhất cho đôi bên, có khi bên trung gian hòa giải thuyết phục đôi bên chấp nhận giải pháp họ đề ra, chấm dứt xung đột
kém, bởi vì các bên có thể loại bỏ một cách tối đa những thủ tục hình thức, thủ tục này không phải là thủ tục bắt buộc, bởi vì kết quả hòa giải ở một mức độ nào đó phụ thuộc vào trình độ chuyên môn nghiệp vụ của hòa giải viên Hòa giải viên phải tiến hành hòa giải như thế nào để quan điểm của họ được các bên tranh chấp hài lòng và chấp nhận Hòa giải viên không nên coi các bên của tranh chấp là những người có quyền lợi đối kháng mà nên coi họ là những chủ thể có một số hoài nghi trong việc giải thích và áp
không gây nên tình trạng đối đầu, mâu thuẫn giữa các bên Vì vậy, duy trì được quan
hệ hợp tác vẫn có xưa nay giữa các bên
11
Giáo trình Luật hợp đồng thương mại quốc tế - Đại học quốc gia thành phố Hồ Chí Minh, Khoa Kinh tế, Nhà xuất bản Đại học quốc gia thành phố Hồ Chí Minh, trang 132
Trang 29Các phương thức giải quyết tranh chấp trong thương mại quốc tế
GVHD: Ths Bùi Thị Mỹ Hương SVTH: Nguyễn Thị Thanh Thoản 23
đó, giữ gìn được các bí quyết kinh doanh và uy tín của các bên
của các bên tranh chấp nên khi đạt được phương án hòa giải các bên thường nghiêm túc thực hiện
Hiện nay, trong hoạt động thương mại quốc tế, phương pháp hòa giải rất được
ưa chuộng dùng để giải quyết tranh chấp và các quy tắc hòa giải của các tổ chức thường được lựa chọn là quy tắc hòa giải không bắt buộc của phòng thương mại quốc
tế ICC năm 2008; quy tắc hòa giải của Ủy ban Liên hiệp quốc về Luật thương mại (
Cùng với những ưu điểm nói trên, giải quyết tranh chấp phát sinh từ hợp đồng thương mại quốc tế bằng hòa giải cũng có những hạn chế nhất định
trong các bên Sự đồng ý này là kết quả của ý chí và mong muốn của các bên đối với việc giải quyết tranh chấp bằng hòa giải Không ai tự coi mình là người có nghĩa vụ trong tranh chấp
hoàn toàn không có hiệu lực pháp lí bắt buộc và như vậy không thể bắt buộc các bên phải thực hiện chúng bằng bất kì một biện pháp cưỡng chế nào Kết quả hòa giải chủ yếu phụ thuộc vào thiện chí giữa các bên tham gia tranh chấp, nhằm mềm hóa các xung đột, với mong muốn duy trì quan hệ hợp tác, làm ăn lâu dài Vì vậy, thiện chí của các bên đóng vai trò rất quan trọng đối với kết quả hòa giải Người thiếu thiện chí sẽ lợi dụng thủ tục hòa giải để duy trì, trì hoãn việc thực hiện nghĩa vụ của mình và có thể đưa đến hệ quả là bên có quyền lợi bị vi phạm mất quyền khởi kiện tại Tòa án hoặc Trọng tài vì hết thời hiệu khởi kiện
Bên cạnh đó, kết quả hòa giải còn phụ thuộc vào uy tín, kinh nghiệm và kỹ năng của người đứng ra làm trung gian hòa giải Tuy đây là phương pháp do các bên tự nguyện thực hiện nhưng kết quả phần nào cũng phụ thuộc vào bên thứ ba tham gia hòa giải
Như vậy, hòa giải là hình thức giải quyết tranh chấp mang tính tự nguyện, nó mang đầy đủ những ưu điểm của thương lượng Ngoài ra hòa giải còn có những ưu điểm khiến cho việc giải quyết tranh chấp được dễ dàng hơn Chẳng hạn hòa giải viên thường là những chuyên gia am hiểu về vấn đề đang tranh chấp, họ lại có một sự đánh giá khách quan hơn, hòa giải viên có thể đưa ra giải quyết cho cả hai bên cùng tham
12
Th.s Dương Kim Thế Nguyên, Giáo trình Luật Thương mại 3, trường Đại học Cần Thơ, khoa Luật, trang 5
Trang 30Các phương thức giải quyết tranh chấp trong thương mại quốc tế
GVHD: Ths Bùi Thị Mỹ Hương SVTH: Nguyễn Thị Thanh Thoản 24
khảo, họ thường có những phân tích chính xác, rõ ràng các vấn đề thực tế trong tranh chấp, từng bước gỡ từng bất đồng giữa hai bên
Việc hòa giải chỉ thành công khi hai bên có thiện chí giải quyết tranh chấp và nhìn chung thể thức này không có giá trị bắt buộc trừ khi các bên đạt được sự thỏa thuận Nếu các bên cứ khăng khăng bảo thủ thì tranh chấp cũng không giải quyết được
vì hòa giải viên không đưa ra được các quyết định bắt buộc các bên phải thi hành
ro cho bên nước ngoài khi quyết định tham gia đầu tư thương mại tại Việt Nam; tạo thuận lợi cho các bên nước ngoài và cả bên Việt Nam thông qua việc giải quyết tranh chấp tại Việt Nam
Quyết định trọng tài được thực hiện ngay, đáp ứng yêu cầu khôi phục nhanh những tổn thất về tiền, hàng trong kinh doanh thương mại Quyết định trọng tài là quyết định cuối cùng và có hiệu lực pháp luật, như bản án của Toà án Tuy là chung thẩm, nhưng tố tụng trọng tài không đặt vấn đề cưỡng chế thi hành, nên bên đương sự nào không chấp nhận phán quyết của trọng tài thì có thể kiện ra Toà kinh tế theo thủ tục giải quyết các vụ án
, trọng tài là một cơ chế giải quyết tranh chấp bí mật
Trang 31Các phương thức giải quyết tranh chấp trong thương mại quốc tế
GVHD: Ths Bùi Thị Mỹ Hương SVTH: Nguyễn Thị Thanh Thoản 25
Trọng tài là một tiến trình giải quyết tranh chấp có tính riêng biệt Hầu hết pháp luật về trọng tài của các nước đều thừa nhận nguyên tắc trọng tài xử kín, nếu các bên không quy định khác Tính bí mật thể hiện rõ ở nội dung tranh chấp và danh tính của các bên được giữ kín, đáp ứng nhu cầu tin cậy trong quan hệ thương mại Điều đó có ý nghĩa lớn trong điều kiện cạnh tranh Đây là ưu điểm đối với những doanh nghiệp không muốn các chi tiết trong vụ tranh chấp của mình bị đem ra công khai, tiết lộ trước Tòa án (hoặc công chúng) - điều mà các doanh nghiệp luôn coi là tối kỵ trong hoạt động kinh doanh của mình
!
, trọng tài là một cơ chế giải quyết tranh chấp liên tục Các bên đương sự được tự do lựa chọn trọng tài viên Cách thức lựa chọn trọng tài và Hội đồng trọng tài phát huy tính dân chủ, khách quan trong quá trình tố tụng Hoạt động trọng tài diễn ra liên tục vì Hội đồng trọng tài (Uỷ ban trọng tài) xét xử vụ kiện đã được các bên lựa chọn, hoặc được chỉ định để giải quyết vụ kiện đó Khi mang một vụ việc ra xét xử ở Toà án, có khả năng thẩm phán được chỉ định giải quyết vụ việc không có trình độ chuyên môn liên quan đến đối tượng tranh chấp, đặc biệt các ngành có đặc thù chuyên môn cao như: dầu khí, xây dựng, tài chính, đầu tư, bảo hiểm… Khi giải quyết bằng trọng tài, các bên hoàn toàn có thể lựa chọn trọng tài viên
có trình độ chuyên môn phù hợp với đối tượng tranh chấp, góp phần nâng cao hiệu quả, công bằng và chính xác trong giải quyết tranh chấp Trọng tài viên - người chủ trì phân xử tranh chấp theo suốt vụ kiện từ đầu đến cuối, vì vậy, họ có cơ hội tìm hiểu tình tiết vụ việc Điều này có lợi ngay cả khi các bên muốn hòa giải hoặc giải quyết tranh chấp thông qua đàm phán, trọng tài có thể hỗ trợ các bên đạt tới một thỏa thuận
tiết kiệm thời gianTính liên tục, đặc biệt trong hoạt động kinh doanh quốc tế đòi hỏi các bên không thể lãng phí thời gian, điều mà các Tòa án sẽ rất khó đáp ứng được do luôn phải giải quyết nhiều tranh chấp cùng một lúc, gây ra khả năng ách tắc hồ sơ
Giải quyết tranh chấp bằng Tòa án cho phép các bên được quyền kháng án cũng làm cho tiến độ bị kéo dài Trong thực tế, giải quyết tranh chấp bằng trọng tài
,
duy trì được quan hệ đối tác
Trang 32Các phương thức giải quyết tranh chấp trong thương mại quốc tế
GVHD: Ths Bùi Thị Mỹ Hương SVTH: Nguyễn Thị Thanh Thoản 26
Việc thắng, thua trong tố tụng tại trọng tài kinh tế vẫn giữ được mối hoà khí lâu dài giữa các bên tranh chấp Đây là điều kiện không làm mất đi quan hệ hợp tác kinh doanh giữa các đối tác Bởi lẽ tố tụng tại trọng tài là tự nguyện
Xét xử bằng trọng tài sẽ làm giảm mức độ xung đột căng thẳng của những bất đồng trên cơ sở những câu hỏi gợi mở, trong một không gian kín đáo, nhẹ nhàng… Đó
là những yếu tố tạo điều kiện để các bên duy trì được quan hệ đối tác, quan hệ thiện chí đối với nhau và đặc biệt, sự tự nguyện thi hành quyết định trọng tài của một bên sẽ làm cho bên kia có sự tin tưởng tốt hơn trong quan hệ làm ăn trong tương lai
, tuy là giải quyết tranh chấp thương mại bằng trọng tài - một tổ chức phi chính phủ, nhưng được hỗ trợ, bảo đảm về pháp lý của Toà án trên các mặt như: xác định giá trị pháp lý của thoả thuận trọng tài; giải quyết khiếu nại về thẩm quyền của Hội đồng trọng tài; ra lệnh áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời; xét đơn yêu cầu huỷ quyết định trọng tài; công nhận và thi hành quyết định trọng tài Ngoài ra, trong quá trình giải quyết tranh chấp, nếu quyền và lợi ích của một bên bị xâm hại hoặc có nguy cơ xâm hại thì có quyền làm đơn yêu cầu Toà án áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời, nhằm bảo toàn chứng cứ trong trường hợp chứng cứ bị tiêu huỷ hoặc có nguy cơ
bị tiêu huỷ; kê biên tài sản tranh chấp để ngăn ngừa việc tẩu tán tài sản; cấm chuyển dịch tài sản tranh chấp; cấm thay đổi hiện trạng của tài sản tranh chấp; kê biên và niêm phong tài sản ở nơi gửi giữ; phong tỏa tài khoản tại ngân hàng
Việc đánh giá và sử dụng nguồn chứng cứ tại các cơ quan trọng tài rộng hơn, tự
do hơn, mang tính xã hội hơn, tạo điều kiện cho các bên làm sáng tỏ những vấn đề nhạy cảm Trong khi đó, Toà án áp dụng các chứng cứ để tố tụng bị ràng buộc hơn về mặt pháp lý, làm cho các bên tham gia tố tụng không có cơ hội làm sáng tỏ hết được nhiều vấn đề khúc mắc, không thể hiện trên các chứng cứ “pháp lý”
Bên cạnh những ưu điểm đó, việc giải quyết tranh chấp thông qua Trọng tài vẫn còn mang một số nhược điểm sau:
Trang 33Các phương thức giải quyết tranh chấp trong thương mại quốc tế
GVHD: Ths Bùi Thị Mỹ Hương SVTH: Nguyễn Thị Thanh Thoản 27
trọng tài chỉ có hiệu lực bắt buộc đối với các bên tranh chấp nhưng lại không có quyền
ra lệnh bắt buộc đối với bất kì bên thứ ba hay bất kì tổ chức nào khác dù có liên quan
vì phán quyết của trọng tài là chung thẩm và có hiệu lực bắt buộc thi hành nên nó sẽ ảnh hưởng rất lớn đến quyền lợi của các bên nếu có sự vi phạm, có sự không trung thực, không khách quan, sai sót từ phía trọng tài
án được tuyên không tuỳ thuộc ý chí các bên mà là kết quả nghị án của Hội đồng xét xử; án đã tuyên dù có quyền kháng cáo, nhưng “gỡ” được không phải dễ
Nhược điểm chung của phương thức này là các quá trình tố tụng thường kéo dài, chi phí cao, thủ tục phức tạp, v.v… Vì vậy sẽ mất nhiều thời gian và tiền của đối với các bên có liên quan nên tranh chấp kinh tế trên thế giới thường ít được kiện ra Toà án vị nhiều lý do Trước hết đó là trong thủ tục Toà án, quyền tự quyết của các đương sự ở mức thấp nhất so với các phương thức khác vì có sự can thiệp của pháp luật trong toàn bộ quá trình giải quyết tranh chấp Các bên sẽ phải tuân thủ theo những thủ tục cứng nhắc, bắt buộc, phức tạp và kéo dài, án phí lại thường cao Bên cạnh đó, một khi đã đưa tranh chấp ra Toà thì những bí mật kinh doanh cũng như uy tín của doanh nghiệp sẽ không được bảo toàn, cho dù doanh nghiệp là bên thắng kiện Thứ ba, khi đã kiện tụng trước Tòa án thì quan hệ hợp tác giữa hai bên khó có thể duy trì, doanh nghiệp sẽ mất một đối tác, một bạn hàng nghĩa là mất nguồn lợi do quan hệ kinh
tế đem lại
Mỗi một phương thức đều có ưu và nhược điểm riêng, vấn đề là các bên liên quan sẽ chọn phương thức giải quyết nào phù hợp với loại tranh chấp của mình, để việc giải quyết tranh chấp được diễn ra một cách nhanh chóng nhất, hợp lí nhất và hiệu quả nhất, đảm bảo một môi trường kinh doanh lành mạnh từ đó tạo tâm lí an tâm cho các nhà kinh doanh cũng như giúp cho nền kinh tế thế giới ngày một phát triển mạnh
mẽ
13 Trong trường hợp này, để đảm bảo hiệu quả của việc thi hành các phán quyết của trọng tài, tòa án – với quyền lực của nhà nước sẽ giữ vai trò hỗ trợ, giúp đỡ trọng tài khi cần thiết Hiệu quả của việc thi hành phán quyết trọng tài phụ thuộc hoàn toàn vào mức độ hợp tác giữa trọng tài và tòa án
Trang 34Các phương thức giải quyết tranh chấp trong thương mại quốc tế
GVHD: Ths Bùi Thị Mỹ Hương SVTH: Nguyễn Thị Thanh Thoản 28
CHƯƠNG 2 PHÁP LUẬT VỀ CÁC PHƯƠNG THỨC GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP
TRONG THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ
Trong số các phương pháp được giải quyết trước khi đi kiện thì khiếu nại (thương lượng) là phương pháp được áp dụng nhiều hơn cả Đây là phương pháp giải quyết vừa nhanh chóng, vừa đỡ tốn kém mà vẫn bảo vệ được quyền và lợi ích hợp pháp của các bên liên quan trong việc giải quyết tranh chấp thương mại nói chung và thương mại quốc tế nói riêng Ngoài ra, việc giải quyết tranh chấp bằng khiếu nại thường mang lại kết quả chính xác hơn vì hơn ai hết các bên tranh chấp là những người hiểu rõ tình tiết vụ việc nhất nên dễ dàng thỏa mãn những yêu cầu của nhau Mặt khác, thông qua thương lượng trực tiếp các bên có thể hiểu nhau hơn và qua đó có thể làm cho quan hệ kinh doanh phát triển hơn Như vậy, việc khiếu nại và giải quyết khiếu nại kịp thời vừa bảo vệ được quyền lợi của các bên vừa giữ được uy tín kinh doanh của các bên trong quan hệ kinh doanh thương mại Tuy nhiên, muốn việc tiến
Trước hết là phải xác định đúng bên bị khiếu nại Đây là một yêu cầu rất quan trọng, bởi vì có nhiều trường hợp, cùng một loại tổn thất xảy ra nhưng lại liên quan đến nhiều người khác nhau Vấn đề đặt ra là cần phải xác định được ai là người cuối cùng phải chịu trách nhiệm về các thiệt hại đó Khi đó, khiếu nại mới đạt được kết quả
Và sau khi đã xác định được bên bị khiếu nại thì bên khiếu nại sẽ phải quan tâm đến các vấn đề như: căn cứ để khiếu nại, hồ sơ khiếu nại, thời hạn khiếu nại và các cách giải quyết cụ thể với bên bị khiếu nại
2.1.1 Căn cứ để khiếu nại
Căn cứ để khiếu nại là những cơ sở pháp lí để ràng buộc trách nhiệm của bên vi phạm Và để thuyết phục, bắt buộc được bên vi phạm (bên khiếu nại) phải đưa ra
14
Giáo trình Luật thương mại quốc tế, trường Đại học Luật Hà Nội, trang 383-384
Trang 35Các phương thức giải quyết tranh chấp trong thương mại quốc tế
GVHD: Ths Bùi Thị Mỹ Hương SVTH: Nguyễn Thị Thanh Thoản 29
những cơ sở pháp lí xác đáng, thuyết phục Trong quan hệ thương mại quốc tế, bên khiếu nại có thể dựa vào các căn cứ pháp lí sau:
vụ mà thực tế mà bên vi phạm đã thực hiện để đưa ra kết luận chính xác, xem bên kia
có vi phạm hợp đồng hay không, mức độ vi phạm như thế nào và từ đó họ sẽ yêu cầu bên vi phạm bồi thường hay thực hiện phần nghĩa vụ còn lại để bảo vệ quyền lợi của mình Đối với bên vi phạm, họ cũng phải căn cứ vào hợp đồng để giải quyết khiếu nại của bên kia
Ngoài hợp đồng gốc mà các bên đã tham gia kí kết, còn có các thỏa thuận bổ sung sau đó cho hợp đồng và đã được các bên cam kết, thỏa thuận trong quá trình thực hiện hợp đồng Đây cũng là căn cứ để các bên khiếu nại
là điều ước quốc tế
Điều ước quốc tế về thương mại là văn bản pháp lí do các quốc gia kí kết hoặc tham gia nhằm xác lập quyền và nghĩa vụ của mình với nhau trong giao dịch thương
Điều ước quốc tế là căn cứ để bên bị vi phạm khiếu nại bên vi phạm chỉ khi nào điều ước quốc tế đó có nội dung trực tiếp điều chỉnh quyền và nghĩa vụ của các bên
gia là thành viên của điều ước quốc tế hoặc nếu các chủ thể trong giao dịch thương mại quốc tế không mang quốc tịch hay không có nơi cư trú ở các nước thành viên của điều ước thương mại thì các quy định trong điều ước này vẫn được điều chỉnh quyền và nghĩa vụ của các bên, nếu các bên có thỏa thuận áp dụng các điều khoản của điều ước quốc tế đó Khi có sự quy định khác nhau giữa điều ước quốc tế về thương mại và luật trong nước của nước là thành viên điều ước quốc tế đó thì quy định của điều ước quốc
tế được ưu tiên áp dụng
Trang 36Các phương thức giải quyết tranh chấp trong thương mại quốc tế
GVHD: Ths Bùi Thị Mỹ Hương SVTH: Nguyễn Thị Thanh Thoản 30
Tuy nhiên khi vận dụng nguồn luật này cần lưu ý tới giá trị pháp lí của từng điều ước quốc tế cũng như từng loại vi phạm trong điều ước quốc tế để xác định có sự
vi phạm hay không, vi phạm đến mức độ nào, trách nhiệm đối với việc vi phạm đó ra sao để có yêu sách thích hợp đối với các bên
là luật quốc gia
Pháp luật quốc gia là tổng thể các quy tắc, các quy định điều chỉnh mọi lĩnh vực
Luật quốc gia áp dụng cho hợp đồng thương mại quốc tế có thể là luật của nước bên bị vi phạm hoặc nước bên bị vi phạm hay pháp luật của một nước thứ ba nào đó theo sự lựa chọn của các bên khi kí kết hợp đồng Trong một số trường hợp, luật của quốc gia khác cũng có thể được áp dụng do sự dẫn chiếu của quy phạm xung đột trong các điều ước quốc tế có liên quan hoặc pháp luật quốc gia mà các bên lựa chọn dẫn chiếu đến
!
là các tập quán thương mại quốc tế
Các tập quán được hình thành lâu đời trong các quan hệ thương mại quốc tế, khi được các chủ thể ký kết hợp đồng mua bán quốc tế chấp nhận sẽ trở thành nguồn luật điều chỉnh đối với các hợp đồng giữa các chủ thể đó với nhau
Trong thương mại quốc tế, tập quán thương mại đóng một vai trò vô cùng quan trọng, vì tuy có thể không được đề cập chính thức, rõ ràng trong các văn bản, hợp đồng nhưng trong thực tiễn mỗi khi có tranh chấp các tập quán thương mại thường được dẫn chiếu để sử dụng
Tập quán thương mại quốc tế là các thói quen thương mại được công nhận Thói quen thương mại được công nhận khi đáp ứng các điều kiện sau:
phải được áp dụng liên tục;
17
Diệp Ngọc Dũng, Tập bài giảng Luật Thương mại quốc tế, Trường Đại học Cần Thơ , khoa Luật, trang 6
Trang 37Các phương thức giải quyết tranh chấp trong thương mại quốc tế
GVHD: Ths Bùi Thị Mỹ Hương SVTH: Nguyễn Thị Thanh Thoản 31
2.1.2 Hồ sơ khiếu nại
Hồ sơ khiếu nại bao gồm: đơn khiếu nại; hợp đồng và các phụ kiện của hợp đồng; các loại giấy tờ khác có liên quan
- Đơn khiếu nại
Trong thương mại quốc tế, hầu hết luật các nước đều quy định đơn khiếu nại phải được lập thành văn bản, và tối thiểu phải có các nội dung sau:
+ Tên, địa chỉ của các bên khiếu nại và bên bị khiếu nại;
+ Nội dung khiếu nại; lí do khiếu nại;
+ Yêu sách cụ thể của bên bị khiếu nại, v.v…
- Hợp đồng và các phụ kiện của hợp đồng như thư từ, điện tín trao đổi giữa các bên trong quá trình thực hiện hợp đồng
- Các loại giấy tờ có liên quan như các mẫu hàng có liên quan, biên bản giám định phẩm chất,v.v…
+ Mẫu hàng bị tổn thất: Khi người mua khiếu nại người bán những tổn thất của hàng hóa thì người mua cần phải bảo quản hàng hóa bị tổn thất Trong những mẫu hàng bị tổn thất là bằng chứng có sức thuyết phục cao, tự nó sẽ giúp cho người bán biết về việc vi phạm nghĩa vụ giao hàng không dúng phẩm chất của họ như đã thỏa thuận trong hợp đồng
+ Bản giám định phẩm chất: Đây là biên bản có giá trị pháp lí do cơ quan giám định chất lượng có thẩm quyền ở nơi hàng đến Nếu biên bản giám giám định phẩm chất thể hiện sự không phù hợp giữa chất lượng hàng hóa thực được giao với quy định ban đầu trong hợp đồng thì đó sẽ là cơ sở để người mua (bên khiếu nại) qui trách nhiệm cho người bán (bên bị khiếu nại) về việc vi phạm hợp đồng
2.1.3 Thời hạn khiếu nại
Thời hạn khiếu nại theo cách hiểu cơ bản là khoảng thời gian nhất định giành cho bên có quyền lợi bị vi phạm tiến hành khiếu nại bên vi phạm hợp đồng Khi bỏ qua thời hạn này thì bên bị vi phạm sẽ mất quyền khiếu nại
Thời hạn khiếu nại được chia làm hai loại: thời hạn khiếu nại luật định và thời hạn khiếu nại theo quy ước
Thời hạn khiếu nại luật định là thời hạn khiếu nại đã được quy định trong luật điều chỉnh hợp đồng mà các bên buộc phải tuân theo Ví dụ Điều 39 Công ước Viên
1980 quy định thời hạn khiếu nại về hàng không phù hợp là hai năm kể từ ngày hàng
đã thật sự được giao cho người mua
Thời hạn khiếu nại theo quy ước là thời hạn khiếu nại do các bên kí kết thỏa thuận trong hợp đồng Ví dụ, khi tham gia kí kết hợp đồng hai bên thỏa thuận mọi khiếu nại về chất lượng, số lượng hàng hóa phải được thực hiện trong vòng 60 ngày kể
từ ngày giao hàng, v.v…
Trang 38Các phương thức giải quyết tranh chấp trong thương mại quốc tế
GVHD: Ths Bùi Thị Mỹ Hương SVTH: Nguyễn Thị Thanh Thoản 32
2.1.4 Về cách giải quyết khiếu nại
Trong đơn khiếu nại bên khiếu nại phải đưa ra cách giải quyết khiếu nại đối với bên bị khiếu nại Tùy theo nội dung khiếu nại trong mỗi trường hợp mà có những cách giải quyết khác nhau Ví dụ khi người mua khiếu nại người bán về việc giao thiếu số lượng hàng hóa thì có thể yêu cầu người bán giao đủ số lượng hàng hóa đúng theo thỏa thuận trước kia trong hợp đồng hoặc trả lại số tiền hàng thiếu cho người mua; hay yêu cầu người bán phải giảm bớt giá, loại trừ khuyết tật, thay thế hàng hóa khác khi người bán giao hàng hóa cho người mua không đúng với phẩm chất đã thỏa thuận trong hợp đồng
Ngoài ra, đơn khiếu nại cũng cần phải quy định về thời hạn giải quyết khiếu nại, v.v…
2.2 Giải quyết tranh chấp thương mại quốc tế thông qua con đường hòa giải Khi tranh chấp phát sinh giữa các bên không thể đi đến thương lượng được thì các bên có thể áp dụng phương pháp trung gian hòa giải Hòa giải cũng là một trong những phương thức giải quyết tranh chấp có hiệu quả và được sử dụng rộng rãi
Trong thương mại quốc tế, trung gian hòa giải là phương pháp quan trọng, do vậy năm 1988 Phòng thương mại quốc tế (ICC) đã ban hành “Bản nguyên tắc hòa giải” (Rules of conciliation of the international chamber of commerce) để hướng dẫn việc giải quyết tranh chấp trong thương mại quốc tế thông qua thủ tục hòa giải Và năm 1980 Ủy ban pháp luật thương mại của Liên Hiệp Quốc cũng đã ban hành một bản quy tắc hòa giải (The UNCITRAL rules of conciliation) nhằm khuyết khích các nước thành viên Liên Hiệp Quốc áp dụng phương pháp này trong việc giải quyết tranh chấp thương mại quốc tế
Về phương pháp này cần chú ý đến một số vấn đề cơ bản như: thủ tục tiến hành hòa giải; vai trò của hòa giải viên, v.v…
2.2.1 Thủ tục tiến hành hòa giải
Theo nguyên tắc hòa giải của Phòng thương mại quốc tế, khi có tranh chấp xảy
ra một bên căn cứ vào điều khoản về giải quyết tranh chấp trong hợp đồng thương mại quốc tế hoặc theo tập quán gửi đơn đề nghị hòa giải tới Tòa án trọng tài Ban thư kí của Tòa án trọng tài sẽ chuyển lời đề nghị đó cho phía bên kia trong hợp đồng Quá trình hòa giải chỉ thật sự bắt đầu khi các bên đồng ý tham gia hòa giải Về thời hạn thỏa thuận hòa giải, theo Điều 3 Bản quy tắc hòa giải của ICC là 15 ngày kể từ ngày Ban thư kí chuyển đơn hòa giải
Khi các bên đã thỏa thuận tranh chấp giữa họ sẽ được giải quyết thông qua phương thức hòa giải thì thủ tục đầu tiên là các bên sẽ thống nhất chọn hòa giải viên tham gia giải quyết tranh chấp Đây là một trong những nhiệm vụ quan trọng để việc hòa giải có thể thành công Việc hòa giải có thể có một, hai hoặc ba hòa giải viên tùy
Trang 39Các phương thức giải quyết tranh chấp trong thương mại quốc tế
GVHD: Ths Bùi Thị Mỹ Hương SVTH: Nguyễn Thị Thanh Thoản 33
quy định nếu trong quá trình hòa giải có một hòa giải viên thì các bên sẽ cố gắng thỏa thuận về tên của hòa giải viên duy nhất đó; nếu quá trình hòa giải có hai hòa giải viên thì mỗi bên sẽ chọn một hòa giải viên; hoặc trong quá trình hòa giải có ba hòa giải viên thì mỗi bên chỉ định một hòa giải viên và các bên hòa giải viên được chọn đó sẽ cố gắng chọn một hòa giải viên thứ ba Bên cạnh đó, các bên có thể tranh thủ sự hỗ trợ của một cơ quan hoặc cá nhân thích hợp liên quan tới việc chỉ định hòa giải viên như một bên có thể yêu cầu tổ chức hoặc người đó giới thiệu tên tuổi của cá nhân có đủ điều kiện làm hòa giải viên hoặc các bên có thể thỏa thuận việc chỉ định một hoặc nhiều hòa giải viên có thể do một tổ chức hoặc cá nhân nào đó trực tiếp thực hiện Trong quá trình chọn hòa giải viên, các bên cần thống nhất những tiêu chuẩn cụ thể của một hòa giải viên Ví dụ như trình độ chuyên môn, kinh nghiệm hòa giải,v.v…của hòa giải viên đó
Quá trình hòa giải được bắt đầu khi bên nhận được đề nghị hòa giải chấp nhận hòa giải Sau khi được chọn và đã nghiên cứu hồ sơ vụ việc, hòa giải viên sẽ tiến hành hòa giải Và ngay sau khi được chỉ định, hòa giải viên sẽ yêu cầu từng bên nộp bản tường trình tóm tắt nêu rõ bản chất chung của tranh chấp và các vấn đề đang tranh cãi Mỗi bên sẽ gửi một bản tường trình của mình cho bên kia Tại bất kì giai đoạn nào của quá trình hòa giải, hòa giải viên có thể yêu cầu một bên nộp cho mình các thông tin bổ sung mà hòa giải viên cho là thích hợp
Hòa giải viên có thể mời các bên tới gặp hoặc có thể giao dịch với họ bằng miệng hoặc bằng văn bản Hòa giải viên cũng có thể gặp tất cả các bên hoặc từng bên
gặp mặt này sẽ tạo điều kiện cho hòa giải viên thu thập thêm thông tin, hiểu rõ về nhu cầu của các bên, từ đó phân tích tình trạng tranh chấp, đưa ra những cơ sơ thuyết phục
để các bên hiểu rõ vấn đề và đi đến giải quyết tranh chấp
Tại hội nghị hòa giải đầu tiên có mặt đầy đủ các bên tranh chấp, hòa giải viên sẽ
hành Sau đó các bên trình bày lí lẽ của mình về nội dung sự việc Đây là dịp để các bên trao đổi bằng chứng, lí lẽ, v.v… Sau cuộc gặp gỡ chung với các bên nếu chưa giải quyết được vấn đề đang tranh chấp, hòa giải viên sẽ tiến hành trao đổi riêng với từng bên để tìm hiểu những vấn đề liên quan mà các bên chưa đề cập đến hoặc chưa thể làm
18
Quy tắc này áp dụng cho việc hòa giải tranh chấp phát sinh từ hoặc liên quan tới quan hệ hợp đồng hoặc pháp
lí khác khi các bên mong muốn một biện pháp giải quyết thân thiện cho tranh chấp của mình đồng ý rằng Quy tắc hòa giải UNCITRAL sẽ được áp dụng
19 Điều 9 Quy chế hòa giải UNCITRAL
20 Điều 14 Quy tắc hòa giải UNCITRAL quy định “ Hòa giải viên và các bên phải giữ bí mật mội vấn đề liên quan tới quá trình hòa giải Tính bí mật cũng áp dụng cho thỏa thuận hòa giải, trừ khi việc công bố là cần thiết vì mục đích thực hiện và thi hành thỏa thuận hòa giải”
Trang 40Các phương thức giải quyết tranh chấp trong thương mại quốc tế
GVHD: Ths Bùi Thị Mỹ Hương SVTH: Nguyễn Thị Thanh Thoản 34
rõ được, xác định xem vấn đề nào là vấn đề mấu chốt, mức độ lỗi của các bên như thế nào, v.v… Trên cơ sở cân nhắc toàn bộ nội dung vụ việc, hòa giải viên đưa ra các phương án giải quyết vấn đề để các bên lựa chọn sao cho hợp lí nhất Bởi trong quá trình hòa giải, hòa giải viên là cầu nối giúp các bên có thể thống nhất quan điểm và đưa ra phương án giải quyết cuối cùng
Sau khi các bên đã đi đến thỏa thuận chung để giải quyết tranh chấp thông qua hòa giải thì quá trình hòa giải sẽ chấm dứt Điều 15 Quy chế hòa giải UNCITRAL thì thời điểm chấm dứt quá trình hòa giải là:
a) Vào ngày mà các bên kí thỏa thuận hòa giải; hoặc
b) Vào ngày công bố văn bản hòa giải của hòa giải viên mà văn bản đó được đưa ra sau khi bàn bạc với các bên với mục đích nêu rõ mọi cố gắng hơn nữa trong quá trình hòa giải là không còn hợp lí nữa; hoặc
c) Vào ngày công bố văn bản của các bên gửi tới hòa giải viên để chấm dứt quá trình hòa giải; hoặc
d) Vào ngày công bố văn bản của một bên gửi bên kia và hòa giải viên, nếu được chỉ định, để chấm dứt quá trình hòa giải
Việc hòa giải được diễn ra thành công thì hòa giải viên lập một biên bản ghi rõ nội dung tranh chấp và kết quả thỏa thuận giải quyết tranh chấp Biên bản này sẽ do các bên kí và nó có hiệu lực ràng buộc các bên Nếu hòa giải không thành thì các bên đưa tranh chấp của mình tới cơ quan xét xử (Trọng tài hay Tòa án)
Hòa giải là một phương thức giải quyết tranh chấp có hiệu quả, khi các bên không thể thương lượng được với nhau thì có thể nói hòa giải là biện pháp tiếp theo
mà các bên sẽ lựa chọn đến để sử dụng Nếu quá trình hòa giải được diễn ra một cách thuận lợi thì tranh chấp sẽ được giải quyết một cách nhanh chóng và kịp thời Tuy nhiên, cũng có trường hợp quá trình hòa giải sẽ tự kết thúc Cụ thể là khi các bên thông báo với hòa giải viên rằng họ rút khỏi quá trình hòa giải Việc tiến hành hòa giải để giải quyết tranh chấp là do các bên thỏa thuận lập nên, hòa giải là trên cơ sở tự nguyện của cả hai bên, do vậy nếu một trong các bên hoặc cả hai bên tuyên bố rút khỏi quá trình hòa giải thì quá trình này đương nhiên bị chấm dứt; hoặc khi hòa giải viên thông báo việc hòa giải sẽ không mang lại kết quả Bởi thông thường, các hòa giải viên được chọn là những người có trình độ chuyên môn hay có kinh nghiệm trong việc hòa giải, nên trong quá trình hòa giải, theo kinh nghiệm nghề nghiệp của mình, hòa giải viên có thể đoán trước được việc hòa giải vụ việc đó có thành công hay không Nếu hòa giải viên nhận thấy rằng việc hòa giải sẽ không thành thì hòa giải viên thông báo cho các bên việc hòa giải không thành Việc thông báo hòa giải không thành sẽ chấm dứt quá trình hòa giải
... quyền tư pháp Việc giải tranh chấp thương mại quốc tế trước tòa án Việt Nam nguyên tắc thựctế tranh chấp thương mại quốc tế, việc giải tranh chấp thương mại quốc
tế tòa án phải tuân... data-page="25">
Các phương thức giải tranh chấp thương mại quốc tế
GVHD: Ths Bùi Thị Mỹ Hương SVTH: Nguyễn Thị Thanh Thoản 19
1.2.4 Giải tranh chấp thương mại quốc tế. ..
Trong thương mại quốc tế, hoàn toàn khơng có tịa án quốc tế nào, khơng
có trình tự mang tính quốc tế để giải tranh chấp mang tính thương mại, khơng có luật người chấp nhận áp