1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

LUẬN văn LUẬT THƯƠNG mại bảo vệ và PHÁT TRIỂN RỪNG PHÒNG hộ NHẰM ỨNG PHÓ với sự BIẾN đổi KHÍ hậu PHÁP LUẬT và THUẬT TIỄN KHU vực TỈNH cà MAU

56 181 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 56
Dung lượng 0,91 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Do đó, người viết chọn đề tài: Bảo vệ và phát triển rừng phòng hộ nhằm ứng phó với sự biến đổi khí hậu: pháp luật và thực tiển khu vực tỉnh Cà Mau nhằm nghiên cứu và đánh giá thực trạng

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN TH

LUẬN VĂN T

NIÊN

Đề tài:

BẢO VỆ VÀ PHÁT TRI

ỨNG PHÓ VỚI SỰ BIỂN ĐỔI

VÀ TH

Giáo viên hướng dẫn:

ThS Kim Oanh Na

Cần Th 1 ỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA LUẬT -›&š -

TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN LUẬT

NIÊN KHÓA HỌC: 2007 – 2011

À PHÁT TRIỂN RỪNG PHÒNG HỘ N ỨNG PHÓ VỚI SỰ BIỂN ĐỔI KHÍ HẬU: PHÁP LUẬT

VÀ THỰC TIỂN KHU VỰC

TỈNH CÀ MAU

Sinh viên thực hiện:

Kim Oanh Na Phan Thị Nhiêu

MSSV: 5075210

Lớp: Luật Thương m

ần Thơ, tháng 4 năm 2011

Ơ

ỐT NGHIỆP CỬ NHÂN LUẬT

Ộ NHẰM ẬU: PHÁP LUẬT

ương mại 2 - k33

Trang 2

NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN

Trang 3

3

NHẬN XÉT CỦA THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG BẢO VỆ LUẬN VĂN:

Trang 4

MỤC LỤC

……œ&š……

Trang

LỜI MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 2

2 Mục đích của đề tài 2

3 Phạm vi nghiên cứu 2

4 Phương pháp nghiên cứu 2

5 Cơ cấu của luận văn 2

Chương 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ VIỆC BẢO VỆ, PHÁT TRIỂN RỪNG VÀ RỪNG PHÒNG HỘ NHẰM ỨNG PHÓ VỚI SỰ BIẾN ĐỔI CỦA KHÍ HẬU 3

1.1 Khái niệm, phân loại rừng và rừng phòng hộ 3

1.1.1 Khái niệm và phân loại rừng 3

1.1.1.1 Khái niệm 3

1.1.1.2 Phân loại rừng 4

1.1.2 Khái niệm và phân loại rừng phòng hộ 10

1.1.2.1 Khái niệm 10

1.1.2.2 Phân loại rừng phòng hộ 10

1.2 Khái quát về tài nguyên rừng và rừng phòng hộ 11

1.3 Vai trò và những ảnh hưởng của rừng đối với vấn đề môi trường, biến đổi của khí hậu và những tác động của biến đổi khí hậu. 12

1.3.1 Vai trò của tài nguyên rừng và rừng phòng hộ 12

1.3.2 Những ảnh hưởng của rừng đối với môi trường và sự biến đổi khí hậu 14

1.3.3 Những tác động của biến đổi khí hậu đối với đời sống xã hội và phát triển kinh tế nước ta hiện nay 15

1.3.3.1 Vài nét về biến đổi khí hậu 15

1.3.3.2 Những tác động của biến đổi khí hậu đối với đời sống xã hội và phát triển kinh tế nước ta hiện nay 17

1.4 Khái quát quy định của pháp luật Việt Nam về việc bảo vệ và phát triển rừng nhằm ứng phó với sự biến đổi khí hậu 20

Chương 2: BẢO VỆ VÀ PHÁT TRIỂN RỪNG PHÒNG HỘ NHẰM ỨNG PHÓ VỚI SỰ BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU: PHÁP LUẬT VÀ THỰC TIỂN TỈNH CÀ MAU 24

2.1 Thực trạng các quy định pháp luật về việc bảo vệ và phát triển rừng phòng hộ 24

Trang 5

5

2.1.1 Thực trạng pháp luật phát triển rừng phòng hộ 24

2.1.1.2 Đối với Nhà nước 24

2.1.1.2 Đối với chủ rừng 27

2.1.1.3 Cộng đồng dân cư được Nhà nước giao rừng phòng hộ 29

2.1.1.4 Các chủ thể khác được Nhà nước cho thuê rừng phòng hộ 30

2.1.2 Thực trạng pháp luật bảo vệ rừng phòng hộ 31

2.2 Thực tiển bảo vệ và phát triển rừng phòng hộ nhằm ứng phó với sự biến đổi khí hậu tỉnh Cà Mau 38

2.2.1 Những tác hại của biến đổi khí hậu đối với tỉnh Cà Mau 39

2.2.2 Cách khắc phục 40

2.3 Những thành tựu và bất cập của pháp luật trong việc bảo vệ và phát triển rừng phòng hộ 42

2.3.1 Thành tựu đạt được 42

2.3.2 Một số tồn tại 43

2.4 Phương hướng giải quyết và ý kiến – đề xuất 46

KẾT LUẬN 50

Trang 6

LỜI MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Hiện nay tình hình khí hậu ngày càng diễn ra khắc nghiệt hơn, nhiều thiên tai như: bão, lũ lụt…đến mức báo động ở nhiều quốc gia trên thế giới trong đó có Việt Nam Một trong những nguyên nhân dẫn đến tình trạng trên là do sự suy giảm mạnh

mẻ của tài nguyên rừng nhất là rừng phòng hộ, sự suy giảm rừng nhất là rừng phòng

hộ là do sự thiếu hiểu biết của con người đã khai thác rừng một cách vô ý thức Bên cạnh việc rừng bị suy giảm thì hạn hán, lũ lụt ngày càng nhiều, sa mạc hóa ngày càng mở rộng, động thực vật có nguy cơ cạn kiệt nhất là những loài có nguy cơ bị tuyệt chủng, hiệu ứng nhà kính, thủng tầng ozon…với những hiện tượng trên có tính chất toàn cầu và cấp bách hiện nay Do vậy, hiện nay không chỉ riêng nước ta

mà hầu hết các nước trên thế giới cũng đã bắt đầu quan tâm đến việc bảo vệ rừng nhất là rừng phòng hộ

Ở Việt Nam, hiện nay đã ban hành nhiều văn bản quy phạm pháp luật nhầm điều chỉnh hành vi của con người Trong đó, Nhà nước ta ban hành Luật bảo vệ và phát triển rừng năm 1991 và Luật bảo vệ và phát triển rừng năm 2004 và một số văn bản khác, những quy định áp dụng những biện pháp cần thiết nhằm mục đích hạn chế sự tàn phá rừng, rừng phòng hộ của con người khôi phục lại rừng để ứng phó với thiên tai thiên tai, bảo vệ tầng ozon… góp phần đảm bảo cuộc sống của con người và sự phát triển của nên kinh tế bền lâu của nước ta nói riêng, của toàn cầu nói chung Hiện nay, Nhà nước ta đã thiết lập các công trình khoa học đưa ra nhiều biện pháp để quản lý và khắc phục tình trạng suy giảm rừng Bên cạnh đó, còn một

số tồn tại đó là trong việc quản lý và giao rừng, rừng phòng hộ còn nhiều hạn chế do nước ta phát triển đi lên từ một nền kinh tế lạc hậu và trình độ dân trí thấp, đồng thời trong các biện pháp xử lí chưa được áp dụng tốt Cho nên để giải quyết vấn đề bảo vệ và phát triển rừng, rừng phòng hộ thì phải định hướng trong tương lai việc bảo vệ và phát triển rừng, rừng phòng hộ là rất cần thiết, tìm hiểu pháp luật và vận dụng cho phù hợp với công tác bảo vệ và phát triển rừng trong cuộc sống đang đặt

ra hiện nay Do đó, người viết chọn đề tài: Bảo vệ và phát triển rừng phòng hộ

nhằm ứng phó với sự biến đổi khí hậu: pháp luật và thực tiển khu vực tỉnh Cà Mau nhằm nghiên cứu và đánh giá thực trạng pháp luật từ đó đề xuất ra các giải

pháp góp phần hoàn thiện hệ thống pháp luật nhằm đảm bảo cho việc bảo vệ và phát triển rừng, đồng thời hạn chế những tác hại do sự biến đổi khí hậu

Trang 7

7

2 Mục đích của đề tài

Với các văn bản mà Nhà nước ta đã ban hành nhầm điều chỉnh vấn đề bảo vệ

và phát triển rừng nhưng khi áp dụng trên thực tế thì kết quả chưa như ý, thiên tai xảy ra ngày càng nhiều mà nguyên nhân là do diện tích rừng bị giảm nhất là rừng phòng hộ với nhiều nguyên nhân khác nhau Người viết nhận thấy rằng cần đi sâu nghiên cứu pháp luật liên quan đến việc bảo vệ và phát triển rừng, đồng thời tìm ra những ưu điểm để phát huy và nhược điểm để khắc phục khi áp dụng vào thực tiển sao cho phù hợp với đời sống xã hội – sự phát triển kinh tế, nhất là việc bảo vệ và quản lý rừng để ứng phó với sự biến đổi khí hậu hiện nay

3 Phạm vi nghiên cứu

Đề tài này tập trung nghiên cứu vấn đề bảo vệ và phát triển rừng nhằm ứng phó với sự biến đổi khí hậu ở nước ta hiện nay Đề tài này chỉ tập trung nghiên cứu những quy định của pháp luật hiện hành điều chỉnh trong vấn đề bảo vệ và phát triển rừng nhất là rừng phòng hộ, đồng thời tìm ra những ưu nhược điểm trong việc

áp dụng vào thực tế nhất là với sự biến đổi khí hậu hiện nay Từ đó, đưa ra những giải pháp cho việc hoàn thiện hệ thống pháp luật trong việc bảo vệ và phát triển rừng đặt biệt là rừng phòng hộ nhắm ứng phó với sự biến đổi khí hậu trên toàn cầu hiện nay

4 Phương pháp nghiên cứu

Đối với đề tài nghiên cứu người viết sử dụng phương pháp phân tích, phương pháp thu thập tài liệu, phương pháp so sánh và một số phương pháp khác để người viết hoàn thành luận văn này

5 Cơ cấu luận văn

Trang 8

Chương 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ VIỆC BẢO VỆ, PHÁT TRIỂN

RỪNG VÀ RỪNG PHÒNG HỘ NHẰM ỨNG PHÓ VỚI SỰ BIẾN

ĐỔI CỦA KHÍ HẬU

1.1 Khái niệm, phân loại rừng và rừng phòng hộ

1.1.1 Khái niệm và phân loại rừng

1.1.1.1 Khái niệm

Rừng là một hệ sinh thái tương đối đa dạng và phong phú Hệ sinh thái rừng chiếm khoảng 40% mặt đất, tương đương với 53 triệu km2 và là lá phổi của hành tinh1.Trên thế giới rừng tồn tại với nhiều hình thái khác nhau, tùy theo điều kiện khí hậu, đất đai và cách thức sử dụng của con người Từ đó, có nhiều khái niệm khác nhau về tài nguyên rừng như:

Ở Việt Nam, trong luật bảo vệ và phát triển rừng năm 2004 ghi nhận: “Rừng là một hệ sinh thái bao gồm quần thể thực vật rừng, động vật rừng, vi sinh vật rừng và các yếu tố môi trường khác Trong đó, cây gỗ, tre, nứa và hệ thực vật đặt trưng là thành phần chính có độ che phủ của tán lá rừng từ 0,1 trở lên Rừng gồm rừng trồng

và rừng tự nhiên trên đất rừng sản xuất, đất rừng đặt dụng, đất rừng phòng hộ”2 Bên cạnh đó, theo Thông tư số 34/2009/ TT – BNNPTNT ngày 10 tháng 6 năm

2009 của Bộ Nông nghiệp và phát triển Nông thôn quy định tiêu chí xác định và phân loại rừng thay thế Nghị định của Chính phủ số 48/2007/NĐ-CP ngày 28 tháng 03 năm 2007 về nguyên tắc và phương pháp xác định giá các loại rừng; thì một đối tượng được xác định là rừng nếu đạt được cả 3 tiêu chí sau:

“Là một hệ sinh thái, trong đó thành phần chính là các loài cây lâu năm thân

gỗ, cau dừa có chiều cao vút ngọn từ 5,0 mét trở lên (trừ rừng mới trồng và một số loài cây rừng ngập mặn ven biển), tre nứa,…có khả năng cung cấp gỗ, lâm sản ngoài gỗ và các giá trị trực tiếp và gián tiếp khác như bảo tồn đa dạng sinh học, bảo vệ môi trường và cảnh quan Rừng mới trồng các loài cây thân gỗ và rừng mới tái sinh sau khai thác rừng trồng có chiều cao trung bình trên 1,5 m đối với loài cây sinh trưởng chậm, trên 3,0 m đối với loài cây sinh trưởng nhanh và mật độ từ 1.000 cây/ha trở lên được coi là rừng Các hệ sinh thái nông nghiệp, nuôi trồng thủy sản

có rải rác một số cây lâu năm là cây thân gỗ, tre nứa, cau dừa,… không được coi là rừng

Độ tàn che của tán cây là thành phần chính của rừng phải từ 0,1 trở lên

1 Trường Đại học Lật Hà Nội, Giáo trình Luật Môi trường, NXB Công An Nhân Dân, 2005;

2 Khoản 1 Điều 3 Luật Bảo vệ và phát triển rừng năm 2004

Trang 9

9

Diện tích liền khoảnh tối thiểu từ 0,5 ha trở lên, nếu là dải cây rừng phải có chiều rộng tối thiểu 20 mét và có từ 3 hàng cây trở lên Cây rừng trên các diện tích tập trung dưới 0,5 ha hoặc dải rừng hẹp dưới 20 mét được gọi là cây phân tán.”3

Trong đó, hệ sinh thái là sự ảnh hưởng qua lại giữa các sinh vật và môi trương

tự nhiên, ảnh hưởng đó là cần thiết nhằm giữ gìn sự sống như đã tồn tại trên trái đất Ngoài ra, độ che phủ của tán rừng là mức độ che kín của tán cây rừng đối với đất rừng, được biểu thị bằng tỉ lệ phần mười giữa diện tích đất rừng bị tán lá cây che

bóng và diện tích đất rừng

1.1.1.2 Phân loại rừng

Theo Thông tư số 34/2009/TT – BNNPTNT ngày 10 tháng 6 năm 2009 của

Bộ Nông nghiệp và phát triển Nông thôn quy định tiêu chí xác định và phân loại rừng

• Phân loại rừng theo mục đích sử dụng

1 Rừng phòng hộ: là rừng được sử dụng chủ yếu để bảo vệ nguồn nước, bảo

vệ đất, chống xói mòn, chống sa mạc hoá, hạn chế thiên tai, điều hoà khí hậu và bảo

• Phân loại rừng theo nguồn gốc hình thành

1 Rừng tự nhiên: là rừng có sẳn trong tự nhiên hoặc phục hồi bằng tái sinh

- Rừng sau khai thác: là rừng đã qua khai thác gỗ hoặc các loại lâm sản khác

2 Rừng trồng: là rừng được hình thành do con người trồng, bao gồm:

3 Điều 3 của Theo Thông tư số 34/2009/TT – BNNPTNT ngày 10 tháng 6 năm 2009 của Bộ Nông nghiệp và phát triển Nông thôn quy định tiêu chí xác định và phân loại rừng

Trang 10

a) Rừng trồng mới trên đất chưa có rừng;

b) Rừng trồng lại sau khi khai thác rừng trồng đã có;

c) Rừng tái sinh tự nhiên từ rừng trồng đã khai thác

Theo thời kỳ sinh trưởng, rừng trồng được phân theo cấp tuổi, tùy từng loại cây trồng, khoảng thời gian quy định cho mỗi cấp tuổi khác nhau

• Phân loại rừng theo điều kiện lập địa

1 Rừng núi đất: là rừng phát triển trên các đồi, núi đất

2 Rừng núi đá: là rừng phát triển trên núi đá, hoặc trên những diện tích đá lộ đầu không có hoặc có rất ít đất trên bề mặt

3 Rừng ngập nước: là rừng phát triển trên các diện tích thường xuyên ngập nước hoặc định kỳ ngập nước

a) Rừng ngập mặn: là rừng phát triển ven bờ biển và các cửa sông lớn có nước triều mặn ngập thường xuyên hoặc định kỳ

b) Rừng trên đất phèn: là rừng phát triển trên đất phèn, đặc trưng là rừng Tràm ở Nam Bộ

c) Rừng ngập nước ngọt: là rừng phát triển ở nơi có nước ngọt ngập thường xuyên hoặc định kỳ

4 Rừng trên đất cát: là rừng trên các cồn cát, bãi cát

• Phân loại rừng theo loài cây

1 Rừng gỗ: là rừng bao gồm chủ yếu các loài cây thân gỗ

a) Rừng cây lá rộng: là rừng có cây lá rộng chiếm trên 75% số cây

- Rừng lá rộng thường xanh: là rừng xanh quanh năm;

- Rừng lá rộng rụng lá: là rừng có các loài cây rụng lá toàn bộ theo mùa chiếm 75% số cây trở lên;

- Rừng lá rộng nửa rụng lá: là rừng có các loài cây thường xanh và cây rụng

lá theo mùa với tỷ lệ hỗn giao theo số cây mỗi loại từ 25% đến 75%

b) Rừng cây lá kim: là rừng có cây lá kim chiếm trên 75% số cây

c) Rừng hỗn giao cây lá rộng và cây lá kim: là rừng có tỷ lệ hỗn giao theo số cây của mỗi loại từ 25% đến 75%

2 Rừng tre nứa: là rừng chủ yếu gồm các loài cây thuộc họ tre nứa như: tre, mai, diễn, nứa, luồng, vầu, lô ô, le, mạy san, hóp, lùng, bương, giang, v.v…

3 Rừng cau dừa: là rừng có thành phần chính là các loại cau dừa

4 Rừng hỗn giao gỗ và tre nứa

a) Rừng hỗn giao gỗ - tre nứa: là rừng có cây gỗ chiếm > 50% độ tàn che; b) Rừng hỗn giao tre nứa - gỗ: là rừng có cây tre nứa chiếm > 50% độ tàn che

• Phân loại rừng theo trữ lượng

Trang 11

11

1 Đối với rừng gỗ

a) Rừng rất giàu: trữ lượng cây đứng trên 300 m3/ha;

b) Rừng giàu: trữ lượng cây đứng từ 201- 300 m3/ha;

c) Rừng trung bình: trữ lượng cây đứng từ 101 - 200 m3/ha;

d) Rừng nghèo: trữ lượng cây đứng từ 10 đến 100 m3/ha;

đ) Rừng chưa có trữ lượng: rừng gỗ đường kính bình quân < 8 cm, trữ lượng cây đứng dưới 10 m3/ha

2 Đối với rừng tre nứa: Rừng được phân theo loài cây, cấp đường kính và cấp mật độ

Trang 12

+ Rừng giàu (dày): thì cây phải có đường kính < 5 và mật độ cây trên một ha đất là ≥ 10.000

+ Rừng trung bình; thì cây phải có đường kính < 5 và mật độ cây trên một ha đất là 6.000 - 10.000

+ Rừng nghèo (thưa): thì cây phải có đường kính < 5 và mật độ cây trên một

Trang 13

Chú thích: Đối với rừng là Tre, luồng thì được xác định như:

- Tre, luồng to có cấp đường kính ≥ 6

+ Rừng giàu (dày): thì cây phải có đường kính ≥ 6 và mật độ cây trên một ha đất là ≥ 3.000

+ Rừng trung bình; thì cây phải có đường kính ≥ 6 và mật độ cây trên một ha đất là 1.000 – 3.000

+ Rừng nghèo (thưa): thì cây phải có đường kính ≥ 6 và mật độ cây trên một

ha đất là < 1.000

- Tre, luồng nhỏ có cấp đường kính < 6

+ Rừng giàu (dày): thì cây phải có đường kính < 6 và mật độ cây trên một ha đất là ≥ 5.000

+ Rừng trung bình; thì cây phải có đường kính < 6 và mật độ cây trên một ha đất là 2.000 – 5.000

Trang 14

+ Rừng nghèo (thưa): thì cây phải có đường kính < 6 và mật độ cây trên một

Trang 15

15

Trạng thái: là rừng phân theo từng loại cây

D (cm): là cấp đường kính của mổi cây

N (cây/ha): là mật độ cây trên một ha đất

Tóm lại, để phân loại rừng là tre nứa thì phỉ dựa vào tiêu chí trên để xác định

như: phân theo loài cây, cấp đường kính và cấp mật độ như bảng trên đây được coi

là một trong những tiêu chí để phân loại rừng Như vậy, để phân loại rừng thì phải dựa vào các tiêu chí trên để xác định trên Đây là việc rất quan trọng đối với công tác quản lý, bảo vệ và phát triển từng loại rừng

1.1.2 Khái niệm và phân loại rừng phòng hộ

Rừng phòng hộ được xây dựng và phát triển cho mục đích điều hòa khí hậu, làm cho không khí dịu mát hơn, giảm nhiệt và biên độ nhiệt tối đa, điều hòa độ ẩm không khí Ngoài ra, còn điều hòa nước trong lưu vực cữa sông ven biển, chống lũ lụt và nước dâng Rừng phòng hộ là nguồn cung cấp gỗ củi, chất đốt cho nhân dân địa phương và các vùng lân cận

Việc xây dựng hệ thống rừng phòng hộ có vai trò trong việc chặn đứng các nguồn cát đưa vào đất liền theo gió, giảm bớt cường độ hoạt động của các suối cát trong mua mưa, cố định các cồn cát di động, chăn cát bay phục vụ sản xuất nông nghiệp và mở rộng đất canh tác nông nghiệp bền vững

1.1.2.1 Khái niệm: Rừng phòng hộ là loại rừng được sử dụng chủ yếu để bảo

vệ nguồn nước, bảo vệ đất, chống xói mòn, hạn chế thiên tai, đều hòa khí hậu và góp phần bảo vệ nguồn sinh thái

1.1.2.2 Phân loại rừng phòng hộ: Theo thông tư số 34/2009/TT – BNN –

PTNT ngày 10/6/2009 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Luật bảo vệ

và phát triển rừng năm 2004 thì phân loại rừng phòng hộ dựa vào mục đích sử dụng

là chủ yếu gồm:

Rừng phòng hộ đầu nguồn: là loại rừng thường tập trung ở các vùng đồi núi có

độ dốc cao và các vùng ven cửa sông lớn nhằm mục đích điều tiết dòng chảy vào mùa khô, hạn chế thiên tai do biến đổi khí hậu, chống sự bồi lấp các dòng sồng, hồ Cho nên, rừng phòng hộ đầu nguồn được trồng tập trung có cấu trúc nhiều tầng

và độ che phủ là 0,6 trở lên

Rừng phòng hộ chắn sóng, lấn biển: Đây là loại rừng ngăn cản tác hại của sóng biển bồi lấp các dòng sông và bảo vệ các công trình ven biển, chắn gió mạnh làm giảm thiệt hại nhà cửa và tài sản

Rừng phòng hộ chắn gió, chắn cát bay: loại rừng này còn nhằm hạn chế nạn cát bay vào các cánh đồng làm thiệt hại đến năng xuất, và cải tạo các bải cát thành đất canh tác, cố định bùn cát trắng đọng lại để hình thành đất mới Loại rừng này

Trang 16

thường mọc tự nhiên hoặc được người dân gây trồng ở ven biển gần các cửa sông lớn

Rừng phòng hộ bảo vệ môi trường sinh thái: Rừng được sử dụng để điều hòa khí hậu, hạn chế ô nhiểm môi trường ở các khu đô thị, khu dân cư Ngoài ra, còn bảo vệ các cảnh quan nhằm tạo điều kiện thu hút khách du lịch và bảo vệ môi trường sinh thái ở Việt Nam

Như vậy, Việc phân loại rừng có ý nghĩa quan trọng đối với công tác quản lý, bảo vệ và phát riển rừng Bởi lẻ, mổi loại rừng có những đặt điểm, mục đích quy luật riêng và được bảo vệ bằng những biện pháp, cách thức khác nhau Việc sử dụng đúng mục đích khai thác đúng quy luật của từng loại rừng sẻ ảnh hưởng đế sự bền vững của nó

1.2 Khái quát về tài nguyên rừng và rừng phòng hộ

Việt Nam là một nước nhiệt đới ở vùng Đông Nam Á có diện tích lãnh thổ là 331.700 km2, trong đó diện tích rừng là 20 triệu ha, chiếm 20% diện tích toàn Quốc (Tổng Cục thống kê năm 1994) Rừng Việt Nam sắp suy kiệt nghiêm trọng chỉ còn nữa triệu ha rừng trong tổng số 13 triệu ha rừng tại Việt Nam, phân bố rải rác và không có khả năng phục hồi Trước đây, phần lớn đất nước Việt Nam có rừng che phủ, nhưng trong khoảng một thế kỉ qua rừng bị suy thoái nặng nề Trong thời kì Pháp thuộc, nhiều vùng đất rộng lớn ở phía Nam đã bị khai phá để trồng cà phê, cao

su, chè và một số cây công nghiệp khác Khoảng giữa thế kỉ xx, hầu như các khu rừng thuộc Châu thổ sông Hồng, một phần lớn Châu thổ sông Cửu Long cùng với một số các khu rừng ven biển đã bị khai phá để trồng trọt và xây dựng xóm làng Trong lúc này, độ che phủ của rừng còn lại là 43% diện tích đất tự nhiên.4

Sau chiến tranh diện tích rừng còn khoảng 9,5 triệu ha, chiếm 29% diện tích

cả nước Trong những năm vừa qua, để đáp ứng cho số dân ngày càng tăng và hàn gắn vết thương chiến tranh nhân dân ta vẫn khai thác mạnh mẻ diện tích rừng còn lại Trong giai đoạn này rừng chỉ còn 7,8 triệu ha, chiếm khoảng 24% diện tích cả nước (Viện Điều tra và Quy hoạch rừng) trong đó có 10% là rừng nguyên sinh.5

Theo dự tính vào năm 2010 rừng Việt Nam còn khoảng 13,390,000 ha với độ che phủ là 39,5% chưa đạt mục tiêu đặt ra trong nghị quyết 79 là “ độ che phủ của rừng phải đạt tới 42% - 43%” Bên cạnh đó, rừng nguyên sinh chỉ còn 0,75 triệu ha

và không có khả năng phục hồi, dù vậy diện tích rừng trồng đang tăng lên nhưng rừng tự nhiên đang thu hẹp lại Rừng không có khả năng phục hồi hoặc có khả năng phục hồi là rất thấp là do rừng đã bị chia cắt thành nhiều mãnh nhỏ điển hình là tỉnh

4 Nguồn: http://www.vncreatures.net/event06.php

5 Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình Luật Môi trường, NXB Công An Nhân Dân, 2005;

Trang 17

17

Quãng Nam, vào năm 2007 có 211,536 ha đến năm 2009 chỉ còn 210,889 ha, mất gần 600 ha Ngoài ra, còn một số vùng miền núi có rừng đầu nguồn của các con sông lớn thì độ che phủ chỉ còn 40% - 50% đây cũng là nguyên nhân góp phần làm tăng lũ lụt mạnh và nhiều trong thời gian qua ở nước ta6

Bên cạnh đó, tình trạng suy giảm rừng không những thể hiện ở gốc độ giảm tỉ

lệ độ che phủ mà còn thể hiện ở số lượng và chất lượng Trong năm 1993 trữ lượng

gỗ bình quân 9,13 m3/ha rất thấp đối với một số nước có rừng trên thế giới Ngoài

ra, một số loài động vật hoang dã giảm mạnh, nhiều loài quý hiếm có nguy cơ bị tuyệt chủng…Thực trạng suy giảm về số lượng và chất lượng rừng từ các nguồn nguyên nhân khác nhau như: nạn chặt phá rừng, cháy rừng, tập quán du canh du cư….và trên hết là sự thiếu quan tâm của các cơ quan chịu trách nhiệm quản lý hoặc lực lượng quản lý chưa đủ mạnh

Tóm lại, với hiện trạng tài nguyên rừng của Việt Nam hiện nay nhà nước ta

cần đặt ra những biện pháp nhằm bảo vệ và phát triển rừng, nhất là rừng phòng hộ

để ứng phó với sự biến đổi của khí hậu hiện nay Bên cạnh đó, nhằm ổn định cuộc sống cho người dân và thúc đẩy sự phát triển nền kinh tế của quốc gia

1.3 Vai trò và những ảnh hưởng của rừng đối với vấn đề môi trường, biến đổi của khí hậu và những tác động của biến đổi khí hậu

1.3.1 Vai trò của tài nguyên rừng và rừng phòng hộ

Vai trò của tài nguyên rừng: Tài nguyên rừng có vai trò đặt biệt quan trọng trong việc bảo vệ môi trường Rừng là loại tài nguyên có thể tái tạo được, là một bộ phận quan trọng của môi trường sinh thái Bên cạnh đó rừng còn có một giá trị to lớn đối với đời sống và sự phát triển nền kinh tế Quốc gia

Rừng có giá trị kinh tế: Rừng là một hệ sinh thái đa dạng cung cấp nhiều

nguồn tài nguyên lớn cho nền kinh tế Hiện nay, rừng Việt Nam có trên 12.000 loài thực vật, 1000 loài chim, 300 loài thú, 300 loài bò sát Bên cạnh đó, trong rừng còn

có một số loài động vật và thực vật quý hiếm như: Tê tê, Culilun, là những loài có trong sách đỏ Việt Nam 7 Rừng có diện tích khá lớn, đây là nguồn cung cấp nguyên liệu để sản xuất như: gỗ xẻ, gỗ dán, than và nguyên liệu để chế biến thực phẩm Ngoài ra rừng còn cung cấp các nguồn gen quý của các động, thực vật nhằm phụ vụ cho các ngành khoa học có những tiến bộ mới đem lại lợi ích cho nền kinh

tế Không những thế, rừng còn là nơi đều hòa khí hậu hạn chế các thiên tai như: lũ

6 http://www.cpv.org.vn/cpv/modules/news/newsdetail.aspx?cn_id=453941&co_id=3008

7 Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình Luật Môi trường , NXB Công An Nhân Dân, 2005

Trang 18

lụt, xói mòn, ngăn nạn cát bay, chắn sóng bảo vệ các công trình ven biển, và quan trọng hơn là ngăn mặn khi mực nước biển dâng lên ở nước ta hiện nay

Tóm lại, với những nguồn cung cấp trên của tài nguyên rừng đả góp phần vào

việc thúc đẩy nền kinh tế phát triển Với nguồn nguyên liệu dồi dào và đa dạng rừng

có những vai trò sau:

Rừng có vai trò trong đời sống xã hội: rừng đem lại lợi ích cho người dân

trong đời sống hiện nay đó là đem lại việc làm cho họ nhất là đối với dân tộc thiểu

số, cộng đồng dân cư, rừng còn có vai trò điều tiết nguồn lao động, giảm các tệ nạn

xã hội hiện nay Với sự phát triển kinh tế thị trường hiện nay, nguồn nguyên liệu dồi dào như thế thì các công ty đầu tư - xây dựng nên cần một nguồn lao động lớn đây

là cơ hội cho những người không có việc làm được làm việc và đem lại nguồn thu nhập cho gia đình nhằm ổn định cuộc sống

Ngoài ra, rừng còn có giá trị đối với môi trường sinh thái: Rừng là lá phổi

xanh của trái đất, cung cấp oxi, rừng làm cho khí hậu trở nên ôn hòa, mát mẽ Rừng điều hòa các dòng chảy, là lá chắn làm giảm cường độ của gió, ngăn lũ, chống xói mòn bảo vệ các đa dạng sinh học Rừng là nơi lưu giữ các nguồn gen quý có giá trị khoa học Từ đó, cung cấp nguồn tài liệu mới mẽ cho nhà khoa học đưa ra nhiều thành tưu khoa học tiến bộ và cũng từ đó giúp cho việc bảo vệ và phát triển đa dạng sing học ngày càng chặt chẻ hơn

Mặc dù vậy, bất chấp vai trò của rừng mà nạn phá rừng vấn tiếp tục xảy ra và ngày một nhiều hơn vì lợi ích trước mắt Mất rừng gây ra nhiều tổn thất cho nền kinh tế và đời sống xã hội Cho nên, đây là một thách thức lớn cần được giải quyết nhanh chóng đối với nền kinh tế và sự biến đổi khí hậu ở nước ta hiện nay

Vai trò của rừng phòng hộ: Rừng phòng hộ có vai trò đều hòa khí hậu, ngăn lũ lụt, chóng xói mòn, chống xa mạc hóa Rừng phòng hộ với cấu trúc nhiều tầng, mật độ che phủ cao đều này hạn chế được cường độ của gió, bão đi qua nhằm làm giảm thiệt hại người và của Ngoài ra trong rừng còn có các loại động, thực vật sinh sống như: khỉ, hươu, gấu cung cấp cho các ngành chế biến Không những thế, rừng phòng hộ còn có các loài thủy hải sản phong phú được nuôi xen kẻ với rừng phòng phòng hộ đây là nguồn nguyên liệu cung cấp cho các công ty chế biến thực phẩm nhằm đáp ứng với nhu cầu đời sống cho người dân Bên cạnh đó, rừng còn cung cấp cho nền kinh tế một lượng gỗ lớn cho các công ty sản xuất gỗ mang lại nguồn thu nhập đáng kể cho quốc gia Rừng phòng hộ còn có vai trò trong đời sống xã hội đó

là tăng thêm nguồn thu nhập cho người dân đó là khai thác các nguồn thủy hải sản sẳn có trong rừng và nuôi trồng xen kẻ, từ đó đem lại nguồn thu nhập cho gia đình, giúp người dân ổn định cuộc sống Ngoài ra, rừng phòng hộ còn là nơi lưu giữ các nguồn gen của các động, thực vật có giá trị khoa học Rừng phòng hộ bảo vệ các

Trang 19

19

cảnh quan sinh thái thu hút nguồn đầu tư, khách du lịch và quan trọng hơn hết là góp phần vào bảo vệ môi trường sinh thái

Tóm lại, rừng phòng hộ có vai trò to lớn trong việc bảo vệ môi trường đồng

thời cũng góp phần vào sự phát triển kinh tế và đời sống con người Từ đó, cho ta thấy vai trò của rừng phòng hộ cũng giống như tài nguyên rừng nhưng mục đích chính của rừng phòng hộ là đều hòa khí hậu, hạn chế thiên tai, và quan trọng là ứng phó với sự biến đổi của khí hậu Tuy nhiên, rừng phòng hộ ngày càng bị thu hẹp do các nguyên nhân chặt phá rừng, cháy rừng, phá rừng trồng rẩy của các người

di dân Bên cạnh đó, mà nguyên nhân sâu xa là do sự thiếu trách nhiệm cuả các cơ quan quản lý đối với việc bảo vệ và phát triển rừng phòng hộ, từ đó lũ lụt ngày càng nhiều gây nhiều khó khăn cho nền kinh tế và đời sống xã hội

1.3.2 Những ảnh hưởng của rừng đối với môi trường và sự biến đổi khí hậu Rừng là lá phổi của hành tinh Rừng không chỉ là nơi cung cấp nhiều lâm sản quý cho các ngành Công nghiệp, mà vai trò quan trọng nhất của rừng đối với trái đất và đời sống con người là vai trò điều hòa khí hậu

Rừng có ảnh hưởng đến sự bốc hơi nước ở môi trường xung quanh và giữ cân bằng nồng độ oxi trong khí quyển Rừng không chỉ cung cấp oxi mà còn có tác dụng lọc không khí, làm cho không khí trong lành Rừng hấp thụ một lượng lớn khí

CO2 trong khí quyển, làm giảm tác nhân gây ra từ nhà kính Bên cạnh đó, tán cây rừng có tác dụng giữ hơi nước trong rừng tạo nên độ ẩm cao, bảo vệ đất chống lại bức xạ mặt trời tránh làm đất khô hạn, độ ẩm không khí giảm mạnh, mây không tạo thành và dẫn đến hiện tượng không có mưa Hậu quả là hạn hán sẻ xảy ra và kéo dài làm ảnh hưởng đến đời sống người dân Ngoài ra, rừng còn đóng vai trò quan trọng trong việc giữ nước Khi mưa xuống, một phần nước được lá cây giữ lại, một phần chảy xuống tầng thảm mục, ngắm xuống đất rừng Như vậy, rừng có tác dụng hạn chế dòng chảy của nước mưa ngăn cho sông không lũ lụt, ngăn xói mòn,…Trong

đó, rừng phòng hộ đầu nguồn có vai trò bảo vệ nguồn nước, hạn chế thiên tai Nếu rừng dầu nguồn suy giảm sẻ gây ra nạn thiếu nước và gây ra lũ quét trong mùa mưa, đồng thời chống lại sự bồi lấp lòng sông, lòng hồ Ngoài ra, rừng ngặp mặn có khả năng hạn chế bão lũ, triều cường, hạn chế sự xâm nhập mặn và bảo vệ nguồn nước

Hệ gễ cây chằn chịt trên mặt đất làm giảm cường độ của sóng, giảm tốc độ dòng chảy của triều cường và quan trọng là ứng phó khi mặt nước biển dâng cao

Nếu không có rừng, số lũ lụt, bão tại các vùng đất trũng ven biển tăng lên Thiên tai hoành hành, sự xăm nhập của nước biển sẻ ảnh hưởng đến hệ sinh thái và nguồn nước ngầm Ngoài ra, nếu không có rừng thì làm cho hàng năm có 860 triệu

ha đất bị hoang mạc hóa, các cơn mưa nhiệt đới biến mất, có khoảng 25.000 triệu ha

Trang 20

đất màu mỡ bị mất đi…Rừng bị suy giảm, khiến cho lượng khí CO2 tăng lên và ngày càng làm cho tầng ozon bị pha hỏng dần làm ảnh hưởng đến khí hậu toàn cầu.8

Tóm lại, rừng có vai trò to lớn đối với sự biến đổi của khí hậu, rừng có thể hạn

chế được thiên tai, làm giảm khí CO2 và các khí khác thải ra từ các nhà kính Mặt

dù rừng quan trọng đối với đời sống như thế mà con người vẫn khai thác một cách bất hợp pháp, góp phần làm cho tài nguyên rừng suy giảm Hiện nay, sự suy giảm rừng đã gây ra nhiều tổn thất về mặt kinh tế, đời sống xã hội về phát triển kinh tế lâu dài Cho nên, việc khôi phục lại tài nguyên rừng là những vấn đề cấp thiết của toàn cầu hiện nay

1.3.3 Những tác động của biến đổi khí hậu đối với đời sống xã hội và phát triển kinh tế nước ta hiện nay

1.3.3.1 Vài nét về biến đổi khí hậu

a) Khái niệm:

Biến đổi khí hậu theo Công ước khung của Liên Hiệp Quốc: Biến đổi khí hậu

là nhứng biến đổi trong môi trường vật lý hoặc sinh học gây ra những ảnh hưởng có hại cho thành phần, khả năng phục hồi và sinh sản của hệ sinh thái tự nhiên, hoặc ảnh hưởng đến nền kinh tế - xã hội, sức khỏe và phúc lợi của con người.9

b) Nguyên nhân làm biến đổi khí hậu

Biến đổi khí hậu đang thu hút sự quan tâm của nhiều Quốc gia do những ảnh hưởng hiện nay và hiểm họa trong tương lai đối với xã hội loài người Hiện nay, các hiện tượng khí hậu dị thường và thiên tai liên tục xảy ra ở nhiều vùng trên thế giới

mà các nguyên nhân chính là nguyên nhân tự nhiên và nguyên nhân nhân tạo

* Nguyên nhân tự nhiên

Khí hậu trái đất thường xuyên thay đổi trong quá trình lịch sử địa chất, cứ sau một chu kỳ nóng lên lại là một chu kỳ lạnh có tên là chu kỳ băng hà Chu kỳ băng

hà kéo dài khoảng 100.000 năm, còn chu kỳ nóng lên kéo dài từ 10.000 đến 20.000 năm Hiện nay, chúng ta đang sống trong chu kỳ nóng lên của trái đất vì sự thay đổi

vị trí trái đất so với mặt trời, thay đổi cường độ hoạt động của mặt trời và sự gia tăng hoạt động của tro bụi, hơi nước và trên hết là khoảng cách giữa trái đất và mặt trời cũng luôn thay đổi do quỹ đạo quay của trái đất.10

Trang 21

21

Bên cạnh đó, tro bụi của núi lửa cũng làm thay đổi nhiệt độ khí quyển của trái đất và sự va chạm của thiên thạch cũng là một trong những nguyên nhân làm biến đổi khí hậu trên toàn cầu

* Nguyên nhân nhân tạo

Nguyên nhân chủ yếu là do mật độ dân số tăng lên nhanh chóng,từ đó khí từ các nhà kinh cũng tăng lên do sự phát triển kinh tế Từ việc tăng lượng khí nhà kính đã dẫn đến tăng nhiệt độ khí quyển của trái đất làm biến đổi một loạt các đặt trưng của khí hậu.Các hoạt động của con người đã thải ra một số khí gay ô nhiểm môi trường, làm thay đổi thành phần của khí quyển như : CO2, N2O, CH4… Trong

đó, khí CO2 chiếm tỉ lệ cao nhất trong khí quyển và đang tăng lên, chưa có dấu hiệu đạt mức ổn định.11

Bên cạnh đó, sự suy giảm diện tích rừng cũng là nguyên nhân chủ yếu để làm khí hậu biến đổi Rừng phân bố không đều trên các châu lục về diện tích và thể loại,

có khoảng 29% diện tích địa lục có rừng che phủ, chiếm khoảng 20% - 45% diện tích trên hành tinh Rừng có ảnh hưởng đến sự bốc hơi nước ở môi trương xung quanh và giữ cân bằng nồng độ oxi trong khí quyển Rừng không chỉ cung cấp oxi

mà còn có tác dụng lọc không khí, làm cho không khí trong lành Rừng hấp thụ một lượng lớn khí CO2 trong khí quyển, làm giảm tác nhân gây ra từ nhà kính Hiện nay, rừng đang bị suy thoái do tăng dân số và sự phát triển nhân loại, rừng bị khai thác một cách mạnh mẻ nhằm để cung cấp nguồn nguyên liệu cho các ngành công nghiệp để sản xuất, mở rộng đất nông nghiệp, … từ đó làm giảm sự hấp thụ đối với khí nhà kính.12

Bên cạnh đó, diện tích rừng bị thu hẹp, tiếp theo đó là xâm nhập mặn của nước biển làm ảnh hưỡng đến môi trường sinh sống của các loài thủy sản nước ngọt, đều này làm cho nguồn thức ăn có nhiều dinh dưỡng giảm….Từ những ảnh hưởng của biến đổi khí hậu đời sống của người dân cũng gặp nhiều khó khăn đó là

11 Nguyễn Trọng hiếu, Khái quát biến đổi khí hậu ở Việt Nam, TTKHCN KTTV & MT, 2006;

12 Bộ tài nguyên và Môi trường, “ Chiến lượt Quốc gia về cơ chế phát triển sạch”;

Trang 22

bệnh dịch ngày một tăng, suy dinh dưởng chiếm tỉ lệ cao, do khí hậu luôn thay đổi không ổn đinh là cơ hội cho dịch bệnh lây lan nhanh, thậm chí dẫn đến tử vong… Với những tác hại do biến đổi khí hậu gây ra sẻ ảnh hưởng đếm sự phát triển của các Quốc gia, đặt biệt đối với những nước đang phát triển sẻ làm cho nền kinh tế trì trệ, ảnh hưỡng đến việc làm cho người lao động, thất nhiệp tăng lên dẫn đến nhiều

tệ nạn xã hội tăng gây bất ổn cho an ninh quốc phòng của một Quốc gia nói riêng, cho toàn cầu nói chung

1.3.3.2 Những tác động của biến đổi khí hậu đối với đời sống xã hội và phát triển kinh tế nước ta hiện nay

a) Tác động của biến đổi khí hậu đối với toàn cầu

Trong thế kỉ 20, mực nước biển đã tăng lên 17cm, diện tích băng tuyết bao phủ đã giảm 5% kể từ năm 1980 số lượng và mức độ các hiện tượng thời tiết bão nhiệt đới trở nên mạnh mẽ hơn Bên cạnh đó bão, lụt cùng với sự tăng cao của mực nước biển sẽ đe dọa các vùng đất thấp ven biển gây ra tác động lớn về sinh thái và môi trường Do tác động của biến đổi khí hậu mà một số khu vực trên thế giới bị ảnh hưởng như:

Ở Châu Phi vào cuối thế kỉ 21, mực nước biển dâng sẽ gây ảnh hưởng đến các vùng ven biển đông dân cư, sản lượng Nông nghiệp bị thiệt hại nghiêm trọng làm tăng tình trạng si dinh dưỡng, ảnh hưởng xấu tới an ninh lương thực và bất ổn xã hội Còn ở Châu Á, đến năm 2050 lượng nước ngọt có thể sử dụng được sẽ giảm, vùng ven biển chịu rủi ro từ lũ, bão ngày càng nhiều, …từ các nguyên nhân đó mà dịch bệnh ngày càng lây lan nhanh, tỉ lệ tăng lên Bên cạnh đó, do biến đổi khí hậu còn gây áp lực tới tài nguyên thiên nhiên và môi trường sinh thái

Mực nước biển dâng do băng tan sẽ làm mất đi nhiều vùng đất thấp, mất đi các

hệ sinh thái đất Nông nghiệp Bên cạnh đó, biến đổi khí hậu làm giảm đi một số thực vật, đồng thời làm mất đi một số cây do không thích ứng với sự biến đổi của khí hậu từ đó làm cho nguồn gen ngày càng hiếm nhất là gen của một số loài có nguy cơ bị tuyệt chủng gây nhiều khó khăn cho quá trình lai tạo giống mới Ngoài

ra, do biến đổi khí hậu ngày càng tăng làm cho nền chính trị một số nước không ổn định, vào ngày 29/8/2005 cơn bão Katrina đã đổ bộ lên bờ biển Nam Hoa Kỳ làm cho nhiều nhà cửa, cơ sở hạ tầng bị phá hủy… Thiệt hại do cơn bão ước tính là 100 – 300 tỷ đô la 13

Không những thế, biến đổi khí hậu làm cho nhiệt độ tăng sẻ làm thay đổi quá trình phân bố các nguồn tài nguyên thiết yếu và có tầm chiến lượt quan trọng như:

13

Tạp chí Tài nguyên và Môi trường số 04 (54) tháng 04/ 2008 và Tập chí Tài nguyên và Môi trường số 11 (61) tháng 11/ 2008

Trang 23

23

nước, lương thực, năng lượng, đất trồng trọt…làm tăng nguy cơ nền kinh tế chính trị, xung đột, khủng bố, mâu thuẫn ngày càng sâu sắc giữa các Quốc gia Biến đổi khí hậu còn làm thay đổi nhiệt độ nước và mực nước tại các khu vực sông, hồ, đầm, lầy…làm thay đổi chế độ lượng mưa, bão, hạn hán,…từ đó làm giảm một số loài động thực vật

Tóm lại, do sự biến đổi khí hậu mà các nước đã gây ra ba tác động lớn như:

Mực nước biển dâng lên, nhiệt độ trái đất tăng lên, sự thay đổi nhiệt độ nước và mực nước tại các vùng, khu vực sông Từ đó, ảnh hưởng đến nền kinh tế của một số nước nhất là các nước ven biển, ảnh hưởng đến đời sống con người Hiện nay, biến đổi khí hậu là một vấn đề nan giải mà các nước phải quan tâm giải quyết trong thời gian dài

b) Đối với Việt Nam

Việt Nam có đường bờ biển dài khoảng hơn 3200 km, suốt dọc bờ biển từ

Móng Cái đến Hà Tiên hầu như đều có người sinh sống, mật độ cư dân tùy theo địa hình và Thổ nhưỡng ven bờ biển Trên các vùng, miền biển có khoảng 1,122 km2 rạn san hô với khoảng 310 loài san hô đá, phân bố rộng từ Bắc vào Nam và một thảm cỏ biển ven các đảo Các Vũng và Vịnh ven bờ biển chiếm 60% đường bờ biển, trong có 12 Vũng Vịnh lớn cứ 20km có một cửa sông14 Do ảnh hưởng của biến đổi khí hậu, nước biển dâng, các hệ sinh thái ven biển Việt Nam đang bị ô nhiển môi trường, suy thoái nghiêm trọng như: lượng bốc hơi tăng, độ ẩm giảm, nhiệt độ không khí tăng, băng tan và mực nước biển dâng…ảnh hưởng đến đời sống kinh tế nước ta hiện nay Ngoài ra, biển đổi khí hâu ảnh hưởng nhiều đến đồng bằng sông Hồng và đồng bằng sông Cửu Long, đây là nơi phần lớn cư dân Việt Nam và các hoạt động kinh tế nằm ở vị trí trên vùng đồng bằng hai con sông này Sự tác

động của biến đổi khí hậu ảnh hưởng đến các vùng với những mức độ khác nhau:

Đối với vùng núi và trung du phía bắc: độ che phủ trung bình của rừng hiện nay chỉ còn 44,2% (Cục kiểm lâm, 31/12/2006) Tuy nhiên, độ che phủ không đồng đều Bên cạnh đó, vùng này hạn hán thường xuyên xảy ra vì có độ dốc cao, địa hình

bị chia cắt phần lớn các hồ chứa nước có quy mô nhỏ Cho nên, hạn hán kéo dài làm ảnh hưởng đến 20% diện tích lúa đông xuân, Sản lượng cây ăn quả và cây Công nghiệp giảm đáng kể, có khoảng 300.000 người không có đủ nước ngọt để sử dụng Đối với vùng ven biển trung bộ: độ che phủ của rừng này trung bình của vùng

là 44,4% nhưng phân bố không đồng đều, lưu vực sông ngăn và dốc đã hạn chế khả năng điều tiết dòng chảy của hệ thống tưới tiêu và sông ngòi, dể gây lũ lụt, nhanh

14 http://cema.gov.vn/modules.php?name=Content&op=details&mid=117453865#ixzz1IKOcCwnG

Trang 24

bất ngờ và hạn hán kéo dài Vì vậy, sản xuất lương thực gặp nhiều khó khăn, đời sống của người dân luôn luôn ở trong tình trạng phải đối phó với thiên tai

Đối với vùng Tây Nguyên: trong vùng có loại đất bazan hấp thụ nước nền nguồn nước ngầm ở đây khá dồi dào Tuy nhiên, khí hậu bất thường những năm

1993, 1998, 2004 đã gây ra hạn hán làm mất khả năng tưới tiêu và phát triển sản xuất Vùng có tổng số 24,000 ha lúa đông xuân, có 7,800 ha bị thiệt hại do đợt hạn hán năm 1998, có 20,000 ha diện tích cây Công nghiệp và cây ăn quả bị hại, nguy

cơ cháy rừng ngày càng cao 15

Đối với vùng đồng bằng Sông Cửu Long: độ che phủ của rừng này trung bình của vùng là 12,1% thấp nhất cả nước Nhiều khu rừng bị phá hoại nghiêm trọng để lấy đất sản xuất nông nghiệp Diện tích rừng suy giảm tạo điều kiện nhiễm măn, phèn hóa toàn bộ tầng đất mặt do mực nước biển dâng cao Bên cạnh đó, vào mua khô, mực nước giảm, năm 1998 hạn hán đã làm cho diện tích bán đảo Cà Mau bị nhiễm mặn, cháy rừng liên tục xảy ra nhất là vụ cháy rừng U Minh Thượng năm

2002 gây thiệt hại hàng chục tỷ đồng Như vậy, do ảnh hưởng của biến đổi khí hậu

mà Việt Nam Là nước bị tác động nhiều nhất Những tác động đó đã gây ra trở ngại đến sự phát triển kinh tế và đời sống xã hội cụ thể như:

Đối với nền kinh tế: Do ảnh hưởng của biến đổi khí hậu mà lượng mưa thất thường và luôn biến đổi dẫn đến sự sụt giảm đáng kể về năng xuất Theo đánh giá của trương trình phát triển Liên Hiệp Quốc (UNDP), nếu nước biển tăng lên 1mét thì có 5% diện tích đất đai biến mất, 11% người mất nhà cữa, 7% sản lượng Nông nghiệp giảm, hàng trăm nghìn ha lúa bị hư hại, nhiều công trình thủy lợi bị phá hủy….thiệt hại do tiên tai gây ra là 11.600 tỷ đồng 16 Do đó, nền kinh tế đang trên

đà phát triển bị chựng lại, do ảnh hưởng của biến đổi khí hậu đối với nước ta hiện nay

Đối với đời sống xã hội: Biến đổi khí hậu làm cho lượng mưa và nhiệt độ thay đổi liên tục, tạo điều kiện cho các dịch bệnh lây lan nhanh, làm tăng tình trạng suy dinh dưỡng, khả năng đề kháng bệnh giảm do nhiệt độ tăng lên, thậm chí dẫn đến tử vong…Ngoài ra, do diện tích đất rừng giảm dẫn đến nguồn nguyên liệu cung cấp cho các ngành chế biến, sản xuất thực phẩm không còn, đồng thời cũng ảnh hưởng đến nguồn thu nhập người dân nhất là ở vùng đồi núi, hàng ngàn người không có việc làm, thất nghiệp tăng, các tệ nạn xã hội ngày càng nhiều và tinh vi hơn dẫn đến bất ổn đến đời sống xã hội

15

Tạp chí Tài nguyên và Môi trường số 19 (105) tháng 10/ 2010

16 http://www.l.thanh nien.com.vn

Trang 25

tế đang được triển khai, tạo đà thúc đẩy việc quản lý, bảo vệ và phát triển rừng và các biện pháp ứng phó với biến đổi khí hậu cũng được triển khai thực hiện

Bên cạnh đó, Hiến pháp là đạo luật gốc, đạo luật cơ bản có hiệu lực cao nhất tronh hệ thống pháp luật Việt Nam Hiến pháp, là nguồn của Luật bảo vệ và phát triển, là cơ sở cho việc ban hành những quy phạm pháp luật về bảo vệ và phát triển rừng Chẳng hạn, luật quy định “ Cơ quan Nhà nước, đơn vị vũ trang, tổ chức kinh

tế, tổ chức xã hội, mọi cá nhân phải thực hiện các quy định của Nhà nước về sữ dụng hợp lý nguồn tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ môi trường, nghiêm cấm mọi hoạt động làm suy kiệt tài nguyên và hủy hoại môi trường”17 quy định này tạo ra cơ

sở về việc xác định nghĩa vụ của các chủ thể trong công tác bảo vệ môi trường nói chung, bảo vệ và phát triển rừng nói riêng

Ngoài Hiến pháp là đạo luật gốc còn có các đạo luật khác cũng chứa nhiều quy định về bảo vệ và phát triển rừng như: Luật bảo vệ và phát triển rừng năm 1991 được thay thế bằng Luật bảo vệ và phát triển rừng năm 2004 tại kỳ hợp thứ 6 khóa

XI Quốc hội đã thông qua có hiệu lực ngày 01/4/2005 Luật này có nhiều điểm mới, luật quy định có hệ thống các hoạt động, chính sách, biện pháp và nguồn lực cho công tác bảo vệ và phát triển rừng; Quyền và nghĩa vụ của các cơ quan tổ chức, cộng đồng, hộ gia đình, cá nhân cũng như Quyền và nghĩa vụ của cơ quan quản lý Nhà nước các cấp chính quyền và việc phân cấp quản lý trong lĩnh vực bảo vệ và phát triển rừng đã rõ ràng hơn Điểm nổi bật của Luật bảo vệ và phát triển rừng năm

2004 là đẩy mạnh công tác xã hội hóa trong hoạt động trong lĩnh vực bảo vệ và phát triển tài nguyên rừng và cũng đồng thời cho phép sữ dụng nhiều biện pháp, công cụ, chế tài mạnh mẻ hơn, có tính năng đe dọa cao hơn Đây là cơ sở pháp lí vững vàng thúc đẩy các hoạt động nhằm bảo vệ và phát triển rừng, đồng thời ứng phó với biến đổi khí hậu đáp ứng nhu cầu phát triển và hội nhập của nước ta hiện nay

Ngoài ra, một số Luật khác cũng hướng tới vấn đề liên quan trong lĩnh vực bảo vệ và phát triển rừng như:

Trang 26

- Luật Hình sự của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009)

Các cơ quan chức năng còn ban hành nhiều văn bản dưới luật trong lĩnh vực bảo vệ và phát triển rừng

- Nghị định số 23/2006/NĐ – CP ngày 03 tháng 03 năm 2006 của Chính phủ quy định về thi hành luật bảo vệ và phát triển rừng;

- Nghị định số 05/2008/NĐ – CP ngày 14 tháng 01 năm 2008 của Chính phủ quy định về quỹ bảo vệ và phát triển rừng;

- Nghị định số 119/2006/NĐ – CP ngày 16 tháng 10 năm 2006 của Chính phủ quy định về tổ chức và hoạt động kiểm lâm;

- Nghị định số 99/2009/NĐ – CP ngày 02 tháng 11 năm 2009 của Chính phủ quy định về xử phạt hành vi hành chính trong lĩnh vực quản lý rừng, bảo vệ rừng, quản lý lâm sản, thay thế Nghị định số 159/2007/NĐ – CP ngày 30 tháng 10 năm 2007;

- Nghị định số 117/2009/NĐ – CP ngày 31 tháng 12 năm 2009 của Chính phủ quy định về xử phạt hành vi hành chính trong lĩnh vực quản lý rừng, bảo vệ rưng, quản lý lâm sản;

- Quyết định số 18/2007/QĐ – TTg ngày 5 tháng 02 năm 2007 của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt chiến lượt phát triển lâm nghiệp Việt Nam giai đoạn 2006 – 2020;

- Quyết định số 186/2006/QĐ – TTg ngày 14 tháng 8 năm 2006 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành quy chế quản lý rừng;

- Thông tư liên tịch số 19/2007/TTLT – BNN – BTP – BCA – VKSNDTC ngày 8 tháng 3 năm 2007 của Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn, Bộ tư pháp,

Bộ Công an, Viện kiểm sát nhân tối cao, Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số điều của Bộ luật hình sự về các tội phạm trong lĩnh vực quản lý rừng, bảo vệ rừng, quản lý lâm sản;

- Thông tư số 38/2007/TT – BNN ngày 25 tháng 4 năm 2007 của Bộ Nông nghiệp và phát triển Nông thôn hướng dẫn trình tự, thủ tục giao rừng, cho thuê rừng, thu hồi rừng của tổ chức, cá nhân, hộ gia đình và cộng đồng dân cư;

- Thông tư số 34/2009/TT – BNNPTNT ngày 10 tháng 6 năm 2009 của Bộ Nông nghiệp và phát triển Nông thôn quy định tiêu chí xác định và phân loại rừng; Hiện nay, Nhà nước ta đã và đang tham gia thi hành nhiều Luật bảo vệ môi trường có tính chất khu vực và toàn cầu Công ước 1985 về bảo vệ tầng ozon; Công ước 1982 về đa dạng sinh học; Công ước Ramsar về vùng đất ngập nước có tầm quan trọng Quốc tế đặt biệt như là nơi cư trú của loài chim biển nước; …Các văn

Trang 27

27

bản và Công ước trên có ý nghĩa giải thích và định hướng trong việc bảo vệ và phát triển môi trường Nhà nước ta đã hợp tác với các quốc gia trên thế giới trong việc ứng phó với sự biến đổi khí hậu trên toàn thế giới hiện nay như Nghị định thư Kyoto (1997) và xem đó là vấn đề cấp thiết cần tìm ra những giải pháp để khắc phục

Trang 28

Chương 2: BẢO VỆ VÀ PHÁT TRIỂN RỪNG PHÒNG HỘ NHẰM ỨNG PHÓ VỚI SỰ BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU: PHÁP LUẬT VÀ THỰC

có chuyển biến tốt hơn, nhờ vậy mà diện tích rừng trong những năm gần đây một phần được phục hồi Tuy nhiên, mục tiêu đặt ra chưa được như mong muốn, còn những thiếu sót cần Nhà nước quan tâm

2.1.1 Thực trạng pháp luật phát triển rừng phòng hộ

2.1.1.1 Đối với nhà nước

Nhà nước ta từng bước thấy được vai trò của rừng phòng hộ trong hoàn cảnh hiện nay Nhiều chính sách phát triển rừng phòng hộ được đẩy mạnh, hệ thống pháp luật từng bước được hoàn thiện tạo đà thúc đẩy cho việc quản lý và phát triển rừng phòng hộ ngày càng tốt hơn Đồng thời, trách nhiệm quản lý Nhà nước về rừng phòng hộ của các ngành và chính quyền các cấp được nâng cao hơn, các tổ chức xã hội đã có những nỗ lực tham gia vào công tác bảo vệ và phát triển rừng:

“Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về bảo vệ và phát triển rừng

Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực hiện quản lý nhà nước về bảo vệ và phát triển rừng trong phạm vi cả nước

Bộ Tài nguyên và Môi trường, Bộ Công an, Bộ Quốc phòng và các bộ, cơ quan ngang bộ trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm phối hợp với Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn thực hiện quản lý nhà nước về bảo

vệ và phát triển rừng

Uỷ ban nhân dân các cấp có trách nhiệm thực hiện quản lý nhà nước về bảo

vệ và phát triển rừng tại địa phương theo thẩm quyền

Chính phủ quy định tổ chức, nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan chuyên ngành

về lâm nghiệp từ trung ương đến cấp huyện và cán bộ lâm nghiệp ở những xã, phường, thị trấn có rừng” 18

18 Điều 8 Luật bảo vệ và phát triển rừng năm 2004;

Ngày đăng: 05/04/2018, 23:27

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w