1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

LUẬN văn LUẬT THƯƠNG mại bảo vệ NHÀ đầu tư TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN

57 247 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 57
Dung lượng 535,32 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nhưng những công trình nghiên cứu về thị trường chứng khoán Việt Nam gần đây lại không đáp ứng được nhu cầu đó, thậm chí có những công trình thật ra chỉ là sưu tầm những quy định của phá

Trang 1

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

NĂM 2008

BỘ MÔN LUẬT THƯƠNG MẠI

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP LUẬT

LỚP LUẬT THƯƠNG MẠI K30 (LK 0464A1)

Trang 2

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN

Trang 3

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN PHẢN BIỆN

Trang 4

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

MỤC LỤC

MỤC LỤC 1

PHẦN MỞ ĐẦU 5

1 Lý do chọn đề tài 5

2 Mục tiêu đề tài 6

3 Phương pháp thực hiện 7

4 Phạm vi đề tài 7

Chương 1 TỔNG QUAN VỀ ĐẦU TƯ CHỨNG KHOÁN VÀ SỰ CẦN THIẾT PHẢI BẢO VỆ NHÀ ĐẦU TƯ TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN 6

1.1 Khái niệm và đặc điểm của hoạt động đầu tư chứng khoán 9

1.1.1 Khái niệm đầu tư chứng khoán 9

1.1.2 Đặc điểm của đầu tư chứng khoán 10

1.2 Chủ thể đầu tư và vai trò của nhà đầu tư trên thị trường chứng khoán 14

1.2.1 Chủ thể đầu tư và đặc điểm của nhà đầu tư chứng khoán Việt Nam 14

1.2.2 Vai trò của nhà đầu tư trên thị trường chứng khoán 17

1.3 Sự cần thiết phải bảo vệ nhà đầu tư trên thị trường chứng khoán 19

Chương 2 BIỆN PHÁP BẢO VỆ NHÀ ĐẦU TƯ TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN 22

2.1 Biện pháp vĩ mô 22

2.1.1 Biện pháp kềm chế lạm phát 22

2.1.1 Biện pháp ổn định đầu tư 25

2.2 Biện pháp vi mô 26

2.2.1 Kiểm soát việc phát hành và chào bán chứng khoán ra công chúng 26

2.2.2 Kiểm soát thông tin trên thị trường chứng khoán 29

2.2.3 Kiểm soát đối với những chủ thể tham gia trên thị trường chứng khoán 42

2.2.4 Chế tài đối với hành vi vi phạm pháp luật về chứng khoán và thị trường chứng khoán 46

2.3 Thực trạng về vấn đề bảo vệ nhà đầu tư trên thị trường chứng khoán Việt Nam và một số đề xuất 47

2.3.1 Thực trạng về vấn đề bảo vệ nhà đầu tư chứng khoán trên thị trường chứng khoán Việt Nam 47

2.3.2 Một số đề xuất 50

KẾT LUẬN 53

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 55

Trang 5

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài.

Trong nền kinh tế thị trường, thị trường chứng khoán hình thành và phát triển như một tất yếu, khi nền kinh tế ấy đạt đến những tiêu chuẩn nhất định Tuy nhiên, mức độ phát triển cụ thể thị trường chứng khoán của từng quốc gia lại phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố, trong đó pháp luật giữ vai trò đặc biệt quan trọng Mức

độ phát triển kinh tế - xã hội, tính hoàn thiện, tính hiệu quả của hệ thống pháp luật

là một trong những nhân tố quyết định cho việc vận hành bình thường thị trường chứng khoán

Ở nước ta, từ khi chuyển đổi nền kinh tế từ cơ chế kế hoạch hoá tập trung sang cơ chế thị trường đã đặt ra yêu cầu phải hình thành và phát triển từng bước thị trường chứng khoán

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII của Đảng Cộng sản Việt Nam đã đề

ra yêu cầu chuẩn bị các điều kiện cần thiết để từng bước xây dựng thị trường chứng khoán phù hợp với điều kiện và định hướng phát triển kinh tế - xã hội của đất nước Theo đó pháp luật thị trường chứng khoán nước ta dần hình thành và đang đi vào cuộc sống Tuy nhiên, thị trường chứng khoán Việt Nam ngoài những đặc điểm chung của thị trường chứng khoán thế giới, còn mang những nét riêng do các điều kiện kinh tế - xã hội đặc thù của Việt Nam quy định Hơn nữa, do hình thành sau các thị trường chứng khoán khác và còn khá non trẻ nên việc nghiên cứu làm sáng tỏ bản chất, cơ cấu của thị trường chứng khoán Việt Nam để dựa trên cơ

sở đó thể chế hoá kịp thời và đầy đủ những yêu cầu đặt ra của thị trường chứng khoán có ý nghĩa rất quan trọng Pháp luật chứng khoán, thị trường chứng khoán bao hàm những nguyên tắc pháp lý cơ bản và hệ thống pháp luật thực định điều chỉnh hoạt động thị trường chứng khoán, nhằm mục đích bảo đảm sự vận hành và phát triển bền vững của toàn bộ thị trường cũng như cho từng chủ thể trên thị trường

Trên thị trường nói chung và thị trường chứng khoán nói riêng, vai trò của nhà đầu tư là rất quan trọng, họ thật sự là nhân tố có ý nghĩa quyết định đến sự tồn tại và phát triển bền vững của thị trường Tuy nhiên, ngoài những đặc điểm chung

Trang 6

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

của nhà đầu tư trên thị trường chứng khoán thế giới, nhà đầu tư trên thị trường chứng khoán Việt Nam còn có những đặc điểm đặc thù của mình: đa số là nhà đầu

tư nhỏ lẽ, ít vốn, kiến thức về thị trường chứng khoán còn hạn chế, lại chịu ảnh hưởng của yếu tố tâm lý trong hoạt đầu tư Họ không có khả năng để tự bảo vệ mình trước những biến động của thị trường Chính vì vậy, họ rất cần những biện pháp bảo vệ từ phía luật pháp Tuy nhiên, do còn đang trong quá trình hình thành

và hoàn thiện, pháp luật Việt Nam vẫn chưa thể bảo vệ nhà đầu tư một cách hữu hiệu, do đó, rất cần những công trình nghiên cứu để tìm ra những giải pháp tối ưu cho pháp luật Việt Nam về vấn đề này Nhưng những công trình nghiên cứu về thị trường chứng khoán Việt Nam gần đây lại không đáp ứng được nhu cầu đó, thậm chí có những công trình thật ra chỉ là sưu tầm những quy định của pháp luật rồi tập hợp lại và xuất bản ra thị trường, chỉ có rất ít công trình nghiên cứu một cách nghiêm túc và có sự đầu tư một cách thoả đáng về thị trường chứng khoán nói chung và biện pháp bảo vệ nhà đầu tư chứng khoán nói riêng

Chính vì vậy, nhiệm vụ nghiên cứu để tìm ra những luận cứ khoa học, những định hướng và giải pháp cho việc xây dựng và hoàn thiện pháp luật về bảo

vệ nhà đầu tư trên thị trường chứng khoán Việt Nam là đòi hỏi bức thiết cả về lý luận lẫn thực tiễn, tác giả chọn nghiên cứu đề tài “Bảo vệ nhà đầu tư trên thị trường chứng khoán” làm đối tượng nghiên cứu trong luận văn của mình với mong muốn tìm ra một giải pháp tích cực nhằm bảo vệ nhà đầu tư chứng khoán, chủ thể

có ý nghĩa quyết định đến sự tồn tại của thị trường; góp phần hoàn thiện pháp luật

về chứng khoán và thị trường chứng khoán Việt Nam, một thị trường còn non trẻ, đang trong quá trình hoàn thiện, lớn mạnh và hội nhập

2 Mục tiêu đề tài.

Đề tài “Bảo vệ nhà đầu tư trên thị trường chứng khoán” nhằm vào mục tiêu góp phần xây dựng cơ sở lý luận chung về pháp luật chứng khoán nói chung và pháp luật về đầu tư chứng khoán nói riêng, góp phần tích cực trong việc bảo vệ nhà đầu tư, góp phần giữ vững sự ổn định của thị trường, thông qua đó, tạo lực hút thu hút nguồn vốn nhàn rỗi trong nhân dân, làm cho thị trường chứng khoán trở thành một kênh huy động vốn trung và dài hạn hiệu quả, và lành mạnh

Trang 7

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

sự mất đi của chính những chế định này

Phương pháp phân tích luật viết.

Phương pháp này được tác giả sử dụng nhằm mục đích đi sâu vào từng chế định luật, tìm hiểu nội dung cũng như tính hữu hiệu của từng điều luật cụ thể

4 Phạm vi đề tài.

- Về thời gian: Thời gian thực hịên đề tài bắt đầu từ tháng 01 năm 2008 và kết thúc vào tháng 05 năm 2008

- Nguồn thông tin:

Thông tin phục vụ nghên cứu đề tài được lấy từ các nguồn chủ yếu sau:

1- Từ Interrnet

2 Các tài liệu chuyên khảo về chứng khoán và thị trường chứng khoán

3- Các tạp chí chuyên ngành

4- Thông tin thực từ những diễn biến của thị trường chứng khoán

- Về không gian: thị trường chứng khoán đang hoạt động tại Việt Nam

- Về nội dung: Pháp luật chứng khoán và thị trường chứng khoán là một phạm trù kinh tế rất rộng Trong phạm vi đề tài này, tác giả chỉ giới hạn phạm vi nghiên cứu trong các nội dung về bảo vệ nhà đầu tư chứng khoán trên sàn giao dịch chứng khoán chính thức theo pháp luật Việt Nam, bao gồm các nội dung sau:

1 Tổng quan về đầu tư chứng khoán và sự cần thiết phải bảo vệ nhà đầu tư chứng khoán

Trang 8

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

2 Những biện pháp pháp lý nhằm bảo vệ nhà đầu tư chứng khoán theo pháp luật Việt Nam

3 Thực tiễn và kiến nghị hoàn thiện

Do thị trường chứng khoán là một phạm trù kinh tế rất rộng và còn quá mới

ở Việt Nam, hơn nữa, khi nghiên cứu về thị trường chứng khoán đòi hỏi phải có một lượng kiến thức khá lớn về kinh tế học, liên quan đến phạm trù kinh tế - kỹ thuật, do đó, tác giả giới hạn phạm vi nghiên cứu của mình trong phạm trù mang tính pháp lý chứ không đi sâu phân tích về kỹ thuật đầu tư mang tính khoa học kinh tế

Tác giả chân thành cảm ơn Tiến sĩ Dư Ngọc Bích đã tận tình hướng dẫn để tác giả hoàn thành luận văn này

Do kiến thức và vốn hiểu biết về thị trường chứng khoán của tác giả còn hạn chế nên sẽ có những thiếu xót, kính mong quý thầy cô thông cảm và đóng góp ý kiến

SINH VIÊN THỰC HIỆN

TĂNG KHÁNH THOẠI

Trang 9

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

PHẦN NỘI DUNG

Chương 1 TỔNG QUAN VỀ ĐẦU TƯ CHỨNG KHOÁN VÀ SỰ CẦN THIẾT PHẢI BẢO VỆ NHÀ ĐẦU TƯ TRÊN THỊ

TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN

1.1 Khái niệm và đặc điểm của hoạt động đầu tư chứng khoán

1.1.1 Khái niệm đầu tư chứng khoán.

Pháp luật Việt Nam hiện hành không đưa ra khái niệm đầu tư chứng khoán Tuy nhiên, theo cách hiểu thông thường, khi nói đến đầu tư vào một loại hàng hoá nào đó, người ta hiểu rằng, đó chính là hoạt động mua hay bán loại hàng hoá đó trên thị trường tại một thời điểm nhất định nhằm mục đích thu được lợi nhuận do

có sự chênh lệch giữa giá mua và giá bán của chính loại hàng hoá đó Từ điển tiếng Việt 2005 của Nhà xuất bản Văn Hoá Sài Gòn định nghĩa “Đầu tư là làm cho nhân lực, tài lực phát huy sức mạnh tiềm ẩn của nó trong một hoạt động kinh doanh hoặc hoạt động phát triển công việc”(1) Còn từ điển Oxfort English Dictionary thì định nghĩa rằng: “Đầu tư là bỏ tiền (vốn) vào một hạng mục nhằm mục đích thu lợi”(2) Từ cách hiểu đó, có thể đưa ra khái niệm “Đầu tư chứng

khoán là hoạt động mua bán những công cụ của thị trường chứng khoán nhằm mục đích thu lợi”.

Cần lưu ý rằng, khái niệm “Đầu tư chứng khoán” không đồng nhất với khái niệm “Đầu cơ chứng khoán” Trên thị trường chứng khoán, nếu như hoạt động đầu

tư chứng khoán góp phần làm tăng doanh số giao dịch trên thị trường, tăng tính thanh khoản của chứng khoán, góp phần làm phát triển thị trường, cần được khuyến khích thì đầu cơ chứng khoán là hành vi tiêu cực giữa những nhà đầu tư cấu kết với nhau để mua hoặc bán chứng khoán với khối lượng lớn với mục đích

Trang 10

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

tạo ra nhu cầu giả tạo, làm cho giá giao dịch các loại chứng khoán tăng hay giảm một cách đột biến nhằm lũng đoạn thị trường, cần phải bị nghiêm cấm

1.1.2 Đặc điểm của đầu tư chứng khoán.

Chứng khoán là một loại hàng hoá đặc biệt, do đó, đầu tư chứng khoán cũng

có những đặc điểm riêng đặc thù

1.1.2.1 Tính vô hình.

Chứng khoán – công cụ chủ yếu trên thị trường chứng khoán, là một loại tài sản vô hình Chứng khoán chỉ là một loại “bằng chứng xác nhận quyền và lợi ích hợp pháp của người sở hữu đối với tài sản hoặc phần vốn của tổ chức phát hành”(3) Hình thức thể hiện của chứng khoán có thể là “chứng chỉ, bút toán ghi sổ hoặc dữ liệu điện tử”(4)

Về bản chất, có thể nói rằng, cũng giống như tiền tệ, chứng khoán chỉ là một loại giấy tờ có giá, giá trị của chứng khoán không phụ thuộc vào hình thức biểu hiện bên ngoài của nó Đối với những loại hàng hoá thông thường, người ta có thể cầm, nắm, khai thác công dụng của nó Còn đối với chứng khoán, bản thân nó chỉ

là bằng chứng xác nhận quyền của nhà đầu tư, giúp nhà đầu tư thực hiện quyền của mình Do là một chứng quyền nên khi tổ chức phát hành không có khả năng thanh toán thì nhà đầu tư cũng không thể khai thác được công dụng của chứng khoán nữa Nói tóm lại, chứng khoán chỉ có giá trị khi nó được vận hành một cách bình thường và tổ chức phát hành ra nó phải có khả năng thanh toán

Là một thị trường nhạy cảm, thị trường chứng khoán chứa đựng rất nhiều rủi ro, do dó, không phải lúc nào nhà đầu tư trên thị trường chứng khoán cũng đạt

3 Luật chứng khoán 2006, khoản 1 điều 6.

4 Khoản 1 điều 6 luật chứng khoán 2006.

Trang 11

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

được mục đích thu lợi như đã đề ra khi tham gia đầu tư, thậm chí, có khả năng sẽ

bị mất tất cả khi thị trường xảy ra sự cố Nói tóm lại, tính rủi ro không thể tách rời thị trường chứng khoán Rủi ro đầu tư chứng khoán bao gồm hai loại chính là rủi

ro vĩ mô và rủi ro vi mô

Khi tham gia đầu tư vào một hạng mục, nhà đầu tư có thể đạt được một lợi ích nhất định, bao gồm lợi ích danh nghĩa và lợi ích thực tế Trong hai loại lợi ích

đó, nhà đầu tư luôn hướng đến loại thứ hai: lợi ích thực tế Mức độ lạm phát chính

là biểu hiện khác nhau giữa hai loại lợi ích trên

Khi xảy ra lạm phát, đồng tiền mất giá, giá cả hàng hoá tỷ lệ nghịch với giá trị đồng tiền Do đó, lợi ích danh nghĩa mà nhà đầu tư thu được sẽ nhiều hơn, tuy nhiên, lợi ích đó không bù đắp được hệ số trược giá do lạm phát gây ra, cũng có nghĩa là, lợi ích thực tế nhà đầu tư thu được bằng không, thậm chí là con số âm

Hơn nữa, khi xảy ra lạm phát, nhà nước sẽ áp dụng chính sách tiền tệ thắt chặt, lãi suất ngân hàng sẽ tăng, và như vậy, chi phí cơ hội của chứng khoán càng tăng, giá chứng khoán càng giảm (do nhà đầu tư mất niềm tin vào chứng khoán, cung vượt cầu) nhà đầu tư càng phải gánh chịu nhiều tổn thất

 Rủi ro vi mô.

Nguyên nhân của rủi ro vi mô là do sự phát sinh của một sự kiện đặc biệt nào đó làm ảnh hưởng đến một hạng mục đầu tư nhất định Loại rủi ro này chỉ tácđộng và ảnh hưởng trong giới hạn các nhà đầu tư nhất định chứ không ảnh hưởng đến sự vận hành của thị trường

Giá cả chứng khoán chịu tác động bởi nhiều yếu tố, trong đó hai yếu tố quyết định là kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của tổ chức phát hành và thông tin trên thị trường

Trang 12

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của tổ chức phát hành không tốt, (thậm chí phá sản) thì khi đó chứng khoán của nhà đầu tư có thể không thanh toán được Mặc dù vậy, nhà đầu tư có thể dự đoán được và có khả năng tránh được rủi

ro này Tuy nhiên, là một thị trường nhạy cảm, giá cả các loại chứng khoán phụ thuộc rất nhiều vào yếu tố thông tin trên thị trường Một dự án được phê duyệt, một hợp đồng lớn được ký kết, một quyết định mua, bán một hạng mục… có thể nâng giá chứng khoán trên thị trường và ngược lại Loại thiệt hại do yếu tố thông tin mang lại này nhà đầu tư khó có khả năng dự đoán và phòng tránh Nhưng nhà đầu tư sẽ ít thiệt hại hơn nếu họ nắm vững kiến thức thị trường và có kế hoạch đầu

tư đúng đắn cũng như tuân theo những nguyên tắc đầu tư cơ bản trên thị trường chứng khoán Yếu tố thông tin cũng chính là yếu tố ảnh hưởng quyết định nhất đến quyết định đầu tư của nhà đầu tư Nếu tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh của

tổ chức phát hành tốt thì yếu tố thông tin là không đáng ngại đối với những nhà đầu tư am hiểu thị trường, nhưng sẽ là yếu tố gây tổn thất lớn cho những nhà đầu

tư không am hiểu lĩnh vực này

1.1.2.3 Tính sinh lợi.

Cũng như những loại hàng hoá thông thường khác, các loại chứng khoán tồn tại và lưu thông trên thị trường của mình- thị trường chứng khoán Chứng khoán bao gồm nhiều loại khác nhau, lợi ích khi nhà đầu tư đầu tư vào các loại chứng khoán khác nhau là không giống nhau, bên cạnh lợi nhuận chung là khoản chênh lệch giữa giá mua và giá bán, mỗi loại chứng khoán sẽ mang đến những lợi ích đặc thù của nó

Đối với các loại chứng khoán vốn, điển hình là các loại cổ phần, cổ phiếu, các loại chứng chỉ quỹ đầu tư…., khi bỏ vốn vào loại chứng khoán này, nhà đầu tư

sẽ trở thành người góp vốn cho tổ chức phát hành Nói cách khác, khi sở hữu loại chứng khoán vốn, nhà đầu tư trở thành người chủ sở hữu của doanh nghiệp Lợi nhuận của chứng khoán vốn mang đến cho nhà đầu tư bao gồm lợi tức cổ phần, lợi nhuận do sự gia tăng giá trị của cổ phiếu khi nhà đầu tư mua ở thị trường sơ cấp và bán lại tại thị trường thứ cấp Là chủ sở hữu của doanh nghiệp, nhà đầu tư phải gánh chịu mọi rủi ro trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp bên cạnh việc hưởng lợi từ doanh nghiệp Đối với loại cổ phiếu thông

Trang 13

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

thường, lợi tức cổ phần (hay còn gọi là cổ tức) luôn thay đổi Mức chia cổ tức phụ thuộc vào kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp

Đối với chứng khoán nợ, điển hình là các loại trái phiếu, là loại chứng khoán xác nhận quyền chủ nợ cho nhà đầu tư Có nghĩa là, khi bỏ vốn vào các loại chứng khoán nợ, nhà đầu tư trở thành chủ nợ của tổ chức phát hành Lợi nhuận mà chứng khoán nợ mang đến cho nhà đầu tư bao gồm lãi suất trái phiếu và sự chênh lệch giữa giá mua và giá bán chứng khoán trên thị trường Lãi suất trái phiếu là loại lãi suất cố định, nó được ấn định ngay từ khi phát hành So với chứng khoán vốn, chứng khoán nợ tương đối an toàn hơn Khi thanh toán, ngưới sở hữu chứng khoán nợ được ưu tiên thanh toán trước các cổ đông (người sở hữu cổ phần) của doanh nghiệp

Đối với các công cụ phái sinh, bao gồm các công cụ có nguồn gốc từ chứng khoán và có quan hệ chặc chẽ với chứng khoán được hình thành do nhu cầu giao dịch của thị trường Các công cụ phái sinh có thể là một trong các loại quyền của chứng khoán và cũng giống như các loại chứng khoán, tuỳ thuộc vào loại công cụ phái sinh (hay loại quyền) mà nhà đầu tư bỏ vốn vào, họ sẽ thu được những lợi ích tương ứng

Khi nói đến đầu tư chứng khoán, bên cạnh tính rủi ro, người ta không thể phủ nhận tính sinh lợi Chính vì tính sinh lợi đã thúc đẩy nhà đầu tư bất chấp rủi ro

để bỏ vốn vào chứng khoán

Khi bỏ vố đầu tư, nhà đầu tư luôn hướng đến tính sinh lợi và tìm mọi cách giảm thiểu rủi ro Tuy nhiên, tính sinh lợi và tính rủi ro của một loại chứng khoán luôn tỉ lệ thuận với nhau: Một chứng khoán càng có nhiều rủi ro thì lợi nhuận càng cao và ngược lại

Tính sinh lợi của hoạt động đầu tư chứng khoán giúp cho thị trường thu hút được nhà đầu tư; thúc đẩy việc góp vốn trực tiếp từ công chúng; là thuộc tính quan trọng và quyết định đến hiệu quả hoạt động của thị trường chứng khoán

Trang 14

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

1.2 Chủ thể đầu tư và vai trò của nhà đầu tư trên thị trường

chứng khoán.

1.2.1 Chủ thể đầu tư và đặc điểm của nhà đầu tư chứng khoán Việt Nam.

1.2.1.1 Chủ thể đầu tư chứng khoán theo pháp luật Việt Nam.

Chủ thể đầu tư trên thị trường chứng khoán là những người có tiền nhàn rỗi, họ

sử dụng tiền đầu tư trên thị trường chứng khoán bằng cách thực hiện việc mua và bán các chứng khoán đang lưu thông trên thị trường nhằm mục đích kiếm lời Như vậy, nhà đầu tư chứng khoán là những người thật sự mua và bán chứng khoán trên thị trường chứng khoán Việc mua bán này được tiến hành ở thị trường sơ cấp khi người mua mua được chứng khoán lần đầu từ những người phát hành, và ở những thị trường thứ cấp khi có sự mua đi bán lại các chứng khoán đã được phát hành ở thị trường sơ cấp

Mọi thành phần trong xã hội đều có thể trở thành chủ thể đầu tư chứng khoán, tuy nhiên, có thành phần chỉ thỉnh thoảng mới bỏ vốn vào thị trường chứng khoán; cũng có những thành phần, đầu tư chứng khoán là công việc thường xuyên của họ

Theo pháp luật Việt Nam, nhà đầu tư chứng khoán là “tổ chức, cá nhân Việt Nam và tổ chức, cá nhân nước ngoài tham gia đầu tư trên thị trường chứng khoán”(5) Theo quy định của pháp luật Việt Nam, nhà đầu tư được chia thành hai nhóm: nhà đầu tư là tổ chức và nhà đầu tư là cá nhân

Nhà đầu tư cá nhân chính là công chúng Công chúng là chủ thể có khả năng cung ứng một khối lượng tiền tệ rất lớn Từ nguồn thu nhập thường xuyên của mình, công chúng cần phải dành lại một phần dưới dạng tích luỹ nhằm đề phòng những rủi ro có thể xảy đến, để mua sắm hay để tiêu dùng…trong tương lai, tạo thành một nguồn vốn nhàn rỗi quan trọng Cùng với sự gia tăng GDP ở mỗi quốc gia, nguồn vốn do loại chủ thể này cung cấp ngày càng trở nên quan trọng và gia tăng Dân chúng khi có vốn nhàn rỗi tạm thời họ sẽ tham gia đầu tư mua chứng khoán với mục đích kiếm lời, khi có nhu cầu vốn, họ đem bán lại các loại chứng khoán đã mua trên thị trường thứ cấp

5 Khoản 10 điều 6 Luật Chứng khoán 2006

Trang 15

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Đối với nhà đầu tư chứng khoán là tổ chức, họ là những nhà đầu tư chuyên nghiệp Theo pháp luật Việt Nam, nhà đầu tư là tổ chức có thể là “ Ngân hàng thương mại, Công ty tài chính, Công ty cho thuê tài chính, Tổ chức kinh doanh Bảo hiểm, Tổ chức kinh doanh chứng khoán”(6)

Đối với nhà đầu tư là tổ chức, pháp luật quy định cho họ có những nghiệp

vụ được phép đầu tư, đối tượng được phép đầu tư cũng như phương thức đầu tư trên cơ sở vốn pháp định và phạm vi hoạt động kinh doanh ( Phạm vi đăng ký kinh doanh)

Khi đầu tư trên thị trường chứng khoán nhà đầu tư biết rõ mình đầu tư vào đâu, tức là biết rõ mình đưa tiền cho ai, người nào nhận vốn đầu tư của mình, tiền của mình được sử dụng vào việc gì và đặc biệt là nhà đầu tư có toàn quyền quyết định đầu tư hay không Điều này hoàn toàn khác khi bỏ vốn vào các định chế trung gian tài chính dưới hình thức ký thác, khi đó, người gửi tiền không biết đơn vị nhận ký thác (ngân hàng) sẽ cho đơn vị nào vay, sẽ đầu tư vào đơn vị nào, lĩnh vực nào Tuy nhiên, khi gửi tiền vào ngân hàng thì mức độ rủi ro thấp hơn khi đầu tư trực tiếp vào chứng khoán

1.2.1.2 Đặc điểm của nhà đầu tư chứng khoán Việt Nam.

 Phần lớn là nhà đầu tư cá thể nhỏ lẽ.

Sau hơn 7 năm đi vào hoạt động, thực tiễn thị trường cho thấy, đầu tư cá thể, nhỏ lẽ, kiến thức cũng như sự am hiểu về thị trường chứng khoán hạn chế và vốn ít là đặc điểm lớn nhất của nhà đầu tư chứng khoán Việt Nam

Là một nước có thu nhập bình quân đầu người GDP còn thấp, tích luỹ thặng

dư vốn không nhiều và phân bổ thu nhập giữa các bộ phận dân cư khác nhau không đồng đều, do đó, nguồn vốn mà nhà đầu tư dùng cho mục đích đầu tư chứng khoán rất hạn chế Hơn nữa, đồng tiền Việt Nam có giá thấp hơn so với một số ngoại tệ nên giá trị đầu tư cũng hết sức khiêm tốn, nếu so sánh với ngoại tệ

Thị trường chứng khoán Việt Nam là một thị trường còn non trẻ, người dân lại không có nhiều cơ hội tìm hiểu và nghiên cứu một cách thấu đáo cũng như

6 Khoản 11 điều 6 Luật Chứng khoán 2006

Trang 16

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

không có quá trình thể nghiệm việc đầu tư trên thị trường chứng khoán, những công trình nghiên cứu về thị trường chứng khoán cũng chỉ mới dừng lại ở mức lý luận và thực tiển thị trường chứng khoán ở nước ngoài hay những công trình nghiên cứu phục vụ nhu cầu chớp nhoáng của nhà đầu tư với mục đích tìm hiểu quy trình chơi chứng khoán mà thôi Do đó, nhà đầu tư không đủ sức đối phó với những biến động của thị trường, không có một kế hoạch đầu tư khoa học và cũng không tuân theo những nguyên tắc an toàn vốn, cũng như không biết cách phân tán rủi ro trong đầu tư chứng khoán

 Chịu sự tác động mạnh mẽ của yếu tố tâm lý

Vốn ít, đầu tư nhỏ lẽ, thiếu kinh nghiệm thực tiễn, không có sự hổ trợ từ phía các chuyên gia có kinh nghiệm đã trở thành một trong các đặc điểm lớn nhất của nhà đầu tư chứng khoán Việt Nam Từ đặc điểm này, như một hệ quả, phát sinh đặc điểm thứ hai của nhà đầu tư chứng khoán Việt Nam: chịu sự tác động mạnh mẽ của yếu tố tâm lý mà các chuyên gia gọi là “Hiệu ứng tâm lý bầy đàn” hay “tâm lý đám đông”(7).

Theo nguyên tắc đầu tư chứng khoán, để xác định giá trị của một loại cổ phiếu cũng như để đưa ra một quyết định đầu tư, nhà đầu tư cần phải xem xét kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của tổ chức phát hành cùng với những phương

án kinh doanh của doanh nghiệp đó trong tương lai bao gồm cả việc xem xét tính khả thi của dự án, xem xét nhu cầu của thị trường và thị phần của doanh nghiệp

Tuy nhiên, đa số nhà đầu tư chứng khoán Việt Nam không tuân theo nguyên tắc này, họ cứ nhìn vào giá giao dịch cổ phiếu cao của các tổ chức phát hành, họ luôn kỳ vọng rằng, hễ mua là có lời Sự kỳ vọng này đã làm cho họ quên cả việc xem xét đến lĩnh vực hoạt động kinh doanh của tổ chức phát hành đó Họ bỏ vốn vào khi thấy đám đông cũng rót vốn vào loại cổ phiếu đó và họ sẵn sàng bán ra tất

cả khi những người khác cũng bán mà không cần tìm hiểu nguyên nhân Các chuyên gia chứng khoán nước ngoài cho rằng, khi đầu tư, nhà đầu tư nên cân nhắc khả năng và mục đích đầu tư của mình để đưa ra quyết định đầu tư Cụ thể là xem xét xem vốn mình có là bao nhiêu, nếu rủi ro bị mất thì ảnh hưởng lớn hay nhỏ, từ

(7) Vũ Hưng, “Cổ phiếu dầu khí đang sốt giá”, Pháp luật số ra ngày 12/11/1007

Trang 17

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

đó đặt ra mục tiêu đầu tư Nếu nhà đầu tư có vốn ít, phải dành dụm trong một thời gian dài mới có thể tích luỹ được số vốn tương ứng thì nên chọn giải pháp an toàn vốn, đầu tư vào những ngành, lĩnh vực đã ổn định, chấp nhận lợi nhuận thấp nhưng

an toàn Ngược lại, nhà đầu tư có vốn nhiều, có thể chọn giải pháp đầu tư phân tán rủi ro, có thể chia vốn ra, mạo hiểm bỏ một phần vốn vào một hạng mục đầu tư nhằm mục đích thặng dư vốn nhưng mức độ an toàn thấp, phần vốn còn lại nên đầu tư vào những loại chứng khoán có độ an toàn cao nhưng lợi nhuận thấp hơn

Do không có kinh nghiệm, đầu tư cá thể nhỏ lẽ nên nhà đầu tư chứng khoán Việt Nam chịu sự tác động mạnh mẽ của các chuyên gia chứng khoán Biểu hiện

rõ nhất của đặc điểm này là vào khoản cuối năm 2007 đầu năm 2008, khi thị trường chứng khoán Việt Nam liên tục giảm giá, khi đó, các chuyên gia chứng khoán trấn an các nhà đầu tư rằng đó là thời điểm thích hợp để mua vào Rồi thị trường lại tiếp tục đi xuống, họ vẫn khuyên nhà đầu tư nên mua vào Vậy mà rất động nhà đầu tư đã làm theo và hệ quả là nợ ngân hàng quá hạn không trả được, nợ vay nóng cũng không có khả năng thanh toán, mang chứng khoán đi cầm cũng không nơi nào nhận do tính thanh khoản của chứng khoán khi thị trường đi xuống rất thấp

1.2.2 Vai trò của nhà đầu tư trên thị trường chứng khoán.

Sự hình thành và phát triển của thị trường chứng khoán có ý nghĩa rất quan trọng đối với nền kinh tế của một quốc gia Thị trường chứng khoán là kênh bổ sung cho các nguồn vốn trung và dài hạn cho doanh nghiệp và cho nhà nước

Trong tất cả các thị trường nói chung và thị trường chứng khoán nói riêng, nhà đầu tư có vai trò đặc biệt quan trọng Nếu không có nhà đầu tư thì thị trường không thể tồn tại và vận hành bình thường Vai trò của nhà đầu tư trên thị trường chứng khoán thể hiện ở các nội dung sau:

 Nhà đầu tư là nguồn cung cấp vốn lớn nhất trên thị trường, bảo đảm

sự vận hành và tồn tại của thị trường chứng khoán.

Thực tế cho thấy, một người dù có giàu đến mức nào cũng không thể sở hữu một khối lượng vốn lớn bằng khối lượng vốn của nhiều người hợp lại Trong một thời điểm nhất định, khi cần một số vốn lớn để mở rộng hoạt động sản xuất kinh

Trang 18

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

doanh, người ta phải tìm cách để huy động vốn nhằm đáp ứng nhu cầu đó(8) Và đi vay là phương thức huy động vốn hiệu quả nhất Phương thức vay truyền thống là vay tại ngân hàng.Tuy nhiên, ngân hàng cũng chính là chủ thể đi vay từ phía công chúng để cho doanh nghiệp vay lại Và suy cho cùng, người cho vay cũng lại là công chúng Do đó, công chúng vẫn là kênh huy động vốn chủ yếu Tuy nhiên, khi thông qua ngân hàng, một chỉnh thể tài chính trung gian, giữa người cho vay và người đi vay phải chịu một khoản phí tổn nhất định thể hiện bằng sự chênh lệch lãi suất giữa lãi suất cho vay là lãi suất tiền gửi tiết kiệm từ phía công chúng Do đó, công chúng không thể thu về giá trị thặng dư khi đầu tư còn doanh nghiệp thì phải trả lãi cho ngân hàng tương đối cao

Xuất phát từ những hạn chế của phương thức huy động vốn thông qua ngân hàng, doanh nghiệp tìm đến kênh huy động vốn trực tiếp từ phía công chúng- nhà đầu tư, thông qua thị trường chứng khoán

Suy cho cùng, dù vay trực tiếp từ thị trường chứng khoán hay vay gián tiếp thông qua ngân hàng thì người thật sự cho vay cũng chính là công chúng Do đó,

có thể nói công chúng là chủ thể quan trọng cung cấp vốn chủ yếu để thị trường vốn có thể tồn tại và phát triển, hổ trợ cho các doanh nghiệp và cho chính phủ Thông qua thị trường chứng khoán, số tiền nhàn rỗi trong công chúng sẽ được khơi thông và sinh lợi

 Nhà đầu tư là công cụ đánh giá và góp phần điều chỉnh hoạt động của

doanh nghiệp.

Đầu tư trên thị trường chứng khoán được xem hoạt động đầu tư trực tiếp (hiểu theo nghĩa nhà đầu tư trực tiếp đưa vốn cho người sử dụng vốn) Nếu nhà đầu tư bỏ tiền vào ngân hàng thì họ không biết được ngân hàng dùng tiền của mình

để đầu tư vào lĩnh vực nào? Cho doanh nghiệp nào vay? Còn đối với đầu tư trên thị trường chứng khoán, nhà đầu tư có quyền lựa chọn lĩnh vực đầu tư cũng như đối tượng và chủ thể để bỏ vốn vào Do có quyền lựa chọn nên nhà đầu tư luôn chọn những doanh nghiệp nào mà mình cho là có lợi nhất thông qua những thông tin về doanh nghiệp trong thực tế Do đó, nếu muốn thu hút được vốn của nhà đầu

8 TS Vương Quan Hoàng, 2007, Văn minh làm giàu và nguồn gốc của cải, NXB Chính trị quốc gia

Trang 19

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

tư, doanh nghiệp phải tự cải thiện mình, nâng cao năng lực cũng như kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh Nếu doanh nghiệp có kết quả sản xuất kinh doanh kém hoặc một kế hoạch sản xuất kinh doanh không khả thi thì sẽ không thu hút được vốn đầu tư Hơn nữa, khi phát hành chứng khoán ra công chúng, doanh nghiệp phải công khai các thông tin có liên quan mà pháp luật qui định, thông qua đó, tình hình của doanh nghiệp sẽ luôn được đánh giá liên tục, giúp cơ quan nhà nước có thể đánh giá một cách chính xác hơn về doanh nghiệp nói riêng và toàn bộ nền kinh tế nói chung

 Nhà đầu tư là yếu tố quyết định sự tồn tại của thị trường, tạo nên tính

thanh khoản cho các loại chứng khoán.

Không có nhà đầu tư thì không có thị trường Khi không có nhà đầu tư, hàng hoá sẽ không có người mua và cũng không có người bán Mà bản chất của một thị trường là phải có sự giao lưu giữa vốn và hàng hoá Do đó, nhà đầu tư chính là yếu

tố quyết định, không thể thiếu để đảm bảo sự tồn tại của thị trường

Một thuộc tính quan trọng của chứng khoán là tính thanh khoản Tính thanh khoản của một loại chứng khoán là khả năng chuyển nhượng chứng khoán đó sang tiền mặt một cách dễ dàng trong một khoản thời gian ngắn và không có rủi ro sụt giảm giá trị của chứng khoán đó(9) Nếu muốn chuyển nhượng chứng khoán thì cần phải có người mua Do đó, nhà đầu tư là một trong những nhân tố quan trọng nhất tạo nên tính thanh khoản của chứng khoán (Bên cạnh nhân tố sinh lợi và mức độ

an toàn của chứng khoán)

1.3 Sự cần thiết phải bảo vệ nhà đầu tư trên thị trường chứng

khoán.

Chính thức đi vào hoạt động từ năm 2000 (ngày 28/07/2000), thị trường chứng khoán Việt Nam đã đạt được những kết quả quan trọng, nhưng vẫn còn rất non trẻ, cần sự hợp sức của các thành viên mới thực sự trở thành kênh dẫn vốn dài hạn trong nền kinh tế Với nhà đầu tư, việc hiểu thị trường, hiểu và tận dụng quyền

9

Xem thêm Lê Văn Tư và Lê Tùng Vân, Hiểu và Sử dụng Thị trường Chứng khoán, Thống Kê, 1999.

Trang 20

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

lợi của mình trong hoạt động đầu tư chứng khoán là yếu tố đầu tiên để giảm rủi ro khi tham gia thị trường này Tuy nhiên, nhà đầu tư vẫn rất cần đến sự bảo vệ của pháp luật trước những rủi ro mà thị trường chứng khoán có thể mang lại cho họ

Cũng như thị trường chứng khoán Việt Nam, pháp luật về chứng khoán Việt Nam cũng ra đời muộn hơn rất nhiều so với các nước, nhà đầu tư Việt Nam mới chỉ bước đi những bước đầu tiên trong thị trường này Tuy vậy, vấn đề bảo vệ nhà đầu tư chứng khoán là vấn đề được quan tâm hàng đầu trong pháp luật chứng khoán Việt Nam, là một trong những nguyên tắc cơ bản được ghi nhận tại khoản 3 điều 4 Luật Chứng khoán 2006: “Bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của nhà đầu tư”

Sự cần thiết phải bảo vệ nhà đầu tư trên thị trường chứng khoán Việt Nam thể hiện

ở các nội dung sau:

 Thị trường chứng khoán là một thị trường thuộc thị trường tiền tệ Thị trường này có chức năng quan trọng là nơi cung cấp các nguồn vốn trung và dài hạn cho nền kinh tế, là kênh huy động vốn hiệu quả nhằm thu hút một khối lượng vốn nhàn rỗi khổng lồ từ công chúng, tạo điều kiện cho mọi thành phần dân cư có khả năng đầu tư sinh lợi, thông qua đó, giúp nền kinh tế của đất nước phát triển, nâng cao mức sống của người dân Để thị trường chứng khoán được tồn tại và thu hút được nhà đầu tư thì phải có những biện pháp tích cực giúp nhà đầu tư cảm thấy

an tâm khi bỏ vốn đầu tư Nếu nhà đầu tư không được bảo vệ, họ sẽ quay lưng lại với thị trường thì mục tiêu kinh tế - xã hội của thị trường chứng khoán không đạt được

 Thị trường chứng khoán là một thị trường nhạy cảm, tiềm ẩn rất nhiều rủi ro

so với những thị trường khác Nhà đầu tư trên thị trường chứng khoán Việt Nam phần lớn là nhà đầu tư cá thể, nhỏ lẽ, tiền mà họ đầu tư có nguồn gốc do tích luỷ từ lương, phụ cấp, trợ cấp mà họ dành cho mục đích tiết kiệm là chính Nếu nhà đầu

tư bỏ vốn của mình vào đầu tư chứng khoán mà không có được sự bảo vệ từ pháp luật, họ càng trở nên đơn độc, khi xảy ra rủi ro, họ sẽ mất tất cả và họ sẽ không được bất cứ sự bù đắp nào; để có được một khối lượng tiền như ban đầu họ sẽ phải tốn rất nhiều thời gian, thậm chí không thể tích luỹ lại được; hơn nữa, nếu vấn đề bảo vệ nhà đầu tư không tốt thì sẽ đẩy nhiều nhà đầu tư lâm vào cảnh vở nợ, làm cho một bộ phận dân cư trở nên nghèo khó, phát sinh những tiêu cực, làm cho

Trang 21

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

mục tiêu của xã hội chủ nghĩa không đạt được Theo cách nói khá đơn giản nhưng sâu sắc của Chủ tịch Hiệp hội kinh doanh chứng khoán Hoa Kỳ (NASD) Robert R.Glauber, “ quyền lợi của nhà đầu tư là quyền được bảo vệ” “Họ đặt những đồng tiền khó nhọc tích cóp vào thị trường chứng khoán để mong tìm kiếm lợi nhuận khi hưu trí, để mong mua được nhà hay có thể nuôi con cái ăn học; vậy thì

họ đáng được tham gia vào một hệ thống công bằng và tin cậy”(10)

Nói tóm lại, bảo vệ nhà đầu tư chính là bảo vệ thị trường, bảo đảm mục tiêu kinh tế - xã hội của nhà nước, đảm bảo sự phát triển lành mạnh của nền kinh tế, bảo đảm tính công bằng xã hội chủ nghĩa, góp phần thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh

10 Phát biểu của Chủ tịch Hiệp hội kinh doanh chứng khoán Hoa Kỳ (NASD) Robert R.Glauber tại hội thảo

“Đào tạo nhà đầu tư và phát triển thị trường chứng khoán Việt Nam”, do Trung tâm Doanh nghiệp tư nhân Quốc tế (CIPE) thuộc Phòng Thương mại Hoa Kỳ tổ chức ngày 3/7/2007 (Bản tin tài chính VTV1, ngày 06 tháng 02 năm 2008

Trang 22

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Chương 2 BIỆN PHÁP BẢO VỆ NHÀ ĐẦU TƯ TRÊN THỊ

TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN

2.1 Biện pháp vĩ mô.

Thị trường chứng khoán là một bộ phận của thị trường vốn do đó chịu sự tác động mạnh mẽ của các yếu tố vĩ mô như lạm phát, chính sách tiền tệ, chính sách đầu tư…

Mặt khác, khi bỏ vốn đầu tư vào chứng khoán, nhà đầu tư đã thực hiện một hạng mục đầu tư trực tiếp, mọi biến động của thị trường đều tác động ảnh hưởng trực tiếp đến nhà đầu tư Do đó, những biện pháp vĩ mô cần phải được thực thi nhằm ổn định thị trường, khuyến khích đầu tư, thông qua đó, bảo đảm sự an toàn

và lợi ích cho nhà đầu tư, khuyến khích nhà đầu tư tham gia vào thị trường chứng khoán

Biện pháp vĩ mô bao gồm:

2.1.1 Biện pháp kềm chế lạm phát.

Lạm phát là hiện tượng mất cân đối giữa lượng tiền lưu thông và lượng sản phẩm dịch vụ được cung ứng trên thị trường theo chiều hướng khối lượng tiền tệ lưu thông nhiều hơn khối lượng hàng hoá trên thị trường

Khi xảy ra lạm phát, đồng tiền rớt giá, giá cả hàng hoá tăng vọt, người ta phải dùng một lượng tiền nhiều hơn để trả cho cùng một đơn vị sản phẩm Công chúng, thay vì có thể dành một khoản tiền cho mục đích tiết kiệm hay đầu tư thì lại phải chi tiêu nhiều hơn cho sinh hoạt Khi đó, chi phí cho sản phẩm cũng tăng nhưng việc tiêu thụ lại khó (vì giá cả sinh hoạt trở nên đắt đỏ nên người dân hạn chế chi tiêu) làm cho sản xuất trì trệ

Đối với nhà đầu tư chứng khoán, như đã phân tích, lợi nhuận mà họ có thể

có bao gồm lợi nhuận danh nghĩa và lợi nhuận thực tê Lợi nhuận thực tế, cái mà nhà đầu tư quan tâm, lại chịu ảnh hưởng trực tiếp của lạm phát Chỉ số lạm phát cao đồng nghĩa với việc lợi nhuận thực tế nhà đầu tư thu được càng thấp, thậm chí

Trang 23

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

bằng không hay bằng một số âm Thực tiễn thị trường chứng khoán một số nước cho thấy, khi chỉ số lạm phát chỉ ở 0,25% thì nhà đầu tư đã bị thiệt hại

Chính vì vậy, nhà nước luôn luôn tìm cách hữu hiệu nhất nhằm kềm chế lạm phát Để làm được điều đó, nhà nước, thông qua ngân hàng trung ương, thực thi chính sách tiền tệ phù hợp với từng giai đoạn nhất định

Chính sách tiền tệ là một bộ phận của chính sách kinh tế- tài chính của đất nước nhằm ổn định giá trị đồng tiền, kềm chế lạm phát, thúc đẩy phát triển kinh

tế(11) Khi xảy ra lạm phát, nhà nước, thông qua ngân hàng trung ương sẽ thực thi chính sách tiền tệ thắt chặc nhằm giảm lượng tiền lưu thông, cân bằng khối lượng hàng hoá và tiền tệ trên thị trường Lạm phát tăng đồng nghĩa với việc ngân hàng phải tăng lãi suất huy động, do đó lãi suất cho vay cũng tăng theo Điều này sẽ gây khó khăn cho nhà sản xuất vì họ phải gánh chịu phần lãi suất gia tăng của ngân hàng Về nguyên lý nó sẽ tác động trực tiếp đến giá cổ phiếu đang niêm yết trên thị trường bởi khi đó nhà đầu tư phải cân nhắc xem liệu lợi nhuận mà họ thu được từ chứng khoán có bù đáp nổi sự trượt giá của đồng tiền hay không và có đủ sức trả lãi cho ngân hàng hay không Hơn nữa, tỷ lệ lạm phát tăng đồng nghĩa với lợi nhuận của doanh nghiệp giảm xuống do doanh nghiệp phải bỏ thêm vốn đầu tư vào để sản xuất kinh doanh mà việc tiêu thụ lại khó khăn hơn Chính vì vậy, tính thanh khoản của chứng khoán sẽ giảm, nhà đầu tư nào đang nắm giữ chứng khoán

sẽ có nguy cơ bị thiệt hại do phải gánh chịu lãi suất ngân hàng cao, sự mất giá của đồng tiền, sự rớt giá của chứng khoán…Đồng thời, khi xảy ra lạm phát, nhiều nhà đầu tư chứng khoán sẽ bán tháo chứng khoán ra, tạo nên mất cân đối cung và cầu, càng làm cho các loại chứng khoán càng bị giảm giá Một loạt những yếu tố trên đều gây ra tổn thất cho nhà đầu tư, làm cho thị trường vận hành không bình thường Chính vì vậy, để bảo đảm an toàn cho nhà đầu tư, làm cho thị trường chứng khoán thực sự trở thành kênh huy động vốn trung và dài hạn có hiệu quả, huy động được nguồn vốn nhàn rỗi trong công chúng, ở tầm vĩ mô, nhà nước thực thi chính sách kiểm soát nguồn tiền đầu tư vào chứng khoán Tuy nhiên, việc kiểm soát nguồn tiền chảy vào thị trường chứng khoán cũng phải được thực hiện một

11 Điều 2 Luật Ngân hàng nhà nước Việt Nam 1997 (Sửa đổi bổ sung năm 2003)

Trang 24

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

cách hết sức thận trọng, nếu không, mục tiêu kinh tế xã hội đề ra sẽ không đạt được

Việc kiểm soát dòng vốn tín dụng là thật sự cần thiết, nó góp phần hạn chế việc nhà đầu tư quá mạo hiểm, vay ngân hàng một khối lượng tiền tệ quá lớn cho đầu tư chứng khoán Nguyên tắc chung nhằm bảo đảm an toàn khi đầu tư chứng khoán là đầu tư bằng nguồn tiền tiết kiệm nhàn rỗi chứ không phải là vay tiền để đầu tư Thực tế cho thấy, việc kiếm soát luồng vốn của ngân hàng chảy sang thị trường chứng khoán là cần thiết, vì ngay cả một số nước có thị trường chứng khoán phát triển như Mỹ hay Nhật Bản cũng thực hiện việc này Hơn nữa, không chỉ cần kiểm soát dòng vốn tín dụng chảy sang chứng khoán, mà còn cần kiểm soát cả kênh cho vay bất động sản Tuy nhiên, mức độ kiểm soát và phương thức triển khai như thế nào cho phù hợp còn tùy thuộc vào diễn biến cụ thể của từng thị trường và cần có thời gian để thẩm định Tại Việt Nam, Ngân hàng Nhà nước đóng vai trò là cơ quan thực thi chính sách tiền tệ quốc gia, điều hành chính sách tiền tệ linh hoạt nhằm ổn định lãi suất và tỷ giá, kiểm soát lạm phát và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế

Tiếp tục thực hiện chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ tại Hội nghị triển khai nhiệm vụ ngân hàng năm 2007 và tăng cường quản lý, giám sát các hoạt động về chứng khoán(12); Thống đốc Ngân hàng Nhà nước ra chỉ thị số 03/2007/CT –NHNN yêu cầu các tổ chức tín dụng và các đơn vị thuộc Ngân hàng Nhà nước thực hiện các giải pháp kiểm soát quy mô, chất lượng tín dụng và cho vay để đầu

tư, kinh doanh chứng khoán “Khống chế dư nợ vốn cho vay, chiết khấu giấy tờ có giá để đầu tư, kinh doanh chứng khoán ở mức dưới 3% tổng dư nợ tín dụng của tổ chức tín dụng Dư nợ vốn cho vay, chiết khấu giấy tờ có giá để đầu tư, kinh doanh chứng khoán bao gồm: Cho vay, chiết khấu giấy tờ có giá đối với các công ty chứng khoán; Cho vay cầm cố bằng chứng khoán và/hoặc bảo đảm bằng tài sản khác để đầu tư, kinh doanh chứng khoán đối với các tổ chức khác và cá nhân; Chiết khấu giấy tờ có giá đối với tổ chức và cá nhân để đầu tư, kinh doanh chứng khoán”13

12 Thông báo số 17/TB-VPCP ngày 26 tháng 1 năm 2007, Thông báo số 20/TB-VPCP ngày 29 tháng 1 năm

2007 của Văn phòng Chính phủ

13 Điểm 1.3a mục 1 chỉ thị 03/2007/CT-NHNN

Trang 25

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Chỉ thị này đã góp phần kiểm soát được dòng vốn chảy vào thị trường chứng khoán, hạn chế việc nhà đầu tư mạo hiểm vay tiền để đầu tư chứng khoán một cách ồ ạc Tuy nhiên, sau một thời gian thực thi lại gặp một số vấn đề bất cập như nhà đầu tư đã vay tiền mua chứng khoán vào trước khi chỉ thị này có hiệu lực, khi chỉ thị này có hiệu lực đã làm cho những nhà đầu tư này không thể bán lại số chứng khoán mình đang giữ; còn những nhà đầu tư khác thì lại không có vốn và không thể vay vốn đầu tư chứng khoán nên càng làm cho thị trường đi xuống, người nắm giữ chứng khoán phải chịu thiệt hại ngày một nặng nề

Thực tế cho thấy rằng, chỉ thị 03 được đưa ra một cách quá nóng vội với mục đích hạ nhiệt thị trường chứng khoán Việt Nam vốn nóng lên từng ngày ở tầm

vĩ mô là kiểm soát lạm phát; nhưng vấn đề bảo vệ nhà đầu tư chưa được quan tâm đến Do đó, nhà nước nên có những chính sách phù hợp hơn nhằm cũng cố thị trường, đồng thời, bảo vệ nhà đầu tư trước nguy cơ phá sản

2.1.1 Biện pháp ổn định đầu tư.

Một chính sách đầu tư ổn định sẽ góp phần tạo tâm lý yên tâm cho nhà đầu

tư, thu hút được nguồn vốn đầu tư trong và ngoài nước sự ổn định của một chính sách đầu tư thể hiện ở hai mặt: Sự ổn định của pháp luật và sự bình đẳng trong đầu tư

Sự ổn định của pháp luật thể hiện ở tầm vĩ mô đó là sự bảo đảm một đạo luật được thực thi trong một giai đoạn đủ dài, không có sự thay đổi cơ bản nào làm thay đổi những nội dung chính yếu, chủ đạo của đạo luật đó trong thời gian ngắn

Chính sách đầu tư có tác động rất lớn đến thị trường chứng khoán Biểu hiện

là sự khuyến khích hay hạn chế đầu tư ở một lĩnh vực nào đó sẽ làm cho nhà đầu

tư có những quyết định khác nhau Khi tham gia thị trường chứng khoán, nhà đầu

tư luôn hướng đến lợi ích thu được từ những hạn mục đầu tư; nếu đầu tư vào ngành, lĩnh vực nhà nước khuyến khích đầu tư thì mức độ an toàn và lợi nhuận sẽ cao hơn Do đó, nếu chính sách đầu tư không ổn định sẽ gây tâm lý hoang mang cho nhà đầu tư, họ có thể có những quyết định sai lầm trong việc mua hay bán chứng khoán và dẫn đến bị thiệt hại

Trang 26

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Trong giai đoạn trước đây, chính sách đầu tư của Việt Nam chưa ổn định, còn có sự phân biệt đối xử giữa nhà đầu tư trong nước và nhà đầu tư nước ngoài, thể hiện bằng việc thực thi song song “Luật đầu tư nước ngoài” và “Luật khuyến khích đầu tư trong nước” nên làm cho quyền lợi của những nhà đầu tư không bình đẵng, chưa thật sự tạo ra tâm lý an tâm cho nhà đầu tư

Do đó, Việt Nam đã thực thi thống nhất “Luật đầu tư nước ngoài” và “Luật khuyến khích đầu tư trong nước” thành một luật đầu tư duy nhất là Luật đầu tư được ban hành năm 2005 đã thật sự làm cho nhà đầu tư có thể yên tâm Mặt khác, tạo điều kiện cho các nhà đầu tư, không phân biệt trong hay ngoài nước đều được bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của minh nên góp phần thúc đẩy đầu tư, khơi thông nguồn vốn đầu tư, góp phần tích cực trong việc huy động vốn nhàn rỗi trong nhân dân

Khi doanh nghiệp đã hoạt động ổn định thì nhà đầu tư chứng khoán, người cho doanh nghiệp vay hay người chủ doanh nghiệp cũng không sợ doanh nghiệp mất khả năng thanh toán do phá sản

2.2 Biện pháp vi mô

Nếu như biện pháp vĩ mô tác động đến toàn bộ nền kinh tế nói chung và toàn bộ thị trường chứng khoán nói riêng thì biện pháp vi mô chỉ tác động đến một ngành, một lĩnh vực hay một chủ thể nhất định Những biện pháp này mang tính kiểm soát và quản lý nhà nước đối với từng đối tượng trên thị trường chứng khoán Qua đó, đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của nhà đầu tư, tạo nên hành lang pháp lý bảo vệ nhà đầu tư

2.2.1 Kiểm soát việc phát hành và chào bán chứng khoán ra công chúng

Để phát hành và chào bán chứng khoán ra công chúng, tổ chức phát hành phải thực hiện việc đăng ký với cơ quan nhà nước có thẩm quyền và phải thoả những điều kiên do pháp luật quy định thì mới được phép phát hành chứng khoán

ra công chúng

2.2.1.1 Đăng ký chào bán chứng khoán ra công chúng.

Trang 27

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Pháp luật chứng khoán Việt Nam quy định, việc “ Tổ chức phát hành thực hiện chào bán chứng khoán ra công chúng phải đăng ký với Uỷ ban Chứng khoán Nhà nước”(14), trừ những trường hợp khác do pháp luật quy định

Mục đích chung nhất của việc đăng ký chào bán chứng khoán ra công chúng

là nhằm tạo hành lang pháp lý cho việc bảo vệ nhà đầu tư và bảo đảm duy trì sự hoạt động của thị trường Cụ thể:

Việc đăng ký chào bán chứng khoán đảm bảo chất lượng của chứng khoán bán qua Sở Giao dịch chứng khoán Như đã phân tích, việc đăng ký chào bán chứng khoán tạo nên tính hợp pháp của chứng khoán đó, nó bảo đảm rằng, đó là chứng khoán thật, đã được nhà nước công nhận Một chứng khoán có chất lượng phải đảm bảo được hai yếu tố: Tính hợp pháp và tính thanh khoản Trong đó, tính hợp pháp là yếu tố quyết định đến tính thanh khoản của chứng khoán Không thể

có tính thanh khoản cao đối với loại chứng khoán được phát hành bất hợp pháp, không được sự thừa nhận của nhà nước Sở Giao dịch chứng khoán chỉ chọn lựa và cho phép các tổ chức phát hành có đủ điều kiện tối thiểu do sở đặt ra mới được phát hành và chào bán chứng khoán qua thị trường giao dịch chính thức Việc giao dịch trên sàn giao dịch chính thức sẽ làm tăng thêm uy tín và thị giá của chứng khoán do tổ chức đó phát hành

Việc đăng ký còn nhằm mục đích thiết lập mối quan hệ hợp đồng giữa Sở Giao dịch và công ty đăng ký phát hành chứng khoán về những nghĩa vụ cung cấp thông tin liên quan đến tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty và việc lưu hành chứng khoán của công ty đó trên thị trường Đây là yếu tố quan trọng nhất nhằm bảo vệ nhà đầu tư, giúp nhà đầu tư có được sự quyết định đúng đắn trong việc mua hay bán chứng khoán Việc cung cấp thông tin đến công chúng không chỉ diễn ra trong thời gian chào bán mà kéo dài trong suốt khoản thời gian

mà chứng khoán đó lưu hành trên thị trường

Nhằm tạo ra sự an toàn của thị trường chứng khoán, pháp luật Việt Nam quy định một trong những nguyên tắc chủ đạo của việc tổ chức và hoạt động trên thị trường chứng khoán là nguyên tắc “công khai, minh bạch”(15) Đăng ký chứng

14 Khoản 1 Điều 13 Luật Chứng khoán 2006

15 Khoản 2 Điều 4 Luật Chứng khoán 2006.

Trang 28

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

khoán chính là đáp ứng nguyên tắc này Nó đảm bảo tính trung thực và an toàn cho thị trường chứng khoán Nguyên tắc công khai minh bạch chính là nguyên tắc quan trọng nhất để thị trường phát triển lành mạnh và bền vững

2.2.1.2 Điều kiện chào bán chứng khoán ra công chúng.

Tổ chức phát hành muốn chào bán chứng khoán ra công chúng thì phải đáp ứng những điều kiện do pháp luật đặt ra Đối với việc chào bán những loại chứng khoán khác nhau thì pháp luật đòi hỏi những điều kiện khác nhau Nhìn chung, để chào bán chứng khoán ra công chúng, tổ chức phát hành phải đáp ứng được các tiêu chuẩn nhất định Tiêu chuẩn này phụ thuộc vào trình độ phát triển của thị trường ở từng thời điểm cụ thể

 Tiêu chuẩn về quy mô vốn

Tổ chức phát hành phải đáp ứng yêu cầu về vốn điều lệ tối thiểu ban đầu do nhà nước quy định Theo pháp luật Việt Nam hiện hành, để phát hành chứng khoán ra công chúng, không phân biệt là cổ phiếu hay trái phiếu, doanh nghiệp phải “có mức vốn điều lệ đã góp tại thời điểm đăng ký chào bán từ mười tỷ đồng Việt Nam trở lên tính theo giá trị ghi trên sổ kế toán”16

Trong một tổ chức kinh tế, vốn là yếu tố quan trọng hàng đầu, nó thể hiện quy mô của tổ chức và là sự chứng minh năng lực tài chính của tổ chức đó Trong

đó vốn góp ban đầu thành viên là ngồn vốn cơ bản và quan trọng nhất, có ý nghĩa quyết định đến sự hình thành nên công ty, đồng thời, vốn điều lệ là yếu tố quan trọng nhất chứng minh cho tình trạng tài chính của công ty Quy định điều kiện về vốn đối với tổ chức phát hành nhằm mục đích tránh tình trạng lạm dụng việc huy động vốn theo phương thức phát hành chứng khoán, tránh tình trạng doanh nghiệp không có khả năng tài chính mà lại huy động vốn theo phương thức phát hành chứng khoán, không bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp cũng như sự an toàn cho nhà đầu tư, những người mua chứng khoán của doanh nghiệp phát hành

 Tiêu chuẩn về sự ổn định trong hoạt động của tổ chức phát hành

16 Xem đi ều 12 kho ản 1 v à 2 Luật Chứng khoán 2006.

Ngày đăng: 05/04/2018, 23:27

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
12- Thông tư số 97/2007/TT-BTC ngày 08/08/2007 hướng dẫn thi hành một số điều của Nghị định số36/2007/NĐ-CP của Chính phủ ngày 08/03/2007. Về Xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực chứng khoán và thị trường chứng khoán Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư số 97/2007/TT-BTC
Năm: 2007
3. Phan Minh, (2004), Tiếp cận thị trường và kinh doanh chứng khoán, NXB Tài Chính Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiếp cận thị trường và kinh doanh chứng khoán
Tác giả: Phan Minh
Nhà XB: NXB Tài Chính
Năm: 2004
5. Hà Hưng Quốc,(2003) “Cổ phiếu và thị trường chứng khoán”, Thống kê, Thành Phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cổ phiếu và thị trường chứng khoán
6. Kenneth A. Stern, (2000), “ Bí quyết kinh doanh chứng khoán”, Trẻ, Thành Phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bí quyết kinh doanh chứng khoán
Tác giả: Kenneth A. Stern
Nhà XB: Trẻ
Năm: 2000
8. Phạm Thị Giang Thu ( 2004) “Một số vấn đề về pháp luật Chứng khoán và thị trường chứng khoán ở Việt Nam”, Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề về pháp luật Chứng khoán và thị trường chứng khoán ở Việt Nam
Tác giả: Phạm Thị Giang Thu
Nhà XB: Chính trị quốc gia
Năm: 2004
9. Lê Văn Tư và Lê Tùng Vân, (1999), Hiểu và Sử dụng Thị trường Chứng khoán, NXB Thống Kê.Báo - Tạp chí Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hiểu và Sử dụng Thị trường Chứng khoán
Tác giả: Lê Văn Tư, Lê Tùng Vân
Nhà XB: NXB Thống Kê
Năm: 1999
13- Thông tư 57/2004/TT –BTC của Bộ Tài chính ngày 17/06/2004. Hướng dẫn về việc công bố thông tin trên thị trường chứng khoán Khác
14- Thông báo số 17/TB-VPCP ngày 26 tháng 1 năm 2007, Thông báo số 20/TB-VPCP ngày 29 tháng 1 năm 2007 của Văn phòng Chính phủ.Tài liệu chuyên khảo Khác
1. Trường Đại học Luật Hà Nội, (2006), Giáo trình Luật Ngân Hàng, NXB Công An Nhân dân Khác
2. TS Vương Quan Hoàng, 2007, Văn minh làm giàu và nguồn gốc của cải, NXB Chính trị quốc gia Khác
4. Nguyễn Kim Thán, Hồ Hải Thuỵ, Nguyễn Đức Dương, (2005), Từ điển tiếng Việt, NXB Văn Hoá Sài Gòn Khác
7. Christine Stopp, (2000), Hướng dẫn đầu tư vào thị trường chứng khoán, Trẻ, TP Hồ Chí Minh Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w