Trong giai đoạn đầu của quá trình đổi mới, do tích lũy nội bộ của nền kinh tế chưa cao, không thể có đủ vốn đầu tư, kỹ thuật công nghệ tiên tiến … để kiến tạo đầy đủ ngay một lúc trên ph
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
Giáo viên hướng dẫn: Sinh viên thực hiện:
Thầy Dương Kim Thế Nguyên Trần Thị Thanh Hương
Trang 2Lời Cảm Ơn
Hoàn thành luận Văn này, Tôi xin chân thành cảm ơn sự quan tâm, giúp đỡ của quý Thầy, Cô trong khoa Luật, của các Cô, Chú, các anh, chị trong Ban quản lý khu chế xuất – khu công nghiệp Cần Thơ Đặc biệt, là sự quan tâm, hướng
dẫn của Thầy Dương KimThế Nguyên.
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 3MỤC LỤC
Tra
ng
VỀ KHU CHẾ XUẤT – KHU CÔNG NGHIỆP 4
1.1- QUAN NIỆM CỦA CÁC NƯỚC TRÊN
1.1.1.Khái niệm, đặc điểm Khu chế xuất – khu công nghiệp
theo quan điểm của các nước trên thế giới 4
a – Khái niệm Khu chế xuất 4
b – Khái niệm Khu công nghiệp 5 1.1.2 - Mục tiêu thành lập Khu chế xuất – khu công nghiệp của
1.1.3 - Lịch sử hình thành và phát triển của mô hình
Khu chế xuất – khu công nghiệp trên thế giới 7
a – Cơ sở lý luận cho việc hình thành và phát triển của
mô hình khu chế xuất – khu công nghiệp trên thế giới 7
b – Quá trình hình thành và phát triển của mô hình chế xuất – khu công nghiệp trên thế giới 8 1.1.4 – Kinh nghiệm thu hút đầu tư vào
Khu chế xuất – Khu công nghiệp
a – Kinh nghiệm pháp luật Trung Quốc về thu hút đầu tư vào Đặc khu kinh tế Thẩm Quyến 11
b – Kinh nghiệm chưa thành công của khu chế xuất Bataan (Inđônêxia) 13
1.2– KHU CHẾ XUẤT – KHU CÔNG NGHIỆP THEO
1.2.1- Khái niệm, đặc điểm khu chế xuất – khu công nghiệp
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 41.2.2 – Quá trình thành lập Khu chế xuất – Khu công nghiệp
1.3- SỰ CẦN THIẾT CỦA CƠ CHẾ ĐIỀU CHỈNH CỦA
PHÁP LUẬT VỀ THU HÚT ĐẦU TƯ VÀO KHU CHẾ XUẤT – KHU CÔNG NGHIỆP
21
CHƯƠNG 2: CƠ CHẾ ĐIỀU CHỈNH CỦA PHÁP LUẬT
HIỆN HÀNH VỀ THU HÚT ĐẦU TƯ VÀO
KHU CHẾ XUẤT – KHU CÔNG NGHIỆP
Ở NƯỚC TA
22
2.1 – CÁC NGUYÊN TẮC THỰC HIỆN THU HÚT ĐẦU TƯ
VÀO KHU CHẾ XUẤT – KHU CÔNG NGHIỆP
24
2.1.1- Nguyên tắc bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng và
sự quản lý của Nhà nước
24 2.1.2 - Nguyên tắc bảo vệ lợi ích quốc gia
24 2.1.3 - Nguyên tắc bảo đảm quyền tự do kinh doanh,
tự chủ trong hoạt động đầu tư
25 2.1.4 - Nguyên tắc khuyến khích các chủ đầu tư
thực hiện đầu tư vào Việt Nam và khai thác triệt để thế mạnh của nhà đầu tư
25 2.1.5 - Nguyên tắc bảo đảm quyền lợi của nhà đầu tư
25
2.2 - CHỦ THỂ ĐẦU TƯ VÀO
KHU CHẾ XUẤT – KHU CÔNG NGHIỆP
26 2.3 - TRÌNH TỰ, THỦ TỤC ĐẦU TƯ VÀO
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 5KHU CHẾ XUẤT – KHU CÔNG NGHIỆP
27 2.4 - ĐỊA VỊ PHÁP LÝ CỦA NHÀ ĐẦU TƯ VÀ
KHU CHẾ XUẤT – KHU CÔNG NGHIỆP
30
2.4.1- Các quyền cơ bản của nhà đầu tư vào
khu chế xuất – khu công nghiệp
30
a - Quyền tự do lựa chọn lĩnh vực, ngành nghề, hình thức đầu tư
a - Thực hiện đúng ngành nghề kinh doanh như trong giấy phép
đầu tư hoặc giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh
2.5 - GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP PHÁT SINH TRONG
KHU CHẾ XUẤT – KHU CÔNG NGHIỆP
47
2.6 - QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG ĐẦU TƯ
VÀO KHU CHẾ XUẤT – KHU CÔNG NGHIỆP
48
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 656 2.7.3 - Vấn đề lao động trong khu chế xuất – khu công nghiệp
59 2.7.4 - Khó khăn trong thủ tục hành chính và quản lý Nhà nước
61 2.7.5 - Luật về Khu công nghiệp
63
CHƯƠNG 3:
THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP PHÁP LÝ TĂNG CƯỜNG THU HÚT ĐẦU TƯ VÀO CÁC
KHU CHẾ XUẤT – KHU CÔNG NGHIỆP CẦN THƠ
6
5
3.1 – TÌNH HÌNH THU HÚT ĐẦU TƯ VÀO
CÁC KHU CHẾ XUẤT – KHU CÔNG NGHIỆP
Ở NƯỚC TA HIỆN NAY
65 3.2 - GIỚI THIỆU CHUNG VỀ
KHU CHẾ XUẤT – KHU CÔNG NGHIỆP CẦN THƠ
67
3.2.1 - Tình hình kinh tế - xã hội của Cần Thơ
67 3.2.2 - Quá trình hình thành và phát triển của
Khu chế xuất - Khu công nghiệp Cần Thơ
68
3.3 – QUY CHẾ PHÁP LÝ TĂNG CƯỜNG THU HÚT ĐẦU TƯ VÀO
CÁC KHU CHẾ XUẤT – KHU CÔNG NGHIỆP CẦN THƠ
69
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 7a - Ưu đãi về thuê lại đất
3.4.1 - Thực trạng thu hút đầu tư vào
các khu chế xuất – khu công nghiệp Cần thơ
72 3.4.2 - Giải pháp pháp lý tăng cường thu hút đầu tư vào
khu chế xuất – khu công nghiệp Cần Thơ
Trang 8NHỮNG TỪ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN
1 LKKĐTTN: Luật khuyến khích đầu tư trong nước
2 LĐTNNTVN: Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam
3 KXC: Khu chế xuất
4 KCN: Khu công nghiệp
5 KCNC: Khu công nghệ cao
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 9MỞ ĐẦU
1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI:
Trong bối cảnh, xu thế khu vực hóa và toàn cầu hóa hiện nay, hầu hết các quốc gia trên thế giới đều tranh thủ mọi nguồn lực để đầu tư, phát triển kinh tế Bởi chỉ tăng trưởng kinh tế bền vững mới là con đường nhanh nhất đưa đất nước hòa nhập với nền kinh tế của thế giới
Nhận thức được vấn đề, Nhà nước Việt Nam đã sớm thực hiện cải cách, đổi mới nhiều mặt để tranh thủ, thu hút các nguồn đầu tư nhằm phát triển, chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tăng dần tỷ trọng công nghiệp - dịch
vụ, thực hiện công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước
Trong giai đoạn đầu của quá trình đổi mới, do tích lũy nội bộ của nền kinh tế chưa cao, không thể có đủ vốn đầu tư, kỹ thuật công nghệ tiên tiến …
để kiến tạo đầy đủ ngay một lúc trên phạm vi cả nước những điều kiện và yếu
tố đáp ứng yêu cầu của nền sản xuất phát triển, nên Việt Nam đã chọn mô hình sản xuất công nghiệp theo lãnh thổ: Khu chế xuất – Khu công nghiệp để kiến tạo dần dần, tạo ra những sản phẩm công nghiệp có thể cạnh tranh được và dựa vào mô hình này để có thể khai thác tiềm năng của quốc gia
Việc thực hiện mô hình Khu chế xuất – Khu công nghiệp còn nhằm thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, đô thị hóa các vùng, tạo mặt bằng xây dựng mới những cơ sở công nghiệp, đẩy mạnh công nghiệp hóa - hiện đại hoá đất nước Đây là một trong những biện pháp hữu ích để tiến hành đổi mới, phát triển đất nước
Các nhà làm Luật ở nước ta đã xây dựng một hệ thống pháp lý điều chỉnh các hoạt động đầu tư nói chung và đầu tư vào Khu chế xuất – Khu công nghiệp nói riêng, để tạo cơ sở pháp lý, đảm bảo cho các hoạt động này được diễn ra theo một trình tự hợp lý Bởi hoạt động của Khu chế xuất – Khu công nghiệp là một tổng thể hiện tượng kinh tế phức tạp, luôn phát sinh những quan
hệ khác nhau trong những hoàn cảnh không giống nhau Và còn nhằm đảm bảo vai trò quản lý của Nhà nước
Hoạt động đầu tư vào Khu chế xuất – Khu công nghiệp ở nước ta hiện nay chịu sự điều chỉnh trước hết bởi LĐTNNTVN (sửa đổi, bổ sung năm 2000), Luật khuyến khích đầu tư trong nước, Quy chế Khu chế xuất – Khu công nghiệp – khu công nghệ cao (ban hành kèm theo nghị định 36/NĐ- CP, ngày 24/04/1997), Nghị định 24/2000/NĐ – CP ban hành ngày 31/07/2000 về Quy định chi tiết thi hành Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam và Nghị định
số 27/2003/NĐ – CP ban hành ngày 19/03/2003 về sửa đổi bổ sung một số điều của nghị định 24/2000/NĐ - CP và những văn bản pháp lý chuyên ngành khác Đan xen trong các văn bản pháp lý này là các chính sách ưu đãi, khuyến
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 10khích đầu tư … để tạo ra một chính sách hấp dẫn, thu hút các nhà đầu tư lựa chọn Khu chế xuất – Khu công nghiệp làm địa điểm sản xuất – kinh doanh
Khung pháp luật điều chỉnh về hoạt động đầu tư vào Khu chế xuất – Khu công nghiệp ở nước ta được ban hành và áp dụng trong một thời gian khá dài Hiện nay, các văn bản này tỏ ra kém hoà hợp và có nhiều bất cập trong tình hình mới, thời kỳ mới - thời kỳ các Khu chế xuất – Khu công nghiệp phát triển theo chiều sâu với hiệu quả chắc chắn sẽ được nâng cao hơn Nên, nhiều vấn đề đặt ra và cần được giải quyết thỏa đáng trong lý luận lẫn trong thực tiễn
Hệ thống pháp luật về đầu tư với đầy đủ các biện pháp thay đổi theo chiều hướng tích cực, có lợi cho cả nhà đầu tư và phía ban hành chắc chắn sẽ thu hút, hấp dẫn các nhà đầu tư và mục tiêu khi ban hành luật cũng sẽ đạt được Bên cạnh, hệ thống pháp luật tiến bộ, phù hợp với thông lệ quốc tế cũng
là một trong những phương thức đưa nền kinh tế nhanh chóng hội nhập với nền kinh tế thế giới và khu vực
Xuất phát từ những vấn đề này, yêu cầu đặt ra là sớm có một cơ chế pháp luật đầy đủ, đồng bộ và có đủ sức hấp dẫn để thu hút các nhà đầu tư lựa chọn Khu chế xuất – Khu công nghiệp như giải pháp tối ưu Chính vì lý do
này, tôi đã chọn đề tài “ Biện Pháp Pháp Lý Tăng Cường Thu Hút Đầu Tư
Vào Khu Chế Xuất – Khu Công Nghiệp ở Nước Ta Và Thực Tiễn Tại Các Khu Chế Xuất – Khu Công Nghiệp Cần Thơ” làm đề tài nghiên cứu cho luận
văn tốt nghiệp
2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI:
Nhằm hệ thống, phân tích các quy định của pháp luật về đầu tư vào Khu chế xuất – Khu công nghiệp và xem xét việc áp dụng các quy định này trong thực tiễn, từ đó nêu lên những giải pháp tiến bộ và phù hợp với tình hình
3 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU:
* Đối tượng nghiên cứu của đề tài:
Đề tài nghiên cứu các quy định hiện hành về đầu tư vào các Khu chế xuất – Khu công nghiệp của Việt Nam, cũng như các chính sách ưu đãi, khuyến khích đầu tư đối với các khu này
* Phạm vi nghiên cứu:
- Về nội dung: Đề tài nghiên cứu các quy định của pháp luật về đầu tư
vào Khu chế xuất – Khu công nghiệp, và các chính sách ưu đãi cho các doanh nghiệp trong khu vực này Đề tài không đề cập về khu công nghệ cao hay khu kinh tế mở, đặc khu kinh tế, và các doanh nghiệp được hưởng quy chế doanh nghiệp chế xuất ở ngoài khu chế xuất
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 11- Về phạm vi không gian: Trên cơ sở số liệu thống kê chung của cả
nước, đề tài sẽ phân tích đánh giá tình hình chung, và sẽ đi vào thực tế ở các Khu chế xuất – Khu công nghiệp Cần Thơ
- Về thời gian: Các số liệu thống kê sử dụng trong đề tài được thu thập
cho đến tháng 03/2003
4 - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI:
Đề tài sử dụng các phương pháp sau: Phương pháp và lý luận của Chủ nghĩa duy vật biện chứng, Duy vật lịch sử, kết hợp các phương pháp phân tích
- so sánh luật viết Ngoài ra, còn áp dụng Tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước
và pháp luật, các tư tưởng chỉ đạo của Đảng và Nhà nước về đổi mới tư duy pháp lý – chính trị và cải cách hành chính – tư pháp, và trong lĩnh vực kinh tế
5 - KẾT CẤU CỦA ĐỀ TÀI:
Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, nội dung của đề tài gồm 3 chương :
CHƯƠNG 1: Những vấn đề lý luận chung về khu chế xuất – khu công nghiệp
Chương 2: Cơ chế điều chỉnh của pháp luật hiện hành về thu hút đầu tư vào khu chế xuất – khu công nghiệp ở nước ta
CHƯƠNG 3: Thực trạng hoạt động và giải pháp pháp lý tăng cường thu hút đầu tư vào các khu công nghiệp – khu chế xuất Cần Thơ
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 12BIỆN PHÁP PHÁP LÝ TĂNG CƯỜNG THU HÚT ĐẦU TƯ VÀO CÁC KHU CHẾ XUẤT – KHU CÔNG NGHIỆP Ở NƯỚC TA
VÀ THỰC THIỄN TẠI CÁC KHU CHẾ XUẤT – KHU CÔNG NGHIỆP
CẦN THƠ
CHƯƠNG 1:
LÝ LUẬN CHUNG VỀ KHU CHẾ XUẤT – KHU CÔNG NGHIỆP
a – Về khái niệm “Khu chế xuất” có hai loại ý kiến sau:
* Theo nghĩa hẹp, KCX chỉ là một giới hạn riêng biệt, mà ở đó chuyên
sản xuất hàng hóa phục vụ xuất khẩu và được áp dụng quy chế thương mại tự
do riêng biệt, không phụ thuộc vào chế độ thương mại và thuế quan của nước chủ nhà
Theo quan điểm này, tài liệu về “Khu chế xuất tại các nước đang phát triển” (Export Processing Zone In Developing Country) do Tổ chức phát triển công nghiệp Liên Hợp Quốc (UNIDO) công bố năm 1980 đã viết: “Khu chế xuất là một khu vực tương đối nhỏ, phân cách về địa lý trong một quốc gia, nhằm mục tiêu thu hút đầu tư vào các ngành công nghiệp hướng về xuất khẩu, bằng cách cung cấp cho khu vực này những điều kiện về đầu tư và mậu dịch thuận lợi đặc biệt so với phần lãnh thổ còn lại của nước chủ nhà Trong đó, đặc biệt là KCX cho phép miễn thuế xuất nhập khẩu đối với hàng hoá dùng cho sản xuất để xuất khẩu trên cơ sở kho quá cảng (Bonded duty - free basic)”(1)
Đài Loan – một nước tiên phong và có nhiều thành công trong việc xây dựng mô hình KCX đã định nghĩa như sau: “Khu chế xuất là một khu vực đặc biệt, được đặt một cách tự nhiên và theo một cách quản lý bên ngoài lãnh thổ hải quan, đã được định trước để sản xuất hàng xuất khẩu; các doanh nghiệp
Trang 13trong KCX được phép nhập khẩu thiết bị để góp vốn và nguyên liệu thô được miễn thuế nhập khẩu và không bị giới hạn nào khác”(2)
* Theo nghĩa rộng, KCX không chỉ bao gồm khu vực công nghiệp
chuyên môn hóa hàng xuất khẩu, mà KCX còn bao gồm cả những khu vực được Chính phủ cho phép như Khu cảng tự do, Khu tự do thuế quan (Liên hiệp hải quan), Khu mậu dịch tự do, Kho quá cảng Cũng theo nghĩa này, Hiệp hội KCX thế giới (World export processing zone association – WEPZA) đã viết:
“KCX là tất cả khu vực được Chính phủ cho phép như: Cảng tự do, khu phi thuế quan, KCN tự do, khu ngoại thương tự do”(3)
Ở một số nước, KCX theo dạng này là khu kinh tế tự do, ở đó các xí nghiệp công nghiệp được tổ chức để chuyên xuất hàng hóa xuất khẩu (Tuy nhiên ở một số khu cũng có hoạt động kinh doanh) và có tên gọi khác nhau (Malayxia gọi là khu mậu dịch tự do; Hàn Quốc gọi là KCX tự do) nhưng ở các khu vực này chủ yếu là hoạt động sản xuất, còn hoạt động mua bán là rất
ít
b – Khái niệm KCN :
Có hai loại khái niệm sau:
* Quan niệm thứ nhất: KCN là khu vực lãnh thổ rộng, có nền tảng là
sản xuất công nghiệp, đan xen với nhiều hoạt động dịch vụ sinh hoạt, vui chơi giải trí, khu thương mại, văn phòng, nhà ở (4) Theo quan niệm này, KCN thực chất là khu hành chính - kinh tế đặc biệt
* Quan niệm thứ hai cho rằng: KCN là khu vực lãnh thổ nhất định, ở
đó tập trung các xí nghiệp công nghiệp và dịch vụ sản xuất công nghiệp, không có dân cư sinh sống (5)
Luật về KCN của Đài Loan định nghĩa KCN như sau: “KCN là khu đất được chia nhỏ và xây dựng căn cứ vào một quy hoạch toàn diện, quản lý thống nhất để với cơ ở hạ tầng cơ bản và tiện ích công cộng khác được xây dựng sẵn cho việc sử dụng chung trong KCN (6)
Dù có những khái niệm khác nhau, nhưng về cơ bản khái niệm KCN được dùng để chỉ một khu vực nhất định, xây dựng phục vụ sản xuất công nghiệp là chủ yếu
Như thế KCX - KCN có những đặc điểm sau:
Nguyễn Thu Phương, Các loại hình khu công nghiệp ở Đông Nam Á, Thông tin khu công nghiệp
Việt Nam, tháng 10,1999 Trang 16
5 Nguyễn Thu Phương , Sđd, trang 16
6 Phạm Gia Toàn,Vai trò của khu chế xuất – khu công nghiệp trong sự phát triển kinh tế của Đài
Loan, NXB Thống kê, 1999, trang 16
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 14- Tiền thân của KCX - KCN là mô hình Cảng tự do, Khu mậu dịch tự
do,7 chủ yếu là hoạt động thương mại, tái xuất khẩu và chuyển khẩu hàng hóa đến các nước Bởi vào thế kỷ XVIII – XIX và nửa đầu thế kỷ XX, Chủ nghĩa
tư bản ở trong thời kỳ cạnh tranh tìm kiếm và phân chia lại thị trường thế giới Điều quan tâm của các nước tư bản thời kỳ này là tìm nơi tiêu thụ hàng hóa của mình
Sau chiến tranh thế lần 2, các nước mới giành độc lập xây dựng lại nền kinh tế, tiến lên thực hiện sản xuất trên cơ sở nền công nghiệp quốc gia, biến các Cảng tự do, Khu mậu dịch tự do vốn phụ thuộc nước ngoài, chỉ thực hiện nhiệm vụ chuyển khẩu mậu dịch trước đây sang phát triển sản xuất, chế biến
và xuất khẩu Do tiến bộ của khoa học kỹ thuật, công nghiệp cơ khí, điện tử, tự động hóa, và những cải tiến về phương tiện giao thông đã biến đổi cơ bản hoạt động của các Cảng tự do, Khu mậu dịch tự do
Dù có nhiều tên gọi, nhưng mô hình KCX – KCN có đặc điểm chung là khu vực phi thế quan và ít bị ràng buộc bởi khung cảnh pháp lý của nước chủ nhà
1.1.2 - Mục tiêu thành lập KCX – KCN của các nước trên thế giới:
Ở các quốc gia, KCX – KCN được thành lập nhằm các mục tiêu sau
- Thu hút vốn đầu tư nước ngoài :
Là khu lãnh thổ khá biệt lập, các KCX – KCN trở thành công cụ hữu hiệu thu hút đầu tư, nhất là đầu tư nước ngoài để mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh trong khu và đạt đến tốc độ tăng trưởng chung cho cả nền kinh tế Các nước chủ nhà, thông qua mô hình KCX – KCN như một cầu nối trung gian để thu hút vốn đầu tư vào các thành phần lãnh thổ còn lại
- Mở rộng hoạt động ngoại thương :
Các quốc gia kém phát triển muốn xây dựng một nền kinh tế riêng, thực hiện công nghiệp hóa đất nước Nhưng khó khăn đầu tiên gặp phải là không có ngoại tệ Xu hướng chung của các nước thành lập KCX, KCN để thu hút đầu
tư, thực hiện công nghiệp hóa hướng về xuất khẩu, thu ngoại tệ và ngoại tệ này được sử dụng để tái nhập khẩu trở lại những công nghệ thiết bị tiên tiến, xây dựng các cơ sở sản xuất hiện đại
- Giải quyết việc làm, tăng thu nhập cho người lao động :
Sự bùng nổ dân số và tình trạng thất nghiệp đã làm cho nền kinh tế của các nước đang phát triển lâm vào tình trạng khó khăn, các nước này muốn sử dụng KCX – KCN nhằm tạo ra việc làm cho người lao động
7
Xem phần “Lịch sử hình thành khu chế xuất – khu công nghiệp trên thế giới”
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 15Ngoài ra, còn tạo khả năng tăng thu nhập cho người lao động trong khu, bởi công nhân làm việc trong KCX – KCN ngoài lương cơ bản, còn được hưởng những khoản phụ trợ cấp như phụ cấp đi lại, trợ cấp bửa ăn,
- Du nhập kỹ thuật hiện đại, công nghệ tiên tiến, kinh nghiệm quản lý
của các công ty tư bản nước ngoài Các nước đang phát triển thường có thiết
bị máy móc cũ kỷ, kỹ thuật lạc hậu Để giảm bớt khoảng cách tụt hậu về kinh tế, kỹ thuật nhất là trong sản xuất công nghiệp và tăng sức cạnh tranh, nhanh chóng phát triển nền khoa học kỹ thuật, nâng cao trình độ quản lý kinh
tế thì việc tiếp thu công nghệ và kỹ năng là mục đích hàng đầu của các nước Các nước này thực hiện mô hình KCX – KCN với những chính sách ưu đãi, hấp dẫn nhằm khuyến khích các nước tiên tiến, các công ty xuyên quốc gia đưa công nghệ, kỹ thuật hiện đại vào đầu tư Hoạt động chuyển giao công nghệ diễn ra dưới hình thức :
* Tổ chức đào tạo công nhân của nước chủ nhà để sử dụng được máy móc và công nghệ tiên tiến
* Ðào tạo công nhân có nề nếp và kỹ thuật lao động, ý thức trong công việc, có thói quen lao động công nghiệp
* Ðào tạo đội ngũ các Giám đốc, kỹ sư, kỹ thuật viên có được những kỹ năng cần thiết của tác phong công nghiệp, có khả năng trong điều hành và quản lý một cơ sở hiện đại (8)
- Tăng cường mối liên kết và tác động của KCX – KCN đối với phần
còn lại của nền kinh tế Thể hiện ở quá trình mua bán hàng hóa tại thị trường
trong nước: khi nguyên liệu, vật liệu từ bên ngoài cung cấp cho KCX – KCN thì dẫn đến đòi hỏi phải có sự thay đổi một cách tương thích của các khu vực sản xuất, lưu thông trong nước, góp phần thúc đẩy, tăng tính năng động của nền nội thương
Mối liên kết, tác động còn thể hiện thông qua "Hiệu ứng số nhân" của Keynes: Ngoài việc trực tiếp đem lại cho công nhân ở KCX – KCN khoản tiền lương hàng tháng, các KCX – KCN còn gián tiếp tạo việc làm cho các lao động ở các địa phương xung quanh Và thực tế theo kết quả điều tra của WEPZA trung bình một chỗ làm trong KCX – KCN tạo ra hai việc làm ở bên ngoài (9)
1.1.3 - LỊCH SỬ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA MÔ HÌNH KHU CHẾ XUẤT – KHU CÔNG NGHIỆP TRÊN THẾ GIỚI:
8
Lưu Tất Thắng, Chuyển giao công nghệ và thương mại quốc tế ở Châu Á – Thái Bình Dương (trong quyển “Lý luận và thực tiễn thương mại quốc tế”) Trung tâm kinh tế Châu Á – Thái Bình Dương, NXB Khoa học xã hội , Năm 1990, trang 142 – 164
9 Báo cáo tại Hội nghị khu chế xuất Châu Á do Hiệp hội khu chế xuất thế giới tổ chức tại Malayxia, từ
17 đến 19/05/1994
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 16a - Cơ sở lý luận cho việc hình thành và phát triển của mô hình KCX – KCN:
KCX - KCN ra đời trên cơ sở những thay đổi trong môi trường kinh tế
- kỹ thuật của nền kinh tế toàn cầu sau chiến tranh thế giới lần thứ hai Các
nước công nghiệp phát triển gặp nhiều khó khăn gay gắt về nguồn nhân công tiền công thấp ở trong nước và nguồn nguyên liệu cho công nghiệp vốn trước đây được tước đoạt một cách tự do ở các nươc thuộc địa - nay đã giành được độc lập
Ở các nước đang phát triển vừa mới giành độc lập, cũng gặp khó khăn trong phát triển kinh tế, nạn thất nghiệp gia tăng, thiếu vốn đầu tư và ngoại tệ
để khai thác tài nguyên thiên nhiên, thiếu kỹ thuật công nghệ tiên tiến, thiếu cán bộ quản lý, những công nhân lành nghề có trình độ cao để kiến tạo đầy đủ ngay một
lúc trên phạm vi cả nước những điều kiện và yếu tố để sản xuất những sản phẩm công nghiệp chế tạo đủ sức cạnh tranh trên thị trường thế giới
Để tìm kiếm nguồn nhân công với giá rẻ và nguồn nguyên liệu, các nhà đầu tư ở những nước phát triển di chuyển các cơ sở sản xuất dùng nhiều lao động, tài nguyên ra nước ngoài Còn các nước đang phát triển, thấy được lợi thế của mình đã cố gắng tạo ra môi trường kinh tế thích hợp để thu hút đầu tư
từ bên ngoài vào, nhằm giải quyết những bế tắc kinh tế và thực hiện chiến lược công nghiệp hóa hướng về xuất khẩu
KCX - KCN được thành lập trên cơ sở kiến tạo những điều kiện, yếu
tố thuận lợi về mặt pháp lý và kỹ thuật hạ tầng trên một địa bàn hạn chế, phù hợp với khả năng tài quản lý và tài chính không cao Với mô hình này, các nước đang phát triển có khả năng huy động những nguồn lực tiềm ẩn, chưa được khai thác vào quá trình phát triển kinh tế, cụ thể là tài nguyên thiên nhiên sẵn có và nguồn lao động dồi dào Ngoài ra, một nước có năng suất lao động không cao vẫn có thể có lợi thế tham gia vào sự phân công lao động quốc tế
(10) Những lợi thế mà các nước này có thể phát huy khi sử dụng hình thức KCX - KCN là: vị trí địa lý thuận lợi cho sản xuất và buôn bán quốc tế, ưu thế
về tay nghề và giá cả lao động đối với việc sản xuất và khả năng chuyên môn hóa nhanh chóng để đáp ứng nhu cầu thế giới về một số mặt hàng nhất định
b - Quá trình hình thành và phát triển của mô hình KCX - KCN trên thế giới:
Ngày nay, khái niệm KCX - KCN, khu mậu dịch tự do, đặc khu kinh
tế xuất hiện rất phổ biến Ra đời sớm nhất trên thế giới là hình thức cảng tự
10 “Học thuyết về lợi thế so sánh” của David Ricardo (1772 – 1823), nhà kinh tế học người Anh,
(trong quyển Lịch sử các học thuyết kinh tế”), NXB Giáo dục, 1993, trang 84 – 86
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 17do, khu mậu dịch tự do, sau đó mới phát triển và hoàn thiện dần thành mô hình KCX – khu công ngiệp
Hình thức sơ khai của KCX – KCN là các Cảng tự do, Khu mậu dịch tự
do Với hình thức này, việc tìm kiếm lợi nhuận cho hoạt động kinh doanh được thực hiện thông qua việc tạo thuận lợi cho thủ tục hải quan, các khâu lưu kho, trung chuyển và phân phối, thực hiện giảm thuế quan
Năm 1228, trong vùng cảng Mác – xây ở miền Nam nước Pháp, người
ta đã dành ra một khu vực riêng để mở ra khu mậu dịch tự do và quy định: hàng hóa nước ngoài có thể xuất – nhập vào khu, không phải đóng bất kỳ loại thuế quan nào
Với sự hình thành và phát triển của Chủ nghĩa tư bản, nền kinh tế hàng hóa phát triển nhanh chóng.” Để thúc đẩy sự phát triển mậu dịch tự do, một số thành phố ở miền Bắc nước Đức như Hamburg, Bremerhaven, Libeek đã liên kết lại với nhau, thành lập ra Liên minh khu mậu dịch tự do, còn gọi là đồng minh Hanseatic Đồng minh này thành lập chính thức năm 1367, gồm hơn 70 thành viên, nhằm thúc đẩy sự thông thương mậu dịch trong khối và đã không ngừng phát triển, bành trướng thế lực, kết nạp thành viên mới
Năm 1547, cảng Lirvorno – một cảng nằm ngoài Florenxơ, trong vịnh Giênoa của Ý đã tuyên bố là cảng tự do, Đến nay, người ta cho rằng Cảng tự
do Lirvorno chính là “Thuỷ tổ” của mô hình KCX – KCN trên thế giới Đến thế kỷ thứ XVI – XVII, các Cảng tự do, Khu mậu dịch tự do lần lượt xuất hiện khắp Địa Trung Hải, sang thế kỷ thứ XVIII – XIX xuất hiện mở rộng sang các khu vực khác của thế giới, do nhu cầu bành trướng thị trường của Chủ nghĩa tư bản
Ở Châu Á, Cảng tự do, Khu mậu dịch tự do bắt đầu hình thành khi đảo Penang của Malayxia bị Anh xâm chiếm năm 1786 và tuyên bố thành Cảng tự
do Sau đó nhiều Cảng tự do khác đã ra đời tại nhiều nơi trong khu vực Singapore, Hồng kông, Philippin Ở Châu Mỹ, mô hình này xuất hiện muộn hơn Năm 1923, Uruquay thành lập Khu mậu dịch tự do Colonia; Mêhico thành lập Khu mậu dịch tự do Tijuana và Mexicall ở biên giới phía Bắc Đó là những khu mậu dịch tự do ra đời sớm nhất ở Châu Mỹ
Sự ra đời của các Khu mậu dịch tự do, Cảng tự do là kết quả của sự hình thành và phát triển của Chủ nghĩa tư bản Các loại hình này đã tạo nền tảng cho mô hình KCX – KCN trên thế giới Đến một giai đoạn nhất định, khi trình độ phát triển khoa học công nghệ ngày càng cao, phân công lao động quốc tế ngày càng sâu, chuyên môn hóa và quốc tế hóa ngày càng mở rộng … người ta có sự quan tâm, chú ý nhiều hơn đến khâu sản xuất, tạo ra những khả năng để gắn sản xuất với khoa học công nghệ, gắn sản xuất với lưu thông, gắn các khu vực chế tạo với các kênh tiêu thụ, buôn bán, đòi hỏi các Cảng tự do, Khu mậu dịch tự do phải có cả các xí nghiệp sản xuất, các cơ sở công nghệ cao
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 18sản xuất ra các sản phẩm phục vụ cho buôn bán, cho xuất khẩu Mô hình Cảng
tự do, Khu mậu dịch tự do xa sút dần mạnh điểm, đã bị thay thế dần bởi sự hình thành các khu vực có hoạt động sản xuất công nghiệp gắn liền với kinh
doanh và xuất khẩu – được gọi là KCX
KCX đầu tiên là KCX Shannon của Ailen, vào năm 1956 Ở khu vực Châu Á, theo kinh nghiệm của Ailen, vào năm 1966, Ấn Độ và Đài Loan đã thành lập KCX Kế tiếp Đài Loan, Malaxia, Philippin, Hàn Quốc, Xrilanca…đều đã thành lập KCX và khai thác triệt để thế mạnh của nó như một công cụ để thực hiện chiến lược công nghiệp hóa hướng về xuất khẩu, và tăng sức cạnh tranh trên thế giới
Đến cuối năm 1960, có 9 KCX ở 9 nước trên thế giới; đến cuối năm
1974 có 34 KCX ở 20 nước; giữa năm 1979 có 54 KCX ở 29 nước; giữa năm
1984 có 79 khu ở 35 nước Và ngày nay có hàng trăm KCX trên thế giới
Quá trình hình thành và phát triển của KCX là một nhân tố quan trọng trong chiến lược phát triển mậu dịch và công nghiệp của các quốc gia đang phát triển và muốn phát triển kinh tế Mô hình KCX được xem như một trong những công cụ hành chính để tạo ra thể chế thương mại tự do cho các ngành công nghiệp chế biến xuất khẩu
Các khu chế xuất được thành lập nhiều vào thập kỷ 70 – 80 và đã khá thành công, do lực lượng lao động dồi dào, giá nhân công thấp, lại nằm trong tuyến đường hàng hải nối liền các cảng và trung tâm thương mại sôi động bậc nhất thế giới… Các nước còn thực hiện nhiều chính sách ưu đãi thỏa đáng đối với lĩnh vực xuất khẩu, có hệ thống thông tin thương mại và hỗ trợ tiếp thị xuất khẩu, thúc đẩy mậu dịch được cung cấp nhanh, hiệu quả… Vẫn còn không ít KCX hoạt động kém như KCX Bataan, Mactan của Philippin và các KCX khác ở Châu Á Cơ sở để đánh giá là dựa vào tỷ lệ các công ty thành lập các xí nghiệp trong khu: trong khi các KCX ở Đài Loan, Masan, Iric (Hàn Quốc)…có tỷ lệ thu hút các xí nghiệp vào hoạt động trong KCX đạt hơn 80% thì ở các khu Bataan, Mactan…tỷ lệ này chưa đến 50%11 … Do có quá nhiều KCX được thành lập trên thế giới tạo nên thị trường dư thừa; KCX tập trung với mật độ cao trong một khu vực, sự cạnh tranh gay gắt thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài giữa các KCX, buộc các nước này có nhiều nhân nhượng lớn hơn về tài chính và các yếu tố sản xuất khác, trong khi thực tế vẫn chưa tạo được môi trường kinh doanh ưu đãi và chưa chuẩn bị tốt cho hoạt động đầu tư
…
Thành lập KCX ,các nước đều muốn giải quyết việc làm, lợi dụng được kỹ thuật nước ngoài tạo mối liên kết và cung cấp đầu vào cho nền kinh tế nước sở tại Nhưng khả năng tạo việc làm, chuyển giao công nghệ và tạo mối
11
Pts Mai Ngọc Cường, sđd, trang 12
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 19liên kết với các cơ sở kinh tế trong nước của các KCX là rất hạn chế, đóng góp vào tổng kim ngạch xuất khẩu của các KCX cũng rất ít, chỉ ở mức 4 - 5%(12)
Nhằm xuất khẩu hàng hóa, thu nguồn ngọai tệ, đồng thời bảo hộ nền sản xuất trong nước nên các quốc gia đều buộc các KCX phải xuất khẩu toàn
bộ các sản phẩm ra thị trường thế giới Các KCX gặp khó khăn trong việc tìm thị trường xuất khẩu sản phẩm, vốn có nhiều loại tương đồng Trong khi đó thị trường trong nước có dung lượng lớn và là điểm hy vọng của các nhà đầu tư thì bị khép lại Sau một thời gian hình thành và hoạt động, KCX không còn là công cụ tích cực để thúc đẩy cải cách thương mại trên phạm vi cả nước, không còn thích hợp với quan hệ hợp tác kinh tế quốc tế và nhu cầu đầu tư phát triển, bởi nguyên tắc “mở ngoài - đóng trong” Khắc phục tình trạng này, nhiều nước
đã chuyển sang mô hình kinh tế uyển chuyển, năng động hơn, trong đó hình thức KCX vẫn tồn tại và thị trường nội địa được tính đến như một yều tố hấp
dẫn đối với các nhà đầu tư - đó là mô hình KCN tập trung
Các KCN được hình thành cách đây hơn 100 năm, vào năm 1890 ở Anh và Mỹ Ở Châu Á các KCN được hình thành muộn hơn, vào đầu những năm 1950 của thế kỷ XX, Ấn Độ được biết đến là nước đầu tiên thành lập các KCN như một chương trình của phát triển công nghiệp Ở khu vực Đông Nam
Á, các KCN được thành lập vào những thập niên 60-70, và số KCN này tăng lên rất nhanh, từ khoảng 90 KCN ở Indonesia, đến hơn 150 KCN ở Malaysia…Và ngày nay các KCN này họat động rất có hiệu quả, đã góp phần đưa quốc gia này thành những đất nước phát triển nhất trong khu vực
Mô hình KCX - KCN là thử nghiệm về việc sáng tạo ra môi trường đầu
tư kiểu “nhân tạo”, ở khu vực này Chính phủ bên thành lập có quyền chủ động cao nhất trong việc áp dụng những chính sách và biện pháp khuyến khích, ưu đãi đầu tư mà không phải lo ngại hậu quả ảnh hưởng lâu dài đến toàn bộ nền kinh tế trong nước, bởi các KCN - KCX thường là có địa bàn hẹp (vài trăm ha), có hàng rào hữu hình và vô hình (quy chế ra vào KCX- KCN), có khả năng chủ động tạo ra yếu tố “cứng” và cả yếu tố “mềm” của môi trường đầu tư trong một thời gian nhất định, đảm bảo kiểm soát được hoạt động và áp dụng những ưu đãi, cơ chế thông thoáng đồng thời có khả năng ngăn chặn được những tác động tiêu cực có thể xảy ra đối với nền sản xuất trong nước
KCX - KCN chính là “Khu vực kinh tế có tính chất quốc tế trong một
quốc gia có tính chủ quyền, một khu vực kinh tế hiện đại trong một khu vực kinh tế kém phát triển, một khu vực kinh tế thị trường trong một quốc gia có nền kinh tế đang chuyển sang nền kinh tế thị trường” (13)
12 Báo cáo tại Hội nghị khu chế xuất Châu Á do Hiệp hội khu chế xuất thế giới tổ chức,sđd
13 Công nghiệp hóa hướng về xuất khẩu, kinh nghiệm các nước ASEAN, Mohamed Arriff – Hall Hill, Viện Kinh tế Châu Á – Thái Bình Dương, NXB Khoa học xã hội, 1992, trang 65
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 201.1.4 –KINH NGHIỆM THU HÚT ĐẦU TƯ VÀO KHU CHẾ XUẤT – KHU CÔNG NGHIỆP Ở MỘT SỐ NƯỚC:
a Kinh nghiệm pháp luật của Trung Quốc về thu hút đầu tư vào Đặc khu kinh tế Thẩm Quyến:
Từ năm 1972 Trung Quốc đã có những tư tưởng mở cửa nền kinh tế Sau thời gian tìm kiếm mô hình thích hợp, Trung Quốc đã xây dựng được khoảng 6 đặc khu kinh tế: Thẩm Quyến, Sán Dầu, Chu Hải, Ngọ Môn, Hải Nam, Phổ Đông, Trong đó Thẩm Quyến là đặc khu kinh tế lớn nhất, được xây dựng từ năm 1983 là một điển hình về phát triển kinh tế mở cửa Mục tiêu phát triển công nghiệp đồng thời với nông nghiệp, chăn nuôi, trồng trọt, nhằm đưa Thẩm Quyến trở thành một khu vực phồn vinh về kinh tế, tiến bộ về chính trị, văn minh xã hội
Sau nhiều năm xây dựng và phát triển, đặc khu kinh tế Thẩm Quyến đã đạt được mức phát triển các hoạt động kinh tế - xã hội, văn hóa ngang tầm và thậm chí cao hơn so với các quốc gia phát triển trên thế giới Thu hút được các nguồn vốn đầu tư, nhất là đầu tư nước ngoài, tạo việc làm, nâng cao mức sống
và gây sức ảnh hưởng lan tỏa với các vùng khác trong nước Có nhiều nhân
tố đóng góp vào thành công này, điều quan trọng là do có được sự quan tâm của Chính phủ Trung Quốc với tư tưởng "cải cách mở cửa", tạo ra một hệ thống pháp luật để đảm bảo và thu hút đầu tư nước ngoài vào đặc khu kinh tế Thẩm Quyến Hiện nay, về các đặc khu đã có hơn 30 văn bản pháp quy đã được ban hành nhằm thể chế hóa việc xây dựng và hoạt động của đặc khu kinh
tế Nhà nước còn thành lập văn phòng Hội đồng Nhà nước Trung ương và Ủy ban quản lý các đặc khu kinh tế của cấp tỉnh để điều hành đặc khu kinh tế
- Chính phủ mạnh dạn đầu tư vào xây dựng cơ sở hạ tầng, chấp nhận chi phí và rủi ro Xây dựng cơ sở hạ tầng là tạo ra một khu vực thương mại, công nghiệp hoàn toàn mới, xây dựng nhà cửa cho cơ quan, nhà xưởng cho nhà máy Nhà nước còn xây dựng hệ thống cung cấp điện nước, mở đường giao thông thủy, bộ, sân bay, mở bưu điện, viễn thông và xây dựng mặt bằng cho các xí nghiệp Những công việc này đòi hỏi phải có nguồn vốn đầu tư lớn
và từ năm 1980 đến năm 1983 Chính phủ Trung Quốc đã chi tiêu khoảng 1,9 tỉ nhân dân tệ (tương đương khoảng 980 triệu đô la) vào các khoản xây dựng cơ bản và kết cấu hạ tầng chỉ mới ở giai đoạn đầu
- Ban hành hàng loạt những chính sách ưu đãi, thu hút các nhà đầu tư :
+ Về đất đai: Ðất đai trong đặc khu kinh tế thuộc quyền sở hữu của nước Cộng Hoà Nhân Dân Trung Hoa, thương gia nước ngoài sử dụng đất
sẽ được cung cấp theo yêu cầu thực tế cần thiết theo thời hạn sử dụng Mức lệ phí sử dụng và thuế nộp căn cứ vào ngành nghề và mục đích sử dụng khác nhau
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 21+ Ưu đãi về tài chính:
Các xí nghiệp trong đặc khu khi nhập khẩu thiết bị, máy móc, linh kiện, nguyên liệu, phương tiện vận tải phục vụ nhu cầu sản xuất và các tư liệu sản xuất khác được miễn thuế nhập khẩu Các loại đồ dùng cần thiết có thể căn cứ vào tình hình cụ thể để xác định thu thuế hay miễn thuế nhập khẩu
Chính phủ Trung Quốc còn có những khuyến khích đối với những xí nghiệp trong đặc khu sử dụng máy móc, nguyên vật liệu do Trung Quốc sản xuất, giá cả sẽ ưu đãi hơn so với giá xuất khẩu tại chổ của hàng hóa cùng loại của Trung Quốc
+ Về vấn đề lao động: Công nhân, viên chức do các xí nghiệp đặc khu thuê, xí nghiệp quản lý theo yêu cầu kinh doanh, khi cần thiết cho nghỉ việc thì thực hiện theo thủ tục quy định trong hợp đồng lao động Công nhân viên chức trong xí nghiệp cũng có thể theo hợp đồng lao động đã quy định trực tiếp đề xuất với xí nghiệp cho nghỉ việc Mức lương, hình thức lương, thưởng, bảo hiểm lao động của công nhân viên chức Trung Quốc trong
xí nghiệp ở đặc khu tùy thuộc vào quy định của Ủy ban quản lý đặc khu kinh
tế tỉnh Quảng Ðông và do xí nghiệp ký hợp đồng trực tiếp với từng công nhân, viên chức
+ Chính phủ đã áp dụng các nguyên tắc tự do trong việc xây dựng đặc khu kinh tế, hoàn toàn thực hiện các nguyên tắc tự do thị trường đối với hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp trong đặc khu kinh tế
+ Sự can thiệp của Nhà nước vào đặc khu kinh tế chỉ ở tầm vĩ mô: thông qua: các quy định pháp luật về tổ chức hoạt động kinh doanh của đặc khu kinh tế, tổ chức bộ máy quản lý đặc khu kinh tế theo các quy định của Chính phủ, các chính sách khuyến khích ưu đãi trong việc tổ chức và thúc đẩy hoạt động của đặc khu kinh tế
+ Giải quyết mối quan hệ giữa quản lý Trung ương và quản lý địa phương theo hướng nâng cao tính tự chủ của cơ quan chính quyền địa phương,
từ bỏ phương thức quản lý tác nghiệp cũ
+ Chính phủ còn cải thiện các quan hệ kinh tế đối ngoại như tỉ giá hối đoái, chính sách xuất nhập khẩu, chính sách thu hút vốn đầu tư nước ngoài
Các đặc khu đã có những tìm tòi bổ ích, sáng tạo trong phương thức xây dựng hệ thống kinh tế hàng hóa có kế hoạch của Xã hội chủ nghĩa trên cơ
sở lợi dụng nền kinh tế tư bản chủ nghĩa Trung Quốc Nó còn biểu thị rằng
"Kinh doanh Tư bản chủ nghĩa có thể hoạt động thành công dưới chế độ Xã hội chủ nghĩa"(14)
b - Kinh nghiệm chưa thành công của KCX Bataan (Inđônêxia)
14 Ts Nguyễn Kim Bảo, Đầu tư trực tiếp nước ngoài ở Trung Quốc từ 1979 đến nay, NXB Khoa học
xã hội, Hà Nội, 2000, trang 42
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 22Năm 1969, một đạo luật quy định chuyển đô thị Metiveles thành một cảng nhập cảnh và thành lập cơ quan chịu trách nhiệm ngoại thương để lập kế hoạch, phát triển và quản lý KCX Ðến tháng 12/1972 cảng nhập cảnh Mativeles đổi thành KCX Bataan (BEFZ) Khu chế xuất Bataan có diện tích 1.200 ha, được chia làm khu vực sản xuất công nghiệp, khu dành cho nhà ở, phương tiện, còn lại 480 ha vẫn để trống Khu vực dành cho sản xuất phát triển các ngành công nghiệp nhẹ, công nghiệp vừa, công nghiệp nặng Trong KCX còn có các phương tiện và dịch vụ xã hội như: trung tâm đào tạo kỹ thuật cho thanh niên, nhà an dưỡng, nhà hát, sân gôn, sân quần vợt các phương tiện thể dục dụng cụ và giải trí khác
KCX Bataan chịu sự quản lý của Ban quản lý KCX Cơ quan này hoạt động theo nguyên tắc tự trang trải Nguồn thu nhập chính là từ tiền thuê, thuê nhà xưởng, nhà ở tập thể, căn hộ, phí sử dụng nhà ở tập thể và các dịch vụ khác mà Ban Quản lý cung cấp Và các khoản thu này được chi cho trả lương, phụ cấp cho nhân viên Ban Quản lý, vật tư, nguyên liệu, điện và liên lạc
Mục tiêu thành lập KCX Bataan là di chuyển ngành công nghiệp từ vùng thành thị sang các vùng nông thôn để giải quyết việc làm cho nông thôn, đang dạng hóa sản phẩm chuyển từ xuất khẩu hàng truyền thống sang xuất khẩu sản phẩm truyền thống và thu hút nước ngoài vào Philippin Nhưng theo đánh giá, các mục tiêu của KCX Bataan là không thực hiện được, số lượng lao động làm việc trong KCX thấp, thu nhập ngoại tệ không đáng kể, chuyển giao công nghệ không nhiều, liên kết kinh tế trong nước không được và bị gián đoạn, không thu hút được vốn đầu tư nước ngoài Về phương diện chi phí và lợi ích thì những lợi ích do KCX Bataan mang lại không thể bù đắp cho những chi phí bỏ ra trong hiện tại và tương lai
KCX Bataan không thành công do:
+ Vị trí được lựa chọn chưa đúng KCX Bataan được xây dựng ở bờ biển, núi non biệt lập, kém phát triển Để xây dựng phải san bằng một số đồi, xây dựng đường xá, cảng khẩu và các phương tiện khác Mativeles có số dân không quá 5.000 người, phải di dân từ Manila và một số thành phố lân cận đến Đòi hỏi phải xây dựng nhà cửa, cơ sở phục vụ, phương tiện để sẵn phục
vụ Các chi phí xã hội để di chuyển dân cư vào sống ở khu vực KCX là không nhỏ làm cho chi phí kết cấu hạ tầng tăng nhanh
Với tổng số chi phí cơ sở hạ tầng lớn, KCX Bataan có thể sẽ có thu nhập lớn hơn khi các công ty thuê hết chỗ làm việc Song từ khi thành lập và hoạt động KCX Bataan chỉ thu hút được khoảng 50% số công ty so với dự kiến Nên làm cho chi phí sử dụng càng tăng cao hơn so với bình thường Ngay sau khi KCX Bataan được thành lập, Chính phủ Philippin đã có một số thay đổi về chính sách mở rộng kế hoạch kho hàng thuế quan Kế hoạch này không chỉ áp dụng cho KCX Bataan mà còn áp dụng cho các KCX khác nhằm
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 23khuyến khích mở rộng hoạt động chế biến xuất khẩu Đã làm cho việc tổ chức KCX trở nên thừa vì: nó thúc đẩy việc sản xuất hàng xuất khẩu ở phạm vi rộng hơn là KCX Bataan, và thúc đẩy sản xuất hàng công nghiệp xuất khẩu bên ngoài KCX
Nhiều xí nghiệp KCX cho rằng một số khuyến khích về tài chính của
họ bị giảm dần, các xí nghiệp KCX đều phải trả thuế đất đai dù trước đó có đảm bảo là không phải đóng thuế Các chi phí khuyến khích mà Chính phủ áp dụng cho các hãng thấp, không tương xứng với chi phí cho kết cấu hạ tầng Các chi phí dịch vụ phải trả giá khá cao Những phiền hà về thủ tục giấy tờ, nạn trộm cắp hàng xuất khẩu ngày càng gia tăng, gia tăng về chi phí vận tải, rút ngắn thời gian hợp đồng thuê nhà xưởng và đất đai
Dù thành lập trong cùng giai đoạn phát triển rầm rộ của mô hình KCX trên thế giới, nhưng KCX Bataan (Philippin) lại là một thất bại điển hình Sự thất bại này do nhiều nguyên nhân khách quan lẫn chủ quan, nhưng điều thấy trước tiên là do hệ thống chính sách, pháp luật và môi trường đầu tư không ổn định
* Bài học kinh nghiệm chung về thu hút đầu tư vào KCX và KCN:
Mô hình KCX - KCN trong những thập niên gần đây đã nổi lên như một trong những con đường thu hút vốn đầu tư để phát triển kinh tế, thực hiện công nghiệp hóa - hiện đại hóa ở các nước đang phát triển Tuy nhiên, không phải KCX - KCN nào được hình thành cũng đều thành công, mà "Trong hơn
250 KCX - KCN trên toàn thế giới thì chỉ có khoảng hơn 30 KCX khu vực Châu Á và Mêhicô là kinh doanh thành công, số còn lại đều gặp khó khăn và tuyên bố thất bại"(15)
Ông Lewrence S.ting Chủ tịch Hội đồng Quản trị Công ty Liên Doanh Tân Thuận (khu chế xuất Tân Thuận) đã nói (16): "Mỗi KCX đã thành công đều
có những chổ gần giống nhau, còn những KCX đã không thành công được lại
có những nhân tố thất bại rất khác nhau Hơn nữa, những điểm chung giống nhau của các KCX thành công đã quy nạp lại một cách logic thành 10 điều kiện quan trọng chủ yếu sau" :
1 Nhân khẩu lao động ưu tú, dồi dào, tiền lương thấp
2 Môi trường chính trị, pháp lý và xã hội ổn định
3 Chính sách thuế ưu đãi và thủ tục thu thuế đơn giản
4 Mạng lưới giao thông, thiết bị vận tải đường bộ, đường biển, được hàng không nhanh chóng thuận lợi
15 Báo cáo của ông Richerd Bolin – Thư ký điều hành của Hiệp hội khu chế xuất thế giới, tại cuộc họp
ở Hạ Môn, năm 1990, Tài liệu của Ủy ban hợp tác quốc tế về đầu tư
16 Tham luận của ông Lewrence S, Ting - Chủ tịch Hội đồng quản trị Công ty liên doanh Tân Thuận, tại Hội nghị báo cáo hoạt động của Khu chế xuất – khu công nghiệp toàn quốc, năm 2001
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 245 Thiết bị thông tin nhanh chóng, giá thành thấp
6 Cung cấp điện ổn định
7 Cung cấp nước dùng cho công nghiệp đầy đủ
8 Có đầy đủ xưởng sản xuất linh kiện và bán thành phẩm
9 Có điều lệ và thủ tục xin phép đơn giản, rõ ràng
10 Môi trường cư trú, sinh sống dễ chịu và cơ sở vật chất cho hoạt động vui chơi giải trí tương đối tốt
Xem xét 10 điều kiện quan trọng chủ yếu trên, một KCX muốn thành công cần phải quan tâm đến cả ba lợi ích : lợi ích quốc gia (nước sở tại), lợi ích của nhà đầu tư và lợi ích của công nhân viên Ðồng thời công tác điều hành các công trình và quản lý KCX lại càng là một nhân tố trọng yếu không thể xem nhẹ
1.2 –KHU CHẾ XUẤT – KHU CÔNG NGHIỆP THEO QUAN NIỆM CỦA PHÁP LUẬT VIỆT NAM:
1.2.1 – Khái niệm, đặc điểm khu chế xuất – khu công nghiệp theo pháp luật Việt Nam hiện hành:
Điều 2 Quy chế khu chế xuất – khu công nghiệp – Khu công nghệ cao17
mô tả khu chế xuất – khu công nghiệp như sau:
“Khu công nghiệp là khu tập trung các doanh nghiệp khu công nghiệp (
18) chuyên sản xuất hàng công nghiệp và thực hiện các dịch vụ sản xuất cho công nghiệp, có ranh giới địa lý xác định, không có dân cư sinh sống; do Chính phủ hoặc Thủ Tướng Chính phủ quyết định thành lập Trong khu công nghiệp có thể có doanh nghiệp chế xuất ”
Khu chế xuất được định nghĩa “là khu công nghiệp tập trung các doanh nghiệp chế xuất (19) chuyên sản xuất hàng xuất khẩu, thực hiện các dịch vụ cho sản xuất hàng hoá xuất khẩu, có ranh giới địa lý xác định, không có dân cư sinh sống; do Chính phủ hoặc Thủ Tướng Chính phủ quyết định thành lập ”
Khu chế xuất – Khu công nghiệp có đặc điểm cơ bản là:
- Đều là những khu tập trung nhiều doanh nghiệp, được hình thành trên một lãnh địa xác định, có hàng rào bao quanh, nhằm thuận tiện cho việc quản lý thuế quan, bảo vệ hàng sản xuất trong nước và được phát triển có hệ
17 Quy chế khu chế xuất – khu công nghiệp – khu công nghệ cao, ban hành kèm nghị định
36/1996/NĐ – CP, ngày 27- 04 – 1997
18
Doanh nghiệp khu công nghiệp là doanh nghiệp thành lập và hoạt động trong khu công nghiệp
(khoản 2, điều 2, Quy chế khu chế xuất – khu công nghiệp – khu công nghệ cao.)
19 Doanh nghiệp chế xuất là doanh nghiệp chuyên sản xuất hàng xuất khẩu, thực hiện các dịch vụ cho sản xuất hàng xuất khẩu, được thành lập và hoạt động theo quy định của Chính Phủ về doanh nghiệp chế xuất (khoản 3, điều 2, Quy chế khu chế xuất – khu công nghiệp – khu công nghệ cao)
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 25thống, theo một kế hoạch tổng thể Các khu này chỉ dành riêng cho sản xuất công nghiệp và dịch vụ hỗ trợ sản xuất công nghiệp
- Quy mô của các KCX - KCN gần như giống nhau, khoảng vài trăm
ha
- Những ngành nghề đặc trưng trong KCX - KCN là điện tử, sợi dệt, may mặc, chế biến thực phẩm, hàng tiêu dùng, cơ khí chế tạo, các ngành không gây ô nhiễm môi trường hoặc ô nhiễm ít, có thể xử lý bằng các biện pháp và phương tiện trong khu
- Đối tượng đầu tư vào khu chế xuất – khu công nghiệp là mọi thành phần kinh tế, tức: các tổ chức kinh tế, cá nhân Việt Nam, người nước ngoài cư trú lâu dài ở Việt Nam, các hình thức đầu tư trong KCX - KCN là doanh nghiệp 100% vốn của nhà đầu tư, doanh nghiệp liên doanh, hợp tác kinh doanh trên cơ sở hợp đồng hợp tác kinh doanh, tổ chức kinh tế, cá nhân nước ngoài
- Cơ sở hạ tầng trong KCX - KCN có thể được bên thành lập KCX - KCN đầu tư hoặc có thể kêu gọi đầu tư trực tiếp nước ngoài theo hình thức lập doanh nghiệp liên doanh
- KCX - KCN đều do Chính Phủ hoặc Thủ tướng Chính Phủ quyết định thành lập Để quản lý hoạt động của KCX - KCN ban quản lý KCX - KCN được thành lập trên cơ sơ đề nghị của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, theo phạm vi lãnh thổ và có chức năng quản lý Nhà nước đối với KCX - KCN
- Khu chế xuất có mục tiêu chủ yếu là xuất khẩu, nên doanh nghiệp chế xuất phải xuất khẩu toàn bộ sản phẩm ra nước ngoài, còn các doanh nghiệp khu công nghiệp được quyền tiêu thụ sản phẩm tại thị trường trong nước và xuất khẩu Đây chính là điểm khác biệt giữa khu chế xuất và khu công nghiệp, sức ép tìm kiếm thị trường xuất khẩu sản phẩm đối với các doanh nghiệp chế xuất nặng hơn so với doanh nghiệp trong khu công nghiệp Ngoài ra, quan hệ trao đổi hàng hoá giữa các doanh nghiệp trong thị trường nội địa với các doanh nghiệp chế xuất được xem như là quan hệ xuất khẩu nhập khẩu Quy định này cho thấy việc quản lý khu chế xuất và các doanh nghiệp trong khu chặt chẽ hơn Xét theo khía cạnh đầu tư và sản xuất kinh doanh, quy định này có nhiều khó khăn đối với nhà đầu tư nhưng lại thuận tiện cho nước chủ nhà về khâu quản lý Có lẽ vì điểm này, những năm qua các khu chế xuất ở nước ta đa phần thu hút được các dự án vừa và nhỏ, theo hình thức 100% vốn nước ngoài mang tính chất gia công cho các công ty mẹ ở bản quốc!
- Do khu chế xuất và khu công nghiệp có những mục tiêu riêng, nên điều kiện ưu đãi giữa các khu này cũng khác nhau, như ưu đãi về thuế, thuê đất (Sẽ được phân tích ở chương 2)
Nói chung, ở nước ta KCX - KCN được thành lập như một công
cụ để thu hút đầu tư, nhằm khai thác triệt để thế mạnh về tài nguyên, nhân lực
…; KCX - KCN còn góp phần tích cực trong việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 26theo hướng tăng dần tỷ trọng công nghiệp – dịch vụ, đưa nền kinh tế phát triển theo hướng công nghiệp hóa – hiện đại hóa
hộ hàng sản xuất trong nước khỏi sức ép cạnh tranh đối vợi sản phẩm của
doanh nghiệp khu chế xuất có chất lượng và giá thành tương đối hạ Đồng thời
về phương diện quản lý Nhà nước, do thu hẹp trong lãnh thổ khép kín, có những quy chế riêng nên có thể hạn chế được những yếu điểm về khâu hành chính vốn còn nặng nề của nước chủ nhà, và cũng giúp cho nhà đầu tư tránh được những phiền hà, ràng buộc trong cơ chế quản lý này
+ Khu công nghiệp là hình thức đầu tư linh hoạt hơn, tận dụng được
thị trường trong nước như một yếu tố hấp dẫn đối với hàng hoá của doanh
nghiệp trong khu Đây là vấn đề rất quan trọng, thực sự thu hút các nhà đầu tư,
nhất là nhà đầu tư nước ngoài, vì thị trường Việt Nam là thị trường mới, có dung lượng lớn, sức tiêu thụ mạnh Trong khi đó thị trường thế giới nhất là thị trường khu vực đã trở nên bảo hòa đối với các sản phẩm của doanh nghiệp Khu công nghiệp vốn giống nhau cả về chủng loại lẫn chất lượng Hơn nữa, việc mở cửa thị trường nội địa là phù hợp với xu hướng tự do hoá mậu dịch trên thế giới và khu vực, đặc biệt là khu vực Đông Nam Á
Mặt khác, việc cho phép tiêu thụ hàng hóa, sản phẩm của doanh nghiệp khu công nghiệp còn góp phần tích cực ngăn chặn và đẩy lùi hàng nhập lậu (từ Thái Lan, Trung Quốc) Việc tiêu thụ hàng hoá của doanh nghiệp khu công nghiệp là yếu tố kích thích cạnh tranh, nâng cao chất lượng hàng sản xuất trong nước, từ đó nâng cao khả năng xuất khẩu hàng hoá Việt Nam trên thị trường thế giới
Tuy vậy, hạn chế lớn của khu công nghiệp là khâu quản lý Nhà nước
Do trong khu công nghiệp tồn tại nhiều loại hình doanh nghiệp, hoạt động khác nhau, có cả xuất nhập khẩu, chịu sự điều chỉnh của nhiều Luật khác nhau, nên quản lý Nhà nước đối với doanh nghiệp trong khu là phức tạp, nhất là vấn đề: Giấy phép đầu tư, Xuất nhập khẩu, Hải quan … Ngoài ra, việc tiêu thụ hàng hoá khu công nghiệp tại thị trường nội địa tạo điều kiện cho nhà đầu tư nhưng lại gây khó khăn cho nước chủ nhà trong vấn đề quản lý, bảo hộ hàng sản xuất trong nước
1.2.2 -Qúa trình thành lập khu chế xuất – khu công nghiệp tại Việt Nam:
Ở Việt Nam, KCN – KCX ra đời cùng với chính sách đổi mới, mở cửa
do Ðại hội Ðảng lần thứ VI năm 1986 khởi xướng Tiếp theo, phát triển KCN – KCX được xác định rõ tại Nghị quyết Hội nghị Ðại biểu giữa nhiệm kỳ khóa VII năm 1994, Nghị quyết Ðại hội lần thứ VIII năm 1996, Nghị quyết Hội
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 27nghị lần thứ 4 Ban chấp hành Trung ương khóa VIII và Nghị quyết Ðại hội Ðảng lần thứ IX năm 2001
Ngay từ thập kỷ 60, các KCN tập trung đã được hình thành và phát triển dù đất nước bị chia cắt hai miền Nam - Bắc Ở miền Bắc, đã giành được độc lập, tiến hành thực hiện đường lối công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa Nhà nước đã chủ trương ưu tiên phát triển công nghiệp nặng, nhiều KCN lớn đã được xây dựng, gắn với đô thị sẵn có như Hà Nội, Hải Phòng, Nam Ðịnh,Vinh, Bắc Giang hoặc xây dựng các KCN để phát triển các thành phố mới như: KCN gang thép Thái Nguyên, KCN Việt Trì - Lâm Thao, KCN Uông Bí, KCN Phả Lại - Chí Linh, KCN Xuân Hòa, Xuân Mai, Hòa Bình, Bỉm Sơn Ở miền Nam, dưới chế độ của Mỹ - Ngụy nền công nghiệp chủ yếu phục vụ cho nhà cầm quyền Năm 1963, Tổng công ty khuếch trương kỹ nghệ (SONADEZI) được thành lập, là một cơ quan công lập tự trị, mục đích hoạt động là hỗ trợ cho phát triển công nghiệp, chức năng chính là hỗ trợ cho phát triển các KCN tập trung, từ khâu quy hoạch, đầu tư, xây dựng và quản lý quá trình vận hành khai thác, sử dụng các KCN tập trung
Các KCN do SONADEZI thành lập thường kết hợp tận dụng cơ sở hạ tầng sẵn có như cảng, sân bay, điện lưới quốc gia, gắn liền với những đô thị phát triển, đồng thời làm giảm sức ép về dân số ở các trung tâm, các đô thị lớn trong quá trình phát triển công nghiệp Các KCN do SONADEZI thành lập gồm KCN Biên Hòa, KCN Đà Nẳng, KCN Tân Mai, KCN Long Bình, KCN Cam Ranh, KCN Tây Đô (nay là KCX - KCN Cần Thơ)
Năm 1975, đất nước hoàn toàn thống nhất, cả nước có khoảng 3000 xí nghiệp công nghiệp hoạt động , đóng góp 32% trong tổng sản phẩm kinh tế quốc dân, thu hút hơn 10% trong tổng lao động20 Các xí nghiệp này hoạt động trong điều kiện hết sức khó khăn, do thiếu năng lượng, nguyên liệu, cơ sở hạ tầng, kỹ thuật yếu kém, công nghệ thiết bị lạc hậu nên năng suất lao động thấp, các nhà máy, xí nghiệp chỉ hoạt động được khoảng 70 – 80% công suất Tình hình quản lý các KCN rất yếu kém, dẫn đến tình trạng phát triển tự phát, vô tổ chức, gây ảnh hưởng đến tình hình hoạt động của từng xí nghiệp KCN và cho
cả nền kinh tế Tình trạng này còn kéo dài đến giữa những năm 80
Các nước xung quanh lúc bấy giờ như Hàn Quốc, Singapore, Malasia, Thái Lan đã trở thành những quốc gia công nghiệp mới Trong khi đó, nền kinh tế nước ta vẫn trong tình trạng khủng hoảng, không có tích lũy nội bộ, thu nhập bình quân đầu người thấp, khoảnh cách về trình độ phát triển giữa Việt Nam và các nước là khá lớn Đòi hỏi nền kinh tế phải có sự thay đổi cả về chất lẫn về lượng mới có thể đưa nền kinh tế Việt Nam đi lên
Với phương châm “Nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng sự thật, nói
rõ sự thật” Đảng và Nhà nước ta đã quyết tâm thực hiện cuộc Cách mạng về
20
Thế Đạt, Lịch sử kinh tế quốc dân, NXB Hà Nội 2000, trang 46
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 28kinh tế, từng bước giải quyết những khó khăn đưa đất nước thoát khỏi tình trạng khủng hoảng, thực hiện chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tiến hành công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước
Là nước lạc hậu về cơ sở hạ tầng, các thể chế hành chính, kinh tế, xã hội vốn là những thể chế tiền tư bản chủ nghĩa, đóng cửa, tự vệ, nền công nghệ
kỹ thuật lạc hậu, máy móc cũ kỹ Khi thực hiện công nghiệp hóa - hiện đại hóa, không thể nào hiện đại hóa, mở cửa ngay trên toàn bộ lãnh thổ, dù rằng về mặt bằng pháp lý chung năm 1987 Luật đầu tư nước ngoài cũng đã được ban hành để mời gọi các nhà đầu tư nước ngoài Trên cơ sở tiếp thu kinh nghiệm của các nước trong khu vực, Ðảng và Nhà nước đã chọn phương pháp thực hiện hiện đại hóa và mở cửa với những cải cách dần dần, cụ thể lựa chọn một
số khu vực để thực hiện nhanh chóng quá trình hiện đại hóa mở cửa, thực hiện
mô hình KCX – KCN Áp dụng các thể chế kinh tế xã hội hiện đại, có tính mở thích hợp với thông lệ quốc tế, xây dựng ngay cơ sở hạ tầng hiện đại để thu hút đầu tư, đặc biệt là đầu tư nước ngoài Tác động của nguồn đầu tư này không chỉ đối với hoạt động của KCX - KCN mà còn có sức lan tỏa đến cả những vùng lân cận, làm mặt bằng chung về mức phát triển kinh tế xã hội, cơ sở hạ tầng, mức sống ở những khu vực gần các KCX - KCN tăng lên rõ rệt, nên KCX - KCN được xem như cầu nối trung gian đối với các vùng còn lại Các khu này còn tạo ra việc làm cho nhiều lao động Và còn tạo ra những sản phẩm
có chất lượng, xuất khẩu và thu về nguồn ngoại tệ
Manh nha thành lập từ những năm 1986 nhưng mãi cho đến năm
1991, Nghị định số 322/HÐBT về quy chế KCX mới được ban hành, Nghị định này đã tạo cơ sở pháp lý cho hoạt động của các KCX, tạo điều kiện thuận lợi cho nhà đầu tư nước ngoài đầu tư vốn, kỹ thuật công nghệ tiên tiến vào các KCX Là một nước trong khu vực Châu Á - Thái Bình Dương, mô hình KCX của nước ta có nhiều điểm giống KCX của Ðài Loan; nhưng vẫn có đặc điểm riêng: Cho nước ngoài liên doanh và xây dựng cơ sở hạ tầng, chính sách ưu đãi
về thuế hấp dẫn hơn, thời hạn thuê đất lâu hơn, có xí nghiệp ở ngoài tường rào KCX được hưởng quy chế KCX
Ngay sau khi quy chế KCX được ban hành, KCX đầu tiên ở Việt Nam được thành lập, đầu tiên là KCX Tân Thuận, kế đó là KCX Linh Trung đã trở thành tâm điểm thu hút vốn đầu tư nước ngoài, công nghệ kỹ thuật hiện đại, tạo cơ sở vững chắc cho quá trình phát triển KCX, KCN trong cả nước Ngày nay KCX Tân Thuận được đánh giá là KCX thành công nhất ở khu vực Châu Á
So với KCX, cơ sở pháp lý cho sự ra đời và hoạt động của KCN được ban hành muộn hơn Quy chế KCN được ban hành kèm theo Nghị định số 192/CP ngày 28 tháng 12 năm 1994 của Chính phủ Quy chế KCN được ban hành, nhiều KCN được hình thành nhằm hoàn thiện những lỗ hỏng của mô
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 29hình KCX, tận dụng và phát huy được thế mạnh của thị trường nội địa đang còn bỏ trống, đồng thời nhằm huy động được các nguồn vốn trong nước Hàng loạt KCN được thành lập như : KCN Nội Bài (Hà Nội năm 1994), KCN Nomura (Hải Phòng năm 1994), KCN Long Bình (Ðồng Nai năm 1994), KCN Sóng Thần (Bình Dương năm 1995)
Sau một thời gian áp dụng, những văn bản pháp luật về KCX – KCN
đã phát sinh nhiều vấn đề vướng mắc Cùng với quá trình hoàn thiện pháp luật
về đầu tư, ngày 24 – 04 –1997, Chính phủ đã ban hành nghị định số 36/CP ban hành Quy chế KCX - KCN – khu công nghệ cao (gọi tắt là Nghị định 36/CP thay thế cho hai nghị định 322/HĐ – BT và Nghị định 192/HĐ – BT)
Ðến nay, qua hơn 10 năm hình thành và phát triển trên cả nước đã xây dựng được một mạng lưới KCX – KCN, nâng cao cả về chất lẫn về lượng Hiện nay (Tháng 3/2002) cả nước có khoảng 76 KCN - KCX, trên tổng diện tích hơn 11.000 ha và hơn 2/3 KCN trong cả nước đã đang hoàn thành cơ bản
hạ tầng, tiếp nhận được 1.433 dự án trong ngoài nước, sử dụng trên 35% diện tích đất sẵn có trong KCN, KCX và thu hút trên 23 vạn lao động21
1 3 - SỰ CẦN THIẾT CỦA PHÁP LUẬT ĐIỀU CHỈNH VỀ HOẠT ĐỘNG ĐẦU TƯ VÀO KHU CHẾ XUẤT – KHU CÔNG NGHIỆP:
Nhằm huy động các nguồn vốn đầu tư vào sản xuất công nghiệp, mô hình KCX - KCN được xem là một công cụ thu hút vốn đầu tư có hiệu quả và
có vai trò rất quan trọng đối với sự phát triển kinh tế - xã hội Để phát huy hơn nữa tính năng của công cụ thu hút vốn đầu tư, điều cần là tạo ra một môi trường đầu tư an toàn và hiệu quả Trong môi trường đầu tư này, môi trường pháp luật phải được chú ý
Hoạt động đầu tư vào KCX - KCN làm phát sinh nhiều quan hệ khác nhau, phức tạp và lại diễn ra trong một thời gian dài, nên cần có một hệ thống pháp luật với đầy đủ các nguyên tắc, quy định để điều chỉnh Khi thực hiện đầu tư, nhà đầu tư phải bỏ ra một nguồn tài sản, vốn đầu tư, pháp luật với những quy định về quyền, lợi ích, ghi nhận vị trí, vai trò của từng loại chủ thể đầu tư, hình thức đảm bảo các quyền này sẽ là cơ sở đảm bảo vững chắc, tạo lòng tin cho các nhà đầu tư thực hiện hoạt động sản xuất kinh doanh, tạo ra của cải vật chất phục vụ đời sống xã hội Thông qua pháp luật điều chỉnh về hoạt động đầu tư, Nhà nước thể chế hóa đường lối, chủ trương chính sách kinh tế có hiệu lực bắt buộc đối với chủ thể đầu tư nhằm thực hiện chức năng quản lý kinh tế của mình
KCX - KCN là nơi tập trung các thành phần kinh tế, nên các quy định phải đảm bảo minh bạch, nhất quán cả trong quy định lẫn thực hiện Ở đây tập trung không chỉ nhà đầu tư trong nước, còn có nhà đầu tư nước ngoài Nhà đầu
21 Báo cáo của Vụ trưởng Vụ quản lý KCX – Khu công nghiệp Nguyễn Ngọc Phúc, tại Hội nghị Tổng kết công tác phát triển khu công nghiệp toàn quốc, tại Vũng Tàu, tháng 03/2003
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 30tư trong nước có một vai trò là nền tảng để xây dựng một nền nội thương thực
sự vững mạnh Sự phát triển của các nhà đầu tư trong nước là điều kiện quyết định cho hoạt động đầu tư nước ngoài Ðối với đầu tư nước ngoài, từ quốc gia khác đem tài sản, vốn đầu tư đến thực hiện hoạt động sản xuất kinh doanh ở một môi trường xa lạ, trong một thời gian dài, họ không biết dựa vào đâu để đảm bảo cho việc đầu tư của mình, ngoài môi trường pháp lý Nên rất cần một môi trường pháp lý vững chắc, có hiệu lực Ðầu tư nước ngoài vốn được xem
là một kênh huy động vốn và khoa học kỹ thuật, công nghệ có hiệu quả cao,
nó góp phần tác động, thúc đẩy quá trình công nghiệp hóa
Trong tình hình nhiều biến động của nền chính trị, kinh tế, xã hội của thế giới, Nhà nước với những quy định pháp lý chặt chẽ, hệ thống pháp luật về đầu tư không chỉ thể hiện sự quan tâm, quản lý chặt chẽ mà còn thể hiện được quyết tâm, mong muốn hợp tác với các thành phần kinh tế của Nhà nước
Cơ chế điều chỉnh của pháp luật về thu hút đầu tư vào KCX – KCN ở nước
ta hiện nay :
Bảo đảm một hệ thống các quy định của pháp luật về đầu tư là điều tất yếu và cần thiết đối với việc thu hút đầu tư nói chung cũng như thu hút đầu tư vào KCX - KCN nói riêng, nhằm thúc đẩy công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất
nước Điều này có nghĩa là việc đầu tư vào KCX - KCN phải được đảm bảo
điều chỉnh theo một cơ chế nhất định Khái niệm “Cơ chế điều chỉnh của pháp luật về thu hút đầu tư vào KCX – KCN” có thể được hiểu là một hệ thống thống nhất các quy định, phương tiện và quy trình pháp lý về lĩnh vực đầu tư, sản xuất, kinh doanh trong KCX - KCN, thông qua đó thực hiện sự tác động của Nhà nước lên các quan hệ phát sinh trong suốt quá trình thực hiện thu hút đầu tư, thực hiện những mục tiêu, những nhiệm vụ nhất định của KCX - KCN Các yếu tố của cơ chế điều chỉnh gồm:
- Chủ thể đầu tư: gồm các quy định của pháp luật về loại chủ thể cùng
các điều kiện cần phải có khi thực hiện đầu tư vào KCX - KCN Và những đặc điểm nổi bật của các chủ thể khi thực hiện đầu tư vào KCX – KCN
- Trình tự, thủ tục đầu tư vào KCX - KCN và quản lý của nhà nước
đối với hoạt động đầu tư vào KCX – KCN: gồm các quy định về trình tự, thủ
tục khi thực hiện đầu tư, thành lập doanh nghiệp trong KCX – KCN, thời hạn hoạt động của các loại chủ thể này Đồng thời với các quy định này là các điều luật quy định về sự quản lý của cơ quan có thẩm quyền đối với hoạt động của các doanh nghiệp trong khu
- Địa vị pháp lý của nhà đầu tư: Là các quy định về các quyền và
nghĩa vụ của các chủ thể Đây là các quyền cơ bản mà chủ thể khi đầu tư vào KCX - KCN được pháp luật thừa nhận, tương ứng với những quyền năng này
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 31là các nghĩa vụ mà các chủ thể phải tuân thủ theo Tất cả điều này là nhằm đảm bảo, cho việc đầu tư, và sự điều chỉnh, quản lý của Nhà nước
- Giải quyết tranh chấp phát sinh trong quá trình thực hiện đầu tư: Bao
gồm các quy định về trình tự, thủ tục giải quyết tranh chấp phát sinh trong quá trình thực hiện hoạt động sản xuất – kinh doanh, đảm bảo lợi ích giữa các nhà đầu tư và đảm bảo lợi ích chung của xã hội
Đan xen vào các yếu tố này là những ưu đãi của Nhà nước dành cho các doanh nghiệp trong các khu này, nhằm lôi cuốn, hấp dẫn các nhà đầu tư
Hiện nay, hoạt động đầu tư - kinh doanh ở nước ta được điều chỉnh bởi LĐTNNTVN và LKKĐTTN và các Luật chuyên ngành khác Mỗi Luật này lần lượt thực hiện điều chỉnh với nhà đầu tư nước ngoài và nhà đầu tư Việt Nam Có thể nói, LĐTNNTVN và LKKĐTTN là những nền tảng pháp lý cơ bản đảm bảo để nhà đầu tư yên tâm thực hiện hoạt động đầu tư của mình
Với tính chất là một địa điểm, một khu vực có những quy định thông thoáng hơn so với môi trường đầu tư chung, việc đầu tư vào KCX - KCN ở nước ta hiện nay được quy định rõ tại Quy chế KCX - KCN ban hành theo Nghị định 36/CP của Chính phủ, ngày 24 tháng 4 năm 1997 Là Nghị định nên phải dựa vào những văn bản có giá trị pháp lý cao hơn, nền tảng hơn là LĐTNNTVN và LKKĐTTN Ngoài ra, với từng loại hình doanh nghiệp cụ thể vẫn chịu sự điều chỉnh riêng của Luật tương ứng, như doanh nghiệp Nhà nước thì hoạt động theo Luật doanh nghiệp Nhà nước, doanh nghiệp tư nhân, công
ty trách nhiệm hữu hạn, theo Luật doanh nghiệp, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (liên doanh, 100% vốn nước ngoài) theo LĐTNNTVN Do trong KCX - KCN các chủ thể đầu tư rất đa dạng, thuộc mọi thành phần kinh tế và
do đặc điểm của nền kinh tế và hoạt động đầu tư là rất phức tạp nên chúng ta chưa thể có ngay một khung pháp lý chung để điều chỉnh các hoạt động đầu tư này
Khi áp dụng các quy định ưu đãi của quy chế cần phải gắn liền với các quy định chung, tránh tình trạng quá ưu đãi cho các doanh nghiệp trong khu dẫn đến phân biệt đối với các doanh nghiệp bên ngoài Ðiều này sẽ không chỉ làm ảnh hưởng cho hoạt động của doanh nghiệp mà còn làm ảnh hưởng cho nền kinh tế, không thể tạo ra môi trường bình đẳng, "sân chơi chung" cho các doanh nghiệp, làm mất lòng tin của nhà đầu tư đối với Nhà nước
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 32Chương 2
CƠ CHẾ ĐIỀU CHỈNH CỦA PHÁP LUẬT HIỆN HÀNH
VỀ THU HÚT ĐẦU TƯ VÀO CÁC KHU CHẾ XUẤT – KHU CÔNG NGHIỆP Ở NƯỚC TA
2.1 - CÁC NGUYÊN TẮC THỰC HIỆN THU HÚT ĐẦU TƯ VÀO KHU CHẾ XUẤT – KHU CÔNG NGHIỆP
Nguyên tắc thực hiện thu hút đầu tư vào KCX – KCN là những tư tưởng, những nguyên lý mang tính chất chỉ đạo, khách quan tạo cơ sở cho việc thu hút đầu tư vào KCX - KCN được thực hiện thống nhất, hợp lý, theo đúng bản chất của nền kinh tế, của chế độ xã hội, đảm bảo bình đẳng trong việc thu hút đầu tư
2.1.1 - Nguyên tắc bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng và sự quản lý của Nhà Nước:
Nguyên tắc này nhằm đảm bảo sự quản lý của Nhà nước về kinh tế, thông qua pháp luật về kinh tế, bởi việc thu hút đầu tư vào KCX - KCN là một chuổi gồm nhiều hoạt động phức tạp, phát sinh nhiều quan hệ Sự lãnh đạo của Đảng và sự quản lý của Nhà nước chỉ dừng lại ở tầm vĩ mô, trong một chừng mực nhất định và phải phù hợp với từng thời kỳ phát triển Sự can thiệp của Nhà nước quá sâu sẽ làm cản trở, hạn chế các hoạt động đầu tư, không đảm bảo được quyền tự do kinh doanh của các chủ thể, không phát huy được nền kinh tế thị trường
2.1.2 - Nguyên tắc bảo vệ lợi ích quốc gia:
Lợi ích quốc gia được thể hiện ở các khía cạnh: đảm bảo trật tự an ninh quốc phòng, an ninh về kinh tế - tài chính, an ninh cho sự phát triển sản xuất giữa các thành phần kinh tế, an toàn về môi trường, bảo đảm lối sống văn hoá – xã hội
Nguyên tắc này đòi hỏi khi thực hiện thu hút đầu tư phải xét đến lợi ích chung của toàn xã hội, từ đó có những giải pháp nhằm hạn chế tối đa những ảnh hưởng tiêu cực đối với lợi ích chung này Nhất là trong việc thu hút đầu tư nước ngoài, đòi hỏi phải tính toán một cách thận trọng khi chấp nhận các dự
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 33án đầu tư nước ngoài Bởi thị phần nội địa sẽ bị chia cắt, nền nội thương không thực sự mạnh sẽ bị chi phối bởi nhà đầu tư nước ngoài, tài nguyên thiên nhiên, nguồn lao động sẽ bị khai thác một cách triệt để nhằm phục vụ cho mục đích lợi nhuận của nhà đầu tư … Để đảm bảo nguyên tắc này, điều quan trọng khi thực hiện thu hút đầu tư vào KCX – KCN là cần thực hiện theo tinh thần
“Thỏa thuận, bình đẳng, cùng có lợi”
2.1.3 - Nguyên tắc đảm bảo quyền tự do kinh doanh, quyền tự chủ trong hoạt động đầu tư, kinh doanh :
Đảm bảo quyền tự do kinh doanh cho các chủ thể là một tất yếu của nền kinh tế thị trường Điều 52 Hiến pháp nước ta quy định: “Công dân có quyền
tự do kinh doanh theo quy định của pháp luật”
Thể chế hoá nguyên tắc này, Điều 5, Quy chế KCX – KCN – Khu công nghệ cao nêu rõ “Trong KCN có các loại doanh nghiệp sau: a / Doanh nghiệp Việt Nam thuộc các thành phần kinh tế b/ Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài c/ Các bên tham gia hợp đồng hợp tác kinh doanh theo LĐTNNTVN.” Điều Luật cho phép nhà đầu tư lựa chọn hình thức đầu tư phù hợp với điều kiện tài chính, khả năng quản lý cũng như yêu cầu của công việc kinh doanh
Quyền tự chủ trong hoạt động đầu tư của nhà đầu tư thể hiện ở việc nhà đầu tư được tự do lựa chọn ngành nghề đầu tư, tự do ký kết hợp đồng, lựa chọn nhân viên, tự quyết định các kế hoạch, chỉ tiêu sản xuất – kinh doanh, Điều 31 Luật đầu tư nước ngoài quy định nhà đầu tư có quyền “Tự chủ kinh doanh theo mục tiêu quy định trong giấy phép đầu tư” nhưng phải hoạt động phù hợp với mục đích, quy định của giấy phép đầu tư và tuân thủ pháp luật nhằm đảm bảo sự quản lý của Nhà nước Sự tự do và tự chủ trong thực hiện đầu tư kinh doanh được giới hạn trong phạm vi nhất định.Vai trò quản lý của Nhà nước thể hiện trong việc quy định các ngành nghề cấm kinh doanh trong KCX - KCN, ngành nghề kinh doanh có điều kiện, vốn pháp định đối với một
9, điều 10, điều 12, điều 19 của Quy chế KCX – KCN – KCNC, và các Luật khác có liên quan
Khi thực hiện khuyến khích, thu hút đầu tư, phải biết khai thác triệt để thế mạnh của nhà đầu tư Gồm vốn, trình độ phát triển khoa học kỹ thuật cao, trình độ - kỹ năng quản lý Coi trọng việc tiếp thu công nghệ mới, học hỏi những kỹ năng, cách thức quản lý Bởi là một nước nông nghiệp trình độ phát triển thấp, không thể nào trong một sớm có thể trang bị được những kỹ thuật,
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 34công nghệ, kỹ năng hiện đại Bằng cách thu hút và khai thác triệt để thế mạnh của nhà đầu tư, “đi tắt – đón đầu” sớm đưa đất nước trở thành một nước công nghiệp
2.1.5 – Nguyên tắc đảm bảo quyền lợi cho nhà đầu tư:
Quyền lợi của nhà đầu tư được đảm bảo bằng pháp luật Do vậy, đòi hỏi các quy định của pháp luật phải nhất quán, ổn định, thay đổi theo hướng có lợi cho nhà đầu tư
Trên đây là những nguyên tắc, làm nền tảng trong việc thu hút đầu tư nói chung và đầu tư vào KCX - KCN nói riêng, khi thực hiện thu hút đầu tư cần phải bảo đảm cho các nguyên tắc này được cụ thể hóa …có như thế mới
có thể tạo được lòng tin, thu hút các nhà đầu tư
2.2 - CHỦ THỂ ĐẦU TƯ VÀO KCX – KCN :
Điều 1, Quy chế KCX – KCN – Khu công nghệ cao quy định “Chính phủ khuyến khích các doanh nghiệp Việt Nam thuộc các thành phần kinh tế, các tổ chức kinh tế, cá nhân nước ngoài và các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đầu tư vào KCX – KCN” (gọi tắt là KCN) Luật quy định chủ thể đầu tư vào KCX - KCN là khá rộng, đủ các loại chủ thể kinh doanh “Doanh nghiệp Việt Nam thuộc các thành phần kinh tế” gồm: Doanh nghiệp tư nhân, doanh nghiệp nhà nước, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần “Các
tổ chức kinh tế cá nhân nước ngoài và các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài” đầu tư vào KCX - KCN dưới hình thức: doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài, doanh nghiệp liên doanh, các bên hợp tác trên cơ sở hợp đồng hợp tác kinh doanh
KCX - KCN là một địa điểm, nơi tổ chức đầu tư, Luật không phân biệt hay dành cho bất kỳ loại chủ thể nào độc quyền đầu tư vào KCX - KCN Các loại chủ thể nói chung có quyền tự quyết, lựa chọn đầu tư vào KCX - KCN hay không, nếu xét thấy có đủ khả năng tài chính hay do yêu cầu của việc sản xuất, kinh doanh
Quy định này cụ thể hóa nguyên tắc bảo đảm quyền tự do kinh doanh
và chủ trương phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần của Đảng và Nhà nước Các loại chủ thể khi đầu tư vào KCX được gọi là “Doanh nghiệp chế xuất”, tên gọi này thể hiện rõ chức năng của doanh nghiệp là chuyên sản xuất hàng xuất khẩu hoặc thực hiện các dịch vụ chuyên cho sản xuất hàng xuất khẩu Nếu đầu tư vào KCN gọi là “Doanh nghiệp KCN”, doanh nghiệp này hoạt động trong lĩnh vực sản xuất công nghiệp hoặc thực hiện các dịch vụ KCN Điểm nổi bật của các chủ thể đầu tư vào KCX - KCN ở nước ta là mỗi loại chủ thể đầu tư sẽ chịu sự điều chỉnh theo một luật, bởi theo điều 8 Quy chế KCX - KCN – Khu công nghệ cao “Doanh nghiệp trong các KCN có đủ
cơ sở pháp lý hoạt động trong KCN sau khi được cơ quan có thẩm quyền ra
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 35quyết định chấp thuận đầu tư hoặc cấp giấy phép đầu tư và giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh
Đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài thì giấy phép đầu tư có giá trị là giấy đăng ký kinh doanh theo quy định tại điều 60 LĐTNNTVN Đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước trong nước, trước khi đầu tư vào KCX - KCN phải có quyết định thành lập doanh nghiệp, theo quy định của luật hiện hành đối với mỗi loại hình doanh nghiệp”
CÔNG NGHIỆP:
Thành lập và hoạt động trong KCX – KCN về nguyên tắc chịu sự điều chỉnh trước hết bởi các quy định tại quy chế KCX – KCN Quy chế này chỉ mới là nghị định nên dẫn chiếu những văn bản khác có giá trị pháp lý cao hơn
Cụ thể, đối với doanh nghiệp Việt Nam thuộc các thành phần kinh tế sẽ được thành lập theo: Luật doanh nghiệp Nhà nước, Luật doanh nghiệp và đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài sẽ được thành lập theo LĐTNNTVN
Trước khi quyết định lựa chọn địa điểm đầu tư, nhà đầu tư có thể tiếp xúc với ban quản lý KCN địa phương để tìm hiểu tổng quát về tình hình các KCN, những thông tin pháp luật và chính sách ưu đãi của từng khu này, tìm hiểu về hạ tầng kỹ thuật và lựa chọn lô đất thích hợp
* Thủ tục thành lập doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài trong KCX – KCN như sau:
Theo quy định của Điều 104 nghị định 24/2000/NĐ- CP “Các dự án đầu tư nước ngoài tại Việt Nam được chấp thuận dưới hình thức cấp giấy phép đầu tư” Giấy phép đầu tư được cấp theo hai phương thức: Thẩm định cấp giấy phép đầu tư hoặc đăng ký cấp giấy phép đầu tư (22) Quy định này vẫn áp dụng đối với các nhà đầu tư nước ngoài đầu tư vào KCX – KCN
Đối với những dự án đăng ký cấp giấy phép đầu tư, hồ sơ gồm:
+ Đơn đăng ký cấp giấy phép đầu tư;
+ Hợp đồng liên doanh và điều lệ doanh nghiệp100% vốn nước ngoài hoặc hợp đồng hợp tác kinh doanh;
+ Văn bản xác nhận tư cách pháp lý, tình hình tài chính của các bên;
+ Hồ sơ đăng ký cấp giấy phép đầu tư được thành lập 05 bộ, trong đó phải có ít nhất 1 bộ gốc được lập bằng tiếng Việt và Anh; các bộ còn lại sao y bằng tiếng Việt Hồ sơ nộp tại Ban quản lý các KCX – KCN địa phương mà doanh nghiệp muốn chọn địa điểm đầu tư
Đối với những dự án thẩm định cấp giấy phép đầu tư:
+ Đơn xin cấp giấy phép đầu tư;
22
Điều 104, nghị định 24/2000/NĐ – CP về hướng dẫn thi hành Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 36+ Hợp đồng liên doanh và điều lệ doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài hoặc hợp đồng hợp tác kinh doanh;
+ Giải trình kinh tế kỹ thuật;
+ Văn bản xác nhận tư cách pháp lý của các bên liên doanh, các bên hợp doanh, nhà đầu tư nước ngoài; báo cáo tài chính của doanh nghiệp trong hai năm gần nhất;
+ Hợp đồng nguyên tắc đặt cọc tiền thuê + Các tài liệu liên quan đến chuyển giao công nghệ ( nếu có) + Hồ sơ được lập thành 12 bộ đối với dự án nhóm A và 08 bộ đối với
dự án nhóm B, trong đó có ít nhất 1 bộ gốc được lập bằng tiếng Việt và Anh, các bộ còn lại lập bằng tiếng Việt
“Văn bản xác nhận tư cách pháp lý” của các bên đối với doanh nghiệp
là bản sao hợp lệ giấy phép thành lập hoặc giấy phép hoạt động; nếu tư cách pháp nhân là cá nhân nước ngoài là bản sao hợp lệ của hộ chiếu
Sau khi chuẩn bị đầy đủ hồ sơ, nhà đầu tư sẽ đến nộp tại ban quản lý KCN cấp tỉnh Tạo điều kiện thuận lợi cho dự án sớm đi vào hoạt động và tránh những trường hợp nhũng nhiễu, gây khó khăn cho nhà đầu tư, khoản 1 Điều 32 Quy chế KCX – KCN nói rằng “Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận hồ sơ dự án, Ban quản lý KCN cấp tỉnh hoàn thành việc thẩm định dự án
và cấp giấy phép.” Đối với những dự án không thuộc thẩm quyền của mình, Ban quản lý KCN vẫn phải có trách nhiệm chuyển đến cơ quan có thẩm quyền hoặc xin ý kiến của Bộ kế hoạch đầu tư
* Thủ tục thành lập doanh nghiệp có vốn đầu tư trong nước trong KCX – KCN:
Đối với nhà đầu tư trong nước, hồ sơ đầu tư vào KCX – KCN như sau: + Quyết định thành lập doanh nghiệp và giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh
+ Dự án đầu tư đã được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt + Chứng nhận ưu đãi đầu tư ( nếu có)
+ Hợp đồng thuê đất hoặc hợp đồng nguyên tắc đặt cọc tiền thuê lại đất Những nhà đầu tư chưa thành lập doanh nghiệp phải tiến hành thủ tục lập doanh nghiệp và đăng ký kinh doanh theo quy định của Luật tương ứng với từng loại hình doanh nghiệp
Sau khi được cấp giấy phép đầu tư, doanh nghiệp đi vào hoạt động trong thời hạn không quá 50 năm tính từ ngày được cấp có thẩm quyền ra quyết định chấp thuận đầu tư hoặc cấp giấy phép đầu tư nào KCN và không quá thời hạn hoạt động của Công ty phát triển hạ tầng KCN (23) Thời hạn hoạt
23
Đoạn đầu, điều 9, Quy chế khu chế xuất – khu công nghiệp – khu công nghệ cao
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 37động của doanh nghiệp trong KCX – KCN là 50 năm, trong trường hợp đặc biệt có thể hơn( 24) Quy định này có nhiều cách hiểu khác nhau: có thể hiểu thời hạn 50 năm quy định trong quy chế này là thời hạn tối thiểu nhưng cũng
có thể là thời hạn tối đa cho dự án đầu tư vào KCX – KCN
Việc lấy mốc thời gian hoạt động của Công ty phát triển hạ tầng KCN làm chuẩn như quy định ở điều 9 quy chế “Thời gian hoạt động của doanh nghiệp KCN không vượt quá thời gian hoạt động của Công ty phát triển hạ tầng KCN” cũng có nhiều vướng mắc Theo Điều 12 Quy chế KCX – KCN, việc xây dựng cơ sở hạ tầng KCN được tiến hành dưới hai hình thức: liên doanh với nước ngoài hoặc doanh nghiệp trong nước tự đầu tư Các KCX Tân Thuận, KCX Linh Trung (Thành phố Hồ Chí Minh) được xây dựng theo phương thức liên doanh với nước ngoài để đầu tư cơ sở hạ tầng Theo quy định của Luật đầu tư nước ngoài những doanh nghiệp liên doanh này có thời hạn hoạt động là 50 năm(25), (không phải là trường hợp đặc biệt) Và một điều nữa
là không phải các doanh nghiệp đầu tư vào KCX – KCN vào cùng một thời điểm với thời điểm thành lập Công ty phát triển hạ tầng KCN Đến đây, có hai cách để giải thích điều 9 của Quy chế: cách thứ nhất có thể cho quy định thời gian 50 năm là thời hạn ấn định cho khoảng thời gian hoạt động của tất cả doanh nghiệp KCX – KCN; cách thứ hai cho rằng thời hạn này chỉ là khung thời gian quy định đối với việc thuê đất, nhà xưởng và những phương tiện kết cấu hạ tầng khác của doanh nghiệp KCX – KCN
Cách hiểu thứ nhất có điểm chưa hợp lý, bởi thời gian 50 năm này trùng với thời gian hoạt động của Công ty phát triển hạ tầng KCN, mà thời điểm cấp giấy phép kinh doanh cho doanh nghiệp KCX – KCN có thể diễn ra sau thời điểm cấp giấy phép đầu tư cho Công ty phát triển hạ tầng Sau một thời gian 50 năm hoạt động, Công ty phát triển hạ tầng KCN hết thời hạn hoạt động; mà trong khi đó doanh nghiệp KCX – KCN vẫn còn thời hạn hoạt động Tình trạng này sẽ giải quyết như thế nào? Doanh nghiệp KCN cũng phải giải
thể theo chăng? Giải quyết vấn đề này thì nên quy định thời hạn hoạt động của
doanh nghiệp KCN là phải ít hơn 50 năm
Theo cách hiểu thứ hai: có thể nhận ra giữa doanh nghiệp KCX – KCN
có mối quan hệ về mặt kinh tế nhưng lại có tính độc lập về mặt pháp lý Về mặt kinh tế, do phải thuê lại đất và thuê nhà xưởng của Công ty phát triển hạ tầng KCN, nên thời hạn thuê này phải nằm trong thời hạn hoạt động của Công
ty phát triển hạ tầng KCN (quy định trong Giấy phép đầu tư của công ty liên doanh) Khi công ty liên doanh này kết thúc thời hạn hoạt động, mới chỉ là kết thúc hợp đồng thuê đất, nhà xưởng của doanh nghiệp KCN với Công ty phát triển hạ tầng Tính độc lập về mặt pháp lý thể hiện ở thời hạn hoạt động của
24 Đoạn cuối, điều 9 Quy chế khu chế xuất – khu công nghiệp – khu công nghệ cao
25
Điều 17, Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam, sửa đổi, bổ sung năm 2000
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 38doanh nghiệp KCX – KCN do Ban quản lý KCX – KCN quy định và gắn liền với thời gian hoạt động của bản thân KCX – KCN Khi Công ty phát triển hạ tầng KCN kết thúc thời hạn hoạt động, không có nghĩa là KCX cũng tự ngừng hoạt động, bởi hai hình thức này tuy có mối quan hệ gần gủi, khắng khích với nhau trong quá trình thành lập, hoạt động và phát triển, nhưng tồn tại độc lập với nhau về mặt thời gian Điều này giải thích vì sau các doanh nghiệp KCX – KCN vẫn tồn tại cho đến hết thời gian quy định, không phụ thuộc vào sự kết thúc sớm hơn hay đúng thời hạn của Công ty phát triển hạ tầng KCN Nên cách hiểu thứ hai hợp lý hơn
2.4 - ĐỊA VỊ PHÁP LÝ CỦA NHÀ ĐẦU TƯ VÀO KHU CHẾ XUẤT – KHU CÔNG NGHIỆP:
Địa vị pháp lý của các nhà đầu tư vào KCX - KCN là những quyền năng cơ bản, các chủ thể này được pháp luật thừa nhận khi lựa chọn đầu tư vào KCX - KCN, tương xứng là các nghĩa vụ mà các chủ thể phải nghiêm chỉnh tuân giữ… Nhằm mục đích thu hút, hấp dẫn các nhà đầu tư, những quyền và nghĩa vụ của nhà đầu tư trong các khu này so ra có nhiều ưu đãi hơn nhà đầu
tư ngoài khu
2.4.1 Các quyền cơ bản của nhà đầu tư vào KCX - KCN :
a Quyền tự do lựa chọn lĩnh vực, ngành nghề, hình thức đầu tư sản xuất – kinh doanh:
Điều 3 Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam quy định “Các nhà đầu tư nước ngoài được đầu tư vào trong các lĩnh vực của nền kinh tế quốc dân” Các nhà đầu tư được tự do lựa chọn lĩnh vực đầu tư trong nền kinh tế tại các KCX – KCN, không bị một sức mạnh, một quyền lực nào chi phối Bên cạnh, Nhà nước còn thể hiện rõ sự khuyến khích, ưu đãi đối với nhà đầu tư khi chọn những ngành nghề sản xuất sử dụng công nghệ kỹ thuật cao, mang lại hiệu quả kinh tế, sử dụng được nguồn nguyên liệu có sẵn tại địa phương như nuôi trồng, chế biến nông - lâm thuỷ sản, những lĩnh vực có khả năng xuất khẩu, thu ngoại
tệ cao, và những lĩnh vực sử dụng nhiều lao động
Không chỉ có sự khuyến khích đối với nhà đầu tư nước ngoài, nhà đầu
tư trong nước vẫn được “Nhà nước bảo hộ, khuyến khích đầu tư”, đối xử một cách công bằng, bình đẳng, tạo các điều kiện thuận lợi để các thành phần kinh
tế trong nước thực hiện đầu tư vào các lĩnh vực kinh tế - xã hội, bao gồm cả đầu tư vào KCX - KCN
Điều 7, Quy chế KCX - KCN – KCNC cụ thể hoá những tinh thần này với quy định “Nhà đầu tư là doanh nghiệp Việt Nam thuộc các thành phần kinh tế, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài được đầu tư vào các lĩnh vực: 1- Xây dưng và kinh doanh các công trình kết cấu hạ tầng; 2- Sản xuất, gia công, lắp ráp sản phẩm công nghiệp để xuất khẩu và tiêu thụ tại thị trường trong nước; phát triển kinh doanh bằng sáng chế, bí quyết kỹ thuật, quy trình
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 39công nghệ; 3- Nghiên cứu triển khai khoa học công nghệ để nâng cao chất lượng sản phẩm và tạo ra sản phẩm mới; 4- Dịch vụ hỗ trợ sản xuất công nghiệp”
Các nhà đầu tư vào KCX - KCN còn được tự do lựa chọn hình thức đầu
tư “Trong KCX - KCN có các loại hình doanh nghiệp sau đây: a- Doanh nghiệp Việt Nam thuộc các thành phần kinh tế; b- Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài; các bên tham gia hợp đồng hợp tác kinh doanh theo LĐTNNTVN”26
“Doanh nghiệp Việt Nam thuộc các thành phần kinh tế”: Công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, doanh nghiệp tư nhân, hợp tác xã… đây là những loại hình doanh nghiệp rất phổ biến
“Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài”: Doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài, doanh nghiệp liên doanh Doanh nghiệp liên doanh được tổ chức thành công ty trách nhiệm hữu hạn, có tư cách pháp nhân theo luật Việt Nam, chịu sự điều chỉnh bởi Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam Các bên liên doanh có thể gồm: Hai hoặc nhiều bên đều là doanh nghiệp nước ngoài hoặc một bên là doanh nghiệp liên doanh với một bên là doanh nghiệp trong nước
Trước đây, có sự khác biệt giữa hình thức đầu tư của nhà đầu tư nước ngoài và nhà đầu tư trong nước: Nhà đầu tư nước ngoài không được lựa chọn hình thức đầu tư là công ty cổ phần, nên doanh nghiệp nước ngoài đầu tư vào KCX - KCN đa phần là doanh nghiệp liên doanh nhưng gần đây loại hình doanh nghiệp này có xu hướng giảm do:
+ Sau một thời gian dài tiếp cận với thị trường nhà đầu tư Nhà Nước đã hiểu rỏ hơn về môi trường đầu tư ở nước sở tại và về cơ chế điều hành pháp luật trong lĩnh vực đầu tư nước ngoài tại Việt Nam
+ Trong thực tiễn đã phát sinh nhiều tranh chấp trong điều hành doanh nghiệp do sự yếu kém từ phía Việt Nam
+ Khả năng tham gia liên doanh của Việt Nam là có hạn vì thiếu cán
bộ, 98% đối tác Việt Nam tham gia liên doanh là doanh nghiệp nhà nước, 2% còn lại là doanh nghiệp ngoài quốc doanh27, nên có nhiều trường hợp cơ quan Nhà Nước can thiệp quá sâu vào quá trình tổ chức sản xuất
Tương ứng với điều này, số lượng doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài tăng lên Do giảm sút sự quan tâm của nhà đầu tư nước ngoài đối với loại hình liên doanh, và tình hình có nhiều biến động của nền kinh tế - chính trị- xã hội của thế giới, nên nhiều đối tác rút vốn về nước Trong khi đó loại hình công ty cổ phần với ưu thế là một công cụ huy động vốn đầu tư lớn, các
26 Đi ều 6 Quy chế KCX - KCN – KCNC
27
Báo cáo của Vụ trưởng Vụ quản lý KCX - KCN Việt Nam Nguyễn Ngọc Phúc, sđd
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 40nhà đầu tư nước ngoài không được chọn Trong KCX - KCN cũng không có loại hình công ty cổ phần Trước những yêu cầu và đòi hỏi khách quan về loại hình đầu tư, ngày 15/03/2003 Chính Phủ đã ban hành nghị định số 38/2003/NĐ - CP về chuyển doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài sang công ty cổ phần Đây là loại hình công ty phổ biến trên thế giới và được áp dụng nhiều ở các nước Đông Nam Á So với công ty trách nhiệm hữu hạn, nó
có lợi thế nhiều hơn và giảm thiểu rủi ro Bên cạnh, còn thừa nhận cho doanh nghiệp này được quyền bán cổ phiếu trên thị trường chứng khoán để huy động vốn đầu tư
b - Quyền sở hữu vốn đầu tư và được đảm bảo đầu tư :
Quyền sở hữu là quyền năng cơ bản của các chủ thể được pháp luật các nước thừa nhận Việc đảm bảo quyền sở hữu của nhà đầu tư nhất là nhà đầu tư nước ngoài luôn là vấn đề quan tâm của các nước và chiếm một vị trí quan trọng trong chính sách thu hút đầu tư của các nước
Luật đầu tư nước ngoài của Philippin và quy chế KCX của nước này không hạn chế vốn sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài, có thể lên đến 100% nếu dự án nằm trong KCX và các dự án có sản phẩm xuất khẩu trên 70% Ở Băng-La-Đét, Chính phủ cho phép nhà đầu tư sở hữu 100% vốn trong tất cả các ngành công nghiệp mũi nhọn và hướng vào xuất khẩu trong KCX - KCN
(28)
Ở nước ta,“Nhà Nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam bảo vệ quyền sở hữu đối với vốn đầu tư và các quyền lợi hợp pháp của nhà đầu tư…
’’ (29), các nhà đầu tư thực hiện đầu tư vào KCX - KCN được thừa nhận quyền
sở hữu đối với vốn đầu tư Nhà Nước còn thừa nhận cho các chủ thể đầu tư quyền định đoạt vốn đầu tư của mình “Mức góp vốn trong doanh nghiệp liên doanh không bị hạn chế về mức cao nhất, theo sự thoả thuận của các bên”(30)
Có nghĩa, đối với doanh nghiệp liên doanh khi ký hợp đồng liên doanh các bên được quyền thoả thuận về mức độ góp vốn của bên nước ngoài Luật không quy định mức độ tối đa của vốn góp, nhằm khuyến khích, tạo điều kiện cho các chủ thể được thực hiện đầu tư Để đảm bảo cho sự vận hành ổn định của việc kinh doanh, Luật quy định mức góp vốn tối thiểu của bên liên doanh nước ngoài “Không dưới 30% vốn pháp định”(31) và trừ những trường hợp khác do luật quy định” Những trường hợp khác “Căn cứ vào lĩnh vực kinh doanh, công nghệ, thị trường, hiệu quả kinh doanh và các lợi ích kinh tế-xã hội khác của dự án đầu tư, cơ quan cấp giấy phép đầu tư có thể xem xét cho bên liên
28
A Islam, a general perspective on FDI – related national policies and regional cooperation,
Development Papers No.19, UN 1998, P 8 – 11
29 Điều 25, Hiến pháp Việt Nam, sửa đổi bổ sung năm 2002
30 Điều 8, Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam, sửa đổi, bổ sung 2000
31
Khoản 2, điều 14, nghị định 24/2000/NĐ – CP
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu