1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

LUẬN văn LUẬT HÀNH CHÍNH VAI TRÒ của đại BIỂU QUỐC hội – THỰC TRẠNG và GIẢI PHÁP

63 218 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 63
Dung lượng 1,25 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Quyết định các vấn đề quan trọng của Đất nước mà các cơ quan khác không có được như: Quyết định những vấn đề về đối nội và đối ngoại, nhiệm vụ kinh tế- xã hội, quốc phòng và an ninh của

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ

THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP

Giảng viên hướng dẫn:

Nguyễn Nam Phương

Bộ môn: Luật Hành chính

Sinh viên thực hiện:

Huỳnh Tuấn Vũ MSSV: 5095490 Lớp: Luật Hành chính – K35

Cần Thơ, tháng 4/2013

Trang 2

Vai trò của đại biểu Quốc Hội – Thực trạng và giải pháp

LỜI MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Theo quy định tại Hiến pháp năm 1992 “Quốc hội là cơ quan đại biểu cao nhất của

nhân dân, cơ quan quyền lực cao nhất của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam”

Qua đây đã khẳng định được vai trò quan trọng của Quốc hội đối với Nhà nước và nhân dân Trong công cuộc đổi mới và phát triển đất nước, Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm đến vấn đề đổi mới tổ chức và nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của các cơ quan nhà nước ở trung ương cũng như ở địa phương Trong đó, đổi mới và nâng cao chất lượng hoạt động của Quốc hội như một yêu cầu bức thiết nhằm đẩy nhanh quá trình hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa

Từ khi ra đời cho đến nay, Quốc hội đã không ngừng phát triển và có nhiều thay đổi qua từng giai đoạn lịch sử Quốc hội cũng đã có những đóng góp quan trọng trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Tuy nhiên, hiện nay qua quá trình hoạt động của mình Quốc hội đã và đang bộc lộ nhiều yếu kém, hạn chế Một vài hoạt động của Quốc hội chưa đạt được hiệu quả như mong đợi, do đó chưa thực hiện tốt vai trò, chức năng luật định Điều này đã làm suy giảm vai trò của Quốc hội trong bộ máy Nhà nước

Những yếu kém và hạn chế trong hoạt động của Quốc hội được gây ra bởi nhiều yếu

tố khác nhau Trong đó, yếu tố đại biểu Quốc hội đóng vai trò quyết định bởi hoạt động của Quốc hội được tạo thành từ hoạt động của bản thân từng đại biểu Với mục đích nhằm tìm ra những hạn chế trong hoạt động của đại biểu Quốc hội, làm rõ nguyên nhân của những hạn chế, từ đó góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của Quốc

hội, người viết chọn đề tài “Vai trò của đại biểu Quốc hội – Thực trạng và giải pháp”

làm luận văn tốt nghiệp của mình

2 Mục đích nghiên cứu

Trước hết, nghiên cứu này nhằm làm rõ quy định của pháp luật về Quốc hội cũng như đại biểu Quốc hội, thông qua đó tìm hiểu nhiệm vụ cũng như quyền hạn, xem xét tính chính xác, đúng đắn và hiệu quả của quy định trên cơ sở khoa học và thực tế Từ đó, người viết ghi nhận những điểm chưa phù hợp, những thiếu sót và cuối cùng là đưa ra kiến nghị, giải pháp đối với những vấn đề đang tồn tại

3 Phạm vi nghiên cứu

Để góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động của đại biểu Quốc hội Trong luận văn này, người viết sẽ khái quát hóa vị trí, vai trò của Quốc hội cũng như đối với đại biểu Quốc hội Tập trung phân tích những thành tựu và hạn chế trong quy định của pháp luật

về đại biểu Quốc hội, về hoạt động của đại biểu Quốc hội Trên cơ sở tìm hiểu nguyên

Trang 3

nhân gây ra những hạn chế trong hoạt động của đại biểu Quốc hội, luận văn tiếp tục đưa

ra những giải pháp, ý kiến đề xuất góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động của những người đại diện cho ý chí, nguyện vọng của nhân dân cả nước

4 Phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện luận văn, người viết vận dụng những kiến thức đã có kết hợp với thu thập, tổng hợp tài liệu có liên quan đến quy định của pháp luật về Quốc hội và đại biểu Quốc hội Bên cạnh đó, người viết còn sử dụng các phương pháp phân tích, so sánh, phân tích luật viết kết hợp lý luận và thực tiển để góp phần làm rõ đề tài

5 Kết cấu luận văn

Ngoài phần mở đầu và phần kết luận bố cục đề tài gồm ba chương:

Chương 1 Lý luận chung về Quốc hội và đại biểu Quốc hội

Chương 2 Cơ sở pháp lý về hoạt động của đại biểu Quốc hội

Chương 3 Thực trang và giải pháp nâng cao vai trò của đại biểu Quốc hội

Trang 4

Vai trò của đại biểu Quốc Hội – Thực trạng và giải pháp

CHƯƠNG 1

LÝ LUẬN CHUNG VỀ QUỐC HỘI VÀ ĐẠI BIỂU QUỐC HỘI

Ở nước ta, Quốc hội là cơ quan đại diện cao nhất của nhân dân, cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và đại biểu Quốc hội là

người đại diện cho ý chí, nguyện vọng của nhân dân cả nước Với tư cách là cơ quan

quyền lực nhà nước Quốc hội có cơ cấu tổ chức và những hình thức hoạt động gì, cũng như đại biểu Quốc hội phải thỏa mãn những tiêu chuẩn nào và có quyền và nghĩa vụ ra sao Trong chương 1 của luận văn người viết sẽ tập trung làm rõ những nội dung kể trên

1.1 KHÁI QUÁT VỀ QUỐC HỘI

1.1.1 Khái niệm Quốc hội

Hiến pháp hiện hành năm 1992 khẳng định “Quốc hội là cơ quan đại biểu cao nhất

của nhân dân, cơ quan quyền lực Nhà nước cao nhất của nước Cộng hòa xã hội chủ

được nhân dân cả nước bầu ra đại diện cho ý chí và nguyện vọng của nhân dân Các cơ quan, tổ chức của Quốc hội được thành lập nhằm mục đích thực hiện có hiệu quả chức năng và nhiệm vụ của Quốc hội, đảm bảo phát huy bản chất của nhà nước ta là nhà nước của dân, do dân và vì dân

Về nguyên tắc, quyền lực nhà nước là thuộc về nhân dân nhưng nhân dân không trực tiếp thực hiện quyền đó mà ủy thác cho những người đại biểu đại diện cho họ để thực hiện Những đại biểu này tập trung tại Quốc hội, họ mang theo những ý chí, nguyện vọng của nhân dân cả nước để đưa ra trước Quốc hội, nơi hội tụ những điều kiện tốt nhất

để có thể cùng bàn bạc và giải quyết một cách thấu đáo những vấn đề quan trọng của quốc gia Mặt khác, Chỉ có Quốc hội mới có quyền biến những ý chí, nguyện vọng đó thành những quy định có giá trị pháp lý đối với cả nước

1.1.2 Vị trí pháp lý, tính chất pháp lý của Quốc hội

1.1.2.1 Vị trí pháp lý

Vị trí pháp lý của Quốc hội là tổng hợp các mối quan hệ quy định về vị trí, tính chất, vai trò của Quốc hội trong bộ máy nhà nước, được Hiến pháp và Luật ghi nhận Hay nói cách khác, vị trí pháp lý của Quốc hội được thể hiện trong các mối quan hệ về phân công quyền lực nhà nước cũng như sự chi phối của nó đối với các cơ quan nhà nước khác trong việc thực hiện quyền lực nhà nước bằng các quy định của Hiến pháp và Luật

1

Điều 83, Hiến pháp năm 1992 sửa đổi, bổ sung 2001

Trang 5

Trước hết, vị trí pháp lý của Quốc hội được ghi nhận một cách cơ bản và chủ yếu trong các quy định của Hiến pháp – văn bản pháp lý có giá trị pháp lý cao nhất Sau đó,

vị trí pháp lý của Quốc hội được quy định cụ thể hơn trong các văn bản pháp luật khác Tất cả các văn bản quy định về cách thức thành lập, thẩm quyền, cách thức hoạt động cũng như mối quan hệ giữa Quốc hội với các cơ quan nhà nước khác đều góp phần khắc họa nên vị trí pháp lý của Quốc hội.2

Hiến pháp thể hiện rõ nhất vị trí của Quốc hội với việc dành điều đầu tiên nói về các

cơ quan nhà nước Hiến pháp đã dành để nói về Quốc hội Theo đó, Điều 83 Hiến pháp

1992 ghi nhận: “Quốc hội là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân, cơ quan quyền lực

nhà nước cao nhất của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Quốc hội là cơ quan duy nhất có quyền lập hiến và lập pháp Quốc hội quyết định những chính sách cơ bản về đối nội và đối ngoại, nhiệm vụ kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh của đất nước, những nguyên tắc chủ yếu về tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước, về quan hệ xã hội và hoạt động của công dân Quốc hội thực hiện quyền giám sát tối cao đối với toàn bộ hoạt động của Nhà nước”

Như vậy, Quốc hội chiếm vị trí cao nhất trong toàn bộ bộ máy nhà nước Cộng hoà

xã hội chủ nghĩa Việt Nam Không một cơ quan nhà nước nào trong bộ máy các cơ quan nhà nước của ta có được vị trí như vậy Sở dĩ, Quốc hội có một địa vị như vậy vì Quốc hội là cơ quan duy nhất do nhân dân cả nước bầu ra một cách trực tiếp.3

Việc Hiến pháp quy định như vậy là nhằm mục đích thể hiện rõ bản chất của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nhà nước của dân, do dân và vì dân theo quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin về một nhà nước kiểu mới, khác với các nhà nước trước đây Và đây cũng là đặc điểm nói lên sự khác nhau giữa mô hình tổ chức Nhà nước ta- Nhà nước xã hội chủ nghĩa với các mô hình tổ chức nhà nước khác của chế độ tư bản chủ nghĩa.4

1.1.2.2 Tính chất pháp lý

Giống như vị trí pháp lý, tính chất pháp lý của Quốc hội cũng được ghi nhận trong

Hiến pháp “Quốc hội là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân, là cơ quan quyền lực

2

Lê Thanh Vân: Vị trí, tính chất của Quốc hội nước ta trong cơ chế tổ chức quyền lực nhà nước (Phần một), Báo điện tử Đại biểu nhân dân, 2007, http://daibieunhandan.vn/default.aspx?tabid=76&NewsId=15247 , [truy cập ngày 15-3-2013]

3 Điều 7, Hiến pháp 1992, sửa đổi bổ sung năm 2001

4

Nguyễn Đăng Dung, Lê Hữu Thể: Tìm hiểu pháp luật Luật Hiến pháp Việt Nam, Nxb Tp Hồ Chí Minh, Tp.Hồ

Chí Minh, 2001, tr.179

Trang 6

Vai trò của đại biểu Quốc Hội – Thực trạng và giải pháp

đại diện nhân dân và tính quyền lực nhà nước trong tổ chức và hoạt động của mình

Quốc hội là cơ quan duy nhất do nhân dân cả nước bầu ra

Đại biểu Quốc hội vừa là người đại diện cho nhân dân địa phương vừa là người đại diện cho nhân dân cả nước làm việc trong cơ quan quyền lực cao nhất là Quốc hội Quốc hội có các đại biểu đại diện cho mọi tầng lớp, thành phần, tôn giáo, dân tộc trong xã hội

Quốc hội được giao thực hiện những chức năng, nhiệm vụ lớn phục vụ cho lợi ích chung của toàn dân tộc và toàn thể nhân dân Quốc hội là nơi thể hiện tâm tư, nguyên vọng của nhân dân cả nước, nơi nói lên tiếng nói của nhân dân cả nước

Tính quyền lực Nhà nước cao nhất thể hiện ở:

Quốc hội là nơi tập trung thống nhất quyền lực Nhà nước, những quyền lực được nhân dân cả nước giao phó Quyền lực này bao gồm quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp

Các cơ quan khác ở trung ương được Quốc hội phân công thực hiện một phần quyền lực, trong quá trình thực hiện quyền lực phải thường xuyên báo cáo công tác trước Quốc hội, chịu sự giám sát, kiểm tra của Quốc hội và chịu trách nhiệm trước Quốc hội về kết quả thực hiện công việc được phân công

Ban hành những văn bản có giá trị pháp lý cao nhất đó là Hiến pháp và các đạo luật Giám sát tối cao hoạt động của các cơ quan trong bộ máy nhà nước

Quyết định các vấn đề quan trọng của Đất nước mà các cơ quan khác không có được như: Quyết định những vấn đề về đối nội và đối ngoại, nhiệm vụ kinh tế- xã hội, quốc phòng và an ninh của đất nước, những nguyên tắc cơ bản trong tổ chức và hoạt động của

bộ máy Nhà nước, quyết định những vị trí nhân sự chủ chốt trong bộ máy nhà nước, quyết định về những quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân

5

Điều 83, Hiến pháp 1992, sửa đổi bổ sung năm 2001

6

Trung tâm bồi dưỡng đại biểu dân cử: Địa vị pháp lý của Quốc hội,

http://ttbd.gov.vn/Home/Default.aspx?portalid=52&tabid=108&catid=515&distid=2631, [truy cập ngày 13-2- 2013]

Trang 7

1.1.3 Chức năng, hoạt động của Quốc hội

1.1.3.1 Chức năng của Quốc hội

Với vị trí là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân, cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Quốc hội nước ta có ba chức năng chính sau đây:

Quốc hội là cơ quan duy nhất có quyền lập hiến và lập pháp Quyền lập hiến và lập pháp của Quốc hội xuất phát từ vị trí và tính chất của cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất Chỉ có Quốc hội mới có quyền định ra các quy phạm pháp luật có hiệu lực pháp lý cao nhất, điều chỉnh các quan hệ xã hội Các quy phạm pháp luật do các cơ quan nhà nước khác ban hành phải cụ thể hóa Hiến pháp và luật, không được trái với tinh thần và nội dung của Hiến pháp và luật Hiến pháp và luật là hai loại pháp luật có hiệu lực pháp

lý cao nhất quy định các hoạt động quan trọng của xã hội Chỉ có Quốc hội với tư cách là

cơ quan quyền lực nhà nước tối cao mới có quyền thông qua những loại văn bản này Ngược lại, cũng chính việc quốc hội, cơ quan duy nhất được quyền thông qua các loại văn bản này mới chứng tỏ là cơ quan quyền lực nhà nước tối cao

Quyết định những vấn đề quan trọng của đất nước Quốc hội quyết định những chính sách cơ bản về đối nội và đối ngoại, nhiệm vụ kinh tế xă hội, quốc phòng, an ninh của đất nước, những nguyên tắc chủ yếu về tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước,

về quan hệ xã hội và hoạt dộng của công dân

Chức năng giám sát: “Quốc hội thực hiện quyền giám sát tối cao đối với toàn bộ

hoạt động của Nhà nước” Tùy theo chức năng, nhiệm vụ riêng biệt của mỗi cơ quan nhà

nước mà các cơ quan này thực hiện giám sát việc tuân thủ pháp luật trong quá trình hoạt động của mình, nhưng quyền giám sát tối cao thuộc về Quốc hội Quốc hội thực hiện giám sát nhằm làm cho những quy định của Hiến pháp và pháp luật được thi hành triệt để

và thống nhất Quốc hội giám sát hoạt động của các cơ quan nhà nước đảm bảo cho các

cơ quan này hoàn thành nhiệm vụ, quyền hạn được quy định, làm cho bộ máy nhà nước hoạt động đều đặn, hiệu lực, không chồng chéo, chống các biểu hiện tham nhũng, quan liêu, hách dịch Thông qua hoạt động giám sát này, Quốc hội thực hiện chức năng lập pháp và quyết định những vấn đề quan trọng khác của nhà nước 7

Những chức năng quan trọng này của Quốc hội có sự thống nhất và có mối quan

hệ mật thiết với nhau Thông qua nhiệm vụ lập hiến và lập pháp (tức là bằng các đạo luật) Quốc hội thực hiện các nhiệm vụ khác của mình Như quyết định các chính sách đối nội, đối ngoại, kế hoạch phát triển kinh tế xã hội, chính sách tiền tệ và các lĩnh vực tổ chức

7

Nguyễn Đăng Dung, Lê Hữu Thể: Tìm hiểu pháp luật Luật Hiến pháp Việt Nam, Nxb Tp Hồ Chí Minh, Tp

Hồ Chí Minh, 2001, tr 181-186

Trang 8

Vai trò của đại biểu Quốc Hội – Thực trạng và giải pháp

hoạt động của các cơ quan nhà nước khác Ngược lại, thông qua việc thực hiện chức năng giám sát của mình mà Quốc hội kiểm tra lại chất lượng các đạo luật và các quyết định do mình ban hành để có thể đề xuất sáng kiến sửa đổi, bổ sung hoàn thiện và nâng cao chất lượng của chúng Cứ như thế, trong mối quan hệ tác động qua lại lẫn nhau, hiểu quả và hiệu lực của các hoạt động lập pháp, quyết định các vấn đề trọng đại của đất nước và giám sát tối cao ngày càng được nâng cao.8

1.1.3.2 Hoạt động của Quốc hội

Quốc hội tổ chức và hoạt động theo nguyên tắc tập trung dân chủ, làm việc theo chế

độ hội nghị và quyết định theo đa số Hiệu quả hoạt động của Quốc hội được bảo đảm bằng hiệu quả của các kỳ họp của Quốc hội, hoạt động của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Hội đồng dân tộc, Ủy ban của Quốc hội, Đoàn đại biểu Quốc hội và các đại biểu Quốc hội.9

Địa vị pháp lý của Quốc hội không những được nói lên từ cách thức thành lập, từ thẩm quyền, từ cơ cấu, mà còn được thể hiện trong hoạt động của Quốc hội Xuất phát từ đăc điểm các đại biểu Quốc hội được bầu từ các đơn vị bầu cử có địa vị pháp lý như nhau, cho nên các đại biểu Quốc hội có quyền hạn và nghĩa vụ như nhau

Kỳ họp Quốc hội là hình thức hoạt động chủ yếu của Quốc hội, nơi biểu hiện trực tiếp và tập trung nhất của quyền lực Nhà nước, trí tuệ của đại biểu Quốc hội và quyền giám sát của Quốc hội đối với hoạt động của các cơ quan Nhà nước Quốc hội họp thường lệ mỗi năm hai kỳ, một kỳ vào giữa năm và một kỳ vào cuối năm Trong trường hợp Chủ tịch nước, Thủ tướng Chính phủ hoặc ít nhất một phần ba tổng số đại biểu Quốc hội yêu cầu hoặc theo quyết định của mình, Ủy ban Thường vụ Quốc hội triệu tập kỳ họp bất thường.10

Các phiên họp của Quốc hội diễn ra công khai Trong trường hợp cần thiết, theo đề nghị của Chủ tịch nước, Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Thủ tướng Chính phủ hoặc của ít nhất một phần ba tổng số đại biểu Quốc hội, Quốc hội quyết định họp kín

Để đảm bảo hiệu quả của các kỳ họp, mọi kỳ họp phải được tiến hành theo một trình

tự bắt buộc Trình tự tiến hành các kỳ họp của Quốc hội được quy định một số điểm chính trong Hiếp pháp và Luật tổ chức Quốc hội Những quy định này được chi tiết hóa trong nội quy kỳ họp Quốc hội, tiến trình kỳ hợp thường đươc chia làm ba giai đoạn: chuẩn bị kỳ hợp, thảo luận và thông qua các dự án Ngoài trình tự trên, nội quy kỳ họp có

8 Trang thông tin Quốc hội Việt Nam: Chức năng nhiệm vụ của Quốc hội,

http://www.na.gov vn/htx/Vietnamese/C1400/C1403/#2XZZVx6nfpIM , [truy cập ngày 2-2-2013]

Trang 9

quy định cách thức tiến hành kỳ họp thứ nhất, trình tự tiến hành chất vấn, trả lời chất vấn

và trình tự lập pháp

1.1.4 Cơ cấu tổ chức của Quốc hội

Tổ chức của Quốc hội bao gồm những cơ cấu bên trong được lập ra để giúp Quốc hội thực hiện chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của mình Tổ chức của Quốc hội do Hiến pháp và Luật tổ chức Quốc hội quy định

Tổ chức Quốc hội là một trong những yếu tố đảm bảo hiệu quả hoạt động của Quốc hội Việc xây dựng tổ chức của Quốc hội theo Hiến pháp được đặt ra với yêu cầu đảm bảo hoạt động của Quốc hội Theo tinh thần đó Quốc hội được xây dựng bao gồm: Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Hội đồng dân tộc và các Ủy ban của Quốc hội

1.1.4.1 Ủy ban thường vụ Quốc hội

Trước đây, trong tổ chức của Quốc hội cũng đã có Ủy ban Thường vụ Quốc hội 11Nhưng theo quy định của Hiến pháp 1980, Ủy ban Thường vụ Quốc hội được thay thế bằng Hội đồng Nhà nước Hội đồng Nhà nước theo quy định của Hiến pháp 1980, là cơ quan cao nhất hoạt động thường xuyên của Quốc hội, Đồng thời là Chủ tịch tập thể của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam

Để phân biệt rõ chức năng Nguyên thủ Quốc gia và chức năng thường trực Quốc hội Hiến pháp 1992 đã tách Hội đồng Nhà nước thành hai chế định: Chủ tịch nước và Ủy ban Thường vụ Quốc hội Chủ tịch nước đảm bảo chức năng của Nguyên thủ Quốc gia,

Ủy ban Thường vụ Quốc hội là cơ quan thường trực của Quốc hội

Ủy ban Thường vụ Quốc hội gồm có Chủ tịch Quốc hội, các Phó Chủ tịch Quốc hội

và các Ủy viên do Chủ tịch Quốc hội làm Chủ tịch, các Phó Chủ tịch Quốc hội làm các Phó Chủ tịch.12

Số Phó Chủ tịch Quốc hội và số Ủy viên Ủy ban Thường vụ Quốc hội do Quốc hội quyết định

Thành viên Ủy ban Thường vụ Quốc hội không thể đồng thời là thành viên Chính phủ, làm việc theo chế độ chuyên trách

Ủy ban Thường vụ Quốc hội mỗi khóa thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình cho đến khi Quốc hội khóa mới bầu ra Ủy ban Thường vụ Quốc hội mới

Trong tổ chức của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chủ tịch Quốc hội giữ một vai trò hết sức quan trọng Là người đứng đầu Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chủ tịch Quốc hội

Trang 10

Vai trò của đại biểu Quốc Hội – Thực trạng và giải pháp

phải chủ trì và điều hành hoạt động của Ủy ban Thường vụ, lãnh đạo công tác, chỉ đạo chuẩn bị, triệu tập, và là chủ tọa phiên hợp của Ủy ban Thường vụ Quốc hội

Giúp việc cho Chủ tịch Quốc hội có các Phó chủ tịch Quốc hội, được phân công đảm nhiệm các phần việc của Ủy ban Thường vụ Quốc hội Ủy ban Thường vụ Quốc hội làm việc theo chế độ hội nghị, mỗi tháng hợp ít nhất một lần

1.1.4.2 Hội đồng dân tộc

Hội đồng dân tộc là cơ quan thuộc Quốc hội có nhiệm vụ tham mưu cho Quốc hội về vấn đề dân tộc Nhiệm vụ của Hội đồng dân tộc là nghiên cứu và kiến nghị với Quốc hội những vấn đề về dân tộc, thực hiện quyền giám sát việc thi hành chính sách dân tộc, các chương trình, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội miền núi và vùng có đồng bào dân tộc thiểu số Trước khi ban hành các quyết định về chính sách dân tộc, Chính phủ phải tham khảo ý kiến của Hội đồng dân tộc Hội đồng dân tộc còn có những nhiệm

vụ, quyền hạn khác như các Ủy ban của Quốc hội

Hội đồng dân tộc có nhiệm vụ thẩm tra dự án luật, kiến nghị về luật, dự án pháp lệnh và các dự án khác, thẩm tra những báo cáo được Quốc hội hoặc Ủy ban Thường vụ Quốc hội giao

Giám sát việc thực hiện luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội thuộc lĩnh vực dân tộc Giám sát hoạt động của chính phủ, các

bộ và cơ quan ngang bộ trong việc thực hiện chương trình, kế hoạch phát triển kinh tế -

xã hội của nhân dân khu vực miền núi, vùng đồng bào dân tộc thiểu số

Trình Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội ý kiến về chương trình xây dựng luật, pháp lệnh, thực hiện quyền giám sát, kiến nghị với Ủy ban Thường vụ Quốc hội về việc giải thích Hiến pháp, luật, pháp lệnh và những vấn đề trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình

Tham gia ý kiến về dự thảo các văn bản quy phạm pháp luật của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, Tòa án nhân dân tối cao, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, văn bản quy phạm pháp luật liên tịch giữa các cơ quan nhà nước có thẩm quyền ở trung ương hoặc giữa cơ quan nhà nước có thẩm quyền với cơ quan trung ương của tổ chức chính trị - xã hội có liên quan đến vấn đề dân tộc và giám sát việc thực hiện các văn bản đó

Kiến nghị với Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội các vấn đề về chính sách dân tộc của Nhà nước, các vấn đề liên quan đến tổ chức, hoạt động của các cơ quan hữu quan, kiến nghị với Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ

Trang 11

và các cơ quan khác của Nhà nước ở trung ương và địa phương về những vấn đề có liên quan đến dân tộc thiểu số

Hội đồng dân tộc có quyền kiến nghị Ủy ban Thường vụ Quốc hội xem xét trình Quốc hội việc bỏ phiếu tín nhiệm đối với những người giữ các chức vụ do Quốc hội bầu hoặc phê chuẩn

Hội đồng dân tộc chịu trách nhiệm và báo cáo công tác trước Quốc hội, trong thời gian Quốc hội không họp thì báo cáo công tác trước Ủy ban Thường vụ Quốc hội

1.1.4.3 Các Ủy ban của Quốc hội

Các Ủy ban của Quốc hội và Hội đồng dân tộc đều là các cơ quan của Quốc hội Các cơ quan này được thành lập để giúp Quốc hội thực hiện tốt chức năng và nhiệm vụ của mình Đối với các Ủy ban của Quốc hội với việc được tổ chức với nhiều ủy ban mỗi

ủy ban đảm nhiệm riêng một lĩnh vực để giúp Quốc hội có thể quản lý và giám sát tốt hơn các hoạt động diễn ra trong xã hội

Quốc hội thành lập các Uỷ ban sau đây:1 3

 Uỷ ban pháp luật

 Uỷ ban tư pháp

 Uỷ ban kinh tế

 Uỷ ban tài chính, ngân sách

 Uỷ ban quốc phòng và an ninh

 Uỷ ban văn hoá, giáo dục, thanh niên, thiếu niên và nhi đồng

 Uỷ ban về các vấn đề xã hội

 Uỷ ban khoa học, công nghệ và môi trường

 Uỷ ban đối ngoại

Mổi Ủy ban đảm nhận một nhiệm vụ liên quan đến những vấn đề quan trọng của đất nước Với cơ cấu tổ chức như vậy, để các cơ quan này có thể kịp thời báo cáo cho Quốc hội về những vấn đề phát sinh hay những biến động xảy ra để Quốc hội có thể đề ra các biện pháp nhằm ngăn chặn và giải quyết Mặc khác, đây cũng được xem là cơ quan tham mưu cho Quốc hội trong việc nghiên cứu các dự thảo luật Khi xét thấy cần thiết, Quốc hội có thể thành lập Ủy ban lâm thời để nghiên cứu, thẩm tra một dự án hoặc điều tra một vấn đề nhất định

13

Điều 22, Luật tổ chức Quốc hội năm 2001, sửa đổi bổ sung năm 2007

Trang 12

Vai trò của đại biểu Quốc Hội – Thực trạng và giải pháp

1.2 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ ĐẠI BIỂU QUỐC HỘI

1.2.1 Khái niệm đại biểu Quốc hội

Đại biểu Quốc hội là người đại diện cho ý chí và nguyện vọng của nhân dân, không chỉ đại diện cho nhân dân ở đơn vị bầu cử ra mình mà còn đại diện cho nhân dân cả nước,

là người thay mặt nhân dân thực hiện quyền lực nhà nước trong Quốc hội.14

Đại biểu Quốc hội là những người công dân ưu tú được nhân dân cả nước tín nhiệm bầu ra bằng cuộc tổng tuyển cử tự do Đại biểu Quốc hội là cầu nối quan trọng giữa Nhà nước với nhân dân, các vị đại biểu này vừa phải chịu trách nhiệm với cử tri vừa phải chịu trách nhiệm trước cơ quan quyền lực Nhà nước cao nhất Trong khi làm nhiệm vụ, đại biểu Quốc hội phải xuất phát từ lợi ích chung của cả nước, đồng thời phải quan tâm đến lợi ích chính đáng của nhân dân địa phương nơi bầu ra mình Đại biểu Quốc hội cần phải gương mẫu trong việc thực hiện đúng những quy định của pháp luật nhằm đảm bảo việc thực hiện tốt và có hiệu quả công tác của mình

1.2.2 Đặc điểm, tiêu chuẩn của đại biểu Quốc hội

1.2.2.1 Đặc điểm của đại biểu Quốc hội

Với tư cách là người đại diện cho nhân dân cả nước trước Quốc hội, với những quyền và nghĩa vụ được quy định cụ thể trong Hiến pháp và luật, thì đại biểu Quốc hội được xem là những chủ thể đặc biệt có những điểm khác biệt rõ rệt với các chủ thể đại diện khác, sự khác biệt đó được thể hiện qua những đặc điểm sau đây:

Thứ nhất, đại biểu Quốc hội là người đại diện cho ý chí, nguyện vọng của nhân dân,

không chỉ đại diện cho nhân dân ở đơn vị bầu cử ra mình mà còn đại diện cho nhân dân

cả nước Đây là một đặc điểm thể hiện sự khác biệt giữa đại biểu Quốc hội với đại biểu Hội đồng nhân dân, mặc dù hai vị đại biểu này đều là những người đại diện cho quyền lực của nhân dân nhưng đại biểu Hội đồng nhân dân chỉ đại diện cho nhân dân tại Hội đồng nhân dân từng cấp, còn về phía đại biểu Quốc hội thì không những đại diện cho nhân dân ở địa phương đó mà còn đại diện cho nhân dân cả nước

Thứ hai, bình đẳng và độc lập trong hoạt động của đại biểu Quốc hội Đại biểu Quốc

hội dù là đại biểu hoạt động chuyên trách hay kiêm nhiệm đều có địa vị pháp lý và tư cách đại biểu ngang nhau, họ luôn phải được bình đẳng trong hoạt động của Quốc hội, là người thay mặt nhân dân thực hiện quyền lực nhà nước trong Quốc hội Các đại biểu Quốc hội luôn bình đẳng với nhau về quyền, nhiệm vụ và trách nhiệm, không hình thành thứ bậc quyền uy trong quan hệ giữa các đại biểu Quốc hội, không có đại biểu Quốc hội cấp trên, đại biểu Quốc hội cấp dưới, không có đại biểu Quốc hội này lãnh đạo đại biểu

14

Điều 43, Luật tổ chức Quốc hội năm 2001, sửa đổi bổ sung năm 2007

Trang 13

Quốc hội khác Mối quan hệ giữa họ là mối quan hệ phân công, phối hợp trong việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ của Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội và Đoàn đại biểu Quốc hội Đó là hình thức tổ chức để thực hành dân chủ trong Quốc hội chứ tuyệt nhiên không hình thành thứ bậc quyền uy, phục tùng Đặc điểm này đã xuyên suốt trong tất cả các văn bản quy phạm pháp luật có quy định về đại biểu Quốc hội (Hiến pháp, Luật tổ chức của Quốc hội, Luật giám sát của Quốc hội, Quy chế hoạt động của Hội đồng dân tộc, các Ủy ban của Quốc hội, Quy chế hoạt động của đại biểu Quốc hội và Đoàn đại biểu Quốc hội…) khi quy định về nhiệm vụ quyền hạn, trách nhiệm, mối quan hệ đều không

có thuật ngữ lãnh đạo

Do đó, cơ chế hoạt động của đại biểu Quốc hội nhất là đại biểu Quốc hội chuyên trách phải hoàn thiện theo hướng không dẫn đến sự bất bình đẳng về địa vị pháp lý, nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm giữa các đại biểu Quốc hội Dù ở cương vị nào (Chủ tịch, Phó Chủ tịch Quốc hội, Chủ nhiệm, Phó Chủ nhiệm Hội đồng dân tộc, các Ủy ban của Quốc hội, các Ủy viên thường trực của Hội đồng dân tộc, các Ủy ban của Quốc hội…) họ đều là đại biểu của nhân dân và luôn phải được bình đẳng trên mọi phương diện với tư cách là đại biểu Quốc hội

Thứ ba, hoạt động theo nhiệm kỳ Đây là đặc điểm quan trọng trong hoạt động của

đại biểu Quốc hội, bảo đảm cho Quốc hội luôn được đổi mới, tạo áp lực của cử tri, nhân dân với đại biểu, đồng thời là yếu tố tác động mạnh mẽ khiến đại biểu Quốc hội phải tu dưỡng, rèn luyện, hoạt động xứng đáng với sự tín nhiệm của cử tri, của nhân dân Đặc điểm hoạt động theo nhiệm kỳ cũng chứa đựng những rủi ro đối với các đại biểu Quốc hội hoạt động chuyên trách Đồng thời cũng đặt ra yêu cầu khi bố trí đại biểu Quốc hội làm việc theo chế độ chuyên trách bên cạnh những tiêu chuẩn về phẩm chất, trình độ, năng lực còn phải tính đến độ tuổi để ít nhất phải được 02 khóa ở Quốc hội

Thứ tư, hoạt động không thể có ủy quyền Trong xã hội nhiều quan hệ pháp luật có

thể được ủy quyền như quan hệ pháp luật dân sự, thương mại hoặc quan hệ pháp luật hành chính…Tuy nhiên, hoạt động của đại biểu Quốc hội là hoạt động không có ủy quyền Đại biểu Quốc hội nhận sự ủy quyền từ cử tri, nhân dân, sự ủy quyền mang tính song trùng, vừa ủy quyền thực hiện quyền lực, vừa giao trách nhiệm, nghĩa vụ để thay mặt nhân dân thực hiện quyền lực nhà nước trong Quốc hội Sự ủy quyền này được thực hiện thông qua bầu cử và được Hiến pháp, pháp luật ghi nhận, được cụ thể hóa thành những nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của đại biểu Quốc hội Do đó, đại biểu Quốc

Trang 14

Vai trò của đại biểu Quốc Hội – Thực trạng và giải pháp

hội là chủ thể duy nhất thực hiện nhiệm vụ và chịu trách nhiệm trước cử tri, nhân dân mà không thể có ủy quyền.15

1.2.1.2 Tiêu chuẩn của đại biểu Quốc hội

Để có thể đảm bảo thực hiện tốt nhiệm vụ là một người đại diện cho ý chí, nguyên vọng của nhân dân trước Quốc hội đòi hỏi các vị đại biểu Quốc hội cần hội đủ nhiều tiêu chuẩn cần thiết Việc quy định những tiêu chuẩn này còn đảm bảo cho quá trình hoạt động của Quốc hội vì chất lượng của đại biểu Quốc hội góp phần rất lớn trong việc thành công của Quốc hội Quy định này giúp công dân trước khi viết đơn tự ứng cử hoặc chấp nhận sự giới thiệu của tổ chức phải suy nghĩ xem mình có thể đạt được những tiêu chuẩn

đó hay không Những tiêu chuẩn đó được Luật bầu cử đại biểu Quốc hội quy định như sau: 16

 Trung thành với Tổ quốc và Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, phấn đấu thực hiện công cuộc đổi mới, vì sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, làm cho dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, văn minh

 Có phẩm chất đạo đức tốt, cần kiệm liên chính, chí công vô tư, gương mẫu chấp hành pháp luật, kiên quyết đấu tranh chống mọi biểu hiện quan liệu, hách dịch, cửa quyền, tham nhũng và các hành vi vi phạm pháp luật

 Có trình độ và năng lực thực hiện nhiệm vụ đại biểu Quốc hội, tham gia quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước

 Liên hệ chặt chẽ với nhân dân, lắng nghe ý kiến của nhân dân, được nhân dân tín nhiệm

 Có điều kiện tham gia các hoạt động của Quốc hội

Phẩm chất đạo đức của mỗi đại biểu Quốc hội phải được thể hiện trong lối sống của chính đại biểu, của gia đình đại biểu đó, trong quan hệ với đồng nghiệp, với cấp trên, cấp dưới và trong mối quan hệ mật thiết với nhân dân Có thể vì điều kiện công tác người đại biểu Quốc hội không có điều kiện thường xuyên gần gũi với tất cả bà con nơi cư trú, nhưng trong mọi trường hợp tiếp xúc với dân chúng phải biểu thị lòng tôn trọng, sẵn sàng lắng nghe những phản ánh trung thực của nhân dân Người đại biểu Quốc hội phải gương mẫu trong phong trào chống tiêu cực như quan liêu, hách dịch, cửa quyền, tham nhũng và gương mẫu chấp hành pháp luật

15 Nguyễn Đình Quyền: Một số đặc điểm trong hoạt động của đại biểu Quốc hội, Trung tâm bồi dưỡng đại biểu dân

cử, http://ttbd.gov.vn/Home/Default.aspx?portalid=52&tabid=108&catid=515&distid=2319, [truy cập ngày 24-2-

2013]

16

Điều 3, Luật bầu cử đại biểu Quốc hội năm 1997, sửa đổi bổ sung năm 2010

Trang 15

Đại biểu Quốc hội phải có trình độ nhất định về pháp luật, phải nắm vững chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước, tình hình trong nước và xu thế chung trên thế giới, để có thể góp phần thảo luận Hiến pháp, thảo luận và thông qua các Luật và Bộ luật, góp phần tham gia giám sát việc thi hành pháp luật cũng như giám sát các hoạt động của Chủ tịch nước, của Chính phủ, của Uỷ ban thường vụ Quốc hội, của các Bộ, Ngành, của Tòa án và Viện kiểm sát nhân dân tối cao Người đại biểu Quốc hội phải đủ trình độ để xét đoán các căn cứ khả thi của những kế hoạch phát triển kinh tế, xã hội của đất nước và tham gia quyết định các vấn đề quan trọng, các dự án lớn do Chính phủ đệ trình Quốc hội Người đại biểu Quốc hội phải xứng đáng là người đại biểu đích thực của nhân dân, thường xuyên liên hệ với nhân dân, lắng nghe ý kiến, nguyện vọng, đề xuất của quần chúng và được nhân dân tín nhiệm

Đại biểu Quốc hội chuyên trách thì phải dành toàn bộ thời gian công tác phục vụ cho nhiệm vụ được giao, còn với các đại biểu Quốc hội không chuyên trách thì cũng phải dành ít nhất một phần ba thời gian làm việc để thực hiện nhiệm vụ đại biểu Quốc hội

1.2.3 Phân loại đại biểu Quốc hội

1.2.3.1 Đại biểu Quốc hội kiêm nhiệm

Cho đến nay, hầu hết các đại biểu Quốc hội đều hoạt động kiêm nhiệm Với vị trí là

cơ quan đại diện cao nhất của nhân dân, là nơi thể hiện tập trung của quyền lực Nhà nước

và xuất phát từ nguyên tắc tất cả quyền lực Nhà nước thuộc về nhân dân, cơ cấu tổ chức của Quốc hội phải bao gồm các đại biểu ưu tú nhất của các ngành, các cấp, các cơ quan,

tổ chức từ trung ương đến địa phương thuộc mọi lĩnh vực của đời sống xã hội Có như vậy mới đảm bảo cho Quốc hội thực hiện được các chức năng, nhiệm vụ cực kỳ quan trọng trong việc làm Hiến pháp, sửa đổi Hiến pháp, làm luật, sửa đổi luật, quyết định những vấn đề quan trọng của đất nước và giám sát tối cao đối với toàn bộ hoạt động của Nhà nước.17

Các đại biểu kiêm nhiệm có thể là công chức trong các cơ quan hành pháp và tư pháp, có thể là đại biểu hội đồng nhân dân, đại biểu trong các tổ chức chính trị, chính trị

xã hội, đại biểu thuộc các lực lượng vũ trang nhân dân, các đơn vị kinh tế…

Các đại biểu Quốc hội không thường xuyên làm việc tại Quốc hội, lại công tác tại nhiều cơ quan, địa phương khác nhau thuộc mọi vùng miền của đất nước Công việc chính của họ không phải duy nhất là làm đại biểu Quốc hội, càng không phải thường xuyên, chuyên nghiệp làm công việc giám sát, thẩm tra hoặc cho ý kiến về các dự án luật, pháp lệnh mà là đảm nhiệm công việc ở các cơ quan, tổ chức thuộc các ngành, địa

17

Nguyễn Đình Quyền: Đại biểu Quốc hội – chuyên trách và kiêm nhiệm, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số 7, 2003

tr, 22-27, tr 23

Trang 16

Vai trò của đại biểu Quốc Hội – Thực trạng và giải pháp

phương nơi họ thường xuyên làm việc Nhiều người còn là cán bộ chủ chốt của các cơ quan, tổ chức và địa phương đó Vì vậy, việc tham gia hoạt động đại biểu Quốc hội của các đại biểu kiêm nhiệm như thế nào phải được nghiên cứu để có cơ chế cho phù hợp với đặc điểm này, nhất là đối với các đại biểu kiêm nhiệm thuộc các cơ quan hành pháp và tư pháp để bảo đảm cho các quyết định của Quốc hội được khách quan.18

Các đại biểu kiêm nhiệm giữ vai trò quan trọng trong việc gắn hoạt động của đại biểu Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội với hoạt động thực tiễn trên mọi lĩnh vực của đời sống kinh tế - xã hội, góp phần phản ánh trung thực và đầy đủ tâm tư, nguyện vọng của nhân dân Họ góp phần đảm bảo cho các quyết định của Quốc hội phù hợp và kịp thời đáp ứng các yêu cầu mà cuộc sống đặt ra Xuất phát từ tính chất đặt thù từng ngành, từng lĩnh vực, từng địa phương nơi các đại biểu kiêm nhiệm đang công tác, mà nội dung các vấn đề được Quốc hội xem xét, thảo luận sẽ được cân nhắc từ các góc độ khác nhau của các nhà hoạt động thực tiễn, các nhà khoa học, các nhà quản lý, nhà kinh doanh, nhà luật học Các đại biểu kiêm nhiệm vừa là người tham gia quyết định các chính sách, quyết định thông qua các đạo luật tại Quốc hội, lại vừa là người triển khai, tổ chức thực hiện các chính sách, các quy định của pháp luật vào cuộc sống Do đó, phải tính đến yếu

tố này trong cơ cấu đại biểu Quốc hội kiêm nhiệm là thành viên của Hội đồng dân tộc, các Ủy ban của Quốc hội.1 9

1.2.3.2 Đại biểu Quốc hội chuyên trách

Đại biểu Quốc hội chuyên trách là đại biểu thường xuyên làm nhiệm vụ của đại biểu Quốc hội, thực hiện các công việc trong phạm vi, lĩnh vực được phân công tại các cơ quan của Quốc hội, Ban của Ủy ban Thường vụ Quốc hội và Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, hưởng lương và phụ cấp (nếu có) từ kinh phí hoạt động của Quốc hội.20 Qua một số năm gần đây, việc bố trí đại biểu Quốc hội hoạt động chuyên trách đã làm thay đổi sâu sắc chất lượng và hiệu quả hoạt động của Quốc hội, các

cơ quan của Quốc hội Đa số các đại biểu này được bố trí vào các cơ quan của Quốc hội như Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Hội đồng dân tộc, các Ủy ban của Quốc hội Việc xây dựng đội ngũ đại biểu Quốc hội chuyên trách là hướng đi phù hợp với thực tiễn tổ chức

và hoạt động của Quốc hội nước ta

Trang 17

Về vị trí, đại biểu Quốc hội chuyên trách có vị trí ngang bằng với các đại biểu Quốc hội khác trong việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của đại biểu vì đại biểu Quốc hội chuyên trách nói riêng và đại biểu Quốc hội nói chung đều là người đại diện cho nhân dân trong Quốc hội và thay mặt nhân dân thực hiện quyền lực nhà nước tại Quốc hội Xuất phát từ nhiệm vụ và chế độ làm việc, nên pháp luật quy định đại biểu Quốc hội chuyên trách có những điều kiện bảo đảm riêng như: được bố trí nơi làm việc và các điều kiện, phương tiện cần thiết, được sắp xếp công việc khác khi không tiếp tục làm đại biểu Quốc hội chuyên trách, thời gian hoạt động chuyên trách được tính vào thời gian công tác liên tục, được hưởng lương, phụ cấp theo quy định của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội Các quy định về nhiệm vụ và điều kiện đảm bảo này không tạo cho đại biểu Quốc hội chuyên trách một vị trí cao hơn so với các đại biểu hoạt động kiêm nhiệm Đây chỉ là các quy định cụ thể hoá cơ chế hoạt động phù hợp với đại biểu Quốc hội chuyên trách trong bối cảnh chung về tổ chức và hoạt động của Quốc hội nước ta

Đại biểu Quốc hội chuyên trách ở trung ương, là những người được bố trí vào các

cơ quan của Quốc hội và hoạt động theo quy chế hoạt động của cơ quan mà đại biểu đó là thành viên Việc bố trí này giúp các đại biểu có thể tích cực tham gia trong công tác xây dựng pháp luật, tham gia các đoàn giám sát hay tự nghiên cứu giám sát văn bản quy phạm pháp luật Trong lĩnh vực lập pháp, các đại biểu chuyen trách đã tham gia thảo luận

và cho ý kiến các dự án luật trước khi trình ra kỳ họp Quốc hội tại hai hội nghị chuyên trách dưới sự chủ trì của Ủy ban Thường vụ Quốc hội Từ những kết quả thành công bước đầu cho thấy, đây là những điều kiện rất thuận lợi để đại biểu không những đại biểu được cung cấp nhiều hơn thông tin về quá trình soạn thảo, chỉnh lý, mà còn đóng góp ý kiến vào quá trình tiếp tục hoàn thiện dự thảo.21 Công việc này chiếm hầu hết thời gian và công sức của đại biểu chuyên trách ở trung ương Đại biểu Quốc hội chuyên trách ở trung ương cũng tích cực tham gia các phiên hợp của Ủy ban Thường vụ Quốc hội để đóng góp những hiểu biết của mình với công việc chung, tham mưu kịp thời giúp Ủy ban Thường

vụ Quốc hội thông qua các Nghị quyết, ban hành những quyết sách phù hợp tình hình kinh tế xã hội

Đại biểu Quốc hội chuyên trách ở địa phương, với điều kiện toàn bộ thời gian dành

cho Quốc hội, và nhất là vai trò của là Phó trưởng đoàn của đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương Rõ ràng là đại biểu chuyên trách có nhiều thuận lợi hơn trong việc gần gũi với nhân dân địa phương, phản ánh tâm tư, nguyện vọng của cử tri với các cấp chính quyền ở địa phương và trung ương, tổ chức các hoạt động của Đoàn đại

21

Ngô Đức Mạnh: Đại biểu Quốc hội chuyên trách: Một số suy nghĩ về tăng cường năng lực hoạt động, Tạp chí

Nghiên cứu lập pháp, số 11, 2003, tr 13-17, tr 16

Trang 18

Vai trò của đại biểu Quốc Hội – Thực trạng và giải pháp

biểu, nhất là làm nòng cốt trong việc lấy ý kiến của nhân dân và các đại biểu không chuyên trách ở địa phương đóng góp các dự án luật, pháp lệnh.22

Tóm lại, đây là những nội dung công việc mà một đại biểu chuyên trách phải làm và

chuyển tải được những thông điệp mà cử tri gửi gắm để điều hòa, cân bằng các mối quan

hệ, lợi ích của cử tri địa phương và của trung ương Đại biểu Quốc hội chuyên trách ở địa phương ngoài việc thực hiện vai trò của người đại biểu Quốc hội nói chung còn phải hoạt động theo quy chế của Đoàn đại biểu Quốc hội đồng thời phải giữ vai trò nòng cốt trong các hoạt động của Đoàn đại biểu Quốc hội

1.2.4 Vai trò của đại biểu Quốc hội

Đại biểu Quốc hội là những người có những quyền hạn và nhiệm vụ nhất định theo quy định của pháp luật để thực hành quyền lực Nhà nước trong Quốc hội Ở nước ta, vai trò của đại biểu Quốc hội được cụ thể hóa trong các quy phạm pháp luật khi đó, đại biểu Quốc hội là người đại diện cho nhân dân cả nước, thay mặt nhân dân thực hiện quyền lực Nhà nước trong Quốc hội Nên đại biểu Quốc hội sẽ có hai vai trò quan trọng đó là vai trò đối với Quốc hội và đối với cử tri

1.2.4.1 Vai trò đối với Quốc hội

Sự thành công hay không trong một nhiệm kỳ của Quốc hội phụ thuộc rất nhiều vào năng lực cũng như hiệu quả của việc thực hiện vai trò của các vị đại biểu Quốc hội Trong việc thực hiện vai trò của mình tai Quốc hội đòi hỏi các đại biểu phải tích cực tham gia thảo luận và quyết định những vấn đề quan trọng của đất nước, tại các tổ chức khác của Quốc hội mà đại biểu Quốc hội là thành viên họ vẫn cần thể hiện vai trò của mình trong công tác xây dựng chương trình và kế hoạch nhằm phát huy hiệu quả tốt nhất

Khi một kiến nghị về luật hay dự án pháp luật được đưa ra để Quốc hội xem xét, lấ y

ý kiến của đại biểu thì các vị đại biểu phải thật tích cực trong việc thẩm tra tính hợp pháp

và hợp lý của nó, để qua đó có thể giúp Quốc hội có thể đưa ra những quy định phù hợp Đối với những vấn đề cần được làm rõ và giải quyết đại biểu Quốc hội được quyền chất vấn, thông qua hoạt động này vừa thể hiện được vai trò của đại biểu vừa giúp nhân dân nắm bắt những thông tin cần thiết

Ngoài ra, đại biểu Quốc hội phải tham gia các kỳ họp của Quốc hội để đưa những ý chí và nguyện vọng của nhân dân ra trước Quốc hội, để cùng bàn bạc và giải quyết Mặt khác, thông qua tham dự các kỳ họp đại biểu Quốc hội có thể nắm bắt những vấn đề quan trọng, cần thiết sau đó về triển khai lại cho cử tri địa phương

22

Ngô Đức Mạnh: Đại biểu Quốc hội chuyên trách: Một số suy nghĩ về tăng cường năng lực hoạt động, Tạp chí

Nghiên cứu lập pháp, số 11, 2003, tr 13-17, tr 16

Trang 19

1.2.4.2 Vai trò đối với cử tri

Với tư cách là người được nhân dân cả nước bầu ra và đại diện cho ý chí và nguyện vọng của họ, đòi hỏi các vị đại biểu Quốc hội phải tự ý thức được vai trò của mình đối với sự tín nhiệm đó Song song đó, các vị đại biểu Quốc hội phải thực hiện đúng những nhiệm vụ đã được Đảng và Nhà nước đề ra Đại biểu Quốc hội được xem là cầu nối quan trọng giữa Quốc hội với nhân dân, họ đem nhứng ý kiến, tâm tư và nguyện vọng của nhân dân đến với Quốc hội để được xem xét và giải quyết

Để làm được điều đó đại biểu Quốc hội phải thường xuyên báo cáo với cử tri, thu thập những phản ánh từ ý kiến của cử tri đối với Quốc hội và các cơ quan khác của Nhà nước Đây là một việc làm rất quan trọng vì thông qua báo cáo người dân có thể giám sát được việc thực hiện nhiệm vụ của đại biểu Quốc hội Mỗi năm, ít nhất một lần đại biểu phải báo cáo trước cử tri về việc thực hiện nhiệm vụ của mình

Ngoài ra, đại biểu Quốc hội phải gương mẫu trong việc chấp hành Hiến pháp và pháp luật Thường xuyên tuyên truyền phổ biến pháp luật cho nhân dân, tích cực trong công tác bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người dân, góp phần phát huy quyền làm chủ của nhân dân

Tóm lại, đại biểu Quốc hội là cầu nối quan trọng không thể thiếu giữa nhân dân và Quốc hội Đại biểu Quốc là những người được nhân dân cả nước tín nhiệm bầu ra nên họ cần phải cố gắng hoàn thành tốt nhiệm vụ của mình để xứng đáng với sự tin tưởng đó Trong công tác cũng như trong đời sống đại biểu phải luôn là tấm gương tốt cho nhân dân nôi theo, phải biết lắng nghe ý kiến đóng góp của nhân dân để có thể làm tốt vai trò là cầu nối của mình và qua đó cũng góp phần xây dựng niềm tin vững chắc của nhân dân đối với Quốc hội để có thể đưa đất nước ta ngày càng hoàn thiện và phát triển

1.2.5 Khái niệm Đoàn đại biểu Quốc hội

Các đại biểu Quốc hội được bầu trong một tỉnh hoặc thành phố trực thuộc trung ương hợp thành Đoàn đại biểu Quốc hội Đoàn Đại biểu Quốc hội có Trưởng đoàn, Phó Trưởng đoàn, có trụ sở, văn phòng giúp việc và có kinh phí hoạt động theo quy định của

Uỷ ban Thường vụ Quốc hội.23

Đoàn đại biểu Quốc hội có đại biểu hoạt động chuyên trách Đại biểu Quốc hội trong Đoàn có nhiệm vụ thực hiện chương trình công tác và sự phân công của Đoàn, góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động của Đoàn đại biểu Quốc hội

23

Điều 60, Luật tổ chức Quốc hội năm 2001, sửa đổi bổ sung năm 2007

Trang 20

Vai trò của đại biểu Quốc Hội – Thực trạng và giải pháp

Phối hợp với Thường trực Hội đồng nhân dân, Ban Thường trực Ủy ban mặt trận Tổ Quốc ở địa phương tổ chức lấy ý kiến nhân dân về các dự án luật, dự án pháp lệnh và các

dự án khác theo yêu cầu của Ủy ban Thường vụ Quốc hội

Tổ chức để đại biểu Quốc hội thảo luận về dự án luật, dự án pháp lệnh và các dự án khác, dự kiến chương trình kỳ họp Quốc hội

Tổ chức để đại biểu Quốc hội giám sát việc thi hành pháp luật, đấu tranh chống tham nhũng, giám sát văn bản quy phạm pháp luật của địa phương Khảo sát tình hình thực tế ở địa phương, góp ý với địa phương thực hiện các nhiệm vụ kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh Khi cần thiết, kết quả giám sát của Đoàn đại biểu Quốc hội được công bố trên các thông tin đại chúng

Phân công đại biểu Quốc hội trong Đoàn tham gia Đoàn công tác, Đoàn giám sát của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Hội đồng Dân tộc, các Ủy ban của Quốc hội

Tham gia ý kiến về việc giới thiệu đại biểu Quốc hội trong Đoàn ứng cử đại biểu Quốc hội khoá sau, phân công đại biểu Quốc hội trong Đoàn tham gia Đoàn giám sát về việc bầu cử đại biểu Quốc hội khoá sau, bầu cử bổ sung đại biểu Quốc hội ở địa phương

Mỗi năm hai lần, vào giữa năm và cuối năm, báo cáo với Uỷ ban Thường vụ Quốc hội về tình hình hoạt động của Đoàn đại biểu Quốc hội, và đại biểu Quốc hội, đồng thời thông báo với Ủy ban Mặt trận Tổ quốc tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương

Riêng đối với Trưởng Đoàn đại biểu Quốc hội còn có nhiệm vụ tổ chức để các đại biểu Quốc hội trong Đoàn thực hiện các nhiệm vụ của đại biểu Quốc hội và nhiệm vụ của Đoàn đại biểu Quốc hội Thường xuyên giữ mối liên hệ với Chủ Tịch Quốc hội, Uỷ ban Thường vụ Quốc hội và các Đại biểu Quốc hội trong Đoàn, Thường trực Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, Mặt trận Tổ Quốc Việt Nam ở địa phương và Văn phòng Quốc hội

Như vậy, sau khi tìm hiểu khái quát về Quốc hội cũng như đại biểu Quốc hội chúng

ta có thể thấy được nhiệm vụ, quyền hạn và tính chất quan trọng của hai chủ thể này Về phía đại biểu Quốc hội, đây là một chủ thể đặc biệt với tư cách là người đại diện cho nhân dân cả nước Với tính chất quan trọng như vậy, pháp luật đã đảm bảo cho đại biểu

24

Đại biểu nhân dân thành phố Hồ Chí Minh: Chức năng, nhiệm vụ của đại biểu Quốc hội và Đoàn đại biểu Quốc

hội,

http://www.dbnd.hochiminhcity.gov.vn/web/guest/gioithieuchung2;jsessionid=4C8B49ABA9FEB4AFBA0383A E594EB6E7?p_p_id=EXT_ARTICLEVIEW&p_p_lifecycle=0&p_p_col_id=centertop&p_p_col_count=3&_EX T_ARTICLEVIEW_groupId=10217&_EXT_ARTICLEVIEW_articleId=31571&_EXT_ARTICLEVIEW_versio n=1.0&_EXT_ARTICLEVIEW_redirect=%2Fweb%2Fguest%2F55, [truy cập ngày16-1-2013]

Trang 21

những quyền cũng như quy định nhiệm vụ trong hoạt động của đại biểu Vai trò của đại biểu được thể hiện thông qua hoạt động mà đại biểu thực hiện Để tìm hiểu rõ hơn về những quy định của pháp luật về hoạt động của đại biểu Quốc hội, người viết sẽ tìm hiểu

cụ thể qua chương 2 – Cơ sở pháp lý về hoạt động của đại biểu Quốc hội

Trang 22

Vai trò của đại biểu Quốc Hội – Thực trạng và giải pháp

CHƯƠNG 2

CƠ SỞ PHÁP LÝ VỀ HOẠT ĐỘNG CỦA ĐẠI BIỂU QUỐC HỘI

Đại biểu Quốc hội đã và đang ngày càng khẳng định được vai trò của mình đối với Quốc hội và nhân dân cả nước Đại biểu Quốc hội là cầu nối quan trọng giữa Quốc hội với nhân dân cả nước, vai trò của đại biểu Quốc hội được thể hiện thông qua những hoạt động mà đại biểu thực hiện Ở chương này người viết xin đưa ra những quy định của pháp luật về những hoạt động của đại biểu Quốc hội, qua đó tìm hiểu vai trò cũng như tìm ra những yếu tố ảnh hưởng đến vai trò của đại biểu Quốc hội

2.1 VAI TRÒ CỦA ĐẠI BIỂU QUỐC HỘI

Dựa trên những quy định của pháp luật, cụ thể là trong Luật tổ chức Quốc hội quy định về quyền và nghĩa vụ của đại biểu Quốc hội người viết chia vai trò của đại biểu Quốc hội như sau

2.1.1 Trong hoạt động lập pháp

Quốc hội nước ta có vị trí và vai trò rất quan trọng trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Quốc hội đã trải qua một chặng đường dài phát triển, đã khẳng định vai trò, vị trí của mình là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân, cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất Hoạt động của Quốc hội về lập pháp, giám sát tối cao và quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước ngày càng được tăng cường Bước đường trưởng thành của Quốc hội là bằng chứng của việc thực hiện thắng lợi chủ trương của Đảng không ngừng củng cố và hoàn thiện bộ máy nhà nước ta, Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân và vì dân.25

Lập pháp là một trong những lĩnh vực hoạt động cơ bản nhất của Quốc hội, nhằm thể chế hóa đường lối, chính sách của Đảng thành các quy định của Nhà nước để điều chỉnh các quan hệ xã hội trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa - xã hội, an ninh - quốc phòng Trên cơ sở đó, hệ thống pháp luật đã từng bước được hoàn thiện, góp phần quan trọng vào “việc giữ vững” ổn định chính trị, đổi mới kinh tế và mọi mặt cuộc sống.26

Cá nhân mỗi đại biểu Quốc hội có vai trò hết sức quan trọng trong việc xây dựng Luật, Nghị quyết Luật, Nghị quyết có được thông qua hay không tùy thuộc vào sự quyết định và bấm nút của mỗi đại biểu Quốc hội Vai trò cá nhân của mỗi đại biểu Quốc hội

25 Điều 2, Hiến pháp 1992,sửa đổi bổ sung 2001

26

Phan Trung Lý: Tổ chức và hoạt động của Quốc hội theo yêu cầu nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, Nghiên

cứu lập pháp – Văn phòng Quốc hội, http://luathoc.cafeluat.com/showthread.php/10434-To-chuc-va-hoat -dong- Quoc-hoi-theo-yeu-cau-nha-nuoc-phap-quyen-XHCN#ixzz2MV1Wh346, [truy cập ngày 22-2-2013]

Trang 23

thể hiện rõ nhất trong quá trình xem xét, thông qua dự thảo Luật, dự thảo Nghị quyết của Quốc hội Trong quá trình này, các đại biểu Quốc hội tham gia phát biểu ý kiến, tranh luận, bày tỏ quan điểm và biểu quyết tại phiên họp toàn thể của Quốc hội.27

Thông qua hoạt động lập pháp đã thể hiện được nhiệm vụ cũng như vai trò của những vị đại biểu Nối tiếp hoạt động tiếp xúc cử tri để tập hợp những ý kiến đóng góp của người dân và trình bày những ý kiến đó trước Quốc hội Thì hoạt động lập pháp của đại biểu Quốc hội là hoạt động góp phần thể chế hóa những ý kiến đó thành những quy định của pháp luật

Tuy nhiên, theo dõi hoạt động của các đại biểu Quốc hội qua nhiều nhiệm kỳ, có thể thấy rằng hoạt động lập pháp là một trong những hoạt động còn có những hạn chế nhất định Tuỳ khả năng, trình độ, vị trí công tác của mình, mà hiệu quả, chất lượng hoạt động lập pháp của mỗi đại biểu Quốc hội là khác nhau Thông thường, hoạt động này chỉ tập trung ở những đại biểu chuyên trách, đại biểu là những chuyên gia, nhà khoa học, đại biểu đang công tác ở những cơ quan nghiên cứu, viện khoa học liên quan đến hoạt động lập pháp, tư pháp

Mặt khác, các đại biểu thường đối mặt với một nghịch lý, mỗi đại biểu phải “ôm” hàng ngàn trang tài liệu, nhưng vẫn thiếu thông tin chắt lọc, đã qua xử lý Thiếu thông tin dạng này là một nguyên nhân chủ chốt khiến đại biểu Quốc hội nhiều lúc biểu quyết theo cảm tính hoặc biểu quyết theo người khác Thực tế cho thấy trước những vấn đề lớn, nhiều đại biểu Quốc hội rất lúng túng vì thiếu cơ sở thông tin, không nắm được vấn đề Các đại biểu Quốc hội gọi đây là tình trạng “không biết mà phải biểu quyết”, hoặc như có đại biểu cho biết, “bấm nút mà trong lòng vẫn không yên”.28

2.1.2 Trong hoạt động chất vấn

Hoạt động chất vấn tại kỳ họp Quốc hội được cử tri cả nước quan tâm trong nhiều năm gần đây, bởi lẽ hoạt động chất vấn sẽ làm rõ hơn trách nhiệm chính trị của người đứng đầu các cơ quan hành pháp ở trung ương và ở địa phương, góp phần nâng cao chất lượng của cả hệ thống bộ máy Nhà nước Thực tiễn cho thấy, để thực hiện chức năng của người đại biểu dân cử theo luật định, thì hoạt đông của đại biểu dân cử rất sinh động và

đa dạng Một trong những chức năng quan trọng chính là giám sát, mà chất vấn được

27

Phương Hiền: Vai trò của đại biểu trong hoạt động lập pháp của Quốc hội, Đoàn đại biểu Quốc hội và Hội đồng

nhân dân tỉnh Quảng Nam,

http://qh-hdqna.gov vn/Default.aspx?tabid=160&mid=659&ctl=New&News=325 , [truy cập ngày 28-3-2013]

28 Nguyễn Đức Lam: Vai trò của các nguồn lực bổ trợ đại biểu Quốc hội trong hoạt động lập pháp, Nghiên cứu lập

pháp – Văn phòng Quốc hội,

http://luathoc.cafeluat.com/showthread.php/19326-Vai-tro-cua-cac-nguon-luc-ho-tro-dai-bieu-Quoc-hoi-trong- hoat-dong-lap-phap#ixzz2MX9QHMcH, [truy cập ngày 26-2-1013]

Trang 24

Vai trò của đại biểu Quốc Hội – Thực trạng và giải pháp

hiểu là một hình thức của giám sát, là công cụ giám sát có hiệu quả trực tiếp của Quốc hội, do chính đại biểu dân cử thực hiện

Chất vấn là một hình thức giám sát, trong đó đại biểu Quốc hội nêu những vấn đề thuộc trách nhiệm của Chủ tịch nước, Chủ tịch Quốc hội, Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng và các thành viên khác của Chính phủ, Chánh án Toà án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao Người bị chất vấn có trách nhiệm trả lời về những vấn đề mà đại biểu Quốc hội chất vấn.29

Để câu hỏi có chất lượng các đại biểu cần phải biết đặt câu hỏi ngắn và tăng kỹ năng đặt câu hỏi, vì chất vấn không phải là những câu hỏi đáp thông thường, hỏi để biết Do vậy, đại biểu phải chú ý đến nội dung chất vấn, biết chọn lọc vấn đề đích đáng, không chung chung, trừu tượng, không quá đi vào chi tiết, vụn vặt, không đề cập bí mật quốc gia… Muốn vậy, cùng với việc thu thập thông tin thật đầy đủ về vấn đề chất vấn, thì đồng thời việc tìm hiểu đầy đủ về người được chất vấn, sẽ giúp người chất vấn chủ động hơn trong quá trình tiến hành chất vấn, nhằm đạt đến sự rõ ràng, sự công khai, minh bạch

và chính xác của vấn đề được chất vấn.30

Như vậy, những kỹ năng như: thu thập thông tin, chuẩn bị câu hỏi sắc bén, trình bày ngắn gọn, biết quản lý thời gian để không diễn giải, thương thuyết để tiếp tục chất vấn làm rõ vấn đề, biết chú ý lắng nghe, biết lựa chọn sử dụng ngôn từ, sử dụng giọng nói, ngôn ngữ cơ thể một cách thuyết phục sẽ làm nội dung trình bày chất vấn trở nên sinh động và hiệu quả hơn

Chất vấn cũng có nghĩa là cuộc đấu tranh giữa những người có trách nhiệm giám sát với người có trách nhiệm quản lý và tổ chức thực hiện Nếu người chất vấn chưa chỉ ra vấn đề yếu kém, tồn tại và trách nhiệm trong quản lý thì có nghĩa là công tác giám sát chưa đến nơi, đến chốn Nếu người bị chất vấn trả lời chưa đầy đủ hoặc né tránh trả lời thì người đó chưa thấy hết trách nhiệm của mình Nên đại biểu dân cử cần có sự thẳng thắn, có tính xây dựng, có lý lẽ và thực tiễn thuyết phục, không cần thiết tạo áp lực hay

có thái độ gay gắt, căng thẳng, quá lời

Tại các phiên chất vấn đòi hỏi các đại biểu Quốc hội phải chuẩn bị tốt những câu hỏi do mình đặt ra, nội dung câu hỏi phải ngắn gọn, xúc tích tránh tình trạng dài dòng không bám sát nội dung cần làm rõ Còn về phía người trả lời chất vấn cũng đòi hỏi trả lời trực tiếp, đầy đủ nội dung các vấn đề mà đại biểu Quốc hội đã chất vấn và xác định rõ

29

Điều 49, Luật tổ chức Quốc hội năm 2001 sửa đổi bổ sung 2007

30 Hùng Kỳ: Nâng cao hiệu quả chất vấn người đại biểu dân cử, Đoàn đại biểu Quốc hội và Hội đồng nhân dân tỉnh

Gia Lai,

http://dbnd.gialai.gov.vn/kkk/%C4%90oan-%C4%91ai-bieu-Quoc-hoi/Van-hoa-The-Thao-Du-lich/Uy-ban- MTTQ-Viet-Nam-tinh-Gia-Lai-Tap-huan-can-bo.aspx, [truy cập ngày 3-4-2013]

Trang 25

trách nhiệm, biện pháp khắc phục Việc trả lời phải đi vào nội dung chính của câu hỏi, không được trả lời một cách chung chung không làm sáng tỏ được vấn đề Một điều cần đặt ra ở đây là đòi hỏi thái độ giữa người hỏi và người trả lời phải thoải mái tránh tình trạng gay gắt, sung đột giữa hai bên làm không khí chất vấn trở nên căng thẳng, làm ảnh hưởng đến hiệu quả của hoạt động

Thực hiện chất vấn tốt, là thể hiện trình độ và bản lĩnh của người đại biểu Diễn biến

và kết quả của các phiên chất vấn được đông đảo cử tri quan tâm theo dõi, nên các đại biểu lại càng có trách nhiệm nặng nề hơn, ý thức là người đại diện của cử tri phải cao hơn, khi đó đại biểu càng nên thận trọng, chu đáo, chuẩn bị kỹ mỗi khi chất vấn và trả lời chất vấn

Bên cạnh đó, vẫn còn tồn tại nhiều khó khăn trong hoạt động chất vấn như trong các buổi chất vấn tại kỳ họp, không phải nội dung chất vấn nào cũng được đại biểu Quốc hội viết ra, đăng ký gửi đến Chủ tịch Quốc hội trước đó Các buổi chất vấn thường được bố trí lịch vào khoảng 10 ngày cuối của kỳ họp Trong hơn 20 ngày họp trước đó, đại biểu Quốc hội nhận được nhiều thông tin các loại từ phản ảnh của cử tri, từ dư luận báo chí việc nảy sinh thêm những vấn đề mà đại biểu thấy cần chất vấn có nội dung khác với những chất vấn trước đã gửi là điều tất nhiên Trong buổi chất vấn của kỳ họp, đại biểu

đã đăng ký và được mời phát biểu chất vấn, đại biểu lại nêu nội dung chất vấn mới Hiện tượng này xảy ra thường xuyên và người được chất vấn cũng đã cố gắng trả lời các chất vấn mới đó, không phân biệt là chất vấn trước hay sau, có gửi đến Chủ tịch Quốc hội trước hay chưa Điều này phần nào cũng ảnh hưởng đến công tác chuẩn bị trả lời của người được chất vấn.31

Tuy còn nhiều khó khăn, vướng mắc nhưng hoạt động chất vấn và trả lời chất vấn của Quốc hội vừa qua thật sự là điểm sáng trong sinh hoạt chính trị của nước ta Các vấn

đề quan trọng, nhạy cảm đã được các đại biểu Quốc hội chất vấn và trả lời một cách có trách nhiệm, chân thành và xây dựng, đó là minh chứng rõ ràng cho kết quả tích cực về các hoạt động giám sát của đại biểu dân cử, là động lực thúc đẩy cho những họat động nhằm nâng cao hơn nữa hiệu quả, hiệu lực của Quốc hội trong tương lai

2.1.3 Trong hoạt động tiếp công dân

Tiếp công dân là một trong những hoạt động quan trọng của người đại biểu dân cử Công tác tiếp công dân giải quyết khiếu nại, tố cáo, kiến nghị của công dân đóng vai trò quan trọng trong việc gắn kết mối quan hệ giữa nhân dân với Đảng và Nhà nước, nắm bắt

Trang 26

Vai trò của đại biểu Quốc Hội – Thực trạng và giải pháp

được tâm tư nguyện vọng của nhân dân, thấy được năng lực, phẩm chất đạo đức của cán

bộ và hoạt động của các cơ quan nhà nước đối với nhân dân Đây là sự cụ thể hoá quyền tham gia quản lý nhà nước và xã hội, tham gia thảo luận các vấn đề chung của nhà nước

và xã hội của công dân, là sự cụ thể hoá phương châm "dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra" Đồng thời đây cũng là sự thể hiện sinh động bản chất dân chủ, Nhà nước của dân, do dân và vì dân của Nhà nước ta

Mặt khác, việc tiếp công dân là để tiếp nhận các khiếu nại, tố cáo của công dân, điều này là nhằm thực hiện tốt quyền khiếu nại, tố cáo của công dân đã được Hiến pháp ghi nhận, thể hiện mối quan hệ chặt chẽ giữa công tác tiếp công dân và công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo, việc tiếp công dân sẽ giúp cho công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo của các cơ quan, đơn vị được tiến hành một cách hiệu quả.32 Qua đó tuyên truyền giáo dục, nâng cao ý thức pháp luật nói chung, pháp luật khiếu nại, tố cáo của công dân nói riêng đối với quần chúng nhân dân Việc tiếp công dân cũng đặt ra một yêu cầu mang tính bắt buộc đối với cơ quan Nhà nước và cán bộ, công chức Nhà nước là phải luôn luôn tôn trọng nhân dân, tận tụy phục vụ nhân dân, lắng nghe ý kiến của nhân dân

Theo quy định của pháp luật đại biểu Quốc hội có trách nhiệm tiếp công dân Khi nhận được kiến nghị, khiếu nại, tố cáo của công dân, đại biểu Quốc hội có trách nhiệm nghiên cứu, kịp thời chuyển đến người có thẩm quyền giải quyết và thông báo cho người kiến nghị, khiếu nại, tố cáo biết, đôn đốc và theo dõi việc giải quyết Đại biểu Quốc hội

có quyền yêu cầu người có thẩm quyền thông báo cho mình kết quả giải quyết kiến nghị, khiếu nại, tố cáo đó theo quy định của pháp luật về khiếu nại, tố cáo.33

Trong thời hạn do pháp luật quy định, cơ quan, tổ chức, cá nhân có trách nhiệm giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân do đại biểu Quốc hội hoặc Đoàn đại biểu Quốc hội chuyển đến.34 Trong thời hạn do pháp luật quy định, kể từ ngày ra quyết định giải quyết,

cơ quan, tổ chức, cá nhân có trách nhiệm thông báo cho đại biểu biểu Quốc hội hoặc Đoàn đại biểu Quốc hội biết về việc giải quyết Trong trường hợp xét thấy việc giải quyết không thoả đáng, đại biểu Quốc hội có quyền gặp người đứng đầu cơ quan, tổ chức để tìm hiểu, yêu cầu xem xét lại Quy định này nhằm hạn chế trường hợp cơ quan, tổ chức,

cá nhân kéo dài thời gian giải quyết làm mất thời gian, công sức của công dân, nhằm đảm bảo quyền lợi của công dân Mặt khác, tạo điều kiện để đại biểu Quốc hội theo dõi, xem xét việc giải quyết có đúng quy định của pháp luật hay không 35

32 Điều 74, Hiếp pháp năm 1992, sửa đổi bổ sung năm 2001

Trang 27

Nhìn chung, hoạt động tiếp công dân của đại biểu góp phần giúp cơ quan có thẩm quyền phát hiện những hành vi sai trái, hành vi vi phạm pháp luật, nhận được những ý kiến, kiến nghị về xây dựng và phát triển chính quyền địa phương Việc tiếp công dân giúp các đại biểu Quốc hội xây dựng được mối quan hệ tốt đẹp với nhân dân, để có thể giúp đỡ nhân dân khi họ cho rằng quyền và nghĩa vụ của họ bị xâm phạm, từ đó thấu hiểu hơn tâm tư, tình cảm, nguyện vọng chính đáng của nhân dân Tuy nhiên, vấn đề là còn không ít đại biểu xem nhẹ việc này nên không dành nhiều thời gian để tiếp công dân Mặt khác, do phần lớn đại biểu kiêm nhiệm nên ít có thời gian để tiếp công dân Hơn nữa pháp luật chưa có quy định về chế tài đối với cơ quan, tổ chức, cá nhân khi không giải quyết hoặc giải quyết không thấu đáo khiếu nại, tố cáo của công dân còn Điều này cho thấy, cần có những thay đổi, chuyển biến tích cực để hoạt động tiếp công dân ngày càng

đi vào thực tế hơn

Với yêu cầu đặt ra đối với hoạt động tiếp công dân, theo quan điểm của người viết cần xây dựng một đạo luật quy định riêng về vấn đề này Tuy thời gian qua công tác tiếp công dân đã có nhiều cố gắng nhưng vẫn còn hình thức, chưa giải quyết được gì nhiều những vấn đề mà người dân trông đợi, tình trạng chuyển đơn của công dân lòng vòng, công tác tiếp dân, giám sát việc giải quyết đơn thư chưa đến nơi, đến chốn đã gây mất lòng tin đối với nhân dân

2.1.4 Trong hoạt động bỏ phiếu tín nhiệm

Năm 2001, Quốc hội đã thông qua Nghị quyết sửa đổi, bổ sung Hiến pháp năm

1992, trong đó bổ sung nội dung: “bỏ phiếu tín nhiệm đối với những người giữ các chức

vụ do Quốc hội bầu hoặc phê chuẩn” Sau đó được quy định chi tiết trong Luật tổ chức Quốc hội 2001 được sửa đổi, bổ sung năm 2007 và Luật hoạt động giám sát của Quốc hội Trước hết phải khẳng định, bỏ phiếu tín nhiệm là phương thức để Quốc hội thực hiện quyền miễn nhiệm, bãi nhiệm, cách chức người giữ chức vụ do Quốc hội bầu hoặc phê chuẩn khi người đó không còn xứng đáng với trọng trách được giao, đồng thời cũng là quyền của Quốc hội khi xem xét kết quả giám sát được quy định của Luật hoạt động giám sát của Quốc hội.3 6

Bỏ phiếu tín nhiệm là việc Quốc hội, Hội đồng nhân dân thể hiện sự tín nhiệm hoặc

không tín nhiệm đối với người giữ chức vụ do Quốc hội, Hội đồng nhân dân bầu hoặc phê chuẩn để làm cơ sở cho việc miễn nhiệm, bãi nhiệm hoặc phê chuẩn việc miễn

nhiệm, cách chức người không được Quốc hội, Hội đồng nhân dân tín nhiệm Việc Lấy

phiếu tín nhiệm là việc Quốc hội, Hội đồng nhân dân thăm dò mức độ tín nhiệm đối với

36

Vũ Đức Khiển: Quy định về bỏ phiếu tín nhiệm: Từ mong muốn đến hiện thực, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số

10(147), 2009, tr 12-16, tr 12

Trang 28

Vai trò của đại biểu Quốc Hội – Thực trạng và giải pháp

người giữ chức vụ do Quốc hội, Hội đồng nhân dân bầu hoặc phê chuẩn để làm cơ sở cho việc xem xét đánh giá, bố trí, sử dụng cán bộ của cơ quan, tổ chức có thẩm quyền.37

Luật tổ chức Quốc hội đã qui định: “… Ủy ban Thường vụ Quốc hội trình Quốc hội

bỏ phiếu tín nhiệm đối với những người giữ các chức vụ do Quốc hội bầu hoặc phê chuẩn khi có kiến nghị của ít nhất hai mươi phần trăm tổng số đại biểu Quốc hội hoặc kiến nghị của Hội đồng dân tộc, Ủy ban của Quốc hội”.38 Luật quy định đại biểu Quốc hội là một trong các chủ thể có quyền kiến nghị với Ủy ban Thường vụ Quốc hội xem xét trình Quốc hội bỏ phiếu tín nhiệm cho thấy vai trò của đại biểu Quốc hội trong quy định này Khi xét thấy cần bỏ phiếu tín nhiệm với những chức danh do Quốc hội bầu hoặc phê chuẩn thì với hai mươi lăm phần trăm trong tổng số đại biểu Quốc hội sẽ có quyền kiến nghị với Ủy ban Thường vụ Quốc hội

Bỏ phiếu tín nhiệm là một công cụ giám sát tích cực của Quốc hội bên cạnh hoạt động chất vấn Tác dụng của công cụ này cũng nhằm để quy trách nhiệm chính trị đối với người được đưa ra bỏ phiếu Có thể thấy rằng Quốc hội quy định về quyền bỏ phiếu tín nhiệm đối với những người giữ các chức vụ do Quốc hội bầu hoặc phê chuẩn nhằm để thực hiện quyền giám sát tối cao – chức năng quan trọng của Quốc hội Đồng thời, đó cũng là phương cách để Quốc hội thể hiện thái độ đối với các chức danh ấy Bởi lẽ, các chức danh do Quốc hội bầu hoặc phê chuẩn đều là các chức danh quan trọng, giữ vị trí chủ chốt trong bộ máy nhà nước Mặt khác, bỏ phiếu tín nhiệm là một quy định mang tính tích cực và tạo thế năng động cho những người nắm giữ các chức vụ chủ chốt trong các cơ quan nhà nước, buộc họ luôn luôn phải phấn đấu để cơ quan mình thường xuyên hoàn thành tốt nhiệm vụ của Đảng, Nhà nước và nhân dân giao phó Tuy nhiên, hơn mười năm qua, chúng ta chưa thực hiện được quy định này, nên quy định vẫn không phát huy tác dụng, một số người giữ chức vụ bầu hoặc phê chuẩn đã không kịp thời khắc phục được những hạn chế, khuyết điểm, yếu kém trong công việc của mình, hết nhiệm kỳ thì

“hạ cánh an toàn” hoặc còn trong độ tuổi lại có thể tiếp tục một công việc nào đó.39

Mặt dù, luật đã có quy định về vấn đề này nhưng sau hơn mười năm qua Quốc hội vẫn chưa một lần thực hiện hoạt động này Có nhiều nguyên nhân dẫn đến thực trạng này nhưng người viết xin được trình bày ở chương sau để có thể phân tích sâu hơn

37

Điều 2, Nghị quyết số 35/2012/QH13 của Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, về việc lấy phiếu tín nhiệm, bỏ phiếu tín nhiệm đối với những người giữ chức vụ do Quốc hội, Hội đồng nhân dân bầu hoặc phê chuẩn

38 Điều 12, Luật tổ chức Quốc hội năm 2001, sửa đổi bổ sung năm 2007

39

Bùi Ngọc Thanh: Lại bàn về bỏ phiếu tín nhiệm, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số 10(217), 2012, tr 13-17, tr.13

Trang 29

2.1.5 Trong hoạt động tiếp xúc cử tri

Tiếp xúc cử tri là hoạt động được đại biểu Quốc hội và các Đoàn đại biểu Quốc hội tiến hành thường xuyên, đều đặn nhất và đã trở thành một hoạt động không thể thiếu trong đời sống dân cư nước ta

Tiếp xúc cử tri là cầu nối vững chắc giữa đại biểu với cử tri diễn ra dưới nhiều hình thức ở mỗi địa phương Theo thông lệ, một năm đại biểu có thể tiếp xúc ít nhất bốn lần với cử tri (hai lần trước hai kỳ họp và hai lần sau hai kỳ họp) và ít nhất một lần đại biểu Quốc hội phải báo cáo trước cử tri về việc thực hiện nhiệm vụ đại biểu của mình.40 Cử tri

có thể trực tiếp hoặc thông qua Mặt trận Tổ quốc yêu cầu đại biểu báo cáo công tác và có thể nhận xét đối với việc thực hiện nhiệm vụ của đại biểu Quốc hội Ngoài ra theo yêu cầu công việc, đại biểu có thể có các cuộc tiếp xúc khác theo chuyên đề, theo đối tượng cần tiếp xúc.41 Qua tiếp xúc nhiều lần, đại biểu và cử tri ngày càng gắn bó chặt chẽ hơn các yêu cầu cần tìm hiểu của đại biểu sát thực với cuộc sống của cử tri hơn, các cử tri cũng cung cấp được nhiều thông tin bổ ích, phù hợp với yêu cầu của đại biểu hơn

Tại Hội nghị tiếp xúc cử tri, công việc cơ bản của đại biểu Quốc hội bao gồm: Báo cáo trước cử tri các nội dung: Chương trình, nội dung kỳ họp Quốc hội (đối với các hội nghị tiếp xúc cử tri trước kỳ họp) hoặc kết quả kỳ họp Quốc hội (đối với các hội nghị tiếp xúc cử tri sau kỳ họp Quốc hội) Tình hình thực hiện nhiệm vụ, chương trình hành động của đại biểu, kết quả giải quyết các kiến nghị của cử tri Nghe cử tri phát biểu, bày tỏ tâm

tư, nguyện vọng và các đề nghị, kiến nghị mà cử tri muốn thông qua đại biểu, chuyển đến cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền Giải trình, trao đổi, tiếp thu ý kiến, kiến nghị của cử tri Từ những nội dung cụ thể nêu trên, có thể khái quát công việc của đại biểu Quốc hội

tại Hội nghị tiếp xúc cử tri gồm: “Nói cho cử tri nghe”,“Nghe cử tri nói” và “Giải trình,

tiếp thu ý kiến cử tri” Việc đại biểu Quốc hội nói gì trước cử tri là biểu hiện của kỹ năng

lựa chọn và chuẩn bị nội dung Việc này thường được thực hiện trước khi tổ chức Hội nghị, song cũng có không ít trường hợp do diễn biến của buổi tiếp xúc, mà đại biểu phải quyết định ngay tại Hội nghị Tuy nhiên, cho dù trong trường hợp nào thì điều mà đại

biểu Quốc hội nói trước cử tri đều phải là những điều cử tri muốn nghe, là điều bản thân đại biểu Quốc hội nắm chắc và phải là những thông tin chính thức Tại mỗi cuộc tiếp xúc

cư tri, cho dù là trước hay sau kỳ họp, mỗi đại biểu Quốc hội đều có rất nhiều thông tin có thể trình bày trước cử tri, nhưng thời lượng của buổi tiếp xúc lại không cho phép đại biểu trình bày tất cả những thông tin đó Hơn nữa, trong những vấn đề mà đại biểu Quốc hội có thể báo cáo, không phải nội dung nào cử tri cũng quan tâm Trong thực tế, có những vấn đề

Trang 30

Vai trò của đại biểu Quốc Hội – Thực trạng và giải pháp

có thể nói với nhiều đối tượng, cũng có vấn đề chỉ nên nói với nhóm cử tri này, không nên nói với nhóm cử tri khác Nếu việc lựa chọn nội dung không phù hợp, thì cử tri nghe vấn đề

Hình thức thứ nhất: Tiếp xúc trong phạm vi nơi ứng cử

Một số Đoàn đại biểu Quốc hội thường xuyên tổ chức các cuộc tiếp xúc theo phạm

vi nơi ứng cử của từng đại biểu, nghĩa là đại biểu nào ứng cử ở đơn vị bầu cử nào, huyện, thị nào thì suốt cả khóa chỉ tiếp xúc với cử tri của các huyện, thị thuộc đơn vị bầu cử đó

Ưu điểm cơ bản của cách tổ chức này là, do phạm vi hẹp nên đại biểu có điều kiện đi sâu tìm hiểu, nắm tương đối kỹ tình hình mọi mặt của đơn vị mình ứng cử, quan hệ giữa đại biểu và cử tri có phần mật thiết hơn vì tần suất xuất hiện các cuộc tiếp xúc tương đối dày đặc Tuy nhiên, lại có nhược điểm cơ bản là, hoạt động cả khóa mà đại biểu không nắm được tình hình nhiều mặt của cả tỉnh, thành phố, địa phương mình làm đại biểu (mặc dù

có địa phương đã bổ khuyết bằng cách báo cáo tình hình chung của toàn tỉnh, thành phố cho cả Đoàn cùng nghe, nhưng đây là ý kiến của lãnh đạo tỉnh, thành phố chứ không phải

là ý kiến của cử tri) Có đại biểu đã hết khóa rồi mà chưa hề biết mấy huyện ngoại thành khác các quận nội thành thế nào, lại có đại biểu trăn trở vì năm năm trời mà mình chưa có dịp được tiếp cận với các huyện trung du, miền núi cách xa cả ngày đường

Do không nắm được tình hình chung của cả tỉnh, thành phố nên tư duy, suy nghĩ phát hiện vấn đề, đề xuất, đóng góp của đại biểu bị hạn chế nhiều Hơn nữa, việc đại biểu

Quốc hội chỉ hoạt động ở đơn vị mình ứng cử cũng không phù hợp với quy định là “Đại

biểu Quốc hội là người đại diện cho ý chí và nguyện vọng của nhân dân, không chỉ đại

42

Nguyễn Đăng Tiến: Một vài kinh nghiệm trong công tác tiếp xúc cử tri của đại biểu dân cử, Trung tâm bồi dưỡng

đại biểu dân cử, http://ttbd.gov vn/Home/Default.aspx?portalid=52&tabid=108&catid=514&distid=2760, [truy cập ngày 26-4-2013]

43

Bùi Ngoc Thanh: Những điều cần lưu ý trong hoạt động tiếp xúc cử tri của đại biểu Quốc hội, Nghiên cứu lập

pháp – Văn phòng Quốc hội,

http://luathoc.cafeluat.com/showthread.php/32760-Nhung-dieu-can-luu-y-trong-hoat-dong-tiep-xuc-cu-tri-cua- dai-bieu-Quoc-hoi -#ixzz2MRaen6g5, [truy cập ngày 19-2-2013]

44 Điều 97, Hiến pháp 1992, sửa đổi bổ sung năm 2001

Trang 31

Hình thức thứ hai: Tiếp xúc ở tất cả đơn vị bầu cử

Dạng này được phần lớn các Đoàn đại biểu Quốc hội tổ chức tiếp xúc cử tri, đó là

dù đại biểu được bầu ra ở đơn vị bầu cử nào thì cũng sẽ lần lượt được tiếp xúc cử tri ở tất

cả các đơn vị bầu cử (tất cả các đơn vị hành chính cấp huyện của cả tỉnh, thành phố) Về thời gian, những tỉnh chỉ có hai đến ba đơn vị bầu cử (trên dưới 10 đơn vị hành chính cấp huyện) thì chỉ sau ba đến bốn kỳ họp là các đại biểu đã tiếp xúc được cử tri ở hầu hết các huyện, thị (mỗi huyện, thị tiếp xúc ít nhất là một điểm) Ở những địa phương có nhiều đơn vị hành chính cấp huyện như tỉnh Thanh Hóa (27 huyện, thị xã, thành phố, với sáu đơn vị bầu cử) thì sau sáu kỳ họp là các đại biểu đã tiếp xúc cử tri được ở cả sáu đơn vị bầu cử, đã đi được khắp các huyện, thị xã, thành phố trong cả tỉnh Ưu điểm cơ bản của hình thức tổ chức này là khắc phục được những khiếm khuyết cơ bản của hình thức tổ chức thứ nhất Cử tri có điều kiện biết được tất cả các đại biểu Quốc hội trong Đoàn đại biểu Quốc hội của tỉnh, chứ không chỉ biết những đại biểu thuộc đơn vị bầu cử của mình Đại biểu Quốc hội có điều kiện nắm bắt được tình hình các mặt của cả tỉnh, thành phố, có điều kiện so sánh đời sống kinh tế - xã hội các mặt giữa vùng này với vùng khác (vùng biển, vùng đồng bằng với các vùng trung du, miền núi, vùng núi thấp với vùng núi cao, thành thị với nông thôn) Do có được tình hình đa dạng, phong phú, toàn diện nên các đại biểu có điều kiện suy nghĩ, chắt lọc, phát hiện, khái quát, tổng hợp, đề xuất, kiến nghị được nhiều vấn đề mới mẻ, xác đáng tại kỳ họp Quốc hội

Để thực hiện nghiêm túc, có hiệu quả điều luật này thì tất cả các Đoàn đại biểu Quốc hội nên tổ chức theo hình thức thứ hai để các đại biểu trong Đoàn được tiếp xúc cử tri lần lượt ở tất cả các đơn vị bầu cử của tỉnh, thành phố, nơi đại biểu làm nhiệm vụ của đại biểu.45

Tiếp xúc cử tri là phương thức chủ yếu để nhân dân thực hiện quyền làm chủ của mình, thông qua người đại diện cho mình cử tri gián tiếp tham gia vào quá trình quản lý nhà nước, quản lý xã hội Qua tiếp xúc cử tri, nhiều vấn đề đề bức xúc tại địa phương được trao đổi giữa đại biểu và cử tri Trên cở sở đó tạo đồng thuận trong quá trình thực hiện, đồng thời các ý kiến, kiến nghị của cử tri sẽ được đại biểu Quốc hội giải đáp kịp thời hoặc chuyển đến các cấp chính quyền, các tổ chức đoàn thể xem xét, giải quyết bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của công dân Về phía đại biểu Quốc hội, thì tiếp xúc cử tri là việc đại biểu Quốc hội thể hiện vai trò đại diện của mình thông qua gặp gỡ cử tri để

45 Bùi Ngoc Thanh: Những điều cần lưu ý trong hoạt động tiếp xúc cử tri của đại biểu Quốc hội, Nghiên cứu lập

pháp – Văn phòng Quốc hội,

http://luathoc.cafeluat.com/showthread.php/32760-Nhung-dieu-can-luu-y-trong-hoat-dong-tiep-xuc-cu-tri-cua- dai-bieu-Quoc-hoi -#ixzz2MRaen6g5, [truy cập ngày 19-2-2013]

Ngày đăng: 05/04/2018, 22:43

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w