1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

LUẬN văn LUẬT THƯƠNG mại bảo hộ tên địa DANH THEO LUẬT sở hữu TRI ́ TUÊ ̣ VIÊ ̣ t NAM

84 223 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 84
Dung lượng 906,53 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

nó thuộc quốc gia nào, có những đặc điểm gì nổi bật hoặc có những đặc sản được nhiều nước trên thế giới biết đến như núi Phú Sĩ ở Nhật Bản quanh năm tuyết bao phủ tạo nên một vẻ đẹp hùng

Trang 1

Sinh viên thực hiện:

Lê Thúy Liễu MSSV: 5085812

Lớp Thương mại 1-K34

Cần Thơ, 05/2012

Giáo viên hướng dẫn:

Th.s Nguyễn Phan Khôi

Trang 2

MỤC LỤC

LỜI MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG I NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ BẢO HỘ TÊN ĐỊA DANH THEO QUY ĐỊNH QUYỀN SỞ HỮU CÔNG NGHIỆP 5

1.1 Khái quát chung về quyền Sở hữu công nghiệp 5

1.1.1 Khái niệm quyền sở hữu công nghiệp 9

1.1.2 Đối tượng quyền sở hữu công nghiệp theo pháp luật Việt Nam 10

1.2 Khái quát chung về bảo hộ tên địa danh trong sở hữu công nghiệp 17

1.2.1 Khái niệm tên địa danh 17

1.2.2 Trên Thế giới 18

1.2.3 Tại Việt Nam 20

1.3 Ý nghĩa của việc bảo hộ tên địa danh trong SHCN 21

CHƯƠNG II BẢO HỘ TÊN ĐỊA DANH TRONG SỞ HỮU CÔNG NGHIỆP THEO QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VIỆT NAM 24

2.1 Điều kiện bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với các đối tượng có thể bảo hộ dưới góc độ tên địa danh 24

2.1.1 Chỉ dẫn địa lý 24

2.1.2 Nhãn hiệu 29

2.1.3 Tên thương mại 39

2.2 Xác lập quyền Sở hữu công nghiệp đối với chỉ dẫn địa lý, nhãn hiệu và tên thương mại 43

2.2.1 Xác lập quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu và chỉ dẫn địa lý 44 2.2.2 Xác lập quyền sở hữu công nghiệp đối với tên thương mại 45

2.3 Nội dung quyền SHCN đối với chỉ dẫn địa lý, nhãn hiệu, tên thương mại 46

2.4 Hành vi xâm phạm quyền và cạnh tranh không lành mạnh đối với chỉ dẫn địa lý, nhãn hiệu, tên thương mại 49

Trang 3

2.4.1 Hành vi xâm phạm quyền đối với các đối tượng quyền SHCN: Chỉ dẫn địa lý, nhãn hiệu, tên thương mại 49 2.4.2 Hành vi cạnh tranh không lành mạnh đối với các đối tượng quyền SHCN: Chỉ dẫn địa lý, nhãn hiệu, tên thương mại 51

CHƯƠNG III THỰC TIỄN BẢO HỘ TÊN ĐỊA DANH TẠI VIỆT NAM

VÀ MỘT SỐ ĐỀ XUẤT 56

3.1 So sánh các hình thức bảo hộ tên địa danh trong sở hữu công nghiệp tại Việt Nam 56 3.2 Sự lựa chọn của các chủ thể kinh doanh khi đăng kí bảo hộ tên địa danh trong sở hữu công nghiệp 58 3.3 Thực tiễn một số tranh chấp về việc bảo hộ tên địa danh trong SHCN 60 3.4 Những nguyên nhân chính dẫn đến tình trạng tranh chấp về bảo hộ tên địa danh trong SHCN 66 3.5 Một số đề xuất nhằm hoàn thiện hơn về vấn đề bảo hộ tên địa danh trong Sở hữu công nghiệp 70

KẾT LUẬN 75 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 77

Trang 4

nó thuộc quốc gia nào, có những đặc điểm gì nổi bật hoặc có những đặc sản được nhiều nước

trên thế giới biết đến như núi Phú Sĩ ở Nhật Bản quanh năm tuyết bao phủ tạo nên một vẻ đẹp hùng vĩ như một biểu tượng của Nhật Bản, thành phố Alkmaar của đất nước Hà Lan

được nhiều người biết đến là một trong số ít thành phố trên thế giới còn dùng cách

làm pho mát đặc sắc từ thuở trung cổ hay Bordeaux - thành phố cảng miền Tây Nam nước Pháp, được nhiều người biết đến như thủ đô của ngành công nghiệp rượu vang

thế giới…

Tên địa danh vốn không phải là sự sáng tạo của con người và cũng không nằm trong các đối tượng được liệt kê trong quyền SHTT, nhưng thông qua những quy định về bảo hộ quyền SHTT có thể kết hợp việc bảo hộ tên địa danh như một tài sản hữu hình thông qua các đối tượng bảo hộ: Quyền tác giả và quyền liên quan, quyền SHCN và quyền đối với giống cây trồng Nhưng trong phạm vi đề tài, người viết chỉ

đề cập đến quyền SHCN, cụ thể là các đối tượng chỉ dẫn địa lý, nhãn hiệu, tên thương mại

Việt Nam đang trong tiến trình hội nhập với sự phát triển của nền kinh tế thế giới Điển hình là việc Việt Nam trở thành thành viên chính thức của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) ngày 14/11/2006 Với xu hướng phát triển của nền kinh tế đất nước như hiện nay thì

sự đổi mới, sáng tạo và tri thức đang trở thành các nhân tố chính của sức mạnh cạnh tranh Trong quá trình hội nhập các DN Việt Nam đã nắm bắt được những thời cơ vô cùng thuận lợi nhưng cũng gặp không ít khó khăn và thử thách Do vậy, bên cạnh việc đòi hỏi họ phải không ngừng sáng tạo và đổi mới để tạo nên sự đa dạng và phong phú về hàng hóa, dịch vụ của mình trên thị trường thì chữ tín cũng ngày càng được các doanh nghiệp quan tâm xây dựng dựa vào thương hiệu Bởi, một trong những cơ sở để người tiêu dùng lựa chọn chính là

Trang 5

những dấu hiệu thể hiện trên bao bì, nhãn mác, giấy tờ giao dịch, quảng cáo của sản phẩm, dịch vụ Có rất nhiều dấu hiệu để người tiêu dùng có thể nhận biết được hàng hóa sản phẩm như: nhãn hiệu, tên thương mại, chỉ dẫn địa lý…Và những dấu hiệu này làm phát sinh trách nhiệm của chính doanh nghiệp đối với người tiêu dùng, đối với xã hội, bởi chúng chính là yếu tố quan trọng giúp người tiêu dùng xác định sản phẩm, dịch vụ mà họ mong muốn Sẽ càng có ý nghĩa hơn và góp phần đẩy mạnh việc xây dựng thương hiệu của các chủ thể kinh doanh khi mà những dấu hiệu để xác định chủ thể kinh doanh gắn liền với tên địa danh của đất nước Việt Nam

Trên thực tế, các chủ thể kinh doanh đã bắt đầu biết đến việc khai thác những lợi ích

từ tên địa danh mang lại cho hàng hóa, dịch vụ của họ nói riêng, cũng như vấn đề tạo dựng thương hiệu nói chung Cụ thể là sử dụng tên địa danh để bảo hộ trong các đối tượng quyền SHCN như chỉ dẫn địa lý, nhãn hiệu, tên thương mại Tuy nhiên, sự hiểu biết của các các nhân, tổ chức, doanh nghiệp về lĩnh vực này còn nhiều hạn chế dẫn đến việc họ có sự chọn lựa không phù hợp khi tiến hành đăng ký bảo hộ tên địa danh trong các đối tượng quyền SHCN cho hàng hóa, dịch vụ của mình Bên cạnh đó, nhiều thương hiệu gắn liền với tên địa danh của các doanh nghiệp Viêt Nam bị rơi vào tay các đối thủ cạnh tranh trong và ngoài

nước Điển hình các thương hiệu nổi tiếng của Việt Nam như cà phê Buôn Ma Thuột, nước mắm Phan Thiết, nước mắm Phú Quốc, kẹo dừa Bến Tre… đã từng đứng trước nguy cơ bị

mất thương hiệu từ tay những công ty nước ngoài Trước tình hình đó, đã đưa các doanh nghiệp Việt Nam cũng như nước ta đứng trước thử thách lớn trong quá trình hội nhập quốc tế

và phát triển kinh tế - xã hội

Bên cạnh đó, vấn đề bảo hộ tên địa danh trong SHCN cũng chưa được Nhà nước ta quy định một cách cụ thể nên dẫn đến nhiều tình trạng tranh chấp về tên địa danh Vẫn còn nhiều ý kiến tranh cãi về vấn đề “tên địa danh” có thể và có nên được bảo hộ độc quyền hay không? Bởi vì khi được bảo hộ trong các đối tượng quyền SHTT, cụ thể là quyền SHCN thì chủ sở hữu tên địa danh đó, tùy từng trường hợp sẽ có được độc quyền sử dụng tên địa danh

Trang 6

thêm sự lựa chọn đúng đắn và phù hợp khi đăng ký bảo hộ tên địa danh trong Sở hữu công nghiệp

2 Phạm vi nghiên cứu

Trong phạm vi đề tài tác giả tập trung nghiên cứu những quy định của pháp luật Việt Nam về bảo hộ Chỉ dẫn địa lý, Nhãn hiệu và Tên thương mại trong SHCN: Về điều kiện chung để được bảo hộ, quy trình cấp văn bằng bảo hộ, nội dung cũng như giới hạn quyền của chủ sở hữu, những hành vi xâm phạm quyền và cạnh tranh không lành mạnh đối với Chỉ dẫn địa lí, Nhãn hiệu và Tên thương mại Trên cơ sở phận tích các quy định pháp luật hiện hành

và nghiên cứu việc đưa Tên địa danh kết hợp với đăng ký bảo hộ Chỉ dẫn địa lý, Tên thương Mại, Nhãn hiệu Đối chiếu những quy định đó vào thực tiến tại Việt Nam để tìm ra những ưu điểm và nhược điểm, từ đó đưa ra một số đề xuất để hoàn thiện hơn về quy định cũng như việc thực thi bảo hộ tên địa danh trong quyền SHCN tại Việt Nam

và hướng giải quyết của các cơ quan hữu quan;

- Đưa ra những kiến nghị bản thân với mong muốn hoàn thiện hơn quy định của pháp luật về vấn đề bảo hộ tên địa danh trong Sở hữu công nghiệp, nâng cao nhận thức của các cá nhân, tổ chức, đặc biệt là các doanh nghiệp về bảo hộ tên địa danh trong quyền SHCN

4 Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp nghiên cứu là nền tảng cơ bản để xây dựng đề tài với nội dung và hình thức một cách logic và khoa học, để giải quyết các vấn đề mà đề tài đặt ra

Trong quá trình nghiên cứu đề tài “Bảo hộ tên địa danh theo Luật Sở hữu trí tuệ Việt Nam” tác giả chủ yếu sử dụng phương pháp nghiên cứu lý luận trên tài liệu, sách vở, phân

Trang 7

tích, tổng hợp và so sánh những quy định của pháp luật có liên quan đến Tên địa danh và Sở hữu công nghiệp mà chủ yếu là Chỉ dẫn địa lí, Nhãn hiệu và Tên thương mại

5 Kết cấu đề tài

Trên cơ sở nghiên cứu vấn đề về bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp nói chung và cụ thể là về bảo hộ chỉ dẫn địa lí, nhãn hiệu và tên thương mại, luận văn được xây dựng ngoài lời

mở đầu và kết luận, kết cấu gồm có 3 chương:

Chương 1 Những vấn đề chung về bảo hộ tên địa danh theo quy định của quyền Sở hữu công nghiệp

Chương 2 Bảo hộ tên địa danh trong Sở hữu công nghiệp theo quy định của pháp luật Việt Nam

Chương 3 Thực tiễn bảo hộ tên địa danh tại Việt Nam và một số đề xuất

Người viết xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến trước hết là Thầy Th.s Nguyễn Phan Khôi

trong thời gian qua đã tận tình hướng dẫn, truyền đạt kiến thức để Người viết có thể hoàn thiện Luận văn này Sau nữa là gửi lời cảm ơn chân thành đến các Thầy, Cô Khoa Luật cùng Gia đình và tập thể các bạn đã quan tâm, giúp đỡ Vì thế Luận văn mới hoàn thành kịp thời gian và đảm bảo tính chính xác Tuy nhiên, do kiến thức của bản thân còn hạn hẹp nên không tránh khỏi những thiếu sót Kính mong quý Thầy, Cô thông cảm và góp ý kiến để Luận văn hoàn chỉnh hơn, cũng như giúp bản thân Người viết bổ sung thêm kiến thức

Xin chân thành cảm ơn!

Trang 8

CHƯƠNG I NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ BẢO HỘ TÊN ĐỊA DANH THEO QUY ĐỊNH

QUYỀN SỞ HỮU CÔNG NGHIỆP

Trước khi tim hiểu về vấn đề bảo hộ tên địa danh theo quy định quyền SHCN, chúng ta nên tìm hiểu về khái niệm và một số vấn đề cơ bản về quyền SHCN Một câu hỏi đặt ra là: Tại sao phải có quyền SHCN? Trước thập niên 90, khái niệm “tài sản” được nhiều người biết đến chỉ bao gồm tiền tệ và vật chất Trong nền kinh tế hiện đại, nhiều quốc gia nhất là các quốc gia phát triển đang hướng tới một nền kinh

tế dựa trên tri thức (thông tin và công nghệ), do đó khái niệm này được thay đổi, “tài sản” không chỉ là tiền, vàng, nhà xưởng, xe cộ mà nó bao gồm cả tài sản vô hình, trong đó có tài sản trí tuệ.1

Tài sản trí tuệ là sản phẩm của óc con người, tri thức của nhân loại Nếu như tài sản hữu hình có thể bị bào mòn theo năm tháng, thì tài sản trí tuệ dường như được tích tụ nâng lên và phát huy mạnh mẽ khi đem ra sử dụng Do đó, mỗi quốc gia cần

có trách nhiệm bảo hộ và phát huy tài sản trí tuệ của loài người Nhu cầu bảo hộ quyền SHCN xuất hiện cùng lúc với sự phát triển của giao lưu thương mại nhằm bảo

vệ quyền của chủ sở hữu đối với các đối tượng SHCN Vấn đề bảo hộ quyền SHCN vẫn không ngừng vận động và phát triển theo hướng mở rộng các quyền năng cho chủ sở hữu , mở rộng phạm vi các đối tượng được bảo hộ Vấn đề bảo hộ quyền SHCN không chỉ là vấn đề riêng lẽ của từng quốc gia mà nó chính là vấn đề toàn cầu trong bối cảnh tự do hóa, toàn cầu hóa thương mại như hiện nay

1.1 Khái quát chung về quyền Sở hữu công nghiệp

Pháp luật về bảo hộ quyền SHCN đối với các đối tượng dùng để phân biệt sản phẩm, dịch vụ đã có trên thế giới từ rất lâu Điều này xuất phát bởi vai trò đặc biệt quan trọng của các đối tượng này đối với nền kinh tế

Tại Pháp, năm 1857 Luật Nhãn hiệu đầu tiên được ban hành Điều này dễ hiểu vì Pháp là một trong những nước đi đầu trong cuộc cách mạng công nghiệp thời bấy giờ Các luật này chủ yếu nhằm vào việc bảo hộ việc khai thác các lợi ích kinh tế của thành

1 Mạng Thông tin Khoa học và Công nghệ Thành phố Hồ Chí Minh, Tài sản trí tuệ, công cụ hữu hiệu để phát triển doanh nghiệp, Hoàng Tố Như (Phòng SHTT – Sở Khoa học & Công nghệ),

http://www.cesti.gov.vn/doanh-tr-ng-kh-cn/tai-s-n-tri-tu-cong-c-h-u-hi-u-d-phat-tri-n-doanh-nghi-p.html , [ truy cập 10/02/2012]

Trang 9

quả sáng tạo mang lại Sau Pháp, một loạt các nước cũng ban hành luật nhãn hiệu riêng của mình như: Italia (1868), Bỉ (1879) Nhu cầu bảo hộ các đối tượng SHCN này, dưới đòi hỏi do sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế và xu hướng hội nhập quốc tế

đã không còn là vấn đề riêng của từng quốc gia, khu vực mà nó trở thành vấn đề toàn cầu, thu hút sự quan tâm của các quốc gia trên thế giới.2

Đến năm 1983, với sự ra đời của Công ước Paris – một văn bản pháp luật quốc tế đầu tiên về bảo hộ SHCN đánh dấu sự liên kết của các quốc gia trên thế giới cùng quan tâm đến lĩnh vực này Công ước Paris đã tạo lập cơ sở chung nhất cho các thỏa thuận đa phương và song phương khác về bảo hộ quyền SHCN Tính đến tháng 10 năm 2011 đã có 173 quốc gia là thành viên của Công ước này, trong đó Việt Nam tham gia là thành viên từ năm 1949

Theo công ước Paris đối tượng quyền SHCN bao gồm sáng chế, nhãn hiệu hàng hóa, kiểu dáng công nghiệp, mẫu hữu ích, tên thương mại, chỉ dẫn địa lý (chỉ dẫn nguồn gốc và tên gọi xuất xứ) và quyền chống cạnh tranh không lành mạnh Các quy định của Công ước Paris đề cập đến bốn vấn đề lớn là: Nguyên tắc đối xử quốc gia, quyền ưu tiên, một số nguyên tắc chung đối với hệ thống bảo hộ quyền SHCN mà các nước thành viên phải tuân thủ và các quy định về hành chính phục vụ cho việc thi hành Công ước

Tiếp theo Công ước Paris là Thỏa ước Madrid năm 1891 về đăng ký quốc tế về nhãn hiệu và Nghị định thư liên quan đến thỏa ước năm 1989 Đến nay đã có khoảng hơn bốn mươi nước là thành viên của Thỏa ước này Năm 1981, Việt Nam cũng là thành viên chính thức

Ngày 27/10/1994, Hiệp ước về Luật Nhãn hiệu (TLT) được thông qua Hiệp ước TLT được ban hành để đơn giản hóa các thủ tục xin cấp phép, đăng ký và hài hòa thủ tục đăng ký nhãn hiệu giữa các quốc gia khác nhau

Hiệp định về các khía cạnh liên quan đến thương mại của quyền sở hữu trí tuệ (gọi tắt là Hiệp định TRIPS) đã được ký kết ngày 15/04/1994 và bắt đầu có hiệu lực ngày 01/01/1995 trong khuôn khổ các văn kiện của Tổ chức Thương mại thế giới (WTO)

Khác với các điều ước đa phương trước đây về quyền sở hữu trí tuệ (SHTT), mục đích chính của Hiệp định TRIPS là thông qua việc quy định những tiêu chuẩn,

2 TS Lê Nết – Quyền sở hữu trí tuệ tài liệu bài giảng – Nxb Đại học quốc gia TPHCM – 2006

Trang 10

những biện pháp và thủ tục tối thiểu mà các nước thành viên của Hiệp định phải có nghĩa vụ tuân theo, từ đó thiết lập một khung pháp lý thống nhất, có hiệu quả trong việc bảo hộ toàn diện trong việc bảo hộ quyền SHTT, trong đó có SHCN

Cùng với sự phát triển kinh tế và xã hội của đất nước, hệ thống pháp luật về bảo hộ SHCN của Việt Nam cũng có những bước phát triển qua từng giai đoạn Hệ thống pháp luật SHCN ngày càng được hoàn thiện cả về chất lượng và số lượng Việt Nam đã gia nhập nhiều Công ước quốc tế quan trọng về SHCN, cụ thể là: Năm

1976 tuyên bố thừa nhận Công ước Paris về bảo hộ quyền SHCN và Thỏa ước Madrid về đăng ký quốc tế nhãn hiệu hàng hóa; Năm 1981 tuyên bố thừa nhận Công ước Stockholm về Tổ chức sở hữu trí tuệ thế giới (WIPO); Năm 1993 chính thức tham gia Hiệp ước hợp tác sáng chế (PTC); Năm 1999 ký kết Hiệp định về bảo hộ sở hữu trí tuệ và hợp tác trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ với Liên bang Thụy Sĩ; Năm

2000, Hiệp định thương mại Việt Nam – Hoa Kỳ đã được ký kết, trong đó có một chương về sở hữu trí tuệ.3

* Giai đoạn trước 2005

Ngay từ những năm 1960, vấn đề bảo hộ quyền SHCN đã được Đảng và Nhà nước ta chú ý dưới nhiều hình thức như động viện khuyến khích hoạt động sáng tạo, phát huy sáng kiến, cải tiến kỹ thuật…Trong giai đoạn này, một số văn bản pháp luật

về khuyến khích sáng tạo đã được ban hành làm tiền đề cho hệ thống bảo hộ SHCN của Việt Nam như: Thông tư 04/LĐTT ngày 8/3/1958 của Bộ Lao động quy định về vấn đề khen thưởng các tác giả sáng kiến cải tiến kỹ thuật, sáng chế, phát minh; Nghị quyết số 175/TTg ngày 3/4/1958 của Thủ tướng Chính phủ quy định về nhãn hiệu thương phẩm Tiếp theo đó là Nghị định số 31/NĐCP ngày 23/01/1981 được sửa đổi bổ sung theo Nghị định số 84/HĐBT ngày 20/03/1990 của Hội đồng Bộ trưởng ban hành kèm theo Điều lệ và sáng kiến cải tiến kỹ thuật – hợp lý hóa sản xuất và sáng chế; Nghị định 197/HĐBT ngày 14.12.1982 về bảo hộ nhãn hiệu hàng hóa; Chỉ thị số 140/CT ngày 10/05/1988 của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng về việc đẩy mạnh các hoạt động sáng kiến, sáng chế và sở hữu công nghiệp; Nghị định 85/HĐBT ngày 13/5/1988 về bảo hộ kiểu dáng công nghiệp; Pháp lệnh về bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp ngày 28/01/1989… Những văn bản nêu trên đã tạo được một số cơ sở pháp lý nhất định cho sự phát triển của pháp luật SHCN nhằm đảm bảo cho mỗi cá nhân, mỗi tổ chức cũng như toàn xã hội có thể sử dụng tốt hơn các thành

quả nghiên cứu, sáng tạo trong các lĩnh vực khác nhau của đời sống kinh tế - xã hội

3 TS Lê Nết – Quyền sở hữu trí tuệ tài liệu bài giảng – Nxb Đại học quốc gia TPHCM – 2006

Trang 11

Đồng thời để đáp ứng thực tiễn đặt ra trong thời kỳ đổi mới, ngày 28/10/1995,

Bộ luật Dân sự của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã được Quốc hội khóa IX, kỳ họp thứ 8 thông qua và có hiệu lực từ ngày 01/7/1996 Bộ luật này đã dành riêng hai chương trong phần thứ sáu quy định về SHTT và nó trở thành cơ sở pháp lý cao nhất, là nền tảng cho việc triển khai toàn diện hoạt động sở hữu trí tuệ, trong đó có SHCN Đây là mốc son quan trọng đánh dấu việc bắt đầu thiết lập một

hệ thống pháp luật hiện đại trong lĩnh vực này ở Việt Nam Để cụ thể hóa các quy định trên, cũng như nhằm tạo hành lang pháp lý rõ ràng cho các chủ thể tham gia quá trình sáng tạo, tham gia hoạt động ứng dụng và khai thác các thành quả nghiên cứu vào phát triển kinh tế - xã hội, hàng loạt các văn bản pháp luật đã được ban hành

để điều chỉnh các quan hệ SHCN Những quy định về SHCN được quy định tại các Điều 788 đến Điều 793 Bộ luật dân sự 1995, kèm theo đó là Nghị định số 12/1999/NĐ-CP ngày 06/3/1999 của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực Sở hữu công nghiệp; Thông tư số 825/2000/TT-BKHCNMT ngày 03/5/2000 của Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi trường hướng dẫn thi hành Nghị định số 12/1999/NĐ-CP ngày 06/3/1999 của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực sở hữu công nghiệp; Nghị định 63/CP ngày 24/10/1996 quy định chi tiết về SHCN được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định 06/2001/CP ngày 1/2/2001; Luật Thương mại năm 1997 (tại các Điều 135, 136 về chuyển giao công nghệ trong gia công hàng hóa với thương nhân nước ngoài và trách nhiệm về sở hữu công nghiệp đối với hàng hóa gia công) hướng dẫn chi tiết cụ thể hóa những quy định này

* Giai đoạn sau 2005

Giai đoạn này được đánh giá là giai đoạn SHCN Việt Nam hướng tới một hệ thống SHCN đầy đủ và hiệu quả Đối với nước ta, việc duy trì và xây dựng một hành lang pháp lý hoàn chỉnh và phù hợp với thông lệ quốc tế là việc làm cấp thiết, đồng thời để đáp ứng được hai chuẩn mực lớn về nội dung bảo hộ (tính đầy đủ) và về hiệu lực thực thi pháp luật (tính hiệu quả) là việc làm đòi hỏi một quá trình nghiên cứu và làm việc lâu dài của các cơ quan Nhà nước trong lĩnh vực SHTT

Với việc Luật Sở hữu trí tuệ được Quốc hội khóa XI kỳ họp thứ 8 thông qua ngày 29 tháng 11 năm 2005 và có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 7 năm 2006 (Luật SHTT được thông qua bao gồm sáu phần, 18 chương và 222 điều) đã giải quyết được những thiếu sót mà những quy định trước đây mắc phải, làm hoàn thiện hơn hệ thống pháp luật bảo hộ của nước ta, phù hợp với các thông lệ quốc tế, đáp

Trang 12

ứng được nhu cầu phát triển của đất nước Và với vai trò quan trọng của mình, cùng với sự cấp thiết của thực tiễn áp dụng, quy định chi tiết về quyền sở SHCN quy định trong luật với năm chương, từ chương VII tới chương XI với 99 Điều Đây là phần

có khối lượng lớn các điều luật, điều chỉnh những nội dung quan trọng Tiếp theo đó

là một loạt các văn bản dưới luật như: Nghị định 54/2000/NĐ-CP ngày 03/10/2000

về bảo hộ SHCN đối với bí mật kinh doanh, chỉ dẫn địa lý, tên thương mại và bảo hộ quyền chống cạnh tranh không lành mạnh liên quan tới SHCN; Nghị định 103/2006/NĐ-CP ngày 22/09/2006 Quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ về sở hữu công nghiệp; Nghị định 106/2006/NĐ-CP ban hành ngày 22/09/2006 quy định xử phạt vi phạm hành chính về SHCN được thay thế bởi NĐ 97/2010/NĐ-CP ban hành ngày 21/09/2010 quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực SHCN; NĐ 122/2010/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 103/2006/NĐ-CP ngày 22 tháng 9 năm 2006 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ về SHCN

Như vậy, với việc ban hành những quy định chi tiết, cụ thể, được điều chỉnh bởi một luật chuyên ngành đã xác định đúng vị trí và vai trò của việc bảo hộ các sáng tạo của con người, tạo điều kiện tốt nhất về mặt pháp lý để phát huy nguồn lực chất xám của dân tộc Ngoài ra, với việc bảo đảm hành lang pháp lý vững chắc phù hợp với thông lệ và các quy định của quốc tế là tiền đề quan trọng cho quá trình hội nhập kinh tế thế giới của nước ta, giúp cho ta tiếp nhận những sáng chế công nghệ hiện đại của các nước tiên tiến trên thế giới, là điều kiện tiên quyết cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa mà Đảng ta đã xác định

1.1.3 Khái niệm quyền sở hữu công nghiệp

Khái niệm “Sở hữu công nghiệp” chỉ có ở các nước theo hệ thống luật lục địa

Các nước theo hệ thống luật chung (Luật Anh-Mỹ) không sử dụng thuật ngữ “Sở hữu công nghiệp” mà trực tiếp đề cập đến các đối tượng như sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, nhãn hiệu hàng hóa, quyền chống hành vi cạnh tranh không lành mạnh Tuy vậy, phần lớn các nước đều thống nhất với nhau về khái niệm các đối tượng được bảo

hộ dưới dạng SHCN được quy định ở nhiều công ước quốc tế như Công ước Berne về bảo hộ quyền tác giả, Công ước Paris về bảo hộ quyền Sở hữu công nghiệp

Theo quy định của Việt Nam và các công ước quốc tế có liên quan “Quyền sở hữu công nghiệp là quyền của tổ chức, cá nhân đối với sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn, nhãn hiệu, tên thương mại, chỉ dẫn địa lý, bí mật kinh doanh do mình sáng tạo ra hoặc sở hữu và quyền chống cạnh tranh không lành

Trang 13

mạnh” Quyền SHCN bảo hộ quyền sử dụng độc quyền vì mục đích kinh tế và quyền định đoạt của các chủ sở hữu các đối tượng SHCN

Luật về SHCN bảo hộ nội dung ý tưởng sáng tạo và uy tín kinh doanh SHCN không phải là một loại sở hữu có liên quan đến tài sản hữu hình dùng trong công nghiệp mà là sở hữu đối với tài sản vô hình Đó là sáng chế, giải pháp hữu ích,…Kể cả những đối tượng mà chúng ta có thể tưởng là tài sản hữu hình như kiểu dáng công nghiệp hay nhãn hiệu hàng hóa cũng không phải là tài sản hữu hình Cái mà pháp luật hướng tới bảo vệ (khách thể) trong quan hệ pháp luật về SHCN không phải là kiểu dáng hay một dấu hiệu gắn trên hàng hóa, mà là những đối tượng vô hình đứng đằng sau kiểu dáng hay nhãn hiệu, là thành quả lao động sáng tạo hay uy tín kinh doanh của chủ sở hữu đối tượng đó.4

1.1.2 Đối tượng quyền sở hữu công nghiệp theo pháp luật Việt Nam

Theo quy định tại khoản 2 Điều 3 Luật sở hữu trí tuệ thì các đối tượng Sở hữu công nghiệp được pháp luật bảo hộ bao gồm: Sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết

kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn, bí mật kinh doanh, nhãn hiệu, tên thương mại và chỉ dẫn địa lý Do đề tài tập trung nghiên cứu vào ba đối tượng của quyền Sở hữu công nghiệp có liên quan nhiều đến việc bảo hộ tên địa danh là chỉ dẫn địa lý, nhãn hiệu và tên thương mại nên ở đây người viết chỉ nêu lên khái niệm và phân tích về các loại đối tượng này

1.1.2.1 Chỉ dẫn địa lý

Khi coi chỉ dẫn địa lý là một phạm trù của SHCN, điều quan trọng là cần phân biệt chúng với nhãn hiệu hàng hóa Trong khi nhãn hiệu hàng hóa dùng để nhận biết sản phẩm, dịch vụ của doanh nghiệp thì chỉ dẫn địa lý dùng để nhận biết một khu vực địa lý mà về cơ bản gắn liền với chất lượng danh tiếng và những đặc tính khác của sản phẩm

“Chỉ dẫn địa lý” là thuật ngữ đã được các nước trên thế giới sử dụng từ lâu, Pháp chính là nơi mà Luật đầu tiên về bảo hộ chỉ dẫn địa lý được thông qua Luật ngày 06/05/1919 của Pháp đã được thông qua, trong đó quy định về một hình thức sở hữu đặc biệt, đó là tên gọi xuất xứ hàng hóa Theo đó, một tên gọi xuất xứ hàng hóa bao gồm tên một nước, một vùng hoặc khu vực chỉ ra sản phẩm có nguồn gốc tại đó,

4 TS Lê Nết – Quyền sở hữu trí tuệ tài liệu bài giảng – Nxb Đại học quốc gia TPHCM – 2006 tr 23

Trang 14

chất lượng và đặc điểm của sản phẩm phụ thuộc vào môi trường địa lý, gồm cả nhân

tố tự nhiên lẫn yếu tố con người.5

Tương tự như vậy, theo Hiệp định TRIPS, chỉ dẫn địa lý là dấu hiệu được sử dụng trên sản phẩm để chỉ ra thông tin về nguồn gốc sản phẩm được tạo ra

Tại Điều 4 Luật Sở hữu trí tuệ Việt Nam 2005 định nghĩa “chỉ dẫn địa lý là dấu hiệu dùng để chỉ sản phẩm có nguồn gốc từ khu vực, địa phương, vùng lảnh thổ hay quốc gia cụ thể” Như vậy, cách lý giải của pháp luật Việt Nam về chỉ dẫn địa lý

cũng không có sự khác biệt nhiều so với các nước trên thế giới

Xem xét định nghĩa ta thấy có ba yếu tố cấu thành nên chỉ dẫn địa lý: Thứ nhất, tên gọi phải là tên địa lý của một nước, một khu vực, một địa phương; Thứ hai là tên chỉ dẫn địa lý giúp xác định xuất xứ của sản phẩm từ một nước, một khu vực, một địa phương được đề cập tới và cuối cùng là phải có sự liên kết giữa chất lượng sản phẩm

và khu vực địa lý, chất lượng và các đặc tính phải đặc thù và cơ bản nhờ vào điều kiện địa lý Chính vì chỉ dẫn địa lý mang tính thông tin, tính thương mại cao xuất phát từ

sự khác biệt tạo nên đặc thù của sản phẩm ở mỗi vùng, mỗi địa phương hoặc quốc gia nên nó đòi hỏi phải được bảo hộ cả cấp độ quốc gia và quốc tế

* Phân biệt chỉ dẫn địa lý và tên gọi xuất xứ hàng hóa

Theo pháp luật quốc tế, chỉ dẫn địa lý (Geographical Indication) được hiểu là

tên gọi hoặc dấu hiệu được sử dụng cho một sản phẩm riêng biệt tương ứng với một vùng hoặc có nguồn gốc địa lý cụ thể (ví dụ: một thành phố, một vùng hoặc một đất nước) Sản phẩm mang nhãn hiệu của chỉ dẫn địa lý phải đạt được một số chất lượng hoặc có được những danh tiếng nhất định nào đó nhờ nguồn gốc xuất xứ địa lý này

Mức độ cao hơn của chỉ dẫn địa lý là tên gọi theo nguồn gốc xuất xứ, đó là một loại đặc biệt của chỉ dẫn địa lý, được sử dụng với những sản phẩm có chất lượng đặc biệt mà chất lượng này là duy nhất do môi trường địa lý đã sản xuất ra sản phẩm

đó tạo ra Khái niệm chỉ dẫn địa lý bao hàm cả tên gọi theo nguồn gốc xuất xứ Công ước Paris về bảo hộ SHCN không đưa ra khái niệm rõ ràng như thế nào là chỉ dẫn

địa lý, mà tại Khoản 2 Điều 1 xác định “chỉ dẫn nguồn gốc hoặc tên gọi xuất xứ” là

Trang 15

thế bằng BLDS 2005) thì "Tên gọi xuất xứ hàng hóa là tên địa lý của nước, địa phương dùng để chỉ xuất xứ của mặt hàng từ nước, địa phương đó với điều kiện những mặt hàng này có các tính chất, chất lượng đặc thù dựa trên các điều kiện địa

lý độc đáo và ưu việt, bao gồm yếu tố tự nhiên, con người, hoặc kết hợp cả hai yếu

tố đó." Đến khi Luật SHTT Việt Nam 2005 ra đời, khái niệm về đối tượng bảo hộ

này đã mở rộng hơn với tên gọi “chỉ dẫn địa lý” Theo định nghĩa tại Điều 4 Luật sở

hữu trí tuệ Việt Nam thì “chỉ dẫn địa lý là dấu hiệu dùng để chỉ sản phẩm có nguồn gốc từ khu vực, địa phương, vùng lảnh thổ hay quốc gia cụ thể”

Về nguyên tắc xác lập quyền SHCN, trước khi có Luật SHTT 2005, pháp luật Việt Nam có sự phân biệt về phương thức bảo hộ và nguyên tắc xác lập quyền giữa chỉ dẫn địa lý và tên gọi xuất xứ: Quyền SHCN đối với chỉ dẫn địa lý được xác lập theo nguyên tắc tự động theo Nghị định 54/2000/NĐ-CP; Quyền SHCN đối với tên gọi xuất xứ hàng hóa được xác lập theo nguyên tắc đăng ký dựa trên cơ sở pháp lý là Nghị định 63/1996/NĐ-CP Việc quy định hai nguyên tắc khác nhau cho hai đối tượng có nội hàm gần như giống nhau như vậy là không hợp lý Luật SHTT 2005 ra đời đã đưa ra những quy định mới có sự thay đổi về nguyên tắc xác lập quyền đối với chỉ dẫn địa lý nhằm khắc phục những bất cập trên, theo đó, chỉ dẫn địa lý được bảo hộ trên nguyên tắc đăng ký, và cũng quy định thống nhất một hình thức đăng ký

là chỉ dẫn địa lý, không nhắc đến tên gọi xuất xứ hàng hóa

Theo đó, chủ sở hữu của chỉ dẫn địa lý là Nhà nước Cá nhân, tổ chức được Nhà nước trao quyền thực hiện việc đăng ký chỉ dẫn địa lý không trở thành chủ sở hữu chỉ dẫn địa lý đó Chủ thể có quyền sử dụng chỉ dẫn địa lý là mọi tổ chức, các nhân sản xuất hàng hóa mang chỉ dẫn đó tại địa điểm được chỉ dẫn, với điều kiện hàng hóa

do người đó sản xuất phải bảo đảm uy tín hoặc danh tiếng vốn có của địa phương của mình Họ có quyền thể hiện chỉ dẫn địa lý đó trên hàng hóa, bao bì hàng hóa, giấy tờ giao dịch nhằm mua bán hàng hóa và quảng cáo cho hàng hóa tương ứng Quyền sử dụng chỉ dẫn địa lý không được chuyển giao

Bên cạnh những đối tượng chỉ dẫn địa lý được Nhà nước ta bảo hộ thì cũng có những đối tượng không được bảo hộ với danh nghĩa chỉ dẫn địa lý Cụ thể tại Điều 80 Luật sở hữu trí tuệ 2005 là: Tên gọi, chỉ dẫn đã trở thành tên gọi chung của hàng hóa Việt Nam; Chỉ dẫn địa lý của nước ngoài mà tại nước đó chỉ dẫn địa lý không được bảo hộ, đã bị chấm dứt bảo hộ hoặc không còn sử dụng; Chỉ dẫn địa lý trùng hoặc tương tự với một nhãn hiệu đang được bảo hộ, nếu việc sử dụng chỉ dẫn địa lý đó được thực hiện thì sẽ gây nhầm lẫn về nguồn gốc của sản phẩm; Chỉ dẫn địa lý gây

Trang 16

hiểu sai lệch cho người tiêu dùng về nguồn gốc địa lý thực của sản phẩm mang chỉ dẫn địa lý đó

1.1.2.2 Nhãn hiệu hàng hóa

Nhãn hiệu hàng hóa là một thuật ngữ đã có từ lâu, nhưng khái niệm về nó lại

chỉ mới được đưa ra tại Khoản 1 Điều 15 Hiệp định TRIPS: “Bất kỳ một dấu hiệu hoặc tổ hợp dấu hiệu nào có khả năng phân biệt hàng hóa hoặc dịch vụ của các doanh nghiệp khác đều có thể làm nhãn hiệu hàng hóa Các dấu hiệu đó, đặc biệt là các từ kể cả tên riêng, các chữ cái, chữ số, các yếu tố hình và sự kết hợp các sắc màu cũng như tổ hợp của bất kỳ các dấu hiệu đó phải có khả năng được đăng ký là nhãn hiệu hàng hóa.”

Có thể thấy khái niệm nhãn hiệu hàng hóa trong Hiệp định TRIPS là tương đối khái quát và mang tính quy chuẩn Theo đó, bất kỳ một dấu hiệu nào (kể cả màu sắc, mùi vị…) miễn có thể là dấu hiệu để phân biệt được hàng hóa đều có thể coi là nhãn hiệu hàng hóa Đây cũng là cơ sở để các nước tham khảo, trên cơ sở đó, theo đặc thù của từng quốc gia có thể đưa ra những khái niệm riêng trong pháp luật của quốc gia mình Bởi vậy, trong hệ thống pháp luật của nhiều quốc gia, chúng ta có thể bắt gặp các khái niệm về nhãn hiệu hàng hóa khác nhau

Theo Khoản 16 Điều 4 Luật Sở hữu trí tuệ 2005 “Nhãn hiệu là dấu hiệu dùng

để phân biệt hàng hóa, dịch vụ của các tổ chức, các nhân khác nhau” Ngoài nhãn

hiệu hàng hóa, dịch vụ, còn có các loại nhãn hiệu tập thể, nhãn hiệu chứng nhận, nhãn hiệu liên kết, nhãn hiệu nổi tiếng Đây cũng là cách tiếp cận được lựa chọn tại Mục 1 (1) (a) của Luật Mẫu WIPO về nhãn hiệu hàng hóa, tên thương mại, cạnh tranh không lành mạnh cho các nước phát triển năm 1967

Cần lưu ý phân biệt giữa nhãn hiệu và thương hiệu: "Thương hiệu - theo định nghĩa của Tổ chức sở hữu trí tuệ thế giới (WIPO) - là một dấu hiệu (hữu hình và vô hình) đặc biệt để nhận biết một sản phẩm hàng hoá hay một dịch vụ nào đó được sản xuất hay được cung cấp bởi một cá nhân hay một tổ chức."

Hiện nay, tại Việt Nam chưa có định nghĩa về thương hiệu mà chỉ đưa ra định nghĩa về nhãn hiệu, do đó chỉ có nhãn hiệu mới là đối tượng được bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ tại Việt Nam Trong khi đó, theo hệ thống luật Anh Mỹ, thương hiệu có thể được bảo hộ và người chủ sở nhãn hiệu đã đăng kí sẽ có quyền kiện bất

cứ ai xâm phạm đến thương hiệu của mình

Trang 17

Thời gian qua, mặc dù đã có rất nhiều những trao đổi và tranh luận trên các diễn đàn khác nhau về thuật ngữ “thương hiệu”, nhưng xem ra dường như vẫn chưa

có được một cách hiểu thống nhất về thuật ngữ này Nhiều người vẫn cho rằng việc

sử dụng thuật ngữ thương hiệu chỉ là cách nói "dân dã", còn chính thức phải gọi là nhãn hiệu hàng hóa.6 Thực ra, có thể nói thương hiệu rộng hơn nhãn hiệu , đó không chỉ đơn thuần là các dấu hiệu phân biệt hàng hoá, dịch vụ mà cao hơn nhiều đó là hình ảnh về hàng hoá hoặc hình tượng về doanh nghiệp trong tâm trí của khách hàng, gắn liền với chất lượng hàng hoá và phong cách kinh doanh, phục vụ của doanh nghiệp Một nhà sản xuất thường được đặc trưng bởi một thương hiệu, nhưng ông ta có thể có nhiều nhãn hiệu hàng hóa khác nhau Ví dụ, Toyota là một thương hiệu, nhưng đi kèm theo có rất nhiều nhãn hiệu hàng hóa như Innova, Camry…7

Một thuật ngữ khác mà nhiều người vẫn nhầm lẫn với “nhãn hiệu hàng hóa”

là “nhãn hàng hóa” Thật ra đây là hai đối tượng hoàn toàn khác nhau

“Nhãn hàng hóa”, theo Nghị định số 89/2006/NĐ-CP ngày 30 tháng 8 năm

2006 của Thủ tướng Chính phủ thì nhãn hàng hóa không phải là đối tượng của SHCN, không được bảo hộ, không phải đăng ký mà chỉ công bố Cũng theo giải

thích tại Nghị định này thì “nhãn hàng hóa là bản viết, bản in, bản vẽ, bản chụp của chữ, hình vẽ, hình ảnh được dán, in, đính, đúc, chạm, khắc trực tiếp trên hàng hoá, bao bì thương phẩm của hàng hoá hoặc trên các chất liệu khác được gắn trên hàng hoá, bao bì thương phẩm của hàng hoá.” Nhãn hàng hóa dùng cho từng loại hàng

hoá, lô, loạt hàng hoá khác nhau thì cũng khác nhau Tức là, mỗi một sản phẩm đều

có nhãn hàng hoá riêng của mình Về thực chất, nhãn hàng hoá cũng chính là nhãn sản phẩm vẫn được dùng trong đăng ký chất lượng sản phẩm.8

Như vậy, về bản chất “nhãn hàng hoá” chỉ thực hiện chức năng thông tin về hàng hoá cho người tiêu dùng; còn “nhãn hiệu hàng hoá” hay dịch vụ như đã giải

thích ở phần trên, lại thực hiện chức năng phân biệt hàng hoá, dịch vụ cùng loại từ các nhà sản xuất khác nhau và có giá trị như một tài sản nếu được đăng ký bảo hộ Ngoài nhãn hiệu hàng hóa và dịch vụ, nhãn hiệu còn được phân biệt thành nhiều loại

6 Chìa khóa lưu trữ và ứng dụng, Phân biệt “Thương hiệu (Brand)” và “Nhãn hiệu ( Trademake)”,

http://thuthuataccess.com/forum/thread-426.html , [truy cập ngày 01/02/2012]

7

Thông tin pháp luật dân sự, Thương hiệu và Nhãn hiệu, Hoàng Trang (sưu tầm),

http://thongtinphapluatdansu.wordpress.com/2008/06/18/52751/ Ngày truy cập: [15/04/2012]

8 Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Đắk Lắk, Liên kết doanh nhân Việt, Kim Ca,

http://www.skhcndaklak.gov.vn/Trangch%E1%BB%A7/Th%C3%B4ngtinKHCN/T%E1%BA%A1pch% C3%ADKHCN/T%E1%BA%ADpsans%E1%BB%91022007/tabid/150/ctl/Details/mid/595/ItemID/238/ Default.aspx , [Ngày truy cập 17/04/2012]

Trang 18

Nhãn hiệu tập thể là nhãn hiệu được tập thể các cá nhân, pháp nhân hoặc các

chủ thể khác nhau cùng sử dụng, trong đó mỗi thành viên sử dụng một cách độc lập

theo quy chế do tập thể đó quy định Ví dụ nhãn hiệu tập thể “Rượu Bàu Đá” Bình Định được cấp cho Hiệp hội Sản xuất và Kinh doanh rượu Bàu Đá tỉnh Bình Định

Nhãn hiệu chứng nhận là nhãn hiệu để chỉ hàng hóa hoặc dịch vụ đặc biệt đáp

ứng một số tiêu chuẩn nhất định Cụ thể là nhãn hiệu mà chủ sở hữu nhãn hiệu cho phép tổ chức, cá nhân khác sử dụng trên hàng hóa, dịch vụ của cá nhân đó để chứng nhận các đặc tính về xuất xứ, nguyên liệu, vật liệu, cách thức sản xuất hàng hóa, cách thức cung cấp dịch vụ, chất lượng, độ chính xác, độ an toàn hoặc các đặc tính khác của hàng hóa, dịch vụ mang nhãn hiệu.9 Nó có thể được cấp cho bất cứ ai bảo đảm rằng sản phẩm của họ đáp ứng được những tiêu chuẩn đó Tiêu chuẩn chất lượng ISO

9000 được công nhận trên toàn thế giới là một ví dụ cho loại nhãn hiệu này

Nhãn hiệu liên kết là các nhãn hiệu do cùng một chủ thể đăng ký, trùng hoặc

tương tự nhau dùng cho sản phẩm, dịch vụ cùng loại hoặc tương tự nhau hoặc có liên quan với nhau

Nhãn hiệu nổi tiếng là nhãn hiệu được người tiêu dùng biết đến rộng rãi trên

toàn lảnh thổ Việt Nam Ví dụ nhãn hiệu P/S cho kem đánh răng P/S, nhãn hiệu G7 cho cà phê G7

Theo mục đích của nhãn hiệu hàng hóa, hầu như bất kỳ dấu hiệu nào có khả năng phân biệt hàng hóa này với hàng hóa khác đều có thể dùng làm nhãn hiệu hàng hóa Bởi vậy, tại Điều 72 Luật sở hữu trí tuệ Việt Nam không đưa ra một danh sách đầy đủ nhất về các dấu hiệu có thể đăng ký, nếu ta tuân thủ một cách chặt chẽ nguyên tắc phân biệt hàng hóa của doanh nghiệp này với sản phẩm của doanh nghiệp khác thì các kiểu và loại sau đây được xem xét Cụ thể là:

+ Từ ngữ: Nhóm này bao gồm tên công ty, họ, tên gọi, tên địa lý và các từ bất

kỳ hoặc chuỗi từ và các khẩu hiệu;10

+ Chữ cái và số: Ví dụ như một chữ cái hoặc nhiều chữ cái, một số hoặc nhiều con số, hoặc sự kết hợp của cả chữ cái và số;

+ Các yếu tố hình họa: Bao gồm các hình không tả thực, các hình vẽ, các biểu tượng và cả sự thể hiện trong không gian hai chiều của hàng hóa và bao bì;

9

Khoản 18 Điều 4 Luật SHTT 2005

10 Điều 4, Điều 72 Luật SHTT 2005, sửa đổi bổ sung 2009

Trang 19

Một dấu hiệu muốn được coi là nhãn hiệu hàng hóa phải đáp ứng được các điều kiện cụ thể về mặt hình thức và nội dung Để có thể được đăng ký bảo hộ, nhãn hiệu

đó phải có chức năng cơ bản là phải có khả năng phân biệt với các loại hàng hóa khác – Tức là nhãn hiệu được tạo thành từ một hoặc một số yếu tố dễ nhận biết, dễ ghi nhớ Nhãn hiệu sẽ không được bảo hộ nếu có dấu hiệu trùng hoặc tương tự gây nhầm lẫn, làm ảnh hưởng đến trật tự công cộng, đạo đức xã hội Thường thì người nộp đơn không cần chứng minh khả năng phận biệt, cơ quan đăng ký sẽ chứng minh việc này

và trong trường hợp có lưỡng lự thì nhãn hiệu đó vẫn được đăng ký bảo hộ nếu sau khi đã thẩm định hình thức và nội dung cùng với việc tra cứu của cơ quan có thẩm quyền

1.1.2.3 Tên thương mại

“Tên thương mại” là khái niệm được sử dụng chính thức lần đầu tiên trong Luật Thương mại Việt Nam, nhưng chưa có định nghĩa rõ ràng Từ các quy định tại Điều 24 Luật Thương mại năm 1997 (được thay thế bằng Luật Thương mại 2005 có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2006) có thể hiểu một cách chung nhất: Tên thương mại là tên giao dịch của chủ thể hoạt động trong lĩnh vực thương mại, tức là thực hiện các hành vi như: Mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ thương mại, hoạt động xúc tiến thương mại nhằm mục đích lợi nhuận hoặc nhằm thực hiện các chính sách

kinh tế xã hội Đến khi Luật SHTT 2005 ra đời đã đưa ra định nghĩa “Tên thương mại là tên gọi của tổ chức, cá nhân dùng trong hoạt động kinh doanh để phân biệt chủ thể kinh doanh mang tên gọi đó với chủ thể kinh doanh khác trong cùng lĩnh vực và khu vực kinh doanh.” (Khoản 21 Điều 4 Luật SHTT 2005) Như vậy, tên thương mại

dùng để chỉ doanh nghiệp chứ không phải sản phẩm hay dịch vụ mà doanh nghiệp đó cung cấp

Khả năng phân biệt của tên thương mại được hiểu là tên thương mại đó phải: Chứa thành phần tên riêng, trừ trường hợp đã được biết đến rộng rãi qua sử dụng; Không trùng hoặc tương tự đến mức gây nhầm lẫn với tên thương mại mà người khác

đã sử dụng trước trong cùng lĩnh vực và khu vực kinh doanh; Không trùng hoặc tương

tự đến mức gây nhầm lẫn với nhãn hiệu của người khác hoặc với chỉ dẫn địa lý đã được bảo hộ trước ngày tên thương mại đó được sử dụng Như vậy, tên riêng đó có thể

là tên một địa danh như Cà Mau, Long An, Bến Tre miễn là nó đáp ứng được những

điều kiện mà pháp luật quy định

Khả năng phân biệt trong ngữ cảnh này nghĩa là công chúng tiêu dùng công nhận tên thương mại đó như một dẫn chiếu tới một nguồn gốc kinh doanh đặc biệt

Trang 20

Quyền sở hữu công nghiệp với tên thương mại thuộc về người sử dụng tên thương mại

và được pháp luật bảo hộ mà không cần phải đăng ký

Bên cạnh đó, theo Điều 77 Luật sở hữu trí tuệ 2005 có những đối tượng không được bảo hộ với danh nghĩa tên thương mại, đó là: Tên của cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị xã hội – nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội nghề nghiệp hoặc chủ thể khác không liên quan tới hoạt động kinh doanh Tên thương mại chủ yếu sử dụng trong lĩnh vực kinh doanh Nó được bảo hộ nhằm tránh tình trạng cạnh tranh không lành mạnh Tên của các cơ quan Nhà nước không thể lấy đặt cho tên thương mại Hơn nữa, trong những đối tượng không được bảo hộ nêu trên lại không hề đề cập đến tên địa danh, như vậy càng khẳng định doanh nghiệp hoàn toàn có thể sử dụng tên địa danh để dùng cho tên thương mại của mình

Chủ sở hữu quyền SHCN đối với tên thương mại có quyền sử dụng tên thương mại vào mục đích kinh doanh bằng cách dùng tên thương mại để xưng danh trong các hoạt động kinh doanh, thể hiện tên thương mại đó trong các giấy tờ giao dịch, hàng hóa, bao bì hàng hóa và quảng cáo Chủ sở hữu quyền SHCN đối với tên thương mại

có quyền chuyển giao tên thương mại theo hợp đồng hoặc thừa kế cho người khác với điều kiện việc chuyển giao phải được tiến hành cùng với toàn bộ cơ sở kinh doanh và hoạt động kinh doanh dưới tên thương mại đó

1.2 Khái quát chung về bảo hộ tên địa danh trong sở hữu công nghiệp

1.2.1 Khái niệm tên địa danh

Địa danh hay Tên địa lý (geographical name) được hiểu là tên gọi các đối

tượng địa hình khác nhau được con người đặt ra như tên vùng, tên sông, tên núi, tên đảo, tên một quốc gia, một châu lục, một đại dương… Địa danh chứa những thông tin

về tinh thần, văn hóa, xã hội, lịch sử, ngôn ngữ và chính trị Qua những thông tin đó

có thể nhận ra những đặc trưng về thiên nhiên, xã hội trong quá khứ và hiện tại của những nơi có người cư trú và cả những sa mạc, biển khơi không có người cư trú Địa danh của dân tộc, quốc gia nào thông thường được đặt tên bằng ngôn ngữ của dân tộc, quốc gia đó Vì mục đích định danh nên thường các tên địa danh không trùng nhau để

dễ dàng phân biệt các đối tượng địa hình, sông này với sông kia, khu vực này với khu vực nọ Nước Việt Nam có 54 dân tộc cùng chung sống, vì thế địa danh khắp nơi trong nước thể hiện đa dạng về ngôn ngữ của chừng ấy dân tộc.11

11

Sông Thơ – songtho.net, Hồn cốt địa danh Việt, Phan Thanh Minh, luan/hon-cot-dhia-danh-viet , [Ngày truy cập 16/04/2012]

Trang 21

http://www.songtho.net/home/song-1.2.2 Trên Thế giới

Hiện nay, hầu hết các quốc gia trên thế giới đều chưa có quy định riêng biệt đặc thù về bảo hộ tên địa danh, mà chúng chủ yếu được bảo hộ chung trong bảo hộ chỉ dẫn địa lý (tên gọi xuất xứ hàng hóa) Chỉ dẫn địa lý được bảo hộ trong phạm vi quốc gia hoặc quốc tế dưới nhiều hình thức khác nhau mang đặc thù riêng tùy theo quy định của từng quốc gia Một số nguyên tắc bảo hộ phổ biến như : Bảo hộ theo nguyên tắc đặc thù, bảo hộ theo nguyên tắc đăng ký chỉ dẫn địa lý theo quy định của Luật nhãn hiệu hàng hóa Một số nước thực hiện việc bảo hộ chỉ dẫn địa lý theo quy định

của Luật nhãn hiệu hàng hóa như Hoa Kỳ, Nhật…

Công ước Paris về bảo hộ SHCN quy định tại Điều 1 các đối tượng bảo hộ SHCN bao gồm patent, mẫu hữu ích, kiểu dáng công nghiệp, nhãn hiệu hàng hóa, nhãn hiệu dịch vụ, tên thương mại, chỉ dẫn nguồn gốc hoặc tên gọi xuất xứ, và chống cạnh tranh không lành mạnh Bên cạnh đó công ước cũng quy định rõ SHCN phải được hiểu theo nghĩa rộng nhất, không chỉ áp dụng cho công nghiệp và thương mại theo đúng nghĩa của chúng mà cho cả các ngành sản xuất nông nghiệp, công nghiệp khai thác và tất cả các sản phẩm chế biến hoặc sản phẩm tự nhiên như rượu vang , ngũ cốc, lá thuốc lá, hoa quả, gia súc, khoáng sản, nước khoáng, bia, hoa và bột Như vậy, Công ước không liệt kê rõ tên địa danh là đối tượng được bảo hộ quyền SHCN nhưng nếu hiểu theo nghĩa rộng nhất thì những sản phẩm hành hóa và dịch vụ được nhắc đến trên đây đa phần đều liên quan đến tên địa danh khi được tiến hành bảo hộ

Hiệp định TRIPS – Hiệp định về các khía cạnh liên quan đến thương mại của quyền SHTT là một trong những Điều ước quốc tế được xem là có những tiến bộ trong việc quy định những tiểu chuẩn bảo hộ cụ thể đối với các đối tượng của quyền SHCN và được xem là mở rộng nhất so với quy định của các Điều ước quốc tế khác, nhưng vẫn phù hợp với quy định bảo hộ của Công ước Paris và các Điều ước quốc tế khác Theo Hiệp định, ngoài việc ghi nhận tên địa danh được đăng ký trong chỉ dẫn địa lý, còn quy định thêm “Bất kỳ một dấu hiệu, hoặc tổ hợp các dấu hiệu nào, có khả năng phân biệt hàng hóa hoặc dịch vụ của một doanh nghiệp với hàng hóa hoặc dịch

vụ của các doanh nghiệp khác, đều có thể làm nhãn hiệu hàng hoá” Theo đó, dấu hiệu có thể là tên riêng (tên địa danh) đều có thể được bảo hộ miễn là có khả năng có thể đăng ký là nhãn hiệu hàng hóa

Trong khuôn khổ thực thi nghĩa vụ pháp lý quốc tế theo Hiệp định TRIPS, Hoa

Kỳ đã lựa chọn mô hình bảo hộ chỉ dẫn địa lý cũng như tên địa danh thông qua hệ

Trang 22

thống pháp luật hiện hành về nhãn hiệu với các sửa đổi và bổ sung cho phù hợp với các quy định tối thiểu của Hiệp định này

Theo đó, tên địa danh có thể được bảo hộ theo ba cách: bảo hộ dưới dạng nhãn hiệu thông thường, nhãn hiệu chứng nhận và nhãn hiệu tập thể, trong đó nhãn hiệu chứng nhận là hình thức pháp lý được xem là phù hợp nhất với tên địa danh Một yêu cầu chung đối với nhãn hiệu chứng nhận nguồn gốc xuất xứ là khi đăng ký phải

xác định rõ khu vực sản xuất Ví dụ, nhãn hiệu chứng nhận Parmigiano Reggiano để chỉ loại pho mát “có nguồn gốc từ khu vực Parma Reggio của Italy, bao gồm các vùng Parma, Reggio Emilia, Modena và Mantua bên phải dòng sông Po và Bologne, bên trái sông Reno” Hay Swiss là nhãn hiệu chứng nhận sử dụng cho sô cô la và các sản phẩm làm từ sô cô la được sản xuất tại Thụy Sĩ Tuy nhiên, bên cạnh việc chứng nhận

nguồn gốc xuất xứ, nhãn hiệu chứng nhận còn xác nhận chất lượng hoặc đặc tính của

sản phẩm Ví dụ Roquefort là nhãn hiệu chứng nhận cho các sản phẩm pho mát làm duy nhất từ sữa cừu và được lên men tự nhiên trong các hầm của làng Roquefort, quận Aveyron, Pháp.12 Các dấu hiệu đăng ký làm nhãn hiệu chứng nhận không giới hạn chỉ

ở các tên địa lý Một tên không chính thức của địa danh, tên viết tắt, thậm chí những dấu hiệu gián tiếp đều có thể được sử dụng như hoặc trong một nhãn hiệu chứng nhận

nguồn gốc địa lý “Idaho”, “Idaho Prefered Idaho”, “Idaho Potatoes Grown in Idaho”, “Grown in Idaho” là những ví dụ về nhãn hiệu chứng nhận được đăng ký bảo

hộ cho táo và các sản phẩm từ táo được trồng ở vùng Idaho, Hoa Kỳ Như vậy, với quy định như Hoa Kỳ thì tên địa danh có thể được bảo hộ trong hệ thống luật nhãn

hiệu hàng hóa Nếu tên địa danh đó được đăng ký trong nhãn hiệu chứng nhận để xác định rõ khu vực sản xuất thì bắt buộc đó phải là tên địa danh được xác định trên bản đồ; Nhưng nếu việc đăng ký bảo hộ tên địa danh thông qua nhãn hiệu thông thường thì không nhất thiết đó phải là một tên địa danh chính thức có tên trên bản đồ thế giới,

mà có thể là tên một vùng, miền được biết đến ở phạm vi địa phương hoặc những địa danh đã được thay đổi với những cái tên mới nhưng những cái tên trước đó vẫn được nhiều người biết và nhắc đến

Bảo hộ tên địa danh theo các nguyên tắc của luật Nhãn hiệu ít đòi hỏi sự tham gia của các tổ chức công, các cơ quan hành chính trong quá trình thiết lập, quản lý mà chủ yếu là xuất phát từ các tổ chức tư nhân

12 Diễn đàn Luật học, Bảo hộ chỉ dẫn địa lý dưới hình thức nhãn hiệu chứng nhận của Hoa Kỳ,

ly-di-hinh-thc-nhan-hiu-chng-nhn-ca-hoa-k-&catid=335:dan-su-to-tung-dan-s&Itemid=520 [Ngày truy cập 04/02/2011]

Trang 23

http://www.saigonminhluat.com/index.php?option=com_content&view=article&id=9608:bo-h-ch-dn-a-Một số nước bảo hộ chỉ chỉ dẫn địa lý dựa trên những quy định riêng biệt về ranh giới địa lý, tiêu chuẩn chất lượng, cơ chế kiểm soát dành cho đối tượng này như

Pháp, Bồ Đào Nha, Thụy Sĩ, Ý… Pháp là nơi đầu tiên có Luật về bảo hộ chỉ dẫn địa

lý, trong đó có những quy định riêng, đặc thù dành cho tên gọi xuất xứ hàng hóa Như vậy, nếu thực hiện bảo hộ tên địa danh theo hình thức bảo hộ chỉ dẫn địa lý này thì sẽ

có phạm vi quyền rộng hơn, yêu cầu điều kiện bảo hộ khắc khe hơn các hình thức bảo

hộ khác Chính vì vậy mà việc thực thi cũng đạt hiệu quả hơn

Ngoài ra, một số nước cũng áp dụng hình thức bảo hộ chỉ dẫn địa lý trong đó

có tên địa danh theo quy định của luật chống cạnh tranh không lành mạnh Đây là hình thức bảo hộ chỉ dẫn địa lý đầu tiên, nó là hình thức bảo hộ rất phát triển trước đây và được quốc tế chấp nhận nhiều nhất Bảo hộ chỉ dẫn địa lý theo hình thức này là ngăn cấm việc sử dụng các chỉ dẫn địa lý cho sản phẩm hàng hóa không có nguồn gốc từ khu vực địa lý tương ứng hoặc sử dụng các chỉ dẫn địa lý cho sản phẩm gây nhầm lẫn

về nguồn gốc, xuất xứ Nếu bảo hộ theo hình thức này thì sẽ có nhiều tên địa danh được bảo hộ, tuy nhiên nó không đảm bảo thực thi hiệu quả vì nó không có các quy định riêng về yêu cầu tiêu chuẩn, chất lượng của hàng hóa mang chỉ dẫn địa lý

Các hình thức có thể bảo hộ tên địa danh nói trên đều có những ưu điểm và hạn chế riêng Tùy theo đặc điểm của từng quốc gia mà có cách tiếp cận theo các hình thức khác nhau Xu hướng chung ngày nay là hầu hết các nước đều xây dựng, thiết lập hình thức bảo hộ đặc thù để đảm bảo khai thác tốt nhất lợi ích, hiệu quả của

hệ thống bảo hộ chỉ dẫn địa lý, trong đó phần lớn là tên địa danh Có nhiều nước tiếp cận bảo hộ tên địa danh theo hướng tổng hợp hoặc dung hòa cả ba hình thức nói trên

1.2.3 Tại Việt Nam

Cũng tương tự như các nước trên thế giới, tại Việt Nam hiện nay pháp luật vẫn chưa có quy định riêng biệt về bảo hộ tên địa danh, mà chỉ có quy định về bảo

hộ chỉ dẫn địa lý, trong đó có nguồn gốc xuất xứ có thể hiểu như một cách để bảo hộ tên địa danh, ngoài ra tên địa danh còn có thể bảo hộ thông qua các đối tượng bảo hộ khác trong SHCN như nhãn hiệu, tên thương mại Ngoài ra, theo những quy định đặc thù của Việt Nam thì hình thức bảo hộ tên địa danh trong chỉ dẫn địa lý, nhãn hiệu tập thể và nhãn hiệu chứng nhận thường được lựa chọn hơn các đối tượng khác, bởi nó có vẻ phù hợp và gần gũi hơn Bởi vì đối tượng bảo hộ của nhãn hiệu tập thể thường là những nông sản, đặc sản ở địa phương; Nhãn hiệu chứng nhận thì bắt buộc phải có yếu tố “đặc tính về xuất xứ” và chỉ dẫn địa lý là để chỉ nguồn gốc xuất xứ

Trang 24

của sản phẩm từ địa phương, khu vực hay một quốc gia Nhìn chung, khi tiến hành bảo hộ dưới các hình thức này luôn gắn liền với yếu tố địa danh Nước ta hiện nay có rất nhiều thương hiệu, sản phẩm gắn liền với những địa danh nổi tiếng (trong đó có

cả địa danh hành chính và những địa danh không phải địa giới hành chính nhưng có

tên gọi quen thuộc từ lâu đời) như: Rượu bia Bến Thủy (Vinh); Trà đen Cầu Đất (Đà Lạt); Xi măng Hà Tiên; Nước mắm Phú Quốc; Xi măng Tây Đô…Nhưng số lượng

sản phẩm được bảo hộ quyền SHCN trong số đó lại không nhiều, đặc biệt là bảo hộ tên địa danh dưới dạng nhãn hiệu, chỉ dẫn địa lý hay tên thương mại Nguyên nhân chủ yếu là do những quy định về bảo hộ quyền SHCN chỉ được chú trọng ở nước ta vào những năm gần đây nên việc thực thi vẫn còn nhiều hạn chế Bên cạnh đó, sự hiểu biết của các doanh nghiệp về tầm quan trọng của việc bảo hộ quyền SHCN vẫn chưa cao cũng như chưa có sự hiểu biết nhất định về các đối tượng có thể được bảo

hộ quyền SHCN để đưa ra cho mình sự lựa chọn đúng đắn Vì thế, mặc dù có nhiều doanh nghiệp tạo được danh tiếng trên thị trường, được nhiều người biết đến rộng rãi nhưng việc bảo hộ cho sản phẩm hay dịch vụ của họ vẫn chưa được thực hiện sát sao Điều đó dẫn đến hệ quả là có những doanh nghiệp nhiều lần phải điêu đứng vì đứng trước nguy cơ bị mất thương hiệu cả trong và ngoài nước do bị các doanh nghiệp khác đăng ký bảo hộ những sản phẩm tương tự

1.3 Ý nghĩa của việc bảo hộ tên địa danh trong SHCN

Với vai trò quan trọng không chỉ đối với nhà sản xuất, kinh doanh, người tiêu dùng, mà còn cả với sự phát triển của nền kinh tế, của đất nước ta, việc bảo hộ quyền SHCN đối với các đối tượng nhãn hiệu, tên thương mại, chỉ dẫn địa lý có ý nghĩa vô cùng to lớn, đặc biệt khi được đánh giá từ góc độ bảo hộ tên địa danh Cụ thể như sau:

- Trước hết, việc bảo hộ tên địa danh trong bảo hộ quyền SHCN đối với nhãn hiệu, tên thương mại, chỉ dẫn địa lý sẽ dễ dàng tạo được danh tiếng của các cá nhân, các nhà sản xuất, doanh nghiệp trên thị trường hoạt động bởi các tên địa danh vốn đã được nhiều người biết đến rộng rãi từ lâu đời, dễ đi sâu vào tiềm thức của người tiêu dùng Từ đó, đòi hỏi họ phải đẩy mạnh hoạt động nghiên cứu sáng tạo và áp dụng các

kỹ thuật tiến bộ vào sản xuất tạo ra sản phẩm, dịch vụ mới, thu hút được người tiêu dùng bằng con đường cạnh tranh lành mạnh hợp pháp Đồng thời, đó cũng là cách để buộc các nhà sản xuất, kinh doanh thực hiện những cam kết về uy tính, chất lượng sản phẩm, dịch vụ của mình đối với người tiêu dùng và với toàn xã hội

- Bảo hộ tên địa danh trong SHCN, đặc biệt là chỉ dẫn địa lý liên quan đến lợi ích quốc gia và có ý nghĩa rất lớn trong việc phát triển sản xuất đặc sản mà chẳng nơi nào

Trang 25

có được, nhiều địa danh của Việt Nam sẽ được bạn bè nhiều nơi trên thế giới biết đến với những đặc sản nổi tiếng, mang tính đặc thù riêng biệt mà không một nơi nào khác trên thế giới có thể có được, góp phần nâng cao giá trị tài sản quốc gia, ví dụ bưởi

Năm roi Vĩnh Long, nước mắm Phú Quốc…Bên cạnh đó, việc bảo hộ còn giúp phát

triển các ngành nghề truyền thống, phát triển nông nghiệp, nông thôn, giúp giải quyết việc làm, hạn chế những lao động rỗi nghề ở địa phương, là một trong những yếu tố

ổn định và phát triển nền kinh tế Hơn nữa, bản sắc dân tộc của Việt Nam ta cũng được giữ gìn và khẳng định thông qua các địa danh nổi tiếng với những sản phẩm

mang đậm giá trị truyền thống như nón lá Huế, gốm Bát Tràng…

- Nước ta đang trong quá tình hòa nhập với xu thế toàn cầu hóa tiến tới thương mại tự do hơn, và để khuyến khích đầu tư chuyển giao công nghệ, việc bảo hộ quyền SHCN cũng có ý nghĩa hết sức quan trọng Trong đó, có thể thấy việc bảo hộ tên địa danh trong bảo hộ quyền SHCN đối với nhãn hiệu, tên thương mại, chỉ dẫn địa lý là biện pháp tích cực khuyến khích đầu tư nước ngoài Các nhà đầu tư sẽ yên tâm hơn nếu họ được tạo điều kiện thuận lợi và có cơ sở pháp lý vững chắc, an toàn khi đầu tư vào Việt Nam dưới một tên thương mại được bảo hộ hay hàng hóa, dịch vụ dưới một nhãn hiệu , một chỉ dẫn địa lý được công nhận Đặc biệt là khi những dịch vụ, hàng hóa đó mang những nhãn hiệu, chỉ dẫn địa lý dưới tên một địa danh của Việt Nam thì

sẽ càng tạo được sự riêng biệt của những hàng hóa đó và dễ dàng nhận biết hơn khi hàng hóa Việt Nam được xuất ra nước ngoài hoặc các dịch vụ được giới thiệu đến bạn

bè quốc tế

- Bảo hộ tên địa danh trong SHCN đối với các đối tượng này còn có ý nghĩa quan trọng trong việc bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng, bởi vai trò của các đối tượng này chính là giúp cho người tiêu dùng chọn lựa sản phẩm, dịch vụ phù hợp giữa các nhóm sản phẩm, dịch vụ cùng loại Chúng là những yếu tố giúp người tiêu dùng có được tâm lý an tâm, tránh bị lừa dối hoặc nhầm lẫn khi lựa chọn sản phẩm, dịch vụ, nhất là trong giai đoạn hiện nay khi mà hàng nhái, hàng giả tràn lan trên thị trường và ngay cả các cơ quan chức năng cũng khó mà phát hiện ra

Tuy rằng mang những ý nghĩa hết sức quan trọng như vậy, nhưng việc bảo hộ tên địa danh trong SHCN vẫn còn mơ hồ đối với đối với các cơ sở sản xuất và doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ, hàng hóa có nhu cầu bảo hộ quyền SHCN Bên cạnh đó, Nhà nước ta cũng chưa có những quy định riêng biệt dành cho đối tượng này nên việc thực thi vẫn còn gặp nhiều khó khăn Để làm rõ về việc bảo hộ tên địa danh trong SHCN như thế nào cũng như cách thức bảo hộ và những ưu, khuyết điểm của chúng

Trang 26

khi được bảo hộ trong từng đối tượng của quyền SHCN, tác giả sẽ nghiên cứu những vấn đề bảo hộ tên địa danh trong SHCN theo quy định của pháp luật Việt Nam (cụ thể

là bảo hộ tên địa danh trong chỉ dẫn địa lý, nhãn hiệu và tên thương mại) sẽ được trình

bày ở phần chương II của luận văn

Trang 27

CHƯƠNG II BẢO HỘ TÊN ĐỊA DANH TRONG SỞ HỮU CÔNG NGHIỆP THEO QUY

ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VIỆT NAM

Những sản phẩm, dịch vụ mang tên địa danh vốn không xa lạ gì với các nhà sản xuất, kinh doanh các hàng hóa, dịch vụ trên thị trường Đặc biệt là những hàng hóa nông sản thường được sản xuất từ một số địa danh nhất định, đó có thể là những địa danh bình thường ở địa phương hoặc những địa danh nổi tiếng được nhiều người

biết đến như nước mắm Phú Quốc (Kiên Giang), bưởi Đoan Hùng (Phú Thọ), gạo nàng thơm Chợ Đào (Long An)… Nhưng để tiến hành đăng ký bảo hộ cho tên địa

danh cũng như bảo vệ thương hiệu của mình thông qua quyền SHCN thì lại ít được các chủ thể kinh doanh quan tâm một cách đúng mức

Thực chất, việc bảo hộ các tài sản trí tuệ thông qua quyền SHCN sẽ mang lại cho chủ sở hữu độc quyền sử dụng những tài sản đó trong kinh doanh và trao cho chủ sở hữu một số quyền hạn nhất định Chủ sở hữu có quyền lựa chọn ai có thể tiếp cận và sử dụng tài sản của mình và bảo vệ nó trước việc sử dụng không được phép Bên cạnh đó, pháp luật cũng đặt ra một số điều kiện nhất định đối với các đối tượng cần được bảo hộ và một số nghĩa vụ nhất định buộc chủ sở hữu phải tuân theo

2.1 Điều kiện bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với các đối tượng có thể bảo

hộ dưới góc độ tên địa danh

2.1.1 Chỉ dẫn địa lý

2.1.1.1 Khái niệm chỉ dẫn địa lý và bảo hộ tên địa danh trong chỉ dẫn địa lý

Theo định nghĩa tại Điều 4 Luật sở hữu trí tuệ Việt Nam thì “chỉ dẫn địa lý là dấu hiệu dùng để chỉ sản phẩm có nguồn gốc từ khu vực, địa phương, vùng lãnh thổ hay quốc gia cụ thể” Như vậy, chỉ dẫn địa lý được sử dụng để chỉ ra một khu vực

địa lý mà một hoặc một số doanh nghiệp sản xuất loại hàng hóa sử dụng chỉ dẫn địa

lý này để tạo ra sản phẩm từ đó

Ngay từ khái niệm đã có thể thấy địa danh là một trong những yếu tố hàng

đầu khi xác định chỉ dẫn địa lý được bảo hộ “…có nguồn gốc từ khu vực, địa phương, vùng lãnh thổ hay quốc gia cụ thể” - tức là địa danh đó phải được xác định

Trang 28

một cách rõ ràng và chính xác trên bản đồ để có thể phân biệt với những địa danh từ khu vực, địa phương, vùng lảnh thổ hay quốc gia khác nhau Khi địa danh là chỉ dẫn địa lý tức là địa danh đó mang biểu trưng của địa phương có ý nghĩa chỉ dẫn nguồn gốc địa lý của sản phẩm trong trường hợp dùng cho đặc sản của địa phương (sản phẩm đặc biệt, có danh tiếng nhờ những đặc trưng nhất định, được sản xuất tại địa phương); hoặc dùng cho sản phẩm trồng trọt, chăn nuôi (rau quả, lương thực, vật nuôi, chè, cà phê, hồ tiêu…) của địa phương; hoặc dùng cho sản phẩm khai thác nguyên liệu thiên nhiên (than, sắt, thép, nhôm, xi măng, đá, muối, gỗ…) ở địa phương; hoặc dùng cho những sản phẩm thuộc các ngành công nghiệp phát triển của địa phương.13

Đương nhiên, người ta chỉ sử dụng chỉ dẫn địa lý có ảnh hưởng tích cực tới khả năng tiêu thụ hàng hóa trên thị trường Do đó, dường như mọi trường hợp sử dụng chỉ dẫn địa lý trên hàng hóa đều rơi vào trường hợp khi hàng hóa đó có xuất xứ

từ địa danh tương ứng và đã có uy tín nhất định đối với người tiêu dùng Và chính yếu tố uy tín trong người tiêu dùng đã tạo nên giá trị hàng hóa tiền tệ của chỉ dẫn xuất xứ hàng hóa và do đó cần được bảo hộ tương ứng Còn những chỉ dẫn địa lý không liên quan tới uy tín của hàng hóa thì việc bảo hộ chúng với tư cách bảo hộ quyền SHCN là không hợp lý

Ở nước ta hiện nay, chỉ dẫn địa lý được bảo hộ theo nguyên tắc đặc thù – tức

là hình thức bảo hộ chỉ dẫn địa lý dựa trên những nguyên tắc riêng về ranh giới địa

lý, tiêu chuẩn chất lượng, cơ chế kiểm soát… dành cho đối tượng này Như vậy, việc một địa danh được bảo hộ dưới hình thức chỉ dẫn địa lý sẽ phải đáp ứng những điều kiện khắc khe về những biểu trưng, đặc thù của sản phẩm mà địa danh đó mang đến

2.1.1.2 Điều kiện đối với chỉ dẫn địa lý được bảo hộ

Cũng giống như nhãn hiệu hàng hóa, một chỉ dẫn địa lý truyền đi một thông điệp Nó nói với người mua rằng một sản phẩm được sản xuất tại một địa điểm cụ thể và có những đặc tính mong muốn nhất định mà chỉ nơi ấy mới có Một chỉ dẫn địa lý được thừa nhận về mặt pháp lý có tác dụng mang lại cho người sản xuất địa phương hoặc khu vực một độc quyền để sử dụng chỉ dẫn tại quốc gia cấp và tại các quốc gia khác trong trường hợp có tham gia Điều ước quốc tế Chính vì vậy, để một chỉ dẫn địa lý được bảo hộ cần phải đáp ứng một số điều kiện nhất định

13 Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Bình Dương, Quy định của nhà nước về bảo hộ quyền sở hữu

công nghiệp cho các sản phẩm, dịch vụ mang tên địa danh”, Trần Thị Bích Hồng,

http://khcnbinhduong.gov.vn/?s=AV&CateID=zoku4BrYr6j22WBWrEpkHw%3D%3D&ArtID=Xs1IlWr UoN2i2v3YV26DCA%3D%3D , [Truy cập ngày 08/02/2012]

Trang 29

Theo Điều 79 Luật SHTT 2005 quy định về điều kiện chung đối với chỉ dẫn địa lý được bảo hộ bao gồm:

- Sản phẩm mang chỉ dẫn địa lý có nguồn gốc địa lý từ khu vực, địa phương,

vùng lảnh thổ hoặc nước tương ứng với chỉ dẫn địa lý

- Sản phẩm mang chỉ dẫn địa lý có danh tiếng, chất lượng hoặc đặc tính chủ yếu do điều kiện địa lý của khu vực, địa phương, vùng lảnh thổ hoặc nước tương ứng với chỉ dẫn địa lý đó quyết định

Trong đó, danh tiếng của sản phẩm mang chỉ dẫn địa lý được xác định bằng mức độ tín nhiệm của người tiêu dùng đối với sản phẩm đó thông qua mức độ rộng rãi người tiêu dùng biết đến và chọn lựa sản phẩm đó

Chất lượng, đặc tính của sản phẩm mang chỉ dẫn địa lý được xác định bằng một hoặc một số chỉ tiêu định tính, định lượng hoặc cảm quan về vật lý, hóa học, vi sinh và các chỉ tiêu đó phải có khả năng kiểm tra được bằng phương tiện kỹ thuật hoặc chuyên gia với phương thức kiểm tra phù hợp.14

Điều kiện địa lý liên quan đến chỉ dẫn địa lý bao gồm: Các điều kiện địa lý liên quan đến chỉ dẫn địa lý là những yếu tố tự nhiên, yếu tố về con người quyết định danh tiếng, chất lượng, đặc tính của sản phẩm mang chỉ dẫn địa lý đó

+ Yếu tố tự nhiên bao gồm các yếu tố về khí hậu, thủy văn, địa chất, địa hình,

hệ sinh thái và các điều kiện tự nhiên khác

+ Yếu tố về con người bao gồm kỹ năng, kỹ xảo của người sản xuất, quy trình sản xuất truyền thống của địa phương

+ Khu vực địa lý mang chỉ dẫn địa lý có ranh giới được xác định một cách chính xác bằng từ ngữ và bảng đồ.15

Như vậy, chỉ những tên địa danh thuộc địa giới hành chính được xác định chính xác bằng từ ngữ và bản đồ mới là đối tượng của bảo hộ chỉ dẫn địa lý Những địa danh dù có tên gọi lâu đời, mọi người đều biết nhưng không được xác định trên bản đồ cũng không được xác định là khu vực địa lý mang chỉ dẫn địa lý, ví dụ như

tên địa danh Sài Gòn, Tây Đô,…Về mặt chiến lược, chỉ dẫn địa lý có nhiều tác dụng

kinh doanh mạnh mẽ Tầm cỡ của những đặc sản địa phương có thể được nâng lên

14

Điều 81 Luật SHTT 2005, Sửa đổi bổ sung 2009

15 Điều 82, Điều 83 Luật SHTT 2005, Sửa đổi bổ sung 2009

Trang 30

trong con mắt của người tiêu dùng khi một cộng đồng địa phương và các thành viên của cộng đồng này được hưởng độc quyền để sử dụng một chỉ dẫn địa lý riêng biệt

Do vậy, pháp luật cũng quy định cụ thể một số đối tượng không được bảo hộ với danh nghĩa là chỉ dẫn địa lý, đó là:

- Tên gọi, chỉ dẫn đã trở thành tên gọi chung của hàng hóa Việt Nam; Ví dụ

như rượu Vodka Hà Nội là một nhãn hiệu nổi tiếng được nhiều người biết đến trên thị trường trong nước và một số nước Châu Á, không thể nào dùng địa danh Hà Nội

để đăng ký bảo hộ chỉ dẫn địa lý cho sản phẩm rượu Vodka trong trường hợp này

- Chỉ dẫn địa lý của nước ngoài mà tại nước đó chỉ dẫn địa lý không được bảo

hộ, đã bị chấm dứt bảo hộ hoặc không còn sử dụng; Một điều dễ hiểu là nếu một chỉ dẫn địa lý đã không đáp ứng được những điều kiện để được bảo hộ tại nước sở tại thì đương nhiên chúng cũng sẽ không thể được bảo hộ ở các quốc gia khác và Việt Nam cũng không ngoại lệ Việc chỉ dẫn địa lý đã chấm dứt bảo hộ hoặc không còn sử dụng cũng đồng nghĩa với việc văn bằng bảo hộ đã chấm dứt hiệu lực (Theo Điều 95 Luật SHTT 2005), vì vậy cũng không thể bảo hộ tại Việt Nam

- Chỉ dẫn địa lý trùng hoặc tương tự với một nhãn hiệu đang được bảo hộ, nếu việc sử dụng chỉ dẫn địa lý đó được thực hiện thì sẽ gây nhầm lẫn về nguồn gốc của sản phẩm; Điển hình như một doanh nghiệp đã tiến hành đăng ký bảo hộ độc quyền

nhãn hiệu sản phẩm của mình với tên “bưởi Tân Triều”, sau đó một doanh nghiệp khác lại đăng ký bảo hộ chỉ dẫn địa lý cho sản phẩm bưởi Tân Triều – Vĩnh Cửu,

như vậy chỉ dẫn địa lý này sẽ không được bảo hộ vì rất dễ gây nhầm lẫn với nhãn

hiệu “bưởi Tân Triều” đã được bảo hộ trước đó

- Chỉ dẫn địa lý gây hiểu sai lệch cho người tiêu dùng về nguồn gốc địa lý thực của sản phẩm mang chỉ dẫn địa lý đó.16

Như vậy, từ những quy định trên có thể rút ra một số điểm về tên địa danh được bảo hộ trong chỉ dẫn địa lý:

- Có thể đăng ký bảo hộ đối với địa danh có ý nghĩa chỉ dẫn nguồn gốc địa lý của sản phẩm là đặc sản, mang những tiêu chí có tính chất đặc trưng nhất định cho chỉ dẫn địa lý

- Không được bảo hộ đối với địa danh của địa phương đã được sử dụng với chức năng nhãn hiệu thông thường và được thừa nhận rộng rãi, tức là mất ý nghĩa

16 Điều 80 Luật SHTT 2005, Sửa đổi bổ sung 2009

Trang 31

mô tả nguồn gốc địa lý và đạt được ý nghĩa chỉ dẫn nguồn gốc thương mại (khả năng

phân biệt) Ví dụ bia Hà Nội, bia Sài Gòn; hoặc là địa phương tương ứng không thể

là nơi sản phẩm được sản xuất, ví dụ: thuốc lá Bắc Cực

- Không được bảo hộ đối với địa danh của địa phương thuộc kiến thức địa lý phổ thông được nhiều người biết đến (ví dụ: tên các tỉnh, thành phố, các danh lam, thắng cảnh) dùng cho sản phẩm thông thường của địa phương (kể cả sản phẩm mà địa phương có lợi thế kinh doanh nhưng chưa có danh tiếng, đặc trưng về chất lượng), được nhiều chủ thể kinh doanh ở địa phương sử dụng cho hàng hóa dịch vụ của mình, chỉ có ý nghĩa mô tả địa điểm sản xuất

Trên thực tế, một địa danh có thể mang nhiều chỉ dẫn địa lý như hạt tiêu Phú Quốc, nước mắm Phú Quốc; Đà Lạt với các sản phẩm đặc sản của vùng này như bắp

cải, xà lách, súp lơ…và ngược lại, cùng một loại sản phẩm tương tự cũng có thể

mang chỉ dẫn địa lý ở nhiều nơi như bưởi Đoan Hùng (Phú Thọ), bưởi Vĩnh Long…Như vậy, sẽ mở rộng phạm vi cho việc đăng ký bảo hộ chỉ dẫn địa lý, dù địa

danh đó đã được đăng ký chỉ dẫn địa lý rồi, nhưng các chủ thể sản xuất, kinh doanh vẫn có thể yên tâm khi được Nhà nước cho phép đăng ký với nhiều loại sản phẩm đặc sản khác miễn là đáp ứng được những tiêu chuẩn được bảo hộ

Hình 01: Nước mắm Phú Quốc đã được bảo hộ chỉ dẫn địa lý tại Việt Nam

Có một điểm yếu là nông sản, đặc sản (đối tượng chủ yếu của chỉ dẫn địa lý)

ở nước ta thì nhiều và luôn gắn với địa danh Trong khi nông dân, doanh nghiệp là người hưởng lợi ích kinh tế từ những địa danh này nhưng họ khó mà giành quyền đăng ký, phát triển thương hiệu nông sản là địa danh Bởi quyền đăng ký chỉ dẫn địa

lý là thuộc về Nhà nước, nhưng đôi lúc việc các cơ quan chức năng phát hiện và tìm hiểu được những địa danh này cần có thời gian dài, trong khi những người nông dân

Trang 32

và các cơ sở sản xuất địa phương đôi khi không có kiến thức sâu rộng về lĩnh vực này nên cũng ngần ngại hoặc không biết là có thể tìm đến các cơ quan chức năng để bảo vệ cho những đặc sản gắn với địa phương của họ cũng như một số quyền lợi và lợi ích kinh tế mà họ đáng lẽ đạt được Hơn nữa, để được bảo hộ là chỉ dẫn địa lý thì đặc sản của địa phương phải có nét đặc trưng so với đặc sản cùng loại đó nhưng ở vùng khác Đặc trưng này phải cân, đong, đo, đếm, phân tích khoa học ra được chứ không phải cảm giác “ngon miệng”, “là lạ” mà được bảo hộ Đặc trưng này còn phải phụ thuộc vào địa lý, khí hậu, thổ nhưỡng, quy trình canh tác, thu hoạch riêng biệt của người dân địa phương Vì thế, có những sản phẩm của địa phương rất ngon, rất

lạ nhưng giá trị kinh tế thấp thì người dân địa phương đó cũng không nghĩ đến việc đăng ký làm gì.17

2.1.2 Nhãn hiệu

2.1.2.1 Khái niệm về nhãn hiệu và bảo hộ tên địa danh trong nhãn hiệu

Giống như tên thương mại, nhãn hiệu cũng là phương tiện giao tiếp giữa doanh nghiệp và các chủ thể khác Tuy nhiên, vai trò quan trọng hơn của nhãn hiệu

là công cụ có tác dụng trực quan đến người tiêu dùng, giúp họ nhận biết hàng hóa của doanh nghiệp trước tiên thông qua thị giác hoặc thính giác, thiết kế một nhãn hiệu tốt là thiết kế một nhãn hiệu có tính thu hút về trình bày, tính đặc trưng cao và thuận lợi cho việc quảng cáo, mặt khác phải đáp ứng các quy định của pháp luật về các dấu hiệu không được sử dụng làm nhãn hiệu và không xung đột với một nhãn hiệu đã được bảo hộ trước đó.18

Đối tượng của nhãn hiệu bao gồm cả hàng hóa và dịch vụ

Theo Luật SHTT Việt Nam 2005, nhãn hiệu được giải thích như sau: “Nhãn hiệu là dấu hiệu dùng để phân biệt hàng hóa, dịch vụ của các tổ chức, cá nhân khác nhau.” (Theo Khoản 16 Điều 4 Luật SHTT 2005) Như vậy, đặc điểm cơ bản của

nhãn hiệu hàng hóa chính là yếu tố phân biệt của nhãn hiệu này với nhãn hiệu khác

Theo đó, nhãn hiệu phải là dấu hiệu nhìn thấy được dưới dạng chữ cái, từ ngữ, hình vẽ, hình ảnh, kể cả ba chiều hoặc sự kết hợp các yếu tố đó, được thể hiện

17

Pháp luật TPHCM online, Chọn mặt gửi …chỉ dẫn địa lý, Quỳnh Như,

http://phapluattp.vn/20111114113059704p0c1014/chon-mat-gui-chi-dan-dia-ly.htm , [truy cập ngày

13/02/2012]

18 Bộ Khoa học và Công Nghệ (Thanh tra Bộ), Quyền sở hữu công nghiệp là tài sản của doanh nghiệp

quản lý và bảo hộ, tai-san-cua-doanh-nghiep-quan-ly-va-bao-ho , [truy cập ngày 13/0/2012]

Trang 33

http://thanhtra.most.gov.vn/vi/cac-bai-nghien-cuu-shtt/quyen-so-huu-cong-nghiep-la-bằng một hoặc nhiều mầu sắc và có khả năng phân biệt được với hàng hóa, dịch vụ của chủ sở hữu nhãn hiệu với hàng hóa, dịch vụ của chủ thể khác.19

Điểm khác biệt giữa nhãn hiệu so với các đối tượng khác của sở hữu công nghiệp như sáng chế hay kiểu dáng công nghiệp là nó không mang tính sáng tạo trí tuệ cao mà là biểu tượng

để người sản xuất, kinh doanh đánh dấu cho sản phẩm, dịch vụ của mình Có thể nhận thấy chức năng chính của nhãn hiệu trước tiên là giúp phân biệt sản phẩm hàng hóa, dịch vụ của chủ thể này với chủ thể khác, ngoài ra nhãn hiệu còn giữ vai trò then chốt trong chiến lược quảng cáo và tiếp thị của doanh nghiệp nhằm tạo dựng hình ảnh và uy tín về các sản phẩm của doanh nghiệp trong mắt người tiêu dùng

Dấu hiệu nhìn thấy được dưới dạng “chữ cái, từ ngữ” có thể hiểu là bao gồm

cả tên địa danh như Kiên Giang, Cần Thơ, Tây Ninh, Nha Trang… chỉ cần chúng

đáp ứng được khả năng phân biệt thì đều có thể được bảo hộ dưới dạng nhãn hiệu

Như vậy, dựa vào khái niệm nhãn hiệu hàng hóa, có thể hiểu bảo hộ tên địa danh trong nhãn hiệu nghĩa là sự kết hợp yếu tố tên địa danh cùng với các dấu hiệu khác có thể đáp ứng đủ điều kiện của một nhãn hiệu được bảo hộ theo quy định pháp luật (như đã trình bày ở trên) Khác với chỉ dẫn địa lý là tên địa danh được bảo hộ phải là địa giới hành chính và được xác định trên bản đổ; còn trong nhãn hiệu thì tên địa danh có thể là tên gọi trước đây của địa giới hành chính nay trở thành tên gọi

theo thói quen lâu đời như Sài Gòn (tên gọi trước đây của TP.HCM), điển hình là nhãn hiệu bia Sài Gòn hay Tây Đô (tên gọi trước đây của TP.Cần Thơ) như xi măng Tây Đô và cả những địa danh thuộc địa giới hành chính như Đà Lạt, Hà Tiên…chỉ

cần chúng có khả năng phân biệt được với các hàng hóa, dịch vụ khác Tuy nhiên, cần xác định là tên địa danh được bảo hộ trong nhãn hiệu được sử dụng như một yếu

tố phụ cấu thành một nhãn hiệu chứ không phải bảo hộ riêng

Hình 02 Nhãn hiệu bia Sài Gòn

19 Điều 72 Luật SHTT 2005, sửa đổi bổ sung 2009

Trang 34

2.1.2.2 Điều kiện chung đối với nhãn hiệu được bảo hộ

Để thực hiện chức năng phân biệt sản phẩm, dịch vụ của nhà sản xuất này với nhà sản xuất khác thì nhãn hiệu đó phải có khả năng phân biệt Nhãn hiệu được coi

là có khả năng phân biệt nếu được tạo thành từ một hoặc một số yếu tố dễ nhận biết,

dễ ghi nhớ hoặc từ nhiều yếu tố kết hợp thành một tổng thể dễ nhận biết và những dấu hiệu đó phải đáp ứng được các điều kiện hình thức và các điều kiện nội dung theo quy định của pháp luật

- Dấu hiệu, biểu tượng quy ước, hình vẽ hoặc tên gọi thông thường của hàng hóa, dịch vụ bằng bất kỳ ngôn ngữ nào đã được sử dụng rộng rãi, thường xuyên, nhiều người biết đến Ví dụ: Nhãn hiệu nước uống có ga Cocacola đã quá nổi tiếng

và đã được cấp chứng nhận bảo hộ trên toàn thế giới Do vậy, nếu nay doanh nghiệp nào đăng ký nhãn hiệu hàng hóa là Cocacolo chẳng hạn thì sẽ không được cấp giấy chứng nhận bảo hộ - vì nhãn hiệu này có thể gây nhầm lẫn là của Cocacola

Điều kiện này cũng được thể hiện trong công ước Paris, tại mục B điểm 2 Điều 6 quin quines

. Theo đó, một nhãn hiệu sẽ không được đăng ký nếu chúng không có bất cứ dấu hiệu phân biệt nào, hoặc chỉ bao gồm toàn các dấu hiệu hoặc chỉ được sử dụng trong thương mại để chỉ chủng loại, chất lượng, số lượng, mục đích sử dụng, giá trị, xuất xứ của hàng hóa, hoặc thời gian sản xuất, hoặc đã trở thành thông dụng trong ngôn ngữ hiện thời hoặc trong tập quán thương mại lành mạnh và lâu đời tại nước có yêu cầu bảo hộ

* Điều kiện về nội dung

Những dấu hiệu mang tính miêu tả, công dụng, giá trị của hàng hóa hoặc dịch

vụ và dấu hiệu chỉ chủng loại sẽ không được bảo hộ do mất khả năng phân biệt Những trường hợp sau đây sẽ không được coi là có khả năng phân biệt :

Trang 35

- Dấu hiệu chỉ thời gian, địa điểm, phương pháp sản xuất, chủng loại, số lượng, chất lượng, tính chất, thành phần, công dụng, giá trị hoặc các đặc tính khác mang tính mô tả hàng hóa, dịch vụ, trừ trường hợp dấu hiệu đó đã đạt được khả năng phân biệt thông qua quá trình sử dụng trước thời điểm nộp đơn đăng ký nhãn hiệu;

- Dấu hiệu mô tả hình thức pháp lý Lĩnh vực kinh doanh của chủ thể kinh doanh; Ví dụ như nhãn hiệu mang tên “Trách nhiệm hữu hạn” (TNHH), “Nhựa”,

“Thép” sẽ không được bảo hộ do trên thực tế có rất nhiều doanh nghiệp hoạt động với loại hình công ty TNHH và cùng trong lĩnh vực kinh doanh nhựa, thép cũng có rất nhiều doanh nghiệp nên dấu hiệu này không thể đạt được khả năng phan biệt

- Dấu hiệu chỉ nguồn gốc địa lý của hàng hóa, dịch vụ, trừ trường hợp dấu hiệu đó đã được sử dụng và thừa nhận rộng rãi với danh nghĩa một nhãn hiệu hoặc được đăng ký dưới dạng nhãn hiệu tập thể hoặc nhãn hiệu chứng nhận theo quy định

của Luật SHTT 2005 Điển hình là nhãn hiệu rượu Vodka Hà Nội

- Dấu hiệu không phải là nhãn hiệu liên kết trùng hoặc tương tự đến mức gây nhầm lẫn với nhãn hiệu đã được đăng ký cho hàng hóa, dịch vụ trùng hoặc tương tự trên cơ sở đơn đăng ký có ngày nộp đơn hoặc ngày ưu tiên sớm hơn trong trường hợp đơn đăng ký được hưởng quyền ưu tiên, kể cả đơn đăng ký nhãn hiệu được nộp theo Điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên Ví dụ

như doanh nghiệp A nộp đơn đăng ký bảo hộ cho nhãn hiệu “nước hoa Dạ Hương”

vào ngày 14/02/2011, sau đó vào ngày 14/04/2011 doanh nghiệp B (là một doanh nghiệp hoàn toàn độc lập, không có sự liên kết với công ty A) lại nộp đơn đăng ký

cho nhãn hiệu “ nước hoa Dạ Hương” thì đương nhiên sẽ không được bảo hộ, bất kể

cho số phận của đơn bảo hộ mà doanh nghiệp A đã nộp trước có được chấp nhận hay không

- Dấu hiệu trùng hoặc tương tự đến mức gây nhầm lẫn với nhãn hiệu của người khác đã được sử dụng và thừa nhận rộng rãi cho hàng hóa, dịch vụ trùng hoặc tương tự từ trước ngày nộp đơn hoặc ngày ưu tiên trong trường hợp đơn được hưởng

quyền ưu tiên Chẳng hạn như nhãn hiệu điện thoại Nokia đã được sử dụng và thừa

nhận rộng rãi trên toàn thế giới Do vậy, nếu doanh nghiệp nào đăng ký nhãn hiệu

Nokia hoặc Nokio, Nokie đều không được cấp giấy chứng nhận bảo hộ và nhãn hiệu này có thể gây nhầm lẫn là của Nokia

- Dấu hiệu trùng hoặc tương tự đến mức gây nhầm lẫn với nhãn hiệu của người khác đã đăng ký cho hàng hóa, dịch vụ trùng hoặc tương tự mà đăng ký nhãn

Trang 36

hiệu đó đã chấm dứt hiệu lực chưa quá năm năm, trừ trường hợp hiệu lực bị chấm dứt vì lý do nhãn hiệu không được sử dụng theo quy định tại Điểm d Khoản 1 Điều

95 Luật SHTT 2005 Lấy một ví dụ minh họa như trước đó doanh nghiệp A đăng ký

bảo hộ cho sản phẩm “Thăng Long” và sản phẩm đó hết hiệu lực bảo hộ vào ngày

01/01/2005( không rơi vào trường hợp quy định tại Điểm d Khoản 1 Điều 95 Luật SHTT 2005) thì trong khoảng thời gian từ ngày 01/01/2005 đến ngày 01/01/2010 bất

kỳ đơn đăng ký nào với sản phẩm mang nhãn hiệu “Thăng Long” hoặc “Thắng long”

đều không được bảo hộ

- Dấu hiệu trùng hoặc tương tự đến mức gây nhầm lẫn với nhãn hiệu được coi

là nổi tiếng của người khác đăng ký cho hàng hóa, dịch vụ trùng hoặc tương tự với hàng hóa, dịch vụ mang nhãn hiệu nổi tiếng hoặc đăng ký cho hàng hóa, dịch vụ không tương tự, nếu việc sử dụng đó có thể làm ảnh hưởng đến khả năng phân biệt của nhãn hiệu nổi tiếng hoặc việc đăng ký của nhãn hiệu nhằm lợi dụng uy tín của

nhãn hiệu nổi tiếng Chẳng hạn như Miliket – nhãn hiệu mì gói được đánh giá là nổi

tiếng, một doanh nghiệp sản xuất nước mắm lại muốn đăng ký bảo hộ với nhãn hiệu

Miliket thì sẽ bị từ chối bảo hộ do ảnh hưởng đến khả năng phân biệt cũng như danh tiếng của nhãn hiệu nổi tiếng Miliket

- Dấu hiệu trùng hoặc tương tự với tên thương mại đang được sử dụng của người khác, nếu việc sử dụng dấu hiệu đó có thể gây nhầm lẫn cho người tiêu dùng

về nguồn gốc hàng hóa, dịch vụ Điều này đồng nghĩa với việc nếu có một doanh

nghiệp đang hoạt động trên thị trường với tên Bến Thủy thì một doanh nghiệp khác

lẽ dĩ nhiên sẽ không thể lấy tên Bến Thủy để sử dụng cho nhãn hiệu của mình khi

đăng ký bảo hộ

- Dấu hiệu trùng hoặc tương tự với chỉ dẫn địa lý đang được bảo hộ nếu việc

sử dụng dấu hiệu đó có thể làm cho người tiêu dùng hiểu sai lệch về nguồn gốc địa

lý của hàng hóa Ví dụ như sản phẩm cói của Nga Sơn (Thanh Hóa) đã được cấp văn

bằng bảo hộ chỉ dẫn địa lý, một nhãn hiệu hàng hóa khác sẽ không thể đăng ký bảo

hộ với tên Nga Sơn, Nga Son…

- Dấu hiệu trùng với chỉ dẫn địa lý hoặc có chứa chỉ dẫn địa lý hoặc được dịch nghĩa, phiên âm từ chỉ dẫn địa lý đang được bảo hộ cho rượu vang, rươu mạnh nếu dấu hiệu được đăng ký sử dụng cho rượu vang, rượu mạnh không có nguồn gốc xuất xứ từ khu vực địa lý mang chỉ dẫn địa lý đó Điển hình như rượu vang

Bordeaux đã đươc bảo hộ chỉ dẫn địa lý tại Pháp với địa danh Bordeaux – một thành phố cảng miền Tây Nam nước Pháp, một nhãn hiệu hàng hóa khác nếu có chứa dấu

Trang 37

hiệu “Vang Bordeaux” hoặc “Bordeaux” sẽ bị từ chối bảo hộ do có thể gây nhầm lẫn

về nguồn gốc của hàng hóa đó là được xuất xứ từ Bordeaux

- Dấu hiệu trùng hoặc không khác biệt đáng kể với kiểu dáng công nghiệp của người khác được bảo hộ trên cơ sở đơn đăng ký kiểu dáng công nghiệp có ngày nộp đơn hoặc ngày ưu tiên sớm hơn so với ngày nộp đơn, ngày ưu tiên của đơn đăng ký nhãn hiệu.20Ví dụ như một sản phẩm nước suối X được nộp đơn bảo hộ kiểu dáng công nghiệp, trong đó phần giữa thân chai có màu xanh đậm với những gợn sóng được tạo hình trên thân chai; không lâu sau đó một sản phẩm nước suối Y của doanh nghiệp khác lại có nhãn hàng hóa được dán ở giữa thân chai với màu sắc và đường gợn sóng tương tự như sản phẩm X cũng nộp đơn xin cấp văn bằng bảo hộ, trường hợp này sẽ bị từ chối cấp văn bằng do có thể gây nhầm lẫn sản phẩm Y với sản phẩm

X là cùng một công ty

Các điều kiện khác liên quan đến an ninh quốc phòng và truyền thống đạo

đức mà pháp luật quy định không được bảo hộ với danh nghĩa nhãn hiệu như:

- Dấu hiệu trùng hoặc tương tự đến mức gây nhầm lẫn với hình quốc kỳ, quốc huy của các nước Ví dụ như nhãn hiệu có chứa hình cờ đỏ sao vàng tương tự như quốc kỳ nước CHXHCN Việt Nam, hoặc hình mặt trăng lưỡi liềm và ngôi sao trắng trên nền xanh tương tự như quốc kỳ của nước Pakistan

- Dấu hiệu trùng hoặc tương tự đến mức gây nhầm lẫn với biểu tượng, cờ, huy hiệu, tên viết tắt, tên đầy đủ của cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị xã hội – nghề nghiệp của Việt Nam và tổ chức quốc tế, nếu không được cơ quan, tổ chức đó cho phép Chẳng hạn như WHO, WTO, Liên hiệp phụ nữ, Công đoàn…

- Dấu hiệu trùng hoặc tương tự đến mức gây nhầm lẫn với tên thật, bút hiệu, bút danh Hình ảnh của lảnh tụ, anh hùng dân tộc, danh nhân của Việt Nam, của

nước ngoài như Nguyễn Du, Nguyễn Trung Trực, Hồ Chí Minh…

- Dấu hiệu trùng hoặc tương tự đến mức gây nhầm lẫn với dấu chứng nhận, dấu kiểm tra, dấu bảo hành của tổ chức quốc tế mà tổ chức đó có yêu cầu không được sử dụng trừ trường hợp chính tổ chức này đăng ký các dấu hiệu đó làm nhãn hiệu chứng nhận;

20 Điều 74 Luật SHTT 2005, sủa đổi bổ cung 2009

Trang 38

- Dấu hiệu làm hiểu sai lệch, gây nhầm lẫn hoặc có tính chất lừa dối người tiêu dùng về nguồn gốc xuất xứ, tính năng, công dụng, chất lượng, giá trị hoặc các đặc tính khác của hàng hóa, dịch vụ.21

Như vậy, có thể thấy thông qua những quy định trên thì việc sử dụng tên địa danh để làm nhãn hiệu là hòan toàn có thể, miễn là khi nó kết hợp với các yếu tố khác đáp ứng được những điều kiện mà pháp luật quy định về nhãn hiệu được phép bảo hộ Thực tế, một số nước trên thế giới đã áp dụng việc đăng ký bảo hộ tên địa danh trong nhãn hiệu tập thể hay nhãn hiệu chứng nhận Ở Việt Nam, một nhãn hiệu tập thể hay nhãn hiệu chứng nhận có thể chỉ ra nguồn gốc của hàng hóa và dịch vụ

và vì thế ở một mức độ nào đó chúng cũng có thể chỉ ra tên địa danh như một hình thức khác của chỉ dẫn địa lý Hiện nay, cũng có nhiều địa danh được đăng ký bảo hộ

dưới dạng nhãn hiệu tập thể như lụa Hà Đông, rượu Làng Vân, mắm Châu Đốc, sầu riêng Cái Mơn…

Hình 03 Mắm Châu Đốc đã được bảo hộ nhãn hiệu tập thể

Thực chất, việc bảo hộ tên địa danh trong nhãn hiệu không phức tạp và khắc khe như trong chỉ dẫn địa lý vì một nhãn hiệu chỉ cần đáp ứng được khả năng phân biệt với các sản phẩm dịch vụ khác và không rơi vào những trường hợp không được bảo hộ do pháp luật quy định thì có thể được cơ quan quản lý nhà nước về quyền SHCN cấp văn bằng bảo hộ Trong khi việc thẩm định một đặc sản trên thực tế cũng rất khó vì không thể xác định hoặc đưa ra một quy định chung như thế nào là ngon,

là lạ, là có hương vị đặc biệt so với các loại sản phẩm khác, nên việc cấp văn bằng bảo hộ chỉ dẫn địa lý sẽ mất khoảng thời gian dài hơn khi đăng ký nhãn hiệu

21 Điều 73 Luật SHTT 2005, sủa đổi bổ sung 2009

Trang 39

Bên cạnh đó, việc bảo hộ địa danh thông qua nhãn hiệu đôi khi lại dễ bị các chủ thể khác là đối thủ cạnh tranh xâm phạm đến quyền lợi của chủ sở hữu quyền SHCN đối với nhãn hiệu đó hơn là một chỉ dẫn địa lý khi được bảo hộ Vì chỉ dẫn địa lý trước khi được bảo hộ đã thông qua quá trình thẩm định chặt chẽ và gắt gao nên việc xâm hại cũng rất khó, thông thường những trường hợp chỉ dẫn địa lý bị xâm hại là do các đối thủ thuộc các cơ sở sản xuất, kinh doanh ở nước ngoài thuộc những nước mà Việt Nam chưa kịp tiến hành đăng ký chỉ dẫn địa lý tại đó

2.1.2.3 Phân loại nhãn hiệu

Trong thực tiễn bảo hộ, nhãn hiệu hàng hóa được phân chia thành các loại khác nhau Sự phân chia này là cần thiết, bởi với mỗi loại nhãn hiệu chúng ta sẽ có các dấu hiệu riêng để nhận biết Theo Luật SHTT 2005 nhãn hiệu được phân chia thành các loại sau:

+ Nhãn hiệu hàng hóa được hiểu “là dấu hiệu dùng để phân biệt hàng hóa, dịch vụ của các tổ chức, cá nhân khác nhau.” Nhãn hiệu hàng hóa thường được gắn

vào sản phẩm hoặc bao bì sản phẩm để phân biệt sản phẩm cua các chủ thể khác nhau

+ Nhãn hiệu dịch vụ rất giống với nhãn hiệu hàng hóa về bản chất, cả hai đều

là dấu hiệu có khả năng phân biệt; nhãn hiệu hàng hóa phân biệt sản phẩm là hàng hóa của doanh nghiệp này với doanh nghiệp khác, trong khi nhãn hiệu dịch vụ lại phân biệt nhãn hiệu của dịch vụ này với dịch vụ khác Dịch vụ có thể được hiểu là dịch vụ bất kỳ, có thể liệt kê một số dịch vụ như tài chính, ngân hàng, quảng cáo, du lịch, ăn uống Nhãn hiệu dịch vụ có thể được đăng ký, gia hạn, hủy bỏ hiệu lực, chuyển nhượng quyền sở hữu và chuyển giao quyền sử dụng với các điều kiện giống như nhãn hiệu hàng hóa

+ Nhãn hiệu tập thể “là nhãn hiệu dùng để phân biệt hàng hóa, dịch vụ của các thành viên của tổ chức là chủ sở hữu nhãn hiệu đó với hàng hóa, dịch vụ của tổ chức, cá nhân không phải là thành viên của tổ chức đó.” (Khoản 17 Điều 4 Luật

SHTT 2005) Như vậy, từ khái niệm ta có thể rút ra các đặc điểm về nhãn hiệu tập thể: Pháp luật Việt Nam một mặt công nhận khả năng sử dụng nhãn hiệu tập thể bởi nhiều cá nhân hay pháp nhân trong một tập thể hoặc của chính bản thân các tổ chức tập thể; Quyền sở hữu nhãn hiệu tập thể có thể được trao cho một cá nhân hoặc pháp nhân đại diện cho tập thể Đây là một loại hình mà khi tiến hành đăng ký bảo hộ cũng luôn gắn liền với tên địa danh tương tự như chỉ dẫn địa lý, bởi vì đối tượng bảo

Trang 40

hộ của nhãn hiệu tập thể thường là những nông sản, đặc sản địa phương và vì thế nó luôn gắn liền với một khu vực địa lý mang địa danh nhất định Điển hình như nhãn

hiệu tập thể muối Sa Huỳnh (Quãng Ngãi) đã được bảo hộ với danh mục hàng hóa,

dịch vụ mang nhãn hiệu gồm: muối thực phẩm và mua bán muối thực phẩm; logo nhãn hiệu mang biểu trưng cánh đồng muối có màu sắc xanh da trời đậm, xanh da

trời, xanh da trời nhạt, trắng, đỏ, đen; Nhãn hiệu tập thể rượu cần đặc sản tỉnh Hòa Bình cho Hội sản xuất và kinh doanh rượu cần tỉnh Hòa Bình tại tổ 3, phường Phương Lâm, thành phố Hoà Bình

+ Nhãn hiệu chứng nhận “là nhãn hiệu mà chủ sở hữu nhãn hiệu cho phép tổ chức, cá nhân khác sử dụng trên hàng hóa, dịch vụ của cá nhân đó để chứng nhận các đặc tính về xuất xứ, nguyên liệu, vật liệu, cách thức sản xuất hàng hóa, cách thức cung cấp dịch vụ, chất lượng, độ chính xác, độ an toàn hoặc các đặc tính khác của hàng hóa, dịch vụ mang nhãn hiệu.” (Khoản 18 Điều 4 Luật SHTT 2005)

Ngay ở phần khái niệm có thể thấy nhãn hiệu chứng nhận cũng là một đối tượng mà các chủ thể muốn đăng ký bảo hộ tên địa danh cho sản phẩm của mình có

thể hướng đến vì trong nội dung chứng nhận có nhắc đến “ đặc tính về xuất xứ”,

nghĩa là nó có thể gắn liền với một địa danh nào đó Điển hình như nhãn hiệu chứng

nhận Sữa bò Ba Vì đã được cấp văn bằng bảo ngày 20/01/2009 gắn liền với địa danh

Ba Vì của tỉnh Hà Tây Ba Vì là vùng đất có điều kiện tự nhiên vô cùng thuận lợi:

Khí hậu ôn hoà, mát mẻ, nhiệt độ, lượng mưa, độ ẩm, chất lượng nguồn nước, chất lượng đất, chất lượng cỏ tốt… Đây chính là những yếu tố hàng đầu mang lại huơng

vị và chất lượng tuyệt hảo cho sữa tươi Ba Vì.22

Hình 04 Nhãn hiệu chứng nhận Sữa bò Ba Vì đã được bảo hộ tại Việt Nam

22 Báo Nông nghiệp Việt Nam, Sữa tươi Ba Vì – Chọn mặt gửi vàng, Huyền Lê,

http://nongnghiep.vn/nongnghiepvn/72/1/15/32139/Sua-tuoi-Ba-ViChon-mat-gui-vang.aspx ,

[Ngày truy cập 17/04/2012]

Ngày đăng: 05/04/2018, 23:27

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w