1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

LUẬN văn LUẬT THƯƠNG mại các HÀNH VI CẠNH TRANH về GIÁ NHẰM NÂNG CAO hạn CHẾ CẠNH TRANH TRONG LUẬT CẠNH TRANH

76 236 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 76
Dung lượng 2,87 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tuy cạnh tranh về giá luôn được Nhà nước khuyến khích để các doanh nghiệp có thể sản xuất ra những sản phẩm hàng hóa, dịch vụ tốt với mức giá hợp lý, phục vụ nhu cầu của người tiêu dùng

Trang 4

CHƯƠNG 2: QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ CÁC HÀNH VI HẠN CHẾ CẠNH TRANH LIÊN QUAN ĐẾN GIÁ THEO QUY ĐỊNH CỦA LUẬT

CẠNH TRANH 26

2.1 Hành vi thỏa thuận ấn định giá hàng hóa, dịch vụ 26

2.1.1 Chủ thể thực hiện hành vi 27

2.1.2 Nội dung của thỏa thuận 27

2.2 Thỏa thuận ngăn cản, kìm hãm, không cho doanh nghiệp khác tham gia thị trường hoặc phát triển kinh doanh 29

2.3 Thỏa thuận loại bỏ thị trường những doanh nghiệp không phải là các bên của thỏa thuận 32

2.4 Hành vi áp đặt giá mua, giá bán hàng hóa, dịch vụ bất hợp lý hoặc ấn định giá bán lại tối thiểu gây thiệt hại cho khách hàng 33

2.4.1 Áp đặt giá mua hàng hóa, dịch vụ bất hợp lý 34

2.4.2 Áp đặt giá bán hàng hóa, dịch vụ bất hợp lý 34

2.4.3 Ấn định giá bán lại tối thiểu gây thiệt hại cho khách hàng 36

2.5 Bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ dưới giá thành toàn bộ nhằm loại bỏ đối thủ cạnh tranh 37

2.6 Áp đặt điều kiện thương mại khác nhau trong giao dịch như nhau nhằm tạo bất bình đẳng trong cạnh tranh 42

2.6.1 Chủ thể thực hiện hành vi 42

2.6.2 Biểu hiện khách quan của hành vi 43

2.6.3 Tác động của hành vi 43

2.7 Ngăn cản việc tham gia thị trường của các đối thủ cạnh tranh mới 45

CHƯƠNG 3: THỰC TIỄN VÀ MỘT SỐ KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN CÁC HÀNH VI CẠNH TRANH VỀ GIÁ NHẰM HẠN CHẾ CẠNH TRANH TRONG LUẬT CẠNH TRANH 48

3.1 Thực tiễn các hành vi cạnh tranh về giá nhằm hạn chế cạnh tranh trong Luật Cạnh tranh 48

3.1.1 Những hạn chế, bất cập trong quy định của pháp luật 48

3.1.2 Trình độ nhận thức của cộng đồng doanh nghiệp và người tiêu dùng nói chung về các quy định trong Luật Cạnh tranh chưa cao 55

3.1.3 Các hành vi cạnh tranh về giá nhằm hạn chế cạnh tranh chưa được xử lý và kiểm soát chặt chẽ 56

3.2 Một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật đối với hành vi cạnh tranh về giá nhằm hạn chế cạnh tranh trong Luật Cạnh tranh 58

Trang 5

3.2.1 Về quy định của pháp luật liên quan đến hành vi cạnh tranh về giá

58

3.2.2 Thúc đẩy các biện pháp để đưa Luật Cạnh tranh vào cuộc sống 63 3.2.3 Một số kiến nghị khác 63

KẾT LUẬN 66 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 68

Trang 6

LỜI NÓI ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Cạnh tranh là quá trình tất yếu xảy ra trong sự phát triển kinh tế Sự thay đổi thị hiếu của người tiêu dùng đồng thời với sự gia tăng số lượng cũng như quy mô của các doanh nghiệp trong cùng một ngành đã tạo nên một áp lực cạnh tranh lớn hiện nay trên thị trường Mức độ cạnh tranh trong nội bộ ngành càng cao thì khả năng để một doanh nghiệp bị thôn tính hoặc buộc phải từ bỏ thị trường do thiếu khả năng thích nghi càng lớn Điều này đã mang lại một ưu điểm lớn cho nền kinh tế là đảm bảo thị trường luôn

mở cửa cho các ngành mới, doanh nghiệp mới, buộc các doanh nghiệp tự cải thiện tình hình sản xuất, kinh doanh dịch vụ thông qua việc đổi mới, nâng cao chất lượng và giá cả, góp phần thúc đẩy hiệu quả của nền kinh tế và mang lại lợi ích cho người tiêu dùng Tuy nhiên, bên cạnh đó cạnh tranh cũng làm phát sinh những hiện tượng không lành mạnh với những toan tính, những thủ đoạn, những hành vi bất chính của một số doanh nghiệp, không chịu được sức ép của cạnh tranh hoặc của một số doanh nghiệp có lợi thế trên thị trường nhằm tiêu diệt đối thủ, ngăn cản sự phát triển tự nhiên của thị trường, lừa dối khách hàng để trục lợi Những biểu hiện không lành mạnh ấy ngày càng gia tăng về số lượng và phức tạp trong biểu hiện, làm ảnh hưởng xấu đến môi trường kinh doanh

Ở Việt Nam, các hành vi cạnh tranh làm ảnh hưởng tiêu cực đến nền kinh tế ngày càng nhiều, trong đó hành vi cạnh tranh về giá được sử dụng phổ biến nhất Tuy cạnh tranh về giá luôn được Nhà nước khuyến khích để các doanh nghiệp có thể sản xuất ra những sản phẩm hàng hóa, dịch vụ tốt với mức giá hợp lý, phục vụ nhu cầu của người tiêu dùng nhưng không phải mọi hành vi cạnh tranh về giá mà các doanh ngiệp thực hiện đều được pháp luật cho phép đặc biệt là các hành vi cạnh tranh về giá nhằm hạn chế cạnh tranh Đây là một hình thức cạnh tranh gây ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển tự nhiên của thị trường Sự ra đời của Luật Cạnh tranh năm 2004 là bước tiến trong việc xây dựng

và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam về cạnh tranh, tạo hành lang pháp lý để bảo

vệ các chủ thể tham gia cũng như đảm bảo môi trường cạnh tranh lành mạnh Với những quy định tiến bộ ở giai đoạn này đã tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp, góp phần thúc đẩy sự gia tăng số lượng doanh nghiệp cũng như sự phát triển của nền kinh tế quốc gia Tuy nhiên, một cách khách quan để nhìn nhận, sự điều chỉnh của pháp luật về các hành vi hạn chế cạnh tranh liên quan đến giá trong Luật Cạnh tranh chưa thật sự cụ thể Đâu đó, vẫn còn những quy định chưa rõ ràng, chưa điều chỉnh hết các vấn đề mà xã hội phát sinh trong quá trình áp dụng những quy định của luật làm cho việc áp dụng pháp luật khó khăn, do đó chưa bảo vệ một cách triệt để sự phát triển tự nhiên của cạnh tranh cũng như những chủ thể tham gia vào quá trình này Bên cạnh đó, do nền kinh tế nước ta

Trang 7

đang trên đà phát triển, vận động không ngừng, kéo theo đó là các hành vi hạn chế cạnh tranh liên quan đến giá được nhiều doanh nghiệp sử dụng với mức độ tinh vi và phức tạp hơn, gây khó khăn cho việc điều chỉnh và kiểm soát các hành vi này trên thực tế

Từ những vần đề vừa nêu, người viết đã chọn đề tài: “Các hành vi cạnh tranh về giá nhằm hạn chế cạnh tranh trong Luật Cạnh tranh” để nghiên cứu làm luận văn tốt

nghiệp cử nhân ngành luật cho mình

2 Mục đích nghiên cứu

Các hành vi cạnh tranh về giá nhằm hạn chế cạnh tranh ngày càng diễn ra phức tạp

và đa dạng hơn vì vậy mục đích để người viết chọn đề tài này là muốn tiếp cận nghiên cứu các vấn đề có tính chất lý luận và thực tiễn của các hành vi cạnh tranh về giá nhằm hạn chế cạnh tranh ở Việt Nam Từ đó có căn cứ để xác định hành vi cạnh tranh về giá nhằm hạn chế cạnh tranh trong thực tiễn và đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện các quy định pháp luật về lĩnh vực trên

3 Phạm vi nghiên cứu

Cạnh tranh là nguồn lực để phát triển kinh tế, bên cạnh những mặt tích cực mà cạnh tranh mang lại thì cũng có những mặt tiêu cực song hành Để giảm bớt áp lực mà môi trường cạnh tranh mang lại, các doanh nghiệp đã tiến hành thực hiện các hành vi cạnh tranh khác nhau nhằm làm ảnh hưởng đến quyền tự do cạnh tranh của các chủ thể khác tham gia thị trường, trong đó hành vi cạnh tranh về giá được sử dụng một cách rộng rãi và phổ biến nhất

Các hành vi cạnh tranh về giá rất đa dạng nhưng trong bài viết này người viết chỉ tập trung xoáy sâu nghiên cứu pháp luật về các hành vi hạn chế cạnh tranh liên quan đến giá trong Luật Cạnh tranh Ngoài ra, trong bài viết này người viết cũng không đề cập đến phần thủ tục xử lý đối với hành vi cạnh tranh về giá nhằm hạn chế cạnh tranh

4 Phương pháp nghiên cứu

Trong luận văn này, từ việc tham khảo những quy định của pháp luật, các tạp chí, giáo trình…và những thực tế phát sinh, người viết sử dụng phương pháp liệt kê, phân tích luật viết; phương pháp sưu tầm kết hợp với việc tham khảo, tổng hợp các tài liệu liên quan trong các sách tham khảo, giáo trình, báo, tạp chí và trên các trang mạng điện tử

5 Kết cấu luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, mục lục thì kết cấu luận văn gồm 3 chương:

Trang 8

Chương 1: Cơ sở lý luận chung về cạnh tranh và các hành vi cạnh tranh về giá nhằm hạn chế cạnh tranh trong Luật Cạnh tranh

Trong chương 1, nội dung mà người viết tập trung để làm rõ là nêu lên khái niệm cạnh tranh, pháp luật cạnh tranh, hành vi hạn chế cạnh tranh, giá và hành vi cạnh tranh về giá Bên cạnh đó là nêu lên những đặc điểm cơ bản, vai trò, ý nghĩa của cạnh tranh, pháp luật cạnh tranh, cách thức xác định hành vi hạn chế cạnh tranh và phân tích sự tác động của hành vi hạn chế cạnh tranh liên quan đến giá

Chương 2: Quy định của pháp luật về các hành vi hạn chế cạnh tranh liên quan đến giá theo quy định của Luật Cạnh tranh

Trong nội dung chương 2, người viết tập trung tìm hiểu quy định của pháp luật hiện hành về các hành vi hạn chế cạnh tranh liên quan đến giá

Chương 3: Thực tiễn và một số kiến nghị hoàn thiện các hành vi cạnh tranh

về giá nhằm hạn chế cạnh tranh trong Luật Cạnh tranh

Trong nội dung chương 3, người viết sẽ nêu lên những bất cập xuất phát từ chính những quy định của pháp luật và việc áp dụng quy định pháp luật liên quan đến các hành

vi hạn chế cạnh tranh liên quan đến giá Qua đó, đưa ra một số kiến nghị nhằm hoàn thiện những vần đề đã nêu

Trang 9

và pháp luật cạnh tranh, cách thức xác định hành vi hạn chế cạnh tranh cũng như những tác động của hành vi cạnh tranh về giá nhằm hạn chế cạnh tranh đối với các chủ thể của cạnh tranh và nền kinh tế

1.1 Khái quát chung về cạnh tranh và pháp luật về cạnh tranh

1.1.1 Khái quát chung về cạnh tranh

1.1.1.1 Khái niệm

Cạnh tranh là một hiện tượng tự nhiên, là mâu thuẫn quan hệ giữa các cá thể có chung một môi trường sống đối với điều kiện nào đó mà các cá thể cùng quan tâm Đó là một khái niệm chung cơ bản dành cho nhiều lĩnh vực trong xã hội Có thể nói là có cạnh

tranh thì mới có phát triển xã hội thành công Song thuật ngữ “cạnh tranh” này thường

được dùng nhiều nhất trong hoạt động kinh tế, đặc biệt là trong nền kinh tế thị trường – nền kinh tế hàng hóa như hiện nay Cạnh tranh được xem như là nền tảng, động lực để phát triển kinh tế, bất kỳ doanh nghiệp nào hoạt động trong cơ chế thị trường dù muốn hay không đều phải chịu ảnh hưởng ở mức độ khác nhau Các doanh nghiệp thành công trên thị trường là các doanh nghiệp có khả năng thích nghi với cạnh tranh và luôn giành thế chủ động cho mình trong các mối quan hệ kinh tế xã hội bằng các yếu tố thích hợp Các doanh nghiệp cần phải hiểu rõ cạnh tranh và các cách thức để nâng cao khả năng cạnh tranh của chính bản thân mình1

Ở Việt Nam vào thời kỳ kinh tế bao cấp khái niệm cạnh tranh chưa được quan tâm, các hoạt động kinh tế của đất nước được tiến hành dựa trên chế độ bao cấp của Nhà

1 Nguyễn Văn Tâm, Lý luận chung về cạnh tranh,

http://www.voer.edu.vn/bai-viet/kinh-te/ly-luan-chung-ve-canh-tranh.html, [ truy cập ngày 30-12-2012]

Trang 10

nước, công hữu về tư liệu sản xuất Vì thế cạnh tranh là một hoạt động không phù hợp với điều kiện kinh tế thời kỳ đó

Từ năm 1986, cùng với sự chuyển đổi nền kinh tế từ cơ chế kế hoạch hóa tập trung bao cấp sang cơ chế mở cửa thị trường, phát triển nền kinh tế theo định hướng đa phương hóa, đa dạng hóa ngành nghề kinh doanh của các chủ thể Kể từ đây, cạnh tranh được thừa nhận là một quy luật kinh tế khách quan và được coi như là một nguyên tắc cơ bản trong tổ chức, điều khiển nền kinh tế quốc dân nói chung và trong tổ chức, điều hành kinh doanh trong các doanh nghiệp nói riêng Cạnh tranh không những là môi trường của

sự phát triển mà còn là một yếu tố quan trọng làm lành mạnh hoá các quan hệ xã hội, góp phần cho sự phát triển của nền kinh tế

Cạnh tranh đã hình thành và phát triển ở các nước tư bản từ rất lâu nhưng cho đến nay, các nhà khoa học vẫn chưa đi đến một định nghĩa thống nhất về cạnh tranh Theo Black’Law Dictionary, cạnh tranh - với tư cách là động lực nội tại trong mỗi

chủ thể kinh doanh - được hiểu là “sự nổ lực hoặc hành vi của hai hay nhiều thương nhân nhằm tranh giành những lợi ích giống nhau từ chủ thể thứ ba”2 Theo từ điển kinh doanh của Anh, xuất bản năm 1992, cạnh tranh với tư cách là một hiện tượng xã

hội được định nghĩa là “sự ganh đua, sự kình địch giữa các nhà kinh doanh nhằm tranh giành cùng một loại tài nguyên hoặc cùng một loại khách hàng về phía mình”3

Trong cuốn Khuôn khổ cho việc xây dựng và thực thi luật và chính sách cạnh tranh, Ngân hàng Thế giới (WB) và Tổ chức Hợp tác và Phát triển (OECD) cho rằng “cạnh tranh trong nền kinh tế thị trường được dùng để chỉ một hoàn cảnh trong đó các doanh nghiệp hoặc người bán cố gắng một cách độc lập giành được sự quan tâm, chú ý của người mua để đạt được một mục tiêu kinh doanh nhất định như lợi nhuận, doanh thu, thị phần”4 Bên cạnh đó theo từ điển Cornu của Pháp thì cạnh tranh được

hiểu là “hành vi của doanh nghiệp độc lập với nhau và là đối thủ của nhau cung ứng hàng hóa, dịch vụ nhằm làm thỏa mãn yêu cầu giống nhau với sự may rủi của mỗi bên, thể hiện qua việc lôi kéo được hoặc để bị mất đi một lượng khách hàng thường xuyên” 5 Theo từ điển tiếng Việt thì cạnh tranh có nghĩa là “cố gắng giành phần hơn, phần thắng về mình giữa những người, những tổ chức hoạt động nhằm những lợi ích như nhau” 6 Theo cách hiểu này, cạnh tranh là một sự đối đầu giữa các đối thủ kinh doanh

2 Bryan A.Garmer, Black’ Law Dictionary, St Paul, 1999, trâng 278

3

Đặng Vũ Huân, Pháp luật về kiểm soát độc quyền và chống cạnh tranh không lành mạnh ở Việt Nam, Nxb Chính

trị quốc gia, 2004, trang 19

4 OECD & WB - Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế và Ngân hàng Thế giới, Khuôn khổ cho việc xây dựng và

thực thi luật và chính sách cạnh tranh, Hoàng Xuân Bắc dịch, 2004, trang 17

5 Nguyễn Hữu Huyên, Luật cạnh tranh của Pháp và Liên minh Châu Âu, Nxb Tư pháp, 2004, trang 11

6 Từ điển tiếng Việt, Viện Ngôn ngữ học, Nxb Đà Nẵng, 2000, trang 112

Trang 11

về giá cả, số lượng, dịch vụ hoặc kết hợp các yếu tố này và các yếu tố khác nhằm thu

hút khách hàng

Mặc dù có nhiều định nghĩa khác nhau, nhưng về bản chất cạnh tranh được coi là hành vi của hai hay nhiều chủ thể trong kinh doanh (trong nền kinh tế thị trường) với mục đích giành cho mình những ưu thế cao nhất so với các chủ thể khác bằng cách sử dụng những phương thức kinh doanh riêng Cạnh tranh chỉ xuất hiện và tồn tại trong nền kinh

tế thị trường, đó là sản phẩm của quá trình chuyển đổi cơ chế của kinh tế quốc gia Có tự

do cạnh tranh, nền kinh tế thị trường mới vận hành theo đúng quy luật tất yếu của nó và phát huy nội lực thúc đẩy nền kinh tế phát triển Tuy nhiên, bên cạnh những thành quả

mà cạnh tranh mang lại cho nền kinh tế, cho xã hội thì nó cũng đã đem đến nhiều hệ lụy gây ra hậu quả tiêu cực cho kinh tế quốc gia thông qua việc các chủ thể là đối thủ của nhau tìm cách loại bỏ đối thủ của mình bằng cách sử dụng các chiến lược kinh doanh gian dối, làm lũng đoạn thị trường kinh doanh, ảnh hưởng đến quyền lợi người tiêu dùng, chính vì thế các doanh nghiệp phải tự trang bị và cải tổ hoạt động kinh doanh của mình cho phù hợp với chiến lược phát triển kinh tế trong quá trình hội nhập như hiện nay, qua

đó mang lại hiệu quả tích cực cho xã hội như chất lượng, mẫu mã hàng hóa, dịch vụ tốt hơn với mức giá hợp lý

1.1.1.2 Đặc trưng của cạnh tranh

Cạnh tranh là thành quả tất yếu của nền kinh tế thị trường, làm nền tảng để thúc đẩy sự phát triển nền kinh tế của đất nước do đó cạnh tranh mang những đặc trưng cơ bản sau:

Thứ nhất, cạnh tranh là một hiện tượng xã hội xảy ra giữa những chủ thể kinh

doanh Cạnh tranh chỉ thực sự xuất hiện khi tồn tại những dấu hiệu sau đây:

• Có sự tồn tại của nhiều doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế và các hình thức sở hữu khác nhau Bởi vì cạnh tranh là sự ganh đua, kình địch giữa các chủ thể kinh doanh nhằm mục đích chiếm được lợi ích tối đa, mở rộng thị trường kinh doanh, đòi hỏi phải có nhiều doanh nghiệp cùng tham gia kinh doanh trên thị trường, cạnh tranh không thể nào xuất hiện khi chỉ có một doanh nghiệp Mặt khác, khi có sự xuất hiện của nhiều doanh nghiệp nhưng chúng chỉ thuộc một thành phần kinh tế duy nhất thì cạnh tranh cũng không còn ý nghĩa nữa vì cạnh tranh là hiện tượng xảy ra giữa các đối thủ của nhau Cạnh tranh chỉ thực sự trở thành động lực thúc đẩy các chủ thể kinh doanh hoạt động động hiệu quả và tốt hơn khi các doanh nghiệp thuộc về các thành phần kinh tế khác nhau cùng tiến

Trang 12

hành tranh giành một lợi ích trên thị trường, sự đạt được mục đích của người này

sẽ dẫn đến thất bại của người kia với những tính toán khác nhau

• Cạnh tranh chỉ có thể tồn tại nếu như các chủ thể có quyền tự do lựa chọn, quyết định công việc kinh doanh của mình Cạnh tranh chỉ diễn ra khi các bên cung, cầu

có khả năng lựa chọn, thay thế cũng như được tự do tham gia kinh doanh mà không bị bất kỳ một cản trở nào tức là được bảo hộ về mặt pháp luật Tự do kinh doanh, tự do lựa chọn đối tác, hình thức kinh doanh và tự chịu trách nhiệm cho hoạt động kinh doanh sẽ đảm bảo cho các doanh nghiệp có thể chủ động trong việc tiến hành các cuộc cạnh tranh gay gắt để tự tìm cơ hội mở rộng và phát triển thị trường qua đó cũng góp phần làm tăng sự sáng tạo của các chủ thể

Thứ hai, về mặt hình thức, cạnh tranh là sự ganh đua, kình địch giữa các doanh

nghiệp Nói cách khác, cạnh tranh suy cho cùng là phương thức giải quyết mâu thuẫn về lợi ích tiềm năng giữa các nhà kinh doanh với vai trò quyết định là người tiêu dùng7

Trong kinh doanh, lợi nhuận chính là mục tiêu hàng đầu thúc đẩy các doanh nghiệp tiến hành cạnh tranh với nhau, muốn đứng vững trên thị trường đòi hỏi các doanh nghiệp phải trang bị cho mình nguồn lực tài chính vững chắc bên cạnh đó là kiến thức kinh tế, xã hội, có trình độ quản lý và tri thức về khoa học công nghệ cao, có kinh nghiệm thương trường tốt8, nhằm nắm bắt tốt thị hiếu của người tiêu dùng bởi vì chính người tiêu dùng là người quyết định sự thành bại của một sản phẩm, là thước đo sự thành đạt của một chủ thể kinh doanh Các doanh ngiệp có khả năng thích nghi với sự biến đổi của thị trường thì sẽ thu hút được khách hàng bằng những sản phẩm chất lượng cao, giá cả phù hợp thông qua đó cũng thu hồi được nguồn vốn mình bỏ ra và một khoản lợi nhuận kinh doanh và ngược lại doanh nghiệp yếu kém sẽ không có lợi nhuận và quan trọng hơn là mất khách hàng, rời khỏi thị trường Đây chính là quy luật cạnh tranh, buộc các chủ thể tham gia trên thị trường phải tiến hành tranh giành với nhau bằng tiềm lực chất xám và tài chính

Cạnh tranh là sự ganh đua, giành giật khách hàng giữa các doanh nghiệp là đối thủ

cạnh tranh của nhau Khách hàng được coi là trung tâm thị trường, họ là những “trọng tài” vô tư và khách quan nhất, họ sẽ quyết định sự sống còn, tồn tại hay không tồn tại của

các chủ thể kinh doanh trong quá trình cạnh tranh trên thị trường9

7 Cách diễn tả của Nguyễn Như Phát & Bùi Nguyên Khánh, Tiến tới xây dựng pháp luật về cạnh tranh và chống độc

quyền trong điều kiện chuyển sang nền kinh tế thị trường, Nxb Công an nhân dân, 2001

8 Tăng Văn Nghĩa, Giáo trình luật cạnh tranh, Nxb Giáo dục Việt nam, 2009, trang 9

9 Đặng Vũ Huân, Pháp luật về kiểm soát độc quyền và chống cạnh tranh không lành mạnh ở Việt Nam, Nxb Chính

trị quốc gia, 2004, trang 33

Trang 13

Thứ ba, mục đích của các doanh nghiệp tham gia cạnh tranh là cùng giành thị

trường mua hoặc bán sản phẩm Cạnh tranh không chỉ diễn ra trên thị trường bán sản phẩm giữa những chủ thể kinh doanh tiến hành cung ứng sản phẩm ra thị trường mà nó còn xuất hiện ngay trên thị trường mua giữa các doanh nghiệp mà đối tượng để cạnh tranh chính là nguyên liệu đầu vào

Với sự giục giã của lợi nhuận, nhà kinh doanh khi tham gia vào thị trường luôn ganh đua để có thể tranh giành các cơ hội tốt nhất nhằm mở rộng thị trường Với sự giúp

đỡ của người tiêu dùng, thị trường sẽ chọn ra người thắng cuộc và trao cho họ lợi ích mà

họ mong muốn10 Đặc trưng này thể hiện các nội dung sau:

• Mục đích lợi nhuận chính là động lực thúc đẩy để các chủ thể kinh doanh tiến hành hoạt động cạnh tranh trên thị trường mua nguyên liệu lẫn thị trường bán sản phẩm Việc cùng chung mục đích lợi ích sẽ làm cho các doanh nghiệp trở thành đối thủ của nhau, sự tồn tại của cạnh tranh được xác định dựa trên sự tồn tại của thị trường liên quan đến các doanh nghiệp, cạnh tranh với nhau trong cùng một thị trường kinh doanh sản phẩm ở một khu vực nhất định Trong cùng một không gian, kinh doanh cùng mặt hàng thì sản phẩm của các doanh nghiệp có khả năng thay thế cho nhau, khi đó họ có chung khách hàng hoặc đối tác để tranh giành, có cùng một nguồn lợi ích để hướng đến, từ đó sẽ làm nảy sinh sự ganh đua, kình địch nhằm giành lấy lợi ích cho riêng mình Khả năng thay thế của một sản phẩm thường được mô tả bằng tính năng sử dụng, tính chất lý hóa và giá cả tương tự nhau11 Mọi sự khác biệt của một trong ba dấu hiệu trên sẽ làm phân hóa nhóm khách hàng tiêu thụ và các sản phẩm đó sẽ không thể thay thế được cho nhau

• Cạnh tranh là cuộc chạy đua không có hồi kết bởi nền kinh tế thị trường luôn vận động và thay đổi liên tục, các doanh nghiệp phải phát triển không ngừng hoạt động kinh doanh của mình để theo kịp sự biến động của kinh tế hội nhập Cạnh tranh không chỉ có mặt tích cực mà nó còn có cả mặt tiêu cực, nếu nó mang về cho người thắng cuộc sự tín nhiệm của khách hàng và các yếu tố khác như vốn, nguyên liệu, lợi nhuận…thì sẽ làm cho người thua cuộc phải thu hẹp thị trường và cũng có thể phải rút khỏi cuộc đua trên thương trường, vì vậy các chủ thể kinh doanh phải thực sự tài năng trong cuộc tranh giành gay gắt đó

Trang 14

1.1.1.3 Ý nghĩa của cạnh tranh

Trong nền kinh tế thị trường, nếu quan hệ cung cầu là cốt vật chất, giá cả là diện mạo thì cạnh tranh là linh hồn của thị trường12 Cạnh tranh là một quy luật khách quan của nền kinh tế, giống như những quy luật đào thải của tự nhiên, quy luật cạnh tranh có thể mang lại lợi ích cho người chiến thắng cũng như thiệt hại cho người thua cuộc trong một cuộc đua gay gắt nhằm mục đích giành lấy thị trường và người tiêu dùng, nhưng xét

về tổng thể các lợi ích mà cạnh tranh mang lại là rất lớn Cạnh tranh không những có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với mỗi doanh nghiệp mà nó còn là nền tảng cho nền kinh

tế phát triển, góp phần cho các doanh nghiệp cải thiện chất lượng hàng hóa phục vụ khách hàng tốt hơn qua từng thời kỳ của xã hội

Cạnh tranh làm cho thị trường diễn ra theo những quy luật tất yếu của cạnh tranh đồng thời làm tăng các giá trị kinh tế trong xã hội Chung quy cạnh tranh đã mang lại những thành quả tích cực sau13:

- Cạnh tranh giúp cho các nhà kinh doanh xác định đúng nhu cầu trên thị trường, giúp họ có thể điều chỉnh hoạt động kinh doanh cho phù hợp với thị hiếu của người tiêu dùng Bởi vì, khi doanh nghiệp nào được người tiêu dùng lựa chọn nghĩa là doanh nghiệp

đó đáp ứng được mong muốn của người tiêu dùng và khi đó các doanh nghiệp khác cũng tiến hành cải tiến để được người tiêu dùng lựa chọn

- Cạnh tranh khuyến khích việc áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật mới vào sản xuất, kinh doanh Khi một doanh nghiệp đưa ra sản phẩm phù hợp với yêu cầu của thị trường, sản phẩm đó nhanh chóng chiếm được ưu thế và tạo điều kiện để doanh nghiệp thu lợi nhuận cao Điều này làm cho các doanh nghiệp đối thủ phải tiến hành cải tiến mẫu

mã, chất lượng hàng hóa để đáp ứng được thị hiếu của người tiêu dùng Để đạt được điều

đó thì các doanh nghiệp phải tăng cường ứng dụng những tiến bộ khoa học công nghệ tiên tiến để cải thiện chất lượng sản phẩm đồng thời giảm chi phí sản xuất Như vậy, khoa học công nghệ ngày càng được phát triển và áp dụng rộng rãi trong hoạt động sản xuất, kinh doanh

- Cạnh tranh sẽ giúp cho nhu cầu của xã hội được đáp ứng ngày càng tốt hơn, làm cho nhu cầu luôn được thỏa mãn một cách tối ưu nhất Khi cạnh tranh diễn ra, các doanh nghiệp là đối thủ cạnh tranh với nhau phải chú ý đến những sự thay đổi nhu cầu của người tiêu dùng để có thể đưa ra những hàng hóa, dịch vụ phù hợp nhất Điều này làm

12 Cách diễn tả của Nguyễn Như Phát, Bùi Nguyên Khánh, Tiến tới xây dựng pháp luật về cạnh tranh và chống độc

quyền trong điều kiện chuyển sang nền kinh tế thị trường, Nxb Công an nhân dân, H.2001

13 Đặng Vũ Huân, Pháp luật về kiểm soát độc quyền và chống cạnh tranh không lành mạnh ở Việt Nam, Nxb Chính

trị quốc gia Hà Nội, 2004, tr 23-26

Trang 15

cho hàng hóa luôn có xu hướng được đa dạng hóa, chất lượng tốt hơn và giá cả hợp lý hơn Chức năng này làm cho các doanh nghiệp phải liên tục sáng tạo và phát triển những sản phẩm, dịch vụ mới tốt và hấp dẫn hơn, cả về chất lượng và giá cả

- Cạnh tranh giúp cho việc sử dụng các nguồn tài nguyên một cách tối ưu nhất Do quy luật cạnh tranh trên thị trường, các chủ thể khi tham gia kinh doanh muốn đạt được lợi nhuận tối đa thì không thể thực hiện bằng phương thức bóc lột khách hàng mà phải bằng cách tận dụng tối đa các nguồn lực về vật chất và nhân lực của mình vào hoạt động sản xuất, kinh doanh Họ luôn phải sử dụng một cách tối ưu và hợp lý nhất các nguồn lực tài nguyên này sao cho chi phí sản xuất là thấp nhất nhưng vẫn đảm bảo chất lượng hàng hóa Chính vì đặc điểm này mà nguồn lực tài nguyên được phát huy triệt để, tránh lãng phí

- Cho phép người tiêu dùng có thể lựa chọn người cung cấp cũng như hàng hóa, dịch vụ mà họ muốn Điều này làm cho họ có thể tránh được những hàng hóa, dịch vụ kém chất lượng và được bảo vệ khỏi các hành vi tiêu cực của các chủ thể cạnh tranh trên mặt trái của thị trường, ví dụ khi họ áp đặt điều kiện thương mại, lạm dụng quyền lực thị trường đối với khách hàng…

- Cạnh tranh cũng định hướng phân phối nguồn lực và thu nhập tương ứng với hoạt động và tính hiệu quả của các chủ thể tham gia thị trường Cạnh tranh tạo ra áp lực liên tục đối với các hoạt động sản xuất, kinh doanh trong nền kinh tế thị trường và vì vậy, không một chủ thể kinh doanh nào có thể mãi mãi thu lợi nhuận cao và thống trị hệ thống phân phối trên thị trường Trong từng thời điểm, một sản phẩm hàng hóa với những ưu điểm tối ưu được sự tín nhiệm của người tiêu dùng, chiếm ưu thế trên thị trường nhưng vị trí đó luôn bị đe dọa bởi những loại sản phẩm cùng loại khác tiến bộ hơn Có cạnh tranh, các nhà kinh doanh không thể lạm dụng được ưu thế của mình Vì vậy, cạnh tranh là một yếu tố tác động tích cực đến việc phân phối và điều hòa thu nhập

- Cạnh tranh là một quá trình lựa chọn những chủ thể đủ năng lực và loại bỏ những chủ thể kinh doanh kém hiệu quả, đồng thời mở ra cơ hội cho những chủ thể mới tốt hơn, năng động hơn gia nhập thị trường Song hành cùng cạnh tranh là quy luật đào thải những chủ thể hoạt động kém hiệu quả Khi tham gia vào thị trường các doanh

nghiệp phải luôn “làm mới mình” để đáp ứng nhu cầu luôn vận động của khách hàng Vì

thế, những doanh nghiệp nào có năng lực sản xuất tốt nhất thì sẽ thỏa mãn được yêu cầu của người tiêu dùng, có thể chiếm được ưu thế trên thị trường, ngược lại doanh nghiệp kém linh hoạt, hoạt động kém hiệu quả thì sẽ bị cạnh tranh loại bỏ ra khỏi thị trường

Trang 16

- Cạnh tranh công bằng sẽ làm giảm việc tích lũy quyền lực kinh tế và đồng thời làm giảm tình trạng độc quyền, tập trung kinh tế Khi nền kinh tế mở cửa thị trường, cạnh tranh là quyền tự do của các doanh nghiệp thì quyền lực thị trường của các chủ thể kinh doanh luôn thay đổi theo từng thời kỳ Thị phần của các doanh nghiệp trên thị trường không đứng im mà luôn luôn thay đổi, do các doanh nghiệp tiềm năng có thể gia nhập thị trường hoặc sự mở rộng thị trường của các doanh nghiệp đang hoạt động, quy luật này đã làm cho tình trạng độc quyền giảm xuống một cách đáng kể

1.1.2 Tổng quan về pháp luật cạnh tranh

1.1.2.1 Khái niệm pháp luật cạnh tranh

Pháp luật xuất hiện là do nhu cầu điều chỉnh các mối quan hệ xã hội và phải phù hợp với nền tảng của xã hội Cơ sở cho sự ra đời của pháp luật cạnh tranh chính là sự chuyển đổi cơ cấu từ kinh tế bao cấp sang kinh tế thị trường, mà nền tảng của kinh tế thị trường chính là sự tự do kinh doanh, tự do lựa chọn ngành nghề…theo đó có tự do cạnh tranh Nhiệm vụ chính của pháp luật cạnh tranh chính là điều chỉnh quan hệ cạnh tranh thông qua việc quy định các hành vi ứng xử của chủ thể tham gia kinh doanh cũng như các biện pháp tác động cần thiết đối với những chủ thể có hành vi vi phạm pháp luật cạnh tranh, việc ban hành đạo luật cạnh tranh chính là tạo cơ sở pháp lý nhằm mục đích đảm bảo môi trường kinh doanh công bằng, bình đẳng cho các chủ thể cạnh tranh khi tham gia vào thị trường

Hiểu theo nghĩa rộng thì pháp luật cạnh tranh bao gồm: “Pháp luật chống cạnh tranh không lành mạnh; Pháp luật chống hạn chế cạnh tranh; Những quy định điều chỉnh hoạt động tố tụng cạnh tranh và tất cả các quy phạm pháp luật điều chỉnh hoạt động cạnh tranh trong các văn bản pháp luật có liên quan” Theo nghĩa hẹp, pháp luật

cạnh tranh là một đạo luật và những văn bản hướng dẫn thi hành điều chỉnh hoạt động cạnh tranh nhằm bảo vệ tự do cạnh tranh, cơ cấu thị trường cũng như môi trường cạnh tranh bình đẳng và công bằng14

Người ta có thể tiếp cận pháp luật cạnh tranh từ hai góc độ: những công cụ pháp luật bảo đảm để cạnh tranh có thể diễn ra (pháp luật chống hạn chế cạnh tranh), những công cụ đảm bảo cho cạnh tranh diễn ra một cách văn minh và công bằng (pháp luật chống cạnh tranh không lành mạnh) Điểm khác biệt trọng yếu giữa hai nhóm luật này thể hiện ở chổ: luật kiểm soát hạn chế cạnh tranh xóa bỏ cản trở để cuộc cạnh tranh được diễn ra và ngược lại trong cuộc ganh đua đó xuất hiện hành vi bất chính thì chúng được

xử lý bởi pháp luật chống cạnh tranh không lành mạnh Tuy nhiên, mọi cách phân chia

14 Tăng Văn Nghĩa, Giáo trình luật cạnh tranh, Nxb Giáo dục Việt Nam, 2009, trang 38

Trang 17

đều tương đối, khó tránh khỏi chồng chéo, các hành vi bán phá giá, phân biệt đối xử, tẩy chay…vừa có thể là dấu hiệu lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường để cản trở cạnh tranh vừa mang tính cạnh tranh không lành mạnh – chúng có thể đồng thời thuộc phạm vi điều chỉnh của cả hai nhóm pháp luật kể trên

1.1.2.2 Đặc điểm của pháp luật cạnh tranh

Pháp luật cạnh tranh được ban hành nhằm mục đích điều tiết nền kinh tế, đảm bảo cho các chủ thể kinh doanh tham gia vào thị trường được cạnh tranh một cách công bằng bằng cách sử dụng những thủ thuật kinh doanh khác nhau nhưng phải không trái với quy định của pháp luật để đạt được mục đích cuối cùng là lợi nhuận Do đó, pháp luật cạnh tranh có một số đặc điểm cơ bản sau15:

- Pháp luật cạnh tranh là một bộ phận của pháp luật điều tiết thị trường nên nó được xây dựng hết sức mềm dẻo để thích ứng với việc điều chỉnh các hành vi cạnh tranh rất đa dạng trên thị trường Tính mềm dẻo làm cho nhiều hành vi (nhất là trong pháp luật

chống hạn chế cạnh tranh) được điều chỉnh ở dạng “có thể bị cấm” Bởi vậy, khi áp dụng

luật, các cơ quan có thẩm quyền thường phải hết sức linh hoạt, cân nhắc lợi ích của các bên trong mỗi trường hợp cụ thể nhằm vừa đảm bảo khuyến khích cạnh tranh, vừa hạn chế những hành vi cạnh tranh trái pháp luật

- Do có nhiệm vụ chính là điều tiết thị trường, điều tiết nền kinh tế, cho nên pháp luật cạnh tranh có mối liên hệ chặt chẽ với kinh tế và phải phù hợp với các chuẩn mực kinh tế Các quy định pháp luật có liên quan chặt chẽ đến học thuật, kiến thức của kinh tế

Do đó, khi áp dụng các quy phạm pháp luật cạnh tranh vào các trường hợp cụ thể, về cơ bản người ta thường sử dụng phương pháp tiếp cận dưới giác độ kinh tế

- Pháp luật cạnh tranh mang đặc điểm của cả luật công lẫn luật tư, nó nội hàm những vấn đề liên quan đến kinh tế của nhiều lĩnh vực pháp luật quan trọng như: dân sự, thương mại, hành chính… Vì vậy, pháp luật cạnh tranh không có chế tài riêng, khi áp dụng người ta phải sử dụng chế tài của một số lĩnh vực pháp luật khác, đó có thể là chế tài dân sự (áp dụng đối với các hành vi cạnh tranh không lành mạnh, chủ yếu là bồi thường thiệt hại, buộc chấm dứt hành vi vi phạm…) hoặc chế tài hành chính (áp dụng đối với các hành vi thỏa thuận hạn chế cạnh tranh, lạm dụng vị trí thống lĩnh, tập trung kinh

tế, chủ yếu là phạt tiền)

- Khác với các lĩnh vực pháp luật khác, ngoài các quy định về nội dung điều chỉnh hoạt động cạnh tranh, pháp luật cạnh tranh còn có các quy định điều chỉnh hoạt động tố tụng cạnh tranh

15 Tăng Văn Nghĩa, Giáo trình luật cạnh tranh, Nxb Giáo dục Việt Nam, 2009, trang 39-40

Trang 18

1.1.2.3 Vai trò của pháp luật cạnh tranh

Pháp luật cạnh tranh luôn có hai lĩnh vực cơ bản là pháp luật chống cạnh tranh không lành mạnh và pháp luật chống hạn chế cạnh tranh nhưng cả hai lĩnh vực pháp luật này đều hướng tới mục đích chung là góp phần tạo lập và thúc đẩy môi trường kinh doanh bình đẳng, tự do cũng như bảo vệ, khuyến khích cạnh tranh lành mạnh để bảo đảm cho cạnh tranh được diễn ra đúng ý nghĩa vốn có và không trái với quy định của pháp luật, bảo vệ lợi ích chính đáng của người tiêu dùng, các chủ thể cạnh tranh và của Nhà nước, góp phần thúc đẩy sự phát triển nền kinh tế - xã hội

1.2 Những vấn đề chung về hành vi hạn chế cạnh tranh

1.2.1 Khái niệm và ảnh hưởng của hành vi hạn chế cạnh tranh

Nguyên tắc tự do cạnh tranh được pháp luật của hầu hết các nước trên thế giới thừa nhận và bảo vệ Tuy nhiên, trong môi trường cạnh tranh, các tập đoàn có sức mạnh kinh tế đã dùng quyền lực tài chính, công nghệ để hạn chế quyền tự do của các chủ thể khác ngày càng diễn ra phổ biến Đây là tiền đề cho sự ra đời của pháp luật chống hành vi hạn chế cạnh tranh

Nếu như Luật cạnh tranh của nhiều nước trên thế giới sử dụng chống hoặc kiểm

soát độc quyền hay Tờ - rớt thì Luật Cạnh tranh của Việt Nam sử dụng khái niệm “hạn chế cạnh tranh” Theo quy định tại khoản 3 Điều 3 Luật Cạnh tranh năm 2004 thì “Hành

vi hạn chế cạnh tranh là hành vi của doanh nghiệp làm giảm, sai lệch, cản trở cạnh tranh trên thị trường, bao gồm hành vi thỏa thuận hạn chế cạnh tranh, lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường, lạm dụng vị trí độc quyền hay tập trung kinh tế”

Định nghĩa trên cũng tạo ra cơ cấu pháp luật về các nhóm hành vi hạn chế cạnh tranh theo thông lệ quốc tế, bao gồm 3 bộ phận:

- Thỏa thuận hạn chế cạnh tranh (Các – ten);

- Lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường (bao gồm cả vị trí độc quyền);

- Tập trung kinh tế

Để phân biệt hành vi cạnh tranh không lành mạnh và hành vi hạn chế cạnh tranh, chúng ta dựa vào sự ảnh hưởng của chúng đối với mức độ cạnh tranh trên thị trường thông qua đối tượng mà chúng xâm hại và hậu quả xảy ra Do hành vi hạn chế cạnh tranh nguy hại về mức độ cũng như trên phạm vi rộng lớn hơn cho thị trường so với hành vi cạnh tranh không lành mạnh, nên pháp luật chống hạn chế cạnh tranh thường có biện pháp xử lý nghiêm khắc hơn Tuy nhiên không phải bất cứ hành vi thỏa thuận nào cũng

bị xem là bất hợp pháp mà chỉ khi nào chúng rơi vào các trường hợp do luật liệt kê thì

Trang 19

mới bị cấm Ngoài ra còn có rất nhiều trường hợp ngoại lệ về hạn chế cạnh tranh có thể được miễn trừ khi có những lý do kinh tế chính đáng16 Vì đây là pháp luật bảo vệ tự do cạnh tranh, bảo vệ cơ cấu và tương quan trên thị trường nên phải cân nhắc đến quyền lợi của nhiều bên trong quan hệ cạnh tranh

1.2.2 Đặc điểm của hành vi hạn chế cạnh tranh

Tuy có nhiều dạng biểu hiện khác nhau nhưng những hành vi hạn chế cạnh tranh này đều có chung những đặc điểm cơ bản sau17:

- Thứ nhất, về chủ thể thực hiện hành vi hạn chế cạnh tranh

Theo Luật Cạnh tranh, hành vi hạn chế cạnh tranh là hành vi của doanh nghiệp Hay nói cách khác, doanh nghiệp là chủ thể của hành vi hạn chế cạnh tranh Theo Điều 2 Luật Cạnh tranh năm 2004 thì doanh nghiệp là các tổ chức và cá nhân kinh doanh, vì vậy, các chủ thể khác như các Hiệp hội ngành nghề hoạt động ở Việt Nam và các cơ quan quản lý Nhà nước có những hành vi hạn chế cạnh tranh… thì những hành vi đó không được coi là hành vi hạn chế cạnh tranh theo định nghĩa nói trên

- Thứ hai, về mục đích của hành vi hạn chế cạnh tranh

Hành vi hạn chế cạnh tranh và hành vi cạnh tranh không lành mạnh đều tác động xấu đến môi trường kinh doanh, làm hạn chế, thậm chí triệt tiêu sự cạnh tranh công bằng, bình đẳng và lành mạnh, gây khó khăn và ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của Nhà nước, lợi ích công cộng, quyền và lợi ích hợp pháp của doanh nghiệp, của người tiêu dùng và của chủ thể khác Tuy nhiên, mức độ nguy hại của hai nhóm hành vi này là khác nhau Theo quy định của Luật Cạnh tranh, hành vi hạn chế cạnh tranh khi thực hiện sẽ nhằm mục đích làm giảm, sai lệch, cản trở cạnh tranh trên thị trường Tuy nhiên, thế nào

là giảm, sai lệch, cản trở cạnh tranh trên thị trường thì Điều 3 Luật Cạnh tranh năm 2004 lại không giải thích Lý giải về điều này là do, hành vi hạn chế cạnh tranh có nhiều loại khác nhau nên không thể đưa ra một khái niệm chung chứa đựng những căn cứ cụ thể để xác định khả năng và mức độ thiệt hại của nó đối với thị trường Theo đó, từng hành vi hạn chế cạnh tranh có thể làm giảm, sai lệch, cản trở cạnh tranh trên thị trường ở những mức độ khác nhau

Mục đích thực hiện hành vi hạn chế cạnh tranh là làm giảm, sai lệch, cản trở cạnh tranh trên thị trường nên những hành vi này có thể làm biến dạng môi trường cạnh tranh, làm thay đổi cấu trúc thị trường và tương quan giữa các doanh nghiệp Thậm chí nhiều

16 Tăng Văn Nghĩa, Giáo trình luật cạnh tranh, Nxb Giáo dục Việt Nam, 2009, trang 43

17 Bùi Ngọc Cương, Đồng Ngọc Ba, Lê Đình Vinh, Đoàn Trung Kiên, Giáo trình Luật thương mại, Nxb Giáo dục

Việt nam, 2010, trang 74

Trang 20

hành vi hạn chế cạnh tranh còn có khả năng củng cố và duy trì vị thế thống lĩnh và độc quyền trên thị trường, làm lũng đoạn thị trường, bóc lột khách hàng qua đó ảnh hưởng chung đến nền kinh tế Vì vậy, Nhà nước sẽ có cơ chế và mức độ can thiệp nghiêm khắc đối với những hành vi hạn chế cạnh tranh so với những hành vi cạnh tranh không lành mạnh

- Thứ ba, về nội dung của hành vi hạn chế cạnh tranh

Nội dung của hành vi hạn chế cạnh tranh thường tập trung vào các yếu tố cơ bản của quan hệ thị trường mà doanh nghiệp hoặc một nhóm doanh nghiệp đang cạnh tranh với nhau về giá, thị trường, trình độ kỹ thuật, công nghệ, điều kiện kí kết hợp đồng… Khi hành vi hạn chế cạnh tranh xuất hiện thì các yếu tố trên sẽ trở thành tiêu chuẩn thống nhất, triệt tiêu đi sự cạnh tranh trên thị trường

1.2.3 Căn cứ xác định hành vi hạn chế cạnh tranh

1.2.3.1 Xác định thị phần, tổng thị phần

Theo quy định của Luật Cạnh tranh năm 2004 tại khoản 5 Điều 3 “Thị phần của doanh nghiệp đối với một loại hàng hóa, dịch vụ nhất định là tỷ lệ phần trăm giữa doanh thu bán ra của doanh nghiệp này với tổng doanh thu của tất cả các doanh nghiệp kinh doanh loại hàng hóa, dịch vụ đó trên thị trường liên quan hoặc tỷ lệ phần trăm giữa doanh số mua vào của doanh nghiệp này với tổng doanh số mua vào của tất cả các doanh nghiệp kinh doanh loại hàng hóa, dịch vụ đó trên thị trường liên quan theo tháng, quý, năm”

Như vậy, căn cứ để xác định thị phần là: tổng doanh thu hoặc doanh số của tất cả các doanh nghiệp cùng trên một thị trường liên quan; doanh thu hoặc doanh số của doanh nghiệp, nhóm doanh nghiệp bị điều tra Thị phần là một tiêu chí quan trọng để xác định

sự thành công và là chỉ số cho thấy vai trò quan trọng của doanh nghiệp trên thị trường,

có thể xác định thị phần của doanh nghiệp theo công thức: thị phần của doanh nghiệp X = (doanh thu của doanh nghiệp X/tổng doanh thu hoặc doanh số của ngành) * 100

Theo khoản 6 Điều 3 Luật Cạnh tranh năm 2004 quy định “Thị phần kết hợp là tổng thị phần trên thị trường liên quan của các doanh nghiệp tham gia vào thỏa thuận hạn chế cạnh tranh hoặc tập trung kinh tế” Trong trường hợp có nhiều doanh nghiệp

tham gia thỏa thuận hạn chế cạnh tranh hoặc tập trung kinh tế thì sẽ xác định thị phần của từng doanh nghiệp có liên quan trong vụ việc, sau đó tính tổng thị phần của các doanh nghiệp đó trên thị trường liên quan sẽ tính được thị phần kết hợp Tuy nhiên, thị phần luôn thay đổi theo thời gian chứ không cố định lâu dài, mọi diễn biến trên thị trường hoặc những yếu tố khách quan khác đều có thể ảnh hưởng đến cấu trúc thị phần của thị trường

Trang 21

liên quan đó Vì vậy, để giải quyết các vụ việc cạnh tranh hiệu quả, khi xác định thị phần kết hợp trong các vụ việc cạnh tranh cần phải xem xét đầy đủ các yếu tố của thị trường để xác định được chính xác hơn

1.2.3.2 Xác định thị trường liên quan

Thị trường là nơi gặp gỡ giữa sở thích của người tiêu dùng và khả năng đáp ứng của nhà sản xuất hay thị trường là nơi gặp gỡ giữa cung và cầu về một loại hàng hóa hoặc dịch vụ nhất định Xác định thị trường liên quan là một yêu cầu cơ bản và tiên quyết đặt

ra cho cơ quan quản lý cạnh tranh trong việc xử lý các hành vi hạn chế cạnh tranh18 Chỉ khi nào xác định được thị trường liên quan thì mới có cơ sở để xác định được những doanh nghiệp nào là đối thủ cạnh tranh của nhau và thị phần của doanh nghiệp là bao nhiêu Thị trường liên quan là khái niệm được sử dụng trong phân tích cạnh tranh để chỉ giới hạn thị trường nơi diễn ra các hoạt động cạnh tranh thuộc phạm vi điều chỉnh của Luật Cạnh tranh

Theo quy định tại khoản 1 Điều 3 Luật Cạnh tranh năm 2004 giải thích khái niệm thị trường liên quan bao gồm thị trường sản phẩm liên quan (là thị trường bao gồm những hàng hóa, dịch vụ có thể thay thế cho nhau về đặc tính, mục đích sử dụng và giá cả) và thị trường địa lý liên quan (là thị trường của những hàng hóa, dịch vụ có thể thay thế cho nhau với các điều kiện cạnh tranh tương tự và có sự khác biệt đáng kể với các khu vực lân cận)

- Thị trường sản phẩm liên quan

Thị trường sản phẩm liên quan là thị trường của những hàng hóa, dịch vụ có thể thay thế cho nhau về đặc tính, mục đích sử dụng và giá cả Khả năng thay thế cho nhau

phản ánh mức độ cạnh tranh giữa các sản phẩm tương tự nhau Hiện nay, sự đa dạng của nhu cầu thị trường đã kéo theo sự đa dạng của các sản phẩm, mặc dù sản xuất cùng loại sản phẩm nhưng các doanh nghiệp khác nhau thì có những khác biệt nhất định về sản phẩm đó

Tính chất của hàng hóa, dịch vụ được xác định theo các đặc tính lý hóa, mục đích

sử dụng nhằm có thể phân biệt với hàng hóa khác hoặc có thể xếp các hàng hóa cùng loại với nhau Các sản phẩm được coi là có thể thay thế cho nhau về mục đích sử dụng, về đặc tính nếu như chúng có cùng mục đích sử dụng, có nhiều tính chất vật lý, tính chất hóa học, tác động phụ với người sử dụng giống nhau19 Tuy nhiên, dưới góc độ khoa học có hai nội dung cần phải xem xét là:

18 Vấn đề này không được đặt ra khi xác định hành vi cạnh tranh không lành mạnh

19 Khoản 1, 2 Điều 15 Nghị định 116/2005/NĐ-CP

Trang 22

• Thứ nhất, mục đích sử dụng của hàng hóa, dịch vụ được xác định căn cứ vào mục

đích sử dụng chủ yếu nhất của hàng hóa, dịch vụ đó20 Người sử dụng thường quan niệm rằng hàng hóa, dịch vụ nào có chung mục đích sử dụng thì đó là các hàng hóa, dịch vụ có thể thay thế cho nhau Vì vậy khi phân tích dấu hiệu này, cơ quan

có thẩm quyền cần phải nhìn nhận hiện tượng dưới góc độ của người sử dụng hàng hóa, dịch vụ

• Thứ hai, việc xác định sự tương tự về đặc tính của sản phẩm đòi hỏi phải phân

tích các yếu tố trong cấu tạo vật chất của sản phẩm như yếu tố lý hóa, các tác động phụ đối với người sử dụng Các sản phẩm không tương đồng nhau về những yếu

tố vừa nêu thì không thể thay thế cho nhau Vì vậy việc xác định sự tương đồng về yếu tố lý hóa của sản phẩm là cơ sở quan trọng để đánh giá sự thay thế của các sản phẩm đó Theo Nghị định số 116/2005/NĐ-CP của Chính phủ ngày 15/9/2005 quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Cạnh tranh (Nghị định 116/2005/NĐ-CP) thì hàng hóa, dịch vụ được coi là có thể thay thế cho nhau về đặc tính nếu hàng hóa, dịch vụ đó có nhiều đặc tính về vật lý, hóa học, tính năng kỹ thuật, tác động phụ đối với người sử dụng và khả năng hấp thụ giống nhau

Xác định phản ứng của người tiêu dùng khi có sự thay đổi giá cả của sản phẩm Việc điều tra về khả năng có thể thay thế giữa các sản phẩm cần phải được kiểm chứng từ phản ứng của khách hàng trên thị trường đối với các sản phẩm khi có sự thay đổi về giá của chúng trên thị trường Khi khách hàng có thái độ sẵn sàng thay đổi thói quen sử dụng một sản phẩm nhất định nào đó bằng sản phẩm khác, có nghĩa là hai sản phẩm trên có thể thay thế cho nhau, đồng thới đáp ứng các điều kiện nhất định Điểm c khoản 5 Điều 4

Nghị định số 116/2005/NĐ-CP quy định “Hàng hóa, dịch vụ được coi là có thể thay thế cho nhau về giá cả nếu trên 50% của lượng ngẫu nhiên 1000 người tiêu dùng sinh sống tại khu vực địa lý liên quan chuyển sang mua hoặc có ý định mua hàng hóa, dịch vụ khác

có đặc tính, mục đích sử dụng giống với hàng hóa, dịch vụ mà họ đang sử dụng hoặc có ý định sử dụng trong trường hợp giá của hàng hóa, dịch vụ đó tăng lên quá 10% và được duy trì trong sáu tháng liên tiếp”

Ngoài các căn cứ nêu trên thì trong những trường hợp cụ thể Hội đồng xử lý vụ việc cạnh tranh có thể xem xét thêm các yếu tố khác như: tỷ lệ thay đổi của cầu đối với một loại hàng hóa, dịch vụ khi có sự thay đổi về giá cả của hàng hóa, dịch vụ khác; thời gian cung ứng hàng hóa, dịch vụ ra thị trường khi có sự gia tăng đột biến về cầu

20 Theo Nghị định số 116/2005/NĐ-CP

Trang 23

- Thị trường địa lý liên quan

Thị trường địa lý liên quan được xác định là một khu vực địa lý cụ thể trong đó có các hàng hoá, dịch vụ có thể thay thế cho nhau với các điều kiện cạnh tranh tương tự và

có sự khác biệt đáng kể với các khu vực địa lý lân cận Việc xác định khu vực không gian

liên quan được thực hiện dựa trên quan điểm của người sử dụng về khả năng thay thế cho nhau của những sản phẩm được sản xuất hoặc được mua bán tại những địa điểm khác nhau Nếu người đang sử dụng sản phẩm được bán hoặc được sản xuất tại một địa điểm nhất định chuyển sang mua sản phẩm tương tự tại địa điểm khác để phản ứng lại việc tăng giá đáng kể trong một thời gian đủ dài, khi đó, hai địa điểm được xem xét nằm trong khu vực địa lý mà các sản phẩm có thể thay thế cho nhau, nói cách khác là chúng có cùng thị trường địa lý liên quan và ngược lại21

Khu vực địa lý là những vùng thị trường được đo bằng khoảng cách không gian, bao gồm các địa điểm mà tại đó những sản phẩm có thể thay thế cho nhau được phân phối cho khách hàng, có thể là một quận, một thành phố, hoặc trong phạm vi cả nước…

Trong ranh giới của khu vực địa lý đó có cơ sở kinh doanh của doanh nghiệp tham gia phân phối sản phẩm liên quan và khu vực địa lý lân cận đủ gần có cơ sở kinh doanh của doanh nghiệp khác để có thể tham gia phân phối sản phẩm liên quan trên khu vực địa lý nói trên Các điều kiện cạnh tranh được xem xét để xác định bao gồm chi phí vận chuyển,

thời gian vận chuyển giữa các địa điểm trong cùng một khu vực thị trường hoặc giữa vùng thị trường này với vùng thị trường khác; sự tồn tại của các rào cản gia nhập vùng thị trường được xem xét

Tóm lại, việc xác định thị trường địa lý liên quan là việc xem xét thái độ của người tiêu dùng khi giá hàng hóa ở khu vực này tăng so với khu vực khác Bên cạnh đó, cũng phải xác định thêm các yếu tố khác có thể tác động đến nhu cầu, tâm lý tiêu dùng của khách hàng (như chi phí và thời gian đi lại giữa các địa điểm khác nhau và khả năng tham gia phân phối trong khu vực đó) Bởi khi thay đổi địa điểm mua sản phẩm từ nơi này sang nơi khác chỉ vì giá của sản phẩm mà họ đang sử dụng tăng, người tiêu dùng sẽ phải cân nhắc xem các chi phí phát sinh và thời gian bỏ ra cho việc đi lại là có lợi hơn so với sự tăng giá hay không Nếu họ chấp nhận được thì các địa điểm khác nhau đó được coi là cùng một khu vực mà sản phẩm có thể thay thế cho nhau và ngược lại

- Xác định các doanh nghiệp trên cùng một thị trường liên quan

Việc nhận dạng thị trường liên quan chỉ có thể được coi là hoàn tất cho đến khi cơ cấu thị trường đã được mô tả đầy đủ Thị trường là nơi gặp gỡ giữa cung và cầu, do đó,

21 Nguyễn Ngọc Sơn, Xác định thị trường liên quan theo Luật Cạnh tranh năm 2004,

http://thongtinphapluatdansu.edu.vn/2008/08/25/1575/ , [truy cập ngày 14/02/2013]

Trang 24

bên cạnh việc phân tích các dấu hiệu về khả năng thay thế của cầu (tính chất sản phẩm, khu vực địa lý…), cần phải xác định khả năng thay thế từ phía cung bằng cách xác định

có bao nhiêu doanh nghiệp tham gia vào thị trường và thị phần của họ Làm tốt công việc này sẽ có được những kết luận đúng về cấu trúc thị trường liên quan của hiện tại và trong tương lai gần, đồng thời có được số liệu về tổng thị phần trên thị trường làm cơ sở xác định vị trí của từng doanh nghiệp22

Trong nền kinh tế thị trường không chỉ có các doanh nghiệp tham gia hiện tại mà các doanh nghiệp tiềm năng có thể tham gia thay đổi liên tục, phạm vi đối thủ cạnh tranh trên cùng một thị trường của doanh nghiệp luôn là một phạm trù mở, tức là nó luôn hướng về tương lai với khả năng thay thế về cung Vì lẽ đó, quá trình xác định các doanh nghiệp trên cùng một thị trường liên quan, các cơ quan có thẩm quyền cần tiến hành qua hai bước:

• Thứ nhất, xác định số lượng các doanh nghiệp cùng đang kinh doanh các sản

phẩm nằm trong phạm vi có thể thay thế cho nhau

• Thứ hai, xác định các doanh nghiệp có khả năng thay thế về cung hay nói cách

khác đây là những doanh nghiệp đang kinh doanh trên thị trường khác, song có khả năng chuyển sang kinh doanh sản phẩm có thể thay thế nói trên Điều này được pháp luật Việt Nam quy định tại Điều 8 Nghị định số 116/2005/NĐ-CP, theo

đó, “Khả năng thay thế về cung được hiểu là khả năng của doanh nghiệp đang sản xuất, phân phối một hàng hoá, dịch vụ chuyển sang sản xuất, phân phối dịch

vụ khác trong khoảng thời gian ngắn và không có sự tăng lên đáng kể nào về chi phí trong bối cảnh có sự tăng lên về giá của hàng hoá, dịch vụ khác đó” Theo các

nhà hoạch định chính sách cạnh tranh của Tổ chức hợp tác và phát triển Liên hiệp quốc (OECD), các doanh nghiệp được coi là nằm trong phạm vi có khả năng thay thế về cung là những doanh nghiệp có thể chuyển những tư liệu sản xuất hiện có sang mục đích sản xuất các sản phẩm có thể thay thế đang được điều tra mà không gặp bất cứ rào cản nào và không làm tăng chi phí đầu tư23

22 Nguyễn Ngọc Sơn, Xác định thị trường liên quan theo Luật Cạnh tranh năm 2004,

http://thongtinphapluatdansu.edu.vn/2008/08/25/1575/ , [truy cập ngày 14/02/2013]

23 OECD & WB - Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế - Ngân hàng thế giới, Khuôn khổ cho việc xây dựng và thực

thi Luật và chính sách canh tranh, Bản dịch của Hoàng Xuân Bắc, 2004, trang 48

Trang 25

1.3 Khái quát chung về các hành vi hạn chế cạnh tranh liên quan đến giá trong Luật Cạnh tranh

1.3.1 Khái niệm về giá

Giá cả là biểu hiện bằng tiền của giá trị hàng hóa, nghĩa là một số tiền phải trả cho hàng hóa đó Về nghĩa rộng đó là một số tiền phải trả cho một hàng hóa, một dịch vụ hay một tài sản nào đó Trong sản xuất hàng hóa để sản xuất sản phẩm đưa ra thị trường cần phải hao phí một lượng lao động cần thiết đó chính là giá trị của hàng hóa Thông qua hoạt động trao đổi giữa người bán với người mua, mà hình thành nên mức giá của hàng hóa, dịch vụ Tuy nhiên, do đặc thù của một số ngành, một số sản phẩm mà giá cả có các tên gọi khác nhau Ví dụ: Tiền lương, tiền công đó là giá cả hàng hóa sức lao động, lãi suất là giá sử dụng tiền, giá cước là giá các dịch vụ vận chuyển, thông tin Học phí là giá của khóa học, tiền thuê là giá nhà ở hay sử dụng một phương tiện nào đó…

Với hoạt động trao đổi “Giá cả là mối tương quan trao đổi trên thị trường” Khi

tiến hành các hoạt động sản xuất kinh doanh, người sản xuất sẽ sản xuất ra một lượng sản phẩm nhất định và những sản phẩm này đưa ra thị trường tiêu thụ - tức là diễn ra hoạt động trao đổi thì sản phẩm đó mới là hàng hóa và thông qua hoạt động trao đổi mức giá của hàng hóa được hình thành

Vì vậy, không thể thiếu vắng giá cả ở bất kỳ một hoạt động trao đổi nào Trao đổi qua giá là trao đổi dựa trên giá trị của những thứ đem trao đổi Khi thực hiện trao đổi qua giá, trước hết phải đánh giá được giá trị của các thứ đem trao đổi Nếu tiêu chuẩn của giá trị là lợi ích kinh tế thì sự chấp nhận một mức giá phụ thuộc rất lớn vào sự xét đoán lợi ích mà các thành viên tham gia trao đổi đánh giá về mức giá nào đó Một mức giá không được chấp nhận trong trao đổi thường xuất phát từ vấn đề cốt lỗi là lợi ích của một hoặc

cả hai bên tham gia trao đổi không được thỏa mãn Cho dù giá cả mang nhiều tên gọi khác nhau nhưng chúng đều chứa đựng một ý nghĩa kinh tế chung: lợi ích được xác định bằng tiền

Với người bán “Giá cả một hàng hóa, dịch vụ là khoản thu nhập người bán nhận được về việc tiêu thụ sản phẩm” Trong hoạt động trao đổi, người bán đóng vai trò cung

ứng hàng hóa và dịch vụ thỏa mãn nhu cầu và ước muốn của người mua và muốn bán được giá cao nhất, cao hơn giá trị hàng hóa Bởi vì càng bán được giá cao thì sao khi bù đắp được chi phí sản xuất thì phần dư ra là lợi nhuận của người bán, đó là vấn đề được các nhà sản xuất kinh doanh quan tâm và hướng tới Tuy nhiên, trên thị trường trong một khoảng thời gian nhất định, chỉ chấp nhận mức giá phù hợp với giá trị hàng hóa (giá trị

Trang 26

xã hội) Giá cả có thể lên cao hoặc giảm xuống thấp phụ thuộc vào quan hệ cung và cầu trên thị trường nhưng giá cả luôn xoay quanh giá trị hàng hóa

Với người mua “Giá cả của một sản phẩm hoặc dịch vụ là khoản tiền mà người mua phải trả cho người bán để được quyền sở hữu, sử dụng sản phẩm hay dịch vụ đó”

Trong trao đổi hàng hóa, dịch vụ, người mua là người có tiếng nói cuối cùng về một mức giá được thực hiện Người mua tham gia trao đổi nhằm tìm kiếm những lợi ích mà hàng hóa và dịch vụ có thể thỏa mãn nhu cầu và mục đích của họ Số tiền mà người mua phải trả cho hàng hóa, dịch vụ để được quyền sở hữu, sử dụng chúng chính là giá cả của hàng hóa, dịch vụ đó

Giá cả là những chi phí bằng tiền mà người mua phải bỏ ra để có được những lợi ích mà họ tìm kiếm ở hàng hóa, dịch vụ đó Vì vậy, giá thường là chỉ số quan trọng được

sử dụng trong quá trình lựa chọn và mua sản phẩm của người mua Nó vừa là công cụ kích cầu sản phẩm, vừa kìm hãm nhu cầu của con người về sản phẩm Thích mua rẻ là xu hướng có tính uy lực trong ứng xử về giá của người mua Khi các điều kiện khác như nhau (chất lượng sản phẩm, mẫu mã, nhãn hiệu, …) người mua luôn tìm đến những người bán có mức giá đưa ra thấp nhất

Giá cả là một yếu tố quan trọng (trong nhiều trường hợp mang tính quyết định) của người mua trong việc quyết định mua hay không mua sản phẩm Tuy nhiên, trong một số trường hợp, giá cả không mang tính quyết định, đối với người mua; các yếu tố phi giá cả (lối sống, tâm lý, …) còn ảnh hưởng tới hành vi của người mua lớn hơn cả ảnh hưởng của giá cả24

1.3.2 Khái niệm cạnh tranh về giá nhằm hạn chế cạnh tranh

Cạnh tranh về giá nhằm hạn chế cạnh tranh là việc các doanh nghiệp sử dụng giá

cả để làm công cụ thực hiện chiến lược cạnh tranh với nhiều mục đích khác nhau và nhiều biện pháp khác nhau như lựa chọn chính sách định giá thấp nhằm thu hút khách hàng, loại bỏ đối thủ cạnh tranh hoặc là ngăn cản sự gia nhập thị trường của những doanh nghiệp khác hay thỏa thuận với những doanh nghiệp đang hoạt động về việc ấn định giá mua, giá bán để tối đa hóa lợi nhuận bằng cách bóc lột người tiêu dùng… Các hành vi đó

sẽ giúp cho doanh nghiệp giữ vững vị trí của mình trên thị trường, giảm bớt sức ép của cạnh tranh nhưng nó cũng đã làm mất đi ý nghĩa của cạnh tranh, nguyên tắc tự do cạnh tranh sẽ không được đảm bảo

24 Bộ Tài chính, Tài liệu bồi dưỡng kiến thức ngắn hạn nghiệp vụ thẩm định giá, chuyên đề: Nguyên lý hình thành

giá cả, năm 2010, trang 3

Trang 27

Các hành vi cạnh tranh về giá nhằm hạn chế cạnh tranh bao gồm những hành vi sau đây:

• Thoả thuận ấn định giá hàng hoá, dịch vụ một cách trực tiếp hoặc gián tiếp;

• Thỏa thuận ngăn cản, kìm hãm không cho doanh nghiệp khác tham gia thị trường hoặc phát triển kinh doanh;

• Thỏa thuận loại bỏ khỏi thị trường những doanh nghiệp không phải là các bên của thỏa thuận;

• Bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ dưới giá thành toàn bộ nhằm loại bỏ đối thủ cạnh tranh;

• Áp đặt giá mua, giá bán hàng hóa, dịch vụ bất hợp lý hoặc ấn định giá bán lại tối thiểu gây thiệt hại cho khách hàng;

• Áp đặt điều kiện thương mại khác nhau trong giao dịch như nhau nhằm tạo bất bình đẳng trong cạnh tranh;

• Ngăn cản việc tham gia thị trường của những đối thủ cạnh tranh mới

1.3.3 Tác động của các hành vi cạnh tranh về giá nhằm hạn chế cạnh tranh trong Luật Cạnh tranh

Theo lý thuyết kinh tế, giá một sản phẩm thay đổi sẽ dẫn đến sự thay đổi theo chiều ngược lại của khối lượng cầu tùy thuộc vào độ co giãn theo giá của cầu25 Do nhiều

lý do khác nhau mà nhiều doanh nghiệp muốn tăng khối lượng bán ra hoặc thu lợi nhuận tối đa bằng cách sử dụng những hành vi cạnh tranh về giá như: giảm giá, áp đặt giá bán, giá mua bất hợp lý, phân biệt giá… Vì vậy, cạnh tranh về giá là một hành vi cạnh tranh bình thường trong nền kinh tế thị trường Pháp luật cạnh tranh luôn khuyến khích các doanh nghiệp cạnh tranh với nhau về giá cả hàng hóa, dịch vụ để cung cấp cho người tiêu dùng những sản phẩm với mức giá thấp nhất có thể nhưng vẫn đảm bảo được chất lượng sản phẩm Tuy nhiên, không phải mọi hành vi cạnh tranh về giá đều có lợi cho người tiêu dùng đặc biệt là những hành vi nhằm hạn chế cạnh tranh, loại bỏ đối thủ, chiếm lĩnh thị trường và sau một thời gian nhất định họ sẽ nâng giá lên để thu lợi nhuận lớn, ảnh hưởng xấu đến lợi ích của người tiêu dùng Nhìn chung tất cả các hành vi cạnh tranh về giá nhằm hạn chế cạnh tranh đều có những tác động nhất định đối với nền kinh tế thị trường cũng như với người tiêu dùng và cả doanh nghiệp thực hiện

25 Xem David Begg et al., Economics, 6 th Edition, The McGraw – Hill Companies, London, 2000, ISBN 0

07709615 0, pp 58-61

Trang 28

1.3.3.1 Đối với người tiêu dùng

Khi các doanh nghiệp đua nhau cạnh tranh về giá thì lợi ích đầu tiên của người tiêu dùng đó chính là có thể lựa chọn những sản phẩm có mức giá hợp lý nhất nhưng việc cạnh tranh đó phải đúng với quy định của pháp luật và được thực hiện một cách công bằng, minh bạch Tuy nhiên, khi các doanh nghiệp thực hiện những hành vi cạnh tranh về giá nhằm mục đích hạn chế cạnh tranh về lâu dài thì người chịu thiệt nhiều nhất chính là khách hàng Người tiêu dùng sẽ mất đi cơ hội được chọn lựa những nhà cung cấp sản phẩm hàng hóa, dịch vụ tốt với giá cả hợp lý mà phải chấp nhận mức giá đã được định sẵn vì mục tiêu cuối cùng của quá trình cạnh tranh về giá nhằm hạn chế cạnh tranh của các doanh nghiệp chính là loại bỏ, ngăn cản các doanh nghiệp khác tham gia vào thị trường hoặc là sẽ liên kết với các doanh nghiệp khác để ấn định giá bán, giá mua bất hợp

lý, thỏa thuận sẵn mức giá gây thiệt hại cho người tiêu dùng để từ đó nâng cao doanh thu của doanh nghiệp, bóp méo thị trường cạnh tranh

1.3.3.2 Đối với doanh nghiệp thực hiện hành vi cạnh tranh về giá

Lợi ích đầu tiên có thể nhận thấy là việc gia tăng lợi nhuận của doanh nghiệp, đồng thời với những lợi ích khác như: loại bỏ đối thủ cạnh tranh và ngăn chặn những doanh nghiệp đang có ý định gia nhập vào thị trường, giảm được sức ép của cạnh tranh Tuy nhiên, những lợi ích đó cũng không thể loại trừ được những thua thiệt mà doanh nghiệp thực hiện hành vi cạnh tranh về giá phải gánh chịu Bằng chứng đầu tiên chính là

sự giảm sút thặng dư sản xuất, tuy không được chuyển sang cho người tiêu dùng nhưng trong một số trường hợp, phần lợi ích đó sẽ trở thành tổn thất xã hội trong nền kinh tế Bên cạnh đó, các doanh nghiệp thực hiện hành vi cạnh tranh về giá nhằm hạn chế cạnh tranh trên thị trường sẽ phải chịu sự chế tài của pháp luật bởi vì Nhà nước chỉ khuyến khích các doanh nghiệp thực hiện cạnh tranh về giá một cách minh bạch, công bằng mang đến lợi ích tuyệt đối cho người tiêu dùng cũng như nâng cao sức sáng tạo, khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp từ đó phát triển nền kinh tế mà không phải là thực hiện nhằm mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận bằng việc bóc lột khách hàng và làm sai lệch môi trường cạnh tranh

1.3.3.3 Đối với doanh nghiệp đối thủ

Tác động có thể nhìn thấy đối với các doanh nghiệp này trước quá trình cạnh tranh

về giá nhằm hạn chế cạnh tranh là sự mất dần một lượng khách hàng, đặc biệt là những khách hàng có sự phản ứng khá nhạy cảm về giá đồng thời là họ phải đối mặt với nguy

cơ rút khỏi thị trường nếu như không có chiến lược cạnh tranh hợp lý Nguyên nhân không phải do chính giá trị thương hiệu hay chất lượng sản phẩm của doanh nghiệp…

Trang 29

giảm sút, mà lại do kết quả của quá trình lôi kéo khách hàng của đối thủ cạnh tranh thực hiện chiến lược về giá Doanh nghiệp phải chấp nhận như một quy luật hiển nhiên của cuộc chơi nếu sự cạnh tranh về giá đó được thực hiện một cách trong sáng và thỏa đáng Nhưng thực tế có rất nhiều trường hợp doanh nghiệp đối thủ sử dụng cạnh tranh về giá như là một cách thức không minh bạch để tranh giành thị trường Tác động này là tác động tiêu cực đối với doanh nghiệp đối thủ

Rõ nhất khi chúng ta nhận diện sự tác động này tại các thị trường địa lý liên quan

là thị trường “vùng”, “địa phương” Một doanh nghiệp có tiềm lực trong quá trình phát

triển và mở rộng thị phần khi đưa ra chiến lược thâm nhập và thâu tóm tại các thị trường

này thường đưa ra mức giá “làm quen” thấp hơn rất nhiều so với mức giá tại các thị

trường mà áp lực cạnh tranh không cao Kết quả, các doanh nghiệp nhỏ lẻ, thiếu kinh nghiệm của địa phương sẽ bị loại bỏ dần dần và khả năng gia nhập ngành sẽ bị hạn chế,

chỉ còn là cơ hội cho các doanh nghiệp có sức mạnh tương đương doanh nghiệp “chiến thắng”

1.3.3.4 Đối với thị trường

Một điều hiển nhiên, khi các hành vi cạnh tranh về giá nhằm hạn chế cạnh tranh được thực hiện và tác động đến người tiêu dùng, tác động đến doanh nghiệp thực hiện và doanh nghiệp đối thủ… thì cũng đồng nghĩa với việc thị trường có sự ảnh hưởng Ở đây, chúng ta xem xét và phân tích vấn đề dưới những biểu hiện khác trong sự tác động trực tiếp của các hành vi đó đến những đặc tính chung của thị trường, thông qua các biểu hiện được phân tích sau đây:

• Đứng trước bất cứ lập luận nào, sự hiện diện của các doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh và độc quyền đều có tác động không tích cực đến nền kinh tế Trong khi các hành vi cạnh tranh về giá nhằm hạn chế cạnh tranh là cách thức để phát triển thị phần và điều này dễ dẫn đến tình trạng độc quyền hoặc có sức mạnh độc quyền Điều đó càng làm cho thị trường bị biến dạng Các quy luật cơ bản của thị trường

sẽ bị loại bỏ Quy luật cạnh tranh bị khúc xạ, quy luật cung cầu không được tuân thủ và quy luật giá trị không được tôn trọng Tất cả mọi nguyên tắc hình thành giá đều bị phủ nhận Khi đó, giá được hình thành theo ý chí của doanh nghiệp và hoàn toàn mang tính chủ quan

• Hiệu quả của quá trình sản xuất được đánh giá bởi giá trị phúc lợi được mang lại cho nền kinh tế Giá trị này được đo lường bằng chính tổng giá trị thặng dư sản xuất và thặng dư tiêu dùng có được Khi các hành vi hạn chế cạnh tranh liên quan đến giá được sử dụng, phúc lợi xã hội không bị tiêu hao nhưng đã có sự chuyển

Trang 30

dịch thặng dư tiêu dùng sang thặng dư sản xuất một cách không thỏa đáng Sự

“bóc lột” đó đã ảnh hưởng đến việc phân phối thu nhập xã hội và là nguyên nhân

làm thuyên giảm mức sống thực của một bộ phận người dân Điều này cho thấy là công bằng xã hội không được đảm bảo Lý thuyết về hiệu quả và công bằng trong kinh tế không chấp nhận tình trạng này

Tóm lại, cạnh tranh đã mang lại cho nền kinh tế nhiều hiệu quả tích cực như: nó

là động lực để các doanh nghiệp cải tiến trình độ sản xuất, sử dụng hợp lý các nguồn tài nguyên, đưa ra những sản phẩm chất lượng để đáp ứng tốt nhu cầu của người tiêu dùng,

từ đó, góp phần phát triển kinh tế quốc gia Tuy nhiên, bên cạnh đó cạnh tranh cũng đã

để lại những ảnh hưởng tiêu cực cho thị trường bằng việc các chủ thể tham gia cạnh tranh vì muốn giảm sức ép đồng thời đạt được lợi nhuận đã thực hiện các hành vi hạn chế cạnh tranh liên quan đến giá, một trong những hình thức được sử dụng phổ biến nhất hiện nay Để hiểu rõ hơn về các hành hành vi hạn chế cạnh tranh liên quan đến giá sang chương tiếp theo người viết sẽ trình bày cụ thể những quy định của pháp luật điều chỉnh các hành vi này

Trang 31

Chương 2 QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ CÁC HÀNH VI HẠN CHẾ CẠNH

TRANH LIÊN QUAN ĐẾN GIÁ THEO QUY ĐỊNH CỦA

LUẬT CẠNH TRANH

Trong nền kinh tế thị trường, quyền tự do kinh doanh được thừa nhận, từ đó đã tạo động lực cho các doanh nghiệp tham gia thị trường ngày càng tăng cao Với số lượng doanh nghiệp ngày càng nhiều thì không những nhu cầu của người tiêu dùng được đảm bảo, họ còn có thể tự lựa chọn một trong những nhà cung cấp mà họ cho là tốt nhất để phục vụ nhu cầu của mình Vì vậy, để được người tiêu dùng tín nhiệm, lựa chọn, các doanh nghiệp trong cùng ngành hàng phải không ngừng cạnh tranh với nhau đưa ra các chiến lược thu hút khách hàng mà phổ biến nhất là bằng cách đưa ra những mức giá hấp dẫn Các doanh nghiệp sẽ giảm lợi ích của họ xuống để nhận được sự lựa chọn của khách hàng đối với mình Sức ép của cơ chế giá cạnh tranh càng cao thì lợi ích của các doanh nghiệp càng giảm, làm cho mục đích tối đa hóa lợi nhuận không được đảm bảo vì vậy, để đạt được lợi nhuận tối đa các doanh nghiệp đã liên kết với nhau thực hiện một chiến lược kinh doanh thống nhất loại bỏ sức ép cạnh tranh tự nhiên vốn có của nền kinh

tế thị trường

2.1 Hành vi thỏa thuận ấn định giá hàng hóa, dịch vụ

Việc doanh nghiệp thỏa thuận ấn định giá hàng hóa, dịch vụ một cách trực tiếp hoặc gián tiếp có thể được thực hiện thông qua việc thống nhất một mức giá hoặc cách thức tính giá chung cho hàng hóa, dịch vụ mà họ sẽ giao dịch trong tương lai với khách hàng Đây là một trong những dạng thỏa thuận phổ biến nhất hiện nay Thỏa thuận ấn định giá có thể diễn ra ở bất cứ khâu nào của quá trình sản xuất và phân phối, có thể thỏa thuận về việc giảm giá, tăng giá, thỏa thuận áp dụng thống nhất giá với khách hàng, áp dụng chung công thức tính giá và những hình thức khác về việc trao đổi thông tin về giá

“Thỏa thuận ấn định giá hàng hóa, dịch vụ là việc các doanh nghiệp thống nhất

áp dụng một mức giá hoặc một cách thức tính giá chung khi mua, bán hàng hóa, dịch vụ với các khách hàng hoặc trao đổi thông tin về giá để tạo nên những phản ứng thống nhất

về giá hàng hóa, dịch vụ khi đàm phán với khách hàng26”

26 Lê Danh Vĩnh, Hoàng Xuân Bắc, Nguyễn Ngọc Sơn, Pháp luật cạnh tranh tại Việt Nam, Nxb Tư pháp, 2006,

trang 78

Trang 32

2.1.1 Chủ thể thực hiện hành vi

Thỏa thuận ấn định giá hàng hóa, dịch vụ một cách trực tiếp hoặc gián tiếp diễn ra giữa các doanh nghiệp là đối thủ cạnh tranh của nhau tức là giữa các doanh nghiệp trên cùng thị trường liên quan, trong cùng khâu của quá trình sản xuất và phân phối, họ có chung nguồn lợi ích cần hướng đến (thỏa thuận theo chiều ngang27) Các doanh nghiệp này hoạt động độc lập với nhau tức là không có sự phụ thuộc nhau như: về tài chính, về

cơ cấu tổ chức, về công nghệ… Nếu các doanh nghiệp này không phải là đối thủ của nhau mà chỉ là quan hệ khách hàng, tức là ở các khâu khác nhau của quá trình sản xuất và phân phối (thỏa thuận dọc28) thì không bị xem là thỏa thuận ấn định giá hàng hóa, dịch vụ một cách trực tiếp hoặc gián tiếp theo Điều 8 Luật Cạnh tranh năm 2004

2.1.2 Nội dung của thỏa thuận

Thứ nhất, thỏa thuận ấn định giá có thể diễn ra ở các doanh nghiệp là bên mua

hoặc bên bán hàng hóa, dịch vụ Các doanh nghiệp tham gia thỏa thuận sẽ thống nhất cùng ấn định giá mua, bán hàng hóa, dịch vụ, họ sẽ dựa vào mức giá đã thỏa thuận để giao dịch với khách hàng chứ không dựa vào chi phí thực sự của hàng hóa đó, bất kể chi phí để sản xuất ra hàng hóa của mỗi doanh nghiệp là khác nhau Bằng những thỏa thuận này, các doanh nghiệp đã tạo ra mặt bằng chung về giá mua, bán hàng hóa trên thị trường29 Thông thường, trong các thỏa thuận về giá bán hàng hóa, dịch vụ, giá cả mà các doanh nghiệp thỏa thuận cùng đưa ra thường sẽ cao hơn so với giá khi có cạnh tranh; và ngược lại trong các thỏa thuận về giá mua hàng hóa, dịch vụ sẽ là thấp hơn mức giá cạnh tranh Các thỏa thuận này đã đem lại lợi ích cho các doanh nghiệp tham gia thỏa thuận bằng cách bóc lột quyền lợi của khách hàng

Thứ hai, thỏa thuận ấn định giá có thể diễn ra trực tiếp hoặc gián tiếp, điều đó có

nghĩa là các doanh nghiệp tham gia thỏa thuận có thể đưa ra một mức giá mua, bán hàng hóa, dịch vụ nhất định mà các thành viên tham gia thỏa thuận phải tuân thủ hoặc có thể chỉ quy định một công thức tính giá chung Các doanh nghiệp thường thỏa thuận các nội dung sau: thỏa thuận áp dụng thống nhất giá đối với một số hoặc tất cả khách hàng; thỏa thuận cùng tăng giá ở các mức độ cụ thể; thỏa thuận áp dụng chung công thức tính giá; thỏa thuận duy trì tỷ lệ cố định về giá của sản phẩm cạnh tranh giống nhau nhưng không đồng nhất; thỏa thuận loại trừ việc chiết khấu giá hoặc thiết lập mức chiết khấu đồng bộ;

27 Thỏa thuận theo chiều ngang là thỏa thuận giữa các doanh nghiệp cùng ngành hàng và cùng khâu của quá trình sản xuất

28 Thỏa thuận dọc là thỏa thuận giữa các doanh nghiệp ở các khâu khác nhau của quá trình sản xuất và phân phối

29 Lê Danh Vĩnh, Hoàng Xuân Bắc, Nguyễn Ngọc Sơn, Pháp luật cạnh tranh tại Việt Nam, Nxb Tư pháp, 2006,

trang 79

Trang 33

thỏa thuận việc không giảm giá nếu không thông báo cho các bên tham gia thỏa thuận30 Chỉ cần các doanh nghiệp thực hiện một trong các thỏa thuận trên cũng đã được xem là

họ thực hiện hành vi ấn định giá hàng hóa, dịch vụ chứ không cần phải thực hiện đầy đủ các thỏa thuận vừa nêu mới được xem là có tồn tại thỏa thuận ấn định giá Khi có sự thỏa thuận ấn định giá giữa các doanh nghiệp thì hiển nhiên không còn cạnh tranh về giá giữa các thành viên tham gia thỏa thuận nữa, cho dù thỏa thuận đó có nội dung là ấn định mức giá thống nhất hay một công thức tính giá chung thì kết quả mang lại cũng sẽ gây hạn chế cạnh tranh về giá giữa các doanh nghiệp tham gia thỏa thuận Các doanh nghiệp là các bên của thỏa thuận sẽ dần tăng giá hoặc ép giá đối với khách hàng trong các giao dịch mua bán hàng hóa, dịch vụ

Thứ ba, thỏa thuận ấn định giá hàng hóa, dịch vụ trực tiếp hoặc gián tiếp gây thiệt

hại cho khách hàng Các doanh nghiệp là đối thủ của nhau đã tạo ra mức giá của hàng hóa, dịch vụ chung cho các thành viên tham gia thỏa thuận, hành vi này đã loại bỏ sự cạnh tranh về giá trên thị trường Do đó khi phân tích hậu quả của hành vi thỏa thuận ấn định giá cần làm rõ hai vấn đề sau:

• Một là, tước đoạt cơ hội của khách hàng được lựa chọn các mức giá cạnh tranh

hợp lý trên thị trường31 Nếu trong môi trường cạnh tranh tự nhiên thì các doanh

nghiệp phải ra sức tạo mọi ưu đãi nhằm thu hút khách hàng, các “thượng đế” sẽ là

chủ thể được lựa chọn những doanh nghiệp mà họ cảm thấy tốt nhất Còn khi có

sự thỏa thuận ấn định giá giữa các doanh nghiệp là đối thủ cạnh tranh của nhau thì người tiêu dùng sẽ bị giảm bớt cơ hội lựa chọn mức giá hợp lý mà đáng lẽ họ đã

có đối với các doanh nghiệp này, thậm chí họ còn có thể bị áp đặt mức giá bất hợp

• Hai là, làm giảm mức độ của cạnh tranh bằng cách xóa bỏ cạnh tranh về giá hàng

hóa, dịch vụ giữa các thành viên của thỏa thuận32 Theo quy định tại Điều 8 Luật Cạnh tranh năm 2004 thì đây là thỏa thuận theo chiều ngang, tức là thỏa thuận giữa các doanh nghiệp là đối thủ cạnh tranh của nhau Trong môi trường cạnh tranh bình thường thì luôn luôn tồn tại sự tranh đua hạ giá giữa các doanh nghiệp

để giành được sự lựa chọn của khách hàng, họ không ngừng cải thiện hiệu quả sản xuất, tiết kiệm nguyên liệu để sản xuất ra hàng hóa với mức giá hợp lý nhưng vẫn

30 Vụ công tác lập pháp, Những nội dung cơ bản của Luật Cạnh tranh, Nxb Tư pháp, 2005, trang 23; Tồ chức hợp tác và phát triển kinh tế - Ngân hàng thế giới: Khuôn khổ cho việc xây dựng Luật và chính sách cạnh tranh, Bản

dịch của Hoàng Xuân Bắc, 2004, trang 59; Điều 14 Nghị định 116/2005/NĐ-CP

31 Lê Danh Vĩnh, Hoàng Xuân Bắc, Nguyễn Ngọc Sơn, Pháp luật cạnh tranh tại Việt Nam, Nxb Tư pháp, 2006,

trang 80

32 Lê Danh Vĩnh, Hoàng Xuân Bắc, Nguyễn Ngọc Sơn, Pháp luật cạnh tranh tại Việt Nam, Nxb Tư pháp, 2006,

trang 80

Trang 34

đảm bảo được chất lượng của sản phẩm phục vụ cho khách hàng Nhưng từ khi các doanh nghiệp biết cách giảm áp lực cạnh tranh mà vẫn thu được lợi nhuận cao bằng cách họ cùng thỏa thuận đưa ra một mức giá chung cho các thành viên thay

vì phải tranh đua với nhau thì sự cạnh tranh tự nhiên vốn có dần bị xóa bỏ Hành

vi này gây ảnh hưởng xấu đến công bằng trên thị trường cạnh tranh, ảnh hưởng

đến quyền lợi của người tiêu dùng và các doanh nghiệp khác

2.2 Thỏa thuận ngăn cản, kìm hãm, không cho doanh nghiệp khác tham gia thị trường hoặc phát triển kinh doanh

Cạnh tranh mang lại cho doanh nghiệp rất nhiều sức ép như lợi nhuận, quyền lực của họ luôn bị đe dọa bởi sự vận động không ngừng của nền kinh tế Kể từ khi chính sách kinh doanh tự do được thừa nhận và bảo vệ, thì rào cản gia nhập thị trường bị xóa bỏ tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp tham gia thị trường hoặc mở rộng hoạt động kinh doanh Việc tham gia thị trường của các doanh nghiệp tiềm năng hoặc sự mở rộng kinh doanh của các doanh nghiệp đã làm cho quyền lực trên thị trường luôn luôn vận động Tình trạng này đã làm cho các doanh nghiệp đang kinh doanh trên thị trường phải luôn nổ lực để tồn tại, làm cho lợi nhuận của họ bị chia sẽ với các doanh nghiệp mới hoặc doanh nghiệp mở rộng hoạt động Để khắc phục tình trạng này các doanh nghiệp đã thỏa thuận với nhau để ngăn cản, kìm hãm các doanh nghiệp tham gia thị trường hoặc phát triển kinh doanh

Thỏa thuận ngăn cản, kìm hãm không cho các doanh nghiệp khác phát triển kinh doanh là việc thống nhất thực hiện những hành vi nhằm gây khó khăn cho hoạt động kinh doanh hoặc cho việc tiêu thụ sản phẩm hoặc cản trở việc mở rộng quy mô của các doanh nghiệp không tham gia thỏa thuận

Theo quy định tại Điều 19 Nghị định 116/2005/NĐ-CP, thì thỏa thuận ngăn cản, kìm hãm không cho doanh nghiệp khác tham gia thị trường hoặc phát triển kinh doanh được chia ra làm hai loại thỏa thuận:

- Thỏa thuận ngăn cản, kìm hãm không cho doanh nghiệp khác tham gia thị trường là việc thống nhất không giao dịch với doanh nghiệp không tham gia thỏa thuận hoặc cùng hành động dưới một trong các hình thức sau:

 Yêu cầu, kêu gọi, dụ dỗ khách hàng của mình không mua, bán hàng hóa, không sử dụng dịch vụ của doanh nghiệp không tham gia thỏa thuận;

 Mua, bán hàng hóa, dịch vụ với mức giá đủ để doanh nghiệp không tham gia thỏa thuận không thể tham gia thị trường liên quan

Trang 35

Mục đích của thỏa thuận này là nhằm tạo ra các rào cản ngăn cản gia nhập thị trường hoặc làm sai lệch những thông số về giá cả của hàng hóa, dịch vụ nhằm buộc đối thủ phải xem xét lại khả năng thu lợi nhuận khi tham gia kinh doanh trên thị trường liên quan Khi phân tích vấn đề này cần làm rõ những căn cứ cơ bản sau: về đối tượng mà các thỏa thuận này xâm hại là các doanh nghiệp tiềm năng có ý định tham gia thị trường; về hình thức, thỏa thuận này có hai nội dung là các doanh nghiệp tham gia thỏa thuận đồng loạt tẩy chay không giao dịch với doanh nghiệp không tham gia thỏa thuận và thỏa thuận tạo ra rào cản cho hoạt động kinh doanh bằng cách gây ra những khó khăn cho đối thủ khi gia nhập mạng lưới tiêu thụ sản phẩm hiện có trên thị trường Hoặc các doanh nghiệp thỏa thuận mua, bán hàng hóa, dịch vụ với mức giá đủ để các doanh nghiệp không tham gia thỏa thuận không thể gia nhập thị trường liên quan, đây cũng là một trong những hành vi hạn chế cạnh tranh liên quan đến giá, thông thường thì áp đặt mức giá thấp để cho các doanh nghiệp tiềm năng phải từ bỏ ý định gia nhập thị trường, vì nếu gia nhập thị trường thì hiệu quả kinh tế đạt được không cao

- Thỏa thuận ngăn cản, kìm hãm không cho doanh nghiệp khác phát triển kinh doanh là việc thống nhất không giao dịch với doanh nghiệp không tham gia thỏa thuận hoặc cùng hành động một trong các hình thức sau:

 Yêu cầu, kêu gọi, dụ dỗ các nhà phân phối, các nhà bán lẻ đang giao dịch với mình phân biệt đối xử khi mua, bán hàng hóa của doanh nghiệp không tham gia thỏa thuận theo hướng gây khó khăn cho việc tiêu thụ hàng hóa của doanh nghiệp này;

 Khi mua, bán hàng hóa, dịch vụ với mức giá đủ để doanh nghiệp không tham gia thỏa thuận không thể mở rộng quy mô kinh doanh;

Hành vi thỏa thuận này có đối tượng xâm hại là các đối thủ cạnh tranh hiện có trên thị trường của các doanh nghiệp tham gia thỏa thuận mà không tham gia vào thỏa thuận Nội dung thỏa thuận cũng bao gồm chiến lược gây khó khăn cho đối thủ trong kinh doanh hoặc phát triển sản xuất thông qua các hệ thống phân phối, tiêu thụ, cơ chế giá cả của hàng hóa, dịch vụ Những khó khăn mà doanh nghiệp không tham gia phải gánh chịu

là khó khăn tiêu thụ sản phẩm do các nhà phân phối, nhà bán lẻ phân biệt đối xử bằng những điều kiện bất lợi cho doanh nghiệp không tham gia thỏa thuận so với những điều kiện áp dụng với doanh nghiệp tham gia thỏa thuận hoặc phải chịu sức ép về giá bán hàng hóa, dịch vụ do sự áp đặt giá bán làm cho đối thủ không thể mở rộng quy mô kinh doanh của họ

Trang 36

Trong những trường hợp cụ thể, cơ quan có thẩm quyền cần phải xác định chính xác mức giá bán hàng hóa, dịch vụ đủ để ngăn cản sự gia nhập và đủ để làm cho đối thủ không thể mở rộng quy mô kinh doanh Theo Luật Cạnh tranh, có nhiều hành vi cùng có chung hình thức vi phạm là áp đặt mức giá bán hàng hóa, dịch vụ bao gồm: thỏa thuận áp đặt mức giá đủ để loại bỏ đối thủ cạnh tranh theo khoản 7 Điều 8; hành vi áp đặt giá bán nhằm loại bỏ đối thủ của doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh, vị trí độc quyền theo khoản 1 Điều 13; hành vi áp đặt giá bán hàng hóa, dịch vụ nhằm ngăn cản sự gia nhập thị trường của đối thủ cạnh tranh của doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh, vị trí độc quyền theo khoản

6 Điều 13 Ở đây chúng ta cần làm rõ hai vấn đề33:

Thứ nhất, sự khác nhau giữa các hành vi lạm dụng và các thỏa thuận nói trên là

những hành vi lạm dụng, là hành vi đơn phương của doanh nghiệp hoặc nhóm doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh hoặc vị trí độc quyền trên thị trường, tức là không tồn tại sự thỏa thuận giữa các doanh nghiệp Còn các thỏa thuận hạn chế cạnh tranh luôn là sự thống nhất giữa các doanh nghiệp về việc bán hàng hóa với mức giá đủ để ngăn cản sự phát triển của đối thủ trên thị trường

Thứ hai, để xác định mức độ gây thiệt hại thì cần phải xác định được mức giá

ngăn cản và mức giá loại bỏ đối thủ Những thỏa thuận trên đều chung một dấu hiệu là mua bán hàng hóa, dịch vụ với mức giá đủ để ngăn cản hoặc loại bỏ đối thủ cạnh tranh, nói cách khác, các doanh nghiệp thực hiện hành vi hoặc tham gia thỏa thuận đã chấp nhận chịu thiệt hại về mình để dành lợi ích cho khách hàng nhằm gây khó khăn hoặc loại

bỏ đối thủ Như vậy, các hành vi nói trên có hai mức đội nguy hại là định mức giá để loại

bỏ đối thủ và định mức giá để ngăn cản sự gia nhập hoặc gây khó khăn cho đối thủ Cho đến nay chưa có bất cứ một văn bản pháp luật nào phân định được ranh giới về mức giá

có khả năng loại bỏ và mức giá có khả năng ngăn cản hoặc gây thiệt hại cho đối thủ Vì vậy khi giải quyết các vụ việc cụ thể cơ quan có thẩm quyền cần xác định rõ mức độ mà hành vi đó mang lại tùy theo tình hình thực tế trên thị trường

Việc thực hiện các hành vi ngăn cản sự gia nhập thị trường của các doanh nghiệp tiềm năng hoặc ngăn cản sự mở rộng sản xuất kinh doanh là để giảm bớt áp lực mà nền kinh tế mở của thị trường mang lại cho các doanh nghiệp Điều đó có nghĩa là, các thỏa thuận nói trên ngăn cản sự gia tăng mức độ cạnh tranh trong tương lai của thị trường liên quan bằng việc cố gắng duy trì cấu trúc cạnh tranh hiện có trên thị trường Do việc gia nhập hoặc mở rộng quy mô kinh doanh của đối thủ cạnh tranh sẽ làm thay đổi tương quan và mức độ cạnh tranh trên thị trường Như vậy, hành vi thỏa thuận này đã làm hạn

33 Lê Danh Vĩnh, Hoàng Xuân Bắc, Nguyên Ngoạc Sơn, Pháp luật cạnh tranh tại Việt Nam, Nxb, Tư pháp, 2006,

trang 294

Trang 37

chế sự phát triển của nền kinh tế, làm cho nền kinh tế không thể phát huy hết tiềm năng của nó đồng thời vi phạm nghiêm trọng về quyền tự do kinh doanh của các doanh nghiệp không tham gia thỏa thuận

2.3 Thỏa thuận loại bỏ khỏi thị trường những doanh nghiệp không phải là các bên của thỏa thuận

Hành vi thỏa thuận này được quy định tại khoản 7 Điều 8 Luật Cạnh tranh năm

2004 Thỏa thuận loại bỏ khỏi thị trường những doanh nghiệp không phải là các bên của thỏa thuận là việc thống nhất không giao dịch với doanh nghiệp không tham gia thỏa thuận và cùng hành động dưới một trong các hình thức sau:

- Kêu gọi, dụ dỗ khách hàng của mình không tham gia giao dịch với doanh nghiệp không tham gia thỏa thuận;

- Yêu cầu, dụ dỗ các nhà phân phối, các nhà bán lẻ đang giao dịch với mình phân biệt đối xử khi mua, bán hàng hóa của doanh nghiệp không tham gia thỏa thuận theo hướng gây khó khăn cho việc tiêu thụ hàng hóa của doanh nghiệp này;

- Bán hàng hóa với mức giá đủ để doanh nghiệp không tham gia thỏa thuận phải rút lui khỏi thị trường liên quan

Thỏa thuận này có sự khác biệt cơ bản với thỏa thuận quy định tại khoản 6 Điều 8 Luật Cạnh tranh 2004 Nếu như khoản 6 đề cập việc thỏa thuận nhằm ngăn cản, kìm hãm các doanh nghiệp tiềm năng tham gia thỏa thuận hoặc các doanh nghiệp đang hoạt động

mở rộng kinh doanh, thì thỏa thuận này đề cập việc loại bỏ các doanh nghiệp đang hoạt động trên thị trường, hành vi thỏa thuận thể hiện qua các dấu hiệu sau đây:

 Chủ thể bị hành vi tác động

Chủ thể bị hành vi thỏa thuận này tác động là các doanh nghiệp đang hoạt động trên thị trường liên quan với các doanh nghiệp thành viên của thỏa thuận, tức là đối thủ cạnh tranh của họ

 Mục đích và dấu hiệu cấu thành pháp lý của hành vi

Các doanh nghiệp tham gia thỏa thuận thống nhất thực hiện các chiến lược để loại

bỏ các doanh nghiệp không phải là các bên của thỏa thuận Như vậy, mục đích mà thỏa thuận này hướng đến là nguy hại hơn nhiều so với mục đích của thỏa thuận ngăn cản, kìm hãm Thỏa thuận ngăn cản, kìm hãm là cản trở sự gia nhập hoặc mở rộng kinh doanh của đối thủ Trong khi đó, thỏa thuận loại bỏ lại nhằm đến việc loại bỏ doanh nghiệp đang hoạt động nhưng không tham gia thỏa thuận ra khỏi thị trường

Trang 38

Thỏa thuận ngăn cản, kìm hãm có dấu hiệu là các doanh nghiệp tham gia thỏa thuận yêu cầu, dụ dỗ khác hàng của mình từ chối mua, bán hàng hóa, sử dụng dịch vụ của doanh nghiệp đang muốn gia nhập hoặc phân biệt đối xử với doanh nghiệp đang hoạt động nhưng không tham gia thỏa thuận để tạo khó khăn cho việc gia nhập hay việc mở rộng kinh doanh của họ Đối với thỏa thuận loại bỏ khỏi thị trường, các doanh nghiệp tham gia thỏa thuận không chỉ nhằm mục đích gây khó khăn mà còn nhằm loại bỏ đối thủ

ra khỏi thị trường, Khách hàng, những nhà phân phối và nhà bán lẻ là cơ sở để doanh nghiệp hoạt động trên thị trường Nhưng khi xuất hiện các thỏa thuận loại bỏ đối thủ thì các khách hàng, nhà phân phối và nhà bán lẻ đã gây khó khăn, thậm chí chấm dứt giao dịch với doanh nghiệp không tham gia thỏa thuận, làm cho doanh nghiệp mất đi thị trường và hiển nhiên sẽ bị loại bỏ trong cuộc chay đua cạnh tranh đó

Các doanh nghiệp tham gia thỏa thuận thống nhất mua bán hàng hóa, dịch vụ với mức giá đủ để các doanh nghiệp không tham gia thỏa thuận phải rút lui khỏi thị trường liên quan, có nghĩa là các doanh nghiệp tham gia thỏa thuận đã tiến hành thỏa thuận về giá nhằm mục đích hạn chế cạnh tranh trên thị trường Đối với việc ấn định mức giá quy định tại khoản 2 Điều 19 Nghị định 116/2005/NĐ-CP là nhằm làm cản trở, kiềm hãm doanh nghiệp không tham gia thỏa thuận mở rộng thị trường chứ không loại bỏ họ khỏi thị trường Còn hành vi thỏa thuận áp đặt mức giá quy định tại Điều 20 Nghị định 116/2005/NĐ-CP là nhằm loại bỏ khỏi thị trường các doanh nghiệp đối thủ đang hoạt động, ảnh hưởng đến sự phát triển tự nhiên của cạnh tranh, làm lũng đoạn nền kinh tế

Kinh doanh là quyền tự do của các doanh nghiệp, họ thành lập ra để thực hiện các giao dịch mua, bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ kiếm lợi nhuận nhưng hành vi thỏa thuận loại bỏ của các doanh nghiệp tham gia thỏa thuận đã tước bỏ quyền tự do kinh doanh của các chủ thể khác, làm ảnh hướng tiêu cực đến hoạt động kinh doanh trên thị trường, ảnh hưởng đến xu hướng phát triển của nền kinh tế Song song đó, hành vi thỏa thuận này đã làm giảm đáng kể số lượng doanh nghiệp hiện có trên thị trường, từ đó các doanh nghiệp tham gia thỏa thuận đạt được mục tiêu chiến lược mà họ muốn hướng đến, đó là khi các doanh nghiệp đối thủ bị loại bỏ khỏi thị trường họ sẽ tiến hành đồng loạt tăng giá bóc lột khách hàng để bù lại những khoản chi phí họ đã mất, đạt được mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận

2.4 Hành vi áp đặt giá mua, giá bán hàng hóa, dịch vụ bất hợp lý hoặc ấn định giá bán lại tối thiểu gây thiệt hại cho khách hàng

Áp đặt giá mua, giá bán hàng hóa, dịch vụ bất hợp lý hoặc ấn định giá bán lại tối thiểu gây thiệt hại cho khách hàng là một dạng cạnh tranh thông qua yếu tố giá cả của hàng hóa, dịch vụ Với hành vi này khách hàng đã phải chịu thiệt hại bởi giá mà họ phải

Ngày đăng: 05/04/2018, 23:28

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w