1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

LUẬN văn LUẬT tìm HIỂU một số QUY ĐỊNH của PHÁP LUẬT về đạo đức SINH học

92 272 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 92
Dung lượng 827,2 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Sơ lược lịch sử phát triển của pháp luật về đạo đức sinh học trên Thế giới và VỀ ĐẠO ĐỨC SINH HỌC Chương 1 QUY CHẾ PHÁP LÝ VỀ CÁC BIỆN PHÁP HỖ TRỢ SINH SẢN BẰNG PHƯƠNG PHÁP KHOA HỌC

Trang 1

ĐỀ CƯƠNG NGHIÊN CỨU

Phần 1 QUYỀN CON NGƯỜI - TIỀN ĐỀ XÂY DỰNG CÁC QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ ĐẠO ĐỨC SINH HỌC

-

Mục 1

LÝ LUẬN CHUNG VỀ QUYỀN CON NGƯỜI

I Sơ lược lịch sử phát triển của quyền con người trong tiến trình phát triển của

nhân loại

1 Trên thế giới

2 Ở Việt Nam

II Một số nội dung cơ bản của quyền con người

1 Khái niệm quyền con người

2 Nội dung cơ bản của quyền con người

III Một số nội dung mới về quyền con người trong Thế giới hiện đại

Mục 2 GIỚI THIỆU CHUNG PHÁP LUẬT VỀ ĐẠO ĐỨC SINH HỌC

I Khái niệm về đạo đức sinh học

1 Theo quan điểm Triết học

2.Theo quan điểm của Xã hội học

3 Theo quan điểm của Khoa học pháp lý

II Sự cần thiết phải điều chỉnh bằng pháp luật về đạo đức sinh học

III Mối quan hệ giữa pháp luật và đạo đức sinh học

IV Sơ lược lịch sử phát triển của pháp luật về đạo đức sinh học trên Thế giới và

VỀ ĐẠO ĐỨC SINH HỌC

Chương 1 QUY CHẾ PHÁP LÝ VỀ CÁC BIỆN PHÁP HỖ TRỢ SINH SẢN

BẰNG PHƯƠNG PHÁP KHOA HỌC

Mục 1 Quy chế pháp lý của việc hiến tặng và nhận tinh trùng, noãn và phôi

I Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc hiến tặng và nhận tinh trùng, noãn, phôi

Trang 2

1 Nguyên tắc vô danh

2 Điều kiện về chủ thể hiến tặng

2.1 Điều kiện thuộc về yếu tố sinh học a) Tuổi

b) Sức khoẻ 2.2 Điều kiện thuộc về các yếu tố xã hội 2.3 Điều kiện giới hạn

a) Giới hạn về số lượt b) Giới hạn về quốc tịch

3 Thỏa thuận hiến tặng tinh trùng, noãn, phôi dưới góc độ khoa học pháp lý

a) Giả thiết là hợp đồng tặng cho b) Giả thiết không là hợp đồng tặng cho

4 Hiệu lực của thỏa thuận hiến tặng tinh trùng, noãn, phôi

5 Biến dạng của việc hiến tặng tinh trùng, noãn, phôi - giao kết mua bán trái

phép

III Quy chế pháp lý về việc nhận hiến tặng tinh trùng, noãn, phôi

1 Nguyên tắc vô danh

2 Điều kiện về chủ thể nhận hiến tặng tinh trùng, noãn, phôi

2.1 Điều kiện thuộc về yếu tố sinh học a) Tuổi

b) Sức khỏe 2.2 Điều kiện thuộc về các yếu tố xã hội

3 Đặc điểm pháp lý của việc nhận hiến tặng tinh trùng, noãn, phôi

Mục 2

Hệ quả pháp lý của việc hỗ trợ sinh sản bằng phương pháp khoa học

I Xác nhận quan hệ cha, mẹ-con

1 Xác nhận quan hệ cha, mẹ-con

4 Quyền được hưởng sự chăm sóc của các thành viên trong gia đình

III Quyền tài sản

1 Thừa kế theo di chúc

2 Thừa kế theo pháp luật

Mục 3 Một số biện pháp hỗ trợ sinh sản bằng biện pháp khoa học khác

chưa được pháp luật thừa nhận ở Việt Nam

và thực tiễn một số nước trên Thế giới

I Mang thai hộ

1 Cơ sở kỹ thuật và ý nghĩa xã hội

a) Cơ sở kỹ thuật b) Ý nghĩa xã hội

2 Nội dung pháp lý và những hệ quả phát sinh

3 Đánh giá và kết luận

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Trang 3

II Lựa chọn giới tính thai nhi

1 Cơ sở kỹ thuật và nhu cầu xã hội

a) Cơ sơ kỹ thuật b) Nhu cầu xã hội

2 Nội dung pháp lý và một số hệ quả phát sinh

a) Nội dung pháp lý b) Một số hệ quả phát sinh

3 Đánh giá và kết luận

III Sinh sản vô tính ở người

1 Cơ sở kỹ thuật và tác động xã hội

a) Cơ sở kỹ thuật b) Tác động xã hội

I Cơ sở lý luận và cơ sở pháp lý

1 Cơ sở lý luận

2 Cơ sở pháp lý

a) Luật so sánh b) Luật Việt Nam

II Một số vấn đề liên quan đến việc hiến tặng các bộ phận cơ thể người

1 Nguyên tắc thực hiện

2 Cơ sở xác định chết não

3 Cơ thể người - một tài sản đặc biệt

4 Thủ tục hiến tặng xác

5 Hiến tặng các bộ phận cơ thể người

III Đánh giá và kết luận

Chương III Nội dung pháp lý của việc chuyển đổi giới tính

I Cơ sở lý luận và tiền đề xã hội

1 Khiếm khuyết sinh học

2 Sự lệch lạc tậm lý

II Cơ sở thực tiễn

III Định hình quy chế pháp lý của việc chuyển đổi giới tính

1 Điều kiện thực hiện chuyển đổi giới tính

2 Một số vấn đề phát sinh khi triển khai thực hiện

IV Hậu quả pháp lý

Trang 4

Chương IV Can thiệp y học chấm dứt sự sống bệnh nhân

I Cơ sở lý luận và thực tiễn

Trang 5

LỜI MỞ ĐẦU

gày nay, cùng với những thành tựu trong lĩnh vực kinh tế, văn hố,

xã hội, một số vấn đề khác đang thu hút sự quan tâm của tồn nhân loại đĩ là những thành tựu của kỹ thuật sinh học Đây là những lĩnh vực liên

quan trực tiếp đến sự phát triển của con người và gián tiếp chi phối mối quan hệ

trong xã hội, bởi vì chính con người là tiền đề, là yếu tố phát triển của xã hội Do

đĩ, nghiên cứu về đạo đức sinh học chính là nghiên cứu về mối quan hệ mật

thiết giữa các quyền cơ bản của con người và những tiến bộ của y học

Trong khung cảnh xã hội hiện tại, sự phát triển của các ngành khoa học, nhất

là trong lĩnh vực sinh - y học đang diễn ra theo xu hướng tiến bộ, địi hỏi sự tác

động cĩ chiều hướng tích cực để khơng thốt ra ngồi tầm kiểm sốt của xã hội Rõ

ràng là giữa các thành tựu khoa học và các quan điểm đạo đức về các thành tựu này

đang cĩ sự cạnh tranh gay gắt và liên tục Một điều cĩ thể dễ dạng thừa nhận rằng

các nguyên tắc về đạo đức nghề nghiệp của các nhà y học khơng đủ để tránh được

những biến chuyển khĩ kiểm sốt trong lĩnh vực khoa học hiện đại Do đĩ, ngồi

đạo đức cần cĩ một quy định chuẩn mực để ra tạo tiêu chí, tiền đề cho đạo đức sinh

học đi đúng mục đích cao đẹp của nĩ Lúc này, pháp luật về đạo đức sinh học ra

đời

Tại Việt Nam, kỹ thuật y học đã đạt được nhiều thành tựu đáng tự hào, đặc

biệt là kỹ thuật hỗ trợ sinh sản, đã đem lại hạnh phúc cho nhiều cặp vợ chồng vơ

sinh, đẩy lùi nguy cơ bị phá vỡ của những mái ấm thiếu vắng tiếng cười trẻ thơ

Ngồi ra, một số ứng dụng khác đã được nghiên cứu và thực hiện thành cơng, như

mang thai hộ, biến đổi gien phơi thai, chuẩn đốn và điều trị thai nhi dị tật, chuyển

đổi giới tính Việc cho, nhận và cấy ghép các bộ phận trong cơ thể từ lâu đã là một

thành tựu y học của con người, là việc làm đáng trân trọng đã được pháp luật Việt

Nam cũng như nhiều nước trên Thế giới thừa nhận

Nhằm điều chỉnh những mối quan hệ mới phát sinh khi thực hiện những kỹ

thuật này, ngày 12/02/2003 Chính phủ ban hành Nghị định số 12/2003/NĐ-CP về

sinh con theo phương pháp khoa học, và được Bộ Y tế hướng dẫn thi hành bằng

Thơng tư 07/2003/TT-BYT ngày 28/5/2003, đã mở ra một bước ngoặt mới cho sự

phát triển của y học nước nhà trên cơ sở các giá trị đạo đức và chuẩn mực pháp lý

của người Việt Nam Dự thảo Pháp lệnh về hiến, lấy, ghép, bảo quản mơ, bộ phận

cơ thể người và khám nghiệm tử thi đã được xây dựng và sẽ được trình xin ý kiến

Quốc hội khĩa XI trong kỳ họp tháng 7/2003 Tuy nhiên, nội dung các văn bản

này cịn nhiều hạn chế, chưa đĩn đầu được những quan hệ pháp lý phát sinh từ việc

áp dụng những kỹ thuật y học này trong đời sống dân cư Do đĩ, cần cĩ một nghiên

cứu hệ thống về khoa học luật đối với những vấn đề này

Hơn nữa, hiện nay thật sự chúng ta vẫn chưa cĩ một ngành luật cụ thể điều

chỉnh về đạo đức sinh học mà chỉ cĩ những văn bản chuyên ngành quy định cho

từng lĩnh vực ứng dụng trong y - sinh học Nhưng cĩ thể nĩi, nếu chúng ta đặt tất cả

từng lĩnh vực phát triển của y - sinh học vào lăng kính chung của pháp luật thì lâu

dài sẽ cĩ một ngành luật điều chỉnh riêng về đạo đức sinh học

N

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Trang 6

Từ sự quan tâm của bản thân trước yêu cầu của thực tiễn, người viết mạnh

dạn lựa chọn đề tài TÌM HIỂU MỘT SỐ QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ

ĐẠO ĐỨC SINH HỌC làm trọng tâm nghiên cứu của Luận văn tốt nghiệp Tuy

nhiên, đạo đức sinh học, là một khái niệm rộng, khá đa dạng về nội dung Do hạn

chế về về kiến thức chuyên môn và khả năng nghiên cứu tất cả những vấn đề thuộc

phạm trù đạo đức sinh học, đề tài chỉ tiếp cận về mặt pháp lý một số lĩnh vực nhất

định như: các biện pháp hỗ trợ sinh sản bằng phương pháp khoa học; chuyển đổi

giới tính; can thiệp y học để chấm dứt sự sống của bệnh nhân; hiến tặng các bộ

phận của cơ thể người

Trong giới hạn đó, nội dung của đề tài gồm 2 phần:

Phần 1 -QUYỀN CON NGƯỜI - TIỀN ĐỀ XÂY DỰNG

CÁC QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ ĐẠO ĐỨC SINH HỌC

Phần 2 - TÌM HIỂU MỘT SỐ QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ ĐẠO ĐỨC SINH HỌC

Bằng những nghiên cứu tổng thuật về quyền con người, nhất là một số vấn

đề mới về quyền con người trong Thế giới hiện đại, phần thứ nhất của đề tài đưa ra

những ý niệm cơ bản nhất liên quan đến pháp luật về đạo đức sinh học, làm rõ mối

quan hệ giữa đạo đức sinh học và pháp luật, cũng như sự cần thiết điều chỉnh nhu

cầu xã hội bằng pháp luật về đạo đức sinh học Như đã nói, đạo đức sinh học được

xây dựng dựa trên cơ sở tôn trọng quyền con người, phần đầu đề tài đề cập sơ lược

đến lịch sử phát triển quyền con người, một số mối quan hệ giữa quyền con người

và đạo đức sinh học qua đó cho thấy ảnh hưởng của quyền con người đến các vấn

đề sinh học

Từ đây, phần thứ hai của đề tài tập trung nghiên cứu từng vấn đề thực tiễn cụ

thể qua lăng kính pháp lý: Chế độ pháp lý về các biện pháp hỗ trợ sinh sản bằng

khoa học, Quy chế pháp lý của việc hiến tặng các bộ phận cơ thể con người, Nội

dung pháp lý về việc chuyển đổi giới tính, Can thiệp y học để chấm dứt sự sống của

bệnh nhân Trên cơ sở kỹ thuật chuyên ngành cụ thể và tham khảo kỹ thuật lập

pháp một số quốc gia trên Thế giới, đề tài xây dựng cơ sở lý luận để giải quyết

những vấn đề pháp lý phát sinh trong thực tiễn Việt Nam, hoàn thiện các quy chế

pháp lý có liên quan, đảm bảo những giá trị cao đẹp của người Việt Nam nói riêng

và nhân loại toàn Thế giới nói chung

Phương pháp duy vật biện chứng Mác Lênin là phương pháp giữ vai trò chủ

đạo trong suốt quá trình nghiên cứu đề tài Do tính chất đặc thù của vấn đề nghiên

cứu, các phương pháp nghiên cứu và phân tích luật viết được vận dụng linh hoạt

trong từng trường hợp cụ thể Ngoài ra, các phương pháp tiếp cận và nghiên cứu

Luật so sánh, điều tra xã hội học, thống kê tư pháp, liên hệ, tổng hợp có ý nghĩa

hỗ trợ hiệu quả đối với kết quả nghiên cứu của đề tài

Mặc dù đã có nhiều cố gắng trong việc nghiên cứu nội dung của đề tài,

nhưng đây là lĩnh vực còn rất mới lạ trong trong cách nhìn nhận của xã hội nói

chung, hơn nữa các quy định của pháp luật còn nhiều hạn chế, gây khó khăn khi

giải quyết những vấn đề thực tiễn Do đó, chắc chắn sẽ không tránh khỏi những

thiếu sót nhất định Rất mong nhận được sự thông cảm và đóng góp ý kiến của quý

Thầy Cô và các bạn sinh viên để đề tài hoàn chỉnh hơn

Cần Thơ, ngày 09 tháng 7 năm 2003

NGUYỄN THỊ MỘNG THU

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Trang 7

Phần 1 QUYỀN CON NGƯỜI - TIỀN ĐỀ XÂY DỰNG

CÁC QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ ĐẠO ĐỨC SINH HỌC

Mục 1

LÝ LUẬN CHUNG VỀ QUYỀN CON NGƯỜI

I Sơ lược lịch sử phát triển của quyền con người trong tiến trình phát triển của nhân loại

1 Trên Thế giới

Quyền con người là một nội dung pháp lý mang tính lịch sử, là yếu tố

quan trọng trong mục tiêu và động lực của sự phát triển kinh tế - xã hội Tư

tưởng về quyền con người trải qua bốn giai đoạn:

Giai đoạn thứ nhất: Vào giữa thế kỷ IX đến thế kỷ VII trước công

nguyên, chế độ công xã thị tộc tan rã nhường chỗ cho chế độ chiếm hữu nô lệ

Phương thức sản xuất của chế độ chiếm hữu nô lệ thể hiện tính ưu việt hơn

phương thức sản suất công xã thị tộc Đến thời kỳ Trung cổ, chế độ phong kiến

thay thế chế độ chiếm hữu nô lệ, mâu thuẫn giai cấp, kết cấu xã hội, tư tưởng

nhân đạo và tự do diễn biến khác đi và phức tạp hơn Nền kinh tế tồn tại trong

kết cấu xã hội phong kiến đã biến người nông dân lệ thuộc vào địa chủ cả về tư

liệu sản xuất và cá nhân họ, về các quan hệ xã hội, chính trị và nhân quyền Tuy

vậy, cũng có nhiều tư tưởng xã hội tiến bộ dũng cảm chống lại ách áp bức phong

kiến, bênh vực quyền lợi nông dân, đưa ra những tư tưởng sơ khai về quyền con

người ở các khía cạnh khác nhau: nguồn gốc các quyền, tự do ý chí, quyền lực

đối với tự nhiên Nếu gạt bỏ màn sương bao phủ của tín ngưỡng, tôn giáo và

thần thoại, ở cả phương Đông và phương Tây, có thể thấy những tư tưởng về các

quyền cơ bản của con người, tuy sơ khai nhưng vô cùng quý giá1

Giai đoạn thứ hai: Thời kỳ Phục hưng là thời kỳ hình thành phương thức

sản xuất tư bản chủ nghĩa, mở đầu cho lịch sử phát triển về tư tưởng văn hóa

cách mạng tư sản Sự phát triển mạnh mẽ của lực lượng sản xuất, của khoa học

kỹ thuật là cơ sở để con người nhận thức lại chính mình, khẳng định con người

như là một giá trị cao nhất, đặt con người vào vị trí trung tâm, tin tưởng vào khả

năng vô tận của con người Đây là thời kỳ phục hưng lại các giá trị nhân văn,

nhân đạo thời cổ đại trên cơ sở nền kinh tế mới, phục hưng các quyền con người

theo tinh thần nhân đạo tư sản về các giá trị con người đã bị xã hội phong kiến

và tôn giáo chà đạp và kềm hãm trong vòng tối tăm, ngu dốt, phi nhân tính Thời

kỳ này xuất hiện các đạo luật tư sản quan trọng về quyền con người: Đạo luật

của Anh về các quyền, Tuyên ngôn độc lập của Hợp chủng quốc Hoa Kỳ, Hiến

1

Đối với vấn đề này, Prôtagora và các nhà triết học thuộc trường phái nguỵ biện lần đầu tiên đưa ra

quan niệm về sự bình đẳng giữa những người trong xã hội: "Thượng đế tạo ra mọi người, điều là

người tự do, tự nhiên không ai biến thành nô lệ cả" -Theo Quyền con người trong lịch sử nhân loại -

NXB Chính trị Quốc gia - 10/1997

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Trang 8

pháp của Hợp chủng quốc Hoa Kỳ, Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền của

Pháp, Hiến pháp của nước Cộng Hòa Pháp 2 …

Có thể nói rằng, để đạt đến những giá trị cơ bản và cao quý về các quyền

cơ bản của con người, nhân loại đã trải qua cuộc hành trình hơn một ngàn năm

chịu đựng gian khổ, đến thời kỳ này mới giác ngộ và nhận thức được các quyền

thiêng liêng của chính mình và hành động quyết liệt để giành lấy các quyền đó

Với ngọn cờ tự do, bình đẳng, bác ái, nhân quyền giai cấp tư sản đã dựa vào

sức mạnh đấu tranh của quần chúng để nắm giữ các quyền lợi kinh tế, chính trị

và nhân quyền cho mình

Giai đoạn thứ ba: đầu thế kỷ XIX, chủ nghĩa tư bản bắt đầu bọc lộ rõ

bản chất phản động, các lực lượng dân chủ cách mạng và các lực lượng tiền thân

của giai cấp vô sản bắt đầu thức tỉnh và tập hợp lực lượng đấu tranh Các nhà

chủ nghĩa xã hội không tưởng đưa ra những tư tưởng mới, hình dung về một xã

hội mới trong đó con người được hưởng tự do và công bằng hơn so với chủ

nghĩa tư bản Dựa trên hệ thống quan điểm duy vật biện chứng và duy vật lịch

sử, Mac và Anghen đã hướng tới xã hội không có người bóc lột người Hai ông

đã phát khởi “đòi vấn đề nhân quyền và dân quyền” trong Tuyên ngôn điều lệ

tạm thời của Hội liên hiệp công nhân quốc tế năm 1864 và Hiến chương và Điều

lệ của Hội liên hiệp công nhân quốc tế năm 1866 cũng như trong một số tác

phẩm khác của hai ông3

Giai đoạn thứ tư: những tiến bộ cơ bản về con người chỉ có được sau nỗi

kinh hoàng của Chiến tranh Thế giới thứ II, loài người đã thoát khỏi hiểm họa

phát xít, các tư tưởng dân chủ và tiến bộ dành được thắng lợi sau chiến tranh,

các nước trong phe đồng minh chống phát xít và nhiều quốc gia trên thế giới

thấy cần thiết và có thể thành lập một tổ chức quốc tế rộng lớn nhằm ngăn ngừa

các thảm họa có thể xảy ra và bảo vệ quyền con người

Ngày 24-10-1945, Liên Hiệp Quốc ra đời và thông qua Hiến chương Liên

Hiệp Quốc, nhằm: "duy trì hoà bình và an ninh thế giới; tin tưởng vào những

quyền cơ bản, nhân phẩm và giá trị con người, ở quyền bình đẳng nam nữ, ở

quyền bình đẳng giữa các nước lớn và nước nhỏ” 4 Sau đó, Uỷ ban nhân quyền

của Liên Hiệp Quốc được thành lập.Vấn đề quyền con người thật sự trở thành

mối quan tâm quốc tế rộng lớn Tuyên ngôn quốc tế về nhân quyền được long

trọng công bố vào tháng 12-1948, trong đó đề cập các quyền và tự do cơ bản của

con người Lần đầu tiên, quyền con người trở thành một quy tắc chính thức đặt

trên nền tảng của hiến chương Liên Hiệp Quốc và luật pháp quốc tế, khẳng định

tính phổ biến cúa các quyền, nhất là quyền bình đẳng; công nhận việc thực hiện

nhân quyền là mục tiêu chung của nhân loại; xác đinh tính toàn diện của quyền

con người trên tất cả các lĩnh vực dân sự - chính trị - kinh tế - xã hội và văn hoá

2

Các đạo luật này xuất phát từ quan điểm của các nhà triết học có tư tưởng lớn, những tư tưởng này kế

thừa và phát huy những quan niệm về tôn giáo, luật pháp và triết học với mục đích là thiết lập quyền

con người dựa trên các nguyên tắc cơ bản không thể xâm phạm

3

Theo Quyền con người trong lịch sử nhân loại - NXB Chính trị Quốc gia - 10/1997

4

Trích Hiến chương Liên Hiệp Quốc năm 1945

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Trang 9

Từ năm 1948 đến 1965, Liên Hiệp Quốc thông qua 14 Hiệp ước và Nghị

định thư về nhân quyền Năm 1966 Liên hiệp quốc thông qua hai công ước quan

trong nhất: Công ước về các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa và Công ước về

các quyền dân sự và chính trị Cho đến nay, Liên Hiệp Quốc đã thông qua 25

Công ước, Hiệp ước và Nghị định thư về quyền con người Hội nghị nhân quyền

quốc tế lần thứ nhất được tổ chức ở Têhêran và 25 năm sau, vào tháng 6-1993

Hội nghị nhân quyền thế giới lần thứ hai được tổ chức ở Viên được gọi là

“tuyên ngôn đầu tiên của nhân loại” và là “lý tưởng chung mà tất cả các dân

tộc và tất cả các quốc gia phải đạt tới” 5

Như vậy, vấn đề nhân quyền trong suốt thời gian dài của lịch sử bị giới

hạn vào khuôn khổ quốc gia, giờ đây được đặt lên bình diện quốc tế, trước tất cả

các thành viên của gia đình nhân loại Việc thừa nhận quyền con người được

xem là “nền tảng của tự do, công lý và hòa bình trên thế giới Còn sự không

hiểu và khinh thường các quyền con người sẽ đưa tới những hành vi dã man,

làm phẫn nộ lương tâm loài người sẽ được tự do ngôn luận và tín ngưỡng, thoát

khỏi khủng bố và nghèo đói, đã được tuyên bố là khát vọng cao nhất của con

người” 6 Lần đầu tiên luật pháp quốc tế đã thừa nhận quyền có công ăn việc làm,

đời sống đảm bảo, quyền bình đẳng nam nữ trong mọi lĩnh vực Hiện nay đã có

sự tiến bộ trong việc xác định các tiêu chuẩn về nhân quyền và pháp điển hóa

nội dung đó nhân quyền Nhưng tình hình thực hiện nhân quyền trên Thế giới

vẫn còn nhiều thiếu xót và hạn chế nên các cơ quan nhân quyền quốc tế đặc biệt

chú ý, nhất là ở các nước đang phát triển

2 Ở Việt Nam

Quyền con người ở Việt Nam gắn liền với lịch sử phát triển của cách mạng Việt Nam, với Nhà nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam và được Hiến pháp ghi nhận Lịch sử lập hiến Việt Nam cho thấy mỗi bản Hiến pháp là một dấu son đánh dấu bước ngoặc của cách mạng, của xã hội, và của toàn dân ta Đặc điểm này được chứng minh bằng những ghi nhận cụ thể trong các bản Hiến pháp nước ta, cụ thể là:

Hiến pháp năm 1946 - bản Hiến pháp đầu tiên, là sự khẳng định thành

quả của cuộc Cách mạng tháng Tám Dưới sự lãnh đạo của Đảng, nhân dân ta đã

đánh đuổi thực dân Pháp, lật đổ chế độ thực dân phong kiến, giành lại độc lập

cho dân tộc, xây dựng một Nhà nước dân chủ theo hình thức chính thể cộng hòa,

với hai nhiệm vụ lớn trọng đại là: đánh đuổi thực dân Pháp bảo vệ nền độc lập

dân tộc; đồng thời xóa bỏ những ràng buộc phong kiến, đem lại ruộng đất cho

dân cày, tự do dân chủ cho nhân dân và kiến thiết đất nước 7 Chế độ quyền công

dân, lần đầu tiên trong lịch sử nước ta, chế định này được ghi nhận và quy định

trong Hiến pháp8 Tuy về hình thức được nghi nhận tại vị trí thứ hai sau chính

thể, về nội dung chưa đầy đủ, song các quy định này đã ghi nhận các quyền cơ

bản khác như: quyền bầu cử, quyền ứng cử, quyền tự do ngôn luận, xuất bản,

báo chí, tổ chức hội họp, tự do tín ngưỡng, tôn giáo, tự do cư trú, đi lại Điều

5

Trích tuyên ngôn Thế giới về nhân quyền 1948

6 Trích tuyên ngôn Thế giới về nhân quyền 1948

7

Chế định Quyền công dân với các đặc điểm lịch sở lập hiến VN - Trần Văn Bách - Nghiên cứu trao đổi

8

Điều 1 Hiến pháp 1946 khẳng định “Tất cả quyền binh trong nước là của toàn thể nhân dân Việt Nam”

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Trang 10

đặc biệt là, Nhà nước Việt Nam không chỉ tuyên bố, thừa nhận nhân quyền về

mặt pháp lý quốc tế mà còn cam kết và chủ động hành động nhân đạo quốc tế

Ngay từ trong kháng chiến chống đế quốc Mỹ, dù đất nước tạm thời bị chia cắt

làm hai miền, Nhà nước ta đã tham gia bốn công ước quốc tế: Công ước

Giơnevơ về việc bảo hộ thường dân trong chiến tranh; Công ước Giơnevơ về đối

xử với tù binh; Công ước Giơnevơ về cải thiện tình cảm của những người thuộc

các lực lượng vũ trang trên biển bị thương, bị bệnh hoặc bị đắm tàu; Công ước

Giơnevơ về cải thiện tình cảm của những người thuộc các lực lượng vũ trang

trên bộ bị thương, bị bệnh hoặc bị đắm tàu 9 Các Công ước được Hội nghị ngoại

giao về thiết lập các công ước quốc tế bảo vệ các nạn nhân chiến tranh thông qua

ngày 12/8/1949 tại Giơnevơ cũng được Nhà nước ta quan tâm

Hiến pháp năm 1959, bản Hiến pháp thứ hai ghi nhận thắng lợi của cuộc

cách mạng dân chủ nhân dân ở miền Bắc, tiến hành xây dựng chủ nghĩa xã hội,

đấu tranh giải phóng miền Nam, thống nhất nước nhà Do đó, Hiến pháp đã cụ

thể và thể chế hóa đường lối chiến lược mà Đại hội Đảng lần thứ III đã đề ra:

xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và đấu tranh giải phóng miền Nam Chế

định quyền công dân trong Hiến pháp được ghi nhận và tiếp tục khẳng định sự

phát triển các quyền và nghĩa vụ của công dân Theo quy định của Hiến pháp

năm 1959, quyền tự do dân chủ của công dân được bình đẳng và mở rộng, quyền

và nghĩa vụ được quy định cụ thể hơn so với Hiến pháp năm 1946

Hiến pháp năm 1980, ra đời sau khi miền Nam hoàn toàn giải phóng và

đất nước đã thống nhất, đã khẳng định thành quả của cách mạng Việt Nam sau

hơn 30 năm Hiến pháp đã vạch ra phương hướng phát triển của Cách mạng Việt

Nam trong điều kiện đất nước đi lên chủ nghĩa xã hội Chế độ quyền công dân

được chú trọng hơn, nhằm phát huy hơn nữa quyền làm chủ của nhân dân lao

động trong chế độ xã hội chủ nghĩa Hiến pháp năm 1980 mở rộng phạm vi của

các quy định về quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân, bổ sung nhiều quyền và

nghĩa vụ mới Hơn nữa, vào năm 1977, Việt Nam đã trở thành thành viên của

Liên Hiệp Quốc Kể từ đó, Việt Nam đã tham gia nhiều công ước quốc tế về

quyền con người và tích cực đóng góp vào các hoạt động bảo vệ nhân quyền

Mốc thời gian chính, đánh dấu sự cam kết của Nhà nước Việt Nam trong việc

thúc đẩy và bảo vệ nhân quyền giai đoạn này là vào các năm 1981, 1982 và

1983 Đồng thời Việt nam đã gia nhập một loạt các Điều ước quốc tế về nhân

quyền như Công ước quốc tế về ngăn ngừa và trừng trị tội diệt chủng, Công ước

về loại trừ tất cả các hình thức phân biệt chủng tộc

Hiến pháp năm 1992, bản Hiến pháp thứ tư của Nhà nước ta, là Hiến

pháp của thời kỳ đổi mới, đã tổng kết thành quả của cách mạng Việt Nam trong

giữa nữa thế kỷ qua Hiến pháp năm1992 là cơ sở pháp lý để xây dựng một Nhà

nước pháp quyền, công cụ chủ yếu để thực hiện dân chủ đối với nhân dân, điều

chỉnh một cách căn bản những quy định về quyền và nghĩa vụ của công dân với

những quy định bảo đảm thực hiệncác quyền và nghĩa vụ đó nhằm thực hiện

9

Theo Việt Nam với việc tham gia các điều ước quốc tế về quyền con người - Đào Duy Kiên - Học viện

Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh.

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Trang 11

mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh10 Điều này

thể hiện ở giai đoạn từ 1994 đến 1996, Việt Nam tiếp tục gia nhập một loạt các

Công ước quốc tế khác về quyền trẻ em hoặc liên quan đến quyền trẻ em do Tổ

chức lao động quốc tế (ILO) thông qua Trong năm 2001, Việt Nam đã gia nhập

Công ước 182 về nghiên cứu và hành động ngay lập tức để xoá bỏ các hình thức

lao động trẻ em tồi tệ nhất, đưa tổng số Công ước ILO thông qua được Việt

Nam phê chuẩn hay gia nhập lên 15 Công ước

Hiến pháp năm 2000, được sửa đổi bổ sung tuy lần này chủ trương của

Nhà nước ta không phải là sửa đổi căn bản Hiến pháp năm 1992 mà chỉ sửa đổi

bổ sung một số điều về tổ chức bộ máy Nhà nước, nhưng vẫn không thể xa rời

mục tiêu "quyền con người, quyền công dân” làm cơ sở để sửa đổi bộ máy Nhà

nước Như vậy, không kể việc tham gia các công ước nhân quyền hoặc liên quan

đến nhân quyền do các tổ chức quốc tế thông qua, tính đến nay, Việt Nam đã ký

kết, phê chuẩn hoặc gia nhập 8 Công ước và 2 Nghị định thư bổ sung Công ước

trong tổng số 30 Công ước và Nghị định thư bổ sung Công ước về nhân quyền

do Liên Hiệp Quốc ban hành.Trong Báo cáo chính trị tại Đại hội Đảng lần IX

tháng 4/2001, Đảng ta xác định mục tiêu "chăm lo cho con người, bảo vệ mọi

quyền và lợi ích hợp pháp của mọi người; tôn trọng và thực hiện các điều ước

quốc tế về quyền con người mà Việt Nam đã ký kết hoặc tham gia" 11

II Một số nội dung cơ bản của quyền con người

1 Khái niệm quyền con người

Quyền con người gắn liền với bản chất con người Theo cách hiểu thông

thường, quyền con người là quyền được sống Nhưng mọi người có đặc điểm

riêng mà xâm phạm đến những đặc điểm này là xâm phạm đến bản chất con

người Quyền con người là quyền cơ bản của con người trong mọi dân tộc, mọi

quốc gia, mọi thời đại và chỉ có con người mới có Đó là khả năng hành động có

ý thức, yêu cầu, từ chối hoặc dành lấy một cái gì đó để bảo vệ và phát triển

2 Nội dung cơ bản của quyền con người

Quyền con người là quyền tự nhiên - vừa phản ánh các nhu cầu tự

nhiên, khách quan vừa thể hiện các quan hệ xã hội, ý chí chủ quan của từng con

người và của xã hội được pháp luật quốc tế và quốc gia ghi nhận, điều chỉnh, và

do cá nhân con người nắm giữ trong mối quan hệ với tự nhiên, với xã hội, với

Nhà nước và với cá nhân con người khác

Quyền con người là quyền cơ bản - thể hiện xu hướng, yêu cầu, quan

niệm được xác định với những nội dung cụ thể trong chuỗi quan hệ: quyền và

thực hiện quyền; kiểm soát quyền và bảo vệ quyền thì quyền mới là thể hiện

năng lực, khả năng, ý chí Cuộc sống xã hội hiện đại đã xác định quyền con

người với những nội dung cụ thể và hiện thực: quyền kinh tế, xã hội, văn hóa,

10

Vấn đề này được thể hiện tại Điều 50 Hiến Pháp 1992: “Ở nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam,

các quyền con người về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hoá được xã hội tôn trọng thể hiện ở các quyền

công dân và được quy định trong Hiến pháp và luật”

11

Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần IX, NXB Chính trị quốc gia, HN, 2001, tr134

Comment [MA1]: Page: 5

Không nên nhận định như thế này

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Trang 12

quyền dân sự, chính trị, quyền sống, quyền tự do và nhu cầu hạnh phúc, quyền

phụ nữ, quyền trẻ em 12

Quyền con người là quyền phổ biến - vừa là giá trị chung, vừa mang

tính riêng biệt, đặc thù, vừa có tính nhân loại, vừa có tính giai cấp Thế giới hiện

đại ngày càng sử dụng phổ biến và ngày càng có nhiều tiếng nói chung về nhân

quyền, nhưng quan niệm nhân quyền cũng được lý giải với những quan điểm

khác nhau, tùy thuộc vào lợi ích và ý chí của giai cấp thống trị Quyền con người

mang tính nhân loại và toàn cầu vì “tuy mỗi người là duy nhất nhưng chỉ có mỗi

một loài người”13 vì thế “nhân quyền là tiếng nói chung của nhân loại” nhưng

mỗi giai cấp, mỗi quốc gia va “mỗi nền văn hóa có con đường riêng để giúp họ

thực hiện nhân quyền”14

Quyền con người là quyền năng hỗn hợp - bao hàm quyền của cá nhân

con người, thể hiện lợi ích cá thể, tự do cá nhân, vừa thể hiện lợi ích của nhóm,

của cộng đồng, của quốc gia, dân tộc Với tư cách là cá nhân, quyền con người

thể hiện tính riêng biệt, bao hàm cả quyền công dân, thể hiện nội dung cơ bản

của quyền công dân Với tư cách thành viên xã hội, quyền con người thể hiện

quyền của tập thể, của nhóm, của các tổ chức, các giai tầng trong xã hội, chủ

quyền quốc gia dân tộc…

Quyền con người phụ thuộc vào trình độ phát triển kinh tế xã hội,

đặc điểm truyền thống quốc gia, luôn mâu thuẫn và bị hạn chế bởi các chế định

pháp lý và đời sống thực tế Truyền thống lịch sử, văn hóa, bản chất xã hội, ý

nghĩa giai cấp và trình độ phát triển kinh tế quy định bản chất quyền con người

Chủ nghĩa Mác khẳng định rằng quyền con người phụ thuộc vào các quan hệ

kinh tế và chế độ chính trị, xã hội, văn hóa nhất định, đặc biệt là cơ sở kinh tế và

phương thức thể hiện quyền sở hữu đối với tư liệu sản xuất

Quyền con người liên hệ mật thiết đến quyền lực Nhà nước, xác nhận

vai trò của Nhà nước trong việc tổ chức xã hội, quản lý đất nước, vừa đặt ra các

yêu cầu hạn chế và ngăn ngừa sự lạm quyền của Nhà nước và đặt ra các yêu cầu

hạn chế và ngăn chăn chế độ dân chủ và có thiết chế bảo đảm dân chủ thực sự

cho công dân, có kỷ cương pháp luật đủ mạnh và có hiệu lực, đảm bảo an ninh

cá nhân và trật tự an toàn xã hội đó là một Nhà nước tôn trọng nhân quyền Văn

kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII của Đảng ta xác định: xây dựng

“một Nhà nước giữ vững vai trò nòng cốt trong việc chăm lo cho con người, bảo

đảm các quyền tự do cơ bản của con người” và “nền dân chủ xã hội chủ nghĩa

là một nội dung cơ bản của đổi mới hệ thống chính trị ở nước ta Nhà nước ta là

trụ cột của hệ thống chính trị, là công cụ thực hiện quyền lực của công dân”

Quyền con người phải được bảo vệ bằng chế độ pháp lý -Trong quan

hệ giữa Nhà nước- pháp luật - quyền con người thì Nhà nước và pháp luật là

12

Hiến chương Liên Hiệp Quốc khẳng định quyền cơ bản này tại Điều 5: “Tin tưởng vào những quyền

cơ bản, nhân phẩm và giá trị cơ bản của quyền con người, tôn trọng và tuân thủ triệt để các quyền tự

do cơ bản của tất cả mọi người không phân biệt chủng tộc, nam nữ, ngôn ngữ hay tôn giáo.”

13

Federico Mayer - Trích Quyền con người trong lịch sử nhân loại - NXB Chính trị quốc gia - 10/1997

14

Ghuli - Trích Quyền con người trong lịch sử nhân loại - NXB Chính trị quốc gia - 10/1997

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Trang 13

công cụ, là phương tiện để bảo đảm thực hiện quyền con người Tuyên ngôn thế

giới về nhân quyền năm 1948 xác định trong lời nói đầu "quyền con người phải

được luật pháp bảo vệ, nếu con người không bắt buộc phải chờ đến những

phương sách cuối cùng, sự nổi dậy chống độc tài, và áp bức”, quyền con người

bao gồm các quyền tự do trong quan hệ với cộng đồng xã hội, là các giá trị xã

hội cần phải được quy phạm hóa bằng pháp luật mang tính khách quan và tất

yếu, không thể tùy tiện quy định theo lối “tặng cho”, "ban phúc”, “thu hẹp”

hay “mở rộng” theo ý muốn chủ quan của một cá nhân hoặc quyền lực nào15

Quyền con người là khái niệm đã được xã hội hóa và quốc tế hóa,

được Nhà nước thừa nhận và được ghi nhận, bảo đảm bằng pháp luật quốc tế

Trong đời sống quốc tế và các văn bản pháp lý quốc tế hiện nay, quyền con

người được chia thành hai nhóm sau đây:

Nhóm thứ nhất, các quyền dân sự và chính trị như quyền tự do đi lại, cư trú,

quyền bất khả xâm phạm về thân thể, nhà ở, quyền được pháp luật bảo vệ về

tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm ; quyền bầu cử, ứng cử, quyền tham

gia quản lý Nhà nước và xã hội, quyền tự do báo chí, tự do ngôn luận

Nhóm thứ hai, các quyền kinh tế-xã hội-văn hóa như: quyền học tập nghiên cứu,

quyền lao động, quyền kinh doanh, quyền tài sản, quyền thừa kế, quyền phát

minh sáng chế, quyền tự do kết hôn; quyền trẻ em, người già cô đơn,

III Một số nội dung mới về quyền con người trong Thế giới hiện đại

Hiện nay, chúng ta đang quan tâm đến những nguy cơ đang đe dọa nền

văn minh nhân loại và các giá trị các nhân văn của con người như: vấn đề sản

xuất và tàng trữ vũ khí giết người hàng loạt, vấn đế xung đột vũ trang, vấn đề

khủng bố quốc tế, vấn đề môi trường, vấn đề đại dịch AIDS lan tràn, vấn đề sản

xuất và mua bán các chất ma túy…Trong hàng loạt các vấn đề đặt ra, một khi nó

đã mang tính chất toàn cầu thì một quốc gia hay một nhóm quốc gia không thể

giải quyết, ngăn chặn và bài trừ được những thảm họa đó, mà đòi hỏi phải có sự

phối hợp của tất cả các nước trên Thế giới Ngày nay, xu thế hội nhập quốc tế

của các nước càng được chú trọng trên tất cả các lĩnh vực, mà chủ yếu là trên

lĩnh vực kinh tế-thương mại Để đảm bảo cho sự hợp tác cùng có lợi, đòi hỏi các

quốc gia nói chung phải ổn định về chính trị, sửa đổi các quy định của pháp luật

để điều chỉnh cho phù hợp, tôn trong và bảo vệ quyền con người

Như chúng ta đã biết, từ đầu những năm 90 của thế kỷ XX, Thế giới đã

bắt đầu một giai đoạn phát triển mới về quyền con người Liên Hiệp Quốc đã

phát động những năm quốc tế về quyền trẻ em, về người già, người tàn tật,

người bản xứ…và cũng đã triệu tập hàng loạt các Hội nghị quốc tế liên quan đến

quyền con người như: Hội nghị thượng đỉnh Thế giới về trẻ em (9/1999), Hội

15

C.Mác đã viết rằng: “Luật pháp cũng không được thoát khỏi cái nghĩa vụ chung cho tất cả mọi người

là nói lên sự thật Luật pháp phải làm như thế gấp đôi, bởi vì nó là kẻ thể hiện một cách phổ biến nhất

và thật sự bản chất pháp lý của sự vật Vì vậy bản chất pháp lý của sự vật không thể thích ứng với sự

vật; ngược lại, luật phải thích ứng với bản chất pháp lý của sự vật” - trích Quyền con người trong lịch

sử nhân loại -NXB Cính trị quốc gia -10/1997

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Trang 14

nghị thượng đỉnh Thế giới về dân số và phát triển ( 4/1994), Hội nghị quốc tế về

phụ nữ (9/1995), Hội nghị Thế giới về nhân quyền tại Viên (6/1993)16

Thập kỷ 90 của thế kỷ XX đã tạo đà quan trọng cho nhân quyền thế giới

phát triển và vững bước vào thế kỷ XXI với những quan điểm mới về nhân

quyền hiện vẫn còn giữ nguyên giá trị đích thực của nó

Trước hết, vấn đề “An toàn con người và phát triển con người bền vững” ngày

nay đang được toàn Thế thế giới quan tâm Công ước quốc tế về các quyền dân

sự và chính trị năm 1966 xác định quyền sống là một đương nhiên không thể bị

tước đoạt của mỗi con người, trong đó có quyền duy trì sự sống và quyền làm

chủ sự sống Ngày nay quan niệm về quyền con người cực kỳ phức tạp trước sự

phát triển của kinh tế và chủ nghĩa hiện đại, công nghệ gien và sinh học, những

thành công của y học trong việc ghép tim, thậm chí sinh con trong ống nghiệm

và đặc biệt là vấn đề nhân bản vô tính… Hàng loạt các vấn đề đặt ra về quyền

sống của con người cần được giải quyết

Thứ hai, phải xác định đúng đắn bản chất của quyền con người, trước hết là tự

do công dân gắn liền với nghĩa vụ của cá nhân với cộng đồng xã hội sao cho

“sự phát triển tự do của mọi người là điều kiện của sự phát triển tự do cho tất

cả mọi người” 17.Nội dung và mục tiêu cơ bản của quyền con người ngay khi

xuất hiện vấn đề nhân quyền đó là sự tự do Tuy nhiên để lý giải về khái niệm

tự do là cả một vấn đề mà Thế giới hiện đại chưa có khái niệm chung thống

nhất

Thứ ba, việc phát triển xã hội, phát triển kinh tế và bảo vệ môi trường vì mục

tiêu phát triển của con người có mối quan hệ phụ thuộc và thúc đẩy lẫn nhau, là

khuôn khổ cho nổ lực nhằm đạt tới một cuộc sống chất lượng cao hơn cho tất cả

mọi người Pháp luật quốc tế về bảo vệ môi trường là một lĩnh vực tương đối

mới của luật quốc tế, không ngừng được bổ sung và hoàn thiện Quyền con

người được sống trong một môi trường trong sạch và an toàn là khái niệm mới

xuất hiện

Thứ tư, sự xuất hiện những vấn đề toàn cầu động chạm đến lợi ích mỗi dân tộc,

quốc gia và làm phát sinh những vấn đề mới hết sức phức tạp trong Thế giới

hiện đại như những hiểm họa chiến tranh hạt nhân, khủng hoảng năng lượng và

lương thực, bùng nổ dân số, xung đột sắc tộc và tôn giáo, những căn bệnh nguy

hiểm, nguy cơ chiến tranh…đặt ra các yêu cầu về quyền sống, quyền được

hưởng hòa bình, tồn tại trong hòa bình

Ở Việt Nam, quyền lực bắt nguồn từ nhân dân, của nhân dân và vì nhân

dân Mọi chủ trương, đường lối và hoạt động của Đảng và Nhà nước ta đều

nhằm mục đích vì cuộc sống, vì hạnh phúc của nhân dân, một mặt phải tuyên

truyền trong nhân dân và đưa vào hệ thống pháp luật những tư tưởng, những chế

định, những nguyên tắc, những điều, những quy phạm về con người có nội dung

tiến bộ phù hợp với điều kiện kinh tế, xã hội của nước ta Mặt khác, quan điểm

về quyền con người của chúng ta luôn phải đứng trên quan điểm năng động và

phát triển thông qua việc nghiên cứu, phân tích tình hình và điều kiện thực tế

đang diễn ra trong nước và trên Thế giới, tìm ra những phương tiện, những bảo

16 Việt Nam với việc tham gia các điều ước quốc tế về quyền con người - Tường Duy Kiên - Học viện

Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh

17

Tuyên ngôn của Đảng Cộng Sản - Mac-Anghen toàn tập - NXB Sự thật 1999

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Trang 15

đảm, những cơ chế phù hợp và hiệu quả nhất để nhân dân sử dụng trong việc

thực hiện và bảo vệ các quyền tự do của mình

Mục 2 GIỚI THIỆU CHUNG PHÁP LUẬT VỀ ĐẠO ĐỨC SINH HỌC

Dẫn nhập - "Đạo đức sinh học” là một thuật ngữ nghe qua rất mới lạ Trong

khung cảnh xã hội hiện tại, sự phát triển của các ngành khoa học, nhất là trong lĩnh vực

sinh - y học đang diễn ra theo xu hướng tiến bộ, đòi hỏi sự tác động có chiều hướng

tích cực để không thoát ra ngoài tầm kiểm soát của xã hội Từ đó, vấn đề sinh học gắn

liền với phạm trù đạo đức được quan tâm

Nhưng sự phát triển đó, nếu chỉ đặt trong giới hạn điều chỉnh của đạo đức mà

không chịu một hình thức chế tài nào cả thì chắc chắn, công nghệ sinh học cũng sẽ đi

lệch với giá trị tích cực của nó Do đó, ngoài đạo đức cần có một quy định chuẩn mực để

ra tạo tiêu chí, tiền đề cho đạo đức sinh học đi đúng mục đích cao đẹp của nó Lúc này,

pháp luật về đạo đức sinh học ra đời Sự phát triển của pháp luật về đạo đức sinh học cơ

bản vẫn dựa trên quyền con người, bởi không có một hệ thống pháp luật nào ra đời lại

không dựa trên nền tảng đó, không vì mục đích bảo vệ và phát triển con người

I KHÁI NIỆM VỀ ĐẠO ĐỨC SINH HỌC

Vẫn còn nhiều ý kiến tranh luận về khái niệm đạo đức sinh học dù đã có

sự gặp gỡ của nhiều ngành khoa học, luật học, triết học, xã hội học và nhiều

ngành khoa học khác ở một số luận điểm cơ bản Đạo đức sinh học, ngày nay, là

một vấn đề mang tính quốc tế Bởi vì, do sự phát triển của đạo đức sinh học đã

làm cho loài người tiến đến một kỷ nguyên có thể làm biến đổi cả Thế giới

Có lẽ, để hiểu rõ hơn khái niệm này, ta nên đi từ khái niệm về đạo đức, và

các khái niệm về sinh học trong đó bao hàm cả y học; cuối cùng, sự kết hợp giữa

chúng sẽ tạo thành khái niệm tương đối hoàn chỉnh về đạo đức sinh học

1 Theo quan điểm Triết học

Trong Triết học, khái niệm đạo đức sinh học được phân tích, tổng hợp

dựa trên rất nhiều luận điểm Bởi vì, đạo đức sinh học liên quan đến rất nhiều

vấn đề, một mặt là các giá trị đạo đức; mặt khác chính là sự phát triển của thế

giới vật chất Tuy nhiên, đạo đức phải điều chỉnh sự phát triển của sinh học và

ngược lại, sự phát triển của công nghệ sinh học đặt ra yêu cầu tôn trọng các giá

trị đạo đức

Đạo đức là một khái niệm xuất phát từ tiếng Hy Lạp Aristote là người đã

đặt vấn đề đạo đức như là một trong những phạm trù đầu tiên của Triết học Đạo

đức có tính chất suy luận, phê phán, bao gồm nhiều vấn đề được con người thảo

luận, đánh giá dựa trên những quan điểm chính xác, chừng mực Y đức là đạo

đức y sĩ Bởi ta biết rằng thủ thuật y học chỉ hợp pháp nếu thủ thuật y học đó tôn

trọng một số điều kiện về giữ gìn và bảo vệ con người Nguyên tắc đạo đức

không dựa trên một nền tảng cụ thể nào cả, cũng không tương đồng với nguyên

tắc của pháp luật bởi nó không nằm trong khuôn khổ của các thể chế Nhà nước

và cũng không xuất phát từ một văn bản nào Nó xuất phát từ sự nhìn nhận các

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Trang 16

giá trị luân lý của một con người Ta cũng biết, con người không phải là một sự

vật một đồ vật hay một phương tiện mà là một giá trị vô giá "Hãy đối xử vì nhân

loại luôn luôn như một mục đích, không bao giờ chỉ như một phương tiện"18

và"mỗi người đều phải được đối xử bởi người khác như một con người”19 Từ

những giá trị đó, đòi hỏi tất cả những tiến bộ của khoa học hiện đại đều phải dựa

trên giá trị chuẩn mực được đặt ra để ngăn chặn những vấn đề tha hoá phát sinh

Chính những lý do đó, con người dần dần quan tâm đến vấn đề đạo đức sinh học

để xem xét sự phát triển của ngành y - sinh học dựa trên cơ sở quyền tối cao của

con người

Như vậy, trong quan điểm của Triết học, yếu tố trung tâm của đạo đức

sinh học chính là con người "Tiêu chuẩn con người được tóm tắt lại tất cả

những suy nghĩ về sinh đạo đức, là sự tôn trọng và biểu dương con người”20

2 Theo quan điểm của Xã hội học

Xã hội học là ngành khoa học nghiên cứu về xã hội Do vậy, trong lĩnh

vực này, đạo đức sinh học là sự tập hợp của tất cả các ngành, các vấn đề có liên

quan để cho ra đời khái niệm về đạo đức sinh học Sự tổng hợp đó dựa trên các

những nhìn nhận đúng đắn nhất về các nhu cầu cơ bản của con người kết hợp

với các vấn đề khác của xã hội để đưa ra định hướng cho tương lai Đồng thời,

thông qua đó, các nhà nghiên cứu xã hội học sẽ có những biện pháp giải quyết

những thách thức mới của nhân loại và đưa ra những dự báo cho các vấn đề liên

quan

Qua nghiên cứu ảnh hưởng của sự phát triển của công nghệ sinh học tác

động lên xã hội, những thành tựu trong lĩnh vực y học và hậu quả cũng như lợi

ích của nó, ta có thể đưa ra định nghĩa như sau: Đạo đức sinh học là toàn thể

những nghiên cứu, phát biểu và thực hành, thường là đa ngành, nhằm mục đích

làm sáng tỏ hoặc giải quyết những vấn đề mang tính đạo đức, gây nên bởi

những phát triển và áp dụng những khoa học kỹ thuật trong sinh học và y học

3 Theo quan điểm của Khoa học pháp lý

Pháp luật luôn đặt mọi vấn đề cần điều chỉnh trong một khuôn khổ pháp

lý nhất định để đảm bảo cho sự ổn định của xã hội Sự phát triển của công nghệ

sinh học chủ yếu được điều chỉnh của đạo đức, nhưng dưới góc độ pháp lý, các

nhà làm luật không thể dựa vào các tiêu chuẩn đạo đức trong truyền thống dân

tộc để quản lý sự phát triển của công nghệ sinh học; mà chỉ có thể dựa vào các

giá trị đạo đức để ban hành ra các quy chế điều chỉnh Đó chính là pháp luật

Từ lâu, các luật gia đã cho rằng cần phải có một khuôn khổ pháp luật để

điều chỉnh hoạt động nghiên cứu khoa học mới trong lĩnh vực y - sinh học Mãi

cho đến hiện nay, đã có rất nhiều thành tựu trong lĩnh vực y - sinh học ra đời

Khi đó, con người mới nhận ra rằng, sự phát triển này cũng đã vi phạm đến các

giá trị đạo đức và vẫn chưa có một chuẩn mực chung để quản lý những vấn đề

X Thevenot - Trích quyền con người trong lịch sử nhân loại - NXB Chính trị quốc gia -10/1997

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Trang 17

phát sinh Xét trong khung cảnh các nước có nền y - sinh học chưa bắt kịp với sự

tiến bộ của các nước phát triển, chẳng hạn như ở Việt Nam, pháp luật điều chỉnh

riêng cho lĩnh vực này chưa hoàn thiện Nhưng không quá khó khăn để đưa ra

một khái niệm pháp lý về vấn đề hỗ trợ sinh sản Những quy định của con người

trong hiện tại nhằm điều tiết và điều chỉnh các công nghệ sinh học sẽ có ảnh

hưởng đến toàn nhân loại mai sau Sự điều chỉnh bằng luật pháp đối với các

công nghệ sinh học không thể chỉ được thực hiện ở các nước giàu, các nước phát

triển bởi đây là vấn đề mang tính toàn cầu Đạo đức sinh học là một khái niệm

cũng mang tính chất chung cho toàn nhân loại

Vì vậy, trong khoa học pháp lý, đạo đức sinh học được hiểu như sau: Đạo

đức sinh học là những nguyên tắc đạo đức trong các ứng xử về lĩnh vực y - sinh

học đặt dưới sự kiểm soát của luật pháp

II Sự cần thiết phải điều chỉnh bằng pháp luật về đạo đức sinh học và mối

quan hệ giữa pháp luật và đạo đức sinh học

1 Sự cần thiết phải điều chỉnh bằng pháp luật về đạo đức sinh học

Pháp luật luôn đi sau những tiến bộ của xã hội, nhất là trong giai đoạn

hiện nay Mặc dù đã có nhiều văn bản như: Công ước Châu Âu, Tuyên bố quốc

tế về gien người của UNESCO do Liên Hiệp Quốc thông qua đã thể hiện rõ việc

nhận thức về những vấn đề xã hội và con người với sự phát triển của các công

nghệ sinh học Tuy nhiên, vẫn có những mâu thuẫn trong cách nhìn nhận về con

người và lại có sự thống nhất về mặt xã hội và kỹ thuật trong bối cảnh toàn cầu

hoá hiện nay Pháp luật cần phải giải quyết được tất cả những vấn đề vừa thống

nhất lại vừa khác biệt như thế

Xét về mặt sinh học, hiện nay kỹ thuật y học đã phát triển đến một khả

năng vượt bậc, ngay cả việc có thể tạo ra được một con người hoàn toàn giống

với một con người trước đó cũng đã thực hiện thành công Xét về khía cạnh đạo

đức xã hội, có hai quan điểm Quan điểm ủng hộ thì cho rằng, kỹ thuật này sẽ

đem lại hạnh phúc cho những cặp vợ chồng không thể có con theo đúng nguyện

vọng của họ nhằm đạt được sự hoàn mỹ tuyệt đối Quan điểm phê phán thì cho

rằng, đó là việc làm tàn nhẫn và trái với đạo đức xã hội Tất cả những quan điểm

đó sẽ mãi còn tranh luận, không đạt đến sự thống nhất nếu không có một cơ sở

pháp lý để điều chỉnh - đó là pháp luật Dựa trên quan điểm đưa ra và xem xét lại

những vấn đề như điều kiện để có thể tiến hành được những kỹ thuật đó, tình

hình xã hội ngay sau khi kỹ thuật đó được phổ biến và trên hết là sự ra đời của

những con người mà không ai biết rằng khả năng sẽ tồn tại bao lâu, phát triển

như thế nào.Từ đó, những nhà làm luật so sánh giữa lợi ích và tác hại, giữa sự ổn

định và đảo lộn trật tự xã hội để cho ra đời một quy chế quản lý sự phát triển của

y sinh học trong khuôn khổ hữu dụng nhất

Ngày nay, chúng ta lại càng khẳng định luận điểm phải có sự điều chỉnh

của pháp luật về đạo đức sinh học bởi rõ ràng là giữa các thành tựu khoa học và

các quan điểm đạo đức về các thành tựu này đang có sự cạnh tranh gay gắt và

liên tục Một điều có thể dễ dạng thừa nhận là các nguyên tắc về đạo đức nghề

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Trang 18

nghiệp của các nhà y học không đủ để tránh được những biến chuyển khó kiểm

soát trong lĩnh vực y học hiên đại Chính vì lẽ đó mà cần có sự can thiệp của

pháp luật để điều chỉnh lĩnh vực này

2 Mối quan hệ giữa pháp luật và đạo đức sinh học

Trước kia, sự phát triển sinh học chỉ thành công đối với các đối tượng

động, thực vật Thời gian sau, khi những thí nghiệm đó được áp dụng lên chính

cơ thể con người, nhân loại mới đặt ra câu hỏi: Công nghệ này sẽ đưa con người

đạt đến mục đích gì và con người có thể trở thành những công cụ trong Thế giới

hiện đại? Từ đó, vấn đề đặt ra là sự tiến bộ của sinh học có đến đâu đi chăng nữa

cũng phải dựa trên tiêu chí đảm bảo các giá trị đạo đức để con người sống với ý

nghĩa thật sự của mình Nếu sự phát triển sinh học không dựa trên tiêu chí đạo

đức thì xã hội này sẽ rối loạn và nếu giữ chặt các giá trị đạo đức mà không cho

áp dụng các công nghệ sinh học thì xã hội cũng sẽ đi đến chỗ tụt hậu và suy

thoái Do đó, giữa đạo đức và sinh học có mối quan hệ mật thiết với nhau, hỗ trợ

nhau

Bên cạnh đó, phải thừa nhận rằng: những người làm việc trong lĩnh vực y

học, không thể chối bỏ họ là một công dân; và đã là công dân thì phải tuân thủ

theo pháp luật Pháp luật dựa trên các giá trị đạo đức, ngược lại đạo đức là cơ sở

để ban hành ra pháp luật Tuân thủ pháp luật là hình thức tuân thủ các giá trị đạo

đức Do khoa học tạo nên những sự kiện; pháp luật là công cụ để con người tự

điều chỉnh thông qua các quy phạm pháp luật và đạo đức có trách nhiệm đánh

giá những sự kiện đó để có những lựa chọn phù hợp Xã hội, hay nói cách khác

là tất cả mọi người, mà đại diện là Nhà nước có trách nhiệm lựa chọn những giải

pháp đúng đắn theo quy định của pháp luật để giải quyết tương lai của mình -

cũng là tương lai của xã hội, bởi nếu không, tương lai sẽ vượt khỏi tầm kiểm

soát của con người

III Sơ lược lịch sử phát triển của pháp luật về đạo đức sinh học trên Thế

giới và ở Việt Nam

1.Trên Thế giới

Trong thực tế, vấn đề đạo đức sinh học đã xuất hiện trước khi có thuật

ngữ để chỉ khái niệm đó Sau cuộc chiến tranh Thế giới thứ hai, các nhà bác học

thuộc mọi quốc gia đã tập hợp lại với nhau, bày tỏ sự lo lắng của họ trước việc

sử dụng vũ khí hạt nhân và mong muốn định hướng cho tương lai Quả bom

nguyên tử đầu tiên ném xuống thành phố Nakasaki (Nhật Bản) đã là một dấu

hiệu đáng lo ngại về đạo đức sinh học Gần đây, người ta đã tỏ ra e ngại về

những thành tựu mới mà các nhà khoa học đạt được Năm 1997, khi mà chú cừu

Dolly được ra đời bằng phương pháp sinh sản vô tính tại Xcôt-len, dư luận cũng

như các chính trị gia cũng lập tức đặt ra câu hỏi là: Một khi phương pháp sinh

sản vô tính đã thành công ở động vật thì cũng có thể được thực hiện ở người và

trong trường hợp đó thì chuyện gì sẽ xảy ra? Tại Hội nghị thượng đỉnh 6/1992

của Liên Hiệp Quốc, Công ước đa dạng sinh học được chính thức thông qua và

có hiệu lực 12/1993 là một bước tiến quan trọng hướng tới việc sử dụng tính đa

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Trang 19

dạng sinh học một cách công bằng, có đạo đức21 Văn kiện đầu tiên trong lĩnh

vực này đã quy định một khuôn khổ hành động toàn cầu nhằm giữ gìn, sử dụng

lâu dài và phân chia công bằng các lợi ích của tính đa dạng sinh học chính xác

hơn Công ước này tập trung vào việc xác định và tài trợ các chính sách bảo vệ,

tiếp cận các tài nguyên di truyền, chuyển giao từ các nước giàu sang các nước

nghèo những kỹ thuật có liên quan tới việc khai thác những tài nguyên đó và

buôn bán các sản phẩm đã được biến đổi gien

Tiếp theo đó, nhiều văn bản khác như Công ước về đạo đức sinh học của

Hội đồng Châu Âu, tuyên bố về gien người của UNESCO do Liên Hiệp Quốc

thông qua đã thể hiện rất rõ việc nhận thức về vấn đề xã hội và con người của sự

phát triển các công nghệ sinh học Và hiện nay, khi mà những thành tựu của

công nghệ phát triển đến đỉnh cao, thì mỗi quốc gia đều ban hành nhiều văn bản

pháp luật điều chỉnh các vấn đề về đạo đức sinh học Ở Pháp có Luật tôn trọng

cơ thể con người, Luật quy định về việc cho, sử dụng cơ thể con người, hỗ trợ

sinh sản bằng y học và chuẩn đoán trước sinh Ở một số nước khác như Mỹ,

Nga, Canada, một số nước Châu Á cũng có luật điều chỉnh nhân bản vô tính22

2 Ở Việt Nam

Đối với Việt Nam, các quyền cơ bản về văn hoá, chính trị, xã hội đều

cũng đã được ghi nhận trong các bản Hiến pháp Liên quan đến con người, Bộ

luật dân sự (sau đây viết tắt là BLDS), Luật Hôn nhân và gia đình (viết tắt là

L.HNGĐ) đều có những quy định cụ thể hoá các quy định của Hiến pháp

1992

Điều 32 BLDS có quy định quyền được bảo đảm an toàn về sức khoẻ,

tính mạnh và thân thể Trong điều luật này có một điểm quy định rằng “việc thực

hiện các phương pháp chữa bệnh mới trên cơ thể một người, việc gây mê, cấy

ghép trước hết phải có sự đông ý của bản thân người đó Trong những trường

hợp do luật định, phải được sự đồng ý của cha mẹ, người giám hộ hoặc người

đứng đầu cơ sở y tế” L.HNGĐ 2000, tại Điều 63 cũng có một quy định rằng

việc xác định quan hệ cha mẹ -con được sinh ra theo phương pháp khoa học do

Chính phủ quy định Hiện nay, đang phát sinh những nhu cầu rất lớn về việc cho

và sử dụng các bộ phận cơ thể con người mặc dù BLDS đã có quy định chung

rằng phải có sự đồng ý của bản thân người đó; nếu người đó là vị thành niên

hoặc có khuyết tật thì phải có sự đồng ý của cha mẹ người đó hoặc người giám

hộ Và trước đó, Luật bảo vệ sức khoẻ nhân dân 1989 cũng đã quy định về vấn

đề này nhưng đến nay, vẫn chưa có một trình tự, thủ tục pháp lý cụ thể và đầy đủ

về vấn đề này

Mới đây, Nghị định 12/2003/NĐ-CP ngày 12/02/2003 của Chính phủ quy

định về việc sinh con theo phương pháp khoa học (sau đây viết tắt là Nghị định

12) và Thông tư số 07/2003/TT-BYT ngày 28/5/2003 hướng dẫn thi hành Nghị

định 12 (viết tắt là Thông tư 07) của Bộ Y tế đã mở ra một bước ngoặc pháp lý

21 Công ước được 177 quốc gia phê chuẩn Mỹ không phê chuẩn Công ước này

22

Kỷ yếu Hội thảo “Pháp luật về đạo đức sinh học” - Nhà pháp luật Việt - Pháp - Hà Nội 9/2000 và tổng

hợp các tư liệu từ internet

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Trang 20

mới cho y học Việt Nam trong việc mang lại hạnh phúc cho những cặp vợ chồng

không có khả năng làm cha mẹ Tuy nhiên, nhằm tạo hành lang vững chắc trong

quá trình hội nhập với nền khoa học Thế giới, Việt Nam cần có thêm những quy

định pháp luật chi tiết hơn về vấn đề đạo đức sinh học23

IV Nguyên tắc cơ bản của pháp luật về đạo đức sinh học

Con người là trung tâm - Sự phát triển của khoa học nói chung và y học

nói riêng phải nhằm mục đích vì con người Do đó, khi có mâu thuẫn giữa sự

tiến bộ, các thành tựu y học và quyền lợi của con người, luôn luôn yếu tố con

người được ưu tiên hàng đầu

Con người là chủ thể, chứ không chỉ là đối tượng tác động - Các thủ

thuật y học phải nhằm giữ gìn và bảo vệ con người Hơn nữa, thủ thuật y học,

một khi được áp dụng đòi hỏi phải có đồng ý tự nguyện của người bệnh Mặt

khác, các thủ thuật này phải nhằm mục đích chữa trị

23

Hiện nay Dự thảo Pháp lệnh về hiến tặng các bộ phận của cơ thể người đang được chuẩn bị trình Quốc

hội thảo luận vào kỳ họp tháng 7/2003

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Trang 21

Phần 2 TÌM HIỂU MỘT SỐ QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT

VỀ ĐẠO ĐỨC SINH HỌC Giới hạn vấn đề - Đạo đức sinh học, về phần mình là một khái niệm

rộng, khá đa dạng về nội dung Tạm phân chia thành hai nhóm:

Thứ nhất, các tác động trực tiếp của y-sinh học lên cơ thể con người -

đó là các biện pháp hỗ trợ sinh sản bằng phương pháp khoa học, chuyển đổi giới tính, can thiệp y học để chấm dứt sự sống của bệnh nhân, hiến tặng các bộ phận của cơ thể người, biến đổi gien, sử dụng cơ thể con người làm thí nghiệm khoa học

Thứ hai, các tác động gián tiếp của y-sinh học lên cơ thể con người hoặc trên động, thực vật và có tác động đến con người - chẳng hạn việc

khai thác và sản xuất thực phẩm biến đổi gien (lúa mì, thịt gia súc),

Do hạn chế về về kiến thức chuyên môn và khả năng nghiên cứu tất cả

những vấn đề trên, nên đề tài này chỉ tiếp cận đến một số lĩnh vực sau: - Các

biện pháp hỗ trợ sinh sản bằng phương pháp khoa học; - Chuyển đổi giới tính; -

Can thiệp y học để chấm dứt sự sống của bệnh nhân; - Hiến tặng các bộ phận

của cơ thể người; - Biến đổi gien

Chương 1 QUY CHẾ PHÁP LÝ VỀ CÁC BIỆN PHÁP HỖ TRỢ SINH SẢN

BẰNG PHƯƠNG PHÁP KHOA HỌC Dẫn nhập - Một trong những mục tiêu để xây dựng gia đình chính là việc

duy trì nòi giống Con cái luôn là niềm mong mỏi của các cặp vợ chồng khi tiến

tới hôn nhân Vì vậy, chứng vô sinh luôn được coi là một vật cản khó chịu cho

sự phát triển của gia đình Bên cạnh giải pháp sinh con nuôi khi mắc bệnh vô

sinh không thể sinh con theo phương pháp tự nhiên, còn có một giải pháp hữu

hiệu và thích ứng hơn đó là áp dụng các biện pháp hỗ trợ sinh sản bằng y học

Sinh con theo phương pháp khoa học đã thể hiện sự phát triển vượt bậc của khoa

học kỹ thuật, đã tạo điều kiện cho các cặp vợ chồng vô sinh có thể có con, để

niềm mong mỏi thiết tha của họ trở thành hiện thực Các phương pháp sinh sản

có thể giải quyết được trình trạng vô sinh ở phụ nữ và nam giới (do ảnh hưởng

bởi nhiều yếu tố như môi trường, hậu quả chiến tranh ) đáp ứng được nhu cầu

làm cha, làm mẹ của họ Điều đó thể hiện những giá trị tốt đẹp, là giải pháp đem

lại hạnh phúc cho nhiều gia đình, đáp ứng sự khao khát làm cha, làm mẹ của

nhiều cặp vợ, chồng vô sinh Bởi vì xét cho cùng, sự phát triển của gia đình

chính là động lực phát triển của toàn xã hội và cả nhân loại trên Thế giới

Thực tế việc áp dụng biên pháp hỗ trợ sinh sản không đơn thuần thuộc

lĩnh vực khoa học mà còn liên quan đến nhiều vấn đề về đạo đức, pháp lý, về

tâm lý tình cảm Việc áp dụng các biện pháp này trong nhiều trường hợp không

chỉ liên quan nội bộ các cặp vợ chồng có nhu cầu mà còn có thể liên quan đến

Comment [MA2]: Page: 15

Viết lại !

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Trang 22

người thứ ba, chẳng hạn những người cho tinh trùng, trứng, phôi Do đó, vấn đề

này cũng trở nên phức tạp và nhạy cảm hơn bao giờ hết

Để cụ thể hoá vấn đề này, Chính phủ đã ban hành Nghị định

12/2003/NĐ-CP ngày 12/02/2003 và Thông tư số 07/2003/TT-BYT ngày

28/5/2003 về sinh con theo phương pháp khoa học Các văn bản này đã quy định

về việc thụ tinh nhân tạo, thụ tinh trong ống nghiệm; việc cho - nhận tinh trùng;

cho - nhận noãn; cho - nhận phôi; lưu giữ tinh trùng, noãn, phôi và xác định cha,

mẹ cho trẻ sinh ra bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản; là hành lang pháp lý thuận lợi

để các cơ sở y tế áp dụng các biện pháp hỗ trợ sinh sản cho các cặp vợ chồng vô

sinh và phụ nữ độc thân

Giải thích thuật ngữ

Hỗ trợ sinh sản bằng y học: là toàn bộ những thủ thuật y học cho phép thụ tinh

trong ống nghiệm, chuyển phôi, thụ tinh nhân tạo, cũng như toàn bộ các biện pháp

cho phép sinh con ngoài chu trình tự nhiên

Sinh con theo phương pháp khoa học: là việc sinh con được hỗ trợ bằng kỹ thuật

sinh sản như: thụ tinh nhân tạo, thụ tinh trong ống nghiệm

Thụ tinh nhân tạo: là kỹ thuật bơm tinh trùng của chồng hoặc của người cho tinh

trùng vào tử cung của người phụ nữ có nhu cầu sinh con để tạo phôi

Thụ tinh trong ống nghiệm: là sự kết hợp giữa noãn và tinh trùng trong ống nghiệm

để tạo thành phôi

Cặp vợ chồng vô sinh: là cặp vợ chồng sống gần nhau liên tục, không áp dụng các

biện pháp tránh thai nào mà không có thai sau một năm

Noãn: là tế bào trứng

Phôi: là sản phẩm kết hợp giữa noãn và tinh trùng

Mục 1 Quy chế pháp lý của việc hiến tặng

và nhận tinh trùng, noãn, phôi

I Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc hiến tặng và nhận tinh trùng, noãn, phôi

Hiện nay, tỷ lệ vô sinh ở Việt Nam ước tính từ 10-15% Theo các chuyên

gia y học, những yếu tố thường gây vô sinh ở người phụ nữ là các bệnh viêm

màng tử cung, nghẹt ống dẫn trứng và các bệnh liên quan đến trứng Ở người

đàn ông, nguyên nhân hiếm muộn do vô sinh là có quá ít tinh trùng, hay tinh

trùng không bình thường là nguyên nhân chính24 Vì vậy, nhu cầu điều trị về xin

tinh trùng với trứng là rất lớn Bên cạnh đó, các cơ sở y tế ở Việt Nam đã thực

hiện thành công nhiều kỹ thuật hỗ trợ sinh sản phức tạp, như thụ tinh trong ống

nghiệm, thụ tinh nhân tạo, trữ lạnh phôi

A Cơ sở thực tiễn

Hỗ trợ sinh sản không phải là một khái niệm mới vừa được biết đến mà

trên thực tế, phương pháp này đã được thực hiện trước khi có sự điều chỉnh của

pháp luật Do đó, vấn đề cần đặt ra là phải có quy định của pháp luật để điều

Trang 23

chỉnh kịp thời sự phát triển của kỹ thuật y - sinh học, hướng sự phát triển đó vào

trong một khuôn khổ nhất định Thực tiễn luôn diễn ra trước pháp luật bới có

thực tiễn mới có cơ sở cho pháp luật ra đời

Diễn biến của các nước phát triển trên Thế giới - Việc hỗ trợ sinh sản

bằng phương pháp khoa học đã thực hiện từ lâu, song cũng gặp không ít khó

khăn về quy định của pháp luật, về tôn giáo Đứa bé đầu tiên trên Thế giới chào

đời do thụ tinh trong ống nghiệm vào năm 1987 Các kỹ thuật về chuyển trứng,

tinh trùng, chuyển phôi được áp dụng rất sớm ngay từ những năm đầu của thập

niên 80 Theo thống kê của nhiều nước trên Thế giới cho thấy số trẻ sinh ra từ

các kỹ thuật hỗ trợ sinh sản ngày càng tăng Ngay từ năm 1996, người ta đã ghi

nhận có khoản 1,5% trẻ sinh ra hàng năm là từ các kỹ thuật hỗ trợ sinh sản Đến

nay, tại các nước như Thụy Điển, Pháp, Đức, có khoảng 5% số trẻ ra đời hàng

năm là nhờ các kỹ thuật này Thời gian đầu, các nước thường dựa vào tiền lệ

pháp để giải quyết những vấn đề phát sinh Nhưng về sau, cùng với sự phát triển

về kỹ thuật, một khuôn khổ pháp luật rõ ràng và cụ thể về vấn đề hỗ trợ sinh sản

bằng y học cũng được xây dựng và phát huy tác dụng, đáp ứng nguyện vọng của

tầng lớp dân cư vì mục đích nhân đạo25

Riêng ở Việt Nam, do công nghệ sinh học trong y học phát triển chậm

hơn trình độ chung của các nước trên Thế giới nên tính đến nay Việt Nam mới

có 4 cơ sở thực hiện kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm: Bệnh viện Phụ sản Từ

Dũ26; Viện Bảo vệ Bà mẹ và Trẻ sơ sinh (Hà Nội)27; Học viện Quân Y28, và

Bệnh viện Phụ sản quốc tế Sài Gòn29

Cơ sở đầu tiên thực hiện kỹ thuật hỗ trợ sinh sản đó là Bệnh viện Phụ sản

Từ Dũ Đây là trung tâm lớn nhất nước về chăm sóc và điều trị sản khoa, và

cũng là cơ sở đi đầu trong việc thực hiện kỹ thuật thụ tinh nhân tạo, thụ tinh

trong ống nghiệm Cuối thập niên 80, Bệnh viện đã có hướng đầu tư nghiên cứu

các kỹ thuật điều trị vô sinh nhưng do điều kiện vật chất kỹ thuật còn hạn chế

nên phải đến 4/1998 bệnh viện mới thực hiện thành công một số kỹ thuật này

Từ đó cho đến nay, Bệnh viện đã thực hiện khoảng 1400 chu kỳ điều trị, số trẻ

Ngày 30/4/98, 3 em bé đầu tiên bằng phương pháp thụ tinh trong ống nghiệm chào đời Đến tháng

9/2000, cả nước đã có 100 em bé chào đời bằng phương pháp này Các kỹ thuật thụ tinh trong ống

nghiệm cũng ngày càng được hoàn thiện Tháng 5/1998, Bệnh viện phụ sản Từ Dũ thực hiện thành

công kỹ thuật tiên tiến nhất hiện nay: tiêm tinh trùng vào bào tương trứng (kỹ thuật ICSI) 8/1998: cặp

song sinh khác giới bằng thụ tinh trong ống nghiệm đầu tiên ra đời 12/1999 4 em bé sinh 4 bằng

phương pháp thụ tinh trong ống nghiệm đầu tiên 2/2000; em bé thụ tinh trong ống nghiệm - xin trứng

(bằng trứng người khác) đầu tiên ra đời Tỷ lệ thành công của phương pháp thụ tinh trong ống

nghiệm là 35%, không thua kém ngay cả những nước có trình độ y học tiên tiến

27

Viện Bà mẹ và Trẻ sơ sinh Việt Nam được phép thực hiện công nghệ mới, thụ tinh trong ống nghiệm và

đã tiến hành cho gần 90 cặp vợ chồng Đến năm 2001, đã có 26 trường hợp thấy tim thai (Theo Khoa

học và phát triển ngày 13/03/2001)

28

Học Viện Quân Y, nơi đây cũng đã thực hiện thành công thụ tinh trong ống nghiệm Hai đứa bé song

sinh một trai một gái đã ra đời vào tháng 8/2002 đã đánh dấu bước thành công đầu tiên của Học Viện

Quân Y trong lĩnh vực thụ tinh trong ống nghiệm Với kết quả này, nơi đây trở thành đơn vị thứ ba

trong cả nước thực hiện thành công thụ tinh trong ống nghiệm

29

Bệnh viên Phụ sản quốc tế Sài Gòn cho ra đời đứa bé được thị tinh nhân tạo vào 8/2000

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Trang 24

sinh ra theo phương pháp khoa học tại Bệnh viện đã lên đến gần 300 tường hợp

cộng thêm với khoảng 50 trường hợp đang mang thai Ước tính có khoản 1 đến 2

triệu cặp vợ chồng có nhu cầu hỗ trợ sinh sản và tại bệnh viện Từ Dũ hàng năm

có khoảng 1000 đến 2000 trường hợp có nhu cầu xin tinh trùng, khoảng 1000

trường hợp xin trứng30

Tuy nhiên, trước đây, chưa có pháp luật điều chỉnh, nên vướng mắc lớn

nhất là thủ tục pháp lý về xin cho trứng và mang thai hộ; Bệnh viện chỉ thực hiện

những trường hợp cá biệt được Bộ Y tế cho phép và chỉ đạo về mặt thủ tục để

tránh tình trạng rắc rối khi xảy ra tranh chấp Ngoài ra, những người thực hiện

xin trứng - cho trứng còn gặp rất nhiều khó khăn khi thực hiện công chứng thỏa

thuận về việc hiến tặng trứng, tinh trùng hoặc giao ước về việc mang thai hộ

theo nguyện vọng của một số cá nhân có nhu cầu Bởi lẽ, khó có thể xác định

rằng đó là những thoả thuận gì, có trái luật không và thỏa thuận này có thuộc

hành vi công chứng hay không Pháp luật không thỏa mãn nguyện vọng của xã

hội và làm hạn chế tác nghiệp y học Trong khung cảnh đó, các cơ sở y tế chỉ có

thể thực hiện nghiên cứu kỹ thuật này trong phòng thí nghiệm hoặc trao đổi như

là một chuyên đề khoa học; hoặc có thực hiện trên thực tế, nhưng không mang

tính chính thức31

Có thể nói rằng tất cả các cơ sở y tế nghiên cứu và thực hiện được kỹ

thuật hỗ trợ sinh sản đều đã chuẩn bị sẵn sàng điều kiện vật chất kỹ thuật để áp

dụng rộng rãi trong khi chờ đợi một văn bản pháp luật được ban hành điều chỉnh

vấn đề hỗ trợ sinh sản bằng y học Lẽ ra, theo dự kiến, cuối năm 2001 Chính phủ

sẽ ban hành Nghị định về sinh con theo phương pháp khoa học Ngay khi mới là

dự thảo, Nghị định đã thu hút sự quan tâm của các ngành, các cấp và của các cặp

vợ chồng có nhu cầu sinh con bằng phương pháp khoa học Sau thời gian Dự

thảo Nghị định đã được các cơ quan ban ngành đóng góp ý kiến, có nhiều ý kiến

khác nhau32 Do nhiều lý do khách quan và chủ quan, mãi cho đến năm 2003,

văn bản này mới được ban hành vào ngày 12/02/2003 cho phép thực hiện các kỹ

thuật cho, nhận tinh trùng; cho, nhận noãn; cho, nhận phôi ở Việt Nam Việc

ban hành Nghị định này, ngoài việc mở ra cơ hội điều trị vô sinh cho rất nhiều

đôi vợ chồng, còn tạo điều kiện phát triển các kỹ thuật hỗ trợ sinh sản ở Việt

Nam hiện nay

30

Theo báo Pháp luật TPHCM ngày 26/12/2002

31

Thật ra, từ năm 1995, Bệnh viện Từ Dũ đã soạn thảo một quy chế về ngân hàng tinh trùng, ngân hàng

phôi trình lên Bộ Y tế phê duyệt nhưng không được chấp thuận, bởi lẽ, Bộ Y tế cùng Bộ Tư pháp

muốn xây dựng một văn bản dưới luật để các bệnh viện có thể chính thức thực hiện các kỹ thuật hỗ trợ

sinh sản bằng y học, đặc biệt là phương pháp thụ tinh nhân tạo với giao tử nhận được của người thứ

ba Việc soạn thảo và ban hành văn bản pháp quy này khá phức tạp và cần nhiều thời gian Do đó,

trong một số trường hợp cá biệt cụ thể nhằm đáp ứng nguyện vọng khẩn thiết của từng cá nhân và vì

yêu cầu nghiên cứu chuyên môn, các cơ sở y tế đều xin ý kiến Bộ Y tế để thực hiện

32 Chẳng hạn, việc mang thai hộ cũng được tiến hành trước khi có các quy định của pháp luật dù rất hạn

chế Các ý kiến thảo luận đã đưa ra vấn đề về việc xác định cha mẹ cho con do nảy sinh nhiều mâu

thuẫn, sẽ đi ngược lại với Luật Hôn nhân gia đình và Luật Bảo vệ sức khoẻ nhân dân Do đó, cần xem

xét thận trọng, không chỉ dựa trên các quy định của một hai ngành luật mà phải có một cách nhìn tổng

quát toàn bộ hệ thống pháp luật, tham khảo ý kiến của các nhà chuyên môn trên cơ sở đạo lý dân tộc

Việt Nam Đó là những khó khăn khiến Nghị định ra đời chậm hơn so với nhu cầu của thực tiễn

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Trang 25

B Cơ sở lý luận

Việc hiến tặng và nhận tinh trùng, noãn, phôi là những nội dung của quá

trình hỗ trợ sinh sản bằng phương pháp khoa học cho các cặp vợ chồng vô sinh

Có nhiều phương pháp điều trị vô sinh Tuỳ theo nguyên nhân gây vô sinh mà

lựa chọn những phương pháp cho phù hợp Hỗ trợ sinh sản bằng y học có hai

cách: thụ tinh nhân tạo và thụ tinh tinh trong ống nghiệm Thuật ngữ chuyên

môn ghi nhận về kỹ thuật khá phức tạp:

AI Thụ tinh nhân tạo, kỹ thuật đưa tinh trùng vào đường sinh dục của người phụ nữ để

điều trị vô sinh Hiện nay chủ yếu được thực hiện bằng cách bơm tinh trùng đã chuẩn bị sẵn vào buồng tử cung

AID Thụ tinh nhân tạo với tinh trùng của người cho

AIH Thụ tinh nhân tạo với tinh trùng của chồng

ICSI Kỹ thuật hỗ trợ sự thụ tinh giữa trứng và tinh trùng ICSI được thực hiện bằng cách

tiêm một tinh trùng vào bào tương của trứng để thụ tinh trứng và toạ phôi Sau đó phôi được chuyển vào buồng tử cung

IUI Bơm tinh trùng vào buồng tử cung được thực hiện bằng cách bơm tinh trùng đã

được chuẩn bị sẵn vào buồng tử cung

IVF Thụ tinh trong ống nghiệm: quá trình thụ tinh của trứng và tinh trùng ở bên ngoài

cơ thể Trong IVF, trứng và tinh trùng được cho nuôi cấy với nhau trong phòng thí nghiệm để tạo phôi

MESA Lấy tinh trùng từ mào tinh bằng vi phẩu

MESE Hút tinh trùng bằng mào tinh bằng chọc hút

TESA Lấy tinh trùng từ tinh hoàn bằng vi phẩu

TESE Hút tinh trùng từ tinh hoàn bằng chọc hút

Như đã phân tích ở phần trước, hỗ trợ sinh sản bằng y học có hai cách: thụ

tinh nhân tạo và tạo phôi trong ống nghiệm

a Thụ tinh nhân tạo (Artificial Insemination - AI)

Đây là một cách thụ tinh nhân tạo của những người hiến tinh trùng, nếu

như tinh trùng của người chồng không bình thường, không đủ khả năng hoặc

tinh dịch quá loãng Nếu như tinh trùng của người chồng có đủ khả năng thụ tinh

thì đây là trường hợp thụ tinh nhân tạo bằng tinh trùng của người chồng Cả hai

trường hợp trên sẽ sử dụng phương pháp là tinh trùng của người chồng hoặc

người hiến tặng sẽ đưa vào tử cung của người vợ33

b Thụ tinh trong ống nghiệm (In-vitro fertilization-IVF)34

33

Có 2 phương pháp:

Phương pháp bơm tinh dịch tươi vào tử cung của người vợ, phương pháp này tính an toàn không cao,

bởi khi bơm tinh dịch tươi vào tở cung người vợ có thể gây co thắt tử cung, do đó, khi bơm tinh dịch

trực tiếp vào tử cung có thể gây sốc phản vệ

Phương pháp IUI (Intrauterin insemination): phương pháp này được sử dụng khi tinh trùng của người

chồng yếu, ngoài ra, nó còn chỉ định cho những phụ nữ vô sinh không rõ nguyên nhân, rối loạn

trứng Phương pháp này có ưu điểm về mặt kỹ thuật và mức độ an toàn hơn so với phưng pháp bơm

tinh dịch tươi Với phương pháp này, tinh trùng sẽ được lựa chọn ra những tinh trùng khoẻ đưa vào

môi trường nuôi cấy để tăng sức mạnh cho chúng Sau đó, khi đạt yêu cầu, tinh trùng được bơm vào tử

cung người vợ Tỷ lệ thành công phụ thuộc vào chất lượng tinh trùng của người chồng

34

Kỹ thuật thực hiện như sau:

Tạo phôi trong ống nghiệm (IVF): trứng được tách ra từ buồng trứng của người phụ nữ chuyển vào đĩa

Petri, nơi đó trứng được thụ tinh Phương pháp này thường được bắt đầu bằng cách tiêm thuốc kích

thích trứng phát triển trong buồn trứng của người phụ nữ Sau đó ngươi phụ nữ được gây mê tổng

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Trang 26

Phương pháp này điều trị vô sinh, hiếm muộn có nguyên nhân ở do người

vợ bằng việc sử dụng trứng của người khác hiến tặng và tinh trùng của người

chồng sẽ được thụ tinh bên ngoài, sau đó, đặt lại vào tử cung của người vợ Nhờ

vậy, đứa trẻ sinh ra sẽ mang gien của người chồng Phương pháp này được cặp

vợ chồng hiếm muộn ưa thích hơn là xin con nuôi

2 Cơ sở pháp lý

Do trước kia, sự phát triển của khoa học kỹ thuật của Việt Nam còn nhiều

hạn chế so với nhiều nước trên Thế giới Do đó, khi ban hành ra các văn bản luật

điều chỉnh những quan hệ xã hội cơ bản như Bộ luật dân sự, Luật hôn nhân và

gia đình, các nhà làm luật Việt Nam chưa dự phòng được nhiều trường hợp

đặc biệt và những vấn đề phức tạp xoay quanh việc thực hiện kỹ thuật hỗ trợ

sinh sản Do đó, Luật hôn nhân gia đình năm 2000 chỉ quy định: "Việc xác nhận

cha, mẹ-con được sinh ra theo phương pháp khoa học do Chính phủ quy

định” 35

Để cụ thể hoá quy định này, Chính phủ ban hành ra Nghị định 12/2003

NĐ-CP được Bộ Y tế hướng dẫn thi hành bằng thông tư 07/2003/TT-BYT ngày

28/5/2003 nhằm quy định tất cả các vấn đề pháp lý có liên quan đến việc hỗ trợ

sinh sản bằng biện pháp khoa học Theo đó, việc hỗ trợ sinh sản bằng phương

pháp khoa học được coi là một hình thức sinh sản thay thế mà mọi người có thể

lựa chọn, giúp giải quyết những vấn đề khó khăn trong sinh sản thông thường

Theo báo cáo tại Hội nghị quốc tế về hỗ trợ sinh sản tại Úc, Đài Loan là

nước duy nhất trong số 22 nước Châu Á có luật lệ điều chỉnh về hoạt động vô

sinh Canada cũng chỉ mới đưa ra dự thảo luật về vấn đề này năm 2001 Những

nước khác, hoạt động này được quản lý bởi cơ quan điều phối (gồm những

chuyên gia trong ngành y tế, các luật sư, nhất là các bác sĩ sản khoa ) đưa ra

những quy định về bảo vệ quyền lợi người điều trị vô sinh cũng như các bác sĩ

điều trị Bộ Y tế nước ta hiện nay tạm thời đang đóng vai trò như một cơ quan

điều phối tương tự như trên

Về điều kiện thực hiện, Nghị định 12 phân chia thành hai nhóm: điều kiện

chính và điều kiện phụ

Điều kiện chính - Theo như quy định tại Điều 236

và Điều 14 khoản 1 điểm b

của Nghị định 12 ta có thể suy luận rằng việc hỗ trợ sinh sản bằng y học nhằm

mục đích giải quyết tình trạng vô sinh có tính chất bệnh lý đã được chẩn đoán

chính xác và thật sự cần thiết Ở đây, không phân biệt các nguyên nhân gây vô

sinh hay nguồn gốc bệnh lý Nhưng nguyên tắc này cũng có ngoại lệ của nó

quát, các bác sĩ sẽ dùng kính hiển vi soi vào buồng trứng và qua ống dò sẽ lấy ra từ 5-20 trứng chín

Sau khi trứng thụ tinh với tinh trùng, hai hay ba phôi tốt nhất sẽ chọn và đặt lại vào tử cung

Phương pháp ICSI (Intracytoplasic sperminjection) - đây là phương pháp chọc hút hoặc phẫu thuật để

lấy tinh trùng của người chồng; Đồng thời trứng của người vợ cũng được hút cùng ngày, sau đó tinh

trùng sẽ được bơm vào trứng của người vợ và quá trình thụ thai diễn ra bình thương Ngoài ra, tinh

trùng và những phôi còn tốt còn dư sẽ được giữ trong môi trường đông lạnh đáp ứng nhu cầu sinh con

lần sau

35

Điều 63 Luật hôn nhân gia đình năm 2000

36 Điều 2 Nghị định này áp dụng đối với các cặp vợ chồng vô sinh, phụ nữ độc thân muốn sinh con bằng

kỹ thuật hỗ trợ sinh sản; người cho tinh trùng; người cho noãn, người nhận noãn; người cho phôi,

người nhận phôi

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Trang 27

Bởi vì xét về mặt đạo đức và nhu cầu xã hội, có những trường hợp không cần

đáp ứng đủ điều kiện chính này cũng được thực hiện thụ tinh nhân tạo, đó là

phụ nữ độc thân37

Điều kiện phụ - là điều kiện hỗ trợ cho điều kiện chính để đảm bảo cho tương

lai của đứa trẻ Điều kiện này quy định về yêu cầu đối với sức khoẻ của người

xin lẫn người cho Khoản 2 Điều 7 và khoản 2 Điều 8 Nghị định 12 quy định

“Người cho tinh trùng, cho noãn phải bảo đảm có đủ sức khỏe, không mắc các

bệnh lây truyền qua đường tình dục, HIV/AIDS, bệnh tâm thần, bệnh truyền

nhiễm hay các bệnh di truyền khác; Người nhận tinh trùng, người nhận noãn,

người nhận phôi phải bảo đảm có đủ sức khỏe để thụ thai, mang thai và sinh

đẻ, không mắc các bệnh lây truyền qua đường tình dục, HIV/AIDS, bệnh tâm

thần, bệnh truyền nhiễm hay các bệnh di truyền khác” nhằm tránh việc truyền

nhiễm cho con những căn bệnh nguy hiểm Quy định này cho phép các cặp vợ

chồng có nguy cơ truyền bệnh cho con có thể xin phôi của người thứ ba để sinh

con38 Ở một góc độ khác, có thể thấy yêu cầu này ít nhiều góp phần nâng cao

chất lượng yếu tố di truyền Tuy nhiên, trách nhiệm đảm bảo các điều kiện này

hoàn toàn thuộc về các cơ sở y tế được phép thực hiện các kỹ thuật hỗ trợ sinh

sản Về phần mình, người yêu cầu thực hiện kỹ thuật này còn phải chịu sự tác

động của một số điều kiện khác nữa, như:

Điều kiện liên quan đến gia đình -Xuất phát từ nhận xét rằng, nếu không

được sống trong một gia đình lành mạnh thì đứa trẻ được sinh ra tồn tại trong xã

hội không có ý nghĩa gì khi hoàn cảnh ra đời của nó đặc biệt hơn những đứa trẻ

khác Pháp luật nói chung cũng chỉ mong muốn xây dựng những gia đình theo

những kiểu mẫu truyền thống với mục đích là vì lợi ích của đứa trẻ Và dẫu sao,

nếu như không đầy đủ cha mẹ thì đứa bé phải được sống, được chăm lo và giáo

dục với tình thương thật sự của người cha, người mẹ Như vậy, lúc này, lợi ích

của đứa trẻ được đặt lên trước quyền có con của chính cha mẹ của con trẻ được

sinh ra bằng phương pháp khoa học

Điều kiện về sự tự nguyện của người xin hỗ trợ sinh sản bằng y học Sự

tự nguyện này phải được thể hiện bằng văn bản Tuy trong Nghị định không có

quy định nào nói về việc ký kết bằng văn bản giữa người xin và cơ sở y tế

Nhưng dựa trên các quy định của Nghị định về kinh phí thực hiện (khoản 1 Điều

15, Nghị định 12)39, về hồ sơ thực hiện (Điều 14 khoản 1)40 ta có thể rút ra kết

luận, việc xin hỗ trợ phải được ký kết thành một thoả thuận gần như là hợp

37

Khoản 1 Điều 9: Phụ nữ sống độc thân có nhu cầu sinh con đã được cơ sở y tế xác định có noãn đảm

bảo chất lượng để thụ thai

So với pháp luật của Pháp, quy định này của Việt Nam có vẻ thoáng hơn vì luật của Pháp cấm phụ nữ

độc thân thực hiện kỹ thuật hỗ trợ sinh sản, vì mục đích của việc làm này, theo như các luật gia Pháp

chỉ áp dụng cho người có nhu cầu thật sự cần thiết

38 Hiện nay, trên Thế giới đã có kỹ thuật tách vi rút HIV khỏi gen di truyền của người mẹ để thụ thai cho

phôi thai bình thường và hoàn toàn khỏe mạnh Lần đầu tiên trên Thế giới, tại Bệnh viên Ogikubo

(Nhật Bản), các nhà khoa học đã thành công trong việc loại bỏ 100% virus HIV khỏi tinh dịch, dùng

một tinh trùng khỏe mạnh để thụ tinh trong ống nghiệm và cho ra đòi một bé trai khỏe mạnh

(Tổng hợp từ internet)

39

Khoản 1 điều 15: Kinh phí để thực hiện kỹ thuật hỗ trợ sinh sản theo thoả thuận giữa các cặp vợ

chồng vô sinh với cơ sở y tế trên nguyên tắc bảo đảm đủ chi phí cho việc thực hiện các kỹ thuật trên

theo hướng dẫn của Bộ Y tế

40

Xem Điều 14 khoản 1

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Trang 28

đồng41 Hơn nữa, theo quy định tại khoản 2 Điều 18 Nghị định 12 "Trong trường

hợp người gửi tinh trùng chết, cơ sở lưu giữ tinh trùng này phải huỷ số tinh

trùng của người đó" Từ đó, ta rút ra kết luận rằng, nếu một cặp vợ chồng sống

chung muốn thực hiện kỹ thuật hỗ trợ sinh sản, cả hai người phải đang còn sống

tại thời điểm tiến hành thực hiện kỹ thuật này42 bởi lẽ mục đích chính của kỹ

thuật này không những đáp ứng nhu cầu của các cặp vợ chồng vô sinh mà điều

quan trọng là đứa con được sinh ra xuất phát từ lòng mong mỏi của cả cha lẫn

mẹ, chỉ như thế thì cuộc sống của đứa trẻ mới được đảm bảo tốt nhất

II Quy chế pháp lý của việc hiến tặng tinh trùng, noãn, phôi

Hiến tặng tinh trùng, noãn, phôi là một công việc thực hiện phải dựa trên

một số quy tắc chặt chẽ Bởi vì đây là vấn đề không đơn giản, "vật” tạo ra là

một con người chứ không phải là một loại hàng hoá mà nếu không theo đúng

công dụng, tính năng có thể huỷ bỏ chúng được Do đó, để hiến tặng và nhận

tinh trùng, noãn, phôi phải tuân thủ theo những nguyên tắc và điều kiện nhất

định

1 Nguyên tắc vô danh

"Vô danh" theo như cách hiểu thông thường là việc không biết tên tuổi

và những yếu tố thuộc về lý lịch dân sự của cá nhân (nơi cư trú, nghề nghiệp, )

Để việc áp dụng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản mang lại lợi ích cho xã hội, không ảnh

hưởng đến mối quan hệ của đứa bé và cha mẹ , nhận cha, mẹ - con sau này, tại

Điều 4 khoản 4 và Điều 7 khoản 4 của Nghị định đã quy định “phải giữ bí mật

đối với tên tuổi, căn cước, hình ảnh của cả người cho lẫn người nhận tinh trùng,

noãn, phôi” Đây chính là nội dung của nguyên tắc vô danh

Đối với nguyên tắc này, có hai điểm cần quan tâm:

Thứ nhất, không nên giữ bí mật thông tin tuyệt đối của cả người cho lẫn

người nhận vì sẽ dẫn đến việc kết hôn cùng huyết thống đối với những đứa trẻ sinh ra bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản sau này

Thứ hai, cần bảo đảm quyền lợi của con người nói chung và đứa trẻ sinh

ra bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản nói riêng Cụ thể đó là quyền được biết đến nguồn gốc của mình Do đó, nên cho biết thông tin về người cho, người nhận

Ngăn chặn hôn nhân cùng huyết thống -ta nhìn nhận rằng, gia đình là

tế bào của xã hội, gia đình hạnh phúc và bền vững thì xã hội mới phát triển và ổn

định Trong trường hợp hai đứa trẻ sinh ra cùng một gia đình xin trứng, tinh

trùng và ngẫu nhiên có cùng người cha sinh học thì chúng không thể lấy nhau vì

theo quy định về quan hệ cha, mẹ - con, chúng là anh chị em có cùng một người

mẹ Còn trường hợp hai đứa trẻ đó sinh ra trong hai gia đình khác nhau mà có

cùng một người cha sinh học kết hôn với nhau thì luật viết và học thuyết pháp lý

chưa đưa ra cách lý giải hợp lý Thật ra, nguy cơ hai anh chị em sinh học kết hôn

với nhau còn thấp hơn nguy cơ kết hôn giữa hai anh chị em ruột sinh ra bình

41 Vấn đề này sẽ được phân tích ở phần sau

42

Trong trường hợp đã tiến hành thực hiện kỹ thuật hỗ trợ sinh sản tạo phôi thành công, rồi sau đó,

người chồng chết sẽ được phân tích ở phần sau

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Trang 29

thường có cùng cha khác mẹ Theo các nhà chuyên môn cho biết, xác xuất việc

kết hôn cùng huyết thống đối với những người thực hiện kỹ thuật hỗ trợ sinh sản

chỉ khoản 1/10.00043 Vì vậy, nếu áp dụng nguyên tắc vô danh thì việc giải

quyết hậu quả của vấn đề trên sẽ không rắc rối bằng việc công khai các thông tin

đối với người cho và người nhận Hơn nữa, ta có thể yêu cầu xác định ADN khi

tiến hành kết hôn đối với những cá nhân được sinh ra bằng phương pháp hỗ trợ y

học44

Lý lẽ của luật - tốt hơn hết là trước khi thực hiện kỹ thuật hỗ trợ sinh sản,

ngoài những thông tin cần thiết về khả năng thành công, về những nguy cơ có

thể có của thủ thuật, các bác sĩ nên tư vấn cho đôi vợ chồng thực hiện kỹ thuật

hỗ trợ sinh sản và cả những người hiến tặng noãn, tinh trùng, giải thích về những

quy định của pháp luật đối với việc xác nhận cha, mẹ - con và những vấn đề

pháp lý khác Ngoài ra, có lẽ cũng cần đánh giá sự quyết tâm của người yêu cầu

nhằm bảo vệ quyền lợi của đứa trẻ sinh ra, có như thế mới đảm bảo được nguồn

gốc bí mật của chúng, tránh những áp lực về mật tâm lý cũng như áp lực của đời

sống gia đình Đề ra nguyên tắc này là để tránh những người nhận và những

người cho biết nhau sẽ gây ra những rắc rối về mặt tình cảm, nhiều khi dẫn đến

những phiền phức về mặt xã hội, vì khi đã biết được đứa trẻ mang "dòng máu"

của mình, một lẽ đương nhiên là những tình cảm đặt biệt rất có thể nảy sinh và

dễ dẫn đến những hậu quả không hay

Có ngoại lệ hay không? - Pháp luật quy định nguyên tắc vô danh phải áp

dụng một cách tuyệt đối mà không nhìn nhận rằng sẽ có những trường hợp phải

cần đến ngoại lệ cho nguyên tắc này

Để nhìn nhận rõ ràng hơn vấn đề, ta có thể liên hệ đến những quy định của luật của Cộng hoà Pháp, cũng ghi nhận nguyên tắc vô danh Tuy nhiên, nguyên tắc này không phải áp dụng một cách tuyệt đối trong những trường hợp chữa bệnh

Bác sĩ có thể tiếp cận với hồ sơ sức khoẻ của cha hoặc mẹ sinh học của đứa trẻ

để nhằm mục đích chữa bệnh cho chúng sau này Đương nhiên, bác sĩ không được phép biết đến tên tuổi của người đã cho tinh trùng, trứng và phôi mà chỉ biết đến hồ sơ sức khoẻ của họ mà thôi

Từ đó, xét về thực tiễn ở Việt Nam, hiện nay, các cơ sở y tế chỉ mới thực

hiện hỗ trợ sinh sản cho các trường hợp những người có quan hệ họ hàng, thân

thuộc với nhau nên vấn đề này chưa cần được quan tâm Về lâu dài, khi kỹ thuật

này càng phát triển, áp dụng rộng rãi cho nhiều đối tượng khác, chúng ta cũng sẽ

gặp những rắc rối, đòi hỏi phải có những quy định tương tự như trên để có thể

giải quyết Suy cho cùng, nếu áp dụng ngoại lệ này cũng không ảnh hưởng đến

nguyên tắc vô danh

Việc hiến tặng tinh trùng, noãn, phôi giữa những người cùng dòng

máu - Tuy ở Việt Nam, vấn đề này chưa xảy ra, nhưng ở các nước khác trên Thế

43

Theo thông tin bác sĩ Nguyễn Viết Tiến (BV Phụ sản TPHCM) trả lời phỏng vấn Báo PL ngày

14/2/1999

44 Có lẽ, cơ quan hộ tịch địa phương nên theo dõi sự phát triển nhân thân của đứa trẻ được sinh ra do thụ

tinh nhân tạo hoặc thụ tinh trong ống nghiệm, và yêu cầu xét nghiệm ADN khi các đương sự khai báo

kết hôn

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Trang 30

giới, đây là một việc làm đã xảy ra từ lâu Chẳng hạn như ở Mỹ, một phụ nữ

đồng tính luyến ái đã xin tinh trùng của em trai mình để thụ tinh nhân tạo và cho

ra đời một đứa trẻ, hoặc ở Pháp cũng xảy ra trường hợp người phụ nữ sinh con

từ tinh trùng của em trai45 Nếu xét về mặt kỹ thuật, vấn đề sử dụng tinh trùng

của người nào đều được tiến hành như nhau Nhưng xét về khía cạnh đạo đức xã

hội, đứa trẻ sau này lớn lên sẽ bị ảnh hưởng về mặt tâm lý, tình cảm Bởi vì, cậu

(em của mẹ) lại là người cha sinh học của chúng Tất nhiên, việc xin - cho như

thế không đảm bảo được nguyên tắc vô danh sẽ gây khó khăn cho việc nhận cha,

mẹ - con Vì vậy, các nhà làm luật Việt Nam cần dự liệu trước tình huống này và

có quy định pháp lý điều chỉnh vấn đề trên

2 Điều kiện về chủ thể

2.1 Điều kiện thuộc về yếu tố sinh học

a) Tuổi

Đối với người cho tinh trùng - theo quy định tại điểm a, khoản 1, Điều 7

Nghị định 12 phải từ đủ 20 tuổi đến 25 tuổi Có quan điểm căn cứ theo một số

kết quả nghiên cứu khoa học, thì độ tuổi của người đàn ông không ảnh hưởng gì

đến chất lượng tinh trùng và cho rằng việc Nghị định 12 quy định độ tuổi tối đa

là 55 đối với người đàn ông có vẻ như không hợp lý Tuy nhiên, việc xác định

ảnh hưởng của tuổi tác lên sức khoẻ của nam giới vẫn là vấn đề gây nhiều tranh

cãi Mới đây, một nghiên cứu cắt ngang được thực hiện khảo sát tương quan

giữa tuổi và chất lượng tinh trùng được tiến hành trên 97 người tình nguyện

trong độ tuổi 22 đến 80 Kết quả khảo sát cho thấy chất lượng tinh trùng tỉ lệ

nghịch với tuổi nam giới Khác với phụ nữ, ở nam giới, khả năng sinh sản không

giảm đột ngột ở một độ tuổi nhất định mà giảm dần trong suốt độ tuổi khảo sát46

Do đó, quy định độ tuổi người hiến tặng tinh trùng tối đa là 55 tuổi là hợp lý

Còn về giới hạn tối thiểu, thật ra, chưa có một căn cứ khoa học nào về

việc xác định chất lượng tinh trùng của người dưới 20 tuổi Nhưng ta có thể lý

giải rằng, xét về mặt đạo đức, khó có thể chấp nhận được việc một đứa bé chưa

đến tuổi vị thành niên lại đi hiến tặng tinh trùng, bởi vì khả năng nhận thức vấn

đề của chúng còn chưa phát triển, ảnh hưởng rất nhiều về tâm sinh lý cũng như

đạo đức xã hội Hơn nữa, đây cũng là quy định phù hợp với lứa tuổi được phép

kết hôn của L.HNGĐ

Đối với người cho noãn: phải từ đủ 18 tuổi đến 35 tuổi (điểm b, khoản 1,

Điều 7 Nghị định 12) Như vậy, tuổi của người cho noãn có giới hạn hơn Bởi vì

đối với noãn, tuổi càng lớn thì chất lượng noãn càng giảm Quy định này dựa

trên thực tiễn sử dụng noãn khi tiến hành hỗ trợ sinh sản Nếu một cặp vợ chồng

sử dụng noãn của người trẻ tuổi để thụ tinh nhân tạo với người chồng, thì người

vợ được hỗ trợ sinh sản có khả năng mang thai cao hơn, sinh sản vẫn bình

thường, chi phí điều trị thấp hơn, khả năng thành công cao hơn, tỷ lệ trẻ sinh ra

45

Tổng hợp từ internet

46

Sinh sản và sức khoẻ ngày 04/04/2003

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Trang 31

bất thường cũng giảm thiểu đáng kể47 Còn đối với giới hạn tối thiểu, cũng tương

tự như người hiến tặng tinh trùng phân tích ở trên

b) Sức khoẻ

Trên Thế giới, sự tiến bộ của y học đã đến trình độ phát triển vượt bậc,

người ta có thể sinh ra những đứa con từ người cha nhiễm HIV bằng kỹ thuật

biến đổi gien48 Ở Việt Nam, để đạt đến trình độ kỹ thuật đó, có lẽ, chúng ta

phải chờ đợi trong một khoảng thời gian nữa, mà pháp luật hiện hành chỉ mới dự

liệu đối với những trường hợp hiện tại Do đó, đối với những điều kiện về sức

khoẻ đã được quy định tại khoản 2 Điều 7 Nghị định 12, đặt vấn đề đối với

người nhiễm HIV, chúng ta có thể nào loại trừ trường hợp cấm người được

nhiễm HIV hiến tặng tinh trùng, noãn, phôi vì Việt Nam vẫn chưa có đủ kỹ thuật

để loại bỏ virut HIV ra khỏi tinh trùng để thụ tinh nhân tạo hoặc thụ tinh trong

ống nghiệm như các nước khác trên Thế giới Quy định này xét cho cùng cũng

chỉ đảm bảo cho tương lai của đứa trẻ, bởi lẽ, những thủ thuật này, dù có thể

thực hiện được không phải bao giờ cũng đạt 100% yêu cầu an toàn

2.2 Điều kiện thuộc về các yếu tố xã hội

Đối với người bị hạn chế năng lực pháp luật- Đặt trường hợp tại Việt

Nam, một phụ nữ là vợ của người chồng sắp bị thi hành án tử hình, vì rào cản

nội quy trại giam đã tha thiết yêu cầu thực hiện thụ tinh nhân tạo với chồng cô

là một lý do hết sức chính đáng49 Khi đó, theo như quy định tại khoản 1 Điều 7,

Nghị định 12, người chồng hoàn toàn đáp ứng đủ điều kiện về đối tượng hiến

tặng, dù rằng người nhận chính là vợ hợp pháp của mình Nhưng theo Điều 2

"Nghị định này chỉ áp dụng đối với các cặp vợ chồng vô sinh”50thì người tử tù

này và vợ không thể áp dụng được kỹ thuật hỗ trợ sinh sản Trên cơ sở tôn trọng

và bảo vệ quyền con người, thiết nghĩ, cần được xem xét lại

Mặc dù vậy, xét về mặt đạo đức, có hai vấn đề: Thứ nhất, nếu được phép

hỗ trợ sinh sản, đứa con chào đời sẽ không có cha, ảnh hưởng đến quyền lợi của

đứa bé Thứ hai, nếu không được phép thực hiện, vô hình chung chúng ta không

đảm bảo quyền tự do51

và nhu cầu làm mẹ của công dân Tuy không thuộc đối tượng vô sinh nhưng do bị hạn chế quyền công dân nên người bị kết án tử hình

không thực hiện được thiên chức của mình Ta phải thừa nhận rằng người đang

chấp hành hình phạt tù, pháp luật chỉ có thể tước bỏ mọi quyền tự do và quyền

chính trị của họ nhưng họ vẫn còn có một số quyền khác Xét cho cùng, quyền

lợi của đứa trẻ cũng cần được bảo đảm, một khi sinh ra trong hoàn cảnh đặc biệt

47

Theo bác sĩ Hồ Mạnh Tường - Phó Khoa Hiếm muộn Bệnh viện Từ Dũ - Hội thảo Pháp luật về đạo

đức sinh học - Nhà pháp luật Việt Pháp tổ chức 2001

48 Xin xem lại chú thích số 38

49

Gần đây, Ở Trung Quốc cũng xảy ra một trường hợp tương tự như trên - một phụ nữ gửi đơn đến Toà

án yêu cầu được phép được thụ tinh nhân tạo với chính người chồng bị tội tử hình của mình với lý do

cô muốn sinh con để thờ phụng cha mẹ chồng và đơn thỉnh cầu của cô đã được Toà án chấp nhận

Nhắc lại rằng tư tưởng người Châu Á rất nặng về quan niệm "nối dõi tông đường"

50

Theo định nghĩa của WHO và khoản 4, Điều 3 Nghị định 12: “Cặp vợ chồng vô sinh là cặp vợ chồng

sống gần nhau liên tục, không áp dụng biện pháp tránh thai nào mà không có thai sau 01 năm.”

Trang 32

Có nghĩa là, nên chấp nhận yêu cầu chính đáng của người vợ nhưng chỉ trong

giới hạn nhất định Nên thực hiện một lần đối với việc hỗ trợ sinh sản, nhằm

tránh những rắc rối đến mức tối thiểu đối với quy chế trại giam Điều này xét về

mặt kỹ thuật thì không có gì phức tạp Có chăng là khó khăn trong khâu thực

hiện do vi phạm nội quy của nhà tù Đây là một ngoại lệ cần có pháp luật xem

xét để có cơ chế điều chỉnh hợp lý

Không có thù lao - Nguyên tắc "tự nguyện cho" được quy định tại khoản

3 Điều 7 cũng là vấn đề cần được điều chỉnh cho phù hợp Trong trường hợp các

cặp vợ chồng được thực hiện thành công phương pháp hỗ trợ sinh sản bằng y

học, sẽ hiến tặng lại số tinh trùng, noãn, phôi còn dư cho cơ sở y tế52 Nhưng ở

một khía cạnh khác, khi quy định nguyên tắc này, có lẽ các nhà làm luật chỉ mới

dựa trên thực tế hiện nay ở các cơ sở y tế- việc hỗ trợ sinh sản chỉ tiến hành

trong nội bộ gia đình, anh chị em xin tinh trùng, noãn của nhau mà không xét

đến vấn đề những người không có quan hệ thân thuộc, nếu vì mục đích nhân đạo

mà đến cơ sở y tế hiến tặng tinh trùng hoặc noãn Khi ấy, nếu không có thù lao

liệu việc hiến tặng có dễ dàng thực hiện hay không Ngược lại, nếu quy định

việc hiến tặng có thù lao, thì ý nghĩa cao đẹp của việc hiến tặng không còn nữa

Sự tồn tại người cha, mẹ pháp lý của đứa trẻ - liên quan đến nguyên

tắc tự nguyện "trường hợp người gửi tinh trùng chết, cơ sở lưu giữ tinh trùng

này phải huỷ số tinh trùng của người đó” 53 Nếu trước khi chết, người gửi tinh

trùng không có yêu cầu hiến tặng lại bệnh viện hoặc không có biểu hiện gì về

việc đó thì theo số tinh trùng đó sẽ bị huỷ Đặt trường hợp, trong quá trình cặp

vợ chồng đang thực hiện kỹ thuật hỗ trợ sinh sản mà người chồng chết, sẽ không

hợp lý nếu số tinh trùng đang được lưu giữ của người chồng có bị hủy vì trước

đó cả hai người đã thể hiện sự tự nguyện mong muốn có con bằng phương pháp

hỗ trợ sinh sản Nếu thành công, đứa bé đó sẽ mang dòng máu của cả hai vợ

chồng Nên chăng quy định rằng: trong trường hợp này sẽ huỷ bỏ số tinh trùng

đó nếu có sự đồng ý của người vợ Hoặc ngược lại, nếu sau khi chồng chết mà

người vợ vẫn muốn thực hiện thụ tinh nhân tạo để sinh con thì pháp luật nên cho

phép để bảo vệ quyền lợi chính đáng của họ Rõ ràng, pháp luật cũng nên quy

định giới hạn về số lần hỗ trợ sinh sản, nên chăng chỉ cho phép thực hiện một lần

đối với số tinh trùng đang lưu giữ Nếu đảm bảo quyền được có con của người

mẹ mà cho phép thực hiện nhiều lần, thì ngược lại quyền lợi của đứa bé cũng bị

ảnh hưởng

Theo logic của sự việc trên, ta có thể suy luận trong trường hợp người cấy

phôi chết, thì phôi sẽ được giải quyết như thế nào cho hợp lý khi mà khoa học đã

chứng minh rằng sự sống bắt đầu trước khi con ngươi được sinh ra Có nghĩa là,

sự sống bắt đầu từ khi những tế bào đầu tiên của phôi hình thành Do đó,

trường hợp này có vẻ dễ giải quyết hơn trường hợp hủy tinh trùng vì phôi đã

tượng hình thành một con người Do đó, điều kiện cha còn sống không bắt buộc

trong trường hợp cấy phôi Hơn thế nữa, phôi được tạo ra, nếu không sử dụng

hoặc bảo quản tốt, phôi có nguy cơ tự huỷ diệt Chính vì thế, khi đó, nếu người

Trang 33

mẹ muốn, việc cấy phôi vào tử cung người mẹ vẫn được tiến hành; và ngược lại,

phôi thừa có thể đem sử dụng cấy ghép cho một cặp vợ chồng khác54

Thời gian - tại Nghị định số 70/2001 NĐ-CP ngày 3/10/2001 của Chính

phủ quy định chi tiết thi hành L.HNGĐ 2000 có quy định "Con sinh ra trong

vòng 300 ngày, kể từ khi người chồng chết thì được xác định là con chung của

hai vợ chồng”

Tuy nhiên, ta cần nhìn nhận rằng cơ sở trên trên không tương thích trong

trường hợp sinh con bằng phương pháp khoa học Đặt trường hợp, một cặp vợ

chồng lưu giữ phôi ở cơ sở y tế, tiếp đó người chồng chết và một thời gian sau

người vợ đến thực hiện hỗ trợ sịnh sản đối với số phôi lưu giữ, sẽ không hợp lý

nếu ta dùng thời hạn 300 ngày theo Nghị định 70 để xác định bào thai đó không

phải là con của người chồng đã chết Vì vậy, thời gian này có thể không khuôn

mẫu phải là trong vòng 300 ngày mà dài hơn tuỳ thuộc vào quá trình thực hiện

kỹ thuật hỗ trợ sinh sản trên cơ thể người mẹ

2.3 Điều kiện giới hạn

a) Giới hạn về số lượt

Điều 9, Nghị định 12 quy định:"Tinh trùng của người cho chỉ được sử

dụng cho một người Người nhận tinh trùng phải là người vợ trong cặp vợ chồng

đang điều trị vô sinh mà nguyên nhân vô sinh là do người chồng; Noãn của

ngư-ời cho chỉ được sử dụng cho một ngưngư-ời Ngưngư-ời nhận noãn phải là ngưngư-ời vợ

trong cặp vợ chồng đang điều trị vô sinh mà nguyên nhân vô sinh là do người vợ

có nhu cầu sinh con nhng không có noãn hoặc noãn không bảo đảm chất lượng

để thụ thai” Đối với phôi có khác biệt hơn, Nghị định quy định rằng: "Phôi của

người cho có thể được sử dụng cho một người Người nhận phôi phải là người

vợ trong cặp vợ chồng đang điều trị vô sinh mà nguyên nhân vô sinh là do cả

người vợ và người chồng”

Như vậy, cả ba trường hợp hiến tặng tinh trùng, noãn, phôi điều chỉ "cho

một người" Vấn đề là cần xem xét việc quy định "cho một người” chặt chẽ hơn

hay “cho một lần” hợp lý hơn Ta thấy rằng, nếu Nghị định quy định “cho một

người” thì mục đích hạn chế việc hiến tặng tinh trùng, noãn tràn lan và giảm

thiểu các trường hợp kết hôn cùng huyết thống chưa thật hiệu quả hơn Bởi lẽ,

theo quy định tại Điều 11, Nghị định 12: “Các cặp vợ chồng sau khi có con

bằng phương pháp thụ tinh trong ống nghiệm, nếu không có nhu cầu sử dụng số

phôi còn dư thì có thể tặng lại cho cơ sở y tế nơi lưu giữ số phôi đó với sự đồng

ý của cả hai vợ, chồng thông qua hợp đồng tặng, cho Cơ sở y tế chỉ được phép

sử dụng phôi để thực hiện kỹ thuật hỗ trợ sinh sản ” Lúc này, số phôi sẽ được

sử dụng cho các cặp vợ chồng khác có nhu cầu Khi đó, nguyên tắc xác định

người hiến tặng chỉ hiến tặng cho một người, trong trường hợp này, không thể

Trang 34

Có lẽ, khá nan giải hơn nữa vì việc hiến tặng tinh trùng, noãn dựa trên

nguyên tắc vô danh, khó có thể có một quy chế quản lý được những người đã

hiến tặng vì mọi thông tin của người hiến tặng, sau khi hiến tặng đã bị mã hoá

Nếu như, không biện pháp để các cơ sở y tế liên thông với nhau về các thông tin

người hiến tặng55, giả sử người hiến tặng vẫn có thể thực hiện việc làm tương tự

này tại một cơ sở y tế khác56thì rất khó xác định được vì khi hiến tặng, cơ sở y tế

chỉ yêu cầu đáp ứng điều kiện về tuổi và sức khoẻ, không chú trọng đến tất cả

các nội dung thuộc về y sử của người hiến tặng Nên chăng, ngoài việc kết nối

liên thông giữa các cơ sở y tế, trước khi hiến tặng, nên tiến hành xác định ADN

để tránh trình trạng hiến tặng nhiều nơi của người cho dẫu biết rằng chi phí xét

nghiệm ADN không phải nhỏ

Khi phân tích các quy định của Điều 9, Nghị định 12 và xem xét các quy

định tại khoản 3, Điều 17 Nghị định này thì giữa hai điều luật này có sự bổ trợ

nhưng vẫn tồn tại một số nội dung cơ bản khác nhau cần phân biệt Tại Điều 9

quy định điều kiện giới hạn chỉ cho một người, còn tại khoản 3, Điều 17 quy

định đối với trường hợp lưu giữ tinh trùng và phôi Tại Điều 17, trong quá trình

thực hiện kỹ thuật hỗ trợ sinh sản, người chồng có thể lưu giữ tinh trùng để thực

hiện thụ tinh nhân tạo cho vợ mình hoặc thụ tinh trong ống nghiệm để tạo thành

phôi Và sau khi đã thành công (tức người vợ đã mang thai), họ có thể tặng lại số

tinh trùng hoặc phôi đó cho người khác và chỉ cho một người theo quy định tại

Điều 9 Nghị định 12

b) Giới hạn về quốc tịch

Hiện nay, trong quá trình hội nhập giao lưu quốc tế, ở Việt Nam, có rất

nhiều người nước ngoài57 đến làm ăn, sinh sống, và nhất là họ thường xuyên

tham gia các hoạt động từ thiện Do đó, Nghị định 12 cho phép "Người nước

ngoài được phép áp dụng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản được cơ sở y tế Việt Nam

khám và xác định vô sinh, xác định tinh trùng của người chồng và trứng của

người vợ bảo đảm chất lượng để thụ thai" 58

Điều kiện được hỗ trợ sinh sản của cặp vợ chồng người nước ngoài cũng

tương tự như đối với người Việt Nam, có nghĩa là phải thật sự vô sinh có chứng

nhận của cơ sở y tế Nhưng đây chỉ mới là điều kiện cần, còn điều kiện đủ chính

là người nước ngoài sẽ không thực hiện việc cho, nhận noãn; cho, nhận tinh

trùng; cho, nhận phôi Đáp ứng cả hai điều kiện đó, người nước ngoài sẽ được

các cơ sơ y tế Việt Nam tiến hành các kỹ thuật hỗ trợ sinh sản Tuy nhiên, trong

Nhắc lại khái niệm “Người nước ngoài là người làm ăn sinh sống tại Việt Nam có quốc tịch nước

khác hoặc không có quốc tịch” Để dơn giản hơn, ta có thể hiểu "Người nước ngoài là người không có

quốc tịch Việt Nam" Nếu ta nói, quy định tại khoản 2 Điều 5 Nghị định 12 nhằm tránh sự rắc rối về

trình trạng xác định quốc tịch, dân tộc; bởi vì theo quy định của Luật quốc tịch "Nhà nước Cộng hoà

xã hội chủ nghĩa Việt Nam công nhận công dân Việt Nam có một quốc tịch là quốc tịch Việt Nam”

Do đó, nếu cho phép người nước ngoài cho, nhận tinh trùng, noãn, phôi của người Việt Nam và ngược

lại thì vấn đề xác định quốc tịch sẽ phát sinh nhiều rắc rối do sự khác biệt về tố chất, màu da, dân tộc

58

Khoản 1 điều 5 Nghị định 12/2003

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Trang 35

trường hợp người chồng là người nước ngoài và người vợ là người gốc Việt Nam

thì cặp vợ chồng này có thể thực hiện hỗ trợ sinh sản tại cơ sở Việt Nam59

Vấn đề đặt ra ở đây là, theo quy định của pháp luật Việt Nam: công dân

nước ngoài có thể nhập quốc tịch Việt Nam khi đủ các điều kiện quy định của

Luật quốc tịch 60 , và thực hiện việc nhận, cho tinh trùng, noãn, phôi hợp pháp Có

thể dễ dàng hình dung hệ quả của sự việc: đứa bé sinh ra có thể là tóc vàng, mắt

xanh, tóc hung, mắt nâu mà những tác động về tâm lý, xã hội đối với đứa trẻ

thật khó xác định Rõ ràng, luật viết hiện hành chưa có giải pháp tương ứng

trong trường hợp này Có lẽ, khi đó, cơ sở y tế nên được phép công bố những

thông số sinh học của người hiến tặng cho người có nhu cầu hỗ trợ sinh sản Một

khi họ hoàn toàn đồng ý thực hiện kỹ thuật hỗ trợ sinh sản với tinh trùng, noãn,

phôi của người nước ngoài, các nguyên tắc khác trong quá trình thực hiện kỹ

thuật này vẫn có hiệu lực

3 Thỏa thuận hiến tặng tinh trùng, noãn, phôi dưới góc độ pháp lý

Đặt vấn đề - Khi một người trực tiếp ký kết với một người khác một hợp

đồng nhằm tặng cho một tài sản thuộc sở hữu của mình cho người thứ ba và

không nhận bất cứ một sự đền bù nào, khi đó, ta có một hợp đồng tặng cho tài

sản Trong khung cảnh của luật thực định, thoả thuận đó được chấp nhận nếu đối

tượng tặng cho là một tài sản được phép lưu thông và thỏa thuận đó được điều

chỉnh bằng BLDS Đặt giả thiết tương tự như thế, người hiến tặng tinh trùng,

noãn, phôi giao kết một hợp đồng tặng cho đặc biệt thể hiện một nghĩa cử tốt

đẹp là đem lại hạnh phúc cho những cặp vợ chồng hiếm muộn Liệu rằng, giả

thiết này có được chấp nhận trong khung cảnh luật thực định Việt Nam hay

không bởi ngay với tên gọi cũng khá đặc biệt Để phân tích tính chất đó, chúng

ta lần lượt xem xét các đặc điểm để thỏa thuận này mang tính chất của một hợp

đồng tặng cho đặc biệt hay là một nội dung khác

a) Giả thiết là một hợp đồng tặng cho

Điều 461 Bộ luật dân sự quy định: "Hợp đồng tặng cho là sự thỏa thuận

giữa các bên theo đó bên tặng cho tài sản của mình và chuyển quyền sở hữu cho

bên bên tặng cho mà không yêu cầu đền bù, còn bên tặng cho đồng ý nhận” Trở

lại quy định của Nghị định 12 tại Điều 11 khoản 1: "Các cặp vợ chồng sau khi

có con bằng phương pháp thụ tinh trong ống nghiệm, nếu không có nhu cầu sử

dụng số phôi còn dư thì có thể hiến tặng lại cho cơ sở y tế nơi lưu giữ số phôi

đó”

Rõ ràng, trong điều kiện không có quy định của luật viết về việc hiến tặng

tinh trùng, noãn phải dựa trên phương thức nào, nhưng từ quy định của khoản 1

Điều 11 và nguyên tắc tự nguyện cho quy định tại Điều 7 khoản 3 Nghị định

này, bước đầu có thể đặt một giả thiết rằng: việc hiến tặng tinh trùng, noãn,

phôi là thỏa thận dựa trên hợp đồng tặng cho

59

Điều 4, Thông tư 07/2003/TT-BYT ngày 28/5/2003

60

Điều 20 Luật quốc tịch 1998

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Trang 36

Đối tượng của hợp đồng - có phải là tài sản hay không? - Đây là

trường hợp tương tự như hiến máu nhân đạo, cũng vì tinh thần cao đẹp là cứu

sống người bệnh Ta không gọi những người hiến máu là những người bán máu

được vì cho dù họ có nhận lại một số tiền nhưng trên thực tế, số tiền đó cũng chỉ

là khoản vật chất nhằm bù đắp sự tổn thiệt về sức khoẻ cho lượng máu bị lấy ra

Nên chăng cũng có quan niệm tương tự như vậy đối với trường hợp hiến tặng

tinh trùng, noãn, phôi

Dẫu biết rằng hợp đồng tặng cho có đối tượng là một tài sản; là sự chuyển

giao tài sản theo ý chí và được thực hiện ngay lúc người tặng cho còn sống

Trong khung cảnh xã hội Việt Nam đương đại, hầu như loại hợp đồng này chỉ

được giao kết giữa các thành viên trong gia đình hoặc những người có mối liên

hệ thân thuộc trực hệ Tương tự như một hợp đồng tặng cho thông thường;

nhưng vấn đề đặt ra là đối tượng của hợp đồng này - tinh trùng và noãn - một đối

tượng không xác định được giá trị chính xác có phải là tài sản hay không? Suy

cho cùng, không thể xem nó là một tài sản nếu đứng ở góc độ giá trị, nhưng có

thể xem đó là "vật" được tặng cho, nhất là khi nó đã được tách ra khỏi cơ thể của

con người như là một thực thể Do đó, có thể chấp nhận giả thiết rằng hợp đồng

tặng cho tinh trùng, noãn này là hợp đồng tặng cho đặc biệt

Chủ thể giao kết - Thông thường, chủ thể giao kết hợp đồng tặng cho

gồm hai bên: bên cho và bên nhận Nhưng như đã phân tích ở trên, việc hiến

tặng thông qua một hợp đồng tặng cho đặc biệt Do đó, hợp đồng không chỉ do

hai bên (người có nhu cầu cho và người có nhu cầu nhận) ký kết với nhau mà

còn có sự tham gia của cơ sở y tế được phép thực hiện kỹ thuật hỗ trợ sinh sản

Ta lần lượt xem xét từng nhóm chủ thể để đánh giá đúng về nguyên tắc ký kết

của một hợp đồng

Chắc chắn rằng, trong quan hệ tặng cho đặc biệt này đã xác định được

một bên chủ thể, đó là người hiến tặng tinh trùng, noãn, phôi Vấn đề cần xác

định ở đây là chủ thể còn lại của hợp đồng: cơ sở y tế hay người có nhu cầu hỗ

trợ sinh sản?

Nhắc lại rằng: "Hợp đồng là sự thỏa thuận giữa các bên trong việc xác

lập, thay đổi hoặc chấm dứt các quyền, nghĩa vụ dân sự" Hợp đồng tặng cho là

hợp đồng thực tại, do đó việc giao kết có hiệu lực tại thời điểm chuyển giao tài

sản và phải có sự gặp gỡ ý chí giữa hai bên

Trường hợp thứ nhất - bên nhận tặng cho là cơ sở y tế Khi đó, cơ sở y tế trực

tiếp giao kết với người hiến tặng tinh trùng, noãn, phôi Bởi vì, cơ sở y tế có

quyền từ chối khi không đạt những yêu cầu về chuyên môn, kỹ thuật Nhưng

nếu chỉ dừng lại ở đó thì giao dịch này sẽ không có ý nghĩa bởi vì tài sản tặng

cho sẽ không được sử dụng với mục đích được định trước của nó, mà lúc này

vật hiến tặng đó được tiếp tục giao cho một chủ thể thứ ba Phải chăng, do giả

thiết này, giữa người hiến tặng và cơ sở y tế một loại hợp đồng tặng cho theo

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Trang 37

mẫu vì lợi ích của người thứ ba61 Chắc chắn rằng lợi ích của hợp đồng chính là

"sử dụng phôi để thực hiện kỹ thuật hỗ trợ sinh sản theo quy định” 62Từ việc

quy định đối với nguyên tắc sử dụng phôi, ta có thể suy luận rằng: việc sử dụng

tinh trùng và noãn cũng không được ngoài mục đích hỗ trợ sinh sản

Trường hợp thứ hai - bên nhận tặng cho là người có nhu cầu hỗ trợ sinh

sản Khi đó, hợp đồng tặng cho sẽ được ký kết gián tiếp thông qua vai trò của

các cơ sở y tế với tư cách là người người đại diện Nhưng nếu xem xét lại vấn

đề, việc ký kết hợp đồng là sự thể hiện ý chí của người cho, và bệnh viện không

phải là người đại diện của người có nhu cầu hỗ trợ sinh sản vì khi đó chưa xác

định được ai là người có nhu cầu hỗ trợ sinh sản 63 Nếu ta cho rằng, chủ thể của

một bên còn lại của hợp đồng là của người nhận thì sai lệch với nguyên tắc giao

kết hợp đồng

b) Giả thiết không phải là hợp đồng tặng cho

Trong khoa học pháp lý, ngoài hợp đồng là một trong những căn cứ phát

sinh nghĩa vụ, chúng ta còn có cam kết đơn phương hay là hành vi dân sự đơn

phương Hành vi dân sự đơn phương làm phát sinh nghĩa vụ là hành vi được chủ

thể của quan hệ pháp luật thực hiện với ý thức rằng bằng hành vi đó, chủ thể của

quan hệ pháp luật cam kết đáp ứng yêu cầu của một chủ thể khác của quan hệ

pháp luật64 Thỏa thuận hiến tặng tinh trùng, noãn, phôi có tính chất như một

cam kết đơn phương

Lúc này, lý giải về quy định tại Điều 11, Nghị định 12:“Các cặp vợ chồng

sau khi có con bằng phương pháp thụ tinh trong ống nghiệm, nếu không có nhu

cầu sử dụng số phôi còn dư thì có thể tặng lại cho cơ sở y tế nơi lưu giữ số phôi

đó với sự đồng ý của cả hai vợ, chồng thông qua hợp đồng tặng, cho” như sau:

người nhận tinh trùng hoặc trứng được hiến tặng, sau khi thực hiện thủ thuật y

học tạo phôi thai thành công, lại trở thành chủ thể tặng cho trong hợp đồng tặng

cho có đối tượng là những phôi thai đông lạnh được tạo thành từ việc hiến tặng

tinh trùng hoặc trứng mà mình đã nhận trước đó Lý giải điều này, có hai hướng:

- Thứ nhất, phôi thai tạo thành từ một nửa cấu trúc sinh học của người đã nhận

hiến tặng tinh trùng hoặc trứng trước đó Khi đó, theo nội dung điều luật, họ sẽ

có quyền tặng cho phôi thai dư này cho các cơ sở y tế để thực hiện hỗ trợ sinh

sản cho người khác Hay nói cách khác, phôi thai, lúc này trở thành đối tượng

của hợp đồng tặng cho - là một tài sản

- Thứ hai, phôi thai được tạo thành có sự đóng góp vật chất của người đã nhận

tinh trùng, trứng trước đó từ người khác thông qua số tiền thù lao trả cho cơ sở

y tế để thực hiện kỹ thuật hỗ trợ sinh sản65 Và khi đó, họ có quyền tặng cho

61

Điều 406 BLDS: "Hợp đồng tặng cho theo mẫu là hợp đồng gồm những điều khoản do một bên đưa ra

theo mẫu để bên kia trả lời trong một khảng thời gian hợp lý; nếu bên được đề nghị trả lời chấp nhận,

thì coi như chấp nhận toàn bộ nội dung hợp đồng theo mẫu mà bên đề nghị đưa ra”

Điều 405, khoản 5: "Hợp đồng vì lợi ích của người thứ ba là hợp đồng mà các bên giao kết hợp đồng

điều phải thực hiện nghĩa vụ đó"

62

Khoản 2 Điều 11 Nghị định 12

63

Theo Điều 148 BLDS: “Đại diện là việc một người (gọi là người đại diện) nhân danh người khác (gọi

là người được đại diện) xác lập, thực hiện giao dịch dân sự trong phạm vi thẩm quyền đại diện ”

Trang 38

Tóm lại

Ta có thể hình dung vấn đề như sau: người hiến tặng đã tặng không có

điều kiện tinh trùng, noãn của mình cho cơ sở y tế - và ngược lại, người có nhu

cầu sử dụng để hỗ trợ sinh sản, nếu muốn, sẽ được bệnh viện thực hiện công

việc, và phải trả thù lao theo khoản 1 Điều 5 Nghị định 12 Ta xét thấy rằng, chủ

thể giao “vật” ở đây (người hiến tặng) không có nghĩ vụ gì mà chủ yếu họ chỉ

thực hiện quyền của mình - đó là quyền được thực hiện các hoạt động từ thiện,

nhân đạo trong khuôn khổ pháp luật Nghĩa là, giữa người cho tinh trùng, noãn,

phôi và bệnh viện thực hiện một cam kết tặng cho đặc biệt theo mẫu và nghĩa vụ

của các bên sẽ được chấm dứt dựa trên nguyên tắc vô danh Sau đó, bệnh viện và

người có nhu cầu hỗ trợ sinh sản sẽ ký kết một hợp đồng khác, có thể là một

hợp đồng dịch vụ, vì giữa bệnh viện và người có nhu cầu sau này vẫn còn mối

liên hệ với nhau về quyền và nghĩa vụ66 Tiếp sau đó, sẽ có một hợp đồng tặng

cho được giao kết và thực hiện giữa người yêu cầu hỗ trợ kỹ thuật sinh sản và cơ

sở y tế trong điều kiện kỹ thuật này đã thành công và người này không có nhu

cầu sử dụng tiếp tục các phôi thai dư đó

Nghĩa là, trong khung cảnh của luật viết hiện hành, ta chỉ có thể suy luận

rằng: đây là cam kết tặng cho theo mẫu67 và mục đích của nó là để đáp ứng nhu

cầu của người thứ ba Vấn đề này vừa bảo đảm nguyên tắc vô danh, vừa đảm

bảo quyền lợi giữa các bên Người hiến tặng thực hiện quyền cho tinh trùng,

noãn, phôi -bệnh viện và người lưu giữ - người có nhu cầu hỗ trợ sinh sản sẽ liên

hệ với bệnh viện thực hiện kỹ thuật và trả tiền thù lao cho bệnh viện bằng

phương thức thực hiện một hợp đồng dịch vụ

4 Hiệu lực của thỏa thuận hiến tặng tinh trùng, noãn, phôi

Quyền và nghĩa vụ của bên cho tinh trùng, noãn, phôi - Người tặng

cho không phải gánh chịu nghĩa vụ vật chất gì và cũng không có bất cứ quyền

lợi vật chất nào mà chỉ vì mục đích nhân đạo, mang lại cho họ những giá trị tinh

thần Quyền quan trọng đối với người hiến tặng chính là quyền được cho tinh

trùng, noãn, phôi cho cơ sở y tế Bởi không có quy định nào bắt buộc bất cứ ai

phải thực hiện việc làm này Vì vậy, việc hiến tặng tinh trùng, noãn, phôi - đó là

một quyền - và khi thực hiện quyền này, người cho không được quyền lợi nào

khác nữa Hoặc nếu có, người tặng cho có quyền sử dụng tinh trùng, noãn, phôi

của chính mình để thực hiện thiên chức làm cha, mẹ - một quyền đương nhiên đã

được ghi nhận bằng pháp luật68 Nghĩa vụ chính của người cho chỉ là phải kiểm

tra sức khoẻ và làm đấy đủ các xét nghiệm trước khi hiến tặng tinh trùng, noãn,

phôi Họ cũng được miễn nghĩa vụ đảm bảo chất lượng "tài sản" vì chỉ có cơ sở

y tế mới đủ kỹ thuật để kiểm tra chất lượng "vật tặng cho" đó mà thôi

Quyền và nghĩa vụ của cơ sở y tế nhận hiến tặng tinh trùng, noãn,

phôi - Có quyền thực hiện kỹ thuật hỗ trợ sinh sản đối với tinh trùng, noãn, phôi

được hiến tặng; nhận thù lao thông qua việc lưu giữ tinh trùng, noãn, phôi và

Trang 39

thực hiện cấy ghép trên cơ thể người có nhu cầu Khi tiếp nhận yêu cầu hỗ trợ

sinh sản, các cơ sở y tế phải xem xét trạng thái tâm lý của người hiến tặng tinh

trùng, noãn, phôi; tư vấn đầy đủ các rủi ro có thể xảy ra trong quá trình lấy noãn,

tinh trùng; kiểm tra sức khoẻ và làm đầy đủ các xét nghiệm đối với người cho

tinh trùng, noãn, phôi Quan trọng nhất, các cơ sở y tế phải đảm bảo bí mật

thông tin về tên tuổi, địa chỉ và hình ảnh của người cho thông qua việc mã hoá

các thông tin đó; và phải huỷ bỏ tinh trùng khi người gửi lưu giữ tinh trùng chết

5 Biến dạng của việc hiến tặng tinh trùng, noãn, phôi - giao kết mua

bán trái phép

Trong xã hội đương đại, kỹ thuật hỗ trợ sinh sản không có gì xa lạ và

vượt quá khả năng của các cơ sở y tế Căn cứ theo như quy định tại Điều 2 Nghị

định 12: "Nghị định này áp dụng đối với các cặp vợ chồng vô sinh, phụ nữ sống

độc thân bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản, người cho tinh trùng, người nhận tinh

trùng, người gửi tinh trùng, người cho noãn, người nhận noãn, người cho phôi,

người nhận phôi, cơ sở lưu giữ tinh trùng, lưu giữ phôi; các cơ sở y tế được Bộ

Y tế cho phép áp dụng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản để sinh con" Do đó, không phải

tất cả các cơ sở y tế, thực hiện chức năng khám chữa bệnh đều được thực hiện kỹ

thuật hỗ trợ sinh sản bằng phương pháp khoa học Như đã đề cập ở phần trước,

hiện nay chỉ có 4 cơ sở y tế được Bộ Y tế cho phép thực hiên kỹ thuật hỗ trợ

sinh sản nhưng trên thực tế thực tế có rất nhiều cơ sở không được phép nhưng

vẫn tiến hành kỹ thuật phức tạp này bằng một số ít phương tiện kỹ thuật thô sơ

của mình Tình trạng này không chỉ ảnh hưởng đến sức khoẻ người dân, khiến

cho mục đích cao đẹp của việc hiến tặng tinh trùng, noãn, phôi - đem lại hạnh

phúc cho cặp vợ chồng vô sinh - không còn nữa, mà bị thay đổi trở thành tài sản

mua bán tràn lan, đi ngược lại ý nghĩa cao đẹp vốn có của nó

Trên Thế giới, do sự phát triển vượt bật của khoa học kỹ thuật, nên công

nghệ y sinh học cũng được ứng dụng từ những năm 70-80 Vì thế, ở một số nơi,

việc thực hiện kỹ thuật hỗ trợ sinh sản được tiến hành tự do và khá dễ dàng, hình

thành cả một thị trường mua bán, dịch vụ đặc biệt Hiện nay ở nhiều nước trên

Thế giới, vấn đề tranh cãi không phải là quản lý việc tặng cho tinh trùng, noãn,

phôi như các nước mới vừa triển khai mà vấn đề là có nên cho phép các cặp vợ

chồng tạo ra những đứa con từ những tinh trùng và trứng đã được chọn lọc kỹ

lưỡng hay hoặc họ có được phép lựa chọn con mình những đặc tính di truyền

không thể có ở con người hay không Giả sử, những đứa bé ra đời từ "công nghệ

thiết kế trẻ em” có đặc tính không giống như mong đợi, sẽ được xử lý như thế

nào Đối với những cặp vợ chồng hiếm muộn, việc sử dụng công nghệ sinh sản

là cần thiết và có rất nhiều ý nghĩa; nhưng ngày càng có nhiều người muốn áp

dụng công nghệ sinh sản với mục đích phi đạo đức

Những quốc gia phát triển nhất về công nghệ sinh học cũng chính là nơi

bị chính công nghệ sinh học tác động trở lại theo chiều hướng tiêu cực Công

nghệ sinh học đã làm cho không ít cô gái trở thành những người bán trứng,

những cơ sở y tế trở thành những dịch vụ kiếm lợi nhuận hoặc trở thành những

người môi giới kinh doanh tinh trùng, trứng, phôi Sự lệch lạc về giá trị đạo đức

đã phát sinh chính từ những người có nhu cầu hỗ trợ sinh sản Họ luôn mong

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Trang 40

muốn có một đứa con hoàn hảo để rồi quên mất mình cũng có một thiên chức

cao quý là được làm cha, làm mẹ; họ tìm trứng và tinh trùng đúng tiêu chuẩn để

cho ra đời những đứa con lý tưởng theo tiêu chuẩn của họ Thậm chí, có những

đạo luật ban hành mà không dựa trên một chuẩn mực đạo đức nào cả Thực tế có

một số nơi, người ta đã đề xuất rằng, một đứa trẻ tàn tật có thể kiện bố mẹ nó vì

tội không chịu phá thai khi có mang nó; hoặc một cô con gái có thể kiện bố mẹ

vì không cho cô ta đẹp hơn bằng cách bỏ ra nhiều tiền hơn để mua một cái trứng

tốt hơn, hoặc nâng cấp gien để cô ta thông minh hơn

Còn ở Việt Nam, chúng ta chưa đạt đến trình độ để có thể tạo ra con

người bằng kỹ thuật nâng cấp gien, nhưng mặt trái của vấn đề hỗ trợ sinh sản

không phải là không có Đã xảy ra rất nhiều trường hợp những phụ nữ thực hiện

kỹ thuật hỗ trợ sinh sản tại các cơ sở y tế không được phép của Bộ Y tế bị biến

chứng, sốc thần kinh ngoại vi hoặc bị nhiễm trùng rất nặng69 Những trường hợp

mua bán tinh dịch tràn lan bởi việc làm này tuy nguy hiểm nhưng đơn giản hơn

rất nhiều so với việc thụ tinh với trứng và cấy phôi trong phòng thí nghiệm của

các bệnh viện chuyên khoa Nếu như, việc cho tinh trùng được thực hiện khá đễ

dàng và tinh trùng có thể lưu giữ trong ngăn lạnh hàng năm, thì việc chọc hút

trứng phức tạp hơn nhiều - phải được sử dụng lúc còn tươi nguyên, nghĩa là cho

thụ tinh ngay sau khi lấy ra khỏi cơ thể người phụ nữ Do đó, một số người kinh

doanh dùng hocmon mạnh để tiêm vào cơ thể người phụ nữ để kích thích trứng

rụng Những loại thuốc này để lại nhiều phản ứng trong cơ thể, về lâu dài, còn

có thể gây nên nhiều căn bệnh tiềm ẩn như ung thư hoặc vô sinh… Ngoài ra, với

mong muốn có một đứa con mà không đủ tiền đến cơ sở y tế chuyên ngành để

thực hiện thụ tinh trong ống nghiệm, rất nhiều người đã chấp nhận bơm tinh dịch

ở các cơ sở không được phép với giá rẻ mà không biết rằng việc làm này ảnh

hưởng rất lớn đến sức khoẻ và có nguy cơ mắc các bệnh lây truyền qua đường

tình dục, kể cả HIV/AIDS Hầu như những cơ sở thực hiện các dịch vụ rẻ tiền

không có khả năng kiểm soát được HIV ở giai đoạn tiềm ẩn Mặt khác, việc lọc

rửa tinh dịch rất quan trọng và phức tạp70 Nhưng hiện cả nước mới chỉ có vài

phòng xét nghiệm đủ điều kiện lọc rửa và bảo quản tinh trùng được Bộ Y tế cấp

phép Chi phí trang thiết bị rất lớn, khoảng 10.000 đến 20.000 USD, các phòng

mạch tư không đủ các phương tiện này, nên việc đến các phòng mạch này thực

hiện việc thụ tinh nhân tạo là rất nguy hiểm

Ở Thành phố Hồ Chí Minh hiện nay có rất nhiều dịch vụ thực hiện việc

thụ tinh nhân tạo mà không được phép của Bộ Y tế Các cơ sở này thực chất là

kinh doanh tinh dịch như là một món hàng bình thường, chủ yếu đánh vào tâm lý

của những cặp vợ chồng hiếm muộn, mong muốn có một đứa con mà không đủ

khả năng tài chính để đeo đuổi quá trình thực hiện kỹ thuật hỗ trợ sinh sản tại

các cơ sở y tế có uy tín Từ đó, những dịch vụ này đã biến một việc làm có ý

69 Theo Tuổi trẻ ngày 17/05/2001

70

Thụ tinh nhân tạo bằng phương pháp bơm tinh trùng vào buồng tử cung (IUI) với kỹ thuật lọc rửa tinh

trùng đã được áp dụng trên Thế giới từ những năm 70-80 Tinh dịch phải được lấy đúng kỹ thuật, cho

vào một lọ trung tính vô trùng qua các khâu lọc rửa ở phòng thí nghiệm; thời gian sử dụng tối đa chỉ

trong vòng 1 đến 2 giờ Trong tinh dịch có nhiều vi trùng thường trú hoặc vi trùng gây bệnh, ngoài ra

còn có các tế bào chết hoặc độc tố…ảnh hưởng đến quá trình thụ tinh

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Ngày đăng: 05/04/2018, 23:22

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w