Sự ra đời của Luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng 2010 đã kéo theo nhiều hình thức bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ mới hiện nay được đề cập trong văn bản pháp quy, trong đó có loại hình
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN SINH VIÊN THỰC HIỆN
T.S CAO NHẤT LINH CHÂU THANH QUYỀN
Cần Thơ, năm 2012
Trang 2LỜI CẢM ƠN!
Để hoàn thành đề tài luận văn “Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong hợp đồng
giao kết từ xa” người viết đã nhận được nhiều sự quan tâm, động viên của cha, mẹ, sự
hướng dẫn nhiệt tình, tâm huyết của thầy Cao Nhất Linh Đồng thời, người viết cũng đã
nhận được sự giúp đỡ của Hội tiêu chuẩn và bảo vệ người tiêu dùng thành phố Cần Thơ
khi cung cấp một số thông tin cần thiết, góp phần vào việc hoàn thành luận văn
Con xin gửi lời tri ân chân thành nhất đến cha mẹ đã luôn động viên, quan tâm
không chỉ khi làm luận văn mà trong suốt quá trình theo học tại Khoa Luật – Trường Đại
học Cần Thơ Em chân thành cảm ơn thầy Cao Nhất Linh đã tận tình hướng dẫn luận văn
trong suốt thời gian vừa qua Đồng thời, em cũng không quên gửi lời tri ân đến các thầy,
cô đã giảng dạy trong suốt quá trình em theo học tại trường Người viết cảm ơn Hội tiêu
chuẩn và bảo vệ người tiêu dùng thành phố Cần Thơ đã cung cấp một số thông tin bổ ích
cho người viết trong quá trình làm luận văn Cảm ơn tất cả các bạn của người viết đã chia
sẻ, động viên trong khi làm luận văn cũng như suốt thời gian gần bốn năm đã qua theo
học tại mái trường Đại học Cần Thơ
Xin cảm ơn!
Trân trọng!
Sinh viên thực hiện
Châu Thanh Quyền
Trang 3MỤC LỤC
LỜI NÓI ĐẦU ………1
CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ BẢO VỆ QUYỀN LỢI NGƯỜI TIÊU DÙNG TRONG HỢP ĐỒNG GIAO KẾT TỪ XA………4
1.1 KHÁI QUÁT VỀ NGƯỜI TIÊU DÙNG VÀ HỢP ĐỒNG GIAO KẾT TỪ XA 4 1.1.1 Tiêu dùng và người tiêu dùng ……… 4
1.1.1.1 Tiêu dùng ……….4
1.1.1.2 Người tiêu dùng ……… 6
1.1.2 Khái quát về hợp đồng giao kết từ xa ………9
1.1.2.1 Định nghĩa hợp đồng giao kết từ xa ………9
1.1.2.2 Chủ thể của hợp đồng giao kết từ xa ……… 12
1.1.2.3 Phân loại hợp đồng giao kết từ xa ……… 14
1.2 SỰ CẦN THIẾT CỦA HỢP ĐỒNG GIAO KẾT TỪ XA THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM 15
1.3 ƯU ĐIỂM VÀ NHƯỢC ĐIỂM CỦA HỢP ĐỒNG GIAO KẾT TỪ XA 18
1.3.1 Ưu điểm 18
1.3.2 Nhược điểm 21
1.4 SO SÁNH HỢP ĐỒNG GIAO KẾT TỪ XA VỚI HỢP ĐỒNG THƯƠNG MẠI TRUYỀN THỐNG 23
1.4.1 Sự giống nhau 24
1.4.2 Sự khác nhau 25
CHƯƠNG 2: NHỮNG QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT HIỆN HÀNH VỀ BẢO VỆ QUYỀN LỢI NGƯỜI TIÊU DÙNG TRONG HỢP ĐỒNG GIAO KẾT TỪ XA…28 2.1 NHỮNG NGUYÊN TẮC CƠ BẢN TRONG VIỆC BẢO VỆ QUYỀN LỢI NGƯỜI TIÊU DÙNG 28
2.1.1 Các nguyên tắc chung của Liên Hiệp Quốc về bảo vệ người tiêu dùng 29
2.1.2 Những nguyên tắc về bảo vệ người tiêu dùng theo pháp luật Việt Nam 29
2.2 NHỮNG QUYỀN LỢI CƠ BẢN CỦA NGƯỜI TIÊU DÙNG 32
2.2.1 Trên thế giới 32
2.2.2 Theo pháp luật Việt Nam hiện hành 34
2.3 HÌNH THỨC VÀ ĐIỀU KIỆN GIAO DỊCH CHUNG KHI KÝ KẾT HỢP ĐỒNG GIAO KẾT TỪ XA 35
2.3.1 Hình thức của hợp đồng 35
Trang 42.3.2 Điều kiện giao dịch chung khi ký kết hợp đồng giao kết từ xa 36
2.4 VẤN ĐỀ BẢO VỆ QUYỀN LỢI NGƯỜI TIÊU DÙNG TRONG TRÌNH TỰ KÝ KẾT HỢP ĐỒNG GIAO KẾT TỪ XA 41
2.4.1 Đề nghị giao kết hợp đồng 42
2.4.2 Chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng 48
2.4.3 Thời điểm ký kết hợp đồng giao kết từ xa 50
2.5 VẤN ĐỀ BẢO VỆ QUYỀN LỢI NGƯỜI TIÊU DÙNG TRONG QUÁ TRÌNH THỰC HIỆN HỢP ĐỒNG GIAO KẾT TỪ XA 52
2.5.1 Giao hàng – Cung ứng dịch vụ 52
2.5.2 Nhận hàng – Được cung ứng dịch vụ 55
2.5.3 Thanh toán 56
2.6 CƠ CHẾ BẢO VỆ QUYỀN LỢI NGƯỜI TIÊU DÙNG TRONG HỢP ĐỒNG GIAO KẾT TỪ XA KHI QUYỀN LỢI NGƯỜI TIÊU DÙNG BỊ XÂM PHẠM 58
2.6.1 Giải quyết yêu cầu bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng 59
2.6.1.1 Thủ tục tiếp nhận ………59
2.6.1.2 Giải quyết yêu cầu ………62
2.6.2 Những phương thức giải quyết tranh chấp giữa người tiêu dùng và thương nhân trong hợp đồng giao kết từ xa ………63
2.6.2.1 Thương lượng ………64
2.6.2.2 Hòa giải ……… 64
2.6.2.3 Trọng tài ……… 66
2.6.2.4 Tòa án ……… 67
2.7 TRÁCH NHIỆM CỦA CÁC CƠ QUAN NHÀ NƯỚC VÀ CÁC TỔ CHỨC XÃ HỘI TRONG VIỆC BẢO VỆ QUYỀN LỢI NGƯỜI TIÊU DÙNG TRONG HỢP ĐỒNG GIAO KẾT TỪ XA 68
2.7.1 Trách nhiệm của cơ quan quản lý Nhà nước ………68
2.7.1.1 Trách nhiệm của các Bộ, cơ quan ngang Bộ ………68
2.7.1.2 Trách nhiệm của Ủy ban nhân dân các cấp ………69
2.7.1.3 Trách nhiệm của Cục quản lý cạnh tranh ………71
2.7.2 Trách nhiệm của tổ chức xã hội tham gia bảo vệ quyền lợi NTD … 71
CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG VÀ MỘT SỐ KIẾN NGHỊ VỀ BẢO VỆ QUYỀN LỢI NGƯỜI TIÊU DÙNG TRONG HỢP ĐỒNG GIAO KẾT TỪ XA……….73
3.1 THỰC TRẠNG BẢO VỆ QUYỀN LỢI NGƯỜI TIÊU DÙNG TRONG HỢP ĐỒNG GIAO KẾT TỪ XA XUẤT PHÁT TỪ CHÍNH NHỮNG QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN 74
Trang 53.1.1 Vấn đề cung cấp thông tin về hàng hóa, dịch vụ cho người tiêu
dùng……… … 76
3.1.2 Vấn đề quy định về hình thức của hợp đồng ………77
3.1.3 Vấn đề quy định về điều kiện giao dịch chung ………78
3.1.4 Vấn đề quy định về trình tự giao kết hợp đồng ………80
3.1.5 Vấn đề về cơ chế bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng ……….83
3.1.5.1 Giải quyết yêu cầu bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng ……….83
3.1.5.2 Liên quan đến phương thức giải quyết tranh chấp giữa người tiêu dùng và thương nhân trong hợp đồng giao kết từ xa ……… 86
3.2 MỘT SỐ THỰC TRẠNG KHÁC VỀ BẢO VỆ QUYỀN LỢI NGƯỜI TIÊU DÙNG TRONG HỢP ĐỒNG GIAO KẾT TỪ XA VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN 89
3.2.1 Một số thực trạng ………90
3.2.1.1 Chất lượng hàng hóa, dịch vụ ……….90
3.2.1.2 Tình trạng lừa đảo khi ký kết hợp đồng giao kết từ xa ………92
3.2.1.3 Một số thực trạng khác ……….94
3.2.2 Một số giải pháp hoàn thiện ……….95
3.2.2.1 Nâng cao chất lượng hoạt động của cơ quan quản lý Nhà nước … 95
3.2.2.2 Giải pháp từ phía tổ chức xã hội tham gia bảo vệ quyền lợi NTD … 96
3.2.2.3 Giải pháp từ phía thương nhân ……… 97
3.2.2.4 Giải pháp từ chính bản thân người tiêu dùng ………98
KẾT LUẬN ……….100
Trang 6LỜI NÓI ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng được xem là vấn đề “nóng” trong giai đoạn hiện
nay Luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng 2010 ra đời đã tạo ra khung pháp lý an toàn
để bảo vệ những quyền lợi chính đáng của người tiêu dùng Văn bản này là sự nỗ lực rất
lớn của Đảng và Nhà nước ta trong việc bảo vệ bên yếu thế hơn (người tiêu dùng) khi họ
tiến hành giao dịch với tổ chức, cá nhân kinh doanh
Hiện nay, với sự phát triển mạnh mẽ của internet, điện thoại thì kéo theo đó là các
hoạt động mua bán, cung ứng dịch vụ giữa người tiêu dùng và tổ chức, cá nhân kinh
doanh qua internet, gọi điện thoại cũng phát triển Hàng loạt các website, các tổng đài
bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ ra đời để phục vụ cho nhu cầu mới của xã hội Đi đôi với
những lợi ích của việc giao kết hợp đồng này mang lại thì cũng ẩn chứa đâu đó nhiều rủi
ro Tuy nhiên, trước khi Luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng 2010 ra đời thì thật sự
chưa có một hành lang pháp lý an toàn để bảo vệ những quyền lợi chính đáng của người
tiêu dùng trong việc giao kết hợp đồng qua website thương mại điện tử hoặc gọi điện
thoại để giao kết hợp đồng
Sự ra đời của Luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng 2010 đã kéo theo nhiều hình
thức bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ mới hiện nay được đề cập trong văn bản pháp quy,
trong đó có loại hình ký kết hợp đồng giao kết từ xa giữa người tiêu dùng và tổ chức, cá
nhân kinh doanh thông qua phương tiện điện tử hoặc điện thoại Sự điều chỉnh của pháp
luật liên quan đến hợp đồng giao kết từ xa đã tạo được lòng tin của người tiêu dùng trong
việc giao kết hợp đồng do đa phần người tiêu dùng rất oan ngại đến việc họ có thể giao
kết loại hợp đồng mà hàng hóa, dịch vụ không đảm bảo chất lượng hoặc thậm chí là bị
lừa đảo bởi những tổ chức, cá nhân kinh doanh không chân chính Tuy nhiên, một cách
khách quan để nhìn nhận, sự điều chỉnh của pháp luật về hợp đồng giao kết từ xa chưa
thật sự cụ thể Đâu đó, vẫn còn những quy định chưa thật sự rõ ràng, chưa điều chỉnh hầu
hết các vấn đề mà quan hệ xã hội phát sinh làm cho việc áp dụng pháp luật gặp khó khăn,
do đó, chưa bảo vệ một cách triệt để những quyền lợi chính đáng của người tiêu dùng
Từ những vấn đề vừa nêu, người viết đã chọn đề tài “Bảo vệ quyền lợi người tiêu
dùng trong hợp đồng giao kết từ xa” để nghiên cứu làm luận văn tốt nghiệp cử nhân
ngành luật cho mình
Trang 72 Mục đích nghiên cứu
Việc tìm hiểu đề tài “Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong hợp đồng giao kết
từ xa” sẽ giúp cho người viết có thêm những hiểu biết liên quan đến người tiêu dùng, tổ
chức, cá nhân kinh doanh, cơ chế bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng khi họ ký kết hợp
đồng giao kết từ xa,…Đồng thời có cái nhìn tổng quát về những quy định của pháp luật
điều chỉnh vấn đề trên Qua đó, rút ra những mặt tích cực của việc ký kết hợp đồng giao
kết từ xa cũng như những hạn chế mà nó mang lại Song song đó là tìm hiểu việc áp dụng
những quy định của pháp luật có liên quan trên thực tế Từ đó, phân tích những cái được
và cái bất cập đã và đang tồn tại nhằm đưa ra một số giải pháp hoàn thiện vấn đề bảo vệ
quyền lợi người tiêu dùng trong hợp đồng giao kết từ xa – một hình thức kinh doanh mới
đã và đang phát triển mạnh mẽ hiện nay trên thế giới cũng như ở Việt Nam
3 Phạm vi nghiên cứu
Hợp đồng giao kết từ xa là hợp đồng được giao kết giữa tổ chức, cá nhân kinh
doanh với người tiêu dùng thông qua phương tiện điện tử hoặc điện thoại Do đó, có thể
có các hình thức giao kết thông qua website thương mại điện tử, fax, telex, thư điện tử,
gọi điện thoại trực tiếp hoặc nhắn tin bằng điện thoại để giao kết hợp đồng,…Bên cạnh
đó, hợp đồng giao kết từ xa thực chất có thể là hợp đồng thương mại hoặc hợp đồng dân
sự Bởi lẽ, một bên trong hợp đồng là người tiêu dùng thực hiện giao dịch không nhằm
mục đích sinh lợi Ngoài ra, có thể hợp đồng trên sẽ được giao kết giữa tổ chức, cá nhân
kinh doanh Việt Nam với người tiêu dùng nước ngoài hoặc giữa tổ chức, cá nhân kinh
doanh nước ngoài với người tiêu dùng Việt Nam hoặc giữa tổ chức, cá nhân kinh doanh
Việt Nam và người tiêu dùng Việt Nam hoặc giữa tổ chức, cá nhân kinh doanh nước
ngoài với người tiêu dùng nước ngoài phát sinh trên lãnh thổ Việt Nam Tuy nhiên, để
tiện nghiên cứu cũng như phù hợp hơn với pháp luật về thương mại, thương mại điện tử
và pháp luật có liên quan, người viết chỉ tìm hiểu loại hợp đồng giao kết từ xa với tư cách
là hợp đồng thương mại, chủ thể giao kết chỉ là người tiêu dùng Việt Nam với thương
nhân Việt Nam phát sinh, thực hiện, thay đổi, chấm dứt giao dịch trên lãnh thổ Việt Nam
thông qua hình thức giao kết bằng cách gọi điện thoại trực tiếp hoặc qua website thương
mại điện tử có chức năng đặt hàng trực tuyến
4 Phương pháp nghiên cứu
Trong luận văn này, từ việc tham khảo những quy định của pháp luật, các sách
bình luận, các tạp chí, giáo trình,…và những thực tế phát sinh, người viết đã dùng các
Trang 8phương pháp phân tích những quy phạm của pháp luật, bình luận những quy định này
Qua đó, tổng hợp, đối chiếu những quy phạm có liên quan với nhau và tìm hiểu việc áp
dụng những chế định này trên thực tế Bên cạnh đó, người viết cũng sưu tầm, thống kê
các số liệu thực tế sau đó đánh giá, phân tích những số liệu đó nhằm có cái nhìn tổng quát
nhất về vấn đề bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong hợp đồng giao kết từ xa
5 Bố cục đề tài
Trong luận văn này, nội dung được bố trí theo thứ tự gồm phần mở đầu, phần nội
dung và kết luận Ngoài ra còn có các phần như mục lục, danh mục tài liệu tham khảo,
phụ lục,…Phần nội dung bao gồm 03 chương:
Chương 1: Khái quát chung về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong hợp đồng
giao kết từ xa
Trong chương này, nội dung được đề cập là làm rõ một số khái niệm liên quan đến
tiêu dùng, người tiêu dùng, như thế nào là hợp đồng giao kết từ, sự giống và khác nhau
giữa hợp đồng giao kết từ xa với hợp đồng thương mại truyền thống Bên cạnh đó, nêu
lên những ưu, nhược điểm cơ bản của loại hợp đồng này cũng như đề cập đến sự cần thiết
phải bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng khi họ ký kết loại hợp đồng giao kết từ xa
Chương 2: Những quy định của pháp luật hiện hành về bảo vệ quyền lợi người tiêu
dùng trong hợp đồng giao kết từ xa
Trong chương này, sẽ tập trung đề cập đến những quy định của pháp luật hiện
hành liên quan đến những quyền lợi của người tiêu dùng, những nguyên tắc bảo vệ quyền
lợi người tiêu dùng Qua đó, nêu lên vấn đề bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong quy
trình giao kết hợp đồng, giai đoạn thực hiện hợp đồng và cơ chế bảo vệ quyền lợi người
tiêu dùng khi quyền lợi của họ bị xâm phạm, Ngoài ra, trong nội dung Chương 2 cũng
đề cập đến trách nhiệm của các cơ quan quản lý Nhà nước và tổ chức xã hội trong việc
bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng
Chương 3: Thực trạng và một số kiến nghị về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng
trong hợp đồng giao kết từ xa
Trong nội dung Chương 3, sẽ nêu lên những bất cập xuất phát từ chính những quy
định của pháp luật liên quan đến vấn đề bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong hợp đồng
giao kết từ xa Qua đó, đề ra những giải pháp để hoàn thiện Đồng thời, trong nội dung
chương này cũng đề cập đến những tồn tại trên thực tế trực tiếp hoặc gián tiếp ảnh hưởng
đến những quyền lợi của người tiêu dùng và đưa ra một số giải pháp phòng ngừa, hoàn
thiện vấn đề bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong hợp đồng giao kết từ xa trong thời
gian sắp tới
Trang 9CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ BẢO VỆ QUYỀN LỢI NGƯỜI TIÊU
DÙNG TRONG HỢP ĐỒNG GIAO KẾT TỪ XA
Internet hay điện thoại trong những năm gần đây đã rất quen thuộc với người Việt
Nam Nó xâm nhập vào thị trường Việt Nam như là một tất yếu khách quan trong tổng
quan bức tranh phát triển kinh tế chung của toàn thế giới Trong việc giao kết hợp đồng,
internet và điện thoại có ý nghĩa quan trọng, bởi phương thức ký kết này đặc trưng cho
giao dịch được thiết lập từ xa đã và đang đem lại sự tiện lợi cho người tiêu dùng (NTD)
và tổ chức, cá nhân kinh doanh Trong chương này, nội dung khái quát được đề cập là
làm rõ một số khái niệm liên quan đến tiêu dùng, NTD, hợp đồng giao kết từ xa, giống và
khác nhau giữa hợp đồng giao kết từ xa với hợp đồng thương mại truyền thống Bên cạnh
đó, nêu lên những ưu, nhược điểm cơ bản của loại hợp đồng này cũng như đề cập đến sự
cần thiết phải bảo vệ quyền lợi NTD khi họ ký kết loại hợp đồng giao kết từ xa
1.1 KHÁI QUÁT VỀ NGƯỜI TIÊU DÙNG VÀ HỢP ĐỒNG GIAO KẾT TỪ XA
Muốn tiêu dùng phát triển thì phải có NTD sử dụng những hàng hóa, dịch vụ của
tổ chức, cá nhân kinh doanh cung cấp Trong nền kinh tế thị trường, NTD có vai trò quan
trọng, mang tính quyết định đến sự tồn tại và phát triển của một doanh nghiệp, một
thương hiệu.1 Với sự phát triển ngày càng mạnh mẽ của các loại hình giao kết hợp đồng
hiện nay thì việc làm rõ khái niệm NTD dưới góc độ pháp lý càng có ý nghĩa quan trọng
Bởi lẽ, khi làm rõ khái niệm trên thì có thể căn cứ vào những quy phạm pháp luật để điều
chỉnh những vấn đề có liên quan đến việc giao kết hợp đồng giữa NTD và tổ chức, cá
nhân kinh doanh, đặc biệt trong việc ký kết hợp đồng giao kết từ xa
1.1.1 Tiêu dùng và người tiêu dùng
1.1.1.1 Tiêu dùng
Tiêu dùng theo từ điển tiếng Việt có thể hiểu là việc con người sử dụng những của
cải vật chất (hàng hóa và dịch vụ) được sáng tạo, sản xuất ra trong quá trình sản xuất để
thoả mãn các nhu cầu của xã hội.2 Ngoài ra, tiêu dùng được xem là giai đoạn quan trọng
của tái sản xuất và là một động lực của quá trình sản xuất, nó kích thích cho sản xuất phát
1 Pháp luật về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng - Hội đồng phối hợp công tác phổ biến, giáo dục pháp luật của
Chính phủ - Đặc san tuyên truyền pháp luật số 06/2011 - Trang 6
2 Từ điển tiếng Việt - http://www.informatik.uni-leipzig.de/~duc/Dict/ [Truy cập ngày 18/09/2012]
Trang 10triển Như vậy, có thể hiểu tiêu dùng là việc chúng ta mua hàng hóa, yêu cầu cung ứng
dịch vụ để sử dụng chính hàng hóa, dịch vụ đó nhằm phục vụ cho nhu cầu sinh hoạt, sản
xuất của cá nhân, cho gia đình,…Nhờ có tiêu dùng mà nhà sản xuất, người bán hàng hóa,
cung ứng dịch vụ mới có vốn để tiếp tục đầu tư và mở rộng sản xuất ra những hàng hóa,
dịch vụ để phục vụ cho người mua hàng hóa, yêu cầu cung ứng dịch vụ
Một nhà sản xuất tạo ra hàng hóa, cung ứng dịch vụ thì đương nhiên điều mà họ
hướng tới trước tiên phải là lợi nhuận Nhưng muốn có lợi nhuận thì hàng hóa, dịch vụ đó
phải có người sử dụng và muốn sử dụng lâu dài Nếu như hàng hóa, dịch vụ của họ không
nhiều người biết đến và sử dụng nó thì vấn đề mở rộng sản xuất trong tương lai đối với
hàng hóa, dịch vụ đó có thể bị triệt tiêu Từ đó, nhà sản xuất không còn động lực nào để
tiếp tục sản xuất nữa hoặc có sản xuất nhưng không nhiều hoặc phải cải thiện sản xuất để
cạnh tranh Chính vì lẽ đó, tiêu dùng sẽ quyết định phần lớn thái độ trong tương lai của
nhà sản xuất, nó góp phần kích thích sản xuất phát triển
Ở Việt Nam, dưới sự tác động của khủng hoảng tài chính năm 2008 cộng thêm
mức thu nhập của nước ta không cao hơn so với các nước trên thế giới và khu vực.3 Bên
cạnh đó, một số nguyên nhân khác như thiên tai, dịch bệnh,…dẫn đến tiêu dùng có phần
hạn chế nên tình trạng sản xuất của nền kinh tế của nước ta gặp không ít khó khăn Để
khuyến khích tiêu dùng và giúp các doanh nghiệp tiếp tục sản xuất và mở rộng kinh
doanh trong thời gian sắp tới, Nhà nước đã ban hành nhiều chính sách như tăng lương,
chính sách gia hạn thuế, giảm thuế, miễn thuế về một số giải pháp tháo gỡ khó khăn cho
sản xuất kinh doanh, hỗ trợ thị trường4
, Theo dự đoán, với những chính sách như vậy thì tiêu dùng của NTD và việc mở rộng sản xuất của tổ chức, cá nhân kinh doanh sẽ được cải
3 Theo thống kê của Bộ Công thương, năm 2011 thu nhập bình quân đầu người (GDP) đạt 1.300 USD/người/năm
tương đương 27 triệu đồng Việt Nam (Xem Thu nhập bình quân của người Việt Nam năm 2011 đạt 1.300 USD -
http://dantri.com.vn/c76/s76-544869/thu-nhap-binh-quan-cua-nguoi-viet-nam-nam-2011-dat-1300-usd.htm [Truy
cập ngày 18/09/2012]); Thu nhập bình quân đầu người của Malaysia năm 2011 là: 9.700 USD (Xem Malaysia: Thu
nhập bình quân đầu người tăng 45% -
http://www.vietnamplus.vn/Home/Malaysia-Thu-nhap-binh-quan-dau-nguoi-tang-45/20124/133918.vnplus [Truy cập ngày 18/09/2012]); Thu nhập bình quân đầu người của Trung Quốc năm
2011 gần 5.000 USD (Xem: GDP bình quân đầu người Trung Quốc vượt 5.000 USD -
http://taichinh.vnexpress.net/tin-tuc/the-gioi-phang/2012/02/gdp-binh-quan-dau-nguoi-trung-quoc-vuot-5-000-usd-5520 [Truy cập ngày 18/09/2012])
4 Thông tư liên tịch 01/2012 của Bộ Nội Vụ và Bộ Tài Chính hướng dẫn thực hiện mức lương tối thiểu chung từ
ngày 01/05/2012 đối với cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội và đơn vị sự nghiệp quy định
mức lương tối thiểu chung là 1.050.000 đồng Xem Thông tư 83 năm 2012 của Bộ Tài Chính ngày 23/5/2012 hướng
dẫn thực hiện việc miễn, giảm, gia hạn một số khoản thu Ngân sách Nhà nước theo Nghị quyết số 13/NQ-CP ngày
10/5/2012 của Chính phủ về một số giải pháp tháo gỡ khó khăn cho sản xuất kinh doanh, hỗ trợ thị trường
Trang 11thiện trong thời gian sắp tới
Tóm lại, có thể thấy rằng, mục đích của tiêu dùng là sử dụng những hàng hóa, dịch
vụ phục vụ cho nhu cầu sinh hoạt, sản xuất Đồng thời, tiêu dùng giúp cho quá trình sản
xuất phát triển, vì không có tiêu dùng sẽ dẫn đến tình trạng hạn chế sản xuất nói riêng và
kiềm chế sự phát triển của nền kinh tế nói chung
1.1.1.2 Người tiêu dùng
Do sự phát triển kinh tế - xã hội, chế độ chính trị,…ở mỗi quốc gia là không giống
nhau Cho nên ở mỗi nước khác nhau, sẽ có những cách hiểu khác nhau về khái niệm
NTD Chẳng hạn, theo Luật bảo vệ quyền lợi NTD Ấn Độ 1986 đã định nghĩa người tiêu
dùng theo hai cách dựa trên hàng hóa và dịch vụ Người tiêu dùng hàng hóa là người mua
bất kỳ loại hàng hóa nào vì một mục đích nhất định, bao gồm cả người sử dụng không có
sự cho phép của người mua, được gọi là một người tiêu dùng hàng hóa, nhưng không bao
gồm người bán lại hàng hóa hoặc sử dụng hàng hóa vì các mục đích thương mại Sau sửa
đổi, bổ sung năm 1993, mục đích thương mại sẽ không bao gồm những hàng hóa chỉ
được sử dụng vì mục đích tự thuê mướn hoặc kiếm sống Xét trên phương diện dịch vụ,
người tiêu dùng có nghĩa là một người thuê bất kỳ dịch vụ nào vì một mục đích nhất định
hoặc một người được hưởng lợi của dịch vụ đó, nhưng phải hưởng lợi của dịch vụ với sự
cho phép của người thực sự thuê dịch vụ đó Định nghĩa dịch vụ còn bao trùm các dịch
vụ như ngân hàng, tài chính do bất cứ cá nhân hay tổ chức nào cung cấp, bao gồm các
cam kết trong lĩnh vực công và các cơ quan Chính phủ hay những tổ chức tương đương.5
Còn theo Bộ Luật bảo vệ quyền lợi NTD Pháp 1993 quy định “Người tiêu dùng là
các cá nhân trực tiếp mua hàng hóa, thụ hưởng các dịch vụ và trực tiếp tiêu thụ, không
bao gồm những người mua với mục đích bán lại”6 Từ khái niệm trên, cho thấy, pháp luật
về NTD theo luật Pháp không bảo vệ cá nhân không trực tiếp mua hàng hóa, thụ hưởng
các dịch vụ, cũng như tuy họ trực tiếp mua nhưng không trực tiếp tiêu thụ thì vẫn không
được pháp luật về quyền lợi NTD bảo vệ
Ngoài Luật của Ấn Độ và Luật của Pháp, Luật bảo vệ NTD Malaysia năm 1999
cũng đề cập khái niệm NTD NTD theo Luật Malaysia tương đối chi tiết về mục đích sử
5
Quyết Thắng - Phân tích các khía cạnh pháp lý của Luật bảo vệ người tiêu dùng ở Ấn Độ -
http://www.vca.gov.vn/Web/Content.aspx?distid=2097&lang=vi-VN [Truy cập ngày 18/9/2012]
6
Nguyễn Hữu Nguyên – Kinh nghiệm pháp luật của Pháp và EU về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng – Bản tin
cạnh tranh và NTD – Cục Quản lý cạnh tranh, Bộ Công Thương, số 8/2009 – Trang 14
Trang 12dụng Theo đó, NTD là người không sử dụng hàng hóa hoặc dịch vụ vào mục đích cung
cấp lại vì mục đích thương mại, tiêu dùng vào mục đích sản xuất Cũng theo Luật này,
NTD không chỉ là người trực tiếp mua sản phẩm hay thuê dịch vụ mà bao gồm cả những
người sử dụng hàng hóa, dịch vụ không phụ thuộc vào hợp đồng giữa họ với nhà cung cấp.7
Tóm lại, do đặc điểm về kinh tế - xã hội, chế độ chính trị của mỗi quốc gia đều có
những nét khác biệt nên mỗi nước nhận thức về khái niệm NTD là khác nhau Có quốc
gia chỉ thừa nhận NTD là người sử dụng hàng hóa, dịch vụ không nhằm mục đích thương
mại, có quốc gia không đề cập Có quốc gia chỉ quy định NTD là người trực tiếp mua, thụ
hưởng và trực tiếp tiêu thụ hàng hóa, dịch vụ đó,…Nhưng cho dù có hiểu như thế nào đi
chăng nữa, thì mục tiêu để xây dựng khái niệm NTD chung quy lại là nhằm mục đích bảo
vệ những quyền lợi chính đáng của NTD trước pháp luật, khi mà đa phần, NTD luôn yếu
thế trước các nhà kinh doanh,…khi có tranh chấp phát sinh
Ở Việt Nam, cùng với xu hướng xây dựng những quy phạm pháp luật liên quan
đến bảo vệ quyền lợi NTD, năm 1999 Ủy ban thường vụ Quốc hội đã ban hành Pháp lệnh
về bảo vệ quyền lợi NTD Văn bản này là sự nổ lực rất lớn của Đảng và Nhà nước ta
trong công tác bảo vệ quyền lợi NTD Việt Nam, tránh được sự xâm phạm quyền lợi
chính đáng của người tiêu dùng Theo quy định của Pháp lệnh “Người tiêu dùng là người
mua, sử dụng hàng hóa, dịch vụ cho mục đích tiêu dùng sinh hoạt của cá nhân, gia đình
và tổ chức”8 Như vậy, NTD bao gồm các đối tượng là người mua và là người sử dụng
hàng hoá, dịch vụ đã mua cho chính bản thân mình; người mua hàng hoá, dịch vụ cho
người khác, cho gia đình hoặc cho tổ chức sử dụng; cá nhân, gia đình, tổ chức sử dụng
hàng hoá, dịch vụ do người khác mua hoặc do được cho, tặng.9
Từ quy định trên cho thấy, người mua, sử dụng hàng hoá, dịch vụ cho mục đích
sản xuất, kinh doanh không được gọi là NTD theo Pháp lệnh bảo vệ quyền lợi NTD và
đương nhiên họ sẽ không được pháp luật về bảo vệ quyền lợi NTD điều chỉnh Khái niệm
7
So sánh luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trên thế giới _Bài học kinh nghiệm và đề xuất một số nội dung cơ
bản quy định trong dự thảo Luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng của Việt Nam – Báo cáo chuyên đề - Cục Quản lý
cạnh tranh năm 2010 – Trang 17
8 Điều 1 - Pháp lệnh bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng 1999 Có hiệu lực vào ngày 01 tháng 10 năm 1999
9 Khoản 2 - Điều 2 - Nghị định 69/2001/NĐ-CP ngày 02/10/2001 của Chính phủ quy định chi tiết việc thi hành Pháp
lệnh bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng Tuy nhiên, Nghị định này đã bị thay thế bằng Nghị định 55/2008/NĐ-CP
ngày 24/04/2008 quy định chi tiết pháp lệnh bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng Trong Nghị định 55 (đã dẫn) này
không giải thích cụ thể người tiêu dùng là ai, nhưng chúng ta có thể hiểu theo cách giải thích của Nghị định 69 (đã
dẫn) về khái niệm NTD
Trang 13NTD sẽ giúp phân biệt với khách hàng Khách hàng (customer) mang nghĩa rộng hơn,
dùng để chỉ người mua hàng hóa, dịch vụ để sử dụng cho bản thân hoặc làm nguyên liệu
cho sản xuất, kinh doanh Như vậy, không phải mọi khách hàng đều là NTD và được
pháp luật về quyền lợi NTD bảo vệ Quyền lợi của những đối tượng này được bảo vệ bởi
các văn bản quy phạm pháp luật khác như Bộ Luật dân sự, Bộ Luật hình sự, Luật thương
mại, Luật cạnh tranh,…10
Pháp lệnh bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng được ban hành năm 1999 Qua hơn 10
năm thi hành, Pháp lệnh này đã cơ bản đi vào thực tiễn cuộc sống, tạo lập hành lang pháp
lý để NTD tự bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình, nâng cao trách nhiệm của các
tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ, là cơ sở để các cơ quan nhà nước thực
hiện chức năng bảo vệ quyền lợi NTD.11 Kế thừa Pháp lệnh bảo vệ quyền lợi người tiêu
dùng 1999 Luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2010 cũng quy định “Người tiêu
dùng là người mua, sử dụng hàng hoá, dịch vụ cho mục đích tiêu dùng, sinh hoạt của cá
nhân, gia đình, tổ chức”12
Từ quy định trên, hiểu một cách chung nhất, NTD bao gồm
tất cả chúng ta không phân biệt già, trẻ, nam, nữ, dân tộc, tôn giáo, nghề nghiệp,…những
thành phần này sẽ là NTD khi họ mua hàng, sử dụng dịch vụ cần thiết để phục vụ cho
nhu cầu mặc, ở, ăn, học hành, giải trí, giao thông,…(không nhằm mục đích thương mại)
của chính bản thân, gia đình và tổ chức
Tóm lại, mỗi nước khác nhau sẽ có cách hiểu khác nhau về khái niệm NTD, sao
cho phù hợp với tình hình thực tế của mỗi quốc gia Mỗi quốc gia sẽ tự xây dựng quy
phạm pháp luật về quyền lợi NTD cho mình và áp dụng chúng theo một quy tắc nào đó,
trong một phạm vi giới hạn và đối tượng nào sẽ chịu sự điều chỉnh Để khi các chủ thể
tham gia vào sự kiện pháp lý về bảo vệ quyền lợi NTD thì những quy phạm đó sẽ được
đem ra áp dụng Chẳng hạn, theo Nghị định 99/2011/NĐ-CP quy định chi tiết và hướng
dẫn thi hành một số điều của Luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng quy định “Nghị định
này áp dụng đối với người tiêu dùng; tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ; cơ
quan, tổ chức, cá nhân có liên quan đến hoạt động bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trên
10 T.S Đinh Thị Mỹ Loan - Hỏi đáp về bảo vệ quyền lợi NTD - Cục quản lý cạnh tranh, Bộ thương mại (nay là Bộ
Công Thương) - Nhà xuất bản lao động _ xã hội năm 2007 – Trang 10
11 Báo cáo số 662/BC-HĐTĐ của Bộ Tư pháp ngày 17/3/2010 về thẩm định dự thảo Luật bảo vệ quyền lợi NTD -
Trang 2
12 Khoản 1 - Điều 3 - Luật bảo vệ quyền lợi NTD năm 2010
Trang 14lãnh thổ Việt Nam”13 Điều này có nghĩa là, mặc dù có hành vi xâm phạm đến quyền lợi
NTD nhưng xảy ra ngoài lãnh thổ Việt Nam vẫn không được Nghị định này bảo vệ Bên
cạnh đó, khi giữa NTD và tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ giao kết loại
hợp đồng giao kết từ xa thì các bên có thể sẽ chịu sự điều chỉnh của pháp luật bảo vệ
quyền lợi NTD, pháp luật thương mại, thương mại điện tử, hình sự, dân sự,…tùy vào
từng loại giao kết và hậu quả pháp lý của hợp đồng Và một khi, một bên vi phạm hợp
đồng giao kết từ xa thì bên kia có những quyền hạn theo những gì đã thỏa thuận và pháp
luật quy định cho loại hợp đồng đó Như vậy, cần thiết phải xác định loại hợp đồng khi
giao kết và trong phạm vi bài nghiên cứu, nhất thiết phải làm rõ như thế nào là hợp đồng
giao kết từ xa?
1.1.2 Khái quát về hợp đồng giao kết từ xa
1.1.2.1 Định nghĩa hợp đồng giao kết từ xa
Theo lý thuyết về hợp đồng, thì hợp đồng là căn cứ phát sinh nghĩa vụ, hay nói cụ
thể hơn, hợp đồng trước hết là sự kiện pháp lý14, là giao dịch nhằm tạo lập hệ quả pháp
lý Với tư cách là sự kiện pháp lý, hợp đồng bao hàm hai yếu tố đó là sự thỏa thuận và
mục đích tạo lập hiệu lực pháp lý (mục đích xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền và
nghĩa vụ) Hợp đồng chỉ được thiết lập khi có sự thỏa thuận giữa hai hay nhiều bên, tức là
khi có sự đồng thuận của các ý định hay sự thống nhất ý chí giữa các chủ thể Song sự
thỏa thuận giữa các bên không nhằm mục đích tạo lập hệ quả pháp lý làm phát sinh
quyền và nghĩa vụ thì cũng không có hợp đồng nào được hình thành.15 Vậy, hợp đồng
được hiểu là sự thỏa thuận giữa các bên nhằm xác lập, thay đổi hay chấm dứt các quyền
và nghĩa vụ của mình cho từng loại hợp đồng cụ thể.16
Chẳng hạn, đối với việc giao kết hợp đồng thương mại thì quyền và nghĩa vụ của các bên khi xác lập hợp đồng phải dựa
trên sự thỏa thuận nhưng vẫn đảm bảo rằng sự thỏa thuận đó không vi phạm pháp luật về
hợp đồng thương mại và các pháp luật khác có liên quan
13 Điều 2 - Nghị định 99/2011/NĐ-CP ngày 27/10/2011 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một
số điều của Luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng 2010 (Có hiệu lực ngày 15/12/2011)
14 “Những sự kiện thực tế mà sự xuất hiện hay mất đi của chúng được pháp luật gắn với việc hình thành, thay đổi
hoặc chấm dứt quan hệ pháp luật được gọi là sự kiện pháp lý” (Xem GS.TS Lê Hồng Hạnh, GS.TS Lê Minh Tâm,
T.S Nguyễn Minh Đoan - Giáo trình Lý luận Nhà nước và Pháp luật – Trường Đại học Luật Hà Nội – Nhà xuất bản
Tư pháp Hà Nội 2007 – Trang 459)
15
Th.s Trần Văn Biên - Sự thỏa thuận trong giao kết hợp đồng điện tử qua mạng internet - Tạp chí Nhà nước và
pháp luật số 10/2010 - Trang 55
16
Điều 388 - Bộ luật dân sự 2005 quy định: “Hợp đồng dân sự là sự thoả thuận giữa các bên về việc xác lập, thay
đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự”
Trang 15Một hợp đồng thì nhất thiết phải có tên gọi Khi hợp đồng được các bên gọi bằng
một tên nhất định và tên này được ghi nhận trong luật, thì toàn bộ chế độ pháp lý của hợp
đồng đó được áp dụng để chi phối các mối quan hệ kết ước liên quan mà không cần sự
bày tỏ ý chí rành mạch của các bên.17 Chẳng hạn, khi giao kết loại hợp đồng mua bán
hàng hóa qua mạng thì một cách đương nhiên, người bán có nghĩa vụ chuyển quyền sở
hữu đối với tài sản bán và đảm bảo quyền sở hữu của người mua đối với hàng hóa đó
Đồng thời, người mua có nghĩa vụ nhận tài sản và trả tiền mua tài sản mà không cần các
bên phải thể hiện trong hợp đồng Do đó, tên gọi của hợp đồng rất quan trọng Bởi lẽ, nó
sẽ ảnh hưởng lớn đến vấn đề xác định hậu quả pháp lý nếu như các bên có tranh chấp,
làm cơ sở để cơ quan có thẩm quyền xem xét giải quyết những quyền và lợi ích hợp pháp
chính đáng của các bên, đặc biệt là bảo vệ quyền lợi NTD trong các giao dịch mới đã và
đang phát triển hiện nay
Trong cuộc sống hiện đại, việc gặp mặt trực tiếp nhau nhằm đàm phán, giao kết
hợp đồng đối với một số loại hợp đồng đôi khi không cần thiết Nhất là các loại hợp đồng
có giá trị không cao, mục đích nhằm để phục vụ cho tiêu dùng,…Nhằm tạo sự thuận lợi
cho các bên cũng như vẫn đảm bảo rằng sẽ có một hợp đồng để thỏa mãn nhu cầu thiết
yếu của mình nhưng vẫn tuân thủ những quy định của pháp luật, thì hình thức giao kết
gián tiếp sẽ tiện lợi hơn Khi đó, các bên không cần gặp mặt nhau để ký kết hợp đồng mà
thông qua một cách thức nào đó nhưng giá trị pháp lý của hợp đồng vẫn được đảm bảo
Với sự phát triển mạnh mẽ của internet18, các phương tiện hoạt động dựa trên sóng
điện từ mà tiêu biểu nhất là điện thoại trong những năm gần đây thì vấn đề giao kết hợp
đồng luôn đem đến sự thuận tiện cho các bên Ở nước ta, có thể, ít nhất một lần chúng ta
đã tiếp cận với internet hoặc điện thoại để giao kết hợp đồng với tổ chức, cá nhân kinh
doanh Chẳng hạn như, một bà nội trợ gọi điện thoại đến cửa hàng gas để đổi gas hay một
sinh viên mua một cuốn sách trên mạng,…Hình thức giao kết như vậy, ở góc độ pháp lý
được gọi là hợp đồng giao kết từ xa “Hợp đồng giao kết từ xa là hợp đồng được ký kết
17
T.S Nguyễn Ngọc Điện - Bình luận các hợp đồng thông dụng trong luật dân sự Việt Nam - Nhà xuất bản trẻ thành
phố Hồ Chí Minh năm 2001 - Trang 7
18 Hiện nay, hầu như nhà nhà đều có internet, đặc biệt ở khu vực thành phố Theo thống kê của Google Việt Nam
vừa diễn ra tại Hà Nội ngày 12/01/2012 thì có hơn 30 triệu người Việt Nam sử dụng internet và độ tuổi sử dụng
thường rất trẻ (Dưới 35 tuổi) (Nam Hoàng - Hơn 30 triệu người Việt Nam sử dụng Internet -
Trang 16giữa người tiêu dùng và tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ thông qua
phương tiện điện tử hoặc điện thoại”19
Từ định nghĩa này, cần thiết phải làm rõ một số
vấn đề sau đây:
Thứ nhất, như thế nào được gọi là phương tiện điện tử? “Phương tiện điện tử là
phương tiện hoạt động dựa trên công nghệ điện, điện tử, kỹ thuật số, từ tính, truyền dẫn
không dây, quang học, điện từ hoặc công nghệ tương tự”20 Như đã đề cập ở phần phạm
vi nghiên cứu, trong tất cả các giao dịch bằng phương tiện tử mà chúng ta biết đến, trong
luận văn này chỉ nghiên cứu hình thức giao kết hợp đồng bằng internet thông qua website
bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ “Internet là hệ thống thông tin toàn cầu sử dụng giao
thức Internet và tài nguyên Internet để cung cấp các dịch vụ và ứng dụng khác nhau cho
người sử dụng dịch vụ viễn thông”21 Do đó, trong phạm vi nghiên cứu, có thể hiểu, giao
kết hợp đồng qua mạng internet được thực hiện bằng cách NTD sử dụng phương thức
truy cập vào các trang website do một chủ thể nào đó thiết kế bằng dịch vụ internet do
các nhà mạng cung cấp để mua, yêu cầu cung ứng dịch vụ nhằm mục đích tiêu dùng.22
Thứ hai, phương thức giao kết bằng điện thoại có thể là NTD sẽ nhắn tin để yêu
cầu mua hàng hóa, cung ứng dịch vụ từ tổ chức, cá nhân kinh doanh hoặc gọi điện trực
tiếp để giao kết hợp đồng Sở dĩ, có các hình thức trên vì Luật không nêu rõ giao kết đó là
bằng điện thoại cố định hay điện thoại di động Nếu như điện thoại đó là điện thoại di
động thì có thể sẽ có hình thức giao kết bằng nhắn tin hoặc gọi điện thoại trực tiếp Nếu
như giao kết đó được thực hiện bằng điện thoại cố định sẽ có hình thức giao kết bằng
cách gọi điện thoại trực tiếp Tuy nhiên, trong phạm vi của luận văn chỉ nghiên cứu hình
thức giao kết hợp đồng giữa NTD và tổ chức, cá nhân kinh doanh bằng phương thức gọi
điện thoại trực tiếp Điều này, sẽ hợp lý hơn với những quy định của pháp luật về bảo vệ
quyền lợi NTD Tiêu biểu tại Nghị định 99/2011 (đã dẫn) “Trường hợp việc đề nghị giao
kết hợp đồng được thực hiện thông qua điện thoại, tổ chức, cá nhân kinh doanh cần phải
nói rõ ngay từ đầu về tên, địa chỉ của mình và mục đích của cuộc đàm thoại”23 Thông
19
Khoản 1 - Điều 3 - Nghị định 99/2011 (đã dẫn)
20 Khoản 10 - Điều 4 - Luật giao dịch điện tử 2005
21 Khoản 14 - Điều 3 - Luật Viễn thông 2009
22 Khoản 17 - Điều 4 - Luật Công nghệ thông tin 2006 quy định: “Trang thông tin điện tử (Website) là trang thông
tin hoặc một tập hợp trang thông tin trên môi trường mạng phục vụ cho việc cung cấp, trao đổi thông tin” Khoản 1
- Điều 2 - Thông tư 46/2010/TT-BCT quy định về quản lý hoạt động của các website thương mại điện tử bán hàng
hoá hoặc cung ứng dịch vụ quy định: “Website thương mại điện tử là trang thông tin điện tử phục vụ hoạt động
thương mại và các hoạt động liên quan đến thương mại”
23 Khoản 2 - Điều 17 - Nghị định 99/2011 (đã dẫn)
Trang 17qua quy định này, ở khía cạnh luật pháp chỉ điều chỉnh loại giao kết hợp đồng bằng điện
thoại thông qua đàm thoại, tức gọi điện thoại trực tiếp
1.1.2.2 Chủ thể của hợp đồng giao kết từ xa
Chủ thể trong hợp đồng giao kết từ xa bao gồm người tiêu dùng và tổ chức, cá
nhân kinh doanh Theo Nghị định 55/2008 (đã dẫn) quy định:“Tổ chức, cá nhân kinh
doanh hàng hóa, dịch vụ là tổ chức, cá nhân thực hiện một hoặc một số công đoạn của
quá trình đầu tư, từ sản xuất đến tiêu thụ hàng hóa hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường
nhằm mục đích sinh lợi bao gồm cả tổ chức, cá nhân thực hiện hoạt động xuất khẩu,
nhập khẩu và phân phối hàng hóa, dịch vụ”24 Quy định này không giải thích rõ ai, tổ
chức cụ thể nào là tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ Họ, có thể hiểu, là
thương nhân hoặc không phải là thương nhân nhưng có kinh doanh để nhằm mục đích lợi
nhuận hay chỉ là một người bình thường bán hàng rong cho học sinh, sinh viên?
Còn theo quy định của Luật bảo vệ quyền lợi NTD 2010 “Tổ chức, cá nhân kinh
doanh hàng hóa, dịch vụ là tổ chức, cá nhân thực hiện một, một số hoặc tất cả các công
đoạn của quá trình đầu tư, từ sản xuất đến tiêu thụ hàng hóa hoặc cung ứng dịch vụ trên
thị trường nhằm mục đích sinh lợi, bao gồm: Thương nhân theo quy định của Luật
thương mại; Cá nhân hoạt động thương mại độc lập, thường xuyên, không phải đăng ký
kinh doanh”25 Như vậy, quy định này đã cụ thể chủ thể nào là tổ chức, cá nhân kinh
doanh
Theo Luật thương mại 2005 “Thương nhân bao gồm tổ chức kinh tế được thành
lập hợp pháp, cá nhân hoạt động thương mại một cách độc lập, thường xuyên và có đăng
ký kinh doanh”26 Riêng, cá nhân hoạt động thương mại độc lập, thường xuyên, không
phải đăng ký kinh doanh sẽ chịu sự điều chỉnh của Nghị định 39/2007/NĐ-CP ngày 16
tháng 3 năm 2007 về cá nhân hoạt động thương mại một cách độc lập, thường xuyên,
không phải đăng ký kinh doanh Theo đó, “Cá nhân hoạt động thương mại là cá nhân tự
mình hàng ngày thực hiện một, một số hoặc toàn bộ các hoạt động được pháp luật cho
phép về mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ và các hoạt động nhằm mục đích sinh lợi
khác nhưng không thuộc đối tượng phải đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật
24
Khoản 1 - Điều 3 – Nghị định 55/2008 (đã dẫn) Tuy nhiên, Nghị định này đã hết hiệu lực
25 Khoản 2 - Điều 3 - Luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2010
26
Khoản 1 - Điều 6 - Luật thương mại 2005 Thuật ngữ đăng ký kinh doanh trong Luật thương mại hiện nay được
gọi là đăng ký doanh nghiệp theo Nghị định 43/2010/NĐ-CP về đăng ký doanh nghiệp
Trang 18về đăng ký kinh doanh và không gọi là “thương nhân” theo quy định của Luật thương
mại”27 Cụ thể bao gồm những cá nhân thực hiện các hoạt động thương mại sau đây:
- Buôn bán rong (buôn bán dạo) là các hoạt động mua, bán không có địa điểm cố
định (mua rong, bán rong hoặc vừa mua rong vừa bán rong), bao gồm cả việc nhận sách
báo, tạp chí, văn hóa phẩm của các thương nhân được phép kinh doanh các sản phẩm này
theo quy định của pháp luật để bán rong;
- Buôn bán vặt là hoạt động mua bán những vật dụng nhỏ lẻ có hoặc không có địa
điểm cố định;
- Bán quà vặt là hoạt động bán quà bánh, đồ ăn, nước uống (hàng nước) có hoặc
không có địa điểm cố định;
- Buôn chuyến là hoạt động mua hàng hóa từ nơi khác về theo từng chuyến để bán
cho người mua buôn hoặc người bán lẻ;
- Thực hiện các dịch vụ: đánh giày, bán vé số, chữa khóa, sửa chữa xe, trông giữ
xe, rửa xe, cắt tóc, vẽ tranh, chụp ảnh và các dịch vụ khác có hoặc không có địa điểm cố
định;
- Các hoạt động thương mại một cách độc lập, thường xuyên không phải đăng ký
kinh doanh khác
Một vấn đề khác nên quan tâm trong định nghĩa tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng
hóa, dịch vụ là tổ chức, cá nhân đó phải thực hiện một, một số hoặc tất cả các công đoạn
của quá trình đầu tư, từ sản xuất đến tiêu thụ hàng hóa hoặc cung ứng dịch vụ trên thị
trường nhằm mục đích sinh lợi.28
Như chúng ta đã biết, hoạt động thương mại là hoạt động sinh lời Khi đó, một cá nhân hay tổ chức kinh doanh tham gia thực hiện trực tiếp
sản xuất hàng hóa, dịch vụ hay nhận tiêu thụ hàng hóa, dịch vụ như mua lại hàng hóa,
làm dịch vụ để bán, cung ứng dịch vụ hay làm đại lý cho nhà sản xuất, nói nôm na là
người bán, người cung ứng dịch vụ đó và nhằm mục đích sinh lời thì có thể hiểu đó là tổ
chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ Và đương nhiên, một khi cá nhân, tổ chức
này xâm phạm đến quyền lợi chính đáng của NTD thì sẽ chịu sự điều chỉnh của pháp luật
về bảo vệ quyền lợi NTD
1.1.2.3 Phân loại hợp đồng giao kết từ xa
Có nhiều cách phân loại khác nhau dựa vào các tiêu chí nhất định để phân loại hợp
Trang 19Căn cứ vào tính chất của hợp đồng, hợp đồng giao kết từ xa có thể bao gồm hai
loại là hợp đồng giao kết từ xa mang tính chất hợp đồng dân sự và hợp đồng giao kết từ
xa mang tính chất hợp đồng thương mại Có thể hiểu, hợp đồng giao kết từ xa là loại hợp
đồng dân sự hoặc thương mại Bởi lẽ, một bên trong hợp đồng là NTD không nhằm mục
đích lợi nhuận, bên còn lại là tổ chức, cá nhân kinh doanh nhằm mục đích sinh lời Tuy
nhiên, để phù hợp với loại hình thương mại điện tử hiện nay, pháp luật về thương mại,
các pháp luật liên quan và để tiện nghiên cứu thì trong phạm vi của luận văn, chỉ xem xét
tư cách của loại hợp đồng này dưới góc độ là hợp đồng thương mại Theo Luật thương
mại 2005 quy định “Hoạt động không nhằm mục đích sinh lợi của một bên trong giao
dịch với thương nhân thực hiện trên lãnh thổ nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam
trong trường hợp bên thực hiện hoạt động không nhằm mục đích sinh lợi đó chọn áp
dụng Luật này”29 Điều này có nghĩa rằng, nếu như chỉ xem xét loại hợp đồng giao kết từ
xa với tư cách là hợp đồng thương mại thì đương nhiên hiểu rằng: chính NTD đã chọn
Luật thương mại để áp dụng và tổ chức, cá nhân kinh doanh trong hợp đồng chỉ có thể là
thương nhân không bao gồm cá nhân hoạt động thương mại độc lập, thường xuyên,
không phải đăng ký kinh doanh.30
Nếu như đã chọn Luật thương mại để đem ra áp dụng cho loại hợp đồng này thì
các vấn đề pháp lý có liên quan đến thương mại điện tử cũng sẽ được áp dụng Theo Nghị
định 57/2006/NĐ-CP ngày 09/06/2006 của Chính phủ về thương mại điện tử thì Nghị
định này sẽ áp dụng đối với “Thương nhân sử dụng chứng từ điện tử trong hoạt động
thương mại và hoạt động có liên quan đến thương mại”31 Cũng theo Nghị định trên thì
các khái niệm về chứng từ, chứng từ điện tử, thông điệp điện tử đã được giải thích rất cụ
thể Theo đó, “Chứng từ là hợp đồng, đề nghị, thông báo, tuyên bố, hóa đơn hoặc tài liệu
khác do các bên đưa ra liên quan tới việc giao kết hay thực hiện hợp đồng; Chứng từ
điện tử là chứng từ ở dạng thông điệp dữ liệu; Thông điệp dữ liệu là thông tin được tạo
ra, được gửi đi, được nhận hoặc được lưu trữ bằng phương tiện điện tử”32
29 Khoản 3 - Điều 1 - Luật thương mại 2005
30 Tuy chủ thể trong hợp đồng tìm hiểu chỉ là thương nhân, nhưng để tiện nghiên cứu Chương 1 thì vẫn sử dụng cụm
từ tổ chức, cá nhân kinh doanh Chủ thể hợp đồng chỉ là thương nhân sẽ được đề cập ở những chương tiếp theo
31
Khoản 1 - Điều 2 - Nghị định 57/2006 (đã dẫn) Theo Khoản 1 - Điều 3 - Luật thương mại 2005: “Hoạt động
thương mại là hoạt động nhằm mục đích sinh lợi, bao gồm mua bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ, đầu tư, xúc tiến
thương mại và các hoạt động nhằm mục đích sinh lợi khác”
32 Các Khoản 1, 2, 3 - Điều 3 - Nghị định 57/2006 (đã dẫn)
Trang 20Căn cứ vào hình thức của hợp đồng, hợp đồng giao kết từ xa được chia thành hai
loại là hợp đồng giao kết bằng phương tiện điện tử và hợp đồng giao kết bằng lời nói
Tương ứng với cách phân loại này, có thể có hai phương thức giao kết rất phổ biến hiện
nay là giao kết thông qua website thương mại điện tử và giao kết bằng cách gọi điện thoại
trực tiếp Với quy trình tự động hóa được thiết lập sẵn trên website bán hàng hóa, cung
ứng dịch vụ để NTD giao kết hợp đồng với tổ chức, cá nhân kinh doanh thì phương thức
giao dịch này đã đem đến sự tiện lợi cho các bên Tuy nhiên, với phương thức giao kết
như vậy thì cũng mang tính rủi ro cao như rủi ro về thông tin, rủi ro liên quan đến an ninh
mạng, mà các bên trong hợp đồng có thể sẽ không kiểm soát được Bên cạnh việc giao
kết hợp đồng thông qua website thương mại điện tử thì hợp đồng cũng được giao kết
thông qua điện thoại NTD có thể gọi điện thoại đến tổ chức, cá nhân kinh doanh để mua
hàng hóa, yêu cầu cung ứng dịch vụ Hai loại hình giao kết như trên đã đem đến những
lợi ích nhất định cho các bên và đang phát triển trong thời gian sắp tới
Căn cứ vào chủ thể giao kết, hợp đồng giao kết từ xa có thể được giao kết giữa
NTD với tổ chức, cá nhân kinh doanh Việt Nam hoặc tổ chức, cá nhân kinh doanh nước
ngoài NTD hoàn toàn có thể lên website thương mại điện tử của tổ chức, cá nhân kinh
doanh nước ngoài để giao kết hợp đồng Khi hợp đồng được giao kết thì hàng hóa có thể
được chuyển vào Việt Nam thông qua đường hàng không hoặc đường biển, Hiện nay,
website thương mại điện tử đang được NTD Việt Nam mua hàng thường xuyên là trang
Amazon.uk Trên website này có rất nhiều các sản phẩm và độ an toàn trong giao kết hợp
đồng có thể cũng đáng tin cậy
1.2 SỰ CẦN THIẾT CỦA HỢP ĐỒNG GIAO KẾT TỪ XA THEO PHÁP LUẬT
VIỆT NAM
Internet hay điện thoại đã rất quen thuộc với người Việt Nam Nó xâm nhập vào
thị trường Việt Nam như là một tất yếu khách quan trong tổng thể về sự phát triển kinh tế
chung của toàn thế giới Việc lựa chọn hình thức bán hàng, cung ứng dịch vụ thông qua
hai phương thức này đã phát triển tại nhiều nước trên thế giới.33 Do đó, vấn đề trên cũng
cần phải xem xét và phát triển tại Việt Nam
33 Một số quốc gia hàng đầu thế giới về phát triển kinh doanh Internet như Vương quốc Anh và Hàn Quốc cho biết
các giao dịch trực tuyến chiếm hơn 7% của GDP Tại Anh, con số này có thể đạt 12,4% vào năm 2016 Ở Trung
Quốc con số này là trên 5,5% (2010), trong khi ở Mỹ, con số này là trên 4,7% (Thu Trang - Kinh tế internet toàn
cầu dự kiến đạt 4,2 nghìn tỷ USD năm 2016 -http://www.tapchibcvt.gov.vn/vi-VN/kinhtebuudien/2012/3/25726.bcvt
[Truy cập ngày 18/09/2012])
Trang 21Pháp lệnh bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 1999 và nhiều văn bản pháp luật
liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp đến bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng đã ra đời Tuy
nhiên, các văn bản pháp luật đó chưa tạo ra cơ chế hữu hiệu để bảo vệ quyền lợi NTD
một cách hiệu quả, thiếu những quy định bảo vệ quyền lợi NTD trước những loại hình
kinh doanh mới phát sinh hoặc để người tiêu dùng có thể tự bảo vệ mình và đồng thời,
chưa có cơ chế giải quyết các khiếu nại, tranh chấp hữu hiệu.34 Những loại hình kinh
doanh mới này, có thể là kinh doanh qua mạng hay gọi điện thoại trực tiếp
Với phương thức gọi điện thoại, khi muốn mua một sản phẩm nào đó, NTD chỉ
cần nhấc máy lên và thực hiện cuộc gọi là sẽ có ngay người mang sản phẩm đến tận
nhà Cách bán hàng qua điện thoại như thế đã lan rộng trên thị trường trong thời gian
qua Với tốc độ phát triển “chóng mặt” của các thuê bao điện thoại tại Việt Nam hiện
nay đã giúp việc bán hàng qua điện thoại trở thành một nghề Nhiều doanh nghiệp coi
việc mua - bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ qua điện thoại như một sự lựa chọn tối
ưu.35
Tuy nhiên, hình thức này trước khi Luật bảo vệ quyền lợi NTD 2010 ra đời chưa
có một hành lang pháp lý an toàn để bảo vệ quyền lợi cho NTD Còn đối với phương
thức bán hàng, cung ứng dịch vụ qua mạng đã xuất hiện trước Luật bảo vệ quyền lợi
NTD hiện hành Theo đó, Luật giao dịch điện tử 2005 và các văn bản có liên quan được
xem là một căn cứ pháp lý để NTD có thể bảo vệ được mình Tuy nhiên, các văn bản này
chưa thực sự phát huy hết tác dụng trong việc bảo vệ quyền lợi NTD
Hợp đồng điện tử đặc trưng cho các giao dịch được thiết lập từ xa Trong mối
quan hệ này, NTD luôn ở thế yếu so với nhà cung cấp dịch vụ, hàng hóa Thế yếu này bắt
nguồn từ chính phương thức giao kết hợp đồng: phải sử dụng biện pháp liên lạc từ xa như
internet hay điện thoại chẳng hạn NTD có thể thiếu thông tin về tình hình thực tế hay
pháp luật điều chỉnh quan hệ hợp đồng Đặc điểm này là nguyên nhân gây ra bất bình
đẳng giữa các bên Dễ nhận thấy rằng, khi mua một mặt hàng bất kỳ (ví dụ như quần áo)
thông qua một website, NTD không có dịp kiểm tra màu sắc, kích cỡ hay chất liệu quần
áo như khi mua ở một cửa hàng thời trang Vì vậy, có thể sẽ có rủi ro khi ký kết hợp
đồng, sự đồng ý của NTD sẽ không rõ ràng như khi giao kết hợp đồng với sự hiện diện
của các bên Ở góc độ khác, việc mua hàng thiếu cân nhắc cũng rất đáng lo ngại, khi đó
34
Báo cáo số 981/UBKHCNMT12 ngày 13/05/2010 của Ủy ban khoa học công nghệ và môi trường về thẩm tra dự
án Luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng - Trang 2
35
Bán hàng qua điện thoại: Dễ hay khó? -
http://acro.vn/kien-thuc/ky-nang-ban-hang/ban-hang-qua-dien-thoai de-hay-kho-.aspx [Truy cập ngày 18/09/2012]
Trang 22NTD sẽ không suy nghĩ chín chắn trước khi ký kết hợp đồng như trong giao dịch truyền
thống Khi các hợp đồng điện tử đa phần dưới dạng thiết lập điều kiện giao dịch chung,
thì vị thế của NTD từ xa lại càng yếu thế vì họ không có quyền thỏa thuận, thương lượng
Mặc dù có sự bất bình đẳng giữa các bên, có tình trạng bất cân xứng về thông tin
và khả năng thương lượng giữa các bên, quy trình, phương thức giao kết hợp đồng giao
kết từ xa có khác biệt, nhưng không phải “cư dân mạng” nào cũng nắm rõ Do đó, cần
thiết phải có sự can thiệp của pháp luật để bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng - bên yếu thế
trong quan hệ trên Sự thành công của hợp đồng giao kết từ xa phụ thuộc vào việc xây
dựng một môi trường giao dịch thu hút cũng như an toàn đối với các bên tham gia Điều
này đặc biệt đúng khi nói tới khía cạnh bảo vệ NTD Một yếu tố quan trọng để tạo môi
trường cho lòng tin và sự tín nhiệm trong giao kết hợp đồng là phải bảo vệ được NTD
Các bên tham gia giao kết hợp đồng qua mạng không nhất thiết hay không thể gặp mặt
nhau Thông thường, NTD không biết rõ các thông tin về hàng hóa, dịch vụ được cung
cấp như người bán hàng, khả năng chịu rủi ro sẽ cao hơn, do đó cần có những quy định
pháp luật bảo vệ họ.36
Trước khi Luật bảo vệ quyền lợi NTD ra đời, hình thức giao kết qua điện thoại với
NTD chưa có một hành lang pháp lý an toàn Tuy nhiên, với sự phát triển của khoa học
kỹ thuật - công cụ trợ giúp cho nhân viên kinh doanh, bán hàng không cần giao dịch
trực tiếp với NTD, mà chỉ cần thông qua điện thoại, Internet Hình thức bán hàng này
ra đời đã giải quyết được vấn đề khoảng cách, thời gian, giúp các doanh nghiệp tiết
kiệm được chi phí Hiện nay, ngày càng nhiều doanh nghiệp phát triển hệ thống bán
hàng theo loại hình mới này Theo kết quả khảo sát của Công ty nghiên cứu thị trường
Việt Nam, khoảng 70% các công ty kinh doanh, dịch vụ ở Việt Nam có hệ thống bán
hàng qua Internet và điện thoại.37
Cùng với sự phát triển vượt bậc của hai loại hình bán hàng, cung ứng dịch vụ qua
mạng hay gọi điện thoại trực tiếp, Nghị định 99/2011 (đã dẫn) đã quy định hai hình thức
này là một phần của loại hợp đồng giao kết từ xa Đây được xem là một khung pháp lý
36 Th.s Trần Văn Biên - Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong giao kết hợp đồng điện tử qua internet - Tạp chí
nghiên cứu lập pháp điện tử - Viện Nhà nước và Pháp luật, Viện Khoa học xã hội Việt Nam -
http://www.nclp.org.vn/ban_ve_du_an_luat/bao-ve-quyen-loi-nguoi-tieu-dung-trong-giao-ket-hop-111ong-111ien-tu-qua-internet [Truy cập ngày 18/09/2012]
37
Bán hàng qua điện thoại: Dễ hay khó? -
http://acro.vn/kien-thuc/ky-nang-ban-hang/ban-hang-qua-dien-thoai de-hay-kho-.aspx [Truy cập ngày 18/09/2012]
Trang 23quan trọng để NTD có thể tự bảo vệ mình, nhờ cơ quan, tổ chức khác bảo vệ mình trước
sự xâm phạm của tổ chức, cá nhân kinh doanh
1.3 ƢU ĐIỂM VÀ NHƢỢC ĐIỂM CỦA HỢP ĐỒNG GIAO KẾT TỪ XA
Hợp đồng giao kết từ xa là loại hợp đồng mới được pháp luật về bảo vệ quyền lợi
NTD Việt Nam điều chỉnh Tuy nhiên, ở Việt Nam loại hợp đồng này đã xuất hiện tương
đối sớm Xét về bản chất, hợp đồng giao kết từ xa cũng là một loại hợp đồng theo pháp
luật Việt Nam Nhưng đây không phải là loại hợp đồng dân sự, thương mại bình thường
chịu sự điều chỉnh của các luật tương ứng mà đây là loại hợp đồng ngoài chịu sự điều
chỉnh của các ngành luật như dân sự, thương mại,…nó còn có các ngành luật riêng liên
quan đến giao dịch điện tử, thương mại điện tử, các vấn đề pháp lý liên quan đến công
nghệ thông tin,…Do đó, hợp đồng giao kết từ xa có những ưu, nhược điểm nhất định
1.3.1 Ƣu điểm
Khi tham gia ký kết loại hợp đồng giao kết từ xa thì tổ chức, cá nhân kinh doanh
và NTD có những ưu điểm chung nhất định
Thứ nhất, khi giao kết loại hợp đồng này sẽ giúp các bên tiết kiệm thời gian để
đàm phán, giao kết hợp đồng Một hợp đồng được giao kết phải trải qua nhiều bước, từ
quảng cáo sản phẩm, chào hàng rồi đàm phán, giao kết hợp đồng,…sẽ tốn rất nhiều thời
gian của các bên nếu các công việc đó diễn ra trên giấy trắng mực đen Trong nhịp sống
hối hả của đời sống hiện nay, thời gian rất được xem trọng trong nhiều lĩnh vực, trong đó,
có việc giao kết hợp đồng Tổ chức, cá nhân kinh doanh luôn tranh thủ thời gian để đi
đến việc giao kết hợp đồng, NTD cũng vậy Thế nên, việc lựa chọn phương thức giao kết
hợp đồng, sao cho, các bên không phải mất nhiều thời gian nhưng vẫn đảm bảo quyền và
nghĩa vụ của các bên luôn là ưu tiên Theo đó, hiện nay, phương thức giao kết qua mạng
internet hay gọi điện thoại trực tiếp cho loại giao dịch tạm gọi là tiêu dùng đã và đang
chiếm ưu thế
Thứ hai, việc ký kết hợp đồng giao kết từ xa sẽ giúp các bên nắm được các thông
tin một cách nhanh chóng Một nhà kinh doanh có thể ngồi tại nhà với sự hỗ trợ của
internet sẽ có thể giao kết được nhiều hợp đồng cùng lúc, đồng thời nắm được các thông
tin dễ dàng và hết sức phong phú về thị trường Nhờ đó, có thể xây dựng chiến lược sản
xuất kinh doanh phù hợp với xu hướng phát triển của thị trường Thông thường, khi xây
dựng website bán hàng đều có mục dành chỗ bình luận hay góp ý của NTD, để qua đó tổ
chức, cá nhân có thể nắm được tâm tư, nguyện vọng của NTD để cải thiện chất lượng sản
Trang 24phẩm, dịch vụ, mẫu mã hàng hóa,…còn NTD sẽ tìm kiếm dễ dàng các thông tin liên quan
đến tổ chức, cá nhân kinh doanh mà mình muốn giao kết hợp đồng Đối với phương thức
giao kết bằng cách gọi điện thoại trực tiếp, NTD chỉ cần ngồi tại nhà để gọi đến một công
ty, các trung tâm cung ứng dịch vụ như sửa chữa điện, ống nước,…là có thể giao kết hợp
đồng Riêng tổ chức, cá nhân kinh doanh có thể lấy ý kiến của NTD thông qua điện thoại
để cải thiện môi trường kinh doanh mà không phải bằng hình thức gửi thư góp ý theo
cách truyền thống,…Chẳng hạn như, khi NTD yêu cầu một văn phòng nha khoa tư nhân
trám răng thì vài ngày sau đó, họ sẽ gọi điện thoại lại NTD để lấy ý kiến về chất lượng
phục vụ dịch vụ,…
Bên cạnh những ưu điểm chung, khi ký kết hợp đồng giao kết từ xa thì tổ chức, cá
nhân kinh doanh cũng có những ưu điểm riêng
Thứ nhất, việc ký kết hợp đồng giao kết từ xa sẽ giúp cho tổ chức, cá nhân kinh
doanh tiết kiệm được chi phí giao dịch Một tổ chức, cá nhân kinh doanh có thể gửi thư
điện tử chào hàng cho nhiều NTD với chi phí giống như gửi cho một người Tuy nhiên,
cần lưu ý nếu như việc gửi thư điện tử bị lạm dụng, tức tổ chức, cá nhân kinh doanh liên
tiếp gửi những thư chào hàng mà NTD không mong muốn nhận thì ở góc độ pháp luật,
thư gửi đi như vậy gọi là thư rác và theo quy định tại Nghị định 90/2008/NĐ-CP ngày
13/08/2008 của Chính phủ về chống thư rác là hành vi bị nghiêm cấm.38 Còn đối với việc
giao kết thông qua một website bán hàng thì tổ chức, cá nhân kinh doanh không phải tốn
tiền để quảng cáo cho nhiều người Bên cạnh đó, ký kết hợp đồng giao kết từ xa còn tiết
kiệm các chi phí như: Chi phí đi lại cho nhân viên bán hàng, chi phí giấy tờ,…Đối với
loại hình giao kết thông qua gọi điện thoại trực tiếp, xét về chi phí, gọi điện thoại là giải
pháp hiệu quả tại Khang Duy Nguyễn Group giúp có nhiều khách hàng tiềm năng.39 Việc
chăm sóc và phát triển hệ thống đại lý trên toàn quốc cũng tốt hơn (doanh số tăng trung
38 Khoản 1 - Điều 3 - Nghị định 90/2008 (đã dẫn) “Thư rác (spam) là thư điện tử, tin nhắn được gửi đến người nhận
mà người nhận đó không mong muốn hoặc không có trách nhiệm phải tiếp nhận theo quy định của pháp luật Thư
rác trong Nghị định này bao gồm thư điện tử rác và tin nhắn rác” Hành vi này được xem là hành vi bị cấm theo
Khoản 1 - Điều 6 - Nghị định 90/2008 (đã dẫn)
39
Khang Duy Nguyễn Group hình thành từ nhiều thành viên cộng sự trong nhiều lĩnh vực bao gồm: Công ty TNHH
TM-DV Khang Duy Nguyễn, công ty cổ phần đầu tư Camellia, công ty Luật Lê và Associates, công ty TNHH thiết
kế Hạt Giống (http://khangduynguyen.com.vn/Gioi-Thieu-Ve-KDN-intro-472-268.html [Truy cập ngày
18/09/2012])
Trang 25bình 50%/năm) Gọi điện thoại mang lại hiệu quả nhờ khả năng giao tiếp trực tiếp và chi
phí giảm so với quảng cáo trên báo, đài, tivi và các phương tiện truyền thông khác.40
Thứ hai, sử dụng hợp đồng giao kết từ xa sẽ giúp cho tổ chức, cá nhân kinh doanh
nâng cao năng lực cạnh tranh trong nền kinh tế hiện nay Trong bối cảnh, sự cạnh tranh
đã và đang diễn ra ngày càng mạnh mẽ, muốn tìm kiếm được nhiều NTD để giao kết hợp
đồng thì đòi hỏi tổ chức, cá nhân kinh doanh phải tạo được kênh bán hàng linh hoạt, gọn
nhẹ, nhanh chóng với chi phí rẻ cũng như phản ứng nhanh hơn với sự thay đổi của thị
trường Đây có thể xem là điều kiện để tổ chức, cá nhân kinh doanh tồn tại và phát triển
Và việc ký kết hợp đồng giao kết từ xa chính là chìa khóa dẫn các tổ chức, cá nhân kinh
doanh đến với những cơ hội để nâng cao năng lực cạnh tranh, đáp ứng được nhu cầu công
nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
Ngoài những ưu điểm chung của việc ký kết hợp đồng giao kết từ xa đem lại cho
NTD và tổ chức, cá nhân kinh doanh thì NTD còn có những lợi ích khác khi giao kết loại
hợp đồng này
Thứ nhất, có thể NTD không cần phải đến tận trụ sở kinh doanh, bán hàng,…của
tổ chức, cá nhân kinh doanh để nhận hàng Thông thường, trong giao kết hợp đồng bằng
cách gọi điện thoại hay qua internet, NTD chỉ ngồi tại nhà để nhận hàng thông qua đường
bưu điện hay người bán giao trực tiếp hàng hóa, cung ứng dịch vụ đến tận địa chỉ NTD
hoặc tiện lợi hơn là cung ứng dịch vụ qua chính phương tiện truyền dẫn các thông điệp
dữ liệu đã được chuẩn bị sẵn Chẳng hạn như yêu cầu cung cấp các phần mềm vi tính, các
loại sách điện tử, phim truyện,…
Thứ hai, NTD vẫn đảm bảo quyền được lựa chọn hàng hóa, dịch vụ phù hợp cho
mình Trên internet hay thông qua gọi điện thoại trực tiếp NTD sẽ đối chiếu, so sánh và
lựa chọn hàng hóa, dịch vụ phù hợp về giá cá, chất lượng, bảo hành,…của nhiều tổ chức,
cá nhân kinh doanh khác nhau để đưa ra quyết định sau cùng là nên lựa chọn loại hàng
hóa, dịch vụ nào và cá nhân, tổ chức nào để giao kết hợp đồng Chẳng hạn, thông qua
trang bán hàng của Hoàng Long computer Cần Thơ một chiếc điện thoại NOKIA N9
(64GB) BLACK – MAGENTA (Màu đỏ tươi) có giá 9 triệu 290 ngàn, bảo hành 12
tháng; còn Phương Tùng mobile thì vẫn NOKIA N9 nhưng chỉ có 16GB màu xanh
40
Tiếp thị qua điện thoại - http://www.pcworld.com.vn/pcworld/printArticle.asp?atcl_id=5f5e5d5b57565a [Truy
cập ngày 18/09/2012]
Trang 26dương, đen, hồng với giá là 8 triệu 990 ngàn, bảo hàng 12 tháng.41 Qua một số thông tin
liên quan đến hai sản phẩm trên, NTD sẽ ra quyết định nên lựa chọn sản phẩm nào, tùy
thuộc vào sở thích, tính cách, túi tiền,…của mình
1.3.2 Nhƣợc điểm
Mỗi loại hợp đồng đều có những đặc điểm riêng, những ưu, nhược điểm nhất định,
hợp đồng giao kết từ xa cũng vậy Bên cạnh những ưu điểm ưu Việt mà nó mang lại cho
tổ chức, cá nhân kinh doanh và NTD thì hợp đồng giao kết từ xa tất nhiên sẽ có những
nhược điểm cũng đáng lo ngại
Thứ nhất, việc ký kết hợp đồng giao kết từ xa đôi khi không phù hợp đối với
doanh nghiệp vừa và nhỏ.42 Chi phí để thiết lập hoặc thuê website bán hàng, cung ứng
dịch vụ và duy trì hoạt động là tương đối cao.43 Vì vậy, các doanh nghiệp vừa và nhỏ khi
tham gia thương mại điện tử phải cân nhắc thật kỹ, không khéo lợi nhuận thu được không
đủ để duy trì hoạt động của website hay trả tiền thuê website bán hàng, cung ứng dịch vụ
Khi chấp nhận hình thức bán hàng, cung ứng dịch vụ qua mạng, các doanh nghiệp này
phải làm sao để vừa tận dụng những lợi ích mà nó đem lại, đồng thời vừa hạn chế đến
mức thấp nhất những bất cập mà bán hàng, cung ứng dịch vụ mang đến, nhằm mục đích
là tối đa hóa lợi nhuận Tuy nhiên, không phải lúc nào các doanh nghiệp cũng làm tốt hai
công việc này cùng một lúc Chẳng hạn, trong quá trình đang hoàn tất các công việc cho
việc giao kết hợp đồng qua mạng trên máy vi tính nhưng lại bị cúp điện, khiến các dữ liệu
được cung cấp bị mất đi Khi đó có thể dẫn đến tình trạng hoặc NTD sẽ đổi ý không giao
kết hợp đồng nữa hoặc giao kết nhưng phải cung cấp thông tin lại làm mất nhiều thời
gian,…Gặp tình huống như vậy, nếu là doanh nghiệp lớn, họ sẽ trang bị thêm các máy
tích tụ điện, máy phát điện,…để tránh trường hợp trên xảy ra Do đó, bán hàng qua mạng
Điều 3 - Nghị định số 56/2009/NĐ-CP của Chính phủ ngày 30/06/2009 về trợ giúp phát triển doanh nghiệp nhỏ và
vừa có hiệu lực ngày 20/08/2009 thì doanh nghiệp nhỏ và vừa là cơ sở kinh doanh đã đăng ký kinh doanh theo quy
định pháp luật, được chia thành ba cấp: siêu nhỏ, nhỏ, vừa theo quy mô tổng nguồn vốn (tổng nguồn vốn tương
đương tổng tài sản được xác định trong bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp) hoặc số lao động bình quân năm
(tổng nguồn vốn là tiêu chí ưu tiên)
43
Giá gói lập website báng hàng chuyên nghiệp ban đầu thường từ 3 - 5 triệu đồng (Số liệu này chỉ mang tính chất
tham khảo) (Lập web bán hàng - http://laptrangweb.net/p/lap-web-ban-hang.htm [Truy cập ngày 18/09/2012]) Tuy
nhiên, ngoài chi phí ban đầu thì còn các chi phí bảo dưỡng web, chi phí sử dụng dịch vụ mạng,…Hiện nay, việc thuê
gian hàng để bán hàng hóa, cung cấp dịch vụ trên Facebook có thể lên đến 20 triệu đồng/tháng
Trang 27có thể được xem là một thiệt thòi cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ trong việc tiếp cận thị
trường mới, NTD mới,…
Tuy nhiên, hình thức giao kết hợp đồng bằng cách gọi điện thoại trực tiếp phù hợp
hơn với doanh nghiệp vừa và nhỏ hoặc các đại lý bán hàng Một NTD chỉ cần nhấc máy
điện thoại và gọi đến công ty bánh kẹo, đại lý gas để giao kết hợp đồng và việc giao nhận
hàng,…sẽ được diễn ra nhanh chóng Nhưng, việc giao kết này cũng có nhiều bất lợi vì
NTD sẽ không lường trước được chất lượng sản phẩm, dịch vụ do người bán, người cung
ứng dịch vụ cung cấp Lấy ví dụ, một NTD gọi điện đến một công ty chuyên bán vật liệu
xây dựng để mua năm khối cát xây Tuy nhiên, các khối cát này đã bị trộn một số loại
đất Khi đó, NTD vẫn sử dụng vì thói quen chấp nhận Thêm vào đó, nếu như có tranh
chấp phát sinh thì NTD vẫn chịu thiệt vì trong giao dịch đó đối tượng giao dịch chưa thật
sự rõ ràng
Thứ hai, việc ký kết hợp đồng giao kết từ xa không cung cấp đủ các thông tin của
các bên và nhiều trường hợp các thông tin được cung cấp là thông tin “ảo” Một bằng
chứng cho việc có hay không có được gọi là doanh nghiệp chính là Giấy chứng nhận
đăng ký doanh nghiệp Tuy nhiên, hầu như trên các website bán hàng hóa, cung ứng dịch
vụ không hề cung cấp giấy này Hoặc một NTD ghi địa chỉ để cho tổ chức, cá nhân giao
hàng, cung ứng dịch vụ và thanh toán tiền nhưng địa chỉ này không có, mục đích chỉ để
chọc phá Như vậy, khi ký kết hợp đồng giao kết từ xa sẽ gặp không ít khó khăn, đòi hỏi
các bên trong giao kết hợp đồng phải tin tưởng lẫn nhau
Thứ ba, thông tin của NTD và thông tin của tổ chức, cá nhân kinh doanh không
đảm bảo an toàn Với sự phát triển vượt bậc của internet, kéo theo nguồn tài nguyên vô
cùng phong phú thì việc bảo đảm thông tin của mình không bị đánh cắp là điều không ai
dám đảm bảo, khi mà hàng giây chúng ta luôn lo lắng thông tin có thể bị các hacker tấn
công vào bất cứ lúc nào Tiêu biểu là thông tin về tài khoản Ngân hàng, tài khoản cá
nhân, bí mật công nghệ, bí mật kinh doanh,…là những thứ mà hacker hướng tới Các
hacker có thể ở nhiều nước khác nhau và một khi thông tin nêu trên của chúng ta bị đánh
cắp thì hậu quả là vô cùng to lớn Chẳng hạn, một doanh nghiệp muốn thành công hơn
một doanh nghiệp khác cùng kinh doanh trên thị trường liên quan thì điều họ có được có
thể xuất phát từ bí mật kinh doanh Một khi bí mật kinh doanh bị đánh cắp và cả cộng
đồng đều biết thì doanh nghiệp đó sẽ rất khó đứng vững trên thị trường trong tương lai
gần Bên cạnh đó, sự không tồn tại của một doanh nghiệp có thể sẽ ảnh hưởng đến quyền
lợi của NTD khi đã xuất hiện sự cạnh tranh không lành mạnh của các doanh nghiệp với
Trang 28nhau Đồng thời, nói rộng hơn, việc làm đó sẽ tác động không nhỏ đến nền kinh tế quốc
gia Ngoài vấn đề đã đề cập, thì các thông tin của chúng ta có thể bị nghe lén khi đang nói
chuyện điện thoại bằng các thiết bị tối tân mà NTD, tổ chức, cá nhân kinh doanh không
thể lường trước hay kiểm soát được.44
Thứ tư, tuy bằng chứng về các tài liệu điện tử được đảm bảo Tuy nhiên, không ai
dám đảm bảo rằng nó có độ tin cậy tuyệt đối, khi mà việc chứng thực chữ ký điện tử hiện
nay không được quan tâm đúng mức Và, chữ ký điện tử chưa phải là yếu tố để nhận
dạng một người trên mạng chính xác Còn đối với hình thức gọi điện thoại trực tiếp, các
bên chỉ giao dịch bằng lời nói mà không nhận dạng được bản thân người giao tiếp nên
cũng rất khó để xác định mình đang giao kết với ai?
Tóm lại, tuy có những nhược điểm nhất định nhưng không ai phủ nhận rằng, việc
ký kết hợp đồng giao kết từ xa có những ưu điểm đáng kể Đặc biệt, trong xu hướng giao
kết hợp đồng hiện nay của tổ chức, cá nhân kinh doanh với NTD, khi mà những tiện lợi
được đặt lên hàng đầu nhưng vẫn đảm bảo những quy định của pháp luật Hợp đồng giao
kết từ xa đã được pháp luật điều chỉnh, đây là hành lang pháp lý an toàn cho các bên khi
giao kết loại hợp đồng này, đặc biệt là vấn đề bảo vệ quyền lợi NTD
1.4 SO SÁNH HỢP ĐỒNG GIAO KẾT TỪ XA VỚI HỢP ĐỒNG THƯƠNG MẠI
TRUYỀN THỐNG
Trong xã hội loài người, để thỏa mãn các nhu cầu và lợi ích của mình thì các cá
nhân, tổ chức phải xác lập các mối quan hệ với nhau Các mối quan hệ đó, có thể được
thể hiện thông qua sự trao đổi, thỏa thuận làm phát sinh các quyền và nghĩa vụ của các
bên Ở góc độ pháp lý, sự trao đổi, thỏa thuận như vậy được xem là giao dịch nếu như
thỏa mãn những quy định cụ thể cho từng loại giao dịch cụ thể.45 Hợp đồng là một loại
giao dịch, cho nên, nếu như đã gọi giao dịch đấy là hợp đồng thì chúng sẽ có những đặc
điểm giống nhau Nhưng tùy vào từng loại hợp đồng cụ thể mà chúng có sự khác nhau
đáng kể tương ứng với các ngành luật điều chỉnh
44 Trên mạng Internet hiện đang có những mẩu quảng cáo “Chỉ cần 15 phút cài đặt phần mềm, từ tin nhắn đến
cuộc gọi đều bị lộ” cho hàng loạt phần mềm như COPYPHONE, LG-SPY, SPY PHONE, VCTEL với các chức
năng quản lý điện thoại di động bằng cách ghi nhận lại tin nhắn, nhật ký cuộc gọi Người dùng cũng có thể kích
hoạt phần mềm để nghe âm thanh xung quanh điện thoại nạn nhân (Quỳnh Như - Nghe lén điện thoại dễ như đùa -
http://phapluattp.vn/262664p1059c1047/nghe-len-dien-thoai-de-nhu-dua.htm [Truy cập ngày 19/09/2012])
45
Đoàn Hữu Đại - Pháp luật kỹ năng ký kết hợp đồng kinh tế, thương mại, đầu tư và 138 mẫu hợp đồng thông dụng
mới nhất thường dùng - Nhà xuất bản thống kê_Hà Nội năm 2009 - Trang 80
Trang 29Hợp đồng giao kết từ xa là hợp đồng được giao kết giữa NTD và tổ chức, cá nhân
kinh doanh hàng hóa, dịch vụ thông qua phương tiện điện tử hoặc điện thoại Còn hợp
đồng thương mại truyền thống có thể hiểu là những hợp đồng được giao kết theo phương
thức như các bên trực tiếp gặp gỡ, đàm phán và giao kết hợp đồng Việc ký kết có thể
bằng lời nói, văn bản hoặc bằng hành vi cụ thể Ngoài ra, phương thức giao kết thông qua
trao đổi thư từ, tài liệu giao dịch bằng đường bưu điện cũng được xem là loại hợp đồng
thương mại truyền thống Ở góc độ pháp lý, hợp đồng giao kết từ xa với tư cách là hợp
đồng thương mại và hợp đồng thương mại truyền thống đều là hợp đồng Vì vậy, chúng
có những điểm giống nhau nhất định và tất nhiên sẽ có nhiều điểm không giống nhau
1.4.1 Sự giống nhau
Hợp đồng giao kết từ xa là một hình thức kinh doanh mới, kinh doanh qua mạng
hay gọi điện thoại trực tiếp Đây được xem là cách thức mới trên cơ sở áp dụng các công
nghệ hiện đại Nhưng về cơ bản, hợp đồng giao kết từ xa không làm thay đổi bản chất của
hợp đồng thương mại truyền thống Do đó, chúng có những điểm giống nhau nhất định
Thứ nhất, cả hai loại hợp đồng đều phải tuân thủ những nguyên tắc cơ bản khi
giao kết hợp đồng như nguyên tắc tự do, tự nguyện thỏa thuận trong hoạt động thương
mại; nguyên tắc bảo vệ quyền lợi chính đáng của NTD; nguyên tắc thừa nhận giá trị pháp
lý của thông điệp dữ liệu trong hoạt động thương mại,…46 Các nguyên tắc đó được xem
là các nguyên tắc cơ bản khi giao kết bất cứ loại hợp đồng thương mại nào và tất nhiên
không loại trừ hợp đồng giao kết từ xa hay hợp đồng truyền thống Đây được xem là
điểm giống nhau cơ bản của hai loại hợp đồng này
Thứ hai, khi giao kết loại hợp đồng thương mại truyền thống hay loại hợp đồng
giao kết từ xa thì vẫn phải tuân thủ hình thức, chủ thể, điều kiện giao kết hợp đồng, điều
kiện có hiệu lực của hợp đồng, quy trình giao kết, quyền và nghĩa vụ của các bên Ngoài
ra, các điều khoản như chế độ pháp lý của các bên khi vi phạm hợp đồng, vấn đề giải
quyết tranh chấp phát sinh (nếu có), Tuy nhiên, cần lưu ý rằng, không phải tất cả các
vấn đề trên đều được đề cập trong hợp đồng Chẳng hạn, NTD gọi điện thoại cho đại lý
gas để đổi gas, khi đó các bên sẽ không thể nào thỏa thuận hết các nội dung đã đề cập
Điều mà các bên quan tâm là giá cả, thậm chí có khi không thỏa thuận mà đại lý gas tự ấn
định giá cả NTD chỉ có việc là đồng ý hay không đồng ý với giá của đại lý gas đưa ra
Đây được xem là một thiệt thòi cho NTD Và đương nhiên khi có vấn đề pháp lý phát
46 Điều 11, Điều 14, Điều 15 - Luật thương mại 2005
Trang 30sinh, nếu như các bên không thỏa thuận hoặc thỏa thuận không được, không đầy đủ thì sẽ
căn cứ vào những quy định của pháp luật có liên quan
Thứ ba, khi thực hiện hợp đồng các bên vẫn phải tuân thủ các nguyên tắc chung
như thực hiện đúng hợp đồng, đúng đối tượng, chất lượng, số lượng, chủng loại, thời hạn,
phương thức và các thỏa thuận khác; thực hiện một cách trung thực, theo tinh thần hợp
tác và có lợi nhất cho các bên, bảo đảm tin cậy lẫn nhau; không được xâm phạm đến lợi
ích của Nhà nước, lợi ích công cộng, quyền, lợi ích hợp pháp của người khác.47 Trong
loại hợp đồng giao kết từ xa thì nguyên tắc bảo đảm tin cậy lẫn nhau là rất cần thiết Bởi
lẽ, khi giao kết loại hợp đồng này các bên không nhất thiết phải quen biết nhau trước Đa
phần các giao dịch thường diễn ra trên website bán hàng, gọi điện thoại trực tiếp nên việc
có biết nhau trước hay không không quan trọng mà quan trọng là các bên có muốn giao
dịch hay không Thông thường, NTD sẽ lướt web để tìm những sản phẩm mình cần và
khi NTD ưng ý với sản phẩm đó thì có thể họ sẽ giao kết hợp đồng mà không cần phải
tìm hiểu cụ thể thương nhân mà mình dự định giao kết Do đó, nguyên tắc tin cậy lẫn
nhau luôn đặt lên hàng đầu cho loại giao kết này Tuy nhiên, muốn tạo lòng tin cho NTD
thì đòi hỏi thương nhân phải có những phương thức giao dịch linh hoạt, nhanh
gọn,…nhưng vẫn đảm bảo giá trị pháp lý của hợp đồng
1.4.2 Sự khác nhau
Bên cạnh những điểm giống nhau cơ bản, hợp đồng giao kết từ xa và hợp đồng
thương mại truyền thống cũng có những điểm khác nhau
Thứ nhất, quy định về chữ ký tay, hình thức viết không còn phù hợp với loại hợp
đồng giao kết từ xa Đối với loại hợp đồng được thực hiện qua mạng, Luật giao dịch điện
tử 2005 công nhận hình thức chữ ký điện tử Còn đối với loại hợp đồng giao kết bằng
cách gọi điện thoại trực tiếp thì không cần chữ ký của các bên Như vậy, nếu như có tranh
chấp phát sinh thì đâu là chứng cứ để bảo đảm quyền và lợi ích của mình?48
Thứ hai, về chủ thể giao kết hợp đồng giao kết từ xa có thể xuất hiện của bên thứ
ba trong việc cung cấp thông tin về hàng hóa, dịch vụ tới NTD Theo Nghị định
19/2012/NĐ-CP ngày 16/03/2012 của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính trong
47 Điều 412 - Bộ luật dân sự 2005
48
Khoản 1 - Điều 21 - Luật giao dịch điện tử 2005 quy định:“Chữ ký điện tử được tạo lập dưới dạng từ, chữ, số, ký
hiệu, âm thanh hoặc các hình thức khác bằng phương tiện điện tử, gắn liền hoặc kết hợp một cách lô gíc với thông
điệp dữ liệu, có khả năng xác nhận người ký thông điệp dữ liệu và xác nhận sự chấp thuận của người đó đối với nội
dung thông điệp dữ liệu được ký”
Trang 31lĩnh vực bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng “Bên thứ ba là các tổ chức, cá nhân được tổ
chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ yêu cầu thực hiện việc cung cấp thông tin về
hàng hóa, dịch vụ, bao gồm: tổ chức, cá nhân kinh doanh thực hiện dịch vụ cung cấp
thông tin về hàng hóa, dịch vụ tới người tiêu dùng; tổ chức, cá nhân kinh doanh tham gia
vào việc xây dựng thông tin về hàng hóa, dịch vụ; chủ phương tiện truyền thông, nhà
cung cấp dịch vụ truyền thông; tổ chức, cá nhân khác được yêu cầu thực hiện việc cung
cấp thông tin”49 Như vậy, nếu như bên thứ ba này cung cấp không đúng, không đủ hoặc
không cung cấp thông tin liên quan đến hàng hóa, dịch vụ theo quy định thì phải gánh
chịu hậu quả pháp lý của việc làm đó mang lại
Thứ ba, khi ký kết hợp đồng giao kết từ xa các bên không phải trực tiếp gặp nhau
mà tất cả công việc giao kết hợp đồng đều thực hiện qua mạng hay gọi điện thoại trực
tiếp Nếu như đối với loại hợp đồng truyền thống, các bên phải trực tiếp gặp nhau hoặc
thông qua đường bưu điện để đi đến quyết định là có hay không có giao kết hợp đồng, thì
đối với việc ký kết hợp đồng giao kết từ xa thì phương thức đó không còn diễn ra Các
công việc như quảng cáo, chào hàng, đàm phán, rồi dẫn đến giao kết hợp đồng đều thực
hiện qua mạng hoặc gọi điện thoại trực tiếp Việc này sẽ không mất nhiều thời gian so
với giao kết hợp đồng truyền thống
Thứ tư, các vấn đề như quyền truy cập, cải chính thông tin điện tử, việc thanh toán
qua các phương tiện điện tử, đối với hợp đồng qua mạng hay thái độ qua giọng nói, sự
ân cần trong giao tiếp, đối với hợp đồng bằng cách gọi điện thoại trực tiếp cũng là
những điểm khác biệt cơ bản của loại hợp đồng giao kết từ xa so với hợp đồng truyền
thống Chẳng hạn, muốn giao kết được hợp đồng bằng phương thức gọi điện thoại trực
tiếp thì đòi hỏi thương nhân phải có thái độ giao tiếp bằng giọng nói một cách lịch sự, ân
cần, nhanh gọn, cuốn hút và dễ hiểu Thông qua đó, NTD sẽ quyết định có nên giao kết
hợp đồng hay không Thử làm một phép so sánh nhỏ, chẳng hạn, khi NTD gọi cho hai
doanh nghiệp A và B yêu cầu cung ứng một dịch vụ nào đó qua điện thoại: Nhân viên
của doanh nghiệp A giao tiếp rất lịch sự nhưng giá dịch vụ cao hơn doanh nghiệp B còn
nhân viên doanh nghiệp B nói chuyện không được lịch sự Thì, mặc dù, giá dịch vụ cao
nhưng đa phần NTD sẽ lựa chọn doanh nghiệp A để giao kết hợp đồng hơn là doanh
nghiệp B, bởi lẽ, chất lượng cuộc sống ngày càng được nâng cao, đôi khi NTD sẽ cần thái
độ phục vụ, giao tiếp hơn là phải giao dịch với một nơi có giá rẽ nhưng chất lượng phục
vụ cũng như thái độ trong giao tiếp không được xem trọng Do đó, việc giao kết hợp
49 Khoản 2 - Điều 3 - Nghị định 19/2012 (đã dẫn)
Trang 32đồng qua điện thoại thì nhất thiết các bên phải tỏ rõ thái độ là muốn giao kết hợp đồng
Điều này là vô cùng cần thiết để dẫn đến việc có giao kết được hợp đồng này hay không
Tóm lại, hợp đồng giao kết từ xa và hợp đồng thương mại truyền thống có những
điểm giống nhau và những điểm khác nhau nhất định Một điều không thể phủ nhận là
hợp đồng giao kết từ xa phát triển dựa trên hợp đồng truyền thống Nó không làm thay
đổi những nội dung cơ bản của hợp đồng truyền thống mà chỉ là hình thức kinh doanh
mới nhằm phù hợp hơn với xu hướng công nghệ thông tin hiện nay và nhằm mục đích là
làm sao để bảo vệ quyền lợi NTD tốt hơn khi NTD giao kết loại hợp đồng này
Trang 33CHƯƠNG 2 NHỮNG QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT HIỆN HÀNH VỀ BẢO VỆ
QUYỀN LỢI NGƯỜI TIÊU DÙNG TRONG HỢP ĐỒNG GIAO KẾT
TỪ XA
Luật bảo vệ quyền lợi NTD 2010 ra đời đã tạo được hành lang pháp lý an toàn để
bảo vệ những quyền lợi chính đáng của NTD mà không một tổ chức, cá nhân nào được
quyền xâm phạm Hiện nay, với các phương thức kinh doanh đa dạng như bán hàng tận
cửa, cung cấp dịch vụ, mua bán hàng hóa bằng việc giao kết từ xa mà tiêu biểu là qua
mạng internet (thông qua website bán hàng trực tuyến) hoặc bằng cách gọi điện thoại trực
tiếp,…đã và đang tạo được sự thuận lợi trong việc giao kết hợp đồng giữa cá nhân, tổ
chức kinh doanh với NTD Tuy nhiên, bên cạnh những mặt tích cực mà việc giao kết hợp
đồng qua internet, gọi điện thoại trực tiếp mang lại thì tất nhiên việc giao kết bằng các
phương thức này cũng có những hạn chế nhất định.50
Do đó, nhất thiết các bên phải biết được quy trình giao kết hợp đồng như thế nào, quyền lợi và nghĩa vụ của mình,…nhằm
tạo được sự thuận lợi cho các bên trong quá trình thực hiện hợp đồng Ngoài ra, cần thiết
các bên, đặc biệt là NTD phải biết được cơ chế pháp luật bảo vệ quyền lợi cho mình
2.1 NHỮNG NGUYÊN TẮC CƠ BẢN TRONG VIỆC BẢO VỆ QUYỀN LỢI
NGƯỜI TIÊU DÙNG
Nguyên tắc, có thể hiểu, là những quy định mang tính chất chỉ đạo, để thông qua
đó triển khai thành những quy định cụ thể cho một ngành, một lĩnh vực cụ thể nhằm
hướng tới một mục tiêu nào đó nhưng vẫn đảm bảo được tính pháp lý của Nhà nước, tính
thực tế của xã hội Khi xây dựng các quy định liên quan đến lĩnh vực bảo vệ quyền lợi
NTD thì Nhà nước ta cũng vẫn dựa trên những nguyên tắc không chỉ học hỏi thế giới mà
còn dựa vào những nguyên tắc của pháp luật Việt Nam Nhưng, để phù hợp với tình hình
thực tiễn của đất nước trong công cuộc hội nhập kinh tế quốc tế thì việc xây dựng pháp
luật bảo vệ quyền lợi NTD theo những nguyên tắc của thế giới mà tiêu biểu là những
nguyên tắc của Liên Hiệp Quốc về bảo vệ quyền lợi NTD là điều cần thiết nhằm chuẩn
hóa pháp luật Việt Nam theo pháp luật quốc tế nhưng không làm mất đi những chuẩn
mực, tình hình xã hội, chế độ mà Đảng, Nhà nước và cả xã hội đã và đang xây dựng
50 Xem Chương 1 từ trang 18 đến trang 23
Trang 342.1.1 Các nguyên tắc chung của Liên Hiệp Quốc về bảo vệ người tiêu dùng
Theo hướng dẫn của Liên Hiệp Quốc về bảo vệ NTD thì tùy vào điều kiện hoàn
cảnh kinh tế, xã hội và môi trường của nước mình, với các nhu cầu của người dân mà
Chính phủ mỗi quốc gia phải xây dựng các chế định về vấn đề bảo vệ NTD dựa trên
những nguyên tắc nhất định Theo đó, các nguyên tắc chung được liệt kê bao gồm: Bảo
vệ NTD tránh những mối nguy hại về sức khỏe và an toàn; Ủng hộ và bảo vệ các quyền
lợi kinh tế của NTD; Thông tin đầy đủ cho NTD để họ có thể lựa chọn sáng suốt theo
nguyện vọng và nhu cầu của cá nhân; Giáo dục NTD, bao gồm giáo dục về các tác động
về mặt kinh tế, xã hội và môi trường đối với sự lựa chọn của NTD; Thực hiện việc đền bù
một cách hữu hiệu cho NTD; Cho phép tự do thành lập các nhóm hay các tổ chức NTD
thích hợp và tạo điều kiện cho các tổ chức đó trình bày quan điểm của mình trong các quá
trình đưa ra quyết định ảnh hưởng đến họ; Thúc đẩy tiêu dùng bền vững.51
Như vậy, khi xây dựng các quy định pháp luật về bảo vệ quyền lợi NTD, thì mỗi
quốc gia sẽ xây dựng pháp luật của mình, sao cho, vừa phù hợp với các nguyên tắc của
Liên Hiệp Quốc, vừa phù hợp với tình hình thực tế ở quốc gia đó Do đó, Việt Nam cũng
không ngoại lệ.52
2.1.2 Những nguyên tắc về bảo vệ người tiêu dùng theo pháp luật Việt Nam
Các nguyên tắc như nguyên tắc tự do, tự nguyện cam kết, thỏa thuận; nguyên tắc
bình đẳng; nguyên tắc thiện chí, trung thực; nguyên tắc chịu trách nhiệm dân sự; nguyên
tắc tôn trọng, bảo vệ quyền dân sự; nguyên tắc tuân thủ pháp luật…đã được Bộ Luật dân
sự 2005 đề cập.53 Đây được xem là những nguyên tắc xuyên suốt trong các giao dịch dân
sự nói chung Từ đó, tùy vào từng ngành luật cụ thể mà việc vận dụng các nguyên tắc này
có thể không giống nhau Liên quan đến lĩnh vực bảo vệ quyền lợi NTD mà cụ thể là hợp
đồng giao kết từ xa được ký kết giữa NTD và tổ chức, cá nhân kinh doanh thì cần phải
xác định tư cách chủ thể của các bên để áp dụng luật cho phù hợp Bởi lẽ, nếu như bên tổ
chức, cá nhân đó không phải là thương nhân thì sẽ không thuộc sự điều chỉnh của Luật
51 Những nguyên tắc trên được quy định tại Mục II - Bản hướng dẫn của Liên Hiệp quốc về bảo vệ quyền lợi người
tiêu dùng năm 1999 (Bản dịch: TS Đinh Thị Mỹ Loan - Hỏi đáp về bảo vệ quyền lợi NTD - Cục quản lý cạnh tranh,
Bộ thương mại (nay là Bộ Công Thương) - Nhà xuất bản lao động _ xã hội năm 2007 - Trang 254, 255, 256)
52 Bản hướng dẫn này được gửi cho tất cả các thành viên của Liên Hiệp quốc để hoạch định chính sách và luật pháp
về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng Trong đó, Tổ chức quốc tế người tiêu dùng (CI) là một Liên Hiệp của các tổ
chức người tiêu dùng trên thế giới được Liên Hiệp Quốc giao chịu trách nhiệm về vấn đề bảo vệ quyền lợi NTD
Việt Nam là thành viên của tổ chức này vào ngày 15/03/1992
53 Xem Điều 4, Điều 5, Điều 6, Điều 7, Điều 9, Điều 11 - Bộ luật dân sự 2005
Trang 35thương mại hiện hành cho loại hợp đồng đó vì hợp đồng trên được giao kết giữa một bên
là NTD (không nhằm mục đích sinh lợi) chọn Luật thương mại để áp dụng thì bên còn lại
phải là thương nhân Vì vậy, giao dịch trên sẽ chịu sự điều chỉnh của pháp luật dân sự và
pháp luật có liên quan Do đó, nhất thiết các bên, cơ quan tài phán,…cần phải xác định rõ
khi giao kết hợp đồng các bên đã hoặc đang giao kết với chủ thể nào để nếu như có tranh
chấp phát sinh hay trong quá trình thực hiện hợp đồng sẽ không bị nhầm lẫn Ngược lại,
xác định sai thì nguyên tắc tuân thủ pháp luật đã bị vi phạm
Luật bảo vệ quyền lợi NTD 2010 đưa ra những nguyên tắc chung nhất định trong
việc bảo vệ những quyền lợi chính đáng của NTD.54
Bảo vệ quyền lợi NTD là trách nhiệm chung của Nhà nước và toàn xã hội Nhà
nước ta sẽ đóng vai trò ban hành ra những quy định của pháp luật dựa trên tình hình thực
tế của Việt Nam để cho tất cả mọi người phải tuân thủ Do đó, tất cả những chủ thể chịu
sự điều chỉnh của ngành luật bảo vệ quyền lợi NTD thì đều phải có trách nhiệm chấp
hành để những quy định đó thật sự phát huy hết tính hợp lý, tính khả thi của pháp luật Và
nếu như không tuân thủ thì tất nhiên sẽ phải gánh chịu những hậu quả pháp lý mang lại
Bên cạnh đó, việc chấp hành những quy định của pháp luật về bảo vệ quyền lợi NTD
không chỉ góp phần đưa pháp luật vào trong cuộc sống mà còn bảo vệ chính quyền lợi
của mình vì thực tế tất cả chúng ta đều là NTD
Quyền lợi của NTD được tôn trọng và bảo vệ theo quy định của pháp luật Đó là
nguyên tắc tiếp theo mà Luật bảo vệ quyền lợi NTD quy định NTD có quyền được tôn
trọng và bảo vệ những quyền lợi của mình dựa trên những quy định của pháp luật Do đó,
tất cả chủ thể có liên quan đến quyền lợi NTD đều phải có trách nhiệm tuân thủ những lợi
ích chính đáng của họ mà pháp luật bảo vệ và không có quyền xâm phạm những quyền
lợi mà đáng lẽ ra NTD được hưởng
Bảo vệ quyền lợi của NTD phải được thực hiện kịp thời, minh bạch, đúng pháp
luật Tính kịp thời thể hiện ở chỗ khi phát hiện hành vi xâm phạm quyền lợi NTD thì với
quyền năng được Nhà nước giao, cơ quan có thẩm quyền cần có những biện pháp cần
thiết nhằm ngăn chặn và xử lý kịp thời Bên cạnh đó, việc xử lý cần minh bạch công khai
và đúng với những quy định của pháp luật cho loại hành vi vi phạm đó
Hoạt động bảo vệ quyền lợi NTD không được xâm phạm đến lợi ích của Nhà
nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ và tổ
54 Điều 4 - Luật bảo vệ quyền lợi NTD 2010
Trang 36chức, cá nhân khác Một nguyên tắc không thể thiếu của pháp luật là tính công bằng
Quyền lợi chính đáng của NTD đã được pháp luật bảo vệ và buộc tất cả mọi chủ thể chịu
sự điều chỉnh phải tuân thủ thì tất nhiên việc bảo vệ đó phải không xâm phạm đến lợi ích
của các chủ thể khác Đây được xem là một nguyên tắc mang tính chủ đạo, xuyên suốt
không chỉ cho việc bảo vệ quyền lợi NTD mà cho hầu hết tất cả các ngành luật Bởi lẽ,
khi xây dựng pháp luật thì đều dựa trên lợi ích của các chủ thể liên quan nhưng đồng thời
không được xâm phạm đến lợi ích hợp pháp của các chủ thể khác
Ngoài ra, Luật thương mại 2005 cũng quy định nguyên tắc bảo vệ lợi ích chính
đáng của người tiêu dùng “Thương nhân thực hiện hoạt động thương mại có nghĩa vụ
thông tin đầy đủ, trung thực cho người tiêu dùng về hàng hoá và dịch vụ mà mình kinh
doanh và phải chịu trách nhiệm về tính chính xác của các thông tin đó; thương nhân thực
hiện hoạt động thương mại phải chịu trách nhiệm về chất lượng, tính hợp pháp của hàng
hoá, dịch vụ mà mình kinh doanh”55
Một nguyên tắc rất đáng lưu ý là nguyên tắc thừa nhận giá trị pháp lý của thông
điệp dữ liệu trong hoạt động thương mại.56 Nguyên tắc này là cần thiết trong việc mua
bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ hiện nay Nó làm cơ sở để triển khai và phát triển mô
hình thương mại điện tử đã và đang đem lại những lợi ích nhất định không chỉ cho NTD,
thương nhân mà cho cả nền kinh tế quốc gia Cùng với việc giao kết hợp đồng bằng cách
gọi điện thoại trực tiếp, đây được xem là hình thức kinh doanh mới trong giai đoạn hiện
nay Tuy nhiên, nhất thiết, NTD, thương nhân phải có kiến thức pháp luật cho việc giao
kết này để ít nhất có chiến lược phát triển kinh doanh cũng như tự bảo vệ quyền lợi của
mình được tốt hơn
Qua các nguyên tắc trên, thì từng ngành, lĩnh vực cụ thể mà pháp luật liên quan
đến nó sẽ xây dựng những cơ sở pháp lý quan trọng để điều chỉnh Trong lĩnh vực bảo vệ
quyền lợi NTD nhất là trong loại hình giao kết qua mạng hay gọi điện thoại để giao kết
hợp đồng giữa NTD với thương nhân, pháp luật Việt Nam hiện nay đã và đang tạo ra
khung pháp lý an toàn nhằm bảo vệ những quyền lợi chính đáng của NTD mà không một
chủ thể nào có quyền xâm phạm
55
Điều 14 - Luật thương mại 2005
56 Điều 15 - Luật thương mại 2005 quy định: “Trong hoạt động thương mại, các thông điệp dữ liệu đáp ứng các
điều kiện, tiêu chuẩn kỹ thuật theo quy định của pháp luật thì được thừa nhận có giá trị pháp lý tương đương văn
bản”
Trang 372.2 NHỮNG QUYỀN LỢI CƠ BẢN CỦA NGƯỜI TIÊU DÙNG
Quyền được thỏa mãn những nhu cầu cơ bản là quyền đầu tiên mà Liên Hiệp
Quốc đề cập Quyền này có thể hiểu là quyền có được những hàng hóa, dịch vụ, thiết yếu
phục vụ cho cuộc sống như ăn, ở, chăm sóc sức khỏe, học hành, đi lại,…những nhu cầu
về tinh thần với giá cả hợp lý và có thể chấp nhận được Những nhu cầu ấy nhất thiết ai
cũng phải có và không một tổ chức, cá nhân nào có quyền xâm phạm
Quyền được an toàn Quyền này là quyền của NTD được bảo vệ chống lại những
loại hàng hóa, dịch vụ, quá trình sản xuất có hại đến sức khỏe, đời sống, và quyền lợi
chính đáng của họ Quyền được an toàn không phải chỉ liên quan đến các sản phẩm, hàng
hóa an toàn mà còn liên quan đến các dịch vụ và quá trình sản xuất NTD cần không bị đe
dọa bởi những nguy cơ trong quá trình sản xuất cũng như không bị thiệt thòi trong quá
trình sử dụng hàng hóa, dịch vụ được cung cấp
Tổ chức, cá nhân nào cũng cần phải có những thông tin cần thiết liên quan đến
hàng hóa, dịch vụ mà mình đang sử dụng Chính vì lẽ đó, quyền được thông tin là một
trong những quyền đã được Liên Hiệp Quốc đề cập NTD có quyền được cung cấp những
thông tin cần thiết về sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ mà họ sử dụng để có thể tự quyết định
việc có sử dụng hay không trên cơ sở thông tin được cung cấp Việc không cung cấp
thông tin hoặc cung cấp thông tin không đầy đủ, thậm chí cung cấp thông tin sai lệch để
cố tình làm cho NTD nhầm lẫn trong việc lựa chọn hàng hóa, dịch vụ đều là vi phạm
quyền được thông tin của NTD Nội dung thông tin cho NTD có thể được thực hiện
thông qua việc ghi nhãn, qua các hướng dẫn sử dụng hay qua các giới thiệu quảng cáo
trên các phương tiện thông tin
Quyền được lựa chọn là quyền của NTD có toàn quyền, tự do quyết định dùng hay
không dùng sản phẩm, dịch vụ Các hành vi thông tin không trung thực, tạo ra sự khan
hiếm giả tạo để gò ép NTD, việc lựa chọn vị thế thống lĩnh hay độc quyền để khiến NTD
57 Tám quyền trên được quy định tại Mục III - Bản hướng dẫn của Liên Hiệp quốc về bảo vệ quyền lợi người tiêu
dùng năm 1999 (Bản dịch: TS Đinh Thị Mỹ Loan - Hỏi đáp về bảo vệ quyền lợi NTD - Cục quản lý cạnh tranh, Bộ
thương mại (nay là Bộ Công Thương) - Nhà xuất bản lao động _ xã hội năm 2007 - Từ trang 257 đến trang 267)
Trang 38bắt buộc sử dụng hàng hóa, dịch vụ của mình hoặc việc tham gia vào thỏa thuận hạn chế
cạnh tranh đều là hành vi vi phạm quyền được lựa chọn của NTD Và một cách đương
nhiên, tổ chức, cá nhân vi phạm phải chịu những chế tài nhất định cho việc xâm phạm
quyền được lựa chọn của NTD
Một quyền nữa cũng không kém phần quan trọng trong tám quyền của NTD mà
Liên Hiệp Quốc đề cập đó là quyền được lắng nghe còn gọi là quyền được đại diện hay
quyền được bày tỏ ý kiến của NTD Quyền này là quyền của NTD được bày tỏ ý kiến của
mình đối với các nhà sản xuất, kinh doanh về các loại hàng hóa, dịch vụ do họ cung ứng,
kể cả quan hệ thái độ giữa người bán và người mua cũng như bày tỏ ý kiến với Nhà nước,
với các cơ quan hoạch định chính sách pháp luật về các vấn đề liên quan đến họ NTD có
thể trực tiếp góp ý kiến hoặc thông qua đại diện của mình, thông qua các hội NTD các
cấp, do đó quyền này còn được gọi là quyền được đại diện Những hành vi không tôn
trọng, phớt lờ hoặc đàn áp NTD đều là vi phạm quyền được lắng nghe của NTD Tôn
trọng quyền được lắng nghe của NTD vừa là lợi ích, vừa là nghĩa vụ của nhà sản xuất
kinh doanh, vì thông qua ý kiến NTD, họ có thể cải tiến được hàng hóa, dịch vụ nhằm
giành được tín nhiệm của NTD, là điều kiện mấu chốt để doanh nghiệp phát triển
Bên cạnh các quyền trên thì quyền được bồi thường còn được gọi là quyền được
khiếu nại và bồi thường của NTD cũng được Liên Hiệp Quốc đề cập Khi gặp những thiệt
thòi, những điều không vừa ý trong quan hệ với các nhà sản xuất kinh doanh, NTD có
quyền được khiếu nại Khi những khiếu nại là chính xác và đúng đắn, NTD có quyền
được bồi thường Nhà sản xuất, kinh doanh phải bồi thường cho NTD nếu sản phẩm, dịch
vụ do họ cung ứng không đúng với nội dung đã giới thiệu, quảng cáo, giao kết hợp đồng
Các khiếu nại của NTD có thể được giải quyết bằng cách hòa giải giữa người cung ứng
và NTD hoặc thông qua các cơ quan quản lý Nhà nước liên quan hoặc trong trường hợp
không giải quyết được thì có thể thông qua tòa án Bồi thường thỏa đáng cho những
khiếu nại chính đáng của NTD sẽ nâng cao được tín nhiệm của doanh nghiệp, cải thiện
được hình ảnh của doanh nghiệp trong mắt NTD
Ngoài ra, quyền được giáo dục về tiêu dùng là điều kiện cần thiết để các quyền của
NTD được thực hiện Giáo dục về tiêu dùng, về các kiến thức và kỹ năng tiêu dùng sẽ
giúp cho NTD có hiểu biết về vị thế của mình trong xã hội, có khả năng tự bảo vệ mình,
bảo vệ các quyền của mình Việc giáo dục NTD có thể được thực hiện bằng nhiều hình
thức như cung cấp thông tin, kiến thức qua các ấn phẩm, báo chí, các hội thảo, hội nghị,
triển lãm…Nhiều nước đã đưa giáo dục về tiêu dùng vào các chương trình giáo dục ở các
Trang 39trường học Ở Việt Nam, hiện nay, Cục quản lý cạnh tranh đang phối hợp cùng các Bộ,
ngành có liên quan xây dựng chương trình giáo dục cho NTD, trong đó dự kiến đưa giáo
dục NTD vào các trường học
Quyền được sống trong môi trường lành mạnh là quyền cuối cùng trong tám
quyền của NTD mà Liên Hiệp Quốc đề cập Môi trường ở đây, có thể hiểu, bao gồm môi
trường vật chất và xã hội NTD có quyền được sống trong môi trường trong lành, không
bị ô nhiễm, tài nguyên và sinh quyển được bảo vệ, bảo đảm bền vững cho thế hệ hôm nay
và thế hệ mai sau NTD cũng được quyền sống trong môi trường xã hội lành mạnh, trong
đó họ được bảo đảm an toàn về vật chất và tinh thần, được sống hòa hợp và thân ái trong
cộng đồng, nhân phẩm được tôn trọng.58
2.2.2 Theo pháp luật Việt Nam hiện hành
Khi xây dựng những quyền cơ bản của NTD, Việt Nam cũng đa phần dựa trên tám
quyền cơ bản của NTD đã được cộng đồng thế giời thừa nhận Theo đó, Luật bảo vệ
quyền lợi NTD hiện hành nêu lên các quyền của NTD Thông qua đó, làm cơ sở để bảo
vệ quyền lợi NTD trước sự xâm phạm của thương nhân và các chủ thể khác khi giao kết
hợp đồng nói chung và qua internet hoặc gọi điện thoại nói riêng.59
“1 Được bảo đảm an toàn tính mạng, sức khoẻ, tài sản, quyền, lợi ích hợp pháp
khác khi tham gia giao dịch, sử dụng hàng hoá, dịch vụ do tổ chức, cá nhân kinh doanh
hàng hóa, dịch vụ cung cấp
2 Được cung cấp thông tin chính xác, đầy đủ về tổ chức, cá nhân kinh doanh
hàng hóa, dịch vụ; nội dung giao dịch hàng hóa, dịch vụ; nguồn gốc, xuất xứ hàng hoá;
được cung cấp hoá đơn, chứng từ, tài liệu liên quan đến giao dịch và thông tin cần thiết
khác về hàng hóa, dịch vụ mà người tiêu dùng đã mua, sử dụng
3 Lựa chọn hàng hoá, dịch vụ, tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hoá, dịch vụ
theo nhu cầu, điều kiện thực tế của mình; quyết định tham gia hoặc không tham gia giao
dịch và các nội dung thoả thuận khi tham gia giao dịch với tổ chức, cá nhân kinh doanh
hàng hóa, dịch vụ
4 Góp ý kiến với tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ về giá cả, chất
lượng hàng hoá, dịch vụ, phong cách phục vụ, phương thức giao dịch và nội dung khác
58 TS Đinh Thị Mỹ Loan - Hỏi đáp về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng - Cục quản lý cạnh tranh, Bộ thương mại
(nay là Bộ Công Thương) - Nhà xuất bản lao động _ xã hội năm 2007 - Từ trang 55 đến trang 60
59 Điều 8 - Luật bảo vệ quyền lợi NTD 2010
Trang 40liên quan đến giao dịch giữa người tiêu dùng và tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa,
dịch vụ
5 Tham gia xây dựng và thực thi chính sách, pháp luật về bảo vệ quyền lợi người
tiêu dùng
6 Yêu cầu bồi thường thiệt hại khi hàng hoá, dịch vụ không đúng tiêu chuẩn, quy
chuẩn kỹ thuật, chất lượng, số lượng, tính năng, công dụng, giá cả hoặc nội dung khác
mà tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ đã công bố, niêm yết, quảng cáo hoặc
cam kết
7 Khiếu nại, tố cáo, khởi kiện hoặc đề nghị tổ chức xã hội khởi kiện để bảo vệ
quyền lợi của mình theo quy định của Luật này và các quy định khác của pháp luật có
liên quan
8 Được tư vấn, hỗ trợ, hướng dẫn kiến thức về tiêu dùng hàng hóa, dịch vụ”
Như vậy, pháp luật về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng Việt Nam khi xây dựng
các quyền của người tiêu dùng phần lớn dựa trên các quyền do Liên Hiệp Quốc quy định
Điều này không những phù hợp với tình hình phát triển của đất nước mà còn phù hợp với
xu hướng phát triển chung của toàn thế giới Đồng thời, đấy là một minh chứng mạnh mẽ
của Nhà nước Việt Nam trong việc tham gia sân chơi chung, khi mà việc mở rộng thị
trường và kéo theo đó là các sản phẩm, dịch vụ ngoài nước đã và đang có xu hướng nhập
vào thị trường Việt Nam một cách mạnh mẽ Khi đó, chúng ta sẽ có một khung pháp lý
vững chắc về vấn đề bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng nhất là loại hình kinh doanh qua
mạng hay gọi điện thoại để giao kết hợp đồng trên lãnh thổ Việt Nam, đảm bảo lòng tin
của người tiêu dùng vào tổ chức, cá nhân kinh doanh nói riêng và Nhà nước Việt Nam
nói chung
2.3 HÌNH THỨC VÀ ĐIỀU KIỆN GIAO DỊCH CHUNG KHI KÝ KẾT HỢP
ĐỒNG GIAO KẾT TỪ XA
2.3.1 Hình thức của hợp đồng
Một hợp đồng được giao kết thì đương nhiên sẽ được thể hiện dưới một hình thức
nhất định Theo Bộ luật dân sự 2005 thì hình thức của hợp đồng có thể được giao kết
bằng lời nói, bằng văn bản hoặc bằng hành vi cụ thể.60 Giải pháp tương tự cũng được đề
cập trong Luật thương mại 2005 Theo đó, hợp đồng mua bán hàng hoá, dịch vụ được thể
hiện bằng lời nói, bằng văn bản hoặc được xác lập bằng hành vi cụ thể Đối với các loại
60 Khoản 1 - Điều 401 - Bộ luật dân sự 2005