1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

LUẬN văn LUẬT THƯƠNG mại bảo đảm QUYỀN bảo vệ của ĐƯƠNG sự TRONG tố TỤNG dân sự

65 157 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 65
Dung lượng 584,38 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Quyền tự định đoạt của đương sự là tiền đề để các đương sự thực hiện các quyền khác được quy định trong Bộ luật tố tụng dân sự nhằm thực hiện quyền bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của m

Trang 1

Giảng viên hướng dẫn: Sinh viên thực hiện:

Trương Thanh Hùng Huỳnh Xuân Diễm

Bộ môn Luật Tư pháp MSSV: 5062385 Luật Thương mại 1-K32

Cần Thơ, tháng 5/2012

Trang 2

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

……….………

………

………

………

………

………

Trang 3

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

……….………

………

………

………

…………

Trang 4

Trang

LỜI NÓI ĐẦU……… 1

CHƯƠNG 1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ QUYỀN BẢO VỆ CỦA ĐƯƠNG SỰ TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ ……… 3

1.1 Khái quát về quyền bảo vệ của đương sự trong tố tụng dân sự ……… 3

1.1.1 Khái niệm quyền bảo vệ của đương sự ……….3

1.1.2 Khái niệm tố tụng dân sự ……… 4

1.1.3 Nội dung quyền bảo vệ của đương sự trong tố tụng dân sự……….6

1.2 Nguyên tắc bảo đảm quyền bảo vệ của đương sự trong tố tụng dân sự….7 1.2.1 Cơ sở pháp lý của nguyên tắc bảo đảm quyền bảo vệ của đương sự trong tố tụng dân sự ……… 7

1.2.2 Nội dung nguyên tắc bảo đảm quyền bảo vệ của đương sự trong tố tụng dân sự ……… 7

1.2.3 Vai trò và Chức năng của nguyên tắc bảo đảm quyền bảo vệ của đương sự trong tố tụng dân sự 10

1.2.4 Ý nghĩa của nguyên tắc bảo đảm quyền bảo vệ của đương sự trong tố tụng dân sự ……… 11

1.3 Lược sử về quyền bảo vệ của đương sự trong tố tụng dân sự 12

1.3.1 Giai đoạn từ năm 1945 đến 1959……… 12

1.3.2 Giai đoạn từ năm 1959 đến 1980……… 12

1.3.3 Giai đoạn từ năm 1980 đến 2004 15

1.3.4 Giai đoạn từ năm 2004 đến nay 16

1.4 Sự cần thiết khi nghiên cứu nguyên tắc bảo đảm quyền bảo vệ của đương sự trong tố tụng dân sự 17

CHƯƠNG 2 QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ BẢO ĐẢM QUYỀN BẢO VỆ CỦA ĐƯƠNG SỰ TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ……… 19

2.1.Thời điểm bảo đảm quyền bảo vệ của đương sự trong tố tụng dân sự 19

2.1.1 Thời điểm bắt đầu thực hiện quyền bảo vệ……… 19

2.1.2 Thời điểm chấm dứt quyền bảo vệ……… 20

2.2 Chủ thể thực hiện quyền bảo vệ trong tố tụng dân sự ……… 20

2.2.1 Chủ thể thực hiện quyền bảo vệ ……… 21

2.2.1.1 Đương sự ……… 21

2.2.1.2 Người đại diện của đương sự ……… 22

2.2.1.3 Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự 23

Trang 5

2.2.2.3 Xét xử phúc thẩm ……….31

2.3 Chủ thể đảm bảo việc thực hiện quyền bảo vệ của đương sự trong tố tụng dân sự ………32

2.3.1 Cơ quan tiến hành tố tụng ……… 32

2.3.1.1 Tòa án ……… 32

2.3.1.2 Viện kiểm sát ……… 33

2.3.2 Người tiến hành tố tụng ……… 36

CHƯƠNG 3 THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ QUYỀN BẢO VỆ CỦA ĐƯƠNG SỰ TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ ……… 40

3.1 Về mặt lý luận ……… 40

3.1.1 Quy định của pháp luật ……… 40

3.1.2 Hạn chế ……… 41

3.1.3 Giải pháp góp phần hoàn thiện pháp luật về quyền bảo vệ của đương sự trong tố tụng dân sự ……… 43

3.2 Về mặt thực tiễn ……… 47

3.2.1.Thực trạng về vấn đề thực hiện nguyên tắc bảo đảm quyền bảo vệ của đương sự trong tố tụng dân sự ……… 47

3.2.1.1 Thuận lợi ……… 47

3.2.1.2 Khó khăn vấp phải khi áp dụng nguyên tắc bảo đảm quyền bảo vệ của đương sự trong tố tụng dân sự ……… 48

3.2.1.3 Những hạn chế khi áp dụng nguyên tắc bảo đảm quyền bảo vệ của đương sự trong tố tụng dân sự ……… 49

3.2.1.4 Nguyên nhân dân đến hạn chế ……… 51

3.2.2 Một số giải pháp, kiến nghị góp phần nâng cao hiệu quả thực hiện nguyên tắc bảo đảm quyền bảo vệ của đương sự trong tố tụng dân sự……… 52

KẾT LUẬN 57 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 6

LỜI NÓI ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Hiện nay cùng với sự phát triển kinh tế xã hội, các mối quan hệ giao dịch dân

sự phát triển ngày càng đa dạng, phức tạp Cùng với đó việc phát sinh các tranh chấp dân sự và các đương sự có đơn yêu cầu Tòa án giải quyết với số lượng ngày càng nhiều Kế thừa tinh thần Nghị quyết 08/NQ-TW của Bộ Chính trị ra đời vào ngày 02/01/2002 được xem như sự mở đầu cho công cuộc cải cách tư pháp ở nước ta: “Việc phán quyết của Tòa án phải căn cứ chủ yếu vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên… nguyên đơn, bị đơn và những người có quyền, lợi ích hợp pháp để ra những bản án, quyết định đúng pháp luật, có sức thuyết phục và trong thời hạn pháp luật quy định” Để bảo đảm cho bản án, quyết định của Tòa án là chính xác, khách quan,

là hiện thân của công lý, công bằng xã hội thì Tòa án phải bảo đảm cho đương sự thực hiện được quyền bảo vệ của mình khi đứng trước Tòa án Như vậy, một vấn đề cấp bách được đặt ra đối với các cơ quan tư pháp là làm thế nào để đạt được yêu cầu đó? Trong nỗ lực chung, thì việc nghiên cứu làm rõ cơ sở lý luận, thực tiễn của hoạt động bảo vệ của đương sự tại phiên tòa là cần thiết

Trước yêu cầu thực tế đó và nhằm đảm bảo sự dân chủ, bình đẳng trong hoạt động tố tụng dân sự, tránh gây thiệt hại cho đương sự trong vụ án dân sự, đồng thời làm sáng tỏ về mặt lý luận nên người viết chọn đề tài: “Bảo đảm quyền bảo vệ của đương sự trong tố tụng dân sự” làm luận văn tốt nghiệp cử nhân của mình

2 Tình hình nghiên cứu

Dựa theo các kết quả nghiên cứu về phần chung của Bộ luật tố tụng dân sự

mà tác giả đã tìm hiểu, thì chỉ có những nghiên cứu về các nguyên tắc cơ bản trong việc xét xử của Tòa án như: Nguyên tắc Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật; Nguyên tắc cung cấp chứng cứ và chứng minh; Nguyên tắc tranh luận…Các công trình nghiên cứu này có phân tích những khía cạnh có liên quan đến quyền bảo vệ của đương sự nhưng chỉ là một số quyền cụ thể, chưa nghiên cứu toàn diện về hệ thống quyền bảo vệ của đương sự Chính vì tình hình nghiên cứu trên nên người viết đã chọn đề tài này làm cong trình nghiên cứu cho mình

3 Phạm vi nghiên cứu

Trong phạm vi nghiên cứu đề tài, người viết nêu một cách khái quát cơ sở lý luận về quyền bảo vệ của đương sự trong tố tụng dân sự, tập trung nghiên cứu quy

Trang 7

dân sự năm 2004 đến nay (bao gồm luật sửa đổi năm 2011) và việc áp dụng các quy định này vào trong thực tiễn Các quy định về vấn quyền bảo vệ của đương sự trước khi ban hành Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004 cũng như trình tự, nội dung quyền bảo vệ… không thuộc phạm vi nghiên cứu của đề tài

4 Mục tiêu nghiên cứu

Trên cơ sở kế thừa những kết quả nghiên cứu trước kết hợp với việc tìm hiểu quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về xét xử vụ án dân sự của Tòa án, người viết tập trung phân tích, làm rõ thêm cơ sở lý luận và thực tiễn, bản chất, nội dung của nguyên tắc đảm bảo quyền bảo vệ của đương sự trong tố tụng dân sự Dựa vào những quy định của pháp luật hiện hành kết hợp với những khó khăn vướng mắc trong thực tiễn áp dụng các quy định về quyền bảo vệ của đương sự trong quá trình tiến hành tố tụng, cũng như tìm ra nguyên nhân, hạn chế chưa phát huy được hiệu quả của việc áp dụng nguyên tắc đảm bảo quyền bảo vệ của đương sự trong tố tụng dân sự từ đó nêu lên một số đề xuất và giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng quyền bảo vệ trong quá trình tố tụng để phù hợp với quy định của pháp luật tố tụng dân sự hiện hành

5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

Trong quá trình nghiên cứu đề tài, người viết vận dụng phương pháp duy vật biện chứng Chủ nghĩa Mác- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng xây dựng cách thức tiếp cận nội dung của đề tài Và người viết vận dụng phương pháp nghiên cứu lý luận trên tài liệu sách vở, phương pháp so sánh, phân tích tổng hợp dựa trên

cơ sở những quy định của pháp luật hiện hành kết hợp với việc tìm hiểu nghiên cứu thực tiễn cùng với những khía cạnh pháp lý khác để làm rõ nội dung đề tài

Trang 8

đề trên cũng chính là vấn đề người viết muốn đề cập trong chương này

1.1 Khái quát về quyền bảo vệ của đương sự trong tố tụng dân sự

1.1.1 Khái niệm quyền bảo vệ của đương sự

Ở nước ta, các quyền cơ bản của công dân được quy định một cách đầy đủ và được bảo đảm thực hiện bằng nhiều biện pháp có hiệu quả Hiến pháp nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, trong chương “quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân” đã ghi nhận khá đầy đủ các quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân như: quyền chính trị, kinh tế, văn hóa và các quyền tự do cá nhân khác,…Với chủ trương luôn mở rộng quyền và lợi ích của công dân đồng thời cũng có những biện pháp nhằm bảo đảm cho các quyền và lợi ích đó được thực hiện Nhà nước đã ban hành hàng loạt các cơ chế thực hiện, trình tự bảo vệ khi quyền công dân bị xâm phạm Một trong những biện pháp bảo đảm hữu hiệu là trao cho đương sự quyền bảo vệ mình Quyền bảo vệ của đương sự được ghi nhận tại Điều 132 Hiến pháp 1992, Điều 9 Luật tổ chức Tòa án nhân dân 2002, Điều 9 Luật tố tụng dân sự 2004 Có thể nói quyền bảo vệ là quyền năng cơ bản của đương sự nằm trong hệ thống quyền con người

Quyền theo từ điển tiếng việt có nghĩa là điều mà pháp luật hoặc xã hội công nhận cho được hưởng, được làm, được đòi hòi

Bảo vệ theo từ điển tiếng việt có nghĩa là giữ gìn, là che chở

Quyền bảo vệ của đương sự theo quan điểm của tác giả là quyền mà cơ quan

có thẩm quyền trao cho đương sự để đương sự thực hiện các biện pháp nhằm bảo

Trang 9

1.1.2 Khái niệm tố tụng dân sự

Trình tự hoạt động do pháp luật quy định cho việc xem xét giải quyết vụ án

và thi hành án được giải thích là “tố tụng dân sự”1

Tuy nhiên, cần xem xét một cách chính xác hơn về cụm từ được sử dụng lâu đời và có nhiều tranh luận này mới

có thể đặt nền tảng nghiên cứu các vấn đề liên quan trong đó Được ghép từ danh từ

“tố tụng” là kiện thưa tại Tòa án nói chung có gốc từ tiếng La tinh procedere có

nghĩa là tiến bước, gợi nên một cách thức cần thiết phải thực hiện để đạt được mục

đích, “tố tụng” thường được sử dụng một cách lẫn lộn với danh từ “thủ tục” bởi

tính chất định trước buộc phải tuân theo trong một việc nhất định Mặc dù cũng

dùng để chỉ định một cách thức tiến hành bắt buộc nhưng danh từ “thủ tục” bao

hàm trong đó nghĩa rộng hơn trên nhiều mặt vượt ra ngoài nghĩa của trình tự giải quyết vụ việc tại Tòa án (như thủ tục nhập học, thủ tục đi xuất khẩu lao động,…)

Tố tụng khác biệt với thủ tục ở chỗ nó được dùng một cách triệt để và chỉ xuất hiện

ở trong các trình tự tại cơ quan tư pháp đồng thời gợi ra một cách nhìn nhận trong

đó có sự tranh tụng – mâu thẫn yêu cầu tài phán Trong một thời gian dài của quá trình phát triển, danh từ thủ tục đã được sử dụng thay cho danh từ tố tụng như: Thủ tục giải quyết vụ án dân sự, thủ tục giải quyết vụ án kinh tế hay thủ tục giải quyết các tranh chấp lao động,… đã không thể hiện rõ được bản chất của hoạt động tư pháp Bộ luật tố tụng dân sự 2004 đã sử dụng triệt để danh từ tố tụng và thống nhất các thủ tục giải quyết thành một trình tự tố tụng chung

Danh từ “dân sự” – civil đôi khi được dùng tương đồng với danh từ prive –

lĩnh vực luật tư, bởi bản chất thỏa thuận, bình đẳng của các bên trong việc xác lập, thay đổi và chấm dứt các quyền và nghĩa vụ Theo quy định của Bộ luật tố tụng dân

sự về phạm vi giải quyết các tranh chấp tại Điều 1 thì các ngành luật nội dung có tranh chấp được giải quyết theo trình tự này bao gồm Luật dân sự, Luật hôn nhân và

gia đình, Luật thương mại, Luật lao động thì danh từ “dân sự” trong “tố tụng dân

sự” đang được dùng như một bộ phận của lĩnh vực tư luật (bởi luật tư bao gồm

nhiều ngành luật khác như luật bảo hiểm xã hội,…)

Tuy nhiên, có thể thấy việc sử dụng cụm từ tố tụng dân sự là sát nghĩa và có tính chất triệt để hơn cả trong giai đoạn hiện nay Bởi 3 nguyên nhân:

Thứ nhất, hệ thống pháp luật Việt Nam không phân chia thành công pháp –

tư pháp như một số nước trên thế giới mà đây chỉ là vấn đề lý luận của những nhà nghiên cứu pháp luật Định nghĩa dựa trên sự thừa nhận không chính thức sẽ gây

1

Từ điển luật học – NXB Tư Pháp, tr 785

Trang 10

khó khăn cho việc tiếp cận một ngành luật thực định của đông đảo quần chúng Vì vậy, cần thiết phải định nghĩa rõ ràng dựa trên sự thừa nhận chính thức về vị trí và vai trò của ngành luật trong hệ thống pháp luật

Thứ hai, việc định nghĩa với cụm từ “tố tụng dân sự” một mặt phản ánh

được tính chất phụ thuộc yếu tố hình thức, thủ tục trong hoạt động giải quyết vụ việc dân sự bảo đảm hạn chế tính độc đoán của các thẩm phán cũng như giúp các chủ thể tham gia có thể bảo vệ được mình thông qua những quy định mang tính chất thủ tục Mặt khác phản ánh được đối tượng điều chỉnh về mặt nội dung của ngành luật hình thức tổng hợp này là các ngành luật mang yếu tố “riêng tư” giữa các bên không có sự tham gia của nhà nước ở một bên chủ thể tranh chấp và gợi được tính tranh tụng, đối lập một cách bình đẳng giữa các bên đương sự

Thứ ba, hiệu quả mang lại từ tố tụng không phải là ở việc tạo ra nhiều thủ tục

khác nhau mà nằm ở việc giải quyết nhanh chóng, chính xác, khách quan vụ việc, giảm thiểu được gánh nặng về cơ cấu, tổ chức cũng như trong cách thức áp dụng pháp luật Khi các đối tượng điều chỉnh là thống nhất về mặt bản chất thì có thể quy nạp chúng về một thủ tục chung để giải quyết không cần thiết phải có nhiều thủ tục khác nhau Hiệu quả của tố tụng dân sự trong những năm qua đã minh chứng cụ thể cho điều đó

Như vậy, tố tụng dân sự có thể được hiểu dưới góc độ pháp lý là một ngành luật tố tụng cụ thể còn dưới góc độ thực tiễn là những hình thức thực tiễn do các chủ thể tham gia vào quá trình tố tụng tiến hành

Dưới góc độ pháp lý:

Tố tụng dân sự là tổng hợp các quy phạm pháp luật do nhà nước ban hành điều chỉnh các mối quan hệ phát sinh trong quá trình giải quyết vụ việc về dân sự, hôn nhân gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động tại tòa án đảm bảo sự nhanh chóng, chính xác trong quá trình giải quyết và thi hành án, đặt ra các chế tài bảo vệ quyền lợi của nhà nước, của công dân

Trang 11

1.1.3 Nội dung quyền bảo vệ của đương sự trong tố tụng dân sự

Quyền bảo vệ của đương sự xuất phát từ quyền bình đẳng về địa vị pháp lý,

tự do về ý chí của các bên đối với các vấn đề liên quan đến quyền và lợi ích hợp pháp của mình trong quan hệ dân sự Trong tố tụng dân sự, quyền bảo vệ của đương

sự thể hiện ở khả năng những người tham gia tố tụng (nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan) tự do sử dụng các quyền và phương tiện tố tụng nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình trước các nguy cơ xâm hại Căn

cứ vào Điều 58 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án phải bảo đảm cho đương sự thực hiện các quyền như: Quyền cung cấp chứng cứ, chứng minh; Quyền yêu cầu cơ quan, tổ chức đang lưu giữ, quản lý chứng cứ cung cấp chứng cứ đó cho mình để giao nộp cho Tòa án; Quyền đề nghị Tòa án xác minh thu thập chứng cứ của vụ án mà tự mình không thể thực hiện được hoặc đề nghị Tòa án triệu tập người làm chứng, trưng cầu giám định, định giá; Quyền khiếu nại với Viện kiểm sát về những chứng

cứ mà Tòa án đã xác minh, thu thập do đương sự khác yêu cầu; Được biết và ghi chép, sao chụp tài liệu , chứng cứ do các đương sự khác xuất trình hoặc do Tòa án thu thập; Quyền đề nghị Tòa án áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời; Quyền tranh luận tại phiên tòa,… Đây cũng là quyền năng đặc thù của các đương sự được thừa nhận phổ biến trên thế giới Xuất phát từ bản chất của các quan hệ dân sự, ở nước ta, quyền bảo vệ của đương sự vừa là một nội dung, vừa là một nguyên tắc trong tố tụng dân sự Quyền bảo vệ của các bên trong quá trình giải quyết các tranh chấp phát sinh được pháp luật ghi nhận và đảm bảo thực hiện trên thực tế Trong đó, các quy phạm pháp luật thủ tục tố tụng được xây dựng phải phù hợp phản ánh đầy

đủ và toàn diện các quan hệ xã hội được ghi nhận trong pháp luật nội dung Hay nói cách khác, không có các quy phạm pháp luật nội dung thì không có pháp luật hình thức, các quyền dân sự là căn cứ làm phái sinh các quyền trong tố tụng dân sự

Như vậy, quyền bảo vệ của đương sự trong tố tụng dân sự theo quan điểm của tác giả là tổng thể các quyền của đương sự được quy phạm pháp luật tố tụng dân sự ghi nhận và bảo vệ trong việc lựa chọn và quyết định các hành vi tố tụng nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của bản thân mình trong quá trình giải quyết

vụ việc dân sự

Trang 12

1.2 Nguyên tắc bảo đảm quyền bảo vệ của đương sự trong tố tụng dân sự

1.2.1 Cơ sở pháp lý của nguyên tắc bảo đảm quyền bảo vệ của đương sự trong tố tụng dân sự

Trong tố tụng dân sự khi các bên tham gia vào các giai đoạn tố tụng thì các bên phải chứng minh được yêu cầu của mình là đúng Đồng thời, các bên luôn đưa

ra lý lẽ để biện minh cho yêu cầu của mình đặt ra là hợp pháp và có căn cứ Khi đó, đòi hỏi các bên phải sử dụng quyền được trao để tự bảo vệ quyền lợi cho mình hay

là cho người khác Việc bảo đảm cho các đương sự được thực hiện quyền bảo vệ của mình là điều hết sức cần thiết Điều 132 của Hiến Pháp 1992 có quy định:

“Quyền bào chữa của bị cáo được bảo đảm Bị cáo có thể tự bào chữa hoặc nhờ người khác bào chữa cho mình” Kế thừa quy đinh của Hiến pháp, Điều 9 Bộ luật tố

tụng dân sự quy định:“Đương sự có quyền tự bảo vệ hoặc nhờ luật sư hay người

khác có đủ điều kiện theo quy định của Bộ luật này bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình Tòa án có trách nhiệm bảo đảm cho đương sự thực hiện quyền bảo

vệ của họ”

Mục đích của tố tụng dân sự là bảo vệ các quyền, lợi ích của mọi chủ thể của quan hệ pháp luật dân sự Trong khoa học pháp lý, nguyên tắc của tố tụng dân sự được xác định là những tư tưởng chỉ đạo, biểu thị những đặc trưng của tố tụng dân

sự, được quy định trong pháp luật làm nền tảng cho các hoạt động tố tụng dân sự Nguyên tắc bảo đảm quyền bảo vệ của đương sự là một trong những nguyên tắc cấu thành hệ thống nguyên tắc của pháp luật tố tụng dân sự Bảo đảm quyền bảo vệ của đương sự trong tố tụng dân sự là làm cho đương sự có đủ những điều kiện cần thiết

để chắc chắn thực hiện được các quyền tố tụng dân sự bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của họ trước Tòa án

1.2.2 Nội dung nguyên tắc bảo đảm quyền bảo vệ của đương sự trong tố tụng dân sự

Vấn đề bảo đảm quyền bảo vệ của đương sự trong tố tụng dân sự được pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam quy định gồm 3 nội dung cơ bản là bảo đảm quyền tự bảo vệ của đương sự, bảo đảm quyền của đương sự được người khác đại diện, nhờ người khác bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp và trách nhiệm của Tòa án đối với việc đảm bảo quyền bảo vệ của đương sự trong tố tụng dân sự

Thứ nhất là bảo đảm quyền bảo vệ của đương sự trong tố tụng dân sự

Trang 13

tố tụng dân sự là làm cho đương sự chắc chắn thực hiện được quyền bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của họ trước Tòa án

Điều 5 Bộ luật tố tụng dân sự quy định:

“1 Đương sự có quyền quyết định khởi kiện, yêu cầu Tòa án có thẩm quyền giải quyết vụ việc dân sự Tòa án chỉ thụ lý giải quyết vụ việc dân sự khi có đơn khởi kiện, đơn yêu cầu của đương sự và chỉ giải quyết trong phạm vi đơn khởi kiện, đơn yêu cầu đó

2 Trong quá trình giải quyết vụ việc dân sự, các đương sự có quyền chấm dứt, thay đổi các yêu cầu của mình hoặc thỏa thuận với nhau một cách tự nguyện, không trái pháp luật và đạo đức xã hội”

Trong tố tụng dân sự, quyền tự định đoạt biểu hiện ở khả năng khi tham gia

tố tụng, các đương sự tự do định đoạt các quyền, phương tiện tố tụng nhằm bảo vệ quyền lợi hợp pháp của mình trước các xâm hại Đó cũng là quan niệm chung nhất được pháp luật tố tụng dân sự của nhiều quốc gia trên thế giới thừa nhận, áp dụng

và trở thành một nguyên tắc tố tụng cơ bản Có thể nói khi bắt đầu tham gia vào các giai đoạn của quá trình tố tụng các đương sự luôn có quyền tự mình quyết định các vấn đề về khởi kiện, thay đổi, chấm dứt các yêu cầu hoặc thỏa thuận giải quyết với nhau một cách tự nguyện, không trái với quy định của pháp luật và đạo đức xã hội Quyền tự định đoạt của đương sự là tiền đề để các đương sự thực hiện các quyền khác được quy định trong Bộ luật tố tụng dân sự nhằm thực hiện quyền bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình

Việc bảo đảm cho các đương sự thực hiện được các quyền và nghĩa vụ tố tụng là vấn đề rất quan trọng Vì chính thông qua việc thực hiện được các quyền và nghĩa vụ tố tụng các đương sự mới đưa ra yêu cầu, chứng cứ lý lẽ để bảo vệ quyền, lợi ích của mình trước Tòa án một cách tốt nhất Căn cứ vào quy định của Bộ luật tố

tụng dân sự tại Điều 6 của Bộ luật tố tụng dân sự thì: “Các đương sự có quyền và

nghĩa vụ cung cấp chứng cứ cho Tòa án và chứng minh cho yêu cầu của mình là có căn cứ và hợp pháp” Theo đó, các đương sự có quyền và nghĩa vụ cung cấp chứng

cứ và chứng minh để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình, có quyền được biết và ghi chép, sao chụp các chứng cứ do các đương sự khác xuất trình hoặc do Tòa án thu thập Các đương sự có quyền tham gia vào quá trình bảo vệ ở bất kỳ giai đoạn nào của quá trình tố tụng để giải quyết vụ án Từ việc thu thập chứng cứ cùng với việc đưa ra các ý kiến về việc khởi kiện của nguyên đơn, bị đơn có quyền đưa ra

Trang 14

yêu cầu phản tố lại, người có quyền và nghĩa vụ liên quan trong vụ án có quyền đưa

ra yêu cầu độc lập, để tranh luận lại các yêu cầu mà nguyên đơn đã khởi kiện

Đương sự chính là người có nghĩa vụ chứng minh và tham gia vào tranh luận khi cho rằng quyền lợi của mình bị xâm phạm Trong đổi mới hoạt động tư pháp, trong đó có việc mở rộng tranh tụng, tăng cường khả năng tranh luận dân chủ giữa các đương sự, hoặc người đại diện hợp pháp của đương sự, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự thì Tòa án bảo đảm cho đương sự thực hiện quyền bảo vệ của mình trong suốt quá trình giải quyết vụ án nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự

Thứ hai là bảo đảm quyền của đương sự được luật sư hoặc người khác có đủ

điều kiện theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình

Khi tham gia tố tụng, các đương sự được thực hiện các quyền, nghĩa vụ tố tụng để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình nhưng việc thực hiện có hiệu quả hay không còn phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố như khả năng nhận thức, học vấn, sự hiểu biết pháp luật, kinh nghiệm tham gia tố tụng, tâm lý của đương sự,… Do đó, việc bảo đảm quyền của đương sự được luật sư hoặc người khác có đủ điều kiện theo quy định của pháp luật để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự là vấn đề được đặt lên hàng đầu

Những người khác tham gia tố tụng để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự bao gồm người đại diện, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự Bảo đảm quyền của đương sự được người khác bảo vệ trong tố tụng dân

sự bao gồm bảo đảm đương sự được ủy quyền cho người khác đại diện, trong trường hợp không có năng lực hành vi tố tụng dân sự và bảo đảm quyền nhờ người khác bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự

Thứ ba là trách nhiệm của Tòa án đối với việc bảo đảm quyền bảo vệ của đương sự trong tố tụng dân sự Việt Nam

Việc bảo đảm quyền bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự trong quá trình tố tụng luôn gắn liền với trách nhiệm của Tòa án Trong mỗi vụ án cụ thể, Tòa

án phải xác định được đầy đủ những ai là đương sự để triệu tập họ đến tham gia tố tụng Nếu Tòa án xác định thiếu hoặc bỏ sót bất cứ đương sự nào và không triệu tập

họ đến tham gia tố tụng thì đều có thể dẫn đến việc giải quyết vụ án không đúng Các đương sự phần lớn lần đầu tiên tham gia tố tụng nên chưa có kinh nghiệm,

Trang 15

cần giải thích, giúp đỡ các đương sự biết và thực hiện các quyền, nghĩa vụ tố tụng của họ cho có hiệu quả Tòa án không được hạn chế đương sự thực hiện các quyền, nghĩa vụ tố tụng của họ đã được pháp luật thừa nhận Ngoài ra, nếu đương sự là người không có năng lực hành vi tố tụng, vắng mặt không có tin tức mà không có ai đại diện thì Tòa án phải cử người đại diện cho họ

1.2.3 Vai trò và chức năng của nguyên tắc bảo đảm quyền bảo vệ của đương

sự trong tố tụng dân sự

Việc xét xử vụ việc dân sự trong tố tụng dân sự thực chất là giải quyết xung đột những tranh chấp có liên quan đến quyền và lợi ích của các đương sự Đương

sự, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự thực hiện chức năng quan trọng là bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho mình hoặc cho người khác, họ có quyền sử dụng mọi biện pháp do pháp luật quy định để làm sáng tỏ các tình tiết vụ việc, dựa vào đó Tòa án xác định sự thật khách quan trong khi giải quyết vụ án Bảo

vệ quyền, lợi ích hợp pháp thông qua việc khởi kiện, cung cấp chứng cứ, tranh luận tại phiên tòa,… là hoạt động trọng tâm có tính chất quyết định để Hội đồng xét xử

ra phán quyết công minh, đúng pháp luật và có tính thuyết phục để bản án được thi hành một cách nhanh chóng, hạn chế trường hợp kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm, tái thẩm hoặc giám đốc thẩm Vì vậy, quyền bảo vệ của đương sự trong tố tụng dân

sự có các vai trò quan trọng sau đây góp phần vào quá trình Tòa án thụ lý giải quyết

vụ án

Đối với đương sự thì thực hiện việc quyền bảo vệ trong suốt quá trình tố tụng giúp đương sự chủ động thực hiện các quyền và nghĩa vụ tố tụng Ở giai đoạn thụ lý giải quyết vụ án, hòa giải và chuẩn bị xét xử các đương sự thực hiện quyền bảo vệ thông qua việc trình bày ý kiến, đưa ra yêu cầu phản tố, yêu cầu độc lập cũng như việc đưa ra các chứng cứ chứng minh cho yêu cầu của mình Đến giai đoạn xét xử

sơ thẩm thì quyền bảo vệ của đương sự được thể hiện bằng quyền yêu cầu thay đổi người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng, quyền tranh luận tại phiên tòa, ở giai đoạn này người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng và cả những người tham dự phiên toà được tham dự một cách toàn diện, tập trung ý kiến của các bên đương sự về đánh giá chứng cứ, mâu thuẫn, thể hiện quan điểm của họ về việc giải quyết mâu thuẫn trong vụ việc dân sự

Đối với Hội đồng xét xử, thông qua việc thực hiện quyền bảo vệ của các đương sự, người đại diện hợp pháp, người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự thì Hội đồng xét xử sẽ có điều kiện kiểm tra, đánh giá, xác minh lại các chứng cứ đã thu thập ở các giai đoạn trước, xem xét lại các tình tiết của vụ án Đồng

Trang 16

thời, nhận thức được một cách toàn diện các vấn đề của vụ án từ các yêu cầu của đương sự, quan hệ pháp luật dân sự giữa các đương sự cần giải quyết, chứng cứ, tài liệu được sử dụng để giải quyết vụ án Để Hội đồng xét xử kịp thời đưa ra pháp luật cần thiết áp dụng để giải quyết vụ án, nhằm bảo vệ quyền và nghĩa vụ của mỗi bên đương sự trong vụ án theo quy định của pháp luật

1.2.4 Ý nghĩa của nguyên tắc bảo đảm quyền bảo vệ của đương sự trong tố tụng dân sự

Thứ nhất là bảo vệ chính đương sự, thực hiện dân chủ trong các lĩnh vực đời

sống xã hội là vấn đề luôn được Đảng và Nhà nước ta quan tâm, bảo đảm quyền bảo

vệ của đương sự trong tố tụng dân sự thực chất là thực hiện các biện pháp cần thiết theo quy định của pháp luật để tạo điều kiện cho tất cả các đương sự thực hiện được các quyền tố tụng dân sự, thông qua nguyên tắc này, các đương sự sẽ có nhận thức sâu sắc về các quy định của pháp luật, tạo được sự tôn trọng cần thiết đối với việc thực hiện các quyền tố tụng dân sự của đương sự

Thứ hai là hướng đến xét xử đúng sự thật khách quan, tạo điều kiện cho Tòa

án nhận biết sự thật của vụ việc dân sự mà giải quyết vụ việc dân sự công minh và

có căn cứ Như vậy, việc giải quyết các vụ việc dân sự được nhanh chóng, đúng đắn, bảo vệ cả người tiến hành tố tụng

Thứ ba là bảo vệ trật tự xã hội, hướng đến xây dựng nhà nước pháp quyền xã

hội chủ nghĩa

Một trong những mục tiêu của xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa là xây dựng Nhà nước của dân, do dân và vì dân Bảo đảm quyền bảo vệ của đương sự trong tố tụng dân sự cũng góp phần thực hiện mục tiêu trên

Để đảm bảo quyền bảo vệ của đương sự trong tố tụng dân sự yêu cầu Tòa án phải phổ biến, giải thích cho các đương sự các quy định pháp luật Thế nên có ý nghĩa giáo dục pháp luật, nâng cao ý thức pháp luật cho nhân dân

Bảo đảm quyền bảo vệ của đương sự trong tố tụng dân sự có ý nghĩa bảo đảm cho pháp luật được tôn trọng và thi hành nghiêm chỉnh

Trang 17

1.3 Lược sử về quyền bảo vệ của đương sự trong tố tụng dân sự

1.3.1 Giai đoạn từ năm 1945 đến 1959

Năm 1945, nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa – Nhà nước dân chủ đầu tiên

ở khu vực Đông Nam Á được thành lập Đánh dấu sự thay đổi toàn diện về mọi mặt trong đời sống xã hội, trong lĩnh vực tư pháp, tố tụng

Ngày 10/10/1945 nhà nước ta đã ban hành sắc lệnh số 47/SL cho tạm thời giữ các luật lệ hiện hành của chế độ cũ mà không trái với bản chất của Nhà nước cách mạng Tuy nhiên, sắc lệnh trên chỉ đề cập đến việc cho áp dụng các quy phạm pháp luật nội dung của chế độ cũ mà không không đề cập đến việc có cho tiếp tục

áp dụng các quy định về hoạt động tố tụng hay không Tiếp theo đó, Nhà nước ban hành nhiều quy định khác nhau liên quan đến hoạt động tố tụng dân sự ở nhiều văn bản pháp luật khác nhau như Sắc Lệnh số 13/SL ngày 24/1/1946 về tổ chức các Tòa

án và các ngạch Thẩm phán, Sắc Lệnh 15/SL ngày 17/4/1946 quy định về thẩm quyền của Tòa án các cấp, Sắc Lệnh 112/SL ngày 28/6/1946 bổ sung sắc lệnh số 15,…Các quy định về quyền bảo vệ của đương sự được quy định trong sắc lệnh số 69/SL ngày 18/6/1949, sắc lệnh 144/SL ngày 22/12/1949 thể hiện sự quan tâm của Nhà nước và vai trò của nhân dân ngày càng được chú trọng Nhìn chung trong các quy định của tố tụng giai đoạn này quyền bảo vệ của đương sự đã được đề cập

nhưng chỉ mang tính đại cương, tạm thời và chưa đầy đủ, chưa cụ thể, thực tế cũng chỉ nằm rải rác trong các Sắc lệnh, Thông tư đơn hành

1.3.2 Giai đoạn từ năm 1959 đến 1980

Tháng 7/1954, cuộc kháng chiến chống Pháp của nhân dân Việt Nam thắng lợi, buộc thực dân Pháp phải ký vào Hiệp định Giơnevơ và cùng các nước tham dự Hội nghị ký tuyên bố cuối cùng Đại diện Chính phủ Mỹ không ký Tuyên bố cuối cùng của Hội nghị Giơnevơ Đế quốc Mỹ dựa vào đó xúc tiến kế hoạch xâm chiếm Miền Nam để thay thế thực dân Pháp Miền Bắc được hoàn toàn giải phóng và tiến lên xây dựng chủ nghĩa xã hội nhưng đất nước vẫn chưa hoàn toàn thống nhất, Miền Nam vẫn chịu sự thống trị của Chính quyền ngụy Sài Gòn và Đế quốc Mỹ, vì vậy, hai Miền Bắc, Nam có hai hệ thống pháp luật Tố tụng dân sự khác nhau

Ở Miền Nam, trong thời gian dài Chính quyền bù nhìn Sài Gòn vẫn áp dụng những văn bản pháp luật cũ thời Pháp thuộc Kể từ ngày 16/9/1954 ký kết hiệp định thâu hồi hoàn toàn chủ quyền tư pháp, Việt Nam chỉ còn duy trì Nghị định 16/3/1910 như luật tố tụng duy nhất áp dụng cho tất cả tụng nhân có việc kiện thưa trước toà án của ta, bất kể quốc tịch nào Tuy nhiên, Nghị Định 1910 được biên tập

Trang 18

cho Toà án Pháp sử dụng để xét xử người bổn quốc nên để giải thích các điều khoản

trong Nghị định 1910 chính quyền Sài Gòn phải tham chiếu các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 1806 của Pháp Ngoài ra, án lệ cũng là một trong các nguồn để các Toà án giải thích pháp luật Theo quy định của các văn bản pháp luật nói trên, phiên toà xét xử các vụ việc dân sự phải mở công khai, những người tham

dự phiên toà phải tuân thủ nội quy phiên toà, trình tự phiên toà được tiến hành theo các bước: Kiểm tra căn cước, thẩm vấn, tranh luận, nghị án, tuyên án Trong một vụ kiện hộ, hạn hữu mới thấy các luật sư tham gia Sau khi hai bên đương sự đã tranh luận, Biện lý bày tỏ ý kiến về vụ kiện Việc nghị án có khi mất nhiều ngày, giờ nên luật cho phép đến cuối phiên toà hoặc phiên xử khác để tuyên án nhưng phải báo trước ngày đọc án Ngoài ra, các văn bản pháp luật thời kỳ này còn quy định về thủ tục xét xử khuyết tịch (vắng mặt các đương sự hoặc một trong các đương sự)

Ngày 5/6/1970 Chính quyền ngụy Sài Gòn ban hành Sắc lệnh số 72/SL/CCĐ/PTNNN quy định về thủ tục tố tụng của những vụ kiện điền địa, ngày 20/12/1972 ban hành Bộ luật dân sự và thương sự tố tụng Bộ luật đã có nhiều quy định về phiên toà: Phiên toà công khai (Điều 201), việc thay đổi Thẩm phán (Điều

137 đến 152), thủ tục xét xử vắng mặt đương sự…Tại phiên toà đương sự có thể trình bày yêu cầu, lý lẽ của mình bằng miệng hoặc bằng văn bản (Điều 202) Tuy nhiên, các quy định về trình tự, thủ tục tiến hành phiên toà được quy định rất phức tạp, không rõ ràng

Ở Miền Bắc, sau khi hoàn toàn giải phóng, quân và dân Miền Bắc ra sức thi đua sản xuất, hoàn thành cải tạo xã hội chủ nghĩa đưa miền Bắc vào thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, chi viện Miền Nam kháng chiến chống Mỹ Cho nên, trong giai đoạn từ 1955 đến 1959, các văn bản mà nhà nước ta ban hành chủ yếu là các sắc lệnh về hành chính, hình sự và một vài Sắc lệnh về chính sách quản lý ruộng đất, các Sắc lệnh về Tố tụng dân sự không được đề cập đến Ngày 1/1/1960, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký sắc lệnh số 01/LCT công bố Hiến pháp mới của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà Trên cơ sở Hiến pháp 1959, Quốc hội nước Việt Nam Dân Chủ Cộng hoà đã thông qua Luật Tổ chức Tòa án nhân dân ngày 14/7/1960 và Uỷ ban thường vụ Quốc hội đã thông qua Pháp lệnh quy định cụ thể về tổ chức Tòa án nhân dân tối cao và tổ chức của các Tòa án nhân dân địa phương ngày 23/3/1961.Các văn bản pháp luật này đã đánh dấu một bước ngoặt lớn của ngành tư pháp nói chung và pháp luật Tố tụng dân sự nói riêng Theo qui định tại các văn bản pháp luật quan trọng này, hệ thống Tòa án nhân dân có một số thay đổi, Viện công

Trang 19

tố được tách khỏi hệ thống Toà án và hệ thống Toà án bao gồm: Tòa án nhân dân tối cao, các Tòa án nhân dân địa phương, các Toà án quân sự

Với Hiến pháp năm 1959 và Luật tổ chức Tòa án nhân dân năm 1960, những quy định về nguyên tắc tiến hành phiên toà, thủ tục phiên toà được bổ sung, hoàn thiện thêm một bước và được ghi nhận trong những văn bản pháp luật có hiệu lực pháp lý cao nhất Điều 100 Hiến pháp 1959 và Điều 6 Luật tổ chức Tòa án nhân dân năm 1960 quy định: “Khi xét xử, Toà án nhân dân có quyền độc lập và chỉ tuân theo pháp luật” Những vấn đề trên cũng được các văn bản của cơ quan nhà nước có thẩm quyền đề cập đến nhiều hơn như: Thông tư 06 ngày 23/7/1960 quy định về thành phần Hội đồng xét xử, vấn đề thay đổi những người tiến hành tố tụng

Sau năm 1960, Tòa án nhân dân tối cao đã có rất nhiều văn bản hướng dẫn

về phiên toà sơ thẩm dân sự như: Thông tư 03/NCLP ngày 30/01/1962 của hướng dẫn trình tự giải quyết các vụ án ly hôn: Quy định về tổ chức phiên toà (lưu động ngoài trụ sở hay tại trụ sở Toà án), về thành phần Hội đồng xét xử, Công văn 614 ngày 20/4/1963 quy định các trường hợp hoãn phiên toà: “Nếu nguyên đơn vắng mặt thì Toà án không xử”

Trên cơ sở áp dụng các quy định của pháp luật về phiên toà sơ thẩm và tổng kết công tác xét xử hàng năm, ngày 8/2/1977 Tòa án nhân dân tối cao đã ban hành

“Bản hướng dẫn về trình tự xét xử sơ thẩm về dân sự kèm theo Thông tư số 96-

NCPL” Lần đầu tiên, nguyên tắc xét xử phải trực tiếp, bằng miệng và liên tục được

đề cập “Nguyên tắc xét xử trực tiếp, bằng miệng là một bảo đảm để qua phiên toà Tòa án nhân dân thẩm tra lại tất cả các tình tiết của vụ kiện và nghe lời yêu cầu của các đương sự… Căn cứ vào nguyên tắc xét xử trực tiếp, bằng miệng thì Tòa án nhân dân không thể chỉ dựa vào hồ sơ, mà trong phiên toà phải tiến hành việc xét hỏi một cách đầy đủ và khách quan…

Sau ngày 30/4/1975, Miền Nam được hoàn toàn giải phóng, non sông Việt Nam đã liền một dãy Cho đến ngày 18/12/1980, Quốc hội đã thông qua bản Hiến pháp đầu tiên của Nhà nước CHXHCN Việt Nam Trên cơ sở Hiến pháp 1980, Luật

tổ chức Tòa án nhân dân 1981, Luật sửa đổi bổ sung luật tổ chức Tòa án nhân dân

1988 được ban hành Các văn bản pháp luật trên tiếp tục có những quy định về

thành phần Hội đồng xét xử, về các nguyên tắc của tố tụng dân sự như: “Khi xét xử,

Hội thẩm nhân dân ngang quyền với Thẩm phán” (Điều 4), “Việc xét xử độc lập, quyết định theo đa số ”(Điều 5),…Như vậy, trong giai đoạn này do đặc thù của

chiến tranh, đất nước bị chia cắt nên từ năm 1954 đến 1975 ở hai Miền Bắc Nam có hai hệ thống pháp luật khác nhau, vì vậy thủ tục tiến hành phiên toà sơ thẩm cũng

Trang 20

khác nhau Chỉ đến khi nước nhà thống nhất, Quốc hội của Nhà nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam được bầu ra, các quy định về thủ tục tiến hành phiên toà mới được áp dụng cho tất cả các Toà án trên toàn quốc Mặc dù chưa có văn bản pháp luật tố tụng có hiệu lực pháp lý cao điều chỉnh việc tiến hành phiên toà sơ thẩm nhưng những nguyên tắc cơ bản của việc tiến hành phiên toà, trình tự tiến hành phiên toà đã được quy định Tuy nhiên, các quy định này còn rất tản mạn, chủ yếu do Tòa án nhân dân tối cao ban hành, nhiều thủ tục quy định chưa được chi tiết,

cụ thể và khoa học nhưng đây vẫn là những cơ pháp lý quan trọng để các Toà án tiến hành phiên toà sơ thẩm dân sự

1.3.3 Giai đoạn từ năm 1980 đến 2004

Khi nước ta bước vào thời kỳ đổi mới với sự phát triển kinh tế hàng hoá nhiều thành phần có sự quản lý của Nhà nước, các quan hệ xã hội ngày càng đa dạng và phức tạp hơn trước, nhu cầu giải quyết nhanh chóng, kịp thời và đúng pháp luật các tranh chấp dân sự là cần thiết Việc giải quyết các tranh chấp, yêu cầu dân

sự cần thiết phải được điều chỉnh bằng một văn bản thống nhất và có hiệu lực pháp

lý cao Trước yêu cầu đó, Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án dân sự đã được Hội đồng Nhà nước thông qua ngày 29/11/1989 và có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/1990 Đây là văn bản pháp luật tố tụng dân sự có hiệu lực pháp lý cao nhất từ trước tới nay, tạo ra một hành lang những chuẩn mực nhất định điều chỉnh các quan

hệ trong tố tụng dân sự, đánh dấu bước tiến mới trong quá trình phát triển của Pháp lệnh tố tụng dân sự Pháp lệnh có 15 Chương, 88 Điều, trong đó trình tự phiên toà

sơ thẩm dân sự được quy định tại chương X, bao gồm 10 Điều, từ Điều 48 đến Điều

57, quy định về các vấn đề như những người tham gia phiên toà, thủ tục tiến hành phiên toà: Bắt đầu phiên toà, xét hỏi, tranh luận, nghị án, tuyên án và những thủ tục tiến hành sau phiên toà Nhưng các quy định này vẫn còn sơ sài, nhiều vấn đề chưa được đề cập đến và còn có những điểm bất cập, chưa chặt chẽ, đặc biệt là các quy định về việc chuẩn bị cho việc mở phiên toà sơ thẩm, thủ tục triệu tập những người tham gia tố tụng đến phiên toà sơ thẩm, trình tự xét xử sơ thẩm còn nặng về xét hỏi như phiên toà hình sự v.v Đó chính là một trong những nguyên nhân dẫn đến tình trạng việc giải quyết các vụ án bị kéo dài, phiên toà sơ thẩm bị hoãn nhiều lần, số

vụ án có kháng cáo, kháng nghị gia tăng, tỷ lệ cải sửa, huỷ án sơ thẩm khi xét xử phúc thẩm còn cao… Dẫn đến quyền, lợi ích hợp pháp của các đương sự không được bảo đảm thực hiện đầy đủ

Trang 21

1.3.4 Giai đoạn từ năm 2004 đến nay

Thực hiện mục tiêu của Đảng về cải cách tổ chức, hoạt động của các cơ quan

tư pháp, ngày 02/01/2002 Bộ chính trị đã ra Nghị quyết 08-NQ/TW về một số nhiệm vụ trọng tâm của công tác tư pháp trong thời gian tới, trong đó đã nhấn mạnh định hướng đổi mới trong hoạt động của các cơ quan tư pháp nói chung và Toà án

nói riêng Đó là: “… Khi xét xử, các Toà án phải bảo đảm cho mọi công dân đều

bình đẳng trước pháp luật, thực sự dân chủ khách quan, Thẩm phán, HTND độc lập

và chỉ tuân theo pháp luật; việc phán quyết của Toà án phải căn cứ chủ yếu vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, trên cơ sở xem xét toàn diện các chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, của người bào chữa, bị cáo, nhân chứng, nguyên đơn, bị đơn và những người có quyền, lợi ích hợp pháp để ra những bản án, quyết định đúng pháp luật có sức thuyết phục và trong thời hạn pháp luật qui định”2 Khi nói đến vấn đề nâng cao chất lượng hoạt động, cải cách tổ chức của Toà án trong lĩnh vực tố tụng dân sự trước hết phải nói đến vấn đề đổi mới hoạt động xét xử của Toà án tại phiên toà sơ thẩm Trên cơ sở đường lối đổi mới của Đảng, thực trạng Pháp lệnh thủ tục dân sự và thực tiễn xét xử các vụ việc dân sự, ngày 27/5/2004 Quốc hội Nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã thông qua Bộ luật tố tụng dân sự, có hiệu lực kể

từ ngày 1/1/2005 Cùng với việc ban hành Bộ luật tố tụng dân sự, Nhà nước ta cũng

đã ban hành nhiều văn bản hướng dẫn thi hành Bộ luật này như Nghị quyết số 01/2005/NQ-HĐTP ngày 31/3/2005 hướng dẫn thi hành một số quy định trong phần thứ nhất “Những quy định chung” của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004, Nghị quyết

số 02/2005/NQ-HĐTP ngày 27/4/2005 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn thi hành một số quy định tại Chương VIII “ Các biện pháp khẩn cấp tạm thời” của Bộ luật tố tụng dân sự, Nghị quyết số 04/2005/NQ-HĐTP ngày 17/9/2005 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn thi hành một

số quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về “Chứng cứ và chứng minh, Nghị quyết số 02/2006/NQ-HĐTP ngày 12/5/2006 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn thi hành các quy định trong phần thứ hai “ Thủ tục giải quyết vụ án tại Toà án cấp sơ thẩm của Bộ luật tố tụng dân sự”,… Với 45 Điều từ Điều 196 đến Điều 241 của Bộ luật tố tụng dân sự và các hướng dẫn trong các Nghị quyết của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao các vấn đề về phiên toà sơ thẩm dân sự đã được quy định tương đối đầy đủ, chặt chẽ, khắc phục được tình trạng tản mạn, mâu thuẫn, khiếm khuyết trong các văn bản tố tụng trước đây Đặc biệt, các quy định về phiên toà sơ thẩm có nhiều điểm mới, bảo đảm hơn sự tham gia tố tụng của các

2

Nghị quyết 08 NQ/TW ngày 02/01/2002

Trang 22

đương sự, người bảo vệ quyền lợi của đương sự theo hướng mở rộng tranh tụng v.v

1.4 Sự cần thiết khi nghiên cứu nguyên tắc bảo đảm quyền bảo vệ của đương

sự trong tố tụng dân sự

Lịch sử phát triển của Tòa án của các nước đã chỉ ra rằng luôn tồn tại song song hai loại hình tố tụng, tố tụng tranh tụng và tố tụng xét hỏi (tố tụng thẩm vấn) Tuy nhiên, tùy vào điều kiện kinh tế – xã hội, hệ thống pháp luật mà pháp luật tố tụng dân sự mỗi nước khác nhau, quy định các vấn đề ở các mức độ khác nhau Trong đó, các nước theo hệ thống dân luật (civi law) thì có xu hướng đề cao việc xét hỏi hơn tranh luận và ngược lại ở những nước theo hệ thống thông luật (common law) thì lại đề cao việc tranh luận hơn Theo loại hình tố tụng xét hỏi thì không đảm bảo một cách đầy đủ cho việc thực hiện quyền bảo vệ nghĩa là nếu nghiên về thủ tục xét hỏi thì không tạo cơ hội để các bên chứng minh được các chứng cứ, yêu cầu của mình đưa ra là có căn cứ và hợp pháp, đồng thời có thể thấy yếu tố quyền lực, sự can thiệp của nhà nước vào các hoạt động này là rất rõ, trong nhiều trường hợp xét xử còn mang tính hình thức và áp đặt

Nước ta theo hệ thống dân luật (civi law) nên phiên tòa xét xử phần lớn nghiêng về loại hình tố tụng xét hỏi, chủ yếu là các Thẩm phán hỏi các đương sự tại giai đoạn xét xử, mặc dù quyền bảo vệ cũng được ghi nhận trong pháp luật tố tụng dân sự nhưng quá trình xét xử trên thực tế thẩm phán chưa đề cao và phát huy quyền bảo vệ của đương sự, chưa đảm bảo được cơ chế, đường lối xét xử theo tinh

thần của nghị quyết 08 - NQ/ TW ngày 2/1/2002 của Bộ chính trị “về một số nhiệm

vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới” đã nhấn mạnh định hướng mới

trong hoạt động của các cơ quan tư pháp: “Việc phán quyết của Tòa án phải căn cứ

chủ yếu vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên…nguyên đơn, bị đơn và những người có quyền, lợi ích hợp pháp để ra những bản án, quyết định đúng pháp luật, có sức thuyết phục và trong thời hạn pháp luật quy định”

Bảo đảm quyền bảo vệ của đương sự là nguyên tắc theo suốt trong quá trình

tố tụng dân sự từ khi khởi kiện, thụ lý vụ án cho đến khi có bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật Mặc dù, quy định này nhằm đảm bảo cho các bên thực hiện quyền và nghĩa vụ tố tụng để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình trong suốt quá trình Tòa án giải quyết vụ việc dân sự nhưng trên thực tế thì vấn đề này hiện

Trang 23

thực hiện một cách triệt để, nhiều đương sự khi tham gia vào các giai đoạn của quá trình tố tụng lại không hình dung được quyền bảo vệ là quyền gì, thực hiện ra sao…

Từ những bất cập hiện có cũng như thực tế xét xử chưa đảm bảo được các quyền của đương sự khi khởi kiện một vụ án dân sự thì người viết cho rằng nguyên tắc bảo đảm quyền bảo vệ của đương sự trong tố tụng dân sự cần được đưa ra nghiên cứu để có thể đưa ra cơ chế đảm bảo tốt hơn trong pháp luật về tố tụng dân

sự

Như vậy, với những nội dung trên có thể thấy rằng, người viết đã phần nào làm rõ về quyền bảo vệ của đương sự trong tố tụng dân sự cũng như vai trò, đặc điểm, ý nghĩa và sự cần thiết của quyền bảo vệ khi các bên tham gia vào tố tụng Đây là quyền được thể hiện xuyên suốt trong quá trình giải quyết vụ án Mặt khác, đây cũng là quyền được ghi nhận thành một nguyên tắc trong Bộ luật tố tụng dân

sự - quyền bảo vệ của đương sự trong tố tụng dân sự Để quyền này được thực hiện,

Bộ luật tố tụng dân sự đã có những quy định cụ thể để nhằm đảm bảo cho các bên khi tham gia vào quá trình tố tụng bảo vệ được quyền và lợi ích cho mình hay lợi ích của người khác Bên cạnh đó việc bảo đảm cho các bên thực hiện quyền bảo vệ cũng là góp phần đảm bảo cho cơ chế xét xử của Tòa án tuân theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự

Trang 24

CHƯƠNG 2

QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ BẢO ĐẢM QUYỀN BẢO VỆ

CỦA ĐƯƠNG SỰ TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ

Trong đời sống dân sự xã hội các quan hệ dân sự là những quan hệ diễn ra hằng ngày, theo đó các chủ thể của quan hệ dân sự có quyền tự do, tự nguyện, bình đẳng trong việc thiết lập các quyền và nghĩa vụ dân sự phục vụ cho lợi ích của mình phù hợp với lợi ích chung của xã hội Trong trường hợp có tranh chấp hoặc vi phạm xảy ra thì họ cũng có quyền lựa chọn cách thức, biện pháp để giải quyết tranh chấp Khi họ lựa chọn phương thức giải quyết tranh chấp bằng Tòa án thì trách nhiệm chứng minh cho yêu cầu, phản yêu cầu của mình phải thuộc về các đương sự Hơn nữa, các vụ kiện dân sự chủ yếu phát sinh là do có sự tranh chấp về quyền và lợi ích giữa các đương sự Do đó, việc xác định quyền và nghĩa vụ đó có tồn tại hay không phải thuộc về các đương sự người biết rõ nguyên nhân, điều kiện phát sinh ra tranh chấp vì nó không chỉ là con đường ngắn nhất để biết rõ sự thật, mà còn làm các bên thỏa mãn hơn với kết quả được xác lập lại theo đúng quy định của pháp luật Vì thế, trong quá trình giải quyết vụ kiện dân sự, Tòa án phải tạo điều kiện cho các bên đương sự được bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình bằng cách chứng minh được các yêu cầu của mình là đúng đắn và hợp pháp nhằm nâng cao vai trò chủ động và tích cực trong việc bảo vệ quyền lợi cho chính họ Để xem xét quyền bảo

vệ của các chủ thể tham gia tố tụng này được thể hiện như thế nào qua các giai đoạn

tố tụng và thực tế quyền này có được Tòa án đảm bảo thực hiện không, đây cũng chính là nội dung mà người viết muốn phân tích trong phạm vi chương này

2.1 Thời điểm bảo đảm quyền bảo vệ của đương sự trong tố tụng dân sự

2.1.1 Thời điểm bắt đầu thực hiện quyền bảo vệ

Khi có tranh chấp dân sự phát sinh dẫn đến việc một trong các bên tham gia tranh chấp khởi kiện ra Tòa án để yêu cầu bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho mình thì các bên phải chứng minh được yêu cầu của mình là có căn cứ và hợp pháp Vậy, quyền bảo vệ của các đương sự, người đại diện hợp pháp cũng như người bảo vệ quyền và lợi ích đương sự bắt đầu từ khi nào?

Nhà nước ta thể chế hóa quyền bảo vệ của đương sự là một nguyên tắc quan trọng trong pháp luật tố tụng dân sự là khẳng định pháp luật thực sự đã ghi nhận và bảo đảm cho các đương sự có điều kiện bằng hành vi của mình, tự mình thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ tố tụng, trên cơ sở đó mà các lợi ích hợp pháp của bản

Trang 25

Điều 161 Bộ luật tố tụng dân sự quy định: “Cá nhân, cơ quan, tổ chức có

quyền tự mình hoặc thông qua người đại diện hợp pháp (sau đây gọi chung là người khởi kiện) khởi kiện vụ án tại Tòa án có thẩm quyền để yêu cầu bảo vệ quyền

và lợi ích hợp pháp của mình” Song song đó thì khi khởi kiện, người khởi kiện

phải xuất trình các tài liệu chứng cứ để chứng minh cho yêu cầu của mình là có căn

cứ và hợp pháp, tức là phải cung cấp các tài liệu, chứng cứ để chứng minh rằng họ

có quyền khởi kiện đối với quan hệ pháp luật đó “Trong thời hạn mười lăm ngày kể

từ ngày nhận được thông báo, người được thông báo phải nộp cho Toà án văn bản ghi ý kiến của mình đối với yêu cầu của người khởi kiện và tài liệu, chứng cứ kèm theo, nếu có” Điều 175 Bộ luật tố tụng dân sự Bằng các chứng cứ, lý lẽ, các bên đã

trình bày ý kiến của mình để gửi đến Tòa án nhằm bảo vệ lợi ích cho chính mình Đồng thời, bị đơn còn được quyền đưa ra yêu cầu phản tố lại nguyên đơn theo quy định tại Điều 176 còn người có quyền và nghĩa vụ liên quan trong vụ án thì được quyền đưa ra yêu cầu độc lập khi vụ án có liên quan đến mình theo Điều 177 Bộ luật tố tụng dân sự

Do đó, quyền bảo vệ bắt đầu từ khi có đương sự khởi kiện vụ án ra tòa án có thẩm quyền để yêu cầu bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình

2.1.2 Thời điểm chấm dứt quyền bảo vệ

Khi có yêu cầu khởi kiện đến Tòa án thì các bên đã xuất hiện quyền bảo vệ Theo quy định tại Điều 9 Bộ luật tố tụng dân sự thì Tòa án phải bảo đảm cho các đương sự bằng khả năng của chính mình hoặc nhờ người khác thực hiện quyền mà pháp luật tố tụng cho phép để bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp cho mình

Như vậy, quyền bảo vệ của các đương sự luôn thể hiện xuyên suốt trong các giai đoạn của quá trình tố tụng từ khi bắt đầu khởi kiện đến khi bản án có hiệu lực pháp luật và ở bất kỳ giai đoạn nào thì các bên đều có quyền thực hiện quyền bảo vệ của mình bằng nhiều hình thức: thông qua việc cung cấp chứng cứ, trình bày ý kiến, yêu cầu phản tố, yêu cầu độc lập, tranh luận tại phiên Tòa… Vì thế, theo nguyên tắc chung trong tố tụng dân sự thì người viết cho rằng thời điểm chấm dứt quyền bảo vệ của đương sự cũng là thời điểm vụ án được giải quyết xong là thời điểm có bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật

2.2 Chủ thể thực hiện quyền bảo vệ trong tố tụng dân sự

Trong xã hội hiện đại – xã hội công dân, thì hình thức Nhà nước tiến bộ nhất

là Nhà nước pháp quyền, đóng vai trò là hạt nhân trong kết cấu hệ thống chính trị -

xã hội Trong đó, con người vừa là trung tâm, vừa là chủ thể của sự phát triển xã

Trang 26

hội Ở đó, các quyền và nghĩa vụ trong lĩnh vực đời sống dân sự là bộ phận không thể thiếu trong bộ phận cấu thành hệ thống nhu cầu và lợi ích của con người Trong

tố tụng dân sự, khi các bên tham gia vào tố tụng thì các bên sẽ đưa ra các yêu cầu để bảo vệ quyền và lợi ích cho chính các bên Để thực hiện quyền mà pháp luật đã cho

phép - quyền bảo vệ, các bên sẽ thực hiện nhiều cách thức, phương pháp trong quá

trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý vụ án đến khi bản án, quyết định có hiệu lực pháp lực Tuy nhiên, để các bên thực hiện quyền bảo vệ đạt được hiệu quả cũng như thực hiện theo nguyên tắc bảo đảm quyền bảo vệ của đương sự trong tố tụng dân sự thì cần một chủ thể để đảm bảo cho việc thực hiện quyền bảo vệ của các bên Do

đó, trong quá thực hiện quyền bảo vệ có hai dạng chủ thể bao gồm: chủ thể thực hiện quyền bảo vệ (đương sự, người đại diện hợp pháp của đương sự, người bảo vệ quyền và lợi ích của đương sự) và chủ thể đảm bảo cho việc thực hiện quyền bảo vệ

tố tụng dân sự

2.2.1 Chủ thể thực hiện quyền bảo vệ

Những người tham gia tố tụng chính là chủ thể thực hiện quyền bảo vệ, họ là trung tâm của các hoạt động tố tụng, chủ động trong việc tham gia tố tụng, điều khiển tiến trình tố tụng Tuy vậy, mỗi người tham gia tố tụng có vị trí pháp lý riêng

và việc tham gia tố tụng của họ cũng có những ý nghĩa khác nhau

2.2.1.1 Đương sự

Đương sự trong vụ việc dân sự là người tham gia tố tụng để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình hoặc bảo vệ lợi ích công cộng, lợi ích của Nhà nước thuộc lĩnh vực mình phụ trách

Là chủ thể đóng vai trò quan trọng nhất trong quá trình tố tụng, bởi đương sự

là người có quyền lợi liên quan đến vụ án, nếu đương sự không chứng minh được

sự tồn tại của quyền lợi của mình thì quyền lợi có cũng như không Do vậy, để bảo

vệ quyền lợi của mình các đương sự luôn luôn chủ động, tích cực cố gắng tìm mọi cách để chứng minh cho quyền lợi của mình Bên cạnh đó, trong vụ án dân sự đương sự là người trong cuộc, trực tiếp tham gia vào các sự kiện của vụ án nên có nhiều điều kiện nhất trong việc làm rõ sự thật của vụ án Đương sự trong tố tụng dân sự bao gồm nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan

Thứ nhất, nguyên đơn

Khoản 2 Điều 56 Bộ luật tố tụng dân sự quy định: “Nguyên đơn trong vụ án

Trang 27

quyền và lợi ích hợp pháp của người đó bị xâm phạm Cơ quan, tổ chức do Bộ luật này quy định khởi kiện vụ án dân sự để yêu cầu Toà án bảo vệ lợi ích công cộng, lợi ích của Nhà nước thuộc lĩnh vực mình phụ trách cũng là nguyên đơn”

Nguyên đơn không những là người trực tiếp tham gia vào vụ án, có quyền lợi liên quan đến vụ án mà nguyên đơn còn là người khởi kiện vụ án dân sự, đưa ra yêu cầu cho Tòa án xét xử Quyền và nghĩa vụ của nguyên đơn khi tham gia vào quá trình tố tụng được pháp luật tố tụng ghi nhận tại Điều 59 Bộ luật tố tụng dân sự theo

đó nguyên đơn có quyền thay đổi yêu cầu khởi kiện của mình theo nguyên tắc tự định đoạt, Tòa án chỉ được xét xử trong phạm vi yêu cầu của nguyên đơn, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác; có quyền đưa ra các chứng cứ lý lẽ, lập luận

để chứng minh cho yêu cầu của mình là có căn cứ và hợp pháp; có quyền tham gia vào tranh luận tại phiên tòa,… để thực hiện quyền bảo vệ của mình

Thứ hai, bị đơn

“Bị đơn dân sự là cá nhân, cơ quan tổ chức bị kiện là người bị nguyên đơn khởi kiện hoặc cá nhân, cơ quan, tổ chức khác do Bộ luật tố tụng dân sự quy định khởi kiện để yêu cầu Toà án giải quyết vụ án dân sự khi cho rằng quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn bị người đó xâm phạm” khoản 3 Điều 56 Bộ luật tố tụng

dân sự năm 2004 Ở vị trí đối lập với nguyên đơn, bị đơn là người bị kiện, tham gia

tố tụng để trả lời về việc kiện Việc tham gia tố tụng của bị đơn trong vụ án không chủ động được như nguyên đơn, nhưng do quyền lợi của bị đơn gắn liền với vụ án cho nên họ cũng giữ vai trò quan trọng không kém nguyên đơn Bị đơn là một bên của vụ án, cũng giống như nguyên đơn, bị đơn cũng có đầy đủ các quyền, nghĩa vụ

do pháp luật tố tụng quy định tại Điều 60 Bộ luật tố tụng dân sự 2004

2.2.1.2 Người đại diện của đương sự

Người đại diện của đương sự trong tố tụng dân sự là người thay mặt cho đương sự trong việc xác lập, thực hiện các quyền và nghĩa vụ tố tụng nhằm mục đích bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng cho đương sự Người đại diện trong tố tụng dân sự bao gồm người đại diện theo pháp luật và người đại diện theo ủy quyền

Theo quy định của Bộ luật dân sự 2005 thì người đại diện theo pháp luật bao gồm có cha mẹ đối với con chưa thành niên, người giám hộ đối với người được giám hộ, người được tòa án chỉ định đối với người bị hạn chế năng lực hành vi dân

sự, người đứng đầu pháp nhân theo quy định của điều lệ hoặc theo quyết định của

cơ quan nhà nước có thẩm quyền, chủ hộ gia đình đối với gia đình, tổ trưởng tổ hợp tác đối với tổ hợp tác (Điều 142 Bộ luật dân sự), ngoài ra cơ quan tổ chức khởi kiện

Trang 28

bảo vệ lợi ích của người khác cũng là người đại diện theo pháp luật cho người được khởi kiện (Điều 73 Bộ luật tố tụng dân sự), người được Tòa án chỉ định để đại diện cho đương sự tham gia tố tụng (Điều 76 Bộ luật tố tụng dân sự)

Người đại diện theo ủy quyền cũng là người thay mặt cho đương sự thực hiện những quyền và nghĩa vụ tố tụng nhưng thông qua một giấy ủy quyền thể hiện

ý chí của người đại diện và người được đại diện, phạm vi đại diện được ghi nhận một cách cụ thể trong giấy ủy quyền đó Có thể đại diện một phần hay toàn bộ nhưng trong vụ án ly hôn, đương sự không thể ủy quyền cho người khác tham gia thay mình

Quyền và nghĩa vụ của người đại diện cho đương sự trong tố tụng dân sự và trong hoạt động bảo vệ được thực hiện theo nguyên tắc quy định tại điều 74 Bộ luật

tố tụng dân sự:

“1 Người đại diện theo pháp luật trong tố tụng dân sự thực hiện các quyền

và nghĩa vụ tố tụng dân sự của đương sự mà mình đại diện

2 Người đại diện theo ủy quyền trong tố tụng dân sự thực hiện các quyền và nghĩa vụ tố tụng dân sự theo nội dung văn bản ủy quyền.”

Khi tham gia vào hoạt động bảo vệ, người đại diện có toàn quyền trong việc

đề ra các yêu cầu, phản yêu cầu và chứng minh cho những ý kiến đó Đương sự không có năng lực hành vi hoặc bị hạn chế năng lực hành vi dân sự không thực hiện được quyền và nghĩa vụ của mình thì theo quy định của pháp luật họ có thể nhờ đến

sự giúp đỡ của người đại diện hoặc Tòa án sẽ chỉ định người đại diện cho họ Hoạt

động bảo vệ của người đại diện là “thay mặt” đương sự, hành vi thực hiện quyền

bảo vệ của họ cũng chính là hành vi của đương sự và hướng đến việc bảo vệ quyền

và lợi ích của đương sự Khi tư cách đương sự chấm dứt thì tư cách đại diện của họ cũng chấm dứt

2.2.1.3 Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự là người được đương

sự nhờ và Tòa án chấp nhận để tham gia tố tụng bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự (khoản 1 Điều 64 Bộ luật tố tụng dân sự) Những người này có thể là luật sư hoặc bất cứ chủ thể nào đủ điều kiện mà đương sự tin tưởng Đây cũng là một chủ thể của hoạt động bảo vệ, họ có thể tham gia vào vụ án ở bất cứ giai đoạn nào, được tham gia phiên tòa sơ thẩm, phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm Liên

Trang 29

“2 Xác minh, thu thập chứng cứ và cung cấp chứng cứ cho Tòa án, nghiên cứu hồ sơ vụ án và được sao chụp những tài liệu cần thiết trong hồ sơ để thực hiện việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự

5 Giúp đương sự về mặt pháp lý liên quan đến việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ” (Điều 64 Bộ luật tố tụng dân sự)

Trong trường hợp này, vai trò thực hiện quyền bảo vệ của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự chỉ dừng lại ở việc giúp đỡ đương sự khi

được “nhờ”, đương sự vẫn là người đề ra các biện pháp bảo vệ, yêu cầu hoặc phản

yêu cầu nhưng do có hạn chế về mặt pháp lý cũng như kinh nghiệm tố tụng nên họ phải cầu cứu đến sự hỗ trợ, những người này chỉ có quyền chứ không có nghĩa vụ bảo vệ, việc thực hiện quyền bảo vệ được hay không không ảnh hưởng đến quyền

và lợi ích của họ Người bảo vệ quyền và lợi ích của đương sự có thể không có mặt tại phiên tòa (Điều 203 Bộ luật tố tụng dân sự )

Theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam, vị trí pháp lý của người bảo vệ quyền lợi của đương sự không có gì khác so với đương sự vì họ cùng thuộc nhóm người tham gia tố tụng Họ không có quyền thay mặt đương sự mà chỉ

có thể giúp đỡ đương sự, đương sự vẫn tự mình quyết định, tự mình thực hiện các quyền và nghĩa vụ

2.2.2 Quyền bảo vệ của các chủ thể qua các giai đoạn tố tụng dân sự

2.2.2.1 Thụ lý vụ án, hòa giải và chuẩn bị xét xử

Thứ nhất, thụ lý vụ án

Thụ lý vụ án là việc Tòa án nhận đơn khởi kiện của người khởi kiện và ghi vào sổ thụ lý vụ án dân sự để giải quyết Đây là công việc đầu tiên của Tòa án trong quá trình tố tụng, nếu không có việc thụ lý vụ án của Tòa án thì không có các bước tiếp theo của quá trình tố tụng Thụ lý vụ án dân sự là một thủ tục pháp lý khẳng định sự chấp nhận của Tòa án đối với việc giải quyết vụ án Sau khi nghiên cứu đơn khởi kiện của người khởi kiện, Tòa án tiến hành thụ lý vụ án nếu vụ án đó thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án và không thuộc các trường hợp trả lại đơn kiện Sau khi tiến hành thụ lý vụ án Tòa án có trách nhiệm phải thông báo bằng văn bản cho bị đơn, cá nhân, cơ quan, tổ chức có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến việc giải quyết vụ án để họ biết được là vụ án đã được thụ lý để giải quyết, thời hạn và nội dung của thông báo phải tuân theo quy định tại Điều 174 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004 Khi đó, người được thông báo phải nộp cho Tòa án văn bản ghi ý kiến

Trang 30

của mình đối với yêu cầu của người khởi kiện, và tài liệu, chứng cứ kèm theo trong thời hạn nhất định Điều 175 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004 quy định:

“Trong thời hạn mười lăm ngày kể từ ngày nhận được thông báo, người được thông báo phải nộp cho Toà án văn bản ghi ý kiến của mình đối với yêu cầu của người khởi kiện và tài liệu, chứng cứ kèm theo (nếu có) Người được thông báo

có quyền yêu cầu Toà án cho xem, ghi chép, sao chụp đơn khởi kiện và tài liệu, chứng cứ kèm theo đơn khởi kiện”

Theo quy định này thì người được thông báo có quyền thể hiện quan điểm của mình về yêu cầu của nguyên đơn đối với Tòa án là đồng ý hay không đồng ý với yêu cầu của nguyên đơn, đồng thời còn có quyền yêu cầu Tòa án cho xem, ghi chép, sao chụp đơn khởi kiện và tài liệu chứng cứ kèm theo đơn khởi kiện Cùng với việc phải nộp cho Tòa án văn bản ghi ý kiến của mình đối với yêu cầu của người khởi kiện và các chứng cứ, tài liệu kèm theo, theo Điều 176 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng dân sự bị đơn có quyền yêu cầu phản tố đối với nguyên đơn

“Cùng với việc phải nộp cho Tòa án văn bản ghi ý kiến của mình đối với yêu cầu của người khởi kiện, bị đơn có quyền yêu cầu phản tố đối với nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập”

Tuy nhiên, quyền yêu cầu phản tố của bị đơn đối với nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập được chấp nhận khi yêu cầu phản

tố đó để bù trừ nghĩa vụ đối với nguyên đơn hay yêu cầu phản tố dẫn đến loại trừ việc chấp nhận một phần hoặc toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn hoặc giữa yêu cầu phản tố và yêu cầu của nguyên đơn có sự liên quan với nhau và nếu được giải quyết trong cùng một vụ án thì làm cho việc giải quyết vụ án được chính xác và nhanh hơn

Trong trường hợp, theo quy định tại Điều 177 Luật sửa đổi, bổ sung một số

điều của Bộ luật tố tụng dân sự quy định: “Trong trường hợp người có quyền lợi,

nghĩa vụ liên quan không tham gia tố tụng với bên nguyên đơn hoặc với bên bị đơn thì họ có quyền yêu cầu độc lập” Theo đó khi người có quyền lợi, nghĩa vụ liên

quan không tham gia tố tụng với bên nguyên đơn hoặc với bên bị đơn mà có yêu cầu độc lập thì họ cũng phải làm đơn gửi đến Tòa án và phải kèm theo tài liệu, chứng cứ để chứng minh cho yêu cầu của mình là có căn cứ và hợp pháp như việc khởi kiện của nguyên đơn Tuy vậy, họ chỉ có quyền yêu cầu độc lập khi việc giải

Trang 31

quan đến vụ án đang được giải quyết hoặc yêu cầu độc lập của họ được giải quyết trong cùng vụ án làm cho việc giải quyết vụ án được nhanh chóng và chính xác hơn

Việc khởi kiện, đưa ra các chứng cứ để chứng minh cho yêu cầu khởi kiện của mình là có căn cứ và hợp pháp của nguyên đơn hay trình bày ý kiến về yêu cầu phản tố của bị đơn cũng như yêu cầu độc lập của những người có quyền lợi, nghĩa

vụ liên quan trong vụ án đã thể hiện được quyền bảo vệ của các đương sự trong tố tụng dân sự Đầu tiên là đơn khởi kiện, chính vì quyền, lợi ích bị xâm phạm nên nguyên đơn khởi kiện ra Tòa án yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền lợi cho nguyên đơn, khi đó đối với bị đơn thì lại được Tòa án thông báo về việc thụ lý đơn kiện để được trình bày ý kiến của mình, đưa ra các chứng cứ hoặc có yêu cầu phản tố lại để bảo

vệ quyền lợi cho mình Bằng việc trình bày các ý kiến, yêu cầu phản tố của mình, bị đơn đang thực hiện quyền bảo vệ của mình thông qua bảng đưa ý kiến cùng các chứng cứ ,tài liệu kèm theo để chứng minh cho mình cũng như đưa ra yêu cầu phản

tố lại đối với nguyên đơn Đây là giai đoạn mà đương sự thực hiện quyền bảo vệ của mình bằng các hành vi pháp lý, thông qua các hình thức văn bản là chủ yếu nhằm chuẩn bị cho việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình tại phiên tòa

Thứ hai, hòa giải và chuẩn bị xét xử

Hoà giải là sự thoả thuận giữa các bên đương sự về việc giải quyết vụ án Việc đương sự thỏa thuận, thương lượng giải quyết tranh chấp trong mọi giai đoạn

tố tụng dân sự luôn được Nhà nước khuyến khích Bởi, khi các đương sự thoả thuận với nhau về giải quyết vụ án không chỉ có nội dung tranh chấp mà mâu thuẫn của các đương sự cũng được giải quyết triệt để, tiết kiệm và nhanh chóng, khi đó, Nhà nước không phải sử dụng sức mạnh cưỡng chế để thi hành thoả thuận đó Hoà giải

là quyền tố tụng của đương sự và cũng chỉ đương sự mới có quyền hoà giải vì đương sự là chủ thể của quan hệ pháp luật nội dung nên có quyền tự mình quyết định những vấn đề của vụ tranh chấp Toà án có trách nhiệm tiến hành hoà giải, tạo điều kiện thuận lợi để các đương sự thoả thuận với nhau về việc giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật tố tụng Dù việc hoà giải do Toà án tiến hành hay do các đương sự tự thoả thuận cũng phải xuất phát từ ý chí chủ quan, từ sự tự nguyện của đương sự, không ai, bằng bất cứ hình thức nào có thể cưỡng ép, bắt buộc đương

sự thoả thuận với nhau giải quyết những mâu thuẫn, tranh chấp và đương nhiên sự thỏa thuận đó không được trái pháp luật và đạo đức xã hội

Hòa giải là phương thức giải quyết vụ án tốt nhất tiết kiệm được thời gian, tiền của, công sức của đương sự cũng như của Tòa án Nếu hòa giải thành thì giúp Tòa án giảm một phần công việc, không cần phải mở phiên tòa hoặc kéo dài cả quá

Trang 32

trình tố tụng, ngược lại nếu hòa giải không thành thì sẽ tạo điều kiện cho Tòa án nắm vững nội dung tranh chấp, cũng như mâu thuẫn, hiểu rõ tâm tư tình cảm, những vướng mắc của nguyên đơn để xác định được đường lối giải quyết vụ án khi đưa vụ án ra xét xử Vậy, khi Tòa án tiến hành hòa giải thì các đương sự sẽ thực hiện quyền bảo vệ của mình như thế nào?

Theo quy định tại Điều 180 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004 đã quy định về nguyên tắc tiến hành hòa giải như sau:

“Trong thời hạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án, Toà án tiến hành hoà giải để

các đương sự thoả thuận với nhau về việc giải quyết vụ án, trừ những vụ án không được hoà giải hoặc không tiến hành hoà giải được quy định tại Điều 181 và Điều

182 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004 Tôn trọng sự tự nguyện thoả thuận của các đương sự, không được dùng vũ lực hoặc đe doạ dùng vũ lực, bắt buộc các đương sự phải thoả thuận không phù hợp với ý chí của mình; nội dung thoả thuận giữa các đương sự không được trái pháp luật hoặc trái đạo đức xã hội”

Trong tố tụng dân sự trước khi xét xử, Luật quy định cho các bên được quyền hòa giải với nhau về việc giải quyết vụ án, dựa trên nguyên tắc tự thỏa thuận các bên sẽ thể hiện ý chí, nguyện vọng của mình về phương hướng giải quyết vụ án, khi đó, quyền và lợi ích của các bên sẽ mâu thuẫn và đối lập nhau tức là các bên có

sự cọ xát với nhau về quyền lợi cũng như nghĩa vụ nên chắc chắn rằng các bên phải dùng mọi biện pháp để có thể bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình Theo nguyên tắc chung trong tố tụng dân sự thì Tòa án phải bảo đảm cho các bên thực hiện quyền tranh luận trong tố tụng3

mà hòa giải chính là một giai đoạn của quá

trình tố tụng nên Tòa án phải đảm bảo cho các bên khi tham gia hòa giải được thực hiện đầy đủ các quyền của mình để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho họ Theo

đó, khi tiến hành hòa giải, các bên tham gia được thỏa thuận với bên kia về vấn đề cần giải quyết (và đương nhiên sự thỏa thuận này không được trái với quy định của pháp luật cũng như đạo đức, xã hội) nên các bên sẽ trình bày các quan điểm, phương hướng giải quyết vụ án cũng như những điều, khoản, quyền và nghĩa vụ theo hướng có lợi cho chính các bên, đồng thời cũng đưa ra những nghĩa vụ, yêu cầu với bên đối lập để bảo vệ quyền lợi cho mình

Ngoài ra, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng dân sự năm

2004 đã bổ sung thêm Điều 185a và cụ thể ở khoản 3 quy định như sau:

Ngày đăng: 05/04/2018, 23:27

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bùi Thị Huyền: Phiên tòa sơ thẩm dân sự. Những vấn đề lý luận và thực tiễn, Nxb. Chính trị quốc gia - Sự thật, năm 2011 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phiên tòa sơ thẩm dân sự. Những vấn đề lý luận và thực tiễn
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia - Sự thật
2. Lê Cảm – Nguyễn Ngọc Chí: Cải cách tư pháp ở Việt Nam trong giai đoạn xây dựng Nhà nước pháp quyền, Khoa Luật, Trường Đại học Quốc gia Hà Nội, năm 2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cải cách tư pháp ở Việt Nam trong giai đoạn xây dựng Nhà nước pháp quyền
3. Nguyễn Thị Thu Hà: Thủ tục xét hỏi và tranh luận tại phiên tòa dân sự sơ thẩm, Tập chí Luật học, tháng 03/ 2003, trang.27, 28 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thủ tục xét hỏi và tranh luận tại phiên tòa dân sự sơ thẩm
4. Trương Thanh Hùng: Giáo trình Luật tố tụng dân sự 1, năm 2009 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Luật tố tụng dân sự 1
5. Trương Thanh Hùng: Giáo trình Luật tố tụng dân sự 2, năm 2009 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Luật tố tụng dân sự 2
1. Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2001) Khác
2. Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004 Khác
4. Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2011 Khác
5. Luật tổ chức Tòa án nhân dân năm 2002 Khác
6. Luật tổ chức Viện Kiểm sát nhân dân năm 2002 Khác
7. Pháp lệnh giải quyết các vụ án dân sự năm 1989 Khác
8. Nghị quyết 08 NQ/TW ngày 02/01/2002 về một số nhiệm vụ trọng tâm của công tác tư pháp Khác
6. Trường Đại học Luật Hà Nội: Giáo trình luật tố tụng dân sự Việt Nam Khác
7. Vụ công tác lập pháp: Những vấn đề cơ bản của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004 Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm