Công ty cổ phần là doanh nghiệp, trong đó: vốn điều lệ được chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần, cổ đông chỉ chịu trách nhiệm về nợ và các nghĩa vụ tài sản khác của doanh ngh
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA LUẬT
BỘ MÔN LUẬT THƯƠNG MẠI
BÀI BÁO CÁO
QUY CHẾ PHÁP LÝ CỦA VIỆC GÓP VỐN
THÀNH LẬP DOANH NGHIỆP
Giảng viên hướng dẫn Sinh viên thực hiện
Đoàn Nguyễn Minh Thuận Trần Thị Diễm My
MSSV: 5095345
Lớp: LK0964A1
Trang 2NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN
Trang 3
NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN PHẢN BIỆN
Trang 4
LỜI CẢM ƠN
Em xin gửi lời cảm ơn đến gia đình và bạn bè đã giúp đỡ,
động viên tạo điều kiện về tinh thần và vật chất để em hoàn thành
luận văn này
Em xin chân thành cảm ơn quý thầy cô Khoa Luật, đặc biệt
là thầy cô Bộ môn Luật Thương mại đã tận tình giảng dạy và giúp
đỡ em trrong suốt quá trình nghiên cứu
Em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến cô Đoàn Nguyễn Minh
Thuận đã tận tình hướng dẫn và tạo mọi điều kiện giúp đỡ em
trong quá trình thực hiện đề tài
Mặc dù trong quá trình thực hiện đề tài, người viết đã hết
sức cố gắng, nhưng do hạn chế về trình độ và thời gian nên bài viết
không thể nào không có những thiếu sót nhất định Vì vậy, người
viết rất mong nhận được sự đóng góp của quý thầy cô để bài viết
được hoàn thiện hơn
Em xin chân thành cảm ơn!
Trang 5MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài .1
2 Mục đích nghiên cứu .1
3 Phạm vi nghiên cứu 2
4 Phương pháp nghiên cứu 2
5 Cấu trúc luận văn 2
CHƯƠNG 1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ DOANH NGHIỆP VÀ GÓP VỐN THÀNH LẬP DOANH NGHIỆP 3
1.1 Khái quát chung về doanh nghiệp .3
1.1.1 Khái niệm và đặc điểm của doanh nghiệp 3
1.1.2 Các loại hình doanh nghiệp 6
1.1.3 Vai trò của doanh nghiệp 9
1.2 Góp vốn thành lập doanh nghiệp 11
1.2.1 Khái niệm góp vốn thành lập doanh nghiệp 11
1.2.2 Chủ thể và tài sản góp vốn thành lập doanh nghiệp 12
1.3 Các nguyên tắc của việc góp vốn thành lập doanh nghiệp 14
1.4 Pháp luật điều chỉnh về góp vốn thành lập doanh nghiệp 17
CHƯƠNG 2 QUY CHẾ PHÁP LÝ CỦA VIỆC GÓP VỐN THÀNH LẬP DOANH NGHIỆP 21
2.1 Chủ thể có quyền góp vốn thành lập doanh nghiệp 21
2.1.1 Chủ thể có quyền thành lập và quản lý doanh nghiệp 21
2.1.2 Chủ thể có quyền góp vốn vào doanh nghiệp 25
2.2 Các hình thức góp vốn thành lập doanh nghiệp 26
2.2.1 Góp vốn bằng tiền 26
2.2.2 Góp vốn bằng vật 28
2.2.3 Góp vốn bằng quyền tài sản 29
2.2.3.1 Góp vốn bằng quyền sở hữu trí tuệ 29
Trang 62.2.3.2 Góp vốn bằng giá trị quyền sử dụng đất 32
2.2.4 Góp vốn bằng các tài sản theo thỏa thuận 35
2.3 Quá trình hình thành vốn của doanh nghiệp 37
2.3.1 Giai đoạn hình thành vốn khi thành lập doanh nghiệp 38
2.3.2 Giai đoạn góp vốn trong quá trình hoạt động của doanh nghiệp 40
2.4 Định giá tài sản góp vốn 43
2.4.1 Chủ thể tiến hành định giá tài sản góp vốn 43
2.4.2 Nguyên tắc định giá tài sản góp vốn 44
2.4.3 Các phương pháp định giá tài sản góp vốn thành lập doanh nghiệp 46
2.5 Chuyển quyền sở hữu tài sản góp vốn 47
2.6 Xử lý vi phạm nghĩa vụ góp vốn thành lập doanh nghiệp 50
CHƯƠNG 3 THỰC TRẠNG VÀ HƯỚNG GIẢI QUYẾT NHỮNG KHÓ KHĂN TRONG VIỆC GÓP VỐN THÀNH LẬP DOANH NGHIỆP 53
3.1 Vấn đề định giá tài sản góp vốn .53
3.1.1 Thực trạng của vấn đề định giá tài sản góp vốn 53
3.1.2 Giải pháp cho vấn đề định giá tài sản góp vốn 55
3.2 Thực trạng và giải pháp của việc góp vốn thành lập doanh nghiệp bằng quyền sở hữu trí tuệ 55
3.2.1 Thực trạng của việc góp vốn thành lập doanh nghiệp bằng quyền sở hữu trí tuệ 55
3.2.2 Đề xuất những giải pháp phù hợp nhằm hoàn thiện hơn về việc góp vốn bằng quyền sở hữu trí tuệ 59
3.3 Thực trạng và giải pháp cho vấn đề nợ vốn góp của thành viên, cổ đông trong công ty 61
3.3.1 Thực trạng của việc nợ vốn góp 61
3.3.2 Khắc phục những rủi ro do tình trạng nợ vốn mang lại bằng các giải pháp sau 63
3.4 Vấn đề xác định tư cách thành viên trong công ty TNHH hai thành viên trở lên liên quan đến vấn đề vốn góp 64
Trang 73.4.1 Bất cập của vấn đề xác định tư cách thành viên trong công ty TNHH hai
thành viên trở lên liên quan đến vấn đề vốn góp 64
3.4.2 Giải pháp cho vấn đề xác định tư cách thành viên trong công ty TNHH hai thành viên trở lên liên quan đến vốn góp 65
3.5 Bổ sung những quy định của pháp luật về hình thức góp vốn 65
KẾT LUẬN 67
Trang 8
LỜI MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Một trong những thành tựu lớn nhất sau gần 20 năm đổi mới ở nước ta là đổi
mới kinh tế, tạo nên những tiềm lực mới cho sự phát triển của đất nước Để có được
thành quả đó trước hết là nhờ chủ trương kịp thời, đúng đắn của Đảng và Nhà nước Việt Nam trong việc phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần để từ đó phát huy nội lực, khơi dậy hoạt động kinh doanh, đầu tư trong nhân dân Trong đó việc tạo môi trường kinh doanh thuận lợi cho nhà đầu tư bỏ vốn kinh doanh, gia nhập thị trường luôn được Nhà nước Việt Nam quan tâm hơn bao giờ hết Vì thực lực và quy
mô của nền kinh tế ở bất kỳ quốc gia nào cũng luôn gắn liền với sự vận động, phát triển của đội ngũ doanh nghiệp, doanh nghiệp đang ngày càng chiếm một vị trí, vai trò quan trọng trong nền kinh tế thị trường
Một trong những công cụ hữu hiệu nhất để Nhà nước quản lý nền kinh tế đó chính là ban hành pháp luật để điều chỉnh hoạt động của các nhà đầu tư và duy trì trật tự kinh tế Chính vì lẽ đó mà bất kì nhà đầu tư nào khi hoạt động kinh doanh trên lãnh thổ Việt Nam, họ đều phải biết và tuân thủ chặt chẽ các quy định pháp luật trong lĩnh vực kinh tế do Nhà nước Việt Nam ban hành, mà đặc biệt là các quy định
về doanh nghiệp Thành lập doanh nghiệp là giai đoạn đầu tiên trong quá trình hiện thực hóa ý tưởng kinh doanh Trong đó, một vấn đề được đặt lên hàng đầu để doanh nghiệp được khai sinh đó là khâu góp vốn
Vấn đề về vốn đối với các loại hình doanh nghiệp nói chung, đặc biệt trong
nền kinh tế thị trường hiện nay là quan trọng hơn bao giờ hết Vì vốn là một nhân tố cực kỳ quan trọng và là yếu tố sống còn của doanh nghiệp, có vốn thì doanh nghiệp mới hoạt động có hiệu quả, thực hiện được các chiến lược, mục tiêu kinh doanh đã
đề ra, vượt qua được các khó khăn và các đối thủ sẽ gặp phải trên thương trường, đem lợi nhuận về cho công ty, thông qua đó góp phần giải quyết việc làm cho người dân, tăng ngân sách cho Nhà nước, thúc đẩy nền kinh tế phát triển Nhằm có thể tìm hiểu và nghiên cứu sâu hơn về góp vốn thành lập doanh nghiệp cũng như thấy được
sự quan trọng của nó đối với nền kinh tế nước ta hiện nay nên người viết đã chọn đề
tài: “Quy chế pháp lý của việc góp vốn thành lập doanh nghiệp” để nghiên cứu
2 Mục đích nghiên cứu
Người viết nghiên cứu đề tài này với mục đích nhằm nâng cao hiểu biết pháp luật về việc góp vốn thành lập doanh nghiệp, bên cạnh đó nhằm để hệ thống và tích lũy thêm cho bản thân những kiến thức trong quá trình học tập Trên cơ sở đó,
Trang 9người viết đưa ra những đánh giá chung về việc góp vốn thành lập doanh nghiệp Đồng thời đề tài cũng làm rõ những mặt được, mặt hạn chế, bất cập trong thực tiễn
và đưa ra những giải pháp hoàn thiện những quy định của pháp luật về vấn đề này Ngoài ra khi thực hiện đề tài còn giúp người viết hiểu rõ hơn về hệ thống pháp luật hiện hành điều chỉnh riêng về vấn đề góp vốn ở Việt Nam Qua đó, giúp cho những người đang và sẽ là nhà đầu tư trong tương lai hiểu rõ hơn về những quy định của pháp luật về vấn đề này, từ đó sẽ có những quyết định đúng đắn cho ước
mơ khởi nghiệp của mình
3 Phạm vi nghiên cứu
Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài, người viết chủ yếu phân tích các quy định của pháp luật xoay quanh những vấn đề về chủ thể góp vốn, tài sản và việc định giá tài sản góp vốn, cùng với các quy định về chuyển quyền tài sản góp vốn Bên cạnh đó, người viết cũng đưa ra được những khó khăn và giải pháp khắc phục những khó khăn ấy, góp phần hoàn thiện hơn các quy định của pháp luật trong vấn
đề góp vốn thành lập doanh nghiệp ở Việt Nam hiện nay
4 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài được xây dựng trên cơ sở tìm hiểu, phân tích và tổng hợp các nguồn
tài liệu liên quan đến đề tài, đồng thời vận dụng những kiến thức đã có trong quá trình học tập để làm sáng tỏ nội dung Bên cạnh đó, người viết sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau: phương pháp phân tích tổng hợp các điều khoản của luật; phương pháp lịch sử so sánh được sử dụng để tìm nguồn gốc phát sinh, quá trình phát triển của các đối tượng nghiên cứu, từ đó phát hiện bản chất của vấn đề nghiên cứu
5 Cấu trúc luận văn
Luận văn được trình bày bao gồm những phần sau:
- Mục lục
- Lời nói đầu
- Chương 1: Lý luận chung về doanh nghiệp và góp vốn thành lập doanh nghiệp
- Chương 2: Quy chế pháp lý của việc góp vốn thành lập doanh nghiệp
- Chương 3: Thực trạng và hướng giải quyết những khó khăn trong việc góp vốn thành lập doanh nghiệp
- Kết luận
- Danh mục tài liệu tham khảo
Trang 10CHƯƠNG 1
LÝ LUẬN CHUNG VỀ DOANH NGHIỆP VÀ GÓP VỐN
THÀNH LẬP DOANH NGHIỆP
1.1 Khái quát chung về doanh nghiệp
1.1.1 Khái niệm và đặc điểm
Trong khi người Nhật, người Hoa và hầu hết các xứ sở hiếu học chịu ảnh hưởng của Khổng giáo đã lần lượt biến xã hội của họ thành những xứ công nghệ, thì phần đông người Việt Nam vẫn đứng ở ruộng lúa ngơ ngác nhìn thiên hạ.1 Nhưng hiện nay, xã hội ngày càng phát triển cùng với sự hội nhập vào nền kinh tế thế giới, người Việt Nam ngày càng được tự do lựa chọn hàng hóa và dịch vụ từ khắp nơi trên hành tinh Không những thế, từ một nước nông nghiệp lạc hậu, hiện nay Việt Nam cũng là một trong các nước có tiềm năng kinh tế mạnh, và con người Việt Nam ngày nào chỉ biết đến ruộng vườn, con trâu, cái cày Giờ đây, họ cũng đã dần biết đến các từ công ty, doanh nghiệp…Vì hàng ngày, hàng giờ chúng ta đã và đang
sử dụng hàng hóa, dịch vụ do các tổ chức này cung cấp Mặc dù vậy, trước năm
1990, ở Việt Nam vẫn không có một văn bản quy phạm pháp luật nào định nghĩa chung về doanh nghiệp Đến nay chỉ có Luật công ty năm 1990 và Luật Doanh nghiệp năm 1999 trước đây, và hiện nay là Luật doanh nghiệp năm 2005 sửa đổi bổ sung năm 2009 (sau đây gọi tắt là Luật Doanh nghiệp 2005) đã đề cập đến khái niệm này
Lần đầu tiên khái niệm doanh nghiệp được quy định tại Luật công ty Cụ
thể, tại Khoản 2 Điều 3 có định nghĩa “Doanh nghiệp là đơn vị kinh doanh được thành lập nhằm mục đích chủ yếu là thực hiện các hoạt động kinh doanh” Sự ra đời
của đaọ luật này khẳng định đường lối chủ trương phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, huy động và sử dụng hiệu quả các nguồn vốn, tăng cường hiệu lực quản lý Nhà nước đối với các hoạt động kinh doanh.2
Sau chín năm tồn tại với những bất cập nhất định, Luật công ty năm 1990
và Luật doanh nghiệp tư nhân năm 1990 đã được thay thế bằng Luật Doanh nghiệp năm 1999 Sự ra đời của Luật Doanh nghiệp năm 1999 nhằm hoàn thiện những quy
Trang 11định của pháp luật về doanh nghiệp, đánh dấu một bước quan trọng trên con đuờng hoàn thiện khung pháp luật về các loại hình doanh nghiệp ở nước ta.3
Khắc phục những sai lầm ấy, Luật Doanh nghiệp năm 1999, cụ thể tại Khoản 1 Điều 3 và hiện nay tại Khoản 4 Điều 5 Luật Doanh nghiệp năm 2005 đã
đưa ra cùng một khái niệm như sau “Doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có tên riêng,
có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng kí kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh” Đến giai đoạn này
thì khái niệm về doanh nghiệp đã tương đối đầy đủ và chặt chẽ hơn Định nghĩa này bao hàm gần như đầy đủ các đặc tính của doanh nghiệp với tư cách là một chủ thể kinh doanh trong nền kinh tế thị trường Tạo cho cho các doanh nghiệp có được một môi trường thuận lợi để hoạt động và thuận tiện cho việc quản lý Nhà nước bằng pháp luật
Nếu so với các chủ thể kinh doanh khác như hộ kinh doanh hay hợp tác xã thì doanh nghiệp là một khái niệm rộng bao gồm doanh nghiệp tư nhân, các loại hình công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, công ty hợp danh Việc thành lập, tổ chức quản lý và hoạt động của doanh nghiệp không chỉ thu hút sự quan tâm điều chỉnh của Luật Doanh nghiệp mà còn liên quan đến các đạo luật chuyên nghành khác của Việt Nam Có thể nói phần lớn các văn bản quy phạm pháp luật do Nhà nước Việt Nam ban hành trong lĩnh vực kinh tế đều tác động ít nhiều đến doanh nghiệp
Nhìn từ góc độ kinh tế, có thể nói, doanh nghiệp là đơn vị kinh doanh với mục tiêu đầu tiên và quan trọng nhất là thu hồi vốn đã bỏ ra và có lãi Họ tận dụng mọi nguồn lực hữu hình và vô hình để sản xuất một loại hàng hóa hoặc thực hiện một loại dịch vụ Tức là để làm cho các nguồn vốn đã bỏ ra phải sinh lời và đem lại
sự tăng trưởng cho nền kinh tế, đó chính là hoạt động kinh doanh Theo Khoản 2
Điều 4 Luật Doanh nghiệp năm 2005 định nghĩa “Kinh doanh là việc thực hiện liên tục một, một số, hoặc tất cả các công đoạn của quá trình đầu tư, từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lợi”
Đứng ở góc độ pháp lý: doanh nghiệp là cái tổng thể để chỉ các loại hình bên trong của nó.4 Muốn kinh doanh, nhà đầu tư phải chọn lấy một trong số loại hình pháp luật quy định để tiến hành kinh doanh Và doanh nghiệp là một tổ chức được pháp luật và Nhà nước tôn trọng, bảo vệ quyền trong kinh doanh khi tham gia
Trang 12hoạt động trên thương trường đồng thời doanh nghiệp phải chịu sự giám sát của pháp luật và nhà nước
Trong nền kinh tế hàng hóa gồm nhiều thành phần kinh tế, mỗi đơn vị sản xuất kinh doanh là những đơn vị sản xuất hàng hóa thuộc các thành phần kinh tế khác nhau Mỗi nhà sản xuất kinh doanh phải có tài sản riêng, độc lập và bình đẳng với nhau trên thị trường Và chúng ta có thể phân biệt doanh nghiệp với các tổ chức kinh tế khác thông qua các đặc điểm sau:
Thứ nhất, doanh nghiệp là một tổ chức kinh tế được thành lập có mục đích
kinh doanh Trong đời sống xã hội tồn tại nhiều loại tổ chức khác nhau Các tổ chức này được hình thành trên cơ sở có sự liên kết các thành viên trong tổ chức Sự liên kết đó thông thường được thể hiện dưới nhiêù hình thức nhất định như: nội quy, quy chế, điều lệ và với những hình thức nhất định Đối với tổ chức kinh tế, đây là một tổ chức hình thành với mục tiêu chính là tiến hành các hoạt động kinh doanh để thu lợi nhuận Có thể khẳng định lợi nhuận là yếu tố then chốt quyết định nhà đầu tư bỏ vốn thành lập doanh nghiệp Đặc điểm này cũng là một dấu hiệu quan trọng để phân biệt doanh nghiệp với các chủ thể khác trong nền kinh tế thị trường Chẳng hạn, mô hình hợp tác xã không thể gọi là doanh nghiệp, vì khi thành lập hợp tác xã thì mục đích của các xã viên bên cạnh hướng tới lợi nhuận thì hợp tác xã còn phải đặt tính
xã hội và hợp tác cao lên hàng đầu.5
Thứ hai, doanh nghiệp phải có tên riêng Tên doanh nghiệp là một thành tố
rất quan trọng cấu thành nên doanh nghiệp Tên doanh nghiệp có ý nghĩa rất lớn đối với đời sống của doanh nghiệp, nó gắn liền với quá trình tồn tại và phát triển của doanh nghiệp Việc đặt tên cho doanh nghiệp cũng là một nghệ thuật, doanh nghiệp
có tên đẹp thôi chưa đủ mà còn gây được ấn tượng, dễ nhớ tạo sự gần gũi, thiện cảm Đây là yếu tố tạo lợi thế cho doanh nghiệp trong quảng cáo, tiếp cận người tiêu dùng, và để phân biệt giữa doanh nghiệp này với doanh nghiệp khác, dần dần tạo nên thương hiệu cho doanh nghiệp
Thứ ba, doanh nghiệp phải có tài sản riêng Trong nền kinh tế thị trường với
sự cạnh tranh đầy khốc liệt như hiện nay, mỗi doanh nghiệp khi tham gia hoạt động đều phải chuẩn bị hành trang cho mình cả về nhân lực lẫn vật lực mà trong đó tài sản của doanh nghiệp là một yếu tố rất quan trọng
Tài sản của doanh nghiệp luôn được đặt trên sự đầu tư của chủ sở hữu hoặc liên kết góp vốn từ nhiều nhà đầu tư Tài sản góp vốn của doanh nghiệp luôn được
5
Th.S Trần Huỳnh Thanh Nghị, Luật kinh tế, NXB Lao động- xã hội, năm 2009, trang 14
Trang 13Nhà nước Việt Nam công nhận và bảo hộ Nghĩa là tài sản và vốn đầu tư hợp pháp của doanh nghiệp và chủ sở hữu của doanh nghiệp không bị quốc hữu hóa, không bị tịch thu bằng biện pháp hành chính Trường hợp thật cần thiết vì lý do quốc phòng,
an ninh và vì lợi ích quốc gia, Nhà nước trưng mua, trưng dụng tài sản của doanh nghiệp thì doanh nghiệp được thanh toán và bồi thường theo giá thị trường tại thời điểm trưng mua hoặc trưng dụng Việc thanh toán hoặc bồi thường phải bảo đảm lợi ích của doanh nghiệp và không phân biệt đối xử giữa các loại hình doanh nghiệp.6Hơn thế nữa, tài sản của doanh nghiệp còn góp phần cho sự thành công, đứng vững
và phát triển của doanh nghiệp Đóng góp không nhỏ vào quá trình kinh doanh, tìm kiếm và tối đa hóa lợi nhuận cho doanh nghiệp
Thứ tư, doanh nghiệp phải có trụ sở giao dịch ổn định Trụ sở giao dịch là
nơi đặt cơ quan điều hành của doanh nghiệp, là địa điểm liên lạc, giao dịch của doanh nghiệp; phải ở trên lãnh thổ Việt Nam, có địa chỉ được xác định gồm số nhà, tên phố (ngõ phố) hoặc tên xã, phường, thị trấn, huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương; số điện thoại, số fax và thư điện
tử (nếu có) Ngoài ra, doanh nghiệp còn phải thông báo thời gian mở cửa tại trụ sở chính tại cơ quan đăng kí kinh doanh trong thời hạn mười lăm ngày, kể từ ngày được cấp Giấy chứng nhận đăng kí kinh doanh Cũng chính thông qua trụ sở giao dịch này mà các đối tác thuận tiện khi liên lạc với nhau và cũng tạo được niềm tin,
uy tín với các doanh nghiệp khác lẫn khách hàng
Thứ năm, doanh nghiệp phải thực hiện thủ tục đăng kí kinh doanh theo quy
định của pháp luật Đây là dấu hiệu quan trọng thể hiện sự tham gia của doanh nghiệp trên thương trường là hợp pháp và cũng là cơ sở để Nhà nước thực hiện việc quản lý đối với doanh nghiệp Tuy vậy, không phải bất kì hoạt động nào của doanh nghiệp đều được coi là hợp pháp Bởi lẽ, hoạt động của doanh nghiệp chỉ được coi
là hợp pháp khi doanh nghiệp hoạt động trong những nghành nghề đã đăng kí mà thôi Thêm vào đó, hoạt động được coi là hợp pháp khi được thực hiện bởi người có thẩm quyền đại diện cho doanh nghiệp, hình thức và nội dung phải phù hợp theo quy định của pháp luật
6
Điều 5 Luật Doanh nghiệp năm 2005
Trang 141.1.2 Các loại hình doanh nghiệp
Việt Nam là một nước nông nghiệp, người dân quê tha thiết với mảnh đất tổ tiên, không bao giờ chịu bỏ làng mạc trừ những trường hợp bất đắt dĩ Vốn là một nước nông nghiệp nên từ triều đại này qua triều đại khác việc học chỉ chuyên về văn chương thi phú không đào luyện những người kinh doanh nên thương mại, kinh doanh không được phát triển Nhưng với tình hình phát triển như hiện nay và chúng
ta vừa gia nhập WTO, các nhà đầu tư nước ngoài và trong nước đang tìm cho mình những hướng đầu tư khác nhau Vì vậy, việc lựa chọn mô hình kinh doanh nào hợp
lý, là thuận tiện cho việc kinh doanh luôn là một vấn đề đối với nhà đầu tư
Theo đó, Luật Doanh nghiệp năm 2005 đã có những quy định về các loại hình doanh nghiệp ở Việt Nam Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài, người viết chỉ
đề cập đến các loại hình doanh nghiệp sau: công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên (sau đây gọi tắt là công ty TNHH một thành viên), công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên (gọi tắt là công ty TNHH hai thành viên trở lên), công ty
cổ phần, công ty hợp danh và doanh nghiệp tư nhân
Thứ nhất, về doanh nghiệp tư nhân Doanh nghiệp tư nhân là loại hình
doanh nghiệp do một cá nhân làm chủ và tự chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về mọi hoạt động của doanh nghiệp,7 và đương nhiên doanh nghiệp tư nhân không có tư cách pháp nhân Do chỉ có một chủ sở hữu duy nhất của doanh nghiệp nên doanh nghiệp tư nhân hoàn toàn chủ động trong việc quyết định các vấn
đề liên quan đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Chế độ trách nhiệm vô hạn của chủ doanh nghiệp tư nhân tạo sự tin tưởng cho đối tác, khách hàng và giúp cho doanh nghiệp ít chịu sự ràng buộc chặt chẽ của pháp luật như các loại hình doanh nghiệp khác Tuy nhiên, do không có tư cách pháp nhân nên mức độ rủi ro của chủ doanh tư nhân cao, vì họ phải chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của doanh nghiệp và của chính mình chứ không giới hạn số vốn mà mình đã đầu tư vào doanh nghiệp
Thứ hai, là loại hình công ty hợp danh Công ty hợp danh là doanh nghiệp,
trong đó phải có ít nhất hai thành viên hợp danh là cá nhân, có trình độ chuyên môn
và uy tín nghề nghiệp và phải chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về các nghĩa vụ của công ty Ngoài các thành viên hợp danh, có thể có thành viên góp vốn
Và thành viên góp vốn chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ của công ty trong
7
Khoản 1 Điều 141 Luật Doanh nghiệp năm 2005
Trang 15phạm vi số vốn đã góp vào công ty.8 Công ty hợp danh không có tư cách pháp nhân
và không được phát hành bất kỳ loại chứng khoán nào để huy động vốn Ưu điểm của công ty hợp danh là kết hợp được uy tín cá nhân của nhiều người Do chế độ liên đới chịu trách nhiệm vô hạn của các thành viên hợp danh mà công ty hợp danh
dễ dàng tạo được sự tin cậy của các bạn hàng, đối tác kinh doanh Việc điều hành quản lý công ty không quá phức tạp do số lượng các thành viên ít và là những người
có uy tín, tuyệt đối tin tưởng nhau Bên cạnh đó nó cũng có những nhược điểm nhất định như hạn chế của công ty hợp danh là do chế độ liên đới chịu trách nhiệm vô hạn nên mức độ rủi ro của các thành viên hợp danh là rất cao
Thứ ba, là loại hình công ty TNHH một thành viên Công ty TNHH một
thành viên là một hình thức đặc biệt của công ty trách nhiệm hữu hạn Theo quy định của pháp luật Việt Nam, công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên là doanh nghiệp do một tổ chức hoặc một cá nhân làm chủ sở hữu; chủ sở hữu chịu trách nhiệm về các khoản nợ và các nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong phạm
vi số vốn điều lệ của công ty.9 Tùy thuộc quy mô và ngành nghề kinh doanh, cơ cấu
tổ chức quản lý nội bộ của công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên bao gồm: Hội đồng thành viên và Giám đốc hoặc Chủ tịch công ty và Giám đốc Luật doanh nghiệp năm 2005 có quy định cho cá nhân được phép thành lập công ty TNHH một thành viên, đây là điểm rất mới của Luật daonh nghiệp 2005 Lợi thế của công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên là chủ sở hữu công ty có toàn quyền quyết định mọi vấn đề liên quan đến hoạt động của công ty Do có tư cách pháp nhân nên chủ
sở hữu công ty TNHH một thành viên chỉ chịu trách nhiệm về các hoạt động của công ty trong phạm vi số vốn góp vào công ty nên ít gây rủi ro cho chủ sở hữu và đấy là điểm hơn hẳn doanh nghiệp tư nhân Nhưng việc huy động vốn của công ty trách nhiệm hữu hạn bị hạn chế do không có quyền phát hành cổ phiếu
Thứ tư, là công ty TNHH có hai thành viên trở lên Công ty TNHH có hai
thành viên trở lên là doanh nghiệp trong đó thành viên chịu trách nhiệm về các khoản nợ và các nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn đã cam kết góp vào doanh nghiệp.10 Thành viên của công ty có thể là tổ chức, cá nhân;
số lượng thành viên tối thiểu là hai và tối đa không vượt quá năm mươi Công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên có tư cách pháp nhân kể từ ngày được cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh Tuy nhiên, công ty trách nhiệm hữu hạn không được quyền phát hành cổ phiếu để huy động vốn Công ty trách nhiệm hữu
Trang 16hạn có từ hai thành viên trở lên phải có Hội đồng thành viên, Chủ tịch Hội đồng thành viên, Giám đốc Công ty trách nhiệm hữu hạn có trên mười một thành viên trở lên phải có Ban kiểm soát Do có tư cách pháp nhân nên các thành viên công ty chỉ chịu trách nhiệm về các hoạt động của công ty trong phạm vi số vốn góp vào công ty nên ít gây rủi ro cho người góp vốn; Số lượng thành viên công ty trách nhiệm không nhiều và các thành viên thường là người quen biết, tin cậy nhau, nên việc quản lý, điều hành công ty không quá phức tạp; Chế độ chuyển nhượng vốn được điều chỉnh chặt chẽ nên nhà đầu tư dễ dàng kiểm soát được việc thay đổi các thành viên, hạn chế sự thâm nhập của người lạ vào công ty Tuy nhiên việc huy động vốn của công ty trách nhiệm hữu hạn bị hạn chế do không có quyền phát hành
cổ phiếu
Thứ năm, là công ty cổ phần Công ty cổ phần là doanh nghiệp, trong đó:
vốn điều lệ được chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần, cổ đông chỉ chịu trách nhiệm về nợ và các nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn đã góp vào doanh nghiệp, cổ đông có quyền tự do chuyển nhượng cổ phần của mình cho người khác,11 trừ trường hợp cổ đông sở hữu cổ phần ưu đãi biểu quyết,
cổ đông có thể là tổ chức, cá nhân, số lượng cổ đông tối thiểu là ba và không hạn chế số lượng tối đa Công ty cổ phần có tư cách pháp nhân kể từ ngày được cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh Công ty cổ phần có quyền phát hành chứng khoán
ra công chúng theo quy định của pháp luật về chứng khoán Công ty cổ phần phải
có Đại hội đồng cổ đông, Hội đồng quản trị và Giám đốc (Tổng giám đốc); đối với công ty cổ phần có trên mười một cổ đông phải có Ban kiểm soát Nhìn chung công
ty cổ phần có một số lợi thế nhất định: chế độ trách nhiệm của công ty cổ phần là trách nhiệm hữu hạn, các cổ đông chỉ chịu trách nhiệm về nợ và các nghĩa vụ tài sản khác của công ty trong phạm vi vốn góp nên mức độ rủi do của các cổ đông không cao; Khả năng hoạt động của công ty cổ phần rất rộng, trong hầu hết các lịch vực, ngành nghề; Cơ cấu vốn của công ty cổ phần hết sức linh hoạt tạo điều kiện nhiều người cùng góp vốn vào công ty; Khả năng huy động vốn của công ty cổ phần rất cao thông qua việc phát hành cổ phiếu ra công chúng, đây là đặc điểm riêng có của công ty cổ phần; Việc chuyển nhượng vốn trong công ty cổ phần là tương đối dễ dàng, do vậy phạm vi đối tượng được tham gia công ty cổ phần là rất rộng, ngay cả các cán bộ công chức cũng có quyền mua cổ phiếu của công ty cổ phần
11
Khoản 1 Điều 77 Luật Doanh nghiệp năm 2005
Trang 171.1.3 Vai trò của doanh nghiệp
Sau khi đất nước được thống nhất, Việt Nam với nền nông nghiệp lạc hậu cùng với sự tàn dư của chiến tranh để lại, cuộc sống của người dân gặp nhiều khó khăn, đời sống kinh tế xã hội chậm phát triển Từ khi Đảng và Nhà nước ta đổi mới nền kinh tế theo định hướng xã hội chủ nghĩa với nhiều thành phần kinh tế khác nhau, và cùng với sự ra đời của Luật Doanh nghiệp càng khẳng định hơn vai trò của doanh nghiệp trong tình hình hiện nay Doanh nghiệp là yếu tố cấu thành nền kinh
tế quốc dân, là tế bào của bất kì nền kinh tế nào Trong nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, các doanh nghiệp có vị trí rất lớn đối với sự tác động và phát triển kinh
tế xã hội, biểu hiện ở một số khía cạnh:
Một là, các doanh nghiệp có vai trò quan trọng trong sự tăng trưởng của
nền kinh tế, chúng đóng góp phần quan trọng vào sự gia tăng thu nhập quốc dân Tác động kinh tế xã hội lớn nhất của các doanh nghiệp là giải quyết một số lượng lớn việc làm cho dân cư, làm tăng thu nhập cho người lao động, góp phần xóa đói, giảm nghèo Xét theo luận điểm tạo công ăn việc làm và thu nhập cho người lao động, thì khu vực này vượt trội hơn hẳn các khu vực khác, góp phần giải quyết nhiều vấn đề xã hội bức xúc
Hai là, các doanh nghiệp góp phần làm năng động nền kinh tế Trong cơ
chế thị trường, các hình thức tổ chức kinh doanh có sự kết hợp chuyên môn hóa và
đa dạng hóa mềm dẻo, hòa nhịp với đòi hỏi uyển chuyển của nền kinh tế thị trường cho nên các doanh nghiệp có vai trò to lớn góp phần làm năng động nền kinh tế
Ba là, các doanh nghiệp có vai trò to lớn đối với quá trình chuyển dịch cơ
cấu kinh tế làm cho công nghiệp phát triển mạnh, đồng thời thúc đẩy các nghành thương mại dịch vụ phát triển Các doanh nghiệp còn có vai trò quan trọng trong việc làm thay đổi và đa dạng hóa cơ cấu công nghiệp và góp phấn đáng kể vào công cuộc đô thị hóa
Bốn là, các doanh nghiệp đóng vai trò quan trọng như tự bỏ vốn và huy
động vốn trong xã hội để đầu tư kinh doanh, luôn suy nghĩ để tạo ra ngày càng nhiều sản phẩm mới, dịch vụ đáp ứng nhu cầu ngày càng cao, đa dạng của xã hội, góp phần giải quyết những vấn đề của xã hội, nhất là nơi có sức ép lớn về dân số như nước ta hiện nay, tạo nguồn tích lũy cho bản thân doanh nghiệp và cho Nhà nước
Năm là, doanh nghiệp vừa thực hiện nhiệm vụ xã hội vừa phải đồng thời tổ
chức các hoạt động kinh tế với mục tiêu tìm kiếm lợi nhuận làm ăn có lãi và trách
Trang 18nhiệm thực hiện các chính sách xã hội Nhà nước giao Doanh nghiệp không chỉ hoạt động vì mục tiêu lợi nhuận là chủ yếu mà còn hoạt động vì lợi ích công cộng như sản xuất cung ứng dịch vụ công cộng theo các chính sách của Nhà nước hoặc trực tiếp làm nhiệm vụ an ninh quốc phòng
Qua đó, chúng ta nhận ra rằng, doanh nghiệp đóng vai trò vô cùng quan trọng đối với nền kinh tế và sự phát triển của xã hội Để đảm bảo duy trì sự tăng trưởng cho hoạt động của doanh nghiệp thì vốn là một yếu tố cực kì quan trọng, đòi hỏi các tổ chức, cá nhân phải thực hiện góp vốn để hình thành tài sản cho doanh nghiệp
1.2 Góp vốn thành lập doanh nghiệp
Khi nền sản xuất hàng hóa đã phát triển đến một mức độ nhất định, để
mở mang kinh doanh, các nhà kinh doanh cần phải có nhiều vốn Vốn là số tiền mà công ty nắm trong tay và trong suốt thời gian tồn tại của nó để thực hiện công việc kinh doanh của mình.12 Để đáp ứng nhu cầu vốn cho kinh doanh, các nhà kinh doanh phải liên kết với nhau Trên cơ sở vốn và sự tin tưởng lẫn nhau, họ đã liên kết theo những hình thức nhất định và tạo ra mô hình tổ chức kinh doanh mới
1.2.1 Khái niệm góp vốn thành lập doanh nghiệp
Khoản 4 Điều 4 Luật Doanh nghiệp năm 2005 quy định “Góp vốn là việc đưa tài sản vào công ty để trở thành chủ sở hữu hoặc các chủ sở hữu chung của công ty Tài sản góp vốn có thể là tiền Việt Nam, ngoại tệ tự do chuyển đổi, vàng, giá trị quyền sử dụng đất, giá trị quyền sở hữu trí tuệ, công nghệ, bí quyết kỹ thuật, các tài sản khác ghi trong Điều lệ công ty do thành viên góp để tạo thành vốn của công ty” Trong các hình thức tổ chức kinh doanh thì các loại hình doanh nghiệp
(trừ công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên, doanh nghiệp tư nhân) được hình thành trên cơ sở sự liên kết góp vốn của một hai hay nhiều thành viên Thủ tục góp vốn được thực hiện trên cơ sở định giá tài sản góp vốn và chuyển quyền sở hữu góp vốn Nguyên tắc cơ bản của việc góp vốn thành lập doanh nghiệp là: nhất trí, không được rút vốn trực tiếp và thực hiện đầy đủ thủ tục theo quy định của Luật Doanh nghiệp.13
12
Nguyễn Ngọc Bích, Nguyễn Đình Cung, Công ty vốn, quản lý và tranh chấp, NXB Tri thức, năm 2009,
trang 123
13 Nguyễn Thị Vân Anh, Thực tiễn giải quyết tranh chấp phát sinh trong quá trình thực hiện pháp luật doanh
nghiệp và một số đề xuất nhằm hoàn thiện Luật doanh nghiệp”, Tạp chí Luật học số 9/2010, tr 3
Trang 19Nếu xét trên phương diện kinh tế: góp vốn là vệc tạo ra tài sản cho công ty
nhằm đảm bảo thực hiện các hoạt động kinh doanh theo mục đích đã đăng kí của doanh nghiệp và bảo vệ quyền lợi của các chủ nợ trong trường hợp công ty bị phá sản Ở khía cạnh này, việc góp vốn hay hùng vốn cũng là việc nhiều người cùng góp nguồn lực của mình để tạo nên một nguồn lực chung lớn hơn nhằm thực hiện ý
tưởng kinh doanh
Xét ở góc độ pháp lý: góp vốn là hành vi chuyển giao tài sản, tức là chuyển
giao các quyền tài sản đối với tài sản là vốn góp để đổi lấy quyền lợi đối với công
ty Nghĩa vụ đối ứng giữa những người thành lập công ty và công ty khác với nghĩa
vụ đối ứng giữa các bên trong quan hệ cho thuê mua bán ở chổ quyền lợi của người
bỏ tiền ra nhận lại được là một thứ quyền đặc biệt đó là quyền sở hữu công ty Một khía cạnh pháp lý quan trọng khác của việc góp vốn thành lập doanh nghiệp là hành
vi góp vốn làm thay đổi chủ thể quyền sở hữu Những tài sản thuộc sở hữu của cá nhân, tổ chức khi đem góp vốn vào công ty theo những phương thức nhất định thì phần vốn góp đó đã được chuyển dịch thành sở hữu của công ty và công ty với tư cách là chủ sở hữu có toàn quyền chi phối đối với những tài sản thuộc sở hữu của
công ty
Như vậy không chỉ có tài sản hữu hình được pháp luật cho phép góp vốn
mà tài sản vô hình cũng được thực hiện việc góp vốn Khi góp vốn vào công ty, những người tham gia góp vốn có quyền tham gia quản lý công ty và quyền được phân chia lợi nhuận của công ty Các doanh nghiệp muốn thành công trên thị trường không chỉ sử dụng các tài sản hữu hình trong sản xuất kinh doanh mà phải biết kết hợp giữa tài sản vô hình và hữu hình Các loại tài sản được phép góp vốn thành lập doanh nghiệp phải không được trái với pháp luật Việt Nam
1.2.2 Chủ thể và tài sản góp vốn thành lập doanh nghiệp
Luật Doanh nghiệp năm 2005 phân chia hai đối tượng nhà đầu tư, bao gồm: người được quyền thành lập và quản lý doanh nghiệp và người chỉ được quyền góp vốn vào doanh nghiệp Về nguyên tắc, người được quyền thành lập và quản lý doanh nghiệp thì đương nhiên được quyền góp vốn; không có quyền thành lập và quản lý doanh nghiệp thì vẫn có thể có quyền góp vốn Đối với nhà đầu tư chỉ được quyền góp vốn thì cũng không phải họ được quyền góp vốn vào mọi loại hình doanh nghiệp, điều này có nghĩa là có những loại hình tổ chức kinh doanh không có nhà đầu tư chỉ đơn thuần là người góp vốn Vốn là yếu tố cơ bản đầu tiên mà thành viên công ty quan tâm đến, là điều kiện không thể thiếu được đối với bất kỳ một
Trang 20nhà đầu tư nào, khi họ muốn trở thành thành viên công ty Vốn là điều kiện bắt buộc để công ty ra đời, nó là nội dung vật chất để công ty tồn tại và phát triển Theo đó, tất cả các tổ chức là pháp nhân, bao gồm cả doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, không phân biệt nơi đăng ký trụ sở chính và mọi cá nhân không phân biệt quốc tịch và nơi cư trú, nếu không thuộc đối tượng quy định tại Khoản 4 Điều 13 của Luật Doanh nghiệp năm 2005 đều có quyền góp vốn, mua cổ phần với mức không hạn chế tại doanh nghiệp theo quy định tương ứng của luật này.14
Cụ thể điều luật quy định như sau “Tổ chức, cá nhân sau đây không được mua cổ phần của công ty cổ phần, góp vốn vào công ty trách nhiệm hữu hạn, công
ty hợp danh theo quy định của luật này:
Cơ quan nhà nước, đơn vị lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam sử dụng tài sản nhà nước góp vốn vào doanh nghiệp để thu lợi riêng cho cơ quan, đơn vị mình;
Các đối tượng không được góp vốn vào doanh nghiệp theo quy định của pháp luật về cán bộ, công chức”
Người đứng đầu, cấp phó của người đứng đầu cơ quan, vợ hoặc chồng của những người đó không được góp vốn vào doanh nghiệp hoạt động trong phạm vi ngành, nghề mà người đó trực tiếp thực hiện việc quản lý nhà nước
Cụ thể, vấn đề về chủ thể góp vốn sẽ được người viết phân tích sâu hơn ở chương 2 của đề tài
Thành lập doanh nghiệp là giai đoạn đầu tiên trong quá trình hiện thực hóa ý
tưởng kinh doanh Trong đó, yếu tố vốn được đặt lên hàng đầu Đòi hỏi những người khởi sự thành lập doanh nghiệp phải góp vào Trong thực tiễn có nhiều hình thức góp vốn, chính xuất phát từ sự đa dạng của hình thức góp vốn mà đòi hỏi sự điều chỉnh cách thức tiến hành quan hệ chuyển dịch vốn góp vào công ty cũng đa dạng và phải phù hợp với từng hình thức cụ thể Các thành viên phải lựa chọn hình thức góp vốn cụ thể không trái với quy định của pháp luật và được ghi tại hợp đồng thành lập công ty Theo Luật Doanh nghiệp thì tài sản góp vốn có thể là tiền Việt Nam, ngoại tệ tự do chuyển đổi, vàng, giá trị quyền sử dụng đất, giá trị quyền sở hữu trí tuệ, công nghệ, bí quyết kỹ thuật, các tài sản khác ghi trong Điều lệ công ty
do thành viên góp để tạo thành vốn của công ty
14
Khoản 3 Điều 13 Luật Doanh nghiệp năm 2005
Trang 21Theo Nghị định Chính phủ số 102/2010/NĐ-CP ngày 01/10/2010 hướng dẫn chi tiết một số điều của Luật Doanh nghiệp (sau đây gọi tắt là Nghị định 102)
Tại Điều 5 quy định “Quyền sở hữu trí tuệ được sử dụng để góp vốn bao gồm quyền tác giả, quyền liên quan đến quyền tác giả, quyền sở hữu công nghiệp, quyền đối với giống cây trồng và các quyền sở hữu trí tuệ khác theo quy định của pháp luật sở hữu trí tuệ Chỉ cá nhân, tổ chức là chủ sở hữu đối với các quyền nói trên mới có quyền sử dụng các tài sản đó để góp vốn Bộ Tài chính hướng dẫn việc định giá góp vốn bằng quyền sở hữu trí tuệ”
Khi đã cam kết góp vốn thành lập công ty thì các thành viên đã tự ràng buộc mình vào các quyền lợi và nghĩa vụ nhất định từ việc góp vốn đó Và tài sản của công ty cũng được hình thành từ sự đóng góp của các thành viên Tài sản không những là phương tiện kinh doanh mà còn là vật bảo đảm cho các sự cam kết của
doanh nghiệp Tại Điều 163 Bộ Luật dân sự năm 2005 có nêu “Tài sản bao gồm vật, tiền, giấy tờ có giá và các quyền tài sản” Song theo quan niệm chung, người ta
có thể hiểu được rằng tài sản bao gồm hai loại là vật và quyền
Suy cho cùng thì tài sản vẫn là yếu tố quan trọng nhất của mỗi doanh nghiệp, bởi không có tài sản thì doanh nghiệp không thể hoạt động được Về nguyên tắc, mọi tài sản đều có thể đem góp làm vốn vào công ty, tuy nhiên còn lệ thuộc vào từng sự thỏa thuận cụ thể giữa các thành viên trong công ty với nhau Tài sản góp vốn có thể thuộc bất kể dạng nào: vật chất liệu hay các quyền vô hình, với điều kiện các tài sản này phải là các tài sản có thể được chuyển giao trong giao lưu dân sự một cách hợp pháp Hơn thế nữa, bản thân của góp vốn đã là một hành vi chuyển giao tài sản Do đó phải tuân thủ những quy tắc chung có liên quan đến chuyển giao tài sản Căn cứ vào việc chuyển giao, người ta chia các hình thức góp vốn bằng tài sản thành một số loại để nghiên cứu như sau: tiền mặt bao gồm tiền Việt Nam, ngoại tệ tự do chuyển đổi, vàng; góp vốn bằng vật; và các quyền tài sản gồm giá trị quyền sử dụng đất, quyền sở hữu trí tuệ
Như đã đề cập thì ngoài các loại tài sản nêu trên thì các tài sản khác vẫn được phép tham gia góp vốn nếu được quy định trong Điều lệ công ty Các tài sản này có thể là năng lực kinh doanh, công sức, tri thức, năng lực quản lý, uy tín trên thương trường, hệ thống khách hàng hay các loại giấy tờ có giá như cổ phiếu, trái phiếu…Những loại tài sản này cũng có thể được mang góp vốn vào công ty nếu được các thành viên, cổ đông nhất trí chấp nhận
Trang 221.3 Các nguyên tắc của việc góp vốn
Tài sản đóng vai trò như là thước đo hiệu quả kinh doanh, sức cạnh tranh
và khả năng phát triển của doanh nghiệp trong tương lai Bằng việc phát triển và sở hữu thật nhiều tài sản thì uy tín và vị thế của doanh nghiệp được mở rộng, khả năng cạnh tranh, và doanh thu của doanh nghiệp được nâng cao Vì vậy, vấn đề góp vốn thành lập doanh nghiệp phải được thực hiện trong khuôn khổ pháp luật cho phép và phải theo một trình tự với những nguyên tắc nhất định
Tài sản góp vốn khi thành lập doanh nghiệp phải được các thành viên, cổ đông sáng lập “nhất trí” chấp nhận.15 Một doanh nghiệp muốn phát triển phải có sự đóng góp tài sản, công sức của tất cả các thành viên sáng lập Cùng nhau bàn bạc, thỏa thuận, thống nhất trong mọi vấn đề, điều này cũng là kim chỉ nam cho mọi hoạt động của doanh nghiệp sau này Việc chấp nhận một chủ thể, một loại tài sản cho việc góp vốn phải được sự nhất trí của tất cả các thành viên sáng lập, thì tài sản
đó mới hợp pháp và phù hợp với nội dung điều lệ của công ty Bởi sự thành bại của một doanh nghiệp không chỉ do một cá nhân quyết định, và chịu trách nhiệm, ở đây
là cả một tổ chức cùng chịu trách nhiệm Trong nội bộ doanh nghiệp cần phải có sự đồng thuận như vậy mới giúp cho những công việc của doanh nghiệp được giải quyết một cách tốt nhất, mọi khó khăn sẽ được giải quyết một cách nhanh chóng Nguyên tắc nhất trí ở đây không chỉ có việc chấp nhận cho một chủ thể nào đó góp vốn và chấp nhận một loài tài sản nào đó trở thành tài sản của doanh nghiệp mà còn thể hiện thông qua trong vấn đề định giá tài sản góp vốn Pháp luật quy định việc
“nhất trí” là muốn cho các thành viên trong doanh nghiệp tự kiểm soát lẫn nhau, tránh những nghĩa vụ tài sản phát sinh do có sự bao che và gian lận trong nội bộ doanh nghiệp
Tài sản đem góp vốn phải được định giá để xác định giá trị, việc định giá tài sản với mục đích xác định nguồn vốn đóng góp của thành viên là chủ sở của tài sản và ghi nhận tỉ lệ góp vốn Quy định việc định giá tài sản trước khi trở thành tài sản của doanh nghiệp là quy định chung của Luật Doanh nghiệp năm 2005, việc định giá sẽ giúp xác định giá trị tài sản thực có của doanh nghiệp, nếu có những nghĩa vụ tài sản phát sinh thì doanh nghiệp sẽ dựa vào nguồn vốn hiện có mà giải quyết Tuy nhiên đối với loại hình công ty TNHH một thành viên và doanh nghiệp
tư nhân sẽ do một cá nhân đứng ra chịu trách nhiệm (chủ doanh nghiệp hay người đại diện theo pháp luật) nếu việc định giá không đúng với thực tế khách quan Còn
15
Khoản 2, Điều 30, Luật Doanh nghiệp năm 2005
Trang 23đối với loại hình doanh nghiệp khác (trừ công ty TNHH một thành viên và doanh nghiệp tư nhân) đều dựa trên sự hùn vốn của các thành viên sáng lập Vì vậy, việc định giá xác định nguồn vốn góp của các thành viên là chủ sở hữu tài sản vô cùng quan trọng Việc xác định đó phải thông qua hình thức định giá, bởi vì sau khi định giá hoàn tất thì sẽ xác định được phần tài sản của các thành viên góp vào có giá trị thực tế là bao nhiêu Định giá cũng giúp cho doanh nghiệp dễ phân chia lợi nhuận cho các thành viên sáng lập khi dựa vào tỷ lệ phần trăm giá trị tài sản mà thành viên
đó góp vào doanh nghiệp
Luật Doanh nghiệp năm 2005 quy định: “Tài sản góp vốn trong quá trình hoạt động do doanh nghiệp và người góp vốn thoả thuận định giá hoặc do một tổ chức định giá chuyên nghiệp định giá Trường hợp tổ chức định giá chuyên nghiệp định giá thì giá trị tài sản góp vốn phải được người góp vốn và doanh nghiệp chấp thuận; nếu tài sản góp vốn được định giá cao hơn giá trị thực tế tại thời điểm góp vốn thì người góp vốn hoặc tổ chức định giá và người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp cùng liên đới chịu trách nhiệm đối với các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của công ty bằng số chênh lệch giữa giá trị được định và giá trị thực tế của tài sản góp vốn tại thời điểm kết thúc định giá”.16 Nếu ngay từ ban đầu, tất cả các thành viên, cổ đông đều thống nhất chấp nhận thì việc sau này có phát sinh các nghĩa vụ tài sản sẽ do tất cả các thành viên, cổ đông của doanh nghiệp chịu trách nhiệm Việc định giá loại tài sản này phải do các tổ chức chuyên nghiệp chuyên định giá đảm nhận Việc góp vốn bằng các tài sản thông thường khác thì chỉ cần có
sự đồng thuận của tất cả các thành viên của doanh nghiệp sau khi định giá xác định giá trị của tài sản đó Còn đối với tài sản sở hữu trí tuệ lại khó khăn hơn vì đây là loại tài sản vô hình và đó cũng là một khó khăn cho các doanh nghiệp của nước ta trong việc xác định giá trị tài sản trí tuệ một cách khách quan Hiện nay, nước ta đã
có những tổ chức chuyên định giá về tài sản sở hữu trí tuệ cho doanh nghiệp, nhưng cho đến thời điểm này vẫn chưa có những chế định cụ thể quy định cho vấn đề này cũng như thế nào gọi là chuyên nghiệp, sự chuyên nghiệp đó bao hàm cho tất cả, có nghĩa là vừa định giá cho tài sản hữu hình vừa định giá cho tài sản vô hình được hay không, cơ chế nào đảm bảo cho tính chân thật khi định giá tài sản sở hữu trí tuệ Vấn đề này vẫn còn là một vướng mắc lớn cho các doanh nghiệp khi tiến hành định giá tài sản góp vốn
16
Khoản 3 Điều 30 Luật Doanh nghiệp năm 2005
Trang 24Các tài sản phải được định giá như nhau về giá trị khi thực hiện góp vốn, trong vấn đề góp vốn bất kể đó là loại tài sản gì nếu đã được pháp luật ghi nhận và được sự chấp thuận của các thành viên sáng lập doanh nghiệp thì tất cả các tài sản
có vị trí ngang bằng nhau Chúng được quy về một đơn vị chung để đo lường giá trị
và để tiện đánh giá cho số vốn đóng góp của mỗi thành viên Đối với các tài sản hữu hình thì giá trị của chúng được thể hiện cụ thể rõ ràng còn tài sản vô hình thì việc xác định khó khăn hơn là phải nhờ đến các tổ chức chuyên nghiệp để định giá sau đó phải được sự thống nhất của các thành viên, cổ đông sáng lập Trong một doanh nghiệp có rất nhiều tài sản vô hình và hữu hình khác nhau nên cần có sự đánh giá công bằng về giá trị góp vốn Công bằng ở đây không có nghĩa là tất các tài sản
dù lớn hay nhỏ, vô hình hay hữu hình đều ngang bằng nhau trong khi thực hiện góp vốn Trường hợp này còn xét đến nhiều khía cạnh là công dụng khai thác, khả năng sinh lời, đặc tính lý hóa… Việc đánh giá như nhau về các loại tài sản là việc không phân biệt vô hình hay hữu hình, nếu đã được chấp nhận góp vốn thì cần có sự công bằng về tính chất tài sản, công nhận giá trị hữu ích
1.4 Pháp luật điều chỉnh về vấn đề góp vốn thành lập doanh nghiệp
Một hệ thống pháp luật hoàn thiện, thông thoáng và định hướng đúng đắn
sẽ giúp cho nền kinh tế phát triển nhanh chóng, phù hợp với tiến trình hội nhập kinh
tế thế giới Vì lẽ đó, pháp luật nước ta luôn đổi mới và hoàn thiện để tạo hành lang pháp lý an toàn cho các nhà doanh nghiệp trong và ngoài nước Việc điều chỉnh pháp luật đối với các quan hệ về Luật doanh nghiệp nói chung và quan hệ về việc góp vốn thành lập doanh nghiệp nói riêng được xác định trong hệ thống pháp luật Việt Nam và những điều ước quốc tế mà Việt Nam đã tham gia ký kết hoặc gia nhập Các văn bản pháp luật Việt Nam trong thời gian qua về việc góp vốn thành lập doanh nghiêp có thể chia thành nhiều nhóm, nhóm về pháp luật quốc gia và nhóm về các điều ước quốc tế mà Việt Nam đã tham gia ký kết hoặc gia nhập Bên cạnh đó các tập quán quốc tế trong giao thương buôn bán lâu đời của thương mại quốc tế cũng được nhà nước ta công nhận để điều chỉnh về việc góp vốn thành lập doanh nghiệp
Theo những nguyên tắc hiến định của Hiến pháp năm 1992, cụ thể tại Điều
57 nêu rõ “Công dân có quyền tự do kinh doanh theo quy định của pháp luật”, có
quyền sở hữu về thu nhập hợp pháp, của cải để dành, nhà ở, tư liệu sinh hoạt, vốn
và tài sản khác trong doanh nghiệp hoặc trong các tổ chức kinh tế khác.17 Đồng thời, Hiến pháp cũng quy định doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế được
17
Điều 58 Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992
Trang 25liên doanh, liên kết với các tổ chức kinh tế trong nước và ngoài nước, được bình đẳng với nhau trước pháp luật, có quyền hợp tác và cạnh tranh với nhau một cách lành mạnh
Pháp luật về góp vốn thành lập doanh nghiệp bao gồm tổng thể những quy định về thành lập công ty, thỏa thuận góp vốn, các phương thức góp vốn, nghĩa vụ góp vốn, quyền lợi từ việc góp vốn … Những quy định này liên quan tới nhiều ngành luật Các đạo luật như: Bộ luật dân sự, Luật Doanh nghiệp, Luật Thương mại… và nhiều đạo luật khác là cơ sở pháp lý cho hoạt động góp vốn thành lập công ty
Nhìn lại vấn đề góp vốn để thành lập doanh nghiệp theo Luật Doanh nghiệp tư nhân năm 1990 và Luật công ty năm 1990 có thể thấy các văn bản pháp luật hiện nay quy định về thủ tục góp vốn để thành lập doanh nghiệp có những bước tiến nhảy vọt Cụ thể, trong những năm đầu đổi mới, khi pháp luật nước ta bắt đầu thừa nhận kinh tế tư nhân tồn tại song song bình đẳng với kinh tế quốc doanh và kinh tế tập thể, việc góp vốn để thành lập doanh nghiệp vô cùng chặt chẽ Các tài sản góp vốn để thành lập doanh nghiệp cũng còn hạn chế Trong giai đoạn này, nước ta vừa chuyển sang nền kinh tế thị trường, thành phần kinh tế tư nhân mới được tự do hoạt động và cạnh tranh bình đẳng với nhau cũng như các thành phần kinh tế khác, hơn nữa kinh nghiệm quản lý thành phần kinh tế này của hệ thống cơ quan Nhà nước chưa nhiều và chưa thật sâu sát Lúc này, chúng ta chưa thấy được tầm quan trọng của giá trị của tài sản đem góp vốn mà nó mang lại cho một doanh nghiệp như hiện nay
Đến Luật Doanh nghiệp năm 1999 thì tư duy về quản lý nhà nước thông qua thủ tục góp vốn thành lập doanh nghiệp có sự thay đổi căn bản đã tạo điều kiện cho các nhà kinh doanh làm những gì mà pháp luật không cấm Trước đây, pháp luật cho phép góp vốn bằng các quyền tài sản hữu hình cụ thể nhưng đến khi Luật Doanh nghiệp 1999 ra đời, pháp luật quy định thêm một chế định đó là cho phép góp vốn bằng các tài sản vô hình có tiềm năng phát triển kinh tế và tìm kiếm lợi nhuận Luật Doanh nghiệp 1999 ra đời đánh dấu bước ngoặc cho doanh nghiệp những quy định mới và góp phần tạo ra những điều kiện thuận lợi hơn cho các chủ thể kinh doanh chủ động trong việc tìm kiếm đối tác kinh doanh Có thể nói văn bản pháp luật này đã tạo bước ngoặc quan trọng để các nhà kinh doanh Việt Nam thực
sự có điều kiện để thực thi quyền tự do kinh doanh và tạo điều kiện cho nền kinh tế phát triển dựa trên nền tảng của tri thức Luật Doanh nghiệp năm 1999 quy định các
tài sản được phép góp vốn bao gồm: “Tài sản để góp vốn có thể là tiền Việt Nam,
Trang 26ngoại tệ tự do chuyển đổi, vàng, giá trị quyền sử dụng đất, giá trị quyền sở hữu trí tuệ, công nghệ, bí quyết kỹ thuật, các tài sản khác ghi trong Điều lệ công ty do thành viên góp để tạo thành vốn của công ty”18 Luật Doanh nghiệp năm 1999 cũng
đã ghi nhận hình thức góp vốn bằng quyền sở hữu trí tuệ Tuy nhiên, chế định góp vốn bằng quyền sở hữu trí tuệ được quy định nhưng không có văn bản nào hướng dẫn cụ thể và rõ ràng, cho nên các chủ thể kinh doanh cũng như chủ thể góp vốn vẫn còn rất mơ hồ về vấn đề này Pháp luật chỉ quy định như thế nhưng không nêu
rõ giá trị quyền sở hữu trí tuệ như thế nào được phép góp vốn và những loại quyền
sở hữu trí tuệ nào được góp vốn, và góp như thế nào, ai được quyền góp vốn bằng quyền sở hữu trí tuệ
Luật Doanh nghiệp năm 2005 có đưa ra khái niệm về góp vốn thành lập
công ty, theo đó “Góp vốn là việc đưa tài sản vào công ty để trở thành chủ sở hữu hoặc các chủ sở hữu chung của công ty Tài sản góp vốn có thể là tiền Việt Nam, ngoại tệ tự do chuyển đổi, vàng, giá trị quyền sử dụng đất, giá trị quyền sở hữu trí tuệ, công nghệ, bí quyết kỹ thuật, các tài sản khác ghi trong Điều lệ công ty do thành viên góp để tạo thành vốn của công ty”
Kế thừa và phát huy những bước tiến của Luật Doanh nghiệp năm 1990 mang lại, Luật Doanh nghiệp năm 2005 đã có những quy định rõ ràng hơn về việc góp vốn thành lập doanh nghiệp Theo đó, Luật doanh nghiệp năm 2005 coi góp vốn là việc dịch chuyển tài sản từ người góp vốn sang cho công ty để trở thành chủ
sở hữu của công ty Đồng thời, luật doanh nghiệp cũng quy định cụ thể tài sản góp vốn bao gồm những loại nào Tuy nhiên dùng phương pháp liệt kê có thể dẫn tới sự không đầy đủ, do vậy, luật doanh nghiệp có quy định mở là ngoài các tài sản đã liệt
kê thì các tài sản khác ghi trong Điều lệ công ty cũng được coi là tài sản góp vốn
Luật Doanh nghiệp năm 2005 chỉ đề cập đến việc góp vốn thành lập công
ty bằng tài sản và liệt kê các loại tài sản Còn tài sản là gì, các loại tài sản như thế nào và việc thực hiện góp vốn bằng tài sản, chuyển giao vốn góp như thế nào thì đòi hỏi phải có sự quy định về tài sản và quyền sở hữu trong Bộ Luật Dân sự năm 2005
Có thể nói nhà nước ta ngày càng có quan điểm thông thoáng, cởi mở tạo điều kiện hết sức thuận lợi cho các chủ thể tiến hành thành lập doanh nghiệp, tôn trọng triệt để quyền tự do kinh doanh trong khuôn khổ pháp luật Điều này được thể hiện ở nhiều chế định pháp luật về tổ chức, hoạt động các loại hình doanh nghiệp, trong đó chế định về góp vốn thành lập doanh nghiệp là chế định cơ bản, thể hiện rõ
18
Khoản 4 Điều 3 Luật Doanh nghiệp năm 1999
Trang 27tư tưởng này Thủ tục góp vốn thành lập doanh nghiệp của Việt Nam được ghi nhận
cụ thể ở Luật Doanh nghiệp năm 2005, Nghị định 102 Riêng vấn đề góp vốn thành lập doanh nghiệp bằng quyền sở hữu trí tuệ không được quy định nhiều trong các văn bản pháp luật, quyền sở hữu trí tuệ là tài sản vô hình nhưng nó cũng là một loại tài sản mang giá trị kinh tế cao và được pháp Luật cho phép góp vốn cho nên cần có nhiều quy định hơn nữa Thủ tục quy định việc góp vốn thành lập doanh nghiệp có thể kể đến các văn bản chủ yếu nói nhiều về thủ tục góp vốn đối với các tài sản nói chung được ghi nhận trong các văn bản pháp luật như: Luật Sở hữu trí tuệ năm
2005 sửa đổi bổ sung năm 2009, Luật Doanh nghiệp năm 2005, Nghị định 102, Nghị định chính phủ số 43/2010/NĐ-CP ngày 15/04/2010 về đăng ký doanh nghiệp (sau đây gọi tắt là Nghị định 43), thông tư của Bộ kế hoạch đầu tư số 14/2010/TT-BKH ngày 04/6/2010 hướng dẫn một số nội dung về hồ sơ, trình tự, thủ tục đăng ký doanh nghiệp theo quy định của Nghị định 43 và một số văn bản pháp luật chuyên ngành khác
Mặc dù có những bước tiến căn bản so với thủ tục góp vốn thành lập doanh nghiệp trước đây nhưng đứng trước yêu cầu phát triển của xã hội và các yêu cầu cải cách hành chính là giảm bớt các thủ tục phiền hà và tạo điều kiện thuận lợi cho các chủ thể thực hiện quyền kinh doanh, Luật Doanh nghiệp năm 2005, Nghị định 102, Nghị định 43, Thông tư số 14/2010/TT-BKH đã quy định cụ thể hơn nữa về vấn đề góp vốn thành lập doanh nghiệp
Với tốc độ phát triển kinh tế không ngừng của Việt Nam hiện nay, có rất nhiều doanh nghiệp ra đời và hoạt động ở rất nhiều lĩnh vực khác nhau của đời sống
xã hội Hiểu được nguyện vọng và ước mơ khởi nghiệp ấy, pháp luật Việt Nam đã
có những quy chế pháp lý riêng giành cho vấn đề thành lập doanh nghiệp, mà trong
đó, không thể thiếu khía cạnh góp vốn thành lập doanh nghiệp Ở chương 2 của luận văn, người viết sẽ phân tích cụ thể những quy định của pháp luật trong lĩnh vực này
Trang 28
CHƯƠNG 2 QUY CHẾ PHÁP LÝ CỦA VIỆC GÓP VỐN THÀNH LẬP
DOANH NGHIỆP
2.1 Chủ thể có quyền góp vốn thành lập doanh nghiệp
So với đối tượng được phép thành lập và tham gia quản lý doanh nghiệp thì đối tượng được quyền góp vốn vào doanh nghiệp mở rộng hơn Theo đó, các đối tượng có quyền thành lập và quản lý doanh nghiệp thì có quyền góp vốn vào doanh nghiệp Tuy nhiên, không phải mọi nhà đầu tư được quyền góp vốn thì cũng có quyền thành lập và quản lý doanh nghiệp Có một số nhà đầu tư chỉ có thể tham gia góp vốn mà không thể tham gia quản lý doanh nghiệp
Mặt khác, có quyền thành lập doanh nghiệp hay góp vốn, không có nghĩa là
có thể thành lập được tất cả mọi loại hình doanh nghiệp hay góp vốn vào tất cả các doanh nghiệp Đây chỉ là tiêu chuẩn chung, còn đối với từng loại hình cụ thể lại có yêu cầu và đặc điểm riêng
Luật Doanh nghiệp năm 2005 phân chia hai đối tượng nhà đầu tư là các nhà đầu tư được quyền thành lập, quản lý doanh nghiệp và nhà đầu tư có quyền góp vốn vào doanh nghiệp
2.1.1 Chủ thể có quyền thành lập và quản lý doanh nghiệp
Tất cả tổ chức là pháp nhân, bao gồm cả doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam, không phân biệt nơi đăng ký trụ sở chính và mọi cá nhân không phân biệt nơi cư trú và quốc tịch, đều có quyền thành lập, tham gia quản lý doanh nghiệp tại Việt Nam, trừ các trường hợp sau:19
Một là, cơ quan Nhà nước, đơn vị lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam
sử dụng tài sản Nhà nước để thành lập doanh nghiệp kinh doanh thu lợi riêng cho
cơ quan đơn vị mình.20 Điều này còn còn có nghĩa là Luật Doanh nghiệp năm 2005 không cấm tất cả các cơ quan Nhà nước hay lực lượng vũ trang thành lập doanh nghiệp mà chỉ cấm các đối tượng này khi họ có sử dụng tài sản Nhà nước và công quỹ nhằm mục đích thành lập doanh nghiệp kinh doanh để thu lợi riêng cho cơ quan đơn vị mình
Trang 29Khái niệm thu lợi riêng được giải thích tại Khoản 3 Điều 14 Nghị định 102
đó là việc “Cơ quan Nhà nước, đơn vị lực lượng vũ trang sử dụng thu nhập dưới mọi hình thức có được từ hoạt động kinh doanh, từ góp vốn, mua cổ phần vào ít nhất một trong các mục đích:
Chia dưới mọi hình thức cho một số cán bộ, nhân viên của cơ quan đơn vị mình
Bổ sung vào ngân sách của cơ quan đơn vị mình trái với quy định của pháp luật về ngân sách Nhà nước
Lập quỹ hoặc bổ sung vào quỹ phục vụ lợi ích riêng của cơ quan, đơn vị mình”
Điều đó có nghĩa là nếu cơ quan Nhà nước, đơn vị lực lượng vũ trang nhân dân không thuộc trường hợp thu lợi riêng như giải thích trên thì vẫn có quyền thành lập hoặc góp vốn vào doanh nghiệp Đó cũng là lý do giải thích vì sao hiện ở Việt Nam tồn tại nhiều doanh nghiệp mà chủ sở hữu là các cơ quan Nhà nước, đơn vị vũ trang nhân dân
Hai là, cán bộ, công chức theo quy định của pháp luật về cán bộ công chức
Theo Khoản 1 Điều 4 Luật Cán bộ công chức năm 2008 thì thuật ngữ cán
bộ được hiểu như sau “Cán bộ là công dân Việt Nam, được bầu cử, phê chuẩn bổ nhiệm, giữ chức vụ chức danh theo nhiệm kỳ trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, tổ chức chính trị - xã hội ở cấp tỉnh, cấp huyện trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách Nhà nước”
Còn thuật ngữ công chức được định nghĩa tại Khoản 2 Điều 4 Luật Cán bộ
công chức “Công chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào nghạch, chức vụ, chức danh trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện, trong cơ quan đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp và trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội”
Việc cấm cán bộ, công chức thành lập và tham gia góp vốn vào doanh nghiệp là điều hết sức bình thường không chỉ với Việt Nam mà nhiều quốc gia trên thế giới cũng có quy định tương tự Thực ra, quy định này nhằm mục đích tách bạch
Trang 30việc của Nhà nước và việc của nhân dân, phù hợp với các quy định hiện hành về phòng chống tham nhũng ở Việt Nam, đồng thời hướng tới nền kinh tế thị trường thực sự bình đẳng và có tính cạnh tranh cao giữa các thành phần kinh tế
Cụ thể, tại Khoản 1 Điều 37 Luật Phòng chống tham nhũng năm 2005 của
Việt Nam cũng xác định hành vi bị cấm của cán bộ công chức đó là “Thành lập, tham gia thành lập hoặc tham gia quản lý, điều hành doanh nghiệp tư nhân, công ty TNHH, công ty cổ phần, công ty hợp danh, hợp tác xã, bệnh viện tư, trường học tư
và tổ chức nghiên cứu khoa học tư, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác…”
và người đứng đầu, cấp phó của người đúng đầu cơ quan không được để vợ hoặc chồng, bố, mẹ, con kinh doanh trong phạm vi do mình trực tiếp quản lý.21
Để triển khai quy định trên thì Nghị định 102 /2007/NĐ-CP của Chính phủ
về việc quy định thời hạn không được kinh doanh đối với cán bộ, công chức, viên chức nhà nước sau khi thôi giữ chức vụ trong cơ quan, đơn vị sự nghiệp của nhà nước còn khẳng định, cán bộ, công chức khi không còn giữ chức vụ, bị thôi việc, bị
kỷ luật bằng hình thức thôi việc thì thời hạn không được kinh doanh của họ sau khi
có các quyết định trên được xác định là đối với các bộ, ngành như Bộ Kế hoạch và đầu tư, Bộ Tài chính, Bộ Thương mại, Bộ Tư pháp, Ngân hàng Nhà nước thì thời hạn cấm kinh doanh là từ 12 đến 24 tháng.22
Ba là, cấm sĩ quan, hạ sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc
phòng trong các cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân; sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp trong các cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân thành lập hoặc tham gia thành lập doanh nghiệp
Bốn là, cán bộ lãnh đạo, quản lý nghiệp vụ trong các doanh nghiệp 100%
vốn sở hữu Nhà nước, trừ những trường hợp người được cử làm đại diện theo ủy quyền để quản lý phần vốn góp của Nhà nước tại doanh nghiệp khác
Đối với các trường hợp mà pháp luật quy định là không có quyền thành lập
và quản lý doanh nghiệp là hoàn toàn hợp lý Vì họ là những người đang đảm nhiệm công việc công, có công việc ổn định thường xuyên để đảm bảo cuộc sống,
họ phải tận tâm hết lòng phục vụ xã hội, phục vụ nhân dân nên không thể nào có thời gian thực hiện hoạt động kinh doanh mang tính chất công việc tư nữa Pháp luật không cho những người này thành lập doanh nghiệp là để tránh lạm quyền,
Trang 31ngăn ngừa khả năng vì tư lợi mà lạm dụng quyền hạn của mình để làm phương hại đến lợi ích chung của xã hội
Năm là, người chưa thành niên, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự
hoặc bị mất năng lực hành vi dân sự
Về cơ bản, độ tuổi để cá nhân thành lập và quản lý doanh nghiệp ở Việt Nam là từ 18 tuổi trở lên nhưng kèm theo điều kiện là cá nhân đó phải có khả năng trí tuệ bình thường, không thuộc trường hợp bị hạn chế hay mất năng lực hành vi dân sự theo quy định của pháp luật dân sự Việt Nam Nhưng cũng có trường hợp ngoại lệ, chẳng hạn, đối với thành viên Ban kiểm soát công ty cổ phần thì cá nhân
đó phải 21 tuổi trở lên và có trình độ chuyên môn về kế toán hoặc kiểm toán theo quy định tại Điểm a Khoản 1 Điều 122 Luật Doanh nghiệp năm 2005
Người bị mất năng lực hành vi dân sự là người bị mắc bệnh tâm thần, hoặc mắc các bệnh khác mà không thể nhận thức và làm chủ được hành vi của mình Còn người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự là người nghiện ma túy hoặc các chất kích thích khác dẫn đến phá tán tài sản gia đình, thì theo yêu cầu của người có quyền và lợi ích liên quan, Tòa án tuyên bố cá nhân đó bị hạn chế năng lực hành vi dân sự Chính vì thế, họ không thể thành lập hoặc tham gia góp vốn thành lập doanh nghiệp
là một tất yếu mà pháp luật của nhiều quốc gia đều cấm đoán
Sáu là, người đang chấp hành hình phạt tù hoặc đang bị Tòa án cấm hành
nghề kinh doanh
Đây là một điểm mới của Luật Doanh nghiệp năm 2005 so với các quy định trước đây Luật Doanh nghiệp lại có cách tiếp cận khác theo hướng thông thoáng và đảm bảo quyền tự do kinh doanh triệt để hơn cho công dân bằng quy định quyền thành lập và quản lý doanh nghiệp của cá nhân bị hạn chế trong trường hợp
cá nhân đó đang chấp hành hình phạt tù hoặc bị Tòa án cấm kinh doanh theo quy định của pháp luật hình sự
Bảy là, các đối tượng mà Luật Phá sản năm 2004 cấm thành lập và quản lý
doanh nghiệp, đó là chủ doanh nghiệp tư nhân, thành viên hợp danh của công ty hợp danh, Giám đốc (Tổng giám đốc), Chủ tịch và các thành viên Hội đồng quản trị, Hội đồng thành viên của doanh nghiệp, Chủ nhiệm, các thành viên Ban quản trị hợp tác xã bị tuyên bố phá sản không được quyền thành lập doanh nghiệp, hợp tác
Trang 32xã, không được làm người quản lý doanh nghiệp, hợp tác xã trong thời hạn từ 1 đến
3 năm, kể từ ngày doanh nghiệp, hợp tác xã bị tuyên bố phá sản.23
Tại khoản 1 Điều 94 Luật Phá sản 2004 còn quy định “Người giữ chức vụ Giám đốc, Tổng giám đốc và thành viên Hội động quản trị của công ty, tổng công
ty 100% vốn Nhà nước bị tuyên bố phá sản không được đảm nhiệm chức vụ đó ở bất kỳ doanh nghiệp Nhà nước nào, kể từ ngày công ty, tổng công ty bị tuyên bố phá sản”
2.1.2 Chủ thể có quyền góp vốn vào doanh nghiệp
Quyền góp vốn vào doanh nghiệp của nhà đầu tư là quyền mua cổ phần tại công ty cổ phần, góp vốn vào công ty TNHH, công ty hợp danh, mà nhà đầu tư không phải là cổ đông sáng lập, thành viên sáng lập công ty và cũng không thề tham gai vào công tác quản lý, điều hành công ty Quy định này thể hiện sự tách bạch giữa ba hành vi của nhà đàu tư đó là hành vi thành lập, hành vi quản lý, hành vi góp vốn vào doanh nghiệp là hoàn toàn với thông lệ thế giới và chủ trương phát huy nội lực, tạo điều kiện thu hút đầu tư của Đảng và Nhà nước Việt Nam Chẳng han, đối với cán bộ, công chức họ không được quyền thành lập và quản lý doanh nghiệp, nhưng nếu có nguồn vốn nhàn rỗi thì họ vẫn có thể mua cổ phần của công ty cổ phần trên thị trường chứng khoán mà không bị ngăn cấm là hoàn toàn hợp lý
Chính vì thế mà Khoản 3 Điều 13 Luật Doanh nghiệp năm 2005 xác định
“Tổ chức, cá nhân có quyền mua cổ phần của công ty cổ phần, góp vốn vào công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty hợp danh theo quy định của Luật này, trừ trường hợp
Tổ chức, cá nhân sau đây không được mua cổ phần của công ty cổ phần, góp vốn vào công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty hợp danh theo quy định của Luật này:
Cơ quan nhà nước, đơn vị lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam sử dụng tài sản nhà nước góp vốn vào doanh nghiệp để thu lợi riêng cho cơ quan, đơn vị mình;
Các đối tượng không được góp vốn vào doanh nghiệp theo quy định của pháp luật về cán bộ, công chức.”
Cụ thể là theo Luật Cán bộ công chức năm 2008 và Luật Phòng chống tham nhũng 2005 thì khái niệm cán bộ công chức bị cấm góp vốn ở đây được hiểu theo nghĩa hẹp Đó chỉ bao gồm người đứng đầu cơ quan, vợ hoặc chồng của người
23
Khoản 2 Điều 94 Luật Phá sản năm 2004
Trang 33đó không được góp vốn vào doanh nghiệp hoạt động trong ngành nghề mà người đó trực tiếp quản lý, chứ không cấm toàn bộ cán bộ, công chức như trong quy định về thành lập và quản lý doanh nghiệp
Riêng đối với nhà đầu tư nước ngoài muốn góp vốn vào doanh nghiệp tại Việt Nam thì họ phải tuân thủ nguyên tắc được quy định tại Điều 13 Nghị định 102:
“Tỷ lệ sở hữu của nhà đầu tư Nước ngoài tại các công ty niêm yết thực hiện theo quy định của pháp luật về chứng khoán
Tỷ lệ sở hữu của nhà đầu tư Nước ngoài trong các trường hợp đặc thù
mà luật chuyên ngành điều chỉnh thì áp dụng các quy định của luật chuyên ngành
đó và các quy định pháp luật có liên quan
Tỷ lệ sở hữu của nhà đầu tư Nước ngoài trong các doanh nghiệp 100% vốn Nhà nước cổ phần hóa hoặc chuyển đổi sở hữu theo hình thức khác thực hiện theo pháp luật về cổ phần hóa và chuyển đổi doanh nghiệp 100% vốn Nhà nước
Tỷ lệ sở hữu của nhà đầu tư Nước ngoài trong các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ áp dụng theo Biểu cam kết cụ thể về thương mại dịch vụ theo Nghị định thư gia nhập WTO của Việt Nam”
2.2 Các hình thức góp vốn thành lập doanh nghiệp
2.2.1 Góp vốn bằng tiền
Trong kinh tế và đời sống, tiền là một phương tiện thanh toán, là một chuẩn mực chung để có thể so sánh giá trị của các hàng hóa và dịch vụ nhằm thỏa mãn bản thân và mang tính dễ thu nhận 24 (nghĩa là mọi người đều sẵn sàng chấp nhận sử dụng) và thường được Nhà nước phát hành bảo đảm giá trị bởi các tài sản khác như vàng, kim loại quý, ngoại tệ Trong nền kinh tế thị trường hiện nay, tiền cũng được xem là một hình thức góp vốn thành lập doanh nghiệp quen thuộc và phổ biến đối với các nhà đầu tư trên con đường khởi nghiệp
Theo quy định của Bộ luật dân sự, thì tiền cũng là một loại tài sản Tuy nhiên, trong Bộ luật dân sự lại không có quy định cụ thể thế nào là tiền Việc thiếu vắng quy định này dẫn tới cách hiểu không thống nhất về bản chất pháp lý của tiền
Trong việc góp vốn thành lập doanh nghiệp với hình thức vốn góp là tiền nếu không có sự quy định cụ thể thì có thể dẫn đến việc hiểu khác nhau Vì bản thân tiền cũng là vật, nhưng được tách ra khỏi vật đứng độc lập như một tài sản riêng
24
Tiền, http://vi.wikipedia.org/wiki/Ti%E1%BB%81n, [truy cập ngày 30/10/2012]
Trang 34biệt, có đặc điểm pháp lý khác với vật Có thể liệt kê một số khác biệt giữa tiền và vật như sau
Thứ nhất, đối với vật, mục đích của con người là khai thác công dụng hữu
ích từ chính vật Tuy nhiên, đối với tiền, mục đích của chúng ta không phải khai thác công dụng hữu ích từ bản chất tự nhiên của nó (tiền giấy có thể viết chữ vào tuy nhiên đây không phải là mục đích sử dụng) Chúng ta sự dụng tiền với ba chức năng chính: công cụ thanh toán, công cụ tích lũy, công cụ định giá tài sản khác
Thứ hai, các vật thông thường có thể do rất nhiều chủ thể khác nhau tạo ra,
còn tiền do Nhà nước độc quyền phát hành Việc phát hành tiền được coi là một trong những biểu hiện của chủ quyền và bí mật quốc gia
Thứ ba, vật được xác định số lượng bằng những đơn vị đo lường thông
dụng, còn tiền lại được xác định số lượng thông qua mệnh giá của nó
Như vậy, Bộ luật Dân sự cần có quy định cụ thể về khái niệm tiền Việc đưa ra khái niệm về tiền nhằm thống nhất về bản chất pháp lý của tiền từ đó giúp cho việc thực hiện các giao dịch liên quan đến tiền trong đó có hoạt động góp vốn thành lập công ty với hình thức vốn góp là tiền được thực hiện thuận lợi hơn
Góp vốn bằng tiền là việc cá nhân hay tổ chức đem chuyển một khoản tiền (Việt Nam đồng hay ngoại tệ tự do chuyển đổi, vàng) để góp vốn thành lập công ty
và được hưởng quyền lợi từ sự góp vốn đó Hành vi chuyển dịch chỉ được thực hiện
xong khi nào thành viên góp vốn hoàn thành nghĩa vụ góp tiền
Góp vốn bằng tiền có tính chất giống với việc bỏ tiền ra để mua quyền lợi trong công ty, do tính chất thanh khoản của tiền như vật ngang giá chung của cả nền kinh tế Những người góp vốn ban đầu là những người tạo ra quyền lợi ấy Khi đã cam kết góp mà không góp thì cá nhân hay tổ chức đó sẽ không còn là thành viên của công ty hoặc góp không đúng hạn thì khoản tiền cam kết góp được coi là khoản
nợ của thành viên đó với công ty
Đối với công ty trách nhiệm hữu hạn và công ty hợp danh không được phát hành cổ phiếu thì phương thức góp vốn bằng tiền đòi hỏi phải góp đủ rồi mới tiến hành thành lập công ty Đối với công ty cổ phần có phát hành cổ phần phương thức góp vốn bằng tiền không đòi hỏi những người tham gia đăng kí góp vốn phải đóng
đủ ngay phần của mình trước khi công ty tiến hành đăng kí kinh doanh mà chỉ cần đóng góp trước một phần, phần còn lại được quyền cam kết góp trong một khoảng thời gian khi công ty chính thức đi vào hoạt động
Trang 352.2.2 Góp vốn bằng vật
Góp vốn bằng vật là việc góp vốn bằng quyền sở hữu đối với vật mà có thể là động sản hay bất động sản Hiểu một cách đơn giản thì tài sản tham gia góp vốn có thể là nhà xưởng, công trình xây dựng, máy móc, thiết bị… Về nguyên tắc mọi tài sản là vật đều có thể đem góp vốn thành lập công ty Tuy nhiên, điều này còn lệ thuộc vào sự thỏa thuận cụ thể giữa các thành viên với nhau
Vật đưa vào góp vốn phải là vật được đưa vào giao lưu dân sự một cách hợp pháp đáp ứng đầy đủ ba yêu cầu: vật có thực phải là một bộ phận của thế giới vật chất, phải đem lại lợi ích cho con người, và phải chiếm giữ được
Như vậy, việc góp vốn bằng vật gần giống với việc bán hay đổi vật đó để lấy quyền lợi trong công ty Người góp vốn thu được quyền lợi, còn công ty có được quyền sở hữu đối với vật Vật đem góp vốn phải là tài sản được phép giao dịch Vật phải được xác định rõ, chất lượng của vật do các bên thỏa thuận Nếu các bên không có thỏa thuận và pháp luật không quy định, thì chất lượng của vật được xác định theo mục đích sử dụng và chất lượng trung bình của vật cùng loại
Với nghĩa vụ như người bán đối với người mua thì thành viên góp vốn có nghĩa vụ giao vật đúng số lượng đồng bộ và đúng chủng loại, cung cấp thông tin cần thiết về vật và hướng dẫn cách sử dụng vật đó, đảm bảo quyền sở hữu đối với vật đem góp không bị bên thứ ba tranh chấp
Việc xác định thời điểm chuyển quyền sở hữu tài sản từ thành viên công ty
có ý nghĩa pháp lý hết sức quan trọng Vì theo quan điểm pháp luật dân sự thời điểm chịu rủi ro đối với tài sản thường gắn liền với thời điểm chuyển quyền sở hữu
Về nguyên tắc, chủ sở hữu phải chịu rủi ro đối với tài sản của mình Từ thời điểm thành viên cam kết góp vốn mới làm phát sinh quyền và nghĩa vụ dân sự của thành viên đối với công ty Trong đó, nếu công ty chưa đăng kí kinh doanh thì quyền yêu cầu là quyền của các thành viên khác đối với thành viên cam kết góp vốn thực hiện nghĩa vụ của họ Thời điểm này chưa làm phát sinh quyền sở hữu tài sản của công
ty vì công ty chưa ra đời Việc chuyển dịch quyền sở hữu tài sản từ thành viên sang công ty chỉ có thể tính từ thời điểm công ty được chính thức thừa nhận về mặt pháp
lý tức là thời điểm được cấp giấy chứng nhận đăng kí kinh doanh Tùy theo tính chất, đặc điểm của từng loại tài sản mà thủ tục chuyển quyền sở hữu sang công ty là khác nhau Nếu không có thỏa thuận gì khác về phương thức giao vật thì vật được thành viên công ty giao một lần, giao trực tiếp cho công ty, còn chi phí vận chuyển
Trang 36đến địa điểm giao vật và chi phí liên quan đến việc chuyển quyền sở hữu đối với vật
do thành viên góp vốn chịu
2.2.3 Góp vốn bằng quyền tài sản
Quyền tài sản là quyền trị giá được bằng tiền và có thể chuyển giao trong giao dịch dân sự, kể cả quyền sở hữu trí tuệ.25 Từ định nghĩa đó rõ ràng, một mặt, quyền tài sản là tài sản; mặt khác, một quyền tài sản phải có đủ hai yếu tố: trị giá được bằng tiền và chuyển giao được trong giao lưu dân sự.26
Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài, người viết chỉ xoay quanh hai loại quyền tài sản cơ bản được các nhà đầu tư và pháp luật hiện hành thừa nhận cho việc góp vốn thành lập doanh nghiệp đó là: quyền sử dụng đất và quyền sở hữu trí tuệ
2.1.3.1 Góp vốn bằng quyền sở hữu trí tuệ
Tài sản trí tuệ đóng vai trò như là thước đo hiệu quả kinh doanh, sức cạnh tranh và khả năng phát triển của doanh nghiệp trong tương lai Bằng việc phát triển
và sở hữu các tài sản trí tuệ thì uy tín và vị thế của doanh nghiệp được mở rộng, khả năng cạnh tranh, thị phần và doanh thu của doanh nghiệp được nâng cao.27 Tại
Khoản 1 Điều 4 Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 quy định “Quyền sở hữu trí tuệ là quyền của tổ chức, cá nhân đối với tài sản trí tuệ, bao gồm quyền tác giả và quyền liên quan đến quyền tác giả, quyền sở hữu công nghiệp và quyền liên quan đến giống cây trồng”
Vấn đề góp vốn bằng quyền sở hữu trí tuệ, nó không phải thực hiện góp vốn bằng tiền mặt, một loại tài sản hữu hình có thể nhìn thấy được, chạm vào được
mà hình thức góp vốn này là góp vốn dưới hình thức một loại quyền của một sản phẩm trí tuệ được thể hiện dưới một dạng vật chất, hay một hình thức nào đó được mọi người công nhận
Bản chất của quan hệ góp vốn là sự hùn vốn giữa các thành viên với nhau
và nó dẫn đến sự chi phối, chia sẽ lợi ích giữa những người cùng góp vốn, và sự chia sẻ này còn phụ thuộc vào số vốn mà thành viên đó đóng góp
http://www.luatviet.org/Home/nghien-27 Nên xem nhân lực là tài sản hay nguồn vốn http://saga.vn/Kynangquanly/Lythuyetquantri/11527.saga,
đăng ngày 23/05/2008, [truy cập ngày 2/9/2012]
Trang 37Luật Doanh nghiệp năm 2005 ghi nhận và cho phép góp vốn bằng quyền sở hữu trí tuệ, mặc dù không có một khái niệm nào cụ thể để quy định về vấn đề này nhưng theo những quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành thì góp vốn thành lập doanh nghiệp bằng quyền sở hữu trí tuệ có thể được hiểu một cách cơ bản: cá nhân,
tổ chức là chủ sở hữu của tác phẩm sở hữu trí tuệ đưa sản phẩm trí tuệ mà mình làm chủ sở hữu góp vốn để trở thành chủ sở hữu hoặc đồng sở hữu chung của doanh nghiệp Bởi đây là một tài sản vô hình giá trị của nó là những ý tưởng mang tính khả thi, tiềm năng cần được khai thác Chính vì vậy, cho nên không phải tài sản sở hữu trí tuệ nào cũng được phép góp vốn, việc chấp nhận cho góp vốn bằng quyền sở hữu trí tuệ còn phụ thuộc vào giá trị mà nó mang lại Tài sản góp vốn thành lập doanh nghiệp phải được các thành viên, cổ đông cùng sáng lập đồng ý và định giá theo nguyên tắc nhất trí Theo quy định của pháp luật hiện hành, các thành viên sáng lập doanh nghiệp chấp nhận loại tài sản này thì quan hệ góp vốn hoàn toàn hợp pháp, bởi về bản chất trường hợp này đã thực hiện góp vốn bằng một loại tài sản có giá trị, được pháp luật cho phép và được các thành viên sáng lập chấp nhận Là tài sản vô hình nhưng nó được thể hiện ở dạng vật chất mà mọi người có thể chấp nhận
và được định giá để xác định giá trị mà tiền tệ là thước đo, nhưng đặc biệt ở chỗ là ngay từ đầu khi thực hiện việc góp vốn nó không phải là tiền mặt Về hình thức có thể xem quyền sở hữu trí tuệ thuộc loại quyền về dân sự, nó vừa mang tính chất nhân thân vừa mang tích chất tài sản
Tuy nhiên, quyền nhân thân trong trường hợp này không thể dùng để góp vốn, một chủ thể nào đó sáng tạo ra một tài sản sở hữu trí tuệ, sau khi đã chuyển nhượng sản phẩm cho người khác, lúc này chủ thể đó chỉ còn quyền đứng tên trên tác phẩm đó, không thể góp vốn khi tài sản đó không phải là của mình, và không thể góp vốn vì mình chỉ có quyền đứng tên trên tác phẩm Trong trường hợp này chủ thể đó chỉ còn lại quyền nhân thân một loại quyền mang giá trị về tinh thần Vấn đề góp vốn thành lập doanh nghiệp mục đích là làm sao tập hợp được những tài sản, những giá trị có thể giúp doanh nghiệp phát triển và đáp ứng được những quy định của pháp luật Các thành viên sáng lập buộc phải cân nhắc về tính thanh khoản của tài sản góp vốn để tiếp nhận hay từ chối quan hệ góp vốn Bởi khi tiếp nhận một nguồn vốn góp sau đó phải chia sẻ lợi nhuận, nhưng phần vốn góp đó chẳng có giá trị về mặt kinh tế, không mang lại giá trị thặng dư cho doanh nghiệp thì đương nhiên sẽ không có việc chấp nhận phần vốn góp đó
Theo điều 5 Nghị định 102 thì “Quyền sở hữu trí tuệ được sử dụng để góp vốn bao gồm quyền tác giả, quyền liên quan đến quyền tác giả, quyền sở hữu công
Trang 38nghiệp, quyền đối với giống cây trồng và các quyền sở hữu trí tuệ khác theo quy định của pháp luật sở hữu trí tuệ Chỉ cá nhân, tổ chức là chủ sở hữu đối với các quyền nói trên mới có quyền sử dụng các tài sản đó để góp vốn Bộ Tài chính hướng dẫn việc định giá góp vốn bằng quyền sở hữu trí tuệ”
Quyền tác giả là quyền của tổ chức, cá nhân đối với tác phẩm do mình sáng tạo ra hoặc sở hữu.28 Quyền tác giả được ghi nhận cho các tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học như sách, bài giảng, tác phẩm âm nhạc, tác phẩm sân khấu, tác phẩm điện ảnh, tác phẩm tạo hình và mỹ thuật ứng dụng, tác phẩm nhiếp ảnh, tác phẩm kiến trúc, phần mềm máy tính Quyền tác giả tự động phát sinh từ thời điểm tác phẩm được định hình dưới một hình thức vật chất nhất định, bất kể tác phẩm đã công bố hay chưa công bố, đã đăng ký hay chưa đăng ký
Quyền liên quan đến quyền tác giả là quyền của tổ chức, cá nhân đối với cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình, chương trình phát sóng, tín hiệu vệ tinh mang chương trình được mã hóa.29
Quyền sở hữu công nghiệp là quyền của tổ chức cá nhân đối với sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn, nhãn hiệu, tên thương mại, chỉ dẫn địa lý, bí mật kinh doanh do mình sáng tạo hoặc sở hữu và quyền chống cạnh tranh không lành mạnh.30 Quyền sở hữu công nghiệp đối với sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí, nhãn hiệu, chỉ dẫn địa lý được xác lập trên cơ
sở quyết định cấp văn bằng bảo hộ của cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo thủ tục đăng ký quy định tại Luật này hoặc công nhận đăng ký quốc tế theo quy định của điều ước quốc tế mà Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên Đối với nhãn hiệu nổi tiếng, quyền sở hữu được xác lập trên cơ sở sử dụng, không phụ thuộc vào thủ tục đăng ký, tên thương mại được xác lập trên cơ sở sử dụng hợp pháp tên thương mại đó Quyền sở hữu công nghiệp đối với bí mật kinh doanh được xác lập trên cơ sở có được một cách hợp pháp bí mật kinh doanh và thực hiện việc bảo mật bí mật kinh doanh đó; quyền chống cạnh tranh không lành mạnh được xác lập trên cơ sở hoạt động cạnh tranh trong kinh doanh
Quyền đối với giống cây trồng là quyền của tổ chức, cá nhân đối với giống cây trồng mới do mình chọn tạo hoặc phát hiện và phát triển giống cây trồng hoặc đầu tư cho công tác chọn tạo hoặc phát hiện và phát triển giống cây trồng hoặc được chuyển giao quyền đối với giống cây trồng Quyền đối với giống cây trồng được
Trang 39xác lập trên cơ sở quyết định cấp Bằng bảo hộ giống cây trồng của cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo thủ tục đăng ký quy định tại Luật Sở hữu trí tuệ
Do sở hữu trí tuệ cũng có nhiều đặc tính của sở hữu cá nhân và sở hữu tài sản thực sự nên những quyền lợi gắn liền với sở hữu trí tuệ cho phép chúng ta có thể mua, bán, cấp phép hay thậm chí là cho không sở hữu trí tuệ của chúng ta như tài sản thông thường và việc góp vốn thành lập công ty cổ phần bằng quyền sở hữu trí tuệ cũng giống như việc góp vốn bằng những tài sản khác Luật về sở hữu trí tuệ cho phép chủ sở hữu, người phát minh và tác giả bảo vệ tài sản của mình trước việc
sử dụng trái phép
Việc góp vốn bằng các tài sản này buộc người góp vốn phải bảo đảm cho công ty khai thác tái sản để đem lại các lợi ích phát sinh từ đó Ngược lại người góp vốn có quyền lợi tương ứng trong công ty Tuy nhiên, cần nhấn mạnh rằng, do tài sản trí tuệ là yếu tố rất động, nên việc góp vốn phụ thuộc rất nhiều vào sự thỏa thuận của các thành viên và bị điều tiết bởi pháp luật về sở hữu trí tuệ
2.2.3.2 Góp vốn bằng giá trị quyền sử dụng đất
Ở Việt Nam, quyền sử dụng đất được xem là một loại tài sản đặc biệt Luật Đất đai năm 1993; Bộ Luật Dân sự năm 1995; Luật Đất đai năm 2003 sửa đổi bổ sung năm 2009 (sau đây gọi tắt là Luật Đất đai năm 2003) và Bộ Luật Dân sự 2005
đã khẳng định quyền sử dụng đất là một loại tài sản Điều 118 Bộ Luật Dân sự năm
2005 ghi nhận “quyền sử dụng đất của hộ gia đình là tài sản chung của hộ” Tài sản
chung của hộ gia đình gồm quyền sử dụng đất, quyền sử dụng rừng, rừng trồng của
hộ gia đình, tài sản do các thành viên đóng góp, cùng nhau tạo lập nên hoặc được tặng cho chung, được thừa kế chung và các tài sản khác mà các thành viên thỏa thuận là tài sản chung của hộ.31
Như vậy, ở Việt Nam với việc chỉ có một hình thức sở hữu về đất đai là
sở hữu toàn dân do nhà nước quản lý và không công nhận sở hữu tư nhân về đất đai, thì quyền sử dụng đất được đưa ra như một tài sản đặc thù và việc góp vốn bằng quyền sử dụng đất với tư cách là một bất động sản cũng có những đặc thù riêng
Quy chế pháp lý với quyền sử dụng đất nói riêng và đất đai nói chung hết sức đa dạng Luật Đất đai năm 2003 phân chia quyền sử dụng đất thành ba nhóm: Nhóm được nhà nước giao đất có thu tiền sử dụng đất; Nhóm được nhà nước giao đất không thu tiền sử dụng đất; Nhóm được nhà nước cho thuê đất (có hai loại: đất thuê trả tiền hàng năm và đất thuê trả tiền nhiều năm) Mỗi nhóm quyền được sự
31
Điều 108 Bộ Luật dân sự 2005