1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

LUẬN văn LUẬT THƯƠNG mại bảo hộ bí mật KINH DOANH THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM

84 774 7

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 84
Dung lượng 2,69 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Phạm vi nghiên cứu Có thể nói vấn đề bảo hộ bí mật kinh doanh theo pháp luật Việt Nam là một phần không nhỏ và không kém phần quan trọng trong giai đoạn hiện nay, chính vì vậy người viết

Trang 1

ThS NGUYỄN PHAN KHÔI Họ Tên : LÊ THỊ NGỌC TUYẾT

Mssv : 5085935 Lớp : Luật Thương Mại K34

Cần Thơ, tháng 5 năm 2012

Trang 2

Sau khi hoàn thành xong luận văn cử nhân Luật này, đồng nghĩa với việc kết thúc khóa học tại ngôi trường Đại học cần thơ mà em đã gắn bó trong suốt bốn năm qua Với tâm trạng vừa vui vừa buồn đan xen lẫn nhau, vui vì mình đã hoàn thành xong việc học tập bậc đại học và đã trở thành một cử nhân ngành Luật, với những kiến thức học được tại trường như một hành trang để em có thể vững tin bước và cuộc đời, buồn vì phải chia tay với ngôi trường mà em đã từng mơ ước khi còn là học sinh phổ thông Chia tay Thầy, Cô những người đã cho em tri thức vào đời, chia tay với những đứa bạn mà đã từ lâu xem nhau như anh em trong một nhà để rồi sau buổi lễ tốt nghiệp mỗi đứa một nơi mà không biết đến khi nào có dịp gặp lại

Bên cạnh tâm trạng buồn vui đó là sự biết ơn và lòng cảm ơn của em đối với gia đình, người thân đã giúp em có được nghị lực để học tốt bốn năm đại học Cảm ơn Thầy

Cô khoa Luật-trường Đại học cần thơ, bạn bè đã giúp đỡ em trong quá trình em học tập

tại trường Và sau cùng em xin gửi lời cảm ơn chân thành đến Thầy Nguyễn Phan Khôi

giáo viên hướng dẫn, người đã tận tình giúp em trong quá trình làm luận văn để em có thể hoàn thành những nội dung cần thiết khi nghiên cứu đề tài này

Cuối lời, em xin gửi lời chúc sức khỏe đến gia đình, Thầy, Cô và bạn bè đã giúp đỡ

em hoàn thành luận văn này

Em xin trân trọng kính chào!

Sinh viên thực hiện

Lê Thị Ngọc Tuyết

Trang 3

Trang 4

.

.

.

.

.

.

.

.

.

.

.

.

.

.

.

.

.

.

.

.

.

.

.

.

.

.

.

.

.

.

.

.

.

.

.

.

Trang 5

Lời nói đầu 1

CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ BẢO HỘ BÍ MẬT KINH DOANH 1.1 Khái niệm về bí mật kinh doanh theo pháp luật Việt Nam và một số nước tiêu biểu trên thế giới 4

1.1.1 Khái niệm về bí mật kinh doanh của một số nước trên thế giới 4

1.1.2 Khái niệm về bí mật kinh doanh theo pháp luật Việt Nam 6

1.2 Lược sử hình thành và vấn đề bảo hộ bí mật kinh doanh 6

1.2.1 Bảo hộ bí mật kinh doanh trước khi có Luật sở hữu trí tuệ năm 2005 6

1.2.2 Bảo hộ bí mật kinh doanh sau khi có Luật sở hữu trí tuệ năm 2005 8

1.3 Phân biệt giữa thông tin bí mật, bí quyết kỹ thuật và bí mật thương mại 9

1.3.1 Thông tin bí mật 9

1.3.2 Bí mật thương mại 10

1.3.3 Bí quyết kỹ thuật 11

1.4 Khái niệm, ý nghĩa của việc bảo hộ bí mật kinh doanh 13

1.4.1 Bảo hộ bí mật kinh doanh 13

1.4.2 Ý nghĩa của việc bảo hộ bí mật kinh doanh 13

1.5 Vai trò của bí mật kinh doanh đối với doanh nghiệp 14

1.6 Sự cần thiết phải bảo hộ bí mật kinh doanh 15

1.7 Chính sách tự bảo mật của chủ sở hữu đối với bí mật kinh doanh 16

1.8 So sánh giữa bí mật kinh doanh với sáng chế 16

1.8.1 Khái quát chung về bí mật kinh doanh và sáng chế 16

1.8.2 Một số ví dụ trong thực tiễn chứng minh mối liên hệ giữa bí mật kinh doanh và sáng chế 19

1.8.3 Mối liên hệ giữa bí mật kinh doanh và sáng chế trong một chương trình máy tính 22

1.9 Mối liên hệ giữa bí mật kinh doanh với sáng chế và kiểu dáng công nghiệp 24

CHƯƠNG 2: NHỮNG QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ

VIỆC BẢO HỘ BÍ MẬT KINH DOANH

Trang 6

2.2 Căn cứ xác lập quyền sở hữu đối với bí mật kinh doanh 26

2.3 Điều kiện bảo hộ đối với bí mật kinh doanh 28

2.3.1 Điều kiện chung đối với bí mật kinh doanh được bảo hộ 28

2.3.2 Đối tượng không được bảo hộ với danh nghĩa bí mật kinh doanh 30

2.4 Nội dung quyền sở hữu đối với bí mật kinh doanh 32

2.4.1 Quyền sử dụng đối với bí mật kinh doanh 32

2.4.2 Quyền ngăn cấm người khác sử dụng bí mật kinh doanh 32

2.5 Chuyển giao quyền sở hữu công nghiệp đối với bí mật kinh doanh 35

2.5.1 Chuyển nhượng quyền sở hữu đối với bí mật kinh doanh 35

2.5.2 Chuyển quyền sử dụng đối với bí mật kinh doanh 37

2.5.3 Hợp đồng chuyển giao công nghệ 40

2.6 Trách nhiệm bảo mật và trách nhiệm tự bảo mật đối với bí mật kinh doanh 43

2.7 Các hành vi xâm phạm quyền đối với bí mật kinh doanh 44

2.8 Các phương thức giải quyết tranh chấp và Cơ quan có thẩm quyền xử lý các hành vi xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp đối với bí mật kinh doanh 47

2.8.1 Cơ quan có thẩm quyền xử lý các hành vi xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp đối với bí mật kinh doanh 47

2.8.2 Các phương thức giải quyết tranh chấp liên quan đến bí mật kinh doanh 48

2.8.2.1 Giải quyết tranh chấp bằng phương thức thương lượng 48

2.8.2.2 Giải quyết tranh chấp bằng phương thức Trọng tài hoặc Toà án 49

2.9 Các biện pháp thực thi pháp luật về bảo hộ bí mật kinh doanh 51

2.9.1 Xử lý xâm phạm bằng biện pháp dân sự 51

2.9.2 Xử lý xâm phạm bằng biện pháp hành chính… 55

2.9.3 Xử lý xâm phạm bằng biện pháp hình sự… 56

2.9.4 Xử lý xâm phạm bằng biện pháp khẩn cấp tạm thời 57

CHƯƠNG 3: MỘT SỐ ĐỀ XUẤT NHẰM TĂNG CƯỜNG BẢO HỘ QUYỀN SỞ HỮU CÔNG NGHIỆP ĐỐI VỚI BÍ MẬT KINH DOANH 3.1 Thực tiễn về bảo hộ bí mật kinh doanh 59

Trang 7

3.1.2 Ý thức chưa cao của chủ sở hữu trong việc bảo hộ bí mật kinh doanh 64 3.1.3 Nhận thức của xã hội về bí mật kinh doanh chưa cao 64

3.2 Những giải pháp và một số kiến nghị nhằm tăng cường việc bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với bí mật kinh doanh 65

3.2.1 Các giải pháp hoàn thiện trong Luật sở hữu trí tuệ 65 3.2.2 Nâng cao nhận thức của chủ sở hữu trong việc bảo vệ bí mật kinh doanh của mình

67 3.2.3 Một số gợi ý – chiến lược bảo hộ cho các doanh nghiệp sở hữu bí mật kinh doanh

67

3.2.4 Nâng cao nhận thức của xã hội về bí mật kinh doanh 71 Kết luận 73

Trang 8

LỜI NÓI ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Trong bối cảnh hiện nay, khi nhu cầu hội nhập là vấn đề mang tính tất yếu khách quan, kinh tế tri thức chiếm tỷ trọng cao trong nền kinh tế toàn cầu thì vấn đề bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp càng được đặt ra là vấn đề bức thiết của bất cứ quốc gia nào, đặc biệt là Việt Nam Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam từ 2001 đến 2010

đã chỉ rõ một trong những mục tiêu cơ bản trong việc xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật của Việt Nam là chủ động hội nhập kinh tế quốc tế theo lộ trình phù hợp với điều kiện của nước ta nhằm đảm bảo thực hiện những cam kết trong quan hệ song phương và đa phương như AFTA1, APEC2, Hiệp định Thương mại Việt - Mỹ, tiến tới gia nhập WTO3.Trước những yêu cầu khách quan đó, ngày 19/11/2005 Luật sở hữu trí tuệ (SHTT) được Quốc hội khóa IX nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua và đã có hiệu lực

từ ngày 1/7/2006 Đây là lần đầu tiên những quy định về SHTT được thống nhất và quy định chặt chẽ trong một bộ luật Và ngày 7/11/2006 đánh dấu một điểm mốc quan trọng, chúng ta đã chính thức trở thành thành viên thứ 150 của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) Điều này càng đặt vấn đề hoàn thiện pháp luật về sở hữu trí tuệ trước những thách thức mới bởi chúng ta phải thực hiện những quy định đã cam kết đặc biệt là Hiệp định TRIPS Vì thế, sau một thời gian áp dụng một số điều của Luật sở hữu trí tuệ không còn phù hợp với thực tiễn đời sống kinh tế - xã hội của đất nước Do đó, ngày 19/06/2009 Quốc hội khóa XII, kỳ hợp thứ 5 đã thông qua luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật

sở hữu trí tuệ năm 2009 và đã có hiệu lực ngày 01/01/2010

Trong các đối tượng sở hữu công nghiệp, ta phải kể đến bí mật kinh doanh là đối tượng mới trong Luật sở hữu trí tuệ Việt Nam Nhưng các vấn đề về bí mật kinh doanh hay các vấn đề liên quan đến đối tượng này thì ta vẫn chưa hiểu rõ Đa số các văn bản về đối tượng này đều do ta tiếp thu từ các văn bản luật quốc tế

Bên cạnh đó, trong môi trường cạnh tranh khốc liệt, thì vấn đề bảo hộ sở hữu trí tuệ trong đó có bí mật kinh doanh lại càng quan trọng Trái với các đối tượng sở hữu trí tuệ khác, quyền sở hữu công nghiệp đối với bí mật kinh doanh không cần phải đăng ký,

có nghĩa là bí mật kinh doanh được bảo hộ mà không cần bất cứ hình thức mang tính thủ

tục nào, bí mật kinh doanh được bảo hộ vô thời hạn Do đó, các đối thủ thường tìm ra

1 Asean Free Trade Area (Khu vực mậu dịch tự do Asean).

2 Asia-Pacific Economic Cooperation (Diễn đàn hợp tác kinh tế Châu Á-Thái Bình Dương).

3 World Trade Organization (Tổ chức thương mại thế giới).

Trang 9

cách tiếp cận những thông tin này theo cách không lành mạnh Việc không hiểu rõ về pháp luật đối với bí mật kinh doanh sẽ là một điểm bất lợi khi ta hội nhập Đó là lý do

người viết chọn đề tài: “Bảo hộ bí mật kinh doanh theo pháp luật Việt Nam” để làm đề

tài tốt nghiệp

2 Mục tiêu nghiên cứu

Luận văn tập trung làm rõ những vấn đề lý luận, bản chất, nội dung, của các dấu hiệu dùng để nhận biết bí mật kinh doanh, vai trò và ý nghĩa của việc bảo hộ Vì thế người viết đã có sự nghiên cứu về sự hình thành pháp luật về bảo hộ quyền SHCN đối với các dấu hiệu dùng để nhận biết và việc bảo hộ bí mật kinh doanh trên thế giới và ở Việt Nam Từ đó đưa ra những kiến nghị, giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả của hoạt động bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với đối tượng này

3 Phạm vi nghiên cứu

Có thể nói vấn đề bảo hộ bí mật kinh doanh theo pháp luật Việt Nam là một phần không nhỏ và không kém phần quan trọng trong giai đoạn hiện nay, chính vì vậy người viết muốn góp một phần không nhỏ của mình vào việc làm rõ những vấn đề trên và trong giới hạn đề tài chỉ xoay quanh vào việc nghiên cứu làm nổi bật lên vấn đề: Nêu khái quát chung về bí mật kinh doanh, căn cứ xác lập quyền sở hữu công nghiệp đối với bí mật kinh doanh như thế nào, chủ sở hữu bí mật kinh doanh được pháp luật trao quyền gì để chống lại các hành vi xâm phạm đến quyền sử dụng của mình Bên cạnh đó, đề tài còn đi vào tìm hiểu thực trạng của việc bảo hộ cũng như vấn đề thực thi quyền sở hữu công nghiệp đối với bí mật kinh doanh trong giai đoạn hiện nay từ đó tìm ra nguyên nhân và đề xuất giải pháp nhằm giải quyết vấn đề hạn chế đang tồn tại của việc bảo hộ bí mật kinh doanh tại Việt Nam

4 Phương pháp nghiên cứu

Trong quá trình nghiên cứu các vấn đề liên quan đến bí mật kinh doanh, người viết

đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu như sau: Phương pháp phân tích; phương pháp

so sánh; dẫn chứng các điều luật, các vấn đề có thể phát sinh để làm sáng tỏ, hiểu thêm về

đề tài

5 Kết cấu của bài luận văn

Lời nói đầu;

Chương 1 Lý luận chung về bảo hộ bí mật kinh doanh;

Trang 10

Chương 2 Những quy định của pháp luật Việt Nam về bảo hộ bí mật kinh doanh;

Chương 3 Một số đề xuất nhằm tăng cường bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với bí

mật kinh doanh;

Kết luận

Trang 11

CHƯƠNG I

LÝ LUẬN CHUNG VỀ BẢO HỘ BÍ MẬT KINH DOANH

Nhu cầu bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp trong đó có bí mật kinh doanh xuất hiện

cùng với sự phát triển của giao lưu thương mại nhằm bảo vệ quyền của chủ sở hữu đối

với các đối tượng sở hữu công nghiệp nói chung Vấn đề bảo hộ quyền sở hữu công

nghiệp nói chung và bí mật kinh doanh nói riêng vẫn không ngừng vận động và phát triển

theo hướng mở rộng các quyền năng cho chủ sở hữu Vấn đề bảo hộ quyền sở hữu công

nghiệp trong đó có bí mật kinh doanh không chỉ là vấn đề riêng lẻ của từng quốc gia mà

nó chính là vấn đề mang tính toàn cầu trong bối cảnh tự do hóa, toàn cầu hóa thương mại

hiện nay Trong chương I này người viết nêu lên khái quát chung về vấn đề bảo hộ bí mật

kinh doanh theo pháp luật Việt nam cũng như ở một số nước trên thế giới, đồng thời cũng

nêu lên được ý nghĩa và sự cần thiết của việc bảo hộ đối với bí mật kinh doanh

1.1 Khái niệm về bí mật kinh doanh theo pháp luật Việt Nam và một số nước tiêu

biểu trên thế giới

1.1.1 Khái niệm về bí mật kinh doanh của một số nước trên thế giới

Bí mật thương mại (Trade Secret) hay có thể gọi là bí mật kinh doanh, khác với

Việt Nam, pháp luật một số nước quy định tương đối rõ ràng về bí mật kinh doanh cụ thể

như:

Ở nước Mỹ thì theo khoản 4 Điều 1 của “Luật bí mật thương mại thống nhất” (The

Uniform Trade Secret Act – gọi tắt là UTSA) được ban hành vào năm 1979, quy định: “Bí

mật thương mại là các thông tin bao gồm công thức, mẫu hình, sưu tập các thông tin,

chương trình, phương sách, biện pháp, công nghệ hoặc quy trình, những thông tin mà:

 Đem lại giá trị kinh tế độc lập cho dù là hiện hữu hay tiềm năng khi các thông tin

đó không trở thành hiểu biết chung hoặc không dễ dàng tiếp cận bằng các biện

pháp tiếp cận trung thực bởi những người có thể thu được giá trị kinh tế từ việc

tiết lộ hoặc sử dụng thông tin đó;

 Là đối tượng của sự cố gắng để bảo mật thông tin bằng cách phù hợp với hoàn

cảnh”.4

4 Nguyễn Thái Mai, Khái niệm thông tin bí mật - đối tượng của quyền sở hữu trí tuệ trong pháp luật thương mại quốc tế, tạp chí

Trang 12

Tương tự, ở Nhật Bản trong “Luật ngăn ngừa cạnh tranh không lành mạnh” năm

1993 (The Unfair Competition Prevention Act) định nghĩa: “Bí mật thương mại được định

nghĩa là bất kỳ phương pháp sản xuất nào, hệ thống bán hàng, thông tin kỹ thuật hay hoạt động hữu ích khác liên quan đến hoạt động của doanh nghiệp được doanh nghiệp bảo mật và không được bộc lộ ra ngoài Để được gọi là bí mật thương mại theo Luật ngăn

ngừa cạnh tranh không lành mạnh Nhật Bản thì phải đầy đủ 3 yếu tố:

 Bí mật phải được kiểm soát;

 Bí mật phải quan trọng và hữu ích;

 Bí mật thương mại không được nhiều người biết đến trong một trạng thái công

khai sẵn có hay dễ dàng tiếp cận”.5

Ở Trung Quốc trong “Luật chống cạnh tranh không bình đẳng” (The Unfair Competition law) định nghĩa: “Bí mật thương mại có thể hiểu là những thông tin kỹ thuật

hay hoạt động mà không được công chúng biết đến, có tiềm lực kinh tế và tính khả dụng của chúng trên thực tế”.6

Những quy định trên được xem như là một định nghĩa khá đầy đủ và chi tiết về bí mật thương mại Theo đó, một số loại thông tin mật được xem là bí mật thương mại đã được liệt kê tương đối đầy đủ và rõ ràng

Như vậy, các hệ thống pháp luật trên thế giới như luật của Mỹ, Nhật Bản cũng như Trung Quốc quy định khá rõ về bí mật thương mại hay có thể gọi là bí mật kinh doanh Mặc dù, ở các nước cũng có một số điểm khác nhau nhưng điểm chung nhất của các định nghĩa về bí mật thương mại tại các hệ thống pháp luật thông thường những điều kiện đó là:

 Thông tin bí mật đó phải đảm bảo tính bí mật;

 Thông tin bí mật phải được chủ sở hữu áp dụng các biện pháp bảo mật;

 Thông tin bí mật phải có giá trị trong thương mại và mang lại lợi thế cạnh tranh cho các chủ sở hữu nắm giữ thông tin đó

5 The Unfair Competition Prevention Act 1993, http://www.wipo.int/wipolex/en/details.jsp?id=6996, truy cập ngày 12/11/2011

6 Law against Unfair Competition Of the People , s Republic of China.1993, http://www.wipo.int/wipolex/en/details.jsp?id=849 , truy cập ngày 4/12/2011

Trang 13

1.1.2 Khái niệm về bí mật kinh doanh theo pháp luật Việt Nam

Theo nghĩa thông thường thì bí mật kinh doanh có thể được hiểu là những thông tin gắn liền với công việc và hoạt động kinh doanh của cá nhân hay tổ chức, mang lại lợi ích cho họ và được họ giữ kín không cho người khác biết Tuy nhiên, đối với việc cần phải hiểu như thế nào là bí mật kinh doanh, thì theo khoản 23 Điều 4 Luật sở hữu trí tuệ

hiện hành có giải thích: “Bí mật kinh doanh là thông tin thu được từ hoạt động đầu tư tài

chính, trí tuệ, chưa được bộc lộ và có khả năng sử dụng trong kinh doanh” Theo khái

niệm này thì một bí mật kinh doanh phải đảm bảo ba dấu hiệu cơ bản:

 Là kết quả của quá trình đầu tư nghiên cứu, sáng tạo thể hiện qua tri thức, thông tin;

 Chưa được bộc lộ đến mức những người khác có thể dễ dàng có được;

 Có khả năng tạo ra giá trị kinh tế khi được sử dụng trong kinh doanh

Như vậy, định nghĩa về bí mật kinh doanh trong luật Việt Nam cũng tỏ ra phù hợp với các hệ thống pháp luật trên thế giới Tuy nhiên, khái niệm này vẫn còn chung chung, chưa làm rõ các thông tin được bảo hộ Theo đó, không phải tất cả thông tin có tính chất

bí mật đều được bảo hộ mà pháp luật chỉ bảo hộ những thông tin bí mật liên quan đến kinh doanh, và một bí mật kinh doanh tiếp tục được duy trì miễn là thông tin đó tiếp tục được giữ kín, những thông tin có thể được người khác biết được, tiếp cận một cách dễ dàng thông qua việc nghiên cứu đơn thuần thì chúng không phải là bí mật kinh doanh và khi đó chúng sẽ không được bảo hộ

1.2 Lược sử hình thành và vấn đề bảo hộ bí mật kinh doanh

1.2.1 Bảo hộ bí mật kinh doanh trước khi có Luật sở hữu trí tuệ năm 2005

Trước khi có văn bản pháp luật điều chỉnh bí mật kinh doanh thì bí mật kinh doanh

đã được biết đến qua các phương thuốc, bài thuốc gia truyền thông qua công thức của bài thuốc (tên vị thuốc, liều lượng), cách bào chế, cách gia giảm Theo đó, bài thuốc gia truyền là bài thuốc kinh nghiệm lâu đời của của một dòng tộc, gia đình truyền lại có hiệu quả điều trị một loại bệnh nhất định, có tiếng ở vùng và được mọi người tín nhiệm cũng như được cơ quan Nhà Nước (Hội đông y, Y tế xã/Phường ) công nhận Khi đó họ cũng

đã nhận thức được phải bảo vệ bí mật- phương pháp chế biến thuốc gia truyền của mình bằng cách họ chỉ truyền cho người thân trong gia đình, dòng tộc từ đời này sang đời khác

Trang 14

Tương tự, trước khi có văn bản pháp luật điều chỉnh thì bí mật kinh doanh cũng

được nhắc đến với thuật ngữ: “Bí quyết” trong các quy trình về chuyển giao công nghệ

Tại khoản 5 Điều 2 Nghị định số 45/1998/NĐ-CP ngày 1/7/1998 quy định chi tiết về

chuyển giao công nghệ: “Bí quyết là những kinh nghiệm, kiến thức, thông tin kỹ thuật

quan trọng, mang tính chất bí mật được tích lũy, khám phá trong quá trình nghiên cứu, sản xuất, kinh doanh, có khả năng tạo ra những dịch vụ, sản phẩm có chất lượng cao, đem lại hiệu quả kinh tế lớn, có khả năng tạo ra lợi thế kinh doanh trên thị trường”.7

Trong giai đoạn này mặc dù Việt Nam chưa tham gia vào Thỏa ước về các khía cạnh thương mại về sở hữu trí tuệ (TRIPS), song các điều khoản TRIPS đã được nêu khá đầy đủ trong Hiệp định thương mại Việt – Mỹ ký ngày 14/7/2000 giữa hai chính phủ Việt Nam và Hoa kỳ Hiệp định này mở ra một cơ hội, song cũng là một thách thức cho quá trình Việt Nam hội nhập vào nền kinh tế thế giới Hiệp định đề cập đến nhiều khía cạnh của thương mại bao gồm hàng hóa, dịch vụ và sở hữu trí tuệ Theo Hiệp định thương mại Việt Nam – Hoa kỳ, Việt Nam sẽ phải ban hành luật bảo vệ bí mật kinh doanh chậm nhất

là mười tám tháng sau khi Hiệp định có hiệu lực Cụ thể là bí mật kinh doanh sẽ được bảo

hộ trừ khi nó được bộc lộ công khai một cách hợp lệ hay khách quan phù hợp với các

nguyên tắc thiện chí và trung thực Theo đó, tại khoản 2 Điều 9 quy định: “Mỗi bên quy

định các biện pháp pháp lý cho bất kỳ người nào cũng có thể ngăn chặn để thông tin bí mật không bị tiết lộ cho người khác, bị người khác tiếp cận hoặc sử dụng mà không được

sự đồng ý của người có quyền kiểm soát hợp pháp thông tin đó theo cách thức trái với hoạt động thương mại trung thực ở mực độ và trong chừng mực mà:

- Thông tin đó không phải là hiểu biết thông thường và không dễ dàng có được;

- Thông tin đó có giá trị thương mại vì có tính bí mật; và

- Người có quyền kiểm soát hợp pháp thông tin đó đã thực hiện các biện pháp phù hợp với hoàn cảnh để giữ bí mật thông tin đó”.

Bên cạnh đó, Hiệp định cũng nêu lên trường hợp bí mật kinh doanh bị bộc lộ công khai nhằm trong trường hợp bảo vệ công chúng Trong trường hợp một bên yêu cầu trình kết quả thử nghiệm hoặc dữ liệu bí mật khác thu được do đầu tư công sức đáng kể như một điều kiện để được phép đưa dược phẩm, nông hoá phẩm ra thị trường, thì bên đó bảo

vệ các dữ liệu đó chống việc sử dụng nhằm mục đích thương mại không lành mạnh Ngoài ra, mỗi bên đều phải bảo vệ các dữ liệu đó khỏi bị bộc lộ Trong trường hợp kết

7 Nghị định 45/1998/NĐ-CP ngày 1/7/1998 quy định chi tiết về chuyển giao công nghệ - Hiện nay nghị định này đã hết hiệu lực

Trang 15

quả thử nghiệm hoặc dữ liệu bí mật được nộp trình cho bên đó sau khi Hiệp định này có hiệu lực, nếu không được phép của người đã nộp trình dữ liệu đó, không người nộp đơn phê duyệt sản phẩm nào khác được sử dụng các dữ liệu đó làm dữ liệu hỗ trợ cho đơn trong một thời hạn thích hợp kể từ khi dữ liệu được nộp trình Nhằm mục đích đó, thời hạn thích hợp thông thường không ít hơn 05 năm kể từ ngày bên đó phê duyệt đơn của người đã trình dữ liệu để xin phép đưa sản phẩm của mình ra thị trường, có tính đến tính chất của dữ liệu và sự đầu tư, chi phí trong việc tạo ra dữ liệu đó (Theo khoản 5, khoản 6 Điều 9 Hiệp định thương mại Việt – Mỹ)

Ngày 3/10/2000 Chính phủ đã ban hành Nghị định số 54/2000/NĐ-CP về bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với bí mật kinh doanh, chỉ dẫn địa lý, tên thương mại và bảo hộ quyền chống cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến sở hữu công nghiệp Bên cạnh đó, tháng 5 năm 2005 Bộ luật dân sự 1995 được sửa đổi bổ sung (gọi tắt là bộ luật dân sự 2005) Bộ luật dân sự 2005 thay thế Bộ luật dân sự 1995 từ ngày 01/01/2006 Trong Bộ luật dân sự 2005, các quy định về sở hữu trí tuệ đã được đơn giản và thu hẹp nhiều Tuy nhiên, bí mật kinh doanh - đối tượng quyền sở hữu công nghiệp đã được pháp

luật ghi nhận và bảo hộ theo khoản 1 Điều 750 Bộ luật dân sự 2005 quy định “Đối tượng

quyền sở hữu công nghiệp bao gồm sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn, bí mật kinh doanh, nhãn hiệu, tên thương mại, chỉ dẫn địa lý”.

1.2.2 Bảo hộ bí mật kinh doanh sau khi có Luật sở hữu trí tuệ năm 2005

Kế thừa Nghị định 54/2000/NĐ-CP, Bộ luật dân sự 2005 Luật sở hữu trí tuệ (luật SHTT – Luật số 50/2005/QH10) có hiệu lực ngày 01/07/2006 Đây là luật chuyên nghành

về sở hữu trí tuệ đầu tiên của Việt Nam Sự ra đời của Luật sở hữu trí tuệ đã thay thế gần như toàn bộ các nghị định và văn bản hướng dẫn về từng lĩnh vực sở hữu trí tuệ trước đó Luật sở hữu trí tuệ cũng thống nhất và tập hợp các quy định về sở hữu trí tuệ rải rác trong các văn bản trước đây trong một luật chuyên nghành với sự phân định rõ thành 3 lĩnh vực: bản quyền, sở hữu công nghiệp trong đó có bí mật kinh doanh là một trong các đối tượng của quyền sở hữu công nghiệp và quyền đối với giống cây trồng

Bên cạnh đó, các quy định về việc bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp cũng được đưa vào luật như một phần riêng nhằm phản ánh tầm quan trọng của hoạt động này So với các văn bản trước khi có Luật sở hữu trí tuệ 2005 ra đời thì luật sở hữu trí tuệ nói chung và bí mật kinh doanh – đối tượng quyền sở hữu công nghiệp nói riêng có một số điểm mới: Tuy không có những trình tự, thủ tục đăng ký bảo hộ như các đối tượng sở hữu công nghiệp khác nhưng Luật sở hữu trí tuệ 2005 lại quy định chi tiết hơn về những hành

Trang 16

vi nào được xem là sử dụng bí mật kinh doanh Đặt biệt, luật cũng có những quy định mới

về việc lưu hành dược phẩm, nông hoá phẩm phải cung cấp kết quả thử nghiệm hoặc bất

kỳ dữ liệu nào khác là bí mật kinh doanh chủ sở hữu khi nộp đơn xin cấp phép kinh doanh phải bộc lộ cho cơ quan có thẩm quyền đồng thời bộc lộ trong trường hợp bảo vệ công chúng

Pháp luật về sở hữu trí tuệ nói chung và về bảo hộ bí mật kinh doanh nói riêng khi được ban hành tại Việt Nam trải qua nhiều năm đã có sự thay đổi cho phù hợp với thực tiễn xã hội, đồng thời cũng đáp ứng tình hình kinh tế thời hội nhập

1.3 Phân biệt giữa thông tin bí mật, bí quyết và bí mật thương mại

Thông tin bí mật (Undisclosed Information) nhìn chung được hiểu là tất cả những thông tin có tính chất bí mật, có giá trị thương mại và được chủ sở hữu kiểm soát hợp pháp thông tin đó và được giữ bí mật bằng biện pháp phù hợp với thực tế Thông tin bí mật (Undisclosed Information) bao gồm: Bí quyết (Know-how), bí mật thương mại (Trade secret), thông tin kín, bí mật kinh doanh (Business secret) - là đối tượng của quyền

sở hữu trí tuệ theo pháp luật Việt Nam Nhìn chung, giữa các thuật ngữ này lại có mối quan hệ đan xen lẫn nhau

1.3.1 Thông tin bí mật (Undisclosed Information) là thuật ngữ được dùng rất phổ

biến và phạm vi bảo hộ lại khá rộng lớn, đồng thời cũng là đối tượng của quyền sở hữu trí tuệ trong pháp luật thương mại quốc tế Thông tin bí mật đã được quy định chính thức

trong “Hiệp định về các khía cạnh liên quan đến thương mại của quyền sở hữu trí tuệ”

(Trade Related Aspects of Intellectural Property Right- Hiệp định TRIPS) có hiệu lực từ ngày 01/01/1995 tại tất cả các nước thành viên của tổ chức thương mại thế giới WTO

Thông tin bí mật theo quy định tại khoản 2 Điều 1 của Hiệp định TRIPS, Thông tin

bí mật là một trong các đối tượng của quyền sở hữu trí tuệ mà các nước thành viên của WTO phải có nghĩa vụ phải bảo hộ Tuy nhiên, trong các quy định của Hiệp định TRIPS chúng ta không tìm thấy sự giải thích cụ thể về thông tin bí mật, thay vào đó hiệp định chỉ đưa ra những tiêu chí để thông tin bí mật được bảo hộ Theo khoản 2 Điều 39 của hiệp định TRIPS quy định thông tin bí mật được bảo hộ khi thoả mãn 3 điều kiện:

 Có tính chất bí mật nghĩa là các thông tin đó không phổ biến hoặc không dể dàng tiếp cận thông tin đó dưới dạng thông tin toàn bộ, tức là dưới dạng ghép nối theo trật tự chính xác mọi chi tiết của thông tin đó với những người thường xuyên giải quyết với các loại thông tin như vậy;

Trang 17

 Có giá trị thương mại vì nó có tính chất bí mật;

 Được người kiểm soát hợp pháp thông tin đó giữ bí mật bằng các biện pháp hợp lý.Theo hướng dẫn của Tổ chức Sở hữu trí tuệ thế giới (WIPO) về thực hiện hiệp định

TRIPS, khi giải thích về Điều 39, văn bản này nêu rõ “Thông tin bí mật có thể được gọi là

bí mật thương mại”.8Cũng trong văn kiện gia nhập WTO của Việt Nam về phần “Những

vấn đề liên quan đến thương mại của quyền sở hữu trí tuệ”, thông tin bí mật được giải

thích bao gồm “Bí mật thương mại và dữ liệu”.9 Vậy quy định của Hiệp định TRIPS là đề cập đến vấn đề bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ đối với bí mật thương mại Hiệp định TRIPS

lại không dùng thuật ngữ “Bí mật thương mại”, có nhiều quan điểm cho rằng việc dùng thuật ngữ thông tin bí mật là “Nhằm mục đích nhấn mạnh rằng việc bảo hộ cần phải đi xa

hơn so với những quan niệm đã tồn tại trong thế kỉ trước về loại đối tượng này, ví dụ như: bí mật sản xuất, danh sách khách hàng” 10

Như vậy với cách giải thích trên thì việc dùng thuật ngữ “Thông tin bí mật” trong Hiệp định TRIPS là nhằm mở rộng hơn khái niệm “Bí mật thương mại” và việc dùng thuật ngữ “Thông tin bí mật” trong Hiệp định TRIPS được xem là một sự dung hoà của các thuật ngữ khác nhau Cụ thể về thuật ngữ “Bí mật thương mại” luật Mỹ giải thích bí mật thương mại bao gồm cả “Bí quyết kỹ thuật” (Know-how) Trong khi đó, theo luật của các nước Châu Âu, luật của các nước Châu Á trong đó có Việt Nam thì “Bí mật thương

mại” và “Bí quyết kỹ thuật” là hai khái niệm khác nhau.

1.3.2 Bí mật thương mại (Trade secret) hay bí mật kinh doanh là thuật ngữ phổ

biến dùng để chỉ thông tin bí mật hay thông tin kín Tuy nhiên trên thực tế không có một định nghĩa thống nhất trên thế giới về đối tượng này trong đó có Việt Nam

Theo Luật bí mât thương mại thống nhất của Mỹ thì bí mật thương mại được giải

thích là “phương thức, qui trình, thiết kế, công cụ, mẫu hình hoặc sự tập hợp các thông

tin được sử dụng bởi một doanh nghiệp để có một lợi thế hơn các đối thủ cạnh tranh trong cùng một ngành công nghiệp hoặc trong cùng một lĩnh vực chuyên môn”.11Tổ chức

Sở hữu trí tuệ thế giới (WIPO) đưa ra một định nghĩa khái quát hơn về bí mật thương mại

Cụ thể, bí mật thương mại là “Bất kỳ thông tin kinh doanh bí mật nào cung cấp cho doanh

8Nguyễn Thái Mai, Khái niệm thông tin bí mật - đối tượng của quyền sở hữu trí tuệ trong pháp luật thương mại quốc tế, Tạp chí

Nhà nước và pháp luật (2010)

9 Uỷ Ban quốc gia về hợp tác kinh tế quốc tế (USAID), các văn kiện gia nhập tổ chức thương mại thế giới WTO trg 69

10TS Nguyễn Thị Quế Anh (2004), một số vấn đề về bảo hộ bí mật kinh doanh và hoàn thiện pháp luật về bảo hộ bí mật kinh

doanh ở Việt Nam, Tạp chí khoa học, Đại học quốc gia Hà Nội

11Nguyễn Thái Mai, Khái niệm thông tin bí mật - đối tượng của quyền sở hữu trí tuệ trong pháp luật thương mại quốc tế, Tạp chí

Trang 18

nghiệp một ưu thế cạnh tranh đều được coi là bí mật thương mại Bí mật thương mại bao gồm bí mật về sản xuất về công nghiệp và những bí mật về kinh doanh”.12

Theo từ điển luật học Việt Nam, bí mật thương mại là “Những điều mà thương

nhân giữ kín khi thực hiện hành vi thương mại Ví dụ như bí quyết công nghệ, bí mật về tài khoản ở ngân hàng, bí mật về hồ sơ đấu thầu, bí mật về những thông tin trong những quan hệ về môi giới, đại diện thương mại, đại diện thương mại, uỷ thác mua bán hàng hoá” 13 Mặc dù có nhiều cách giải thích khác nhau về bí mật thương mại nhưng điểm chung nhất là:

 Khẳng định bí mật thương mại tồn tại dưới dạng các thông tin về lĩnh vực khoa học kỹ thuật, và các hoạt động sản xuất kinh doanh;

 Không hạn chế phạm vi các thông tin được pháp luật bảo hộ mà chỉ quy định các điều kiện như tính bí mật, tính thương mại và được chủ sở hữu áp dụng các biện pháp bảo mật

1.3.3 Bí quyết kỹ thuật (Know-how) là thuật ngữ được dùng khi nói đến các

“Thông tin bí mật” được bảo hộ Trong các hệ thống pháp luật trên thế giới, có nước quy định rằng bí quyết kỹ thuật (Know-how) là một dạng của bí mật thương mại Điều 1 “Luật

bí mật thương mại thống nhất của Mỹ”, thuật ngữ “phương pháp” (method), “công nghệ”

(technique) được giải thích là bao gồm cả bí quyết kỹ thuật 14Luật bí mật thương mại của Nga 2005 cũng quy định rõ bí mật thương mại bao gồm cả bí quyết kỹ thuật 15 Tuy nhiên, pháp luật Việt Nam lại tách biệt rõ ràng giữa bí quyết kỹ thuật và bí mật thương

mại (Điều 7 Luật chuyển giao công nghệ của Việt Nam năm 2006 quy định “Bí quyết kỹ

thuật” không phải là đối tượng của quyền sở hữu trí tuệ).

Theo định nghĩa của Tổ chức Sở hữu trí tuệ thế giới (WIPO), bí quyết kỹ thuật

(Know-how) được giải thích là “Dữ liệu thông tin kỹ thuật hoặc các kiến thức thu được từ

kinh nghiệm hoặc kỹ năng có thể áp dụng trong thực tiễn, đặt biệt trong công nghiệp”.16

12 http://www.wipo.int, được trích dẫn trong Tạp chí Nhà nước và pháp luật (2010), Nguyễn Thái Mai, Khái niệm thông tin bí

mật - đối tượng của quyền sở hữu trí tuệ trong pháp luật thương mại quốc tế.

13 Từ điển luật học ( 1999), Nxb Tư pháp, Hà Nội, tr.44

14Alan S Gutterman and Bentley J Anderson (1997), Interllectual Property in global markets, Kluwer Law Internatioal, London

(p.76)

15http://www.rg.ru/2004/08/05/taina-doc.html, được trích dẫn trong Tạp chí Nhà nước và pháp luật Nguyễn Thái Mai, Khái niệm

thông tin bí mật - đối tượng của quyền sở hữu trí tuệ trong pháp luật thương mại quốc tế.

16 http://www.wipo.int, được trích dẫn trong Tạp chí Nhà nước và pháp luật (2010), Nguyễn Thái Mai Khái niệm thông tin bí mật

- đối tượng của quyền sở hữu trí tuệ trong pháp luật thương mại quốc tế.

Trang 19

Trong pháp luật của liên minh Châu Âu thì bí quyết kỹ thuật (Know-how) được

giải thích là “một bộ thông tin công nghệ có tính bí mật, tính giá trị và được xác định

dưới bất kỳ hình thức phù hợp nào 17

Tương tự, tại khoản 1 Điều 3, Luật chuyển giao công nghệ của Việt Nam năm

2006 có nêu bí quyết kỹ thuật là một trong các đối tượng chủ yếu của hợp đồng chuyển

giao công nghệ và được giải thích như sau “Bí quyết kỹ thuật là thông tin được tích luỹ,

khám phá trong quá trình nghiên cứu, sản xuất, kinh doanh của chủ sở hữu công nghệ có

ý nghĩa quyết định chất lượng khả năng cạnh tranh của công nghệ, sản phẩm công nghệ”

Với các quy định trên, chúng ta thấy bí quyết kỹ thuật là một dạng của thông tin bí mật

Hay nói cách khác khi đề cập đến thuật ngữ “Bí quyết kỹ thuật” là muốn nói đến các

thông tin, dữ liệu thuộc về lĩnh vực kỹ thuật

Như vậy, trong phạm vi đề tài: “Bảo hộ bí mật kinh doanh theo pháp luật Việt

Nam” người viết chỉ dừng lại ở phạm vi bảo hộ bí mật kinh doanh - đối tượng được bảo

hộ theo pháp luật Việt Nam Theo đó, bí mật kinh doanh được bảo hộ là kết quả của quátrình đầu tư, nghiên cứu sáng tạo thể hiện qua tri thức thông tin; có khả năng tạo ra giá trị kinh tế khi sử dụng trong kinh doanh; và chưa được bộc lộ đến mức những người khác có thể dễ dàng có được Tuy nhiên, trong Hiệp định thương mại giữa Việt Nam và Hoa Kỳ

ký ngày 14/7/2000 tại Điều 9 lại quy định bảo hộ đối với “thông tin bí mật” hay “Bí mật

thương mại” nhưng Luật sở hữu trí tuệ hiện hành lại quy định bảo hộ đối với “bí mật kinh doanh” Vậy hai thuật ngữ này được hiểu như thế nào, phải chăng là chúng mâu thuẫn

nhau Tuy nhiên sẽ là điều dễ hiểu vì theo Điều 5 Luật sở hữu trí tuệ hiện hành có quy

định: “Trong trường hợp điều ước quốc tế mà cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là

thành viên có quy định khác với quy định của luật này thì áp dụng quy định của Điều ước quốc tế đó” Vậy có thể nói, bí mật kinh doanh là bí mật thương mại Theo đó, một bí mật

kinh doanh bất kể là cách thức chế tạo hay thành phần của một sản phẩm, danh sách khách hàng, công thức chế tạo sản phẩm, mẫu hình với giá trị thương mại đáng kể của chúng đối với một công ty và tương ứng như vậy là đối với đối thủ cạnh tranh của công ty

đó, thì bí mật kinh doanh đã thể hiện một sự đầu tư thích đáng không chỉ bằng những nổ lực trí tuệ và kỹ năng sáng tạo, mà còn bởi sự đầu tư về thời gian và tiền bạc để bảo vệ bí mật kinh doanh đó

17 Grancme B Dinwoodie, William O Hennesscy, Shira Perlmutter (2001), Trade Secret, International Property Law and Policy – Lexis Neis,

Trang 20

1.4 Khái niệm, ý nghĩa của việc bảo hộ bí mật kinh doanh

1.4.1 Bảo hộ bí mật kinh doanh

Theo từ điển tiếng Việt, thuật ngữ “bảo hộ” hiểu theo nghĩa thông thường là “che

chở, không để bị hư hỏng, tổn thất”.18 Bảo hộ quyền đối với bí mật kinh doanh là việc Nhà Nước thông qua hệ thống pháp luật xác lập quyền của chủ thể (có thể là tổ chức hoặc

cá nhân) đối với bí mật kinh doanh và bảo vệ quyền đó chống lại bất kỳ sự vi phạm nào của phía thứ ba

Một số loại thông tin có thể được bảo hộ với danh nghĩa bí mật kinh doanh như:

Bí mật kinh doanh có thể bao gồm thông tin liên quan đến một công thức, mẫu hàng, thiết bị hoặc tập hợp các thông tin khác mà được sử dụng trong một thời gian nhất định trong một doanh nghiệp Thông thường, bí mật kinh doanh là thông tin kỹ thuật dùng trong quá trình sản xuất hàng hoá

Bí mật kinh doanh có thể liên quan đến chiến lược tiếp thị, xuất khẩu hoặc bán hàng, hay phương pháp lưu trữ tài liệu hoặc các quy trình và thủ tục quản lý kinh doanh,

kể cả phần mềm dùng cho các hoạt động kinh doanh

Bên cạnh đó cũng có các dạng bí mật kinh doanh tiềm năng như: thông tin kỹ thuật, khoa học và tài chính, kế hoạch kinh doanh, quy trình kinh doanh, danh sách khách hàng chủ chốt, danh sách nhà cung cấp đáng tin cậy hoặc nhà cung cấp đặt biệt, bản mô tả đặt điểm kỹ thuật của sản phẩm, tính năng của sản phẩm, giá mua nguyên vật liệu thô, dữ liệu thử nghiệm, hình vẽ hoặc hình vẽ phác thảo kỹ thuật, thông số kỹ thuật chế tạo, công thức nấu ăn độc quyền, công thức tính toán, nội dung của sổ ghi chép trong phòng thí nghiệm, cơ cấu tiền lương của công ty, giá sản phẩm và mức chi cho hoạt động quảng cáo, mã nguồn, mã máy, cơ sở dữ liệu điện tử, hợp đồng chứa các chi tiết về ràng buộc thị trường, tài liệu quảng cáo hay tiếp thị đang được xây dựng

1.4.2 Ý nghĩa của việc bảo hộ bí mật kinh doanh

Trong môi trường cạnh tranh khốc liệt, để đáp ứng nhu cầu và mong muốn mới ngày càng gia tăng của khách hàng do đó các doanh nghiệp cần phải tạo ra các loại hàng hoá và dịch vụ mới hoặc cải tiến chúng Đối với một doanh nghiệp đang hoạt động hay một doanh nghiệp mới muốn tồn tại, phát triển và đứng vững trong môi trường này cần phải có đủ năng lực tạo ra hay tiếp nhận được các thông tin hữu ích cần thiết Vì thế các

18 Từ điển tiếng Việt, NXB Đà Nẵng, 2003,tr.39

Trang 21

đối thủ cạnh tranh thường tìm ra cách thức tiếp cận những thông tin này theo cách không lành mạnh Do đó, những quy định của pháp luật về việc bảo hộ bí mật kinh doanh lại có

ý nghĩa hết sức cần thiết và quan trọng

Thứ nhất, pháp luật về bí mật kinh doanh muốn duy trì và khuyến khích những

chuẩn mực đạo đức và sự công bằng trong thương mại;

Thứ hai, việc bảo hộ bí mật kinh doanh sẽ tạo ra động lực cho các doanh nghiệp

sáng tạo bằng cách bảo vệ thời gian và nguồn vốn đáng kể đã được đầu tư vào việc phát triển những sáng tạo mang lại lợi thế cạnh tranh, cả về mặt kỹ thuật và thương mại, đặt biệt là những sáng tạo không được cấp bằng độc quyền sáng chế hoặc chưa đủ điều kiện

để cấp bằng độc quyền sáng chế;

Thứ ba, nếu không được bảo hộ bởi pháp luật về bí mật kinh doanh thì những đối

thủ cạnh tranh của doanh nghiệp đó có thể sử dụng những sáng tạo này mà không phải gánh chịu bất kỳ phí tổn cũng như rủi ro nào trong quá trình nghiên cứu và phát triển những sáng tạo này

1.5 Vai trò của bí mật kinh doanh đối với doanh nghiệp

Bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ đối với bí mật kinh doanh là một vấn đề không xa lạ với các nước trên thế giới, nhưng lại khá mới mẽ đối với các doanh nghiệp của Việt Nam Trên thực tế rất ít doanh nghiệp nhận thức được vai trò vô cùng quan trọng trong việc thiết lập quyền sở hữu của mình đối với bí mật kinh doanh không chỉ trên thị trường trong nước mà còn ngày càng trở nên quan trọng hơn khi tham gia vào thị trường quốc tế vì hai

lý do sau:

Một là, tăng giá trị thương hiệu của doanh nghiệp đó do việc có được bí mật kinh

doanh Ví dụ cụ thể nhất là công thức chế biến thức uống Coca-cola là một bí mật kinh doanh của công ty Coca-cola Cho đến nay công ty Coca-cola vẫn là doanh nghiệp duy nhất có thể sản xuất được loại nước uống ưa chuộng này Có thể nói, Coca-cola đã thể hiện đẳng cấp của mình trên thị trường vì khi nhắc đến Coca-cola thì không ai không biết đến công ty sản xuất ra nó chính là Công ty Coca-cola

Hai là, có ưu thế trong cạnh tranh với các đối thủ do việc có được bí mật kinh

doanh Theo đó, một doanh nghiệp phát triển một quy trình để sản xuất sản phẩm của mình cho phép sản xuất ra hàng hóa với phương thức hiệu quả hơn về nhiều mặt nhất là mặt chi phí Quy trình này trên thực tế đã tạo ra ưu thế cạnh tranh hơn cho các đối thủ cạnh tranh bởi doanh nghiệp đã tạo ra sản phẩm hàng loạt mà ít tốn kém chi phí và thời

Trang 22

gian Do vậy doanh nghiệp này đã đánh giá quy trình này như một bí mật kinh doanh và không muốn đối thủ cạnh tranh biết được bí mật kinh doanh đó.

1.6 Sự cần thiết phải bảo hộ bí mật kinh doanh

Trước đây, Việt Nam đang trong quá trình đàm phán gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới WTO Đây là một trong những điều kiện tiên quyết để được gia nhập WTO là Việt Nam phải thực thi hiệu quả quyền sở hữu công nghiệp nói chung và quyền đối với bí mật kinh doanh nói riêng Việc này sẽ góp phần tăng cường đầu tư giữa Việt Nam với các nước đồng thời cũng là một nhân tố quan trọng để thu hút đầu tư vào Việt Nam

Ở Việt Nam, khái niệm bí mật kinh doanh cũng như vấn đề bảo vệ, gìn giữ bí mật kinh doanh còn khá mới mẻ và chưa thực sự được coi trọng Trong khi đó, bí mật kinh doanh lại mang đến cho doanh nghiệp nhiều lợi ích, vì thế bí mật kinh doanh luôn bị các đối thủ cạnh tranh dòm ngó, tiếp cận và thu thập nhằm chiếm đoạt lợi thế của doanh nghiệp sở hữu nó Thêm vào đó mức độ cạnh tranh trên thị trường ngày càng khốc liệt nên các đối thủ cạnh tranh không muốn chia sẽ thông tin cho nhau

Bên cạnh đó, người lao động có quyền lựa chọn và thay đổi nơi làm việc, họ mang theo thông tin đến nơi làm việc mới và đây là các đối thủ cạnh tranh của công ty cũ Bản thân các thông tin bí mật không phải là giải pháp kỹ thuật nên không thể bảo hộ được dưới danh nghĩa sáng chế Vì thế bí mật kinh doanh cần được bảo vệ bằng các hình thức hiệu quả nhất để bảo vệ chính lợi thế cạnh tranh của công ty

Một khi những bí mật kinh doanh hay những thông tin độc quyền bị mất, doanh nghiệp cần chấp nhận thực tế rằng khả năng tiếp tục bảo mật thông tin đó cũng đã bị mất

vì những tiết lộ do sơ suất, vô ý có thể ngăn cản doanh nghiệp việc tiếp tục kiểm soát những thông tin đó Doanh nghiệp sẽ đối mặt với nhiều rủi ro khi những thông tin độc quyền bị tiết lộ Một lời phát biểu vô tình của nhân viên, gián điệp kinh doanh, sự vi phạm hợp đồng, những nhân viên bất mãn và việc rò rỉ thông tin qua Email đều là những rủi ro thực sự Những thông tin độc quyền về đối thủ cạnh tranh rất quan trọng Theo thời gian, giá trị của những thông tin này càng ngày một nâng cao và cùng với đó đòi hỏi các doanh nghiệp phải quan tâm nhiều hơn đến việc bảo vệ những bí mật kinh doanh của chính mình

Trang 23

1.7 Chính sách tự bảo mật của chủ sở hữu đối với bí mật kinh doanh

Việc bảo hộ bí mật kinh doanh với tính chất đặc thù giống như tên gọi của nó Ngoài vai trò của pháp luật trong việc bảo hộ thì có thể nói vai trò góp phần quyết định lại

là chính sách tự bảo mật của chính chủ sở hữu bí mật kinh doanh

Hãy tưởng tượng, một ngày nào đó không may bí mật kinh doanh của doanh nghiệp bị rò rỉ ra bên ngoài dù vô tình hay bằng một cách khác như (gián điệp công nghiệp, nhân viên cũ của công ty bất mãn với công việc mà tiết lộ…) từ doanh nghiệp đó đến đối thủ cạnh tranh Nếu điều đó xảy ra, và đối thủ cạnh tranh của doanh nghiệp đó sẽ thu được lợi ích hay lợi nhuận từ việc tự do lợi dụng sử dụng những thành quả mà doanh nghiệp đó đã đầu tư thời gian, công sức, tiền bạc để tạo ra bí mật đó Điều đó có nghĩa là

họ không cần phải chịu bất kỳ chi phí nào, không gặp phải rủi ro nào trong việc thu thập hoặc phát triển những đổi mới dựa trên bí mật kinh doanh đã được chứng minh của chủ sở hữu Do đó, khi doanh nghiệp có được bí mật kinh doanh thì nên thiết lập một chính sách, một cách thức hợp lý trong việc quản lý để bảo vệ bí mật của mình như: hạn chế số người biết và tiếp cận đến bí mật đó, và chỉ bộc lộ đối với những người cần phải biết trong quá trình làm việc Đồng thời, cách ly những tài liệu có liên quan bằng cách có khóa riêng, có người trông giữ… Có thể nói thêm, đôi khi chính sách tự bảo mật của chủ sở hữu đối với

bí mật kinh doanh lại tốn kém chi phí hơn cả việc bảo hộ thông thường

1.8 So sánh giữa bí mật kinh doanh với sáng chế

1.8.1 Khái quát chung về bí mật kinh doanh và sáng chế

Theo khoản 12 Điều 4 Luật sở hữu trí tuệ thì sáng chế “là giải pháp kỹ thuật dưới

dạng sản phẩm hoặc quy trình nhằm giải quyết một vấn đề xác định bằng việc ứng dụng các quy luật tự nhiên” Nhưng không phải mọi giải pháp kỹ thuật nào cũng được bảo hộ

dưới danh nghĩa sáng chế, nó phải đáp ứng các điều kiện sau đây thì mới được coi là sáng chế:

 Có tính mới;

 Có trình độ sáng tạo;

 Có khả năng áp dụng công nghiệp

Bên cạnh đó, sáng chế còn được bảo hộ với danh nghĩa là giải pháp hữu ích Giải pháp hữu ích về bản chất là một sáng chế ở trình độ thấp Điều kiện bảo hộ giải pháp hữu ích đơn giản hơn, không đòi hỏi yêu cầu về trình độ sáng tạo mà chỉ cần đáp ứng điều

Trang 24

kiện: là không phải là hiểu biết thông thường, có tính mới và có khả năng áp dụng công nghiệp Sáng chế và bí mật kinh doanh đều là đối tượng sở hữu công nghiệp được pháp luật sở hữu trí tuệ bảo hộ So sánh bí mật kinh doanh và sáng chế ta thấy giữa chúng có những điểm giống và khác nhau.

áp dụng rộng rãi thu được sản phẩm đạt kết quả cao

Chính vì có khả năng áp dụng trong công nghiệp nên sáng chế và bí mật kinh doanh đều tạo cho người đang nắm giữ nó những lợi thế trước đối thủ cạnh tranh Do đó chủ sở hữu, người sử dụng sáng chế, bí mật kinh doanh cần phải có biện pháp cần thiết để bảo vệ

Thứ nhất, mục tiêu chung của sáng chế là nhằm khuyến khích sáng tạo và bộc lộ

các sáng tạo bằng việc dành cho người được cấp bằng sáng chế sự độc quyền sở hữu và

sử dụng sáng chế trước tất cả những người khác trong thời gian nhất định và khi thời hạn bảo hộ kết thúc, sáng chế lại trở thành tài sản chung của xã hội Đổi lại việc bảo hộ độc

Trang 25

quyền trong thời hạn tương đối lâu dài cụ thể là 20 năm thì chủ sở hữu phải công khai sáng tạo của mình, phải tiết lộ thông tin về sáng chế của mình trong những trường hợp được luật chì định mặc dù chủ sở hữu có các độc quyền đối với sáng chế của họ, tuy nhiên họ lại không được quyền giữ kín thông tin về các sáng chế đó

Theo luật thì khi nộp đơn xin cấp bằng độc quyền sáng chế đều yêu cầu người nộp đơn phải công bố những thông tin về sản phẩm hoặc quá trình được cấp bằng cũng như phải tạo điều kiện cho những người có khả năng kỹ thuật hiểu và sử dụng thông tin này để nghiên cứu thêm hoặc ứng dụng công nghệ sau khi sáng chế hết thời hạn độc quyền Bất

kì người nào quan tâm cũng có thể thu thập được những thông tin như vậy từ văn phòng cấp Patent, sau khi trả các chi phí cần thiết

Ngược lại với đặc điểm trên của việc bảo hộ đối với sáng chế, bí mật kinh doanh được bảo hộ lại nằm trong chính sự bí mật với các cách thức giữ kín, bảo mật của chủ thể, làm cho chúng không bị bộc lộ công khai trước người khác Vì thế, tuy mục tiêu của sự bảo hộ bí mật kinh doanh tương tự với mục tiêu của việc bảo hộ sáng chế ở chỗ chúng có tính chất khuyến khích hoạt động sáng tạo nhưng chúng vượt ra ngoài và mở rộng hơn so với bảo hộ sáng chế ở điểm chúng đảm bảo cho thông tin sáng tạo của chủ thể không trở thành tri thức công cộng chung, cho tới khi nào thông tin đó còn đảm bảo các yêu cầu luật định để xác định đó là bí mật kinh doanh

Thứ hai, sự khác biệt giữa việc bảo hộ sáng chế và bí mật kinh doanh là do bản

chất của chúng quyết định Cụ thể, nếu sự bảo hộ độc quyền sáng chế mang tính chất hành chính, chủ yếu dựa vào quyền lực nhà nước và có tính chất đối lưu hai chiều không chỉ nhằm bảo vệ quyền lợi của chủ sở hữu mà còn gắn với mục tiêu phát triển công nghệ chung của toàn xã hội, Nhà Nước đảm bảo cho chủ sở hữu độc quyền sở hữu và công khai

sử dụng sáng chế trong một thời hạn nhất định để đổi lấy việc chủ sở hữu không được quyền giữ bí mật thông tin về sáng chế và những người khác vẫn có thể tiếp cận, nghiên cứu sáng chế, từ đó tiếp tục cải tiến, phát triển và đổi mới công nghệ trong lĩnh vực tương ứng thì sự bảo hộ bí mật thương mại chủ yếu mang tính chất dân sự, với những biện pháp bảo mật do chính chủ sở hữu tự mình tiến hành, sao cho bí mật thương mại không thể bị tiết lộ dẫn đến giảm lợi thế kinh doanh của họ trước các đối thủ cạnh tranh khác Khi thực

tế xuất hiện hành vi tiếp cận, nắm giữ thông tin về bí mật kinh doanh một cách không lành mạnh hoặc bất hợp pháp, chủ sở hữu có quyền yêu cầu bồi thường

Thứ ba, về thời gian bảo hộ: Việc bảo hộ bí mật kinh doanh có ưu điểm là không

bị hạn chế về mặt thời gian Tức là, chúng sẽ được bảo hộ cho tới khi bí mật đó còn chưa

Trang 26

bị bộc lộ ra công chúng Việc bảo hộ bí mật kinh doanh không phải mất chi phí đăng ký (mặc dù có thể phải bỏ chi phí cao hơn để bảo mật thông tin đó) Bí mật kinh doanh phát sinh hiệu lực ngay lập tức Việc bảo hộ bí mật kinh doanh không đòi hỏi công bố thông tin hoặc thủ tục đăng ký Đối với sáng chế thì thời gian bảo hộ là 20 năm kể từ ngày nộp đơn đăng ký bảo hộ và đối với bằng độc quyền sáng chế khi hết thời hạn bảo hộ thì sẽ được gia hạn hoặc kéo dài thêm sau khi nộp lệ phí và thủ tục duy trì, gia hạn hiệu lực.

Giả sử, chủ sở hữu (cá nhân, tổ chức) có được sản phẩm trí tuệ đáp ứng đủ điều kiện để được bảo hộ dưới dạng bí mật kinh doanh hay sáng chế thì qua việc phân tích những mặt giống nhau cũng như những điểm khác nhau giữa chúng Theo đó, chủ sở hữu

sẽ đứng trước hai sự lựa chọn: một là bộc lộ sản phẩm trí tuệ đó để được bảo hộ bằng việc cấp bằng độc quyền đối với sáng chế; và sẽ được bảo hộ với danh nghĩa là bí mật kinh doanh nếu chủ sở hữu không muốn bộc lộ Theo người viết, sẽ là sự lựa chọn thông minh nếu chủ sở hữu tin mức độ sáng tạo của sản phẩm trí tuệ đó, chẳng hạn họ tin rằng trong

100 năm nữa bí mật do mình sáng tạo, tìm ra mà người khác không thể khám phá và tìm hiểu được, cộng với thời gian bảo hộ đối với bí mật kinh doanh là vô thời hạn thì thiết nghĩ chủ sở hữu nên lựa chọn bảo hộ dưới hình thức bí mật kinh doanh để bảo hộ cho sản phẩm trí tuệ của mình Ngược lại, nếu chủ sở hữu sợ rủi ro trong quá trình hoạt động dẫn đến bí mật đó bị tiết lộ, bộc lộ và họ muốn độc quyền sử dụng (thời gian bảo hộ là 20 năm) thì thiết nghĩ nên lựa chọn bảo hộ dưới dạng sáng chế Nếu trong quá trình bảo hộ

mà có hành vi xâm phạm như có người tiếp cận, nghiên cứu, phát triển và đổi mới những sáng chế đó thì khi đó chủ sở hữu sẽ có quyền ngăn cấm và được cơ quan có thẩm quyền can thiệp ngay

1.8.2 Một số ví dụ trong thực tiễn chứng minh mối liên hệ giữa bí mật kinh doanh và sáng chế

Công ty săm lốp Michelin (pháp)

Công ty săm lốp Michelin (pháp) có lịch sử 180 năm nổi tiếng là thần bí nhất Châu Âu Chuyển kể rằng năm 1964, Tổng thống De Gaulle muốn đến thăm xưởng sản xuất cũng

đã bị từ chối Lý do là công ty muốn đảm bảo an toàn tuyệt đối những bí mật về thiết kế sản phẩm và kỹ thuật chế tạo của mình Để giữ bí mật kỹ thuật, công ty không những từ chối mọi khách trong nước đến tham quan khảo sát mà ngay cả đối với nội bộ cũng bảo mật nghiêm ngặt Phân xưởng sản xuất cao su chỉ được giao cho những người thân tín quản lý thiết bị thí nghiệm Hỗn hợp hữu cơ, nhiệt độ và công thức pha chế cao su thiên nhiên được bảo mật liên tục Các công đoạn không biết nhau và công ty cũng không cho

Trang 27

phép nhân viên đổi cương vị lẫn nhau Như vậy, công ty

Michelin trở thành công ty săm lốp cao su thứ hai thế giới

và là đối thủ đáng gờm nhất của công ty Cathay của Mỹ

Công ty săm lốp Michelin (Pháp) bảo hộ quá trình

sản xuất kỹ thuật của mình dưới dạng bí mật kinh doanh

Vì nếu bảo hộ dưới dạng là bằng độc quyền sáng chế thì

thời gian bảo hộ chỉ được 20 năm và khi hết thời hạn này

thì người khác có quyền sử dụng, thu lợi mà không phải

chịu bất kỳ trách nhiệm pháp lý nào Do đó, việc bảo hộ quá trình sản xuất, kỹ thuật chế tạo với danh nghĩa bí mật kinh doanh thì thời gian bảo hộ là vô thời hạn nếu những thông tin về quá trình sản xuất đó chưa bị bộc lộ, khi đó công ty sẽ tiếp tục thu được lợi ích kinh

tế từ sản phẩm mà họ đã sản xuất ra

Bí quyết giữ gìn phấn nụ Huế 19

Phấn nụ là một loại mỹ phẩm độc nhất vô nhị của Huế Gia đình bà Trần Thị Tùng,

số nhà 22 Tô Hiến Thành, Thành Phố Huế là một trong những nơi hiếm sản xuất ra loại

mỹ phẩm có một không hai này Hiện bà Tùng đã sang định cư ở Hoa Kỳ và người em ruột là bà Trần Thị Phương cũng không còn ở Huế mà đang sống ở TP Hồ Chí Minh Cả hai hiện giờ điều mở tiệm bán phấn nụ một ở Mỹ và một ở TP Hồ Chí Minh, năm nào họ cũng phải về Huế một lần để sản xuất phấn nụ, sau đó đóng gói sản phẩm chở đi vì loại sản phẩm đó chỉ có thể sản xuất tại Huế không thể sản xuất ở bất cứ nơi nào

Khoảng thế kỉ XIX khi Huế trở thành kinh đô của nhà Nguyễn, cùng với việc thiết lập triều cương, một nhu cầu không thể thiếu ở chốn cung đình đó là làm đẹp và phấn nụ cũng ra đời Đến năm 1945, triều đại phong kiến sụp đổ, các cung nữ ra khỏi cung cấm và nhiều người đã mang theo nghề làm phấn truyền bá trong dân gian Theo bà Trần Thị Phương, hậu duệ được thụ truyền nghề làm phấn nụ thì người đầu tiên nắm giữ được kỹ thuật làm phấn nụ là bà ngoại của mình, nguyên là thị nữ chốn hậu cung Sau khi bà ngoại xuất cung đã truyền nghề lại Kỹ thuật làm phấn nụ là một nghề gia truyền nên ngoài người thân trong gia đình không ai được biết đến công thức pha chế Bà Phương cho biết,

để có những thỏi phấn nụ thành phẩm đạt chất lượng phải trải qua nhiều công đoạn rất công phu, tỉ mỉ, tuân thủ các nguyên tắc bất di bất dịch từ đầu cho đến cuối Nước phải hứng nước trời, nhưng không phải lấy nước của những trận mưa đầu tiên vì theo họ, chỉ

19Theo Diễn đàn thương nhân Việt Nam, Bí mật nỏ thần,

Trang 28

http://merchant.vn/news/2011/04/05/bi-m%E1%BA%ADt-có nước mưa ở Huế mới làm được phấn nụ Ngoài ra,

các vị thuốc bắc cũng chỉ mua được mua tiệm quen ở

Huế chỉ cần bà Tùng và bà Phương đến cứ thế cân đủ

phân, đủ lạng mang về Đó cũng là lý do mà hằng năm,

bà Phương và bà Tùng phải về Huế ít nhất một lần để

sản xuất phấn nụ Giá phấn nụ ở Huế hiện nay được bán

khoảng từ 15.000 – 20.000 đồng/thỏi (ở Mỹ bán với giá

15-20 USD/thỏi) chất lượng rất tốt Hành trình phấn nụ

từ cấm cung bước vào dân gian được lưu truyền qua hậu duệ và đến nay bí mật đó vẫn trong vòng bí mật

Việc sản xuất phấn nụ là một bí mật kinh doanh của bà Tùng và bà Phương Tương

tự công ty Michelin, nếu quá trình sản xuất phấn nụ được bảo hộ dưới dạng sáng chế thì khi hết thời gian bảo hộ nó sẽ bị bộ lộ và người khác có quyền sử dụng chúng để thu lợi Việc này sẽ làm ảnh hưởng đến chủ sở hữu mà cụ thể là bà Tùng và bà Phương Do đó, việc bảo hộ quá trình sản xuất phấn nụ dưới danh nghĩa là một bí mật kinh doanh mang hiệu quả tối ưu

Gillete… bảo đảm bí mật đến cùng 20

Gillete là nhãn hiệu dao cạo râu thịnh hành số 1 và đang chiếm tới 70% thị phần dao cạo râu trên thế giới Các nhãn hiệu của Gillete luôn làm lu mờ nhiều sản phẩm của các hãng nổi tiếng khá như: Warner, Lambert, Schik, Wilkisson, Bic… Một trong những

bí quyết thành công của Gillete là đảm bảo bí mật của sản phẩm mới đến cùng Sự ra đời của nhãn hiệu March 3 là một ví dụ

Để Gillete March 3 có được thành công như ngày nay hãng đã mất gần 10 năm nghiên cứu bí mật Gillete bỏ ra 1,2 tỷ USD cho dự án nghiên cứu sản phẩm, với sự tham gia của gần 500 kỹ sư đến từ đại học Stanford và viện đại học MIT Công cuộc nghiên cứu và chế tạo tuyệt mật đến nỗi Gillete đã nhờ FBI vào cuộc Hàng ngày các nhân viên của FBI ngoài việc bảo vệ khu vực nghiên cứu thì tại trụ sở FBI hàng loạt các thông tin tình báo được gởi về để tìm ra những điệp viên kinh tế có thể ăn cắp thông tin Nhờ đó, Gillete đã phát hiện ra một điệp viên của đối thủ cạnh tranh Wright Industrries định lẻn vào ăn cắp bản vẽ Gillete Match 3 Bên cạnh đó, một số hacker định tấn công hệ thống

20Theo Diễn đàn thương nhân Việt Nam, Bí mật nỏ thần,

http://merchant.vn/news/2011/04/05/bi-m%E1%BA%ADt-n%E1%BB%8F-th%E1%BA%A7n/, [truy cập ngày 28/12/2011].

Trang 29

mạng nội bộ của Gillete cũng thất bại vì hệ thống bảo vệ của Gillete khá tốt và được FBI nâng cấp thường xuyên.

Sau khi nghiên cứu thành công Match 3, ngay lập tức Gillete xin đăng ký bảo hộ quyền sở hữu sáng chế tại Mỹ, Châu Âu, Nhật bản và Trung quốc là những thị trường chủ chốt của hãng Điều đặc biệt là Gillete không xin bảo hộ tổng thể Match 3 mà xin bảo hộ riêng cho từng bộ phận của chiếc dao cạo râu thế hệ mới

này Tất cả đã có đến 38 bộ phận của Match 3 được xin

đăng ký bảo hộ độc quyền nên đã hạn chế khá hiệu quả nạn

ăn cắp bản quyền sáng chế

Trong ví dụ này, sản phẩm Match 3 của Gillete lại

được bảo hộ như một sáng chế xem xét kỹ thì việc này sẽ

mang lại hiệu quả hơn Mặc dù, việc tạo ra Match 3 là một

bí mật của công ty Vì khi sản phẩm được bán trên thị

trường, người khác sẽ mua và phân tích nó để biết được

những đặc tính kỹ thuật của nó khi đó pháp luật khó mà bảo vệ người chủ sở hữu thật sự Nhưng nếu được bảo hộ dưới dạng sáng chế thì khi đó pháp luật sẽ bảo hộ một cách hiệu quả hơn

Như vậy, việc bảo hộ sản phẩm trí tuệ dưới dạng sáng chế hay bí mật kinh doanh đều có những ưu và nhược điểm nhất định Qua những ví dụ trên cho thấy sự khôn khéo của chủ sở hữu, tùy theo từng sản phẩm trí tuệ mà cân nhắc lựa chọn hình thức bảo hộ dưới hình thức bằng độc quyền sáng chế hay bí mật kinh doanh để đạt được hiệu quả tối

Có thể nói rằng, chương trình máy tính là một loại hình công nghệ đặc biệt có thể được bảo hộ dưới nhiều hình thức mà một số quốc gia trên thế giới áp dụng như: Bảo hộ quyền tác giả; Bảo hộ dưới dạng sáng chế; Bảo hộ dưới dạng bí mật kinh doanh; Bảo hộ kiểu dáng công nghiệp

Trang 30

Tuy nhiên ở Việt nam, chương trình máy tính chỉ được bảo hộ dưới hình thức là

quyền tác giả “chương trình máy tính được bảo hộ như tác phẩm văn học, dù được thể

hiện dưới dạng mã nguồn hay mã máy” được quy định tại khoản 1 Điều 22 Luật sở hữu

trí tuệ hiện hành Theo đó, “mã nguồn” là sản phẩm trước biên dịch của một phần mềm, chưa có khả năng điều khiển thiết bị số “Mã máy” là sản phẩm sau biên dịch của một

phần mềm, có khả năng điều khiển thiết bị số (khoản 13, 14 Luật công nghệ thông tin 2006)

Tuy nhiên, xét ở một góc độ khác thì chương trình máy tính hoặc từng bộ phận của chương trình máy tính có thể được bảo hộ dưới dạng bí mật kinh doanh, hoặc được bảo hộ dưới dạng sáng chế bởi tính chất mật, chưa được bộc lộ công khai dưới bất kỳ hình thức nào khác đồng thời được chủ sở hữu áp dụng các chính sách bảo mật đối với chúng

Giả sử chương trình máy tính đáp ứng đủ điều kiện để được bảo hộ dưới dạng là bí mật kinh doanh Khi đó, chủ sở hữu sẽ được độc quyền sử dụng mà không phải bộc lộ công khai Tuy nhiên, đổi lại thì cách thức bảo hộ này mang lại rủi ro đáng kể vì chương trình máy tính có thể bị giải mã, phân tích ngược tạo cho người khám phá kết quả như mong muốn của họ

Thông thường, các chương trình máy tính được tích hợp trong máy móc, thiết bị phần cứng Khi đó, việc phân tích ngược các chương trình máy tính, tiến hành “bẻ khóa”

sẽ cho ra kết quả mong muốn Trường hợp này phụ thuộc vào trình độ, kinh nghiệm của các chuyên gia chuyên bẻ khóa Về mặt pháp lý thì hành vi này không bị xem là vi phạm quyền đối với bí mật kinh doanh Tuy nhiên, hành vi phân tích ngược sáng chế được bảo

hộ để sử dụng vào mục đích thương mại có thể bị xem là hành vi xâm phạm quyền Cũng chính vì lý do này, đối với loại công nghệ, hoặc thiết bị công nghệ dễ bị phân tích ngược hay bị bẻ khóa thì chủ sở hữu nên chọn cách thức bảo hộ dưới dạng sáng chế Khi đó, sáng chế sẽ bị bộc lộ công khai và chi tiết đến người khác có thể làm ra sáng chế tương tự được nhưng đổi lại họ được cấp bằng độc quyền trong thời gian 20 năm Nếu chủ sở hữu lựa chọn bảo hộ dưới hình thức là bí mật kinh doanh Khi đó, chủ sở hữu chương trình máy tính được bảo hộ vô thời hạn nếu nó chưa bị bộc lộ công khai Vì thế, trong trường hợp chương trình máy tính không thuộc phạm vi bảo hộ của sáng chế thì người sử dụng hoàn toàn có thể áp dụng biện pháp phân tích ngược để khai thác, sử dụng chương trình máy tính vào mục đích thương mại mà không bị xem là hành vi xâm phạm Tuy nhiên việc bảo hộ chương trình máy tính dưới dạng sáng chế đã bị loại bỏ theo quy định tại khoản 2 Điều 59 Luật sở hữu trí tuệ hiện hành

Trang 31

1.9 Mối liên hệ giữa bí mật kinh doanh với sáng chế và kiểu dáng công nghiệp

Sáng chế sẽ được bảo hộ nếu đáp ứng đủ các điều kiện sau: có tính mới; có trình độ sáng tạo; có khả năng áp dụng công nghiệp Theo đó, sáng chế là giải pháp kỹ thuật dưới dạng sản phẩm hoặc quy trình nhằm giải quyết một vấn đề xác định bằng việc áp dụng các quy trình tự nhiên

Tương tự, kiểu dáng công nghiệp sẽ được bảo hộ nếu đáp ứng đủ các điều kiện sau:

có tính mới; có trình độ sáng tạo; có khả năng áp dụng công nghiệp Theo đó, kiểu dáng công nghiệp là hình dáng bên ngoài của sản phẩm, được thể hiện bằng hình khối, đường nét, màu sắc hoặc sự kết hợp những yếu tố này

Có thể nói, sáng chế và kiểu dáng công nghiệp có thể bảo hộ dưới dạng bí mật kinh doanh Bởi vì, tính mới của sáng chế và kiểu dáng công nghiệp đã đáp ứng điều kiện để được bảo hộ như một bí mật kinh doanh bởi chúng không phải là hiểu biết thông thường

và không dễ dàng có được; khi sử dụng trong kinh doanh sẽ tạo cho người nắm giữ bí mât kinh doanh đó lợi thế và được chủ sở hữu bảo mật Theo đó, sáng chế được coi là có tính mới nếu chưa bị bộc lộ công khai dưới hình thức sử dụng, mô tả bằng văn bản hoặc bất kì hình thức nào khác; chưa bộc lộ công khai và chỉ một số người hạn chế biết được và có nghĩa vụ giữ bí mật về sáng chế đó Tương tự, kiểu dáng công nghiệp được coi là có tính mới nếu kiểu dáng đó khác biệt đáng kể với những kiểu dáng trước đó; chưa bộc lộ công khai và chỉ có một số người biết được và có nghĩa vụ giữ bí mật về kiểu dáng đó

Thêm vào đó, trước khi đăng ký bảo hộ bằng việc cấp văn bằng bảo hộ, và trong thời gian chờ cấp văn bằng bảo hộ đối với sáng chế và kiểu dáng công nghiệp thì chúng được chủ sở hữu bảo hộ dưới hình thức nào để những sáng chế, kiểu dáng đó không bị tiết

lộ, không bị bộc lộ công khai, phải chăng đó là cách thức bảo mật mà chủ sở hữu áp dụng bảo hộ giống như là một bí mật kinh doanh Khi đó, những thông tin về sáng chế kiểu dáng đó lại chính là bí mật kinh doanh Tuy nhiên, sau khi đăng ký đối với kiểu dáng công nghiệp (thời gian bảo hộ là 5 năm) với tính chất đặc thù là nó thể hiện qua hình dáng bên ngoài sản phẩm Do đó, khi sản phẩm được sản xuất và xuất hiện trên thị trường thì tính chất mật không còn nữa, nó đã bị bộc lộ Tương tự, đối với sáng chế khi đăng ký thì buộc sáng chế đó phải bộc lộ, đổi lại là thời gian bảo hộ độc quyền 20 năm

Qua những phân tích trên có thể kết luận để bí mật kinh doanh được bảo hộ thì phải đáp ứng đủ ba điều kiện sau: thứ nhất, bí mật đó phải là kết quả của quá trình đầu tư nghiên cứu sáng tạo và được chủ sở hữu nổ lực cần thiết để duy trì bí mật Thứ hai, bí mật

đó chưa được bộc lộ đến mức người khác có thể dễ dàng có được Thứ ba, bí mật đó phải

Trang 32

tạo ra được giá trị kinh tế khi được sử dụng trong kinh doanh Từ đó cho thấy, bí mật kinh doanh đối tượng của quyền sở hữu trí tuệ theo pháp luật Việt Nam có phạm vi tương đối hẹp pháp luật chỉ bảo hộ các thông tin bí mật liên quan đến kinh doanh Do đó, việc xác định chính xác các thông tin này không chỉ có ý nghĩa quan trọng trong việc bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của chủ sở hữu thông tin mà còn ngăn chặn việc bảo hộ quá rộng dẫn đến các hiện tượng tiêu cực trong xã hội Từ những phân tích trên chúng ta sẽ tìm hiểu xem pháp luật Việt Nam sẽ quy định như thế nào về vấn đề bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với bí mật kinh doanh.

Trang 33

CHƯƠNG II NHỮNG QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ VIỆC BẢO

HỘ BÍ MẬT KINH DOANH

Khi một bí mật kinh doanh loại bỏ được đối thủ cạnh tranh trên thị trường thì tất nhiên công việc đầu tư nghiên cứu, sáng tạo ra bí mật kinh doanh đó là rất tốn kém Trái lại việc làm đó không ít trường hợp cạnh tranh không lành mạnh bằng cách dùng những thủ đoạn, những thành quả của người khác tạo ra Đây là một trong những thách thức không nhỏ đối với chủ sở hữu hoặc tác giả tạo ra bí mật kinh doanh Vậy làm thế nào để

bí mật kinh doanh đáp ứng đủ điều kiện để được bảo hộ, để tồn tại và có thể cạnh tranh được với các doanh nghiệp khác trên thị trường đang là một bài toán nang giải đối với các chủ sở hữu Biết được yêu cầu đó, việc phân tích và làm rõ những quy định của pháp luật

về bảo hộ bí mật kinh doanh là việc làm rất có ý nghĩa, giúp cho chủ sở hữu hoặc tác giả tạo ra bí mật kinh doanh biết được quyền và nghĩa vụ của mình đối với bí mật kinh doanh

2.1 Chủ sở hữu của bí mật kinh doanh

Chủ sở hữu bí mật kinh doanh là tổ chức, cá nhân có được bí mật kinh doanh một cách hợp pháp và thực hiện việc bảo mật bí mật kinh doanh đó Bí mật kinh doanh mà bên làm thuê, bên thực hiện nhiệm vụ được giao có được trong khi thực hiện công việc được thuê hoặc được giao thuộc quyền sở hữu của bên thuê hoặc bên giao việc, trừ trường hợp các bên có thoả thuận khác được quy định tại khoản 3 Điều 121 Luật sở hữu trí tuệ

2.2 Căn cứ xác lập quyền sở hữu đối với bí mật kinh doanh

Bí mật kinh doanh là một trong những đối tượng của quyền sở hữu trí tuệ có tuổi

đời bảo hộ pháp lý “trẻ nhất” ở Việt Nam, với sự ghi nhận chính thức tại Nghị định

54/2000/NĐ-CP ngày 3/10/2000 của Chính Phủ về bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với bí mật kinh doanh, chỉ dẫn địa lý, tên thương mại và bảo hộ quyền chống cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến sở hữu công nghiệp (gọi tắt là Nghị định số 54 của Chính Phủ) Vậy căn cứ để xác lập quyền đối với bí mật kinh doanh thì theo quy định tại Điều 5

Nghị định 54 của Chính Phủ “Quyền sở hữu công nghiệp đối với bí mật kinh doanh tự

động được xác lập khi đáp ứng các điều kiện được bảo hộ theo quy định của pháp luật”.

Tương tự, theo khoản 3 Điều 752 Bộ luật dân sự 2005 cũng quy định “Quyền sở

hữu công nghiệp đối với bí mật kinh doanh được xác lập trên cơ sở có được thông tin tạo thành bí mật kinh doanh một cách hợp pháp và sự bảo mật thông tin đó”.

Trang 34

Đến Luật sở hữu trí tuệ 2005 ra đời thì căn cứ để xác lập quyền đối với bí mật kinh doanh được cụ thể và rõ ràng hơn tại điểm c khoản 3 Điều 6 Luật sở hữu trí tuệ hiện hành

và được hướng dẫn tại Điều 6 Nghị định 122/2010/NĐ-CP ngày 31/12/2010, sửa đổi bổ sung một số điều của Nghị định 103/2006/NĐ-CP ngày 22/9/2006 của Chính Phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật sở hữu trí tuệ về sở hữu công nghiệp

“Căn cứ xác lập quyền sở hữu công nghiệp đối với bí mật kinh doanh được xác lập

trên cơ sở đầu tư tài chính, trí tuệ hay bất kỳ cách thức hợp pháp nào để tìm ra, tạo ra hoặc đạt được thông tin và bảo mật thông tin tạo thành bí mật kinh doanh đó mà không cần thủ tục đăng ký”.

Vậy căn cứ để xác lập quyền đối với bí mật kinh doanh phải đáp ứng đồng thời hai điều kiện sau: bí mật kinh doanh đó phải là thành quả đầu tư tài chính, trí tuệ của chủ sở hữu có được một cách hợp pháp và được chủ sở hữu áp dụng các biện pháp bảo mật Vậy thì làm thế nào để đánh giá được tính bí mật của bí mật kinh doanh vì các bí mật kinh doanh thường không được đăng ký giống như các hình thức bảo hộ của các đối tượng khác của quyền sở hữu công nghiệp Trong khi việc bảo hộ bí mật kinh doanh được tự động xác lập chỉ khi xảy ra các tranh chấp thì cơ quan có thẩm quyền mới đánh giá tính bí mật của một bí mật kinh doanh xem nó có đáp ứng yêu cầu bảo hộ hay không Theo đó, luật của Mỹ có nêu một số yếu tố căn cứ vào đó mà có thể xem xét thông tin của một người có phải là bí mật kinh doanh hay không cụ thể:

 Phạm vi những người được biết thông tin bên ngoài cơ sở kinh doanh của người nắm giữ thông tin;

 Phạm vi những người làm công và những người khác trong cơ sở kinh doanh của người nắm giữ thông tin biết được về thông tin đó;

 Toàn bộ biện pháp, cách thức mà người nắm giữ thông tin đã thực hiện để gìn giữ

bí mật thông tin đó;

 Giá trị thông tin đó đối với chủ sở hữu và đối với đối thủ cạnh tranh của người đó;

 Tổng lượng cố gắng, nỗ lực hoặc tiền bạc mà chủ sở hữu bí mật kinh doanh bỏ ra

để phát triển bí mật đó;

Trang 35

 Tính chất dễ dàng hoặc khó khăn để thông tin có thể có được một cách đúng đắn, hợp lý với người khác (tức là ngoài người nắm giữ thông tin đó).21

Sự bí mật của các bí mật kinh doanh là nhân tố quan trọng nhất cần xem xét Nếu thông tin được coi là bí mật kinh doanh mà lại có thể lấy được bằng bất kỳ phương thức hợp pháp nào thì thông tin đó không được coi là bí mật nữa và có thể không đủ điều kiện

để được bảo hộ Tuy nhiên, nếu chủ sở hữu đã có một số biện pháp hợp lý để bảo vệ thông tin nhưng thông tin về bí mật kinh doanh đó bằng cách nào đó bị tiết lộ thì thông thường vẫn được bảo hộ Các biện pháp hợp lý có thể bao gồm việc yêu cầu những người

có điều kiện tiếp cận với thông tin đó tham gia vào công việc kinh doanh phải ký vào các thoả thuận bảo mật và chống việc tiết lộ ra bên ngoài

Trở lại với quy định của pháp luật Việt Nam thì để được công nhận là bí mật kinh doanh và được pháp luật bảo hộ thì chủ thể kinh doanh cần phải đảm bảo thoả mãn các điều kiện được quy định tại mục 2.3 của chương này

2.3 Điều kiện bảo hộ đối với bí mật kinh doanh

Đặc tính vô hình của các đối tượng sở hữu trí tuệ đã làm cho mọi khía cạnh liên quan đến chúng trở nên phức tạp và hết sức trừu tượng Với bí mật kinh doanh thì sự trừu tượng và phức tạp này ngày càng được nhân lên gấp nhiều lần Bởi vì sự bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ đối với các đối tượng khác như: Tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học; sáng chế; kiểu dáng công nghiệp; nhãn hiệu thương mại… nói chung đều thể hiện sự bộc lộ công khai của chủ sở hữu các đối tượng đó trước xã hội và công chúng thì với bí mật kinh doanh đúng như tên gọi của chúng đã thể hiện được sự lựa chọn của chủ thể về việc họ đã quyết định không bộc lộ, không phô bày, không yêu cầu cơ quan có thẩm quyền cấp bằng độc quyền đối với thông tin sáng tạo của mình Với đặc tính đó, bí mật kinh doanh đã thật

sự và hầu như là tuyệt đối là của riêng chủ thể, tạo lợi thế riêng cho họ trước các đối thủ cạnh tranh của chủ thể, thúc đẩy và đa dạng hoá các quan hệ kinh doanh, thương mại trong sự phát triển chung của nền kinh tế

2.3.1 Điều kiện chung đối với bí mật kinh doanh được bảo hộ

Theo quy định của Điều 84 Luật sở hữu trí tuệ hiện hành cũng như quy định tại Điều 6 Nghị định 54/2000/NĐ-CP các thông tin thoả mãn ba điều kiện sau đây thì được coi là bí mật kinh doanh:

21ThS Kiều Thị Thanh và ThS Bùi thị Thu Hằng, “Quyền sở hữu công nghiệp đối với bí mật kinh doanh”, Tạp chí luật học,

2003.

Trang 36

Một là, không phải là hiểu biết thông thường và không dễ dàng có được Điều kiện

đầu tiên để thành quả đầu tư dưới dạng thông tin được coi là bí mật kinh doanh thì chúng không phải là hiểu biết thông thường Đây có thể coi là điều kiện về tính sáng tạo của bí mật kinh doanh Những hiểu biết thông thường có thể là những hiểu biết trong đời sống hằng ngày, những hiểu biết mà mọi người có thể biết Những hiểu biết này có thể do học tập mà có và cũng có thể do cập nhật thông tin trên phương tiện truyền thông như: báo chí, truyền hình, truyền thanh… Trong khi đó, không phải là hiểu biết thông thường có thể hiểu là những tri thức, thông tin mà chúng là thành quả của cả một quá trình đầu tư tài chính và trí tuệ của chủ sở hữu Chúng không thể là những kiến thức, tri thức mà nhiều người khác đã biết đến một cách rộng rải hoặc dễ dàng phát hiện, nắm giữ mà không có

sự đầu tư về tài chính hoặc trí tuệ Những thông tin đơn lẻ không hàm chứa một lượng tri thức sáng tạo nhất định hoặc những tri thức phổ biến đối với những người có trình độ trung bình trong lĩnh vực đó sẽ không đáp ứng được điều kiện bảo hộ là bí mật kinh doanh Tri thức, thông tin chỉ được bảo hộ là bí mật kinh doanh nếu nó chưa được biết rộng rãi và không dễ dàng có được qua những cách thức khác nhau bởi những người khác trong những phạm vi liên quan đến loại thông tin đó

Hai là, khi sử dụng trong kinh doanh sẽ tạo cho người nắm giữ bí mật kinh doanh

lợi thế so với người không nắm giữ hoặc không sử dụng bí mật kinh doanh đó Bí mật

kinh doanh không thể chỉ thoả mãn điều kiện không phải là hiểu biết thông thường, chúng còn có khả năng sử dụng trong kinh doanh để tạo cho người nắm giữ thông tin lợi thế hơn

so với người không nắm giữ hoặc không sử dụng thông tin đó Lợi thế ở đây là sự độc quyền chiếm hữu và sử dụng đối với bí mật kinh doanh Điều này xuất phát từ đặc điểm của bí mật kinh doanh, bí mật kinh doanh được coi là tài sản có giá trị của doanh nghiệp

Để có được bí mật kinh doanh, doanh nghiệp phải đầu tư rất nhiều tiền của, công sức để thu thập, phát triển và bảo mật bí mật kinh doanh và đổi lại là mong muốn việc nắm giữ

và sử dụng chúng sẽ mang lại lợi ích và hiệu quả kinh tế nhất định cho họ, giúp họ dễ dàng hơn trong quá trình cạnh tranh với các đối thủ khác

Ba là, được chủ sở hữu bảo mật bằng các biện pháp cần thiết để bí mật kinh doanh

đó không bị bộc lộ và không dễ dàng tiếp cận được Trên cơ sở chủ sở hữu đã nắm giữ và

sử dụng thông tin bí mật đáp ứng yêu cầu không phải là hiểu biết thông thường, có khả năng sử dụng trong kinh doanh tạo lợi thế cho họ trong quá trình cạnh tranh với các chủ thể khác, luật đồng thời quy định điều kiện thứ ba để xác định thông tin của chủ thể có phải là bí mật kinh doanh không Đó là việc chủ sở hữu thông tin đã áp dụng các biện

Trang 37

pháp cần thiết để bảo mật thông tin của mình như thế nào Để được bảo hộ bí mật kinh doanh, một trong những điều kiện quan trọng là thông tin còn phải tồn tại trong tình trạng

bí mật, có nghĩa là những người thường xuyên xử lý loại thông tin đó không biết hoặc không dễ dàng tiếp cận được thông tin dưới dạng thông tin toàn bộ, tức là những thông tin

đó được biết dưới dạng ghép nối theo trật tự chính xác mọi chi tiết của thông tin đó Một thông tin được coi là bí mật nếu như chỉ có một phạm vi hạn chế những người trực tiếp sử dụng thông tin đó trong doanh nghiệp biết được thông tin đó và có trách nhiệm giữ bí mật

Để đảm bảo tính bí mật của bí mật kinh doanh, chủ sở hữu phải thực hiện các biện pháp cần thiết và phù hợp để giữ bí mật thông tin như: các biện pháp hạn chế việc biết được hoặc tiếp cận được thông tin đối với các nhân viên trong doanh nghiệp cũng như các chủ thể khác, hoặc các biện pháp như cất giữ thông tin trong kép sắt, cất giữ thông tin không theo trật tự vốn có của nó, mã hoá thông tin, mã truy cập thông tin, xây dựng một chương trình quản lý tài liệu…Hay các biện pháp chống bộc lộ thông tin như trong việc

ký kết hợp đồng bảo mật, hợp đồng lao động trong đó có quy định trách nhiệm của người được biết hoặc tiếp cận thông tin đó không được tiết lộ thông tin hoặc không được tìm cách biết được thông tin mà mình được tiếp cận Rõ ràng, cho dù việc sử dụng thông tin sáng tạo riêng nào đó thực sự mang lại lợi ích rất lớn cho chủ sở hữu nhưng họ lại trả lời phỏng vấn trước báo chí, đã cung cấp hoặc bán thông tin cho nhiều người khác, đã tạo điều kiện để nhiều người khác có thể dễ dàng biết về thông tin thì họ khó có thể chứng minh trên thực tế người nào đó đã xâm phạm bí mật kinh doanh của mình để yêu cầu bồi thường Bởi vì, khi đó thông tin không còn được coi là bí mật kinh doanh nữa Đây cũng

là điều kiện nói lên tính chất mật của bí mật kinh doanh Kết hợp với hai điều kiện ban đầu đã làm cho thành quả đầu tư dưới dạng thông tin của chủ thể trở thành bí mật kinh doanh và được bảo hộ theo quy định của pháp luật Việt Nam về bí mật kinh doanh

Ngoài ra, theo tinh thần của Điều 8 Luật sở hữu trí tuệ, thì bí mật kinh doanh trái với đạo đức xã hội, xâm phạm tới lợi ích Nhà nước, lợi ích công cộng, có hại cho quốc phòng, an ninh sẽ không được pháp luật Việt Nam bảo hộ

2.3.2 Đối tượng không được bảo hộ với danh nghĩa bí mật kinh doanh

Ngoài các quy định về điều kiện để một bí mật kinh doanh được bảo hộ thì tại Điều

85 Luật sở hữu trí tuệ Việt Nam 2005, sửa đổi bổ sung 2009 còn quy định các đối tượng không được bảo hộ với danh nghĩa bí mật kinh doanh như:

Trang 38

Một là, Bí mật về nhân thân Bí mật về nhân thân sở dĩ không được xem là bí mật

kinh doanh vì ai cũng có quyền về nhân thân và được pháp luật bảo hộ Quyền đối với nhân thân được quy định trong Bộ luật dân sự từ Điều 26 - Điều 51 Đối với bí mật về nhân thân của một người thì không ai được thu thập, quảng bá, phổ biến cho người khácbiết, trừ khi có sự đồng ý của người đó, hoặc có quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền Thêm vào đó, bí mật về nhân thân là những hiểu biết thông thường, không tạo ra lợi thế trước đối thủ cạnh tranh Do đó không cần các biện pháp bảo mật chúng Cụ thể trong trường hợp người đi xin việc ở các công ty, khi đó người xin việc phải cung cấp đầy

đủ các thông tin cá nhân của mình cho người tuyển dụng biết để họ có cơ sở quyết định

có nên tuyển dụng hay không Vậy thì những thông tin về nhân thân mà người xin việc tiết lộ không được xem là bí mật và dĩ nhiên chúng không được luật bảo hộ

Hai là, Bí mật về quản lý nhà nước và Bí mật về quốc phòng, an ninh với tính chất

quan trọng là bí mật nhà nước, mức độ nguy hại nếu bị tiết lộ nên theo pháp lệnh số 30/2000/PL-UBTVQH10 ngày 28/12/2000 về Bảo vệ bí mật Nhà Nước thì chúng được

xếp vào dạng “tuyệt mật và tối mật” và theo Luật an ninh quốc gia năm 2004, ngày

03/12/2004 Theo đó, bí mật Nhà Nước là những tin về vụ, việc, tài liệu, địa điểm, thời gian, lời nói, có nội dung quan trọng thuộc lĩnh vực chính trị, quốc phòng, an ninh, đối ngoại, kinh tế, khoa học, công nghệ, các tài liệu khác mà Nhà nước không công bố hoặc chưa công bố, và nếu bị tiết lộ thì gây nguy hại cho Nhà Nước Đối với các bí mật về quản lý nhà nước, bí mật về quốc phòng, không được pháp luật bảo hộ trên cơ sở là bí mật kinh doanh mà chúng được bảo mật trên phương diện là bí mật của quốc gia Vì là bí mật của một quốc gia nên chúng sẽ được bảo vệ một cách chặt chẽ, nghiêm ngặt đảm bảo cho chúng không bị tiết lộ Thêm vào đó, vì tính chất quan trọng của bí mật về quốc phòng, bí mật về quản lý nhà nước là ảnh hưởng đến tình hình kinh tế - xã hội và liên quan đến vận mệnh của đất nước do đó chúng không được đem vào để áp dụng vào việc sản xuất kinh doanh Vì vậy chúng không thể đáp ứng điều kiện là bí mật kinh doanh để được bảo hộ theo luật sở hữu trí tuệ hiện hành

Ba là, Thông tin bí mật khác không liên quan đến bí mật kinh doanh Các thông tin

bí mật khác như: hồ sơ của các nhân viên, công nhân làm việc tại công ty, hồ sơ bệnh án mặc dù chúng cũng là những thông tin có tính mật nhưng lại không được gọi là bí mât kinh doanh và không được bảo hộ do chúng không liên quan đến kinh doanh, người có được chúng không thể lấy chúng để áp dụng sản xuất trong kinh doanh

Trang 39

Các đối tượng trên không được xem là bí mật kinh doanh và được bảo hộ là do chúng không đáp ứng đủ điều kiện để được Luật sở hữu trí tuệ bảo hộ mà chúng được bảo

hộ bởi các ngành luật khác như đã nêu

2.4 Nội dung quyền sở hữu đối với bí mật kinh doanh

Theo quy định tại Điều 123 Luật sở hữu trí tuệ hiện hành thì nội dung quyền của chủ sở hữu đối với bí mật kinh doanh bao gồm: Quyền độc quyền sử dụng, quyền chuyển giao quyền sở hữu bí mật kinh doanh cho người khác, quyền yêu cầu cơ quan nhà nước

có thẩm quyền buột người có hành vi vi phạm quyền sở hữu của mình phải chấm dứt hành vi xâm phạm, quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại và để lại thừa kế Việc bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với bí mật kinh doanh nhằm đảm bảo cho chủ sở hữu có vị trí độc quyền sử dụng đối với bí mật kinh doanh, bồi hoàn công sức của chủ sở hữu và thu lợi nhuận Độc quyền sử dụng bí mật kinh doanh được hiểu là chỉ duy nhất chủ sở hữu bí mật kinh doanh được bảo hộ, do đó kéo theo nguyên tắc ngăn cấm người khác khai thác

bí mật kinh doanh, nếu chủ thể khác muốn khai thác bí mật kinh doanh thì phải được chủ

sở hữu bí mật kinh doanh đồng ý

2.4.1 Quyền sử dụng đối với bí mật kinh doanh

Quyền sử dụng đối với bí mật kinh doanh được thể hiện thông qua việc chủ sở hữu

áp dụng bí mật kinh doanh có được để sản xuất sản phẩm, cung ứng dịch vụ, thương mại hàng hoá và việc chủ sở hữu có quyền bán, quảng cáo để bán, tàng trữ để bán, nhập khẩu sản phẩm được sản xuất do việc áp dụng bí mật kinh doanh được quy định tại khoản 4 Điều 124 Luật sở hữu trí tuệ hiện hành

2.4.2 Quyền ngăn cấm người khác sử dụng bí mật kinh doanh

Trên nguyên tắc việc bộc lộ, sử dụng bí mật kinh doanh mà không được phép của chủ sở hữu thì bị coi là hành vi xâm phạm quyền sở hữu đối với bí mật kinh doanh và kéo theo đó chủ sở hữu có quyền ngăn cấm người khác sử dụng bí mật kinh doanh của mình Tuy nhiên Theo khoản 3 Điều 125 Luật sở hữu trí tuệ quy định chủ sở hữu đối với bí mật kinh doanh không có quyền ngăn cấm người khác thực hiện các hành vi sau:

Một là, Bộc lộ, sử dụng bí mật kinh doanh thu được khi không biết và không có

nghĩa vụ phải biết bí mật kinh doanh do người khác thu được một cách bất hợp pháp.

Việc một người nào đó có được bí mật kinh doanh một cách vô tình nhưng vẫn sử dụng, bộc lộ thông tin đó mặc dù họ đã biết được trước đó đã có người lấy nó một cách trái pháp luật Khi đó, hành vi này được xem là sử dụng trái phép bí mật kinh doanh Tuy

Trang 40

nhiên, việc lấy được bí mât kinh doanh mà họ không biết và không có nghĩa vụ phải biết

tức “ngay tình” về việc thông tin có được một cách trái pháp luật, hay có được bí mật kinh

doanh mà thật sự không biết việc có được thông tin đó là không công bằng, hay do vô ý nên không biết được thông tin đó một cách không lành mạnh trước đó thì không bị xem là

vi phạm và khi đó chủ sở hữu không có quyền ngăn cấm

Hai là, Bộc lộ dữ liệu bí mật nhằm bảo vệ công chúng trong trường hợp pháp luật có

quy định người nộp đơn xin cấp giấy phép kinh doanh, lưu hành dược phẩm, nông hoá phẩm phải cung cấp kết quả thử nghiệm hoặc bất kỳ dữ liệu nào khác là bí mật kinh doanh thu được do đầu tư công sức đáng kể và người nộp đơn có yêu cầu giữ bí mật các thông tin đó thì cơ quan có thẩm quyền cấp phép có nghĩa vụ thực hiện các biện pháp cần thiết để dữ liệu đó không bị sử dụng nhằm mục đích thương mại không lành mạnh và không bị bộc lộ trừ trường hợp việc bộc lộ là cần thiết nhằm bảo vệ công chúng Trong

trường hợp bộc lộ nhằm bảo vệ công chúng là nhằm đảm bảo lợi ích xã hội khi lưu hành dược phẩm, nông hoá phẩm chủ sở hữu có nghĩa vụ phải cung cấp kết quả thử nghiệmcho cơ quan có thẩm quyền Khi đó họ sẽ kiểm tra, xem xét mức độ hoạt chất, liều lượng

an toàn trong sản phẩm Việc bộc lộ này nhằm cụ thể hóa Điều 7 Luật sở hữu trí tuệ hiện hành, việc bộc lộ là cần thiết nhằm bảo đảm mục tiêu quốc phòng, an ninh, dân sinh và các lợi ích khác của Nhà nước và của xã hội

 Trường hợp bộc lộ dữ liệu bí mật khi đăng ký thuốc

Theo quy định tại khoản 4 Điều 3 Thông tư số 05/2010/TT-BYT ngày 01/03/2010

hướng dẫn bảo mật dữ liệu thử nghiệm trong đăng ký thuốc thì “Bảo mật dữ liệu, bảo mật

dữ liệu thử nghiệm được hiểu là việc bảo mật dược phẩm trong thủ tục đăng ký thuốc”

Theo đó, dữ liệu được bảo mật là dữ liệu thử nghiệm lâm sàng của thuốc có chứa các hoạt chất mới được cơ sở đăng ký thuốc cung cấp trong hồ sơ đăng ký thuốc (nhằm chứng minh tính an toàn và hiệu quả của thuốc) Tuy nhiên dữ liệu bảo mật phải cần đáp ứng các điều kiện sau:

- Là bí mật kinh doanh theo quy định tại khoản 23 Điều 4 và Điều 84 Luật sở hữu trí tuệ

- Là kết quả của việc đầu tư công sức đáng kể

- Có yêu cầu bảo mật khi đi đăng ký thuốc

Bộc lộ dữ liệu bí mật nhằm bảo vệ công chúng điều này chỉ áp dụng đối với dược phẩm và nông hoá phẩm, và được thực hiện bởi cơ quan chính phủ Tại Điều 12 Thông tư

Ngày đăng: 05/04/2018, 23:27

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
3. TS. Nguyễn Quế Anh, “Một số vấn đề về bảo hộ bí mật kinh doanh và hoàn thiện pháp luật về bảo hộ bí mật kinh doanh ở Việt Nam”, Tạp chí khoa học, Đại học quốc gia Hà Nội, 2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề về bảo hộ bí mật kinh doanh và hoàn thiện pháp luật về bảo hộ bí mật kinh doanh ở Việt Nam
4. Nguyễn Vân Anh, “Thương mại hóa kết quả nghiên cứu nhìn từ góc độ của chương trình R&D”, Tạp chí hoạt động khoa học, tháng 7/2011 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thương mại hóa kết quả nghiên cứu nhìn từ góc độ của chương trình R&D
5. Nguyễn Mạnh Bách, Tìm hiểu Luật dân sự về quyền sở hữu trí tuệ, NXB tổng hợp Đồng Nai, 2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm hiểu Luật dân sự về quyền sở hữu trí tuệ
Nhà XB: NXB tổng hợp Đồng Nai
6. TS. Dương Tuyết Miên, “Tội phạm kinh tế và đấu tranh phòng chống tội phạm này ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay”, Tạp chí luật học số 2/2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tội phạm kinh tế và đấu tranh phòng chống tội phạm này ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay
7. Nguyễn Thái Mai, “Khái niệm thông tin bí mật-đối tượng của quyền sở hữu trí tuệ trong pháp luật thương mại quốc tế”, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, 2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khái niệm thông tin bí mật-đối tượng của quyền sở hữu trí tuệ trong pháp luật thương mại quốc tế
9. Đinh Thị Mai Phương (chủ biên) _ Phan Thị Hải Anh _ Điêu Ngọc Tuấn, Cẩm nang pháp luật về sở hữu trí tuệ và chuyển giao công nghệ (dành cho doanh nghiệp, doanh nhân), NXB Chính trị quốc gia hà Nội, 2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cẩm nang pháp luật về sở hữu trí tuệ và chuyển giao công nghệ
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia hà Nội
10. ThS. Kiều Thị Thanh và ThS. Bùi thị Thu Hằng, “Quyền sở hữu công nghiệp đối với bí mật kinh doanh”, Tạp chí luật học, 2003. Trang thông tin điện tử Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyền sở hữu công nghiệp đối với bí mật kinh doanh
1. Bài 4, Bí mậtkinh doanh, www.noip.gov.vn/html.../pdf/ ip_ panorama_4 _ learning points.pdf, [truy cập ngày 11/10/2011] Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bí mậtkinh doanh
2. Theo Việt Báo, bí mật kinh doanh trong doanh nghiệp: bảo vệ bằng cách nào?, http://vietbao.vn/Kinh-te/Bi-mat-kinh-doanh-trong-DN-Bao-ve-bang-cach-nao/ Sách, tạp chí
Tiêu đề: bí mật kinh doanh trong doanh nghiệp: bảo vệ bằng cách nào
3. Theo tổ chức sở hữu trí tuệ thế giới (Wipo), The Unfair Competition Prevention Act 1993, http://www.wipo.int/wipolex/en/details.jsp?id=6996, [truy cập ngày 12/11/2011] Sách, tạp chí
Tiêu đề: The Unfair Competition Prevention Act 1993
4. Theo Tổ chức sở hữu trí tuệ thế giới (Wipo), Law against Unfair Competition Of the People , s Republic of China.1993, http://www. wipo.int/wipolex/en/details. jsp?id=849 , [truy cập ngày 4/12/2011] Sách, tạp chí
Tiêu đề: Law against Unfair Competition Of the People,s Republic of China
5. Theo Tuổi trẻ, Giữ gìn bí mật kinh doanh ở Việt Nam: Khó hay dễ?, http://tuoitre.vn/Kinh-te/150137/Giu-gin-bi-mat-kinh-doanh-o-VN-Kho%C2%A0hay-de.html, [truy cập ngày 6/12/2011.] Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giữ gìn bí mật kinh doanh ở Việt Nam: Khó hay dễ
6. Theo vnExpress, Hà My-Việt Phong, Giữ gìn bí mật kinh doanh, http:// vnexpress. net/gl/kinh-doanh/2006/07/3b9ebc6a/, [truy cập ngày 13/12/2011] Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giữ gìn bí mật kinh doanh
7. Theo Công ty Luật Hoàng Minh, Bảo vệ bí mật kinh doanh: Doanh nghiệp vẫn...đau đầu, http://www.luathoangminh.com/tin-tc-s-kin/635-bi-mat-kinh-doanh.html, [truy cập ngày 20/12/2011] Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bảo vệ bí mật kinh doanh: Doanh nghiệp vẫn...đau đầu
8. Theo Diễn đàn thương nhân Việt Nam, Bí mật nỏ thần, http://merchant. vn/news/2011/04/05/bi-m%E1%BA%ADt-%E1%BB%8F-th%E1%BA%A7n/,[truy cập ngày 28/12/2011] Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bí mật nỏ thần
9. Giáo sư Micheel Blakeney-viện nghiên cứu sở hữu trí tuệ Queen Mary Đại học London, Tài liệu giảng dạy về sở hữu trí tuệ (Curriculum on Intellectual Property) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu giảng dạy về sở hữu trí tuệ
10. Theo Plane.comt, Hệ thống phát hiện xâm phạm IDS, http://planet.com.vn/hotro/ kienthuc/hatangmang/firewall/IDS1/view, [Truy cập ngày 25/02/2012] Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hệ thống phát hiện xâm phạm IDS
11. Theo thế giới vi tính, Digital Rights Management (DRM)-quản lý bản quyền số, http://www.pcworld.com.vn/articles/cong-nghe/cong-nghe/2005/06/1185504/digital-rights-management-drm-quan-ly-ban-quyen-so/,[truy cập ngày 25/02/2012] Sách, tạp chí
Tiêu đề: Digital Rights Management (DRM)-quản lý bản quyền số
12. Theo Báo mới.com, Bài học từ vụ rò rỉ bí mật kinh doanh của Intel, http://www.baomoi.com/Bai-hoc-tu-vu-ro-ri-bi-mat-kinh-doanh-cua-Intel/136/ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bài học từ vụ rò rỉ bí mật kinh doanh của Intel
13. Theo An ninh thủ đô, Hạ Liên, Mỹ cáo buộc một công ty Trung Quốc đánh cắp bí mật công nghiệp, http://www.anninhthudo.vn/Su-kien/My-cao-buoc-mot-cong-ty-Trung-Quoc-lay-cap-bi-mat-cong-nghiep/435318.antd,[truy cập ngày 6/3/2012] Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mỹ cáo buộc một công ty Trung Quốc đánh cắp bí mật công nghiệp

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w