- Để hoàn thiện hơn về cơ sở pháp lý cho loại hình công ty cổ phần thì Luật doanh nghiệp được Quốc Hội nước ta thông qua ngày 29/11/2005 quy định khá rõ về công ty cổ phần và được hiểu n
Trang 1BỘ MÔN LUẬT KINH DOANH VÀ THƯƠNG MẠI
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN LUẬT
KHÓA 32 (2006 - 2010)
ĐỀ TÀI:
CÔNG TY CỔ PHẦN VÀ VẤN ĐỀ PHÁT HÀNH CHỨNG KHOÁN TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN PHI TẬP TRUNG CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN
MSSV: 5062338 Lớp:Luật TM 1 – K32
Cần Thơ, Tháng 04 năm 2010
Trang 2LỜI MỞ ĐẦU
- Trong sự phát triển kinh tế xã hội luôn gắn liền với sự phát triển doanh nghiệp, sự lựa chọn một doanh nghiệp sao cho phù hợp với xã hội là một điều cần thiết nhất để cho
xã hội ngày càng phát triển Ngày nay, sự phát triển không còn là của riêng ai mà của tất
cả cộng đồng trong xã hội, vì thế hình thức doanh nghiệp cũng không còn phải là của cá nhân mà là của nhiều cá nhân cùng nhau chung sức mới cạnh tranh kịp và phù hợp với sự phát triển Vì vậy, công ty cổ phần là một doanh nghiệp tập hợp nhiều cá nhân lại với nhau và đang phát triển cao trong xã hội Đặc biệt là từ khi có luật chứng khoán năm
2006 ra đời điều chỉnh sự tham gia thị trường chứng khoán của công ty cổ phần thì hình thức doanh nghiệp này nổi trội rõ lên và trở thành doanh nghiệp quan trọng nhất hiện nay
- Trong hai năm gần đây thị trường chứng khoán Việt Nam phát triển sôi động và có
sự tác động mạnh mẽ đến nền kinh tế nước nhà Thị trường chứng khoán Việt Nam thật
sự trở thành kênh huy động vốn dài hạn cho nền kinh tế Hoạt động chào bán cổ phần lẫn chào bán riêng lẻ đều diễn ra hết sức mạnh mẽ Từ khi có thị trường chứng khoán các công ty cổ phần tham gia đều có lợi, bên cạnh đó, hình ảnh doanh nghiệp mua bán chứng khoán sẽ tăng uy tín của công ty trên thị trường
- Chúng ta phải thừa nhận rằng thị trường chứng khoán Việt Nam non trẻ nên luật chưa thể đi ngay vào cuộc sống Thị trường chứng khoán nước ta là thị trường mới nên quy mô còn nhỏ, cơ chế hoạt động chưa thật ổn định khung pháp lý đang trong quá trình hoàn thiện, các văn bản pháp luật đang xây dựng theo lộ trình Và cho đến nay, hầu hết các vấn đề về cơ chế hoạt động và hành lang pháp lý về hoạt động phát hành chứng khoán nói chung, cũng như hoạt động chào bán trên thị trường phi tập trung (OTC) nói riêng là chưa đầy đủ Do vậy, vấn đề tạo điều kiện cho các công ty cổ phần hoạt động ngày càng hiệu quả hơn là vấn đề cần thiết hiện nay Vì thế, người viết đã tiến hành đi
vào nghiên cứu vài nét về công ty cổ phần và vấn đề phát hành chứng khoán trên thị
trường phi tập trung của công ty cổ phần dựa vào cơ sở của luật hiện hành Do mảng
đề tài về công ty cổ phần và phát hành chứng khoán tương đối rộng với nhiều quy định pháp lý liên quan nên ở dây người viết chỉ tìm hiểu khái quát chung về công ty cổ phần
và tập trung vào vấn đề phát hành chứng khoán của công ty cổ phần trên thị trường phi tập trung (OTC) Đồng thời lượng kiến thức còn hạn hẹp, nên người viết chủ yếu nghiên cứu những quy định pháp lý của Luật Doanh Nghiệp, Luật Chứng Khoán, những văn bản pháp lý và những tài liệu có liên quan, mà chưa có mổ xẻ toàn bộ chi tiết về công ty cổ phần và thị trường chứng khoán
- Trong quá trình nghiên cứu đề tài người viết đã sử dụng những phương pháp thu
Trang 3thập tài liệu, tổng hợp, so sánh phân tích, dẫn chứng…
Luận văn có kết cấu như sau:
- Lời mở đầu
- Nội dung
Chương 1 Khái niệm, đặc trưng của công ty cổ phần và thị trường chứng khoán;
Chương 2 Quy chế pháp lý về vấn đề phát hành chứng khoán trên thị trường phi tập
trung của công ty cổ phần;
Chương 3 Thực tiễn và giải pháp vấn đề phát hành chứng khoán trên thị trường phi tập
trung của công ty cổ phần
- Kết luận
Để hoàn thành đề tài nghiên cứu, người viết đã được sự hướng dẫn tận tình của cô
Phạm Mai Phương, sự giúp đỡ quý thầy cô, các bạn và sự nổ lực của bản thân Mặc dù,
đã rất cố gắng hoàn thành tốt luận văn, tuy nhiên không tránh khỏi thiếu sót Vì vậy, rất
mong sự đóng góp của quý thầy cô và các bạn Xin chân thành cảm ơn!
Trang 4CHƯƠNG 1 KHÁI NIỆM, ĐẶC TRƯNG CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN
VÀ THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN 1.1 Khái niệm và đặc trưng của công ty cổ phần
1.1.1 Khái niệm về công ty cổ phần
Để hiểu rõ hơn về công ty cổ phần, trước tiên ta tìm hiểu khái niệm công ty cổ phần ở
góc độ kinh tế và góc độ pháp lý
* Trước hết là ở góc độ kinh tế, công ty cổ phần là một doanh nghiệp trong đó các
thành viên cùng góp vốn, cùng hưởng lợi nhuận, cùng chịu lỗ tương ứng với phần góp
vốn và chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ và các nghĩa vụ tài sản khác của công ty
trong phạm vi phần góp vốn của mình1
- Theo bách khoa toàn thư mở Wikipedia2 công ty cổ phần là một thể chế kinh
doanh, một loại hình doanh nghiệp hình thành, tồn tại và phát triển bởi sự góp vốn của
nhiều cổ đông Trong công ty cổ phần, số vốn điều lệ của công ty được chia nhỏ thành
các phần bằng nhau gọi là cổ phần Các cá nhân hay tổ chức sở hữu cổ phần được gọi là
cổ đông Công ty cổ phần là một trong loại hình công ty căn bản tồn tại trên thị trường và
nhất là để niêm yết trên thị trường chứng khoán
* Còn ở góc độ pháp lý xem xét trước khi luật công ra đời thì chưa có một khái niệm
cụ thể nào ở Việt Nam định nghĩa rõ về công ty cổ phần nhưng đến Luật Công ty Việt
Nam năm 1990 thì cũng chưa chính thức đưa ra một định nghĩa chung về công ty cổ
phần, nhưng căn cứ vào Điều 2 Luật Công ty năm 1990 thì công ty cổ phần được hiều
như sau: “công ty cồ phần là doanh nghiệp trong đó các thành viên cùng góp vốn, cùng
chia lợi nhuận, cùng chịu lỗ tương ứng với phần vốn góp vào và chỉ chịu các khoản nợ
của công ty trong phạm vi phần vốn góp của mình góp vào công ty”
- Để hoàn thiện hơn về cơ sở pháp lý cho loại hình công ty cổ phần thì Luật doanh
nghiệp được Quốc Hội nước ta thông qua ngày 29/11/2005 quy định khá rõ về công ty cổ
phần và được hiểu như sau3:
+ Công ty cổ phần là doanh nghiệp, trong đó:
+ Vốn điều lệ được chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần;
+ Cổ đông có thể là tổ chức, cá nhân; số lượng cổ đông tối thiểu là ba và không
hạn chế số lượng tối đa;
+ Cổ đông chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của
doanh nghiệp trong phạm vi số vốn đã góp vào doanh nghiệp;
Trang 5+ Cổ đông có quyền tự do chuyển nhượng cổ phần của mình cho người khác, trừ
trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 81 và khoản 5 Điều 84 của Luật Doanh Nghiệp;
+ Công ty cổ phần có tư cách pháp nhân kể từ ngày được cấp Giấy chứng nhận
đăng ký kinh doanh;
+ Công ty cổ phần có quyền phát hành chứng khoán các loại để huy động vốn
1.1.2 Đặc trưng của công ty cổ phần
* Qua khái niệm về công ty cổ phần theo luật doanh nghiệp 2005 thì ta có thế rút ra ra
một số đặc trưng cơ bản của công ty cổ phần như sau:
- Vốn điều lệ của công ty chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần đây là
đặc trưng cơ bản của công ty cổ phần trong quá trình hoạt động công ty cổ phần có quyền
phát hành chứng khoán ra công chúng để công khai huy động vốn do đó, sự ra đời của
công ty cổ phần gắn liền với sự ra đời của thị trường chứng khoán việc chuyển nhượng
cổ phần được thực hiện dễ dàng thông qua hành vi bán cổ phếu trên thị trường chứng
khoán
- Công ty cổ phần có số lượng thành viên thường rất đông, có công ty cổ phần có
tới hàng vạn cổ đông ở hầu hết khắp các nước trên thế giới Vì vậy, khả năng huy động
vốn rộng rãi nhất trong công chúng để đầu tư vào nhiều lĩnh vực khác nhau nhất là trong
công nghiệp
- Công ty cổ phần chịu trách nhiệm đối với mọi khoản nợ bằng tài sản của công ty
Điều này có nghĩa là công ty chịu trách nhiệm bằng tài sản của chính công ty, các cổ
đông chỉ chịu trách nhiệm về nợ và nghĩa vụ tài sản khác của công ty trong phạm vi số
vốn đã góp vào công ty
- Công ty cổ phần là tổ chức có tư cách pháp nhân độc lập kể từ ngày được cấp giấy
chứng nhận đăng ký kinh doanh Đây là loại hình công ty có cách tổ chức cao, hoàn thiện
vốn hoạt động mang tính xã hội hóa cao
- Đặt trưng quan trọng nhất của công ty cổ phần (để phân biệt với công ty trách
nhiệm hữu hạn) đó là quyền phát hành cổ phiếu công khai huy động vốn trong công
chúng
- Cổ đông có những quyền hạn và trách nhiệm với công ty: được chia cổ tức (lợi tức
thu được từ cồ phần) theo kết quả kinh doanh được bầu cử và ứng cử vào bộ máy quản trị
và kiểm soát của công ty và phải chịu trách nhiệm về việc thua lỗ hoặc phá sản của công
ty trong phạm vi số cổ phần của mình sở hữu
- Cổ phiếu (cổ phiếu phổ thông hoặc cổ phiếu ưu đãi) được phát hành lúc thành lập
công ty và lúc công ty cần huy động thêm vốn, giá trị ban đầu của cổ phiếu gọi là mệnh
giá (đây chỉ là giá trị danh nghĩa) Quá trình kinh doanh tùy thuộc vào lợi nhuận và cách
Trang 6phân phối, mệnh giá sẽ tăng lên và ngày càng bỏ xa giá trị ban đầu Cổ phiếu có đặt trưng
sau đây:
+ Mỗi cổ phiếu thể hiện giá trị thực tế ban đầu được tính thành tiền gọi là mệnh
giá cổ phiếu;
+ Cổ phiếu có thể được lưu thông, chuyển nhượng tự do trên thị trường như một
thứ hàng hóa Cổ phiếu có thể được thừa kế và làm tài sản thế chấp, cầm cố trong quan
hệ tín dụng;
+ Cổ phiếu thường không có thời hạn, nó tồn taị cùng với sự tồn tại của công ty
Cổ đông không được rút vốn ra khỏi công ty Muốn thu lại tiền ban đầu khi mua cổ phiếu
cổ đông chỉ có thể bán lại cho người khác và việc bán cổ phiếu được thực hiện trên thị
trường chứng khoán Đây chính là lợi thế của công ty cổ phần so với các loại hình doanh
nghiệp khác, nhất là lợi về khả năng huy động vốn Công chúng thích mua cổ phiếu của
công ty cổ phần để kiếm lợi nhuận mà không sợ đồng vốn của mình bị bất động, vì họ có
thể chuyển vốn từ công ty này sang công ty khác, từ lĩnh vực này sang lĩnh vực khác một
cách dễ dàng qua mua bán cổ phiếu Cổ phiếu là công cụ huy động vốn cực kỳ hiệu quả,
khiến cho loại hình công ty này có sức thu hút mạnh mẽ không chỉ đối với nhà kinh
doanh mà còn cả với công chúng
1.2 Lịch sử hình thành và phát triển của công ty cổ phần
- Trong những giai đoạn đầu tiên của lịch sử thương mại, người buôn bán thường
hoạt động độc lập hoặc trong phạm vi gia đình Khi việc kinh doanh phát triển đòi hỏi có
sự tham gia của nhiều người hơn thì những người buôn bán có mối quan hệ thân thiết và
có tính nhiệm đã tập hợp thành từng “phường”, “hội” Từ đó, những người kinh doanh đã
tìm cách liên kết, ràng buộc nhau để cùng kinh doanh có hiệu quả hơn nên “công ty ra
đời4” Qua bao nhiêu năm tồn tại và phát triển, công ty có nhiều loại hình khác nhau, có
những loại hiện vẫn tồn tại và có xu hướng phát triển nữa và có xu hướng mất dần Căn
cứ vào tính chất liên kết, chế độ trách nhiệm thành viên công ty và ý chí của nhà lập
pháp, dưới góc độ pháp lý người ta chia công ty thành hai loại cơ bản sau5: công ty đối
nhân và công ty đối vốn
- Công ty đối nhân là công ty được thành lập dựa trên sự liên kết chặt chẽ bởi chế
độ tin cậy về nhân thân của các thành viên tham gia Sự hình thành vốn chỉ là yếu tố thứ
yếu Công ty đối nhân có đặc điểm quan trọng là không có sự tách bạch rạch ròi giữa tài
sản cũng như trách nhiệm của công ty và cũng như của các thành viên Các thành viên
liên đới chịu trách nhiệm và chịu trách nhiệm vô hạn về các khoản nợ của công ty Công
ty đối nhân tồn tại dưới các dạng cơ bản sau: công ty hợp danh, công ty hợp vốn đơn
Trang 7giản
+ Công ty hợp danh là loại hình công ty trong đó các thành viên cùng nhau tiến
hành hoạt động thương mại dưới một hãng chung và cùng liên đới chịu trách nhiệm vô
hạn về mọi khoản nợ của công ty Công ty hợp danh còn gọi là công ty góp danh là loại
hình đặc trưng của công ty đối nhân Xét về mặt lịch sử thì công ty hợp danh ra đời sớm
nhất, trên thực tế công ty này dược thành lập trong dòng họ gia đình Do tính chất liên
đới chịu trách nhiệm vô hạn nên các thành viên phải thật sự hiểu biết nhau, tin tưởng
nhau Điều đó phản ánh tâm lý của các thương gia khi hùn hạp vốn với nhau để kinh
doanh;
+ Công ty hợp vốn đơn giản là lọai công ty có ít nhất một thành viên chịu trách
nhiệm vô hạn (thành viên nhận vốn), còn những thành viên khác chỉ chịu trách nhiệm
hữu hạn trong số vốn góp vào công ty (thành viên góp vốn)
- Công ty đối vốn: về mặt lịch sử, công ty đối vốn ra đời sau công ty đối nhân Khác
với công ty đối nhân, khi thành lập công ty đối vốn, người ta không quan tâm nhiều đến
nhân thân của người góp vốn Yếu tố quyết định vị trí, quyền hạn và trách nhiệm của
người góp vốn chính là phần vốn góp của họ vào công ty
- Đặc điểm quan trọng của công ty đối vốn là có sự tách bạch giữa tài sản của công
ty và tài sản của cá nhân, luật các nước gọi là nguyên tắc phân tách tài sản Công ty đối
vốn có tư cách pháp nhân, các thành viên công ty chỉ chịu trách nhiệm về mọi khoản nợ
của công ty trong phần vốn góp vào công ty (trách nhiệm hữu hạn) Do đó, việc thành lập
chỉ quan tâm đến phần vốn góp, nên các thành viên của công ty thường rất đông, những
người không hiểu biết về kinh doanh cũng có thể tham gia vào công ty Công ty phải
đóng thuế cho nhà nước, các thành viên phải đóng thuế thu nhập Có rất nhiều các quy
định về gía trị pháp lý về tổ chức và hoạt động đối với công ty đối vốn, thành viên công
ty dễ dàng thay đỗi Các công ty đối vốn thường chia thành hai loại: Công ty cổ phần và
công ty trách nhiệm hữu hạn
- Công ty cổ phần là loài hình công ty ra đời muộn nhất Công ty cổ phần phôi thai
từ đầu thế kỷ XV ở châu Âu Cho đến thế kỷ XVI, dưới sự tác động của chủ nghĩa trọng
thương cùng với sự phát triển mạnh mẽ của thương mại quốc tế đã hình thành các công
ty hoạt động chủ yếu dựa trên vốn góp cổ phần6 Các công ty cổ phần đầu tiên trên thế
giới ra đời vào khoản thế kỷ thứ XVII Nó gắn liền với sự bóc lột của chủ nghĩa đế quốc
với các nước thuộc địa Sang thế kỷ XIX công ty cổ phần phát triển mạnh mẽ cho đến
ngày nay thì nó đang chiếm ưu thế trong sự phát triển của rất nhiều quốc gia trên thế giới
nó được xem như là một phát minh của loài người trong nên sản xuất xã hội7
Trang 81.3 So sánh công ty cổ phần với hình thức doanh nghiệp khác Công ty trách nhiệm
hữu hạn hai thành viên trở lên (CTTNHH 2)
* Bảng so sánh cấu trúc công ty trách nhiệm Hữu Hạn hai thành viên trở lên
(CTTNHH2) với công ty cổ phần (CTCP)8
Nội dung chính
Công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên (CTTNHH2)
Công ty cổ phần (CTCP)
ngày cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh
Số lượng thành viên, cổ
đông quy định
- Hai hay nhiều thành viên trở lên, nhưng không vượt quá 50 thành viên (Điều 38.1.a LDN 2005)
- Số lượng cổ đông tối thiểu là 3 người, nhưng không hạn chế số lượng
cổ đông tối đa
hành chứng khoán các loại để huy động vốn (Điều 73.3 LDN 2005)
Khái niệm về vốn điều lệ
- Vốn điều lệ là vốn do các thành viên góp hoặc cam kết trong một khoản thời gian nhất định và được quy định trong điều lệ của CTTNHH2 hoặc CTCP
Trang 9Vốn điều lệ
- Thực hiện góp vốn theo lịch
do các thành viên CTTNHH2 thỏa thuận và được quy định trong danh sách các thành viên (nộp cho Sở kế hoạch Đầu tư)
Khi góp đủ phần vốn góp của mình, thành viên sẽ được CTTNHH2 cấp giấy chứng nhận phần vốn góp
- Trong trường hợp các thành viên không góp đủ và đúng hạn
số vốn như đã cam kết thì số vốn chưa nộp đó được coi như
là nợ của thành viên đó đối với CTTNHH2; thành viên đó phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại phát sinh do không góp
đủ và đúng hạn số vốn đã cam kết
- Sau thời hạn cam kết lần cuối
mà vẫn có thành viên chưa góp
đủ số vốn như đã cam kết thì số vốn đó được xử lý theo một trong các cách sau đây:
+ Một hoặc một số thành viên nhận góp đủ số vốn chưa góp;
- Các cổ đông sáng lập phải cùng nhau đăng ký mua tối thiểu 20% tổng
số cổ phần phổ thông được quyền chào bán và phải thanh toán đủ số cổ phần phổ thông được quyền chào bán và phải thanh toán đủ số cổ phần đã đăng ký mua trong thời hạn 90 ngày,
kể từ ngày CTCP được cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh
- Trường hợp có cổ đông đăng ký mua không hết cổ phần được quyền chào bán thì số cổ phần còn lại phải được chào bán và bán hết trong thời hạn 3 năm, kể
từ ngày CTCP được cấp giấy chứng nhận đăng
ký kinh doanh
- Trường hợp các cổ đông đăng ký mua không thanh toán đủ số
cổ phần đã đăng ký mua thì số cổ phần chưa góp
đủ đó được cổ đông sáng lập được xử lý theo một trong các cách sau đậy:
+ Các cổ đông sáng lập còn lại góp đủ số cổ
Trang 10+ Huy đông người khác cùng góp vốn vào CTTNHH2;
+ Các thành viên còn lại góp đủ số vốn chưa góp theo tỷ
lệ phần vốn góp của họ trong vốn điều lệ CTTNHH2
phần đó theo tỷ lệ sở hữu cổ phần của họ trong vốn điều lệ của CTCP;
+ Một hoặc một số
cổ đông sáng lập nhận góp đủ số vốn cổ phần đó;
+ Huy động người khác không phải là cổ đông sáng lập nhận góp
đủ số cổ phần đó; người nhận góp vốn đó đương nhiên sẽ trở thành cổ đông sáng lập của công
ty
Mua lại phần vốn góp
- Thành viên có quyền yêu cầu CTTNHH2 hoặc CTCP mua lại phần vốn góp của mình, nếu thành viên đó bỏ phiếu không tán thành với quyết định của hội đồng thành viên hoặc ĐHĐCĐ về các vấn đề sau đây:
+ Sửa đổi bổ sung các nội dung trong điều lệ CTTNHH2 hoặc CTCP liên quan đến quyền và nghĩa vụ của thành viên, HĐTV hoặc ĐHĐCĐ;
đó cho các thành viên còn lại theo tỷ lệ tương ứng với phần
nhượng được thực hiện bằng văn bản theo cách thông thường hoặc bằng cách trao tay cổ phiếu
Trang 11thành viên chỉ có thể chuyển nhượng cho người không phải là thành viên nếu các thành viên còn lại của CTTNHH2 không mua hoặc không mua hết trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày bán
Bên chuyển nhượng vẫn
là người sở hữu cổ phần
có liên quan cho đến khi tên của người nhận chuyển nhượng được đăng ký vào sổ đăng ký
cổ đông
- Các trường hợp hạn chế chuyển nhượng cổ phần :
+ Trong thời hạn 3 năm kể từ ngày công ty
cổ phần được cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, cổ đông sáng lập có quyền tự do chuyển nhượng cổ phần phổ thông của mình cho
cổ đông sáng lập khác, nhưng chỉ được chuyển nhựng cố phần phổ thông của mình cho người không phải là cổ đông sáng lập nếu được
ĐHĐCĐ, sau thời hạn 3 năm, kể từ ngày công ty được cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh các hạn chế đối với cổ phần phổ thông của cổ đông sáng lập điều bị bãi bỏ;
+ Cổ phần ưu đãi biểu quyết không được
Trang 12chuyển nhượng
Cơ cấu quản lý công ty
- CTTNHH2 có Hội đồng thành viên (HĐTV), chủ tịch HĐTV, và GĐ / Tổng giám đốc
- CTTNHH2 có từ 11 thành viên trở lên phải thành lập Ban kiểm Soát (Điều 46)
- CTCP có Đại hội
(ĐHĐCĐ), Hội đồng quản trị (HĐQT), chủ tịch HĐQT và Tổng Giám đốc
- CTCP có trên 11 cổ đông là cá nhân hoặc có
cổ đông là tổ chức sở hữu trên 50% tổng số cổ phần của CTCP phải có Ban kiểm soát(Đ 95)
1.4 Sơ lược về chứng khoán, thị trường chứng khoán, phát hành chứng khoán và
giao dịch chứng khoán
1.4.1 Khái niệm chứng khoán
- Từ khái niệm của công ty cổ phần ta biết đựơc trong quá trình hoạt động thì công
ty có quyền phát hành chứng khoán vậy “Chứng khoán là bằng chứng xác nhận quyền và
lợi ích hợp pháp của người sở hữu đối với tài sản hoặc phần vốn của tổ chức phát hành”9
- Chứng khoán được thể hiện dưới hình thức chứng chỉ, bút toán ghi sổ hoặc dữ
liệu điện tử, bao gồm các loại sau đây: Cổ phiếu, trái phiếu, chứng chỉ quỹ, quyền mua
cổ phần, chứng quyền, quyền chọn mua, quyền chọn bán, hợp đồng tương lai, nhóm
chứng khoán hoặc chỉ số chứng khoán
+ Cổ phiếu là loại chứng khoán xác nhận quyền và lợi ích hợp pháp của người sở
hữu đối với một phần vốn cổ phần của tổ chức phát hành10
+ Trái phiếu là loại chứng khoán xác nhận quyền và lợi ích hợp pháp của người sở
hữu đối với một phần vốn nợ của tổ chức phát hành11
+ Chứng chỉ quỹ là loại chứng khoán xác nhận quyền sở hữu của nhà đầu tư đối
với một phần vốn góp của quỹ đại chúng12
+ Quyền mua cổ phần là loại chứng khoán do công ty cổ phần phát hành kèm theo
đợt phát hành cổ phiếu bổ sung nhằm bảo đảm cho cổ đông hiện hữu quyền mua cổ
Trang 13phiếu mới theo những điều kiện đã được xác định13
+ Chứng quyền là loại chứng khoán được phát hành cùng với việc phát hành trái
phiếu hoặc cổ phiếu ưu đãi, cho phép người sở hữu chứng khoán được quyền mua một số
cổ phiếu phổ thông nhất định theo mức giá đã được xác định trước trong thời nhất định14
1.4.2 Khái niệm thị trường chứng khoán
- Thị trường chứng khoán đã có hàng trăm năm phát triển trong lịch sử kinh tế nhân
loại Tuy nhiên, ở Việt Nam, do thị trường chứng khoán chỉ ra đời thực sự từ năm 2000,
nên còn có những nhận thức và quan điểm khác nhau về thị trường chứng khoán
- Theo giáo trình những vấn đề cơ bản về chứng khoán và thị trường chứng khoán
của Uỷ ban chứng khoán nhà nước thì “thị trường chứng khoán thực chất là quá trình vận
động của tư bản tiền tệ” Các chứng khoán mua bán trên thị trường chứng khoán có thể
đem lại thu nhập cho người nắm giữ nó sau một thời gian nhất định và được lưu thông
trên thị trường chứng khoán theo giá cả thị trường, do đó bề ngoài nó được coi như là
một tư bản hàng hóa15 Quan điểm này chỉ rõ hai nội dung cơ bản:
+ Thực chất của thị trường chứng khoán là vận động của tư bản tiền tệ
+ Về hình thức các chứng khoán lưu thông trên thị trường biểu hiện ra như một tư
bản hàng hóa
1.4.3 Phát hành chứng khoán của công ty cổ phần
1.4.3.1 Phát hành cổ phiếu
- Cổ phiếu được phát hành khi công ty cổ phần huy động vốn để thành lập công ty
hoặc trong khi công ty cổ phần huy động thêm vốn phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh
doanh Cổ phiếu có thể ghi danh hoặc không ghi danh gồm các loại sau:
+ Cổ phiếu phổ thông (cổ phiếu thường) là loại cổ phiếu cơ bản của công ty, cho
phép cổ đông được hưởng các quyền lợi thông thường trong công ty; phát hành ra đầu
tiên và thu hồi về cuối cùng; cổ đông có quyền biểu quyết và tham gia quyết định các vấn
đề quan trọng đến hoạt động của công ty, được chia cổ tức theo kết quả kinh doanh
+ Cổ phiếu ưu đãi: là loại cổ phiếu phát hành sau cổ phiếu thường, cho phép người
nắm giữ một số quyền lợi ưu đãi được hưởng mức cổ tức nhất định, được chia cổ tức và
hoàn vốn trước cổ phiếu thường Tuy nhiên, cổ đông có cổ phiếu ưu đãi không có quyền
biểu quyết và tham gia quyết định các vấn đề quan trọng của công ty Cổ phiếu ưu đãi có
thể chuyển đổi thành cổ phiếu thường và có 3 loại sau:
Cổ phiếu ưu đãi biểu quyết là loại cổ phiếu có số biểu quyết nhiều hơn so với cổ
Trần Quang Phú, Nguyễn Thanh Tùng , Nguyễn Đức Dũng , “ Thị trường chứng khoán Việt Nam trong hội nhập kinh tế
quốc tế”, NXB Chính trị quốc gia – tháng 6 năm 2008 trang 7
Trang 14phiếu phổ thông Số phiếu biểu quyết của một số cổ phiếu ưu đãi biểu quyết do Điều lệ
công ty quy định
Cố phiếu ưu đãi cổ tức là cổ phiếu được trả cổ tức cao hơn so với mức cổ tức của
cổ phiếu phổ thông hoặc mức ổn định hàng năm Cổ tức được chia hàng năm gồm cổ tức
không có quyền biểu quyết, không có quyền dự đại hội cổ đông
Cổ phiếu ưu đãi hoàn lại là cổ phiếu được công ty hoàn lại vốn góp bất cứ khi
nào theo yêu cầu của người sở hữu hoặc theo các điều kiện được ghi tại cổ phiếu ưu đãi
hoàn lại không có quyền biểu quyết, không có quyền dự hợp Đại hội cổ đông16
1.4.3.2 Phát hành trái phiếu
- Trái phiếu gồm các trái phiếu sau: trái phiếu chính phủ, trái phiếu chính quyền địa
phương, của các ngành kinh tế và trái phiếu doanh nghiệp
- Trái phiếu doanh nghiệp là loại trái phiếu do các doanh nghiệp phát hành để huy
động thêm vốn phục vụ cho sản xuất kinh doanh
- Trái phiếu chuyển đổi là loại trái phiếu của công ty cổ phần cho phép người nắm
giữ được chuyển đổi sang cổ phiếu thường của tổ chức phát hành theo những điều kiện
xác định khi phát hành trái phiếu
Bảng so sánh một số khác biệt giữa cổ phiếu và trái phiếu17
- Tổ chức phát hành - Chính phủ, chính quyền
địa phương, doanh nghiệp
- Công ty cổ phần
- Thu nhập của người
sử dụng
giá mua và giá bán
- Quyền của người
sở hữu đối với tổ chức
phát hành
- Quyền đòi hỏi thanh toán
cả gốc và lãi
- Quyền biểu quyết và hưởng
cổ tức theo kết quả kinh doanh
- Được thanh toán cuối cùng
- Trái phiếu của công ty bao gồm các loại sau:
+ Trái phiếu có bảo đảm là trái phiếu được đảm bảo bằng những tài sản thế chấp cụ
Trang 15thể, thường là bất động sản và các thiết bị Người nắm giữ trái phiếu này được bảo vệ ở
mức độ cao nếu công ty phá sản, vì họ có quyền đòi nợ đối với một tài sản cụ thể
+ Trái phiếu không bảo đảm là trái phiếu tín chấp không được đảm bảo bằng tài
sản mà được đảm bảo bằng tín chấp của công ty Khi phá sản những chủ trái phiếu này
được giải quyết quyền lợi sau các chủ trái phiếu có đảm bảo nhưng trước cổ đông
+ Trái phiếu tín chấp có thể chuyển đổi cho phép người chủ được quyền chuyển
trái phiếu thành cổ phiếu thường của công ty phát hành Tùy theo quy định, việc chuyển
đổi có thể tiến hành vào bất cứ thời điểm nào hoặc chỉ vào những thời điểm cụ thể xác
định Ngoài những đặc điểm trên, mỗi đợt trái phiếu được phát hành có thể được gắn
kèm theo những đặc tính riêng khác nữa nhằm đáp ứng nhu cầu cụ thể của một bên nào
đó
+ Trái phiếu có thể mua lại cho phép người phát hành mua lại trước khi đến hạn
khi cần thiết Đặc tính này có lợi cho người phát hành song lại bất lợi cho người đầu tư,
nên loại trái phiếu này có lãi suất cao hơn so với những trái phiếu khác có cùng thời hạn
+ Trái phiếu có thể bán lại cho phép người nắm giữ trái phiếu được quyền bán lại
trái phiếu cho bên phát hành trước khi trái phiếu đáo hạn Quyền chủ động trong trường
hợp này thuộc về nhà đầu tư, do lãi suất của trái phiếu này có thể thấp hơn so với những
trái phiếu khác có cùng thời hạn
+ Trái phiếu có thể chuyển đổi cho phép người nắm giữ nó có thể chuyển đổi trái
phiếu thành cổ phiếu thường, tức là thay đổi tư cách từ chủ nợ thành người sở hữu của
công ty18
1.4.3.3 Phát hành chứng chỉ quỹ
- Chứng chỉ quỹ là loại chứng khoán xác nhận quyền sở hữu của nhà đầu tư đối với
một phần vốn góp của quỹ đại chúng19
- Quỹ đại chúng là quỹ đầu tư chứng khoán thực hiện chào bán chứng chỉ quỹ ra
công chúng20
- Quỹ đầu tư chứng khoán là quỹ hình thành từ vốn góp của nhà đầu tư với mục
đích kiếm lợi nhuận từ việc đầu tư vào chứng khoán hoặc các dạng tài sản đầu tư khác,
kể cả bất động sản, trong đó nhà đầu tư không có quyền kiểm soát hàng ngày đối với việc
ra quyết định đầu tư của quỹ21
- Quỹ đại chúng gồm quỹ mở và quỹ đóng
+ Quỹ mở là quỹ đại chúng mà chứng chỉ quỹ đã chào bán ra công chúng phải
Trang 16được mua lại theo yêu cầu của nhà đầu tư22
+ Quỹ đóng là quỹ đại chúng mà chứng chỉ quỹ đã chào bán ra công chúng không
được mua lại theo yêu cầu của nhà đầu tư23
- Quyền của nhà đầu tư tham gia vào quỹ đầu tư chứng khoán
+ Hưởng lợi từ hoạt động của quỹ đầu tư chứng khoán tương ứng với tỷ lệ góp
+ Khởi kiện công ty quản lý quỹ, ngân hàng giám sát hoặc tổ chức liên quan nếu tổ
chức này vi phạm quyền và lợi ích hợp pháp của mình
+ Thực hiện quyền của mình thông qua Đại hội nhà đầu tư
+ Chuyển nhượng chứng chỉ quỹ theo quy định tại điều lệ quỹ đầu tư chứng khoán
+ Các quyền khác theo quy định tại quỹ đầu tư chứng khoán
+ Nhà đầu tư có các nghĩa vụ sau đây: Chấp hành quyết định của Đại hội nhà đầu
tư, thanh toán đủ tiền mua chứng chỉ quỹ, các nghĩa vụ khác quy định tại Điều lệ quỹ đầu
Trang 17CHƯƠNG 2 QUY CHẾ PHÁP LÝ VỀ CÔNG TY CỔ PHẦN VÀ VẤN ĐỀ PHÁT HÀNH
CHỨNG KHOÁN TRÊN THỊ TRƯỜNG PHI TẬP TRUNG
CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN 2.1 Quy chế pháp lý về công ty cổ phần
2.1.1 Điều kiện thành lập công ty cổ phần
2.1.1.1 Điều kiện về chủ thể đăng ký kinh doanh
- Để có một doanh nghiệp hoạt động thì cần phải thành lập doanh nghiệp theo quy
định của pháp luật, vì thế muốn có một công ty cổ phần ra đời thì đòi hỏi chủ thể muốn
thành lập phải đủ điểu kiện theo pháp luật là các tổ chức, cá nhân khi tham gia thành lập
Công ty cổ phần số lượng cổ đông tối thiểu là ba (03), không hạn chế số lượng tối đa25
- Ngoài ra các tổ chức, cá nhân tham gia thành lập Công ty cổ phần phải đáp ứng
được các điều kiện sau đây26:
- Tổ chức, cá nhân Việt Nam, tổ chức, cá nhân nước ngoài có quyền thành lập và
quản lý doanh nghiệp tại Việt Nam theo quy định của Luật này (Luật Doanh nghiệp
2005), trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều này.27
- Tổ chức, cá nhân sau đây không được quyền thành lập và quản lý doanh nghiệp
tại Việt Nam:
+ Cơ quan nhà nước, đơn vị lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam sử dụng tài sản
nhà nước để thành lập doanh nghiệp kinh doanh thu lợi riêng cho cơ quan, đơn vị mình;
+ Cán bộ, công chức theo quy định của pháp luật về cán bộ, công chức;
+ Sĩ quan, hạ sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng trong các
cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân Việt Nam; sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp
trong các cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân Việt Nam;
+ Cán bộ lãnh đạo, quản lý nghiệp vụ trong các doanh nghiệp 100% vốn sở hữu
nhà nước, trừ những người được cử làm đại diện theo uỷ quyền để quản lý phần vốn góp
của Nhà nước tại doanh nghiệp khác;
+ Người chưa thành niên; người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc bị mất
Trang 18- Tổ chức, cá nhân có quyền mua cổ phần của công ty cổ phần, góp vốn vào công ty
trách nhiệm hữu hạn, công ty hợp danh theo quy định của Luật này, trừ trường hợp quy
định tại khoản 4 Điều này
- Tổ chức, cá nhân sau đây không được mua cổ phần của công ty cổ phần, góp vốn
vào công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty hợp danh theo quy định của Luật này:
Cơ quan nhà nước, đơn vị lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam sử dụng tài sản nhà
nước góp vốn vào doanh nghiệp để thu lợi riêng cho cơ quan, đơn vị mình;
Các đối tượng không được góp vốn vào doanh nghiệp theo quy định của pháp luật về cán
bộ, công chức
* Theo Điều 4 luật cán bộ công chức năm 2008 thì cán bộ công chức bao gồm:
- Cán bộ là công dân Việt Nam, được bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm giữ chức vụ,
chức danh theo nhiệm kỳ trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ
chức chính trị - xã hội ở trung ương, ở tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (sau đây gọi
chung là cấp tỉnh), ở huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (sau đây gọi chung là cấp
huyện), trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước
- Công chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ,
chức danh trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã
hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân
mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; trong cơ
quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên
nghiệp và trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập của Đảng Cộng
sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội (sau đây gọi chung là đơn vị sự
nghiệp công lập), trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước; đối với công
chức trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập thì lương được bảo
đảm từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật
- Cán bộ xã, phường, thị trấn (sau đây gọi chung là cấp xã) là công dân Việt Nam,
được bầu cử giữ chức vụ theo nhiệm kỳ trong Thường trực Hội đồng nhân dân, Ủy ban
nhân dân, Bí thư, Phó Bí thư Đảng ủy, người đứng đầu tổ chức chính trị - xã hội; công
chức cấp xã là công dân Việt Nam được tuyển dụng giữ một chức danh chuyên môn,
nghiệp vụ thuộc Ủy ban nhân dân cấp xã, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách
nhà nước
2.1.1.2 Hồ sơ đăng ký kinh doanh của công ty cổ phần
Là một trong những yếu tố cơ bản trong quá trình đăng ký kinh doanh là hồ sơ đăng
ký kinh doanh là một trong những thủ tục quan trọng nhất trong việc thành lập công ty cổ
phần nên đăng ký như thế nào thủ tục ra sao là một yếu tố quan trọng hàng đầu để ra đời
công ty thì hồ sơ đăng ký kinh doanh đối với công ty cổ phần bao gồm những loại giấy tờ
Trang 19sau28:
- Giấy đề nghị đăng ký kinh doanh theo mẫu thống nhất do cơ quan đăng ký kinh
doanh có thẩm quyền quy định
- Dự thảo Điều lệ công ty
- Danh sách cổ đông sáng lập và các giấy tờ kèm theo sau đây:
+ Đối với cổ đông là cá nhân: bản sao Giấy chứng minh nhân dân, hộ chiếu hoặc
chứng thực cá nhân hợp pháp khác;
+ Đối với cổ đông là tổ chức: bản sao quyết định thành lập, Giấy chứng nhận đăng
ký kinh doanh hoặc tài liệu tương đương khác của tổ chức; văn bản uỷ quyền, Giấy
chứng minh nhân dân, hộ chiếu hoặc chứng thực cá nhân hợp pháp khác của người đại
diện theo uỷ quyền
+ Đối với cổ đông là tổ chức nước ngoài thì bản sao Giấy chứng nhận đăng ký
kinh doanh phải có chứng thực của cơ quan nơi tổ chức đó đã đăng ký không quá ba
tháng trước ngày nộp hồ sơ đăng ký kinh doanh
- Văn bản xác nhận vốn pháp định của cơ quan, tổ chức có thẩm quyền đối với công
ty kinh doanh ngành, nghề mà theo quy định của pháp luật phải có vốn pháp định
- Chứng chỉ hành nghề của Giám đốc hoặc Tổng giám đốc và cá nhân khác đối với
công ty kinh doanh ngành, nghề mà theo quy định của pháp luật phải có chứng chỉ hành
nghề
Mẫu đơn đăng ký kinh doanh và danh sách cổ đông sáng lập công ty cổ phần được
trình bày ở phần phụ lục 1 và 2 sau
2.1.2 Các loại cổ phần
Công ty cổ phần là công ty đối vốn nên phần vốn góp của mỗi thành viên vào công ty
được thể hiện trên cổ phần, vì thế cổ phần được chia ra thành các loại sau:
- Công ty cổ phần phải có cổ phần phổ thông Người sở hữu cổ phần phổ thông là
cổ đông phổ thông
- Công ty cổ phần có thể có cổ phần ưu đãi Người sở hữu cổ phần ưu đãi gọi là cổ
đông ưu đãi
- Cổ phần ưu đãi gồm các loại sau đây: Cổ phần ưu đãi biểu quyết, Cổ phần ưu đãi
cổ tức, cổ phần ưu đãi hoàn lại, cổ phần ưu đãi khác do Điều lệ công ty quy định
- Chỉ có tổ chức được Chính phủ uỷ quyền và cổ đông sáng lập được quyền nắm
giữ cổ phần ưu đãi biểu quyết Ưu đãi biểu quyết của cổ đông sáng lập chỉ có hiệu lực
trong ba năm, kể từ ngày công ty được cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh Sau
thời hạn đó, cổ phần ưu đãi biểu quyết của cổ đông sáng lập chuyển đổi thành cổ phần
28
Điều 19 Luật Doanh Nghiệp 2005
Trang 20phổ thông
- Người được quyền mua cổ phần ưu đãi cổ tức, cổ phần ưu đãi hoàn lại và cổ phần
ưu đãi khác do Điều lệ công ty quy định hoặc do Đại hội đồng cổ đông quyết định
- Mỗi cổ phần của cùng một loại đều tạo cho người sở hữu nó các quyền, nghĩa vụ
và lợi ích ngang nhau
- Cổ phần phổ thông không thể chuyển đổi thành cổ phần ưu đãi Cổ phần ưu đãi có
thể chuyển đổi thành cổ phần phổ thông theo quyết định của Đại hội đồng cổ đông29
2.1.3 Thành viên của công ty cổ phần
Cổ đông là người cổ phần của công ty, có các quyền và nghĩa vụ tương ứng theo
số cổ phần và loại cổ phần mà họ sở hữu Cổ đông chỉ chịu trách nhiệm về nợ và các
nghĩa vụ tài sản khác của công ty trong phạm vi số vốn đã góp vào công ty
2.1.3.1 Chủ sở hữu cổ phần phổ thông
- Công ty cổ phần phải có cổ phần phổ thông Người sở hữu cổ phần phổ thông là
cổ đông phổ thông có các quyền sau30:
- Cổ đông phổ thông có các quyền sau đây:
+ Tham dự và phát biểu trong các Đại hội cổ đông và thực hiện quyền biểu quyết
trực tiếp hoặc thông qua đại diện được uỷ quyền; mỗi cổ phần phổ thông có một phiếu
biểu quyết;
+ Được nhận cổ tức với mức theo quyết định của Đại hội đồng cổ đông;
+ Được ưu tiên mua cổ phần mới chào bán tương ứng với tỷ lệ cổ phần phổ thông
của từng cổ đông trong công ty;
+ Được tự do chuyển nhượng cổ phần của mình cho cổ đông khác và cho người
không phải là cổ đông, trừ trường hợp quy định tại khoản 5 Điều 84 của Luật này31;
+ Xem xét, tra cứu và trích lục các thông tin trong Danh sách cổ đông có quyền
biểu quyết và yêu cầu sửa đổi các thông tin không chính xác;
+ Xem xét, tra cứu, trích lục hoặc sao chụp Điều lệ công ty, sổ biên bản họp Đại
hội đồng cổ đông và các nghị quyết của Đại hội đồng cổ đông;
+ Khi công ty giải thể hoặc phá sản, được nhận một phần tài sản còn lại tương ứng
với số cổ phần góp vốn vào công ty;
+ Các quyền khác theo quy định của Luật này và Điều lệ công ty
- Cổ đông hoặc nhóm cổ đông sở hữu trên 10% tổng số cổ phần phổ thông trong
thời hạn liên tục ít nhất sáu tháng hoặc một tỷ lệ khác nhỏ hơn quy định tại Điều lệ công
Trang 21ty có các quyền sau đây:
+ Đề cử người vào Hội đồng quản trị và Ban kiểm soát (nếu có);
+ Xem xét và trích lục sổ biên bản và các nghị quyết của Hội đồng quản trị, báo
cáo tài chính giữa năm và hằng năm theo mẫu của hệ thống kế toán Việt Nam và các báo
cáo của Ban kiểm soát;
+ Yêu cầu triệu tập họp Đại hội đồng cổ đông trong trường hợp quy định tại khoản
3 Điều này;
+ Yêu cầu Ban kiểm soát kiểm tra từng vấn đề cụ thể liên quan đến quản lý, điều
hành hoạt động của công ty khi xét thấy cần thiết Yêu cầu phải bằng văn bản; phải có
họ, tên, địa chỉ thường trú, quốc tịch, số Giấy chứng minh nhân dân, Hộ chiếu hoặc
chứng thực cá nhân hợp pháp khác đối với cổ đông là cá nhân; tên, địa chỉ thường trú,
quốc tịch, số quyết định thành lập hoặc số đăng ký kinh doanh đối với cổ đông là tổ
chức; số lượng cổ phần và thời điểm đăng ký cổ phần của từng cổ đông, tổng số cổ phần
của cả nhóm cổ đông và tỷ lệ sở hữu trong tổng số cổ phần của công ty; vấn đề cần kiểm
tra, mục đích kiểm tra;
+ Các quyền khác theo quy định của Luật này và Điều lệ công ty
- Cổ đông hoặc nhóm cổ đông quy định tại khoản 2 Điều này có quyền yêu cầu
triệu tập họp Đại hội đồng cổ đông trong các trường hợp sau đây:
+ Hội đồng quản trị vi phạm nghiêm trọng quyền của cổ đông, nghĩa vụ của người
quản lý hoặc ra quyết định vượt quá thẩm quyền được giao;
+ Nhiệm kỳ của Hội đồng quản trị đã vượt quá sáu tháng mà Hội đồng quản trị
mới chưa được bầu thay thế;
+ Các trường hợp khác theo quy định của Điều lệ công ty
- Yêu cầu triệu tập họp Hội đồng cổ đông phải được lập bằng văn bản và phải có
họ, tên, địa chỉ thường trú, số Giấy chứng minh nhân dân, Hộ chiếu hoặc chứng thực cá
nhân hợp pháp khác đối với cổ đông là cá nhân; tên, địa chỉ thường trú, quốc tịch, số
quyết định thành lập hoặc số đăng ký kinh doanh đối với cổ đông là tổ chức; số cổ phần
và thời điểm đăng ký cổ phần của từng cổ đông, tổng số cổ phần của cả nhóm cổ đông và
tỷ lệ sở hữu trong tổng số cổ phần của công ty, căn cứ và lý do yêu cầu triệu tập họp Đại
hội đồng cổ đông Kèm theo yêu cầu phải có các tài liệu, chứng cứ về các vi phạm của
Hội đồng quản trị, mức độ vi phạm hoặc về quyết định vượt quá thẩm quyền
- Trong trường hợp Điều lệ công ty không có quy định khác thì việc đề cử người
vào Hội đồng quản trị và Ban kiểm soát quy định tại điểm a khoản 2 Điều này được thực
hiện như sau:
+ Các cổ đông phổ thông tự nguyện tập hợp thành nhóm thoả mãn các điều kiện
Trang 22quy định để đề cử người vào Hội đồng quản trị và Ban kiểm soát phải thông báo về việc
họp nhóm cho các cổ đông dự họp biết chậm nhất ngay khi khai mạc Đại hội đồng cổ
đông;
+ Căn cứ số lượng thành viên Hội đồng quản trị và Ban kiểm soát, cổ đông hoặc
nhóm cổ đông quy định tại khoản 2 Điều này được quyền đề cử một hoặc một số người
theo quyết định của Đại hội đồng cổ đông làm ứng cử viên Hội đồng quản trị và Ban
kiểm soát Trường hợp số ứng cử viên được cổ đông hoặc nhóm cổ đông đề cử thấp hơn
số ứng cử viên mà họ được quyền đề cử theo quyết định của Đại hội đồng cổ đông thì số
ứng cử viên còn lại do Hội đồng quản trị, Ban kiểm soát và các cổ đông khác đề cử
- Người nắm giữ cổ phần phổ thông có các quyền sau: Tham gia các Đại hội đồng
cổ đông và thực hiện quyền biểu quyết trực tiếp hoặc thông qua đại diện được uỷ quyền;
nhận cổ tức; tự do chuyển nhượng cổ phần đã được thanh toán đầy đủ theo quy định của
Điều lệ này và pháp luật hiện hành; được ưu tiên mua cổ phiếu mới chào bán tương ứng
với tỷ lệ cổ phần phổ thông mà họ sở hữu; kiểm tra các thông tin liên quan đến cổ đông
trong danh sách cổ đông đủ tư cách tham gia Đại hội đồng cổ đông và yêu cầu sửa đổi
các thông tin không chính xác; xem xét, tra cứu, trích lục hoặc sao chụp Điều lệ công ty,
sổ biên bản họp Đại hội đồng cổ đông và các nghị quyết của Đại hội đồng cổ đông;
trường hợp Công ty giải thể, được nhận một phần tài sản còn lại tương ứng với số cổ
phần góp vốn vào công ty sau khi công ty đã thanh toán cho chủ nợ và các cổ đông loại
khác theo quy định của pháp luật; yêu cầu công ty mua lại cổ phần của họ trong các
trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 90 của Luật Doanh nghiệp năm 2005
- Cổ đông biểu quyết phản đối quyết định về việc tổ chức lại công ty hoặc thay đổi
quyền, nghĩa vụ của cổ đông quy định tại Điều lệ công ty có quyền yêu cầu công ty mua
lại cổ phần của mình Yêu cầu phải bằng văn bản, trong đó nêu rõ tên, địa chỉ của cổ
đông, số lượng cổ phần từng loại, giá dự định bán, lý do yêu cầu công ty mua lại Yêu
cầu phải được gửi đến công ty trong thời hạn mười ngày làm việc, kể từ ngày Đại hội
đồng cổ đông thông qua quyết định về các vấn đề quy định tại khoản này
* Bên cạnh quyền của mình thì cổ đông phổ thông phải có những nghĩa vụ sau32:
- Thanh toán đủ số cổ phần cam kết mua trong thời hạn chín mươi ngày, kể từ ngày
công ty được cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh; chịu trách nhiệm về các khoản
nợ và nghĩa vụ tài sản khác của công ty trong phạm vi số vốn đã góp vào công ty
- Không được rút vốn đã góp bằng cổ phần phổ thông ra khỏi công ty dưới mọi hình
thức, trừ trường hợp được công ty hoặc người khác mua lại cổ phần Trường hợp có cổ
đông rút một phần hoặc toàn bộ vốn cổ phần đã góp trái với quy định tại khoản này thì
32
Điều 80 Luật doanh nghiệp 2005
Trang 23thành viên Hội đồng quản trị và người đại diện theo pháp luật của công ty phải cùng liên
đới chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của công ty trong phạm vi
giá trị cổ phần đã bị rút
- Tuân thủ Điều lệ và Quy chế quản lý nội bộ công ty
- Chấp hành quyết định của Đại hội đồng cổ đông, Hội đồng quản trị
- Thực hiện các nghĩa vụ khác theo quy định của Luật này và Điều lệ công ty
- Cổ đông phổ thông phải chịu trách nhiệm cá nhân khi nhân danh công ty dưới
mọi hình thức để thực hiện một trong các hành vi sau đây:
+ Vi phạm pháp luật;
+ Tiến hành kinh doanh và các giao dịch khác để tư lợi hoặc phục vụ lợi ích của tổ
chức, cá nhân khác;
+ Thanh toán các khoản nợ chưa đến hạn trước nguy cơ tài chính có thể xảy ra đối
với công ty
2.1.3.2 Chủ sở hữu cổ phần ưu đãi
- Công ty cổ phần có thể có cổ phần ưu đãi Người sở hữu cổ phần ưu đãi gọi là cổ
đông ưu đãi tương ứng với cổ phần ưu đãi biểu quyết ta có cổ đông ưu đãi biểu quyết, cổ
phần ưu đãi cổ tức ta có cổ đông ưu đãi cổ tức, cổ phần ưu đãi hoàn lại ta có cổ đông ưu
đãi hoàn lại, cổ phần ưu đãi khác (cổ đông khác) do Điều lệ công ty quy định
- Trong quá trình hoạt động thì công ty cổ phần có thể có cổ phần ưu đãi biểu quyết
để biểu quyết các vấn đề quan trọng thuộc thẩm quyền của đại hội đồng cổ đông nhưng
không bắt buộc phải trong công ty cổ phần, bên cạnh đó sẽ hình thành những cổ đông sở
hữu cổ phần này sẽ có các quyền và nghĩa vụ sau33:
+ Cổ đông sở hữu cổ phần ưu đãi biểu quyết có các quyền sau đây: Biểu quyết về
các vấn đề thuộc thẩm quyền của Đại hội đồng cổ đông với số phiếu biểu quyết theo quy
định tại khoản 1 Điều này; Các quyền khác như cổ đông phổ thông, trừ trường hợp quy
định tại khoản 3 Điều này34
+ Cổ đông sở hữu cổ phần ưu đãi biểu quyết không được chuyển nhượng cổ phần
đó cho người khác35
- Để huy động nguồn vốn vào công ty nhanh chóng thì bên cạnh cổ phần ưu đãi
biểu quyết thì công ty cổ phần có thể phát hành cổ phần ưu đãi cổ tức cao hơn so với
mức cổ tức của cổ phần phổ thông hoặc mức ổn định hàng năm thì chủ thể sở hữu cổ
phần ưu đãi cổ tức cũng có các quyền và nghĩa vụ như sau:
Trang 24- Cổ phần ưu đãi cổ tức là cổ phần được trả cổ tức với mức cao hơn so với mức cổ
tức của cổ phần phổ thông hoặc mức ổn định hằng năm Cổ tức được chia hằng năm gồm
cổ tức cố định và cổ tức thưởng Cổ tức cố định không phụ thuộc vào kết quả kinh doanh
của công ty Mức cổ tức cố định cụ thể và phương thức xác định cổ tức thưởng được ghi
trên cổ phiếu của cổ phần ưu đãi cổ tức
- Cổ đông sở hữu cổ phần ưu đãi cổ tức có các quyền sau đây:
+ Nhận cổ tức với mức theo quy định tại khoản 1 Điều này (Điều 82 luật doanh
nghiệp 2005);
+ Được nhận lại một phần tài sản còn lại tương ứng với số cổ phần góp vốn vào
công ty, sau khi công ty đã thanh toán hết các khoản nợ, cổ phần ưu đãi hoàn lại khi công
ty giải thể hoặc phá sản;
+ Các quyền khác như cổ đông phổ thông, trừ trường hợp quy định tại khoản 3
Điều (Điều 82) này
- Cổ đông sở hữu cổ phần ưu đãi cổ tức không có quyền biểu quyết, dự họp Đại hội
đồng cổ đông, đề cử người vào Hội đồng quản trị và Ban kiểm soát36
- Để huy tạo niềm tin, thuận lợi cho việc cho những chủ thể đầu tư vào công ty bên
cạnh đó thì công ty cổ phần có thể phát hành cổ phần ưu đãi hoàn lại chủ sở hữu cổ phần
này sẽ có đuợc nhiều quyền và nghĩa vụ sau (theo khoản 2 và 3 Điều 83 luật doanh
nghiệp 2005):
+ Cổ đông sở hữu cổ phần ưu đãi hoàn lại có các quyền khác như cổ đông phổ
thông, trừ trường hợp quy định tại khoản 3 Điều này (Điều 83)
+ Cổ đông sở hữu cổ phần ưu đãi hoàn lại không có quyền biểu quyết, dự họp Đại
hội đồng cổ đông, đề cử người vào Hội đồng quản trị và Ban kiểm soát
* Trong các loại cổ phần ưu đãi trên thì cổ phần ưu đãi biểu quyết chịu một số ràng
buộc như:
- Chỉ có tổ chức được Chính phủ uỷ quyền và cổ đông sáng lập được quyền nắm
giữ cổ phần ưu đãi biểu quyết
- Ưu đãi biểu quyết của cổ đông sáng lập chỉ có hiệu lực trong ba năm, kể từ ngày
công ty được cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh Sau thời hạn đó, cổ phần ưu đãi
biểu quyết của cổ đông sáng lập chuyển đổi thành cổ phần phổ thông
- Người được quyền mua cổ phần ưu đãi cổ tức, cổ phần ưu đãi hoàn lại và cổ phần
ưu đãi khác do Điều lệ công ty quy định hoặc do Đại hội đồng cổ đông quyết định
- Các cổ phần còn lại (ưu đãi cổ tức, ưu đãi hoàn lại và ưu đãi khác) thường tuân
theo các quy tắc do Đại hội đồng cổ đông quyết định
36
Điều 82 Luật doanh nghiệp 2005
Trang 25- Ngoài ra, cổ phần phổ thông không thể chuyển đổi thành cổ phần ưu đãi; trong khi
cổ phần ưu đãi có thể chuyển thành cổ phần phổ thông theo quyết định của Đại hội đồng
cổ đông Mỗi cổ phần của cùng một loại đều tạo cho người sở hữu nó các quyền, nghĩa
vụ và lợi ích ngang nhau
- Các cổ đông hoặc nhóm cổ đông nắm giữ trên 5% tổng số cổ phần phổ thông
trong thời hạn liên tục từ sáu tháng trở lên có các quyền sau:
+ Đề cử các thành viên Hội đồng quản trị hoặc Ban kiểm soát Theo đó, các cổ
đông nắm giữ tối thiểu 5% số cổ phần có quyền biểu quyết trong thời hạn liên tục ít nhất
6 tháng hoặc tỷ lệ khác nhỏ hơn 10% quy định tại Điều lệ có quyền gộp số quyền biểu
quyết của từng người lại với nhau để đề cử các ứng viên Hội đồng quản trị Cổ đông hoặc
nhóm cổ đông nắm giữ đến dưới 10% số cổ phần có quyền biểu quyết trong thời hạn liên
tục ít nhất sáu tháng được đề cử một thành viên; từ 10% đến dưới 30% được đề cử hai
thành viên; từ 30% đến dưới 50% được đề cử ba thành viên; từ 50% đến dưới 65% được
đề cử bốn thành viên và nếu từ 65% trở lên được đề cử đủ số ứng viên
+ Các cổ đông nắm giữ ít hơn 10% cổ phần có quyền biểu quyết trong thời hạn liên
tục ít nhất 6 tháng hoặc tỷ lệ khác nhỏ hơn quy định tại Điều lệ có thể tập hợp phiếu bầu
vào với nhau để đề cử các ứng viên vào Ban kiểm soát Cổ đông hoặc nhóm cổ đông nắm
giữ đến dưới 10% số cổ phần có quyền biểu quyết trong thời hạn liên tục ít nhất sáu
tháng được đề cử một thành viên; từ 10% đến dưới 30% được đề cử hai thành viên; từ
30% đến dưới 50% được đề cử ba thành viên; từ 50% đến dưới 65% được đề cử bốn
thành viên và nếu từ 65% trở lên được đề cử đủ số ứng viên
+ Yêu cầu triệu tập Đại hội đồng cổ đông; kiểm tra và nhận bản sao hoặc bản trích
dẫn danh sách các cổ đông có quyền tham dự và bỏ phiếu tại Đại hội đồng cổ đông; yêu
cầu Ban kiểm soát kiểm tra từng vấn đề cụ thể liên quan đến quản lý, điều hành hoạt
động của công ty khi xét thấy cần thiết Các quyền khác như cổ đông nắm giữ cổ phần
phổ thông
Trang 262.1.4 Cơ cấu tổ chức
Công ty cổ phần được tổ chức thường gồm ba cơ quan: Đại hội đồng cổ đông, Hội
đồng quản trị, Giám đốc hoặc Tổng giám đốc công ty, nếu công ty có từ 11 thành viên trở lên phải thành lập Ban kiểm soát
Cở cấu tổ chức của công ty cổ phần được mô tả khi có ban kiểm soát như sau:
Sơ đồ cơ cấu tổ chức của công ty cổ phần được mô tả khi có Ban kiểm soát
2.1.4.1 Đại hội đồng cổ đông
Trước tiên là cơ quan có quyền cao nhất của công ty là Đại hội đồng cổ đông được
quy định tại Điều 96 của luật doanh nghiệp năm 2005
- Đại hội đồng cổ đông gồm tất cả cổ đông có quyền biểu quyết, là cơ quan quyết
định cao nhất của công ty cổ phần
- Đại hội đồng cổ đông có các quyền và nhiệm vụ sau đây:
+ Thông qua định hướng phát triển của công ty;
+ Quyết định loại cổ phần và tổng số cổ phần của từng loại được quyền chào bán;
quyết định mức cổ tức hằng năm của từng loại cổ phần, trừ trường hợp Điều lệ công ty
có quy định khác;
+ Bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm thành viên Hội đồng quản trị, thành viên Ban kiểm
soát;
+ Quyết định đầu tư hoặc bán số tài sản có giá trị bằng hoặc lớn hơn 50% tổng giá
trị tài sản được ghi trong báo cáo tài chính gần nhất của công ty nếu Điều lệ công ty
không quy định một tỷ lệ khác;
+ Quyết định sửa đổi, bổ sung Điều lệ công ty, trừ trường hợp điều chỉnh vốn điều
lệ do bán thêm cổ phần mới trong phạm vi số lượng cổ phần được quyền chào bán quy
định tại Điều lệ công ty;
+ Thông qua báo cáo tài chính hằng năm;
Bầu (hoặc bổ nhiệm)
Chịu trách nhiệm báo cáo
Trang 27+ Quyết định mua lại trên 10% tổng số cổ phần đã bán của mỗi loại;
+ Xem xét và xử lý các vi phạm của Hội đồng quản trị, Ban kiểm soát gây thiệt hại
cho công ty và cổ đông công ty;
+ Quyết định tổ chức lại, giải thể công ty;
+ Các quyền và nhiệm vụ khác theo quy định của Luật này và Điều lệ công ty
- Cổ đông là tổ chức có quyền cử một hoặc một số người đại diện theo uỷ quyền
thực hiện các quyền cổ đông của mình theo quy định của pháp luật; trường hợp có nhiều
hơn một người đại diện theo uỷ quyền được cử thì phải xác định cụ thể số cổ phần và số
phiếu bầu của mỗi người đại diện Việc cử, chấm dứt hoặc thay đổi người đại diện theo
uỷ quyền phải được thông báo bằng văn bản đến công ty trong thời hạn sớm nhất Thông
báo phải có các nội dung chủ yếu sau đây:
+ Tên, địa chỉ thường trú, quốc tịch, số và ngày quyết định thành lập hoặc đăng ký
kinh doanh của cổ đông;
+ Số lượng cổ phần, loại cổ phần và ngày đăng ký cổ đông tại công ty;
+ Họ, tên, địa chỉ thường trú, quốc tịch, số Giấy chứng minh nhân dân, Hộ chiếu
hoặc chứng thực cá nhân hợp pháp khác của người đại diện theo uỷ quyền;
+ Số cổ phần được uỷ quyền đại diện;
+ Thời hạn đại diện theo uỷ quyền;
+ Họ, tên, chữ ký của người đại diện theo uỷ quyền và người đại diện theo pháp
luật của cổ đông
- Công ty phải gửi thông báo về người đại diện theo uỷ quyền quy định tại khoản
này đến cơ quan đăng ký kinh doanh trong thời hạn năm ngày làm việc, kể từ ngày nhận
được thông báo
- Theo Điều 102 Luật doanh nghiệp năm 2005 thì cuộc họp Đại hội đồng cổ đông
được tiến hành khi có số cổ đông dự họp đại diện ít nhất 65% tổng số cổ phần có quyền
biểu quyết; tỷ lệ cụ thể do Điều lệ công ty quy định
- Trường hợp cuộc họp lần thứ nhất không đủ điều kiện tiến hành theo quy định trên
thì được triệu tập họp lần thứ hai trong thời hạn ba mươi ngày, kể từ ngày dự định họp
lần thứ nhất Cuộc họp của Đại hội đồng cổ đông triệu tập lần thứ hai được tiến hành khi
có số cổ đông dự họp đại diện ít nhất 51% tổng số cổ phần có quyền biểu quyết; tỷ lệ cụ
thể do Điều lệ công ty quy định
- Trường hợp cuộc họp triệu tập lần thứ hai không đủ điều kiện tiến hành theo quy
định trên thì được triệu tập họp lần thứ ba trong thời hạn hai mươi ngày, kể từ ngày dự
định họp lần thứ hai Trong trường hợp này, cuộc họp của Đại hội đồng cổ đông được
Trang 28tiến hành không phụ thuộc vào số cổ đông dự họp và tỷ lệ số cổ phần có quyền biểu
quyết của các cổ đông dự họp
- Chỉ có Đại hội đồng cổ đông mới có quyền thay đổi chương trình họp đã được gửi
kèm theo thông báo mời họp theo quy định tại Điều 100 của Luật doanh nghiệp 2005
2.1.4.2 Hội đồng quản trị
Hội đồng quản trị được quy định tại Điều 108 của luật doanh nghiệp:
- Hội đồng quản trị là cơ quan quản lý công ty, có toàn quyền nhân danh công ty để
quyết định, thực hiện các quyền và nghĩa vụ của công ty không thuộc thẩm quyền của
Đại hội đồng cổ đông
- Hội đồng quản trị có các quyền và nhiệm vụ sau đây:
+ Quyết định chiến lược, kế hoạch phát triển trung hạn và kế hoạch kinh doanh
hằng năm của công ty;
+ Kiến nghị loại cổ phần và tổng số cổ phần được quyền chào bán của từng loại;
+ Quyết định chào bán cổ phần mới trong phạm vi số cổ phần được quyền chào
bán của từng loại; quyết định huy động thêm vốn theo hình thức khác;
+ Quyết định giá chào bán cổ phần và trái phiếu của công ty;
+ Quyết định mua lại cổ phần theo quy định tại khoản 1 Điều 91 của Luật này
(Luật doanh nghiệp 2005);
+ Quyết định phương án đầu tư và dự án đầu tư trong thẩm quyền và giới hạn theo
quy định của Luật này hoặc Điều lệ công ty;
+ Quyết định giải pháp phát triển thị trường, tiếp thị và công nghệ; thông qua hợp
đồng mua, bán, vay, cho vay và hợp đồng khác có giá trị bằng hoặc lớn hơn 50% tổng giá
trị tài sản được ghi trong báo cáo tài chính gần nhất của công ty hoặc một tỷ lệ khác nhỏ
hơn quy định tại Điều lệ công ty, trừ hợp đồng và giao dịch quy định tại khoản 1 và
khoản 3 Điều 120 của Luật này (Luật doanh nghiệp 2005);
+ Bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức, ký hợp đồng, chấm dứt hợp đồng đối với
Giám đốc hoặc Tổng giám đốc và người quản lý quan trọng khác do Điều lệ công ty quy
định; quyết định mức lương và lợi ích khác của những người quản lý đó; cử người đại
diện theo uỷ quyền thực hiện quyền sở hữu cổ phần hoặc phần vốn góp ở công ty khác,
quyết định mức thù lao và lợi ích khác của những người đó;
+ Giám sát, chỉ đạo Giám đốc hoặc Tổng giám đốc và người quản lý khác trong
điều hành công việc kinh doanh hằng ngày của công ty;
+ Quyết định cơ cấu tổ chức, quy chế quản lý nội bộ công ty, quyết định thành lập
công ty con, lập chi nhánh, văn phòng đại diện và việc góp vốn, mua cổ phần của doanh
Trang 29nghiệp khác;
+ Duyệt chương trình, nội dung tài liệu phục vụ họp Đại hội đồng cổ đông, triệu
tập họp Đại hội đồng cổ đông hoặc lấy ý kiến để Đại hội đồng cổ đông thông qua quyết
định;
+ Trình báo cáo quyết toán tài chính hằng năm lên Đại hội đồng cổ đông;
+ Kiến nghị mức cổ tức được trả; quyết định thời hạn và thủ tục trả cổ tức hoặc xử
lý lỗ phát sinh trong quá trình kinh doanh;
+ Kiến nghị việc tổ chức lại, giải thể hoặc yêu cầu phá sản công ty;
+ Các quyền và nhiệm vụ khác theo quy định của Luật này và Điều lệ công ty
- Hội đồng quản trị thông qua quyết định bằng biểu quyết tại cuộc họp, lấy ý kiến
bằng văn bản hoặc hình thức khác do Điều lệ công ty quy định Mỗi thành viên Hội đồng
quản trị có một phiếu biểu quyết
- Khi thực hiện chức năng và nhiệm vụ của mình, Hội đồng quản trị tuân thủ đúng
quy định của pháp luật, Điều lệ công ty và quyết định của Đại hội đồng cổ đông Trong
trường hợp quyết định do Hội đồng quản trị thông qua trái với quy định của pháp luật
hoặc Điều lệ công ty gây thiệt hại cho công ty thì các thành viên chấp thuận thông qua
quyết định đó phải cùng liên đới chịu trách nhiệm cá nhân về quyết định đó và phải đền
bù thiệt hại cho công ty; thành viên phản đối thông qua quyết định nói trên được miễn trừ
trách nhiệm Trong trường hợp này, cổ đông sở hữu cổ phần của công ty liên tục trong
thời hạn ít nhất một năm có quyền yêu cầu Hội đồng quản trị đình chỉ thực hiện quyết
định nói trên
2.1.4.3 Giám đốc hoặc Tổng giám đốc công ty
Giám đốc hoặc Tổng giám đốc công ty được quy định tại điều 116 Luật doanh nghiệp
2005 như sau:
- Hội đồng quản trị bổ nhiệm một người trong số họ hoặc thuê người khác làm
Giám đốc hoặc Tổng giám đốc Trường hợp Điều lệ công ty không quy định Chủ tịch
Hội đồng quản trị là người đại diện theo pháp luật thì Giám đốc hoặc Tổng giám đốc là
người đại diện theo pháp luật của công ty
- Giám đốc hoặc Tổng giám đốc là người điều hành công việc kinh doanh hằng
ngày của công ty; chịu sự giám sát của Hội đồng quản trị và chịu trách nhiệm trước Hội
đồng quản trị và trước pháp luật về việc thực hiện các quyền và nhiệm vụ được giao
- Nhiệm kỳ của Giám đốc hoặc Tổng giám đốc không quá năm năm; có thể được bổ
nhiệm lại với số nhiệm kỳ không hạn chế
- Tiêu chuẩn và điều kiện của Giám đốc hoặc Tổng giám đốc áp dụng theo quy định
tại Điều 57 của Luật này (luât doanh nghiệp 2005)
Trang 30- Giám đốc hoặc Tổng giám đốc công ty không được đồng thời làm Giám đốc hoặc
Tổng giám đốc của doanh nghiệp khác
- Giám đốc hoặc Tổng giám đốc có các quyền và nhiệm vụ sau đây:
+ Quyết định các vấn đề liên quan đến công việc kinh doanh hằng ngày của công
ty mà không cần phải có quyết định của Hội đồng quản trị;
+ Tổ chức thực hiện các quyết định của Hội đồng quản trị;
+ Tổ chức thực hiện kế hoạch kinh doanh và phương án đầu tư của công ty;
+ Kiến nghị phương án cơ cấu tổ chức, quy chế quản lý nội bộ công ty;
+ Bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức các chức danh quản lý trong công ty, trừ các
chức danh thuộc thẩm quyền của Hội đồng quản trị;
+ Quyết định lương và phụ cấp (nếu có) đối với người lao động trong công ty kể
cả người quản lý thuộc thẩm quyền bổ nhiệm của Giám đốc hoặc Tổng giám đốc;
+ Tuyển dụng lao động;
+ Kiến nghị phương án trả cổ tức hoặc xử lý lỗ trong kinh doanh;
+ Các quyền và nhiệm vụ khác theo quy định của pháp luật, Điều lệ công ty và
quyết định của Hội đồng quản trị
- Giám đốc hoặc Tổng giám đốc phải điều hành công việc kinh doanh hằng ngày
của công ty theo đúng quy định của pháp luật, Điều lệ công ty, hợp đồng lao động ký với
công ty và quyết định của Hội đồng quản trị Nếu điều hành trái với quy định này mà gây
thiệt hại cho công ty thì Giám đốc hoặc Tổng giám đốc phải chịu trách nhiệm trước pháp
luật và phải bồi thường thiệt hại cho công ty
2.1.4.4 Ban kiểm soát
- Đối với công ty cổ phần có trên mười một cổ đông là cá nhân hoặc có cổ đông là
tổ chức sở hữu trên 50% tổng số cổ phần của công ty phải có Ban kiểm soát và theo Điều
121 Luật doanh nghiệp 2005 thì Ban kiểm soát bao gồm:
- Ban kiểm soát có từ ba đến năm thành viên nếu Điều lệ công ty không có quy định
khác; nhiệm kỳ của Ban kiểm soát không quá năm năm; thành viên Ban kiểm soát có thể
được bầu lại với số nhiệm kỳ không hạn chế
- Các thành viên Ban kiểm soát bầu một người trong số họ làm Trưởng ban kiểm
soát Quyền và nhiệm vụ của Trưởng ban kiểm soát do Điều lệ công ty quy định Ban
kiểm soát phải có hơn một nửa số thành viên thường trú ở Việt Nam và phải có ít nhất
một thành viên là kế toán viên hoặc kiểm toán viên
- Trong trường hợp vào thời điểm kết thúc nhiệm kỳ mà Ban kiểm soát nhiệm kỳ
mới chưa được bầu thì Ban kiểm soát đã hết nhiệm kỳ vẫn tiếp tục thực hiện quyền và
nhiệm vụ cho đến khi Ban kiểm soát nhiệm kỳ mới được bầu và nhận nhiệm vụ
Trang 31- Không phải ai cũng được vào ban kiểm soát khi vào ban kiểm soát cần có một số
tiêu chuẩn và điều kiện được quy định tại Điều 122 Luật doanh nghiệp 2005 nnhư sau:
- Thành viên Ban kiểm soát phải có tiêu chuẩn và điều kiện sau đây:
+ Từ 21 tuổi trở lên, có đủ năng lực hành vi dân sự và không thuộc đối tượng bị
cấm thành lập và quản lý doanh nghiệp theo quy định của Luật này;
+ Không phải là vợ hoặc chồng, cha, cha nuôi, mẹ, mẹ nuôi, con, con nuôi, anh,
chị, em ruột của thành viên Hội đồng quản trị, Giám đốc hoặc Tổng giám đốc và người
quản lý khác
- Thành viên Ban kiểm soát không được giữ các chức vụ quản lý công ty Thành
viên Ban kiểm soát không nhất thiết phải là cổ đông hoặc người lao động của công ty
- Quyền và nhiệm vụ của ban kiểm soát
- Ban kiểm soát thực hiện giám sát Hội đồng quản trị, Giám đốc hoặc Tổng giám
đốc trong việc quản lý và điều hành công ty; chịu trách nhiệm trước Đại hội đồng cổ
đông trong thực hiện các nhiệm vụ được giao
- Kiểm tra tính hợp lý, hợp pháp, tính trung thực và mức độ cẩn trọng trong quản lý,
điều hành hoạt động kinh doanh, trong tổ chức công tác kế toán, thống kê và lập báo cáo
tài chính
- Thẩm định báo cáo tình hình kinh doanh, báo cáo tài chính hằng năm và sáu tháng
của công ty, báo cáo đánh giá công tác quản lý của Hội đồng quản trị
- Trình báo cáo thẩm định báo cáo tài chính, báo cáo tình hình kinh doanh hằng
năm của công ty và báo cáo đánh giá công tác quản lý của Hội đồng quản trị lên Đại hội
đồng cổ đông tại cuộc họp thường niên
- Xem xét sổ kế toán và các tài liệu khác của công ty, các công việc quản lý, điều
hành hoạt động của công ty bất cứ khi nào nếu xét thấy cần thiết hoặc theo quyết định
của Đại hội đồng cổ đông hoặc theo yêu cầu của cổ đông hoặc nhóm cổ đông quy định
tại khoản 2 Điều 79 của Luật này
- Khi có yêu cầu của cổ đông hoặc nhóm cổ đông quy định tại khoản 2 Điều 79 của
Luật này, Ban kiểm soát thực hiện kiểm tra trong thời hạn bảy ngày làm việc, kể từ ngày
nhận được yêu cầu Trong thời hạn mười lăm ngày, kể từ ngày kết thúc kiểm tra, Ban
kiểm soát phải báo cáo giải trình về những vấn đề được yêu cầu kiểm tra đến Hội đồng
quản trị và cổ đông hoặc nhóm cổ đông có yêu cầu
- Việc kiểm tra của Ban kiểm soát quy định tại khoản này không được cản trở hoạt
động bình thường của Hội đồng quản trị, không gây gián đoạn điều hành hoạt động kinh
doanh của công ty
- Kiến nghị Hội đồng quản trị hoặc Đại hội đồng cổ đông các biện pháp sửa đổi, bổ
sung, cải tiến cơ cấu tổ chức quản lý, điều hành hoạt động kinh doanh của công ty
Trang 32- Khi phát hiện có thành viên Hội đồng quản trị, Giám đốc hoặc Tổng giám đốc vi
phạm nghĩa vụ của người quản lý công ty quy định tại Điều 119 của Luật này thì phải
thông báo ngay bằng văn bản với Hội đồng quản trị, yêu cầu người có hành vi vi phạm
chấm dứt hành vi vi phạm và có giải pháp khắc phục hậu quả
- Thực hiện các quyền và nhiệm vụ khác theo quy định của Luật này, Điều lệ công
ty và quyết định của Đại hội đồng cổ đông
- Ban kiểm soát có quyền sử dụng tư vấn độc lập để thực hiện các nhiệm vụ được
giao
- Ban kiểm soát có thể tham khảo ý kiến của Hội đồng quản trị trước khi trình báo
cáo, kết luận và kiến nghị lên Đại hội đồng cổ đông
2.2 Giao dịch trên thị trường chứng khoán phi tập trung (OTC)
2.2.1 Khái niệm, đặc điểm và cách yết giá chứng khoán trên thị trường phi tập
trung (OTC)
2.2.1.1 Khái niệm
- Thị trường OTC là một bộ phận cấu thành không thể thiếu của một hệ thống thị
trường chứng khoán Vì sự có mặt của thị trường này đã góp phần mở rộng thị trường
dành cho các loại chứng khoán chưa được niêm yết trên thị trường tập trung, tạo ra một
kênh huy động vốn mới cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ, cung cấp cho thị trường một
cách giao dịch khác với phương thức của thị trường tập trung Chính vì vậy, thị trường
OTC góp phần hoàn thiện thị trường chứng khoán37
- Thị trường phi tập trung (OTC) là loại thị trường không có địa điểm giao dịch tập
trung, các giao dịch được tiến hành qua hệ thống giao dịch của công ty chứng khoán,
điện thoại, internet38…
2.2.1.2 Đặc điểm
- Thị trường phi tập trung (The – Ever – Counter – Market) là thị trường thương
lượng của các công ty môi giới chứng khoán thực hiện các giao dịch qua hệ thống điện
thoại và hệ thống vi tính đã được nối mạng giữa các thành viên rộng khắp trong cả nước
hoặc một khu vực Thị trường phi tập trung là một giao dịch “bậc cao”, không có trung
tâm giao dịch cụ thể Đây là thị trường “vô hình” hoạt động thông qua hệ thống mạng
lưới máy tính, điện thoại với hệ thống yết giá tự động
- Thị trường OTC là thị trường xuất hiện sớm nhất trong lịch sử thị trường chứng
khoán, có thể phân chia thành 3 giai đoạn sau:
+ Thời kỳ sơ khai: Hoạt động dưới hình thức gặp gỡ trực tiếp giữa người mua và
Trang 33người bán tại một địa điểm bất kỳ mà không thông qua các môi giới, tức là “qua quầy”
+ Thời kỳ giao dịch qua các nhà môi giới mua bán với nhau và với các nhà đầu tư
tại các địa điểm bất kỳ, theo hình thức thương lượng song phương giữa người mua và
người bán
+ Thị trường OTC hiện nay hoạt động thông qua thương lượng giá trên cơ sở mạng
điện thoại và ngày nay là điện tử diện rộng Tại một số thị trường OTC phát triển, cơ chế
giao dịch kết hợp cả hệ thống thương lượng và khớp lệnh
Như vậy đã trải qua lịch sử cho đến ngày nay có 2 loại thị trường OTC:
- Thị trường OTC truyền thống là thị trường chỉ có giao dịch thỏa thuận sử dụng
các nhà tạo thị trường, địa điểm không tập trung và giao dịch chủ yếu qua điện thoại,
fax39… có đặc điểm sau:
+ Có thể xác lập giá là thương lượng giữa các bên mua và bán, giữa các nhà kinh
doanh chứng khoán với khách hàng hoặc giữa các nhà kinh doanh chứng khoán với nhau
Vì vậy, có nhiều mức giá cho một loại chứng khoán vào một thời điểm
+ Có sự tham gia của các nhà tạo thị trường, thành viên của thị trường phi tập
trung là các công ty chứng khoán, các tổ chức kinh doanh chứng khoán chuyên nghiệp
Các công ty chứng khoán này được gọi là công ty giao dịch – môi giới, song các giao
dịch môi giới chiếm tỷ trọng không lớn Họ phải đáp ứng những tiêu chuẩn ngành nghề
trên thị trường phi tập trung
+ Không có địa điểm cụ thể đối với thị trường OTC truyền thống
- Thị trường OTC hiện đại kết hợp cả giao dịch tập trung và phi tập trung, vì cả thị
trường là một mạng máy tính điện tử diện rộng kết nối tất cả các chủ thể trên thị trường
- Danh mục chứng khoán giao dịch trên thị trường phi tập trung rất đa dạng bao
gồm các loại chứng khoán đã được đăng ký tại Sở giao dịch chứng khoán và các loại
chứng khoán đã được phát hành, chưa được đăng ký tại một sở giao dịch chứng nào như:
+ Cổ phiếu của công ty cổ phần, quỹ tương hỗ,40
… + Các loại trái phiếu của công ty;
+ Các loại trái phiếu của chính phủ và chính quyền địa phương;
+ Chứng chỉ quỹ đầu tư;
+ Các loại chứng khoán này có độ rủi ro cao hơn các loại chứng khoán giao dịch ở
Sở giao dịch chứng khoán, vì đối tượng tham gia vào thị trường phi tập tập trung là công
39
Thị trường chứng khoán của PGS.TS Lê Hoàng Nga, NXB Tài Chính, quý I/2009 trang 194
40 Quỹ tương hỗ, hay quỹ đầu tư, đơn giản là một hình thức đầu tư trung gian cho phép một nhóm các nhà đầu tư tập trung
tiền vào một mục đích đầu tư đã xác định Quỹ tương hỗ sẽ có người quản lý chịu trách nhiệm đầu tư số tiền tập trung
được để đầu tư vào các loại chứng khoán đã xác định (thường là cổ phiếu hoặc trái phiếu) Khi bạn đầu tư vào một quỹ
tương hỗ là bạn đang mua cổ phần của quỹ và trở thành cổ đông của quỹ.
Trang 34ty vừa và nhỏ là chủ yếu, quá trình giao dịch ngắn, mức độ công khai của các công ty này
có giới hạn Hầu hết các chứng khoán mới phát hành lầu đầu đều giao dịch qua thị trường
OTC, sau đó nếu đáp ứng đủ tiêu chuẩn niêm yết mới giao dịch ở sở giao dịch chứng
khoán Nhìn chung, các chứng khoán giao dịch ở thị trường phi tập trung phải thỏa mãn
một số điều kiện do Hiệp hội các nhà kinh doanh chứng khoán quy định, do đó các điều
kiện này rất khác nhau ở các nước
- Là thị trường có sự quản lý chặt chẽ để bảo vệ lợi ích cho mọi đối tượng trên thị
trường Thị trường hoạt động dưới sự chi phối của luật chứng khoán, nguyên tắt và luật
lệ do hiệp hội các nhà kinh doanh chứng khoán đề ra41
- Thị trường phi tập trung(OTC) là thị trường trong đó các giao dịch, mua bán
chứng khoán được thực hiện trực tiếp qua quầy của ngân hàng, công ty chứng khoán hay
các tổ chức tương tự tại bất cứ địa điểm và thời gian thuận lợi Giá cả chứng khoán ở đây
được hình thành tự phát trên cở sở thương lượng và thỏa thuận giữa người mua và người
bán nên cùng một loại chứng khoán có giá cả khác nhau tùy thuộc vào khối lượng và thời
gian giao dịch Đây là loại thị tường giao dịch có lịch sử lâu đời nhất trong tiến trình phát
triển thị trường chứng khoán của nhân loại42
- Khi công nghệ thông tin phát triển, dưới sự lan tỏa dưới tiến trình toàn cầu hóa
kinh tế, giao dịch trên thị trường OTC được thực hiện qua điện thoại hoặc mạng máy
tính
- Nhờ thực hiện giao dịch qua mạng máy tính, thông qua hệ thống các tổ chức môi
giới tạo lập thị trường chứng khoán liên kết với nhau trải rộng khắp thế giới và được điều
hành từ một trung tâm, OTC đã trở thành một thị trường có tổ chức chặt chẽ ở các nước
tư bản phát triển hiện nay Sự phát triển của thị trường chứng khoán OTC ở các quốc gia
đi sau thường được hiện đại hóa ngay để hội nhập vào hệ thống thị trường chứng khoán
thế giới, nên OTC trở thành thị trường năng động43
2.2.1.3 Cách yết giá chứng khoán trên thị trường phi tập trung (OTC)
Có ba cách yết giá trên thị trường phi tập trung (OTC)
- Yết giá chắc chắn: là sẵn sàn mua và bán số lượng đã được xác định và công bố
Khi công ty đưa ra số lượng giao dịch cổ phiếu, giá giao dịch bao nhiêu là sẽ bán hết với
số lượng và giá như thế và không thay đỗi số lượng hay giá cho dù thị trường có thay đổi
lên xuống Giúp người mua biết được chính xác khả năng giao dịch là đảm bảo không
theo giá biến động
41
Thị trường chứng khoán của PGS.TS Lê Hoàng Nga, NXB Tài Chính, quý I/2009 trang 195
42
“ Thị trường chứng khoán Việt Nam trong hội nhập kinh tế quốc tế” của Trần Quang Phú, Nguyễn Thanh Tùng ,
Nguyễn Đức Dũng - NXB Chính trị quốc gia –tháng 6 năm 2008 trang 17
43
“ Thị trường chứng khoán Việt Nam trong hội nhập kinh tế quốc tế” của Trần Quang Phú, Nguyễn Thanh Tùng ,
Nguyễn Đức Dũng - NXB Chính trị quốc gia –tháng 6 năm 2008 trang 17
Trang 35- Yết giá phụ thuộc: là giá có thể thương lượng được, giá chốt chưa hình thành Tùy
theo thời điểm giao dịch mà có sự thay đổi theo sự biến đổi của thị trường chứng khoán,
không phụ thuộc vào thời gian đưa ra thông báo yết giá Giá sẽ hình thành tại thời điểm
các bên giao dịch Các bên thường thương lượng phù hợp với giá thị trường lúc giao
dịch
- Yết giá cố gắng đạt được: là cách ra giá chỉ thực hiện đối với những loại chứng
khoán của công ty nợ nầng nhiều và đang được đánh giá lại Trước khi ra giá, công ty
chứng khoán phải thu thập thông tin về loại chứng khoán đó để tìm cách thương lượng
cho giao dịch đó được thực hiện Nguyên tắc yết giá công khai được thực hiện thông qua
màng hình yết giá tự động của hiệp hội các nhà giao dịch chứng khoán Hệ thống này sẽ
thông báo cho các công ty chứng khoán thành viên và công chúng biết giá thị trường hiện
hành của các loại chứng khoán đang giao dịch trên thị trường OTC
2.2.2 Phát hành chứng khoán
- Khái niệm về phát hành chứng khoán44: Việc chào bán lần đầu tiên chứng khoán
mới gọi là phát hành chứng khoán Nếu đợt phát hành dẫn đến việc đưa một loại chứng
khoán của một tổ chức lần đầu tiên ra công chúng thì gọi là phát hành lần đầu ra công
chúng Nếu việc phát hành đó là việc phát hành bổ sung bởi tổ chức đã có chứng khoán
cùng loại lưu thông trên thị trường thì gọi là đợt phát hành chứng khoán bổ sung Tuy
nhiên, không phải mọi đối tượng đều được phát hành chứng khoán mà chỉ những chủ thể
phát hành mới có được quyền này
- Hình thức phát hành chứng khoán: Có 2 hình thức phát hành chứng khoán trên thị
trường sơ cấp Đó là phát hành riêng lẻ và phát hành ra công chúng
+ Phát hành riêng lẻ (Private Placement): Là việc công ty phát hành chào bán
chứng khoán của mình trong phạm vi một số người nhất định (thông thường là cho các
nhà đầu tư có tổ chức có ý định nắm giữ chứng khoán một cách lâu dài) như công ty bảo
hiểm, quỹ hưu trí với những điều kiện hạn chế chứ không phát hành rộng rãi ra công
chúng Các ngân hàng đầu tư cũng có thể tham gia vào việc phát hành riêng lẻ với tư
cách nhà phân phối để hưởng phí phát hành Đa số các đợt phát hành trái phiếu đều thực
hiện dưới hình thức phát hành riêng lẻ, việc phát hành cổ phiếu thường - cổ phiếu phổ
thông ít khi được thực hiện dưới hình thức này
+ Phát hành chứng khoán ra công chúng: là việc phát hành trong đó chứng khoán
có thể chuyển nhượng được bán rộng rãi ra công chúng cho một số lượng lớn người đầu
tư nhất định (trong đó phải dành một tỷ lệ cho các nhà đầu tư nhỏ) và khối lượng phát
hành phải đạt một mức nhất định
44
http://www.tuoitre.com.vn/Tianyon/Index.aspx?ArticleID=209851&ChannelID=403