1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

LUẬN văn LUẬT HÀNH CHÍNH THỰC TRẠNG xâm PHẠM QUYỀN tác GIẢ đối với tác PHẨM âm NHẠC

72 304 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 72
Dung lượng 653,87 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Với tầm quan trọng như vậy nên nước ta đã xây dựng một hệ thống pháp luật về sở hữutrí tuệ nhằm để bảo hộ, bảo vệ chống lại những hành vi xâm phạm đến quyền sở hữu trí tuệ đặc biệt là qu

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ

THỰC TRẠNG XÂM PHẠM QUYỀN TÁC GIẢ

ĐỐI VỚI TÁC PHẨM ÂM NHẠC

Giảng viên hướng dẫn:

Ths Nguyễn Phan Khôi

Bộ môn: Luật Tư pháp

Sinh viên thực hiện:

Danh Thị Nguyệt Thảo MSSV: 50956

Lớp: Luật Hành chính – K35

Cần Thơ, tháng 4/2013

Trang 2

NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

Trang 3

NHẬN XÉT CỦA HỘI ĐỒNG PHẢN BIỆN

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

Trang 4

MỤC LỤC

LỜI NÓI ĐẦU Error! Bookmark not defined.

1 Lý do chọn đề tài Error! Bookmark not defined.

2 Giới hạn nghiên cứu Error! Bookmark not defined.

3 Phương pháp nghiên cứu Error! Bookmark not defined.

4 Kết cấu đề tài Error! Bookmark not defined.

CHƯƠNG 1.KHÁI QUÁT CHUNG VỀ TÁC PHẨM ÂM NHẠC

VÀ QUYỀN TÁC GIẢ ĐỐI VỚI TÁC PHẨM ÂM NHẠCError! Bookmark not defined

1.1 Khái quát chung về tác phẩm âm nhạc Error! Bookmark not defined.

1.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển âm nhạcError! Bookmark not defined.

1.1.2 Khái niệm tác phẩm âm nhạc Error! Bookmark not defined.

1.1.3 Đặc trưng của tác phẩm âm nhạc Error! Bookmark not defined.

1.1.4 Phân loại tác phẩm âm nhạc Error! Bookmark not defined.

1.2 Quyền tác giả đối với tác phẩm âm nhạc trong pháp luật quốc tếError! Bookmark

1.2.1 Một số điều ước quốc tế điều chỉnh về tác giả đối với tác phẩm

âm nhạc Error! Bookmark not defined.

1.2.2 Luật của một số quốc gia điều chỉnh về quyền tác giả đối với tác

phẩm âm nhạc Error! Bookmark not defined.

1.3 Quyền tác giả đối với tác phẩm âm nhạc theo pháp luật Việt NamError! Bookmar 1.3.1 Trước khi có luật sở hữu trí tuệ năm 2005Error! Bookmark not defined.

1.3.2 Từ khi có luật sở hữu trí tuệ năm 2005 đến nayError! Bookmark not defined CHƯƠNG 2 CÁC HÀNH VI XÂM PHẠM QUYỀN TÁC GIẢ

ĐỐI VỚI TÁC PHẨM ÂM NHẠC Error! Bookmark not defined.

2.1 Chủ thể quyền tác giả đối với tác phẩm âm nhạcError! Bookmark not defined 2.1.1 Tác giả Error! Bookmark not defined.

Trang 5

2.1.2 Chủ sở hữu quyền tác giả Error! Bookmark not defined.

2.2 Nội dung quyền tác giả đối với tác phẩm âm nhạcError! Bookmark not defined 2.2.1 Quyền của tác giả sáng tạo Error! Bookmark not defined.

2.2.2 Quyền của chủ sở hữu Error! Bookmark not defined.

2.2.2.1 Chủ sở hữu quyền tác giả là đồng tác giảError! Bookmark not defined.

2.2.2.2 Chủ sở hữu quyền tác giả là tổ chức, cá nhân giao nhiệm vụ

cho tác giả Error! Bookmark not defined.

2.2.2.3 Chủ sở hữu quyền tác giả là người thừa kếError! Bookmark not defined 2.2.2.4 Chủ sở hữu quyền tác giả là người được chuyển nhượng quyềnError! Bookma 2.3 Các hành vi xâm phạm quyền tác giả đối với tác phẩm âm nhạcError! Bookmark

2.3.1 Một số hành vi xâm phạm đến quyền nhân thân của quyền tác giả

đối với tác phẩm âm nhạc Error! Bookmark not defined.

2.3.2 Một số hành vi xâm phạm đến quyền tài sản của tác giả và chủ sở

hữu quyền tác giả Error! Bookmark not defined.

2.4 Các chế tài xử lí hành vi vi phạm quyền tác giả đối với tác phẩm

âm nhạc Error! Bookmark not defined.

2.4.1 Biện pháp dân sự Error! Bookmark not defined.

2.4.2 Biện pháp hành chính Error! Bookmark not defined.

2.4.3 Biện pháp hình sự Error! Bookmark not defined.

CHƯƠNG 3 THỰC TRẠNG XÂM PHẠM QUYỀN TÁC GIẢ ĐỐI

VỚI TÁC PHẨM ÂM NHẠC Error! Bookmark not defined.

3.1 Một số thực trạng xâm phạm quyền tác giả đối với tác phẩm

âm nhạc Error! Bookmark not defined.

3.1.1 Một số tình hình chung hiện nay Error! Bookmark not defined.

3.1.2 Thực trạng xâm phạm quyền tác giả đối với tác phẩm âm nhạc

hiện nay Error! Bookmark not defined.

3.2 Một số hạn chế, thiếu sót hiện nay Error! Bookmark not defined.

Trang 6

3.3 Một số nguyên nhân dẫn đến hành vi vi phạm quyền tác giả đối với

tác phẩm âm nhạc Error! Bookmark not defined.

3.3.1 Do ý thức của con người Error! Bookmark not defined.

3.3.2 Do sự phát triển mạnh mẽ khoa học- kỹ thuậtError! Bookmark not defined.

3.4 Một số giải pháp và ý kiến đề xuất hoàn thiện pháp luật về quyền

tác giả đối với tác phẩm âm nhạc Error! Bookmark not defined.

3.4.1 Một số giải pháp Error! Bookmark not defined.

3.4.2 Một số đề xuất để hoàn thiện luật về quyền tác giả đối với

tác phẩm âm nhạc Error! Bookmark not defined.

KẾT LUẬN Error! Bookmark not defined.

Danh Mục Tài Liệu Tham Khảo

Trang 7

LỜI NÓI ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Khi Việt Nam hội nhập kinh tế quốc tế, với cơ hội đã là thành viên chínhthức của nền kinh tế toàn cầu (WTO) đem lại cho nước ta những thuận lợi bêncạnh đó cũng đặt ra một thách thức và những khó khăn mà chúng ta cần phải nổlực hơn nữa trong việc xây dựng và phát triển kinh tế đất nước Sở hữu trí tuệđóng một vai trò rất quan trọng bởi vì nó cũng là một công cụ hỗ trợ phát triểnkinh tế, góp phần làm nên sự thịnh vượng của đất nước

Trong vấn đề sở hữu trí tuệ trong đó còn có quyền tác giả, hiện nayquyền tác giả có một vai trò quan trọng đặc biệt trong đời sống xã hội Với tầm quan trọng như vậy nên nước ta đã xây dựng một hệ thống pháp luật về sở hữutrí tuệ nhằm để bảo hộ, bảo vệ chống lại những hành vi xâm phạm đến quyền

sở hữu trí tuệ đặc biệt là quyền tác giả, nhưng hiện nay vấn đề xâm phạm quyềntác giả và quyền liên quan rất phổ biến và ngày càng tăng, nên yêu cầu cấp thiếtbây giờ là phải có văn bản điều chỉnh đến vấn đề này nhằm ngăn chặn, xử phạtnghiêm hơn những hành vi xâm phạm đồng thời bảo hộ cho quyền tác giả.Ngày nay với sự bùng nổ thông tin và các phương tiện giải trí trên mạng xã hội Internet càng tăng, trong đó có âm nhạc và các tác phẩm trong lĩnh vực âmnhạc Cùng với sự phát triển mạnh đó kéo theo hành động xâm phạm đến quyềntác giả đối các tác phẩm âm nhạc làm ảnh hưởng quyền lợi của tác giả, hành vinày không còn là vấn đề riêng của các tác giả bị xâm phạm nữa mà đây là vấn

đề chung của toàn xã hội, do đó bảo hộ quyền tác giả đối với tác phẩm âm nhạcluôn là vấn đề bức xúc và cần phải quan tâm Tại Việt Nam quyền tác giả đốivới các tác phẩm âm nhạc ít được quan tâm đến vì có nhiều ý kiến cho rằng âmnhạc chỉ là một hình nghệ thuật dùng để giải trí, nên quyền này không được quan tâm và pháp luật điều chỉnh đến quyền này cũng chưa có, vì lẽ đó quyềntác giả đối với tác phẩm âm nhạc thường bị xâm phạm đến quyền tác giả tronglĩnh vực âm nhạc không những ảnh hưởng đến quyền lợi của tác giả đã tạo ratác phẩm mà con làm ảnh hưởng đến trật tự xã hội, với những lí do đó nênngười viết lựa chọn đề tài “ Thực trạng xâm phạm quyền tác giả đối với tácphẩm âm nhạc” với mục đích tìm ra một số hướng giải pháp nhằm hạn chế

Trang 8

những sai phạm đồng thời yêu cầu xây dựng pháp luật bảo vệ quyền tác giả đốivới tác phẩm âm nhạc hoàn thiện hơn.

2 Giới hạn nghiên cứu

Trong đề tài luận văn mà người viết nghiên cứu làm đề tài tốt nghiệp, chỉnghiên cứu một phần trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ đó là: quyền tác giả đối vớitác phẩm âm nhạc Trong đề tài này, người viết sẽ phân tích một số phần liênquan đến chủ thể quyền tác giả, nội dung, các quyền nhân thân và quyền tài sảncủa tác giả đối với tác phẩm âm nhạc, song song đó người viết cũng đề cập đến một số thực trạng xâm phạm đến quyền tác giả đối với tác phẩm âm nhạc, đồngthời tìm phương pháp khắc phục những hạn chế của luật để từng bước hoànthiện luật về quyền tác giả đối với tác phẩm âm nhạc, thực hiện tốt việc này gópphần thúc đẩy nền kinh tế, văn hóa và xã hội nước ta có một vị thế trên thịtrường âm nhạc quốc tế

3 Ph ƣơng pháp nghiên cứu

Phương pháp được người viết sử dụng để nghiên cứu đề tài này gồmnhững phương pháp sau: phương pháp nghiên cứu lý luận trên tài liệu và phân tích luật viết, dưa theo qui định của luật Việt Nam, điều ước quốc tế và luật củamột số quốc gia khác người viết dùng phương pháp so sánh Qua nhữngphương pháp trên người viết phân tích các tài liệu và kết hợp với thực tiễn vàsau đó đưa ra kết luận cho đề tài

4 Kết cấu đề tài

Đề tài người viết nghiên cứu gồm có 3 chương như sau:

Chương 1 Khái quát chung về tác phẩm âm nhạc và quyền tác giả

đối với tác phẩm âm nhạc

Chương 2 Các hành vi xâm phạm quyền tác giả đối với tác phẩm

âm nhạc

Chương 3 Thực trạng xâm phạm quyền tác giả đối với tác phẩm

âm nhạc

Trang 9

CH ƢƠNG 1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ TÁC PHẨM ÂM NHẠC VÀ QUYỀN TÁC GIẢ ĐỐI VỚI TÁC PHẨM ÂM NHẠC

Khi vấn đề hội nhập kinh tế thế giới đặt ra những vấn đề thách thức đối với các nước thành viên trong đó có Việt Nam chúng ta, để đáp ứng được yêu cầu này nước ta cần phải đặt ra những chính sách mới cũng như ban hành các văn bản mới Khái quát chung về tác phẩm âm nhạc Nhưng những năm gần đây với sự phát triển mạnh mẽ của đời sống- xã hội cũng như khoa học công nghệ Các tác phẩm văn học và nghệ thuật không chỉ làm cho đời sống tinh thần của con người trở nên có giá trị mà nó còn đóng một vai trò rất quan trọng trong việc nâng cao cuộc sống làm cho cuộc sống của mỗi người thêm phong phú Vậy cùng với sự phát triển đó âm nhạc cũng có một vị trí quan trọng đối với đời sống hiện đại, với sự đóng góp của âm nhạc như thế nên trong chương 1 người viết chủ yếu tìm hiểu một cách khái quát về quyền tác giả đối với tác phẩm âm nhạc.

1.1 Khái quát chung về tác phẩm âm nhạc

1.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển âm nhạc

Âm nhạc là một loại hình thức văn nghệ có từ lâu đời, âm nhạc có từ khiloài người có mặt trên trái đất nhưng sau đó cùng với sự phát triển của trình độloài người âm nhạc cũng dần dần hình và phát triển Chúng ta nghe nhạc mỗingày, say mê với âm nhạc Nhưng có lẽ không ai cũng biết lịch sử ra đời vàphát triển của âm nhạc

Vào thời kì Hy Lạp- La Mã, âm nhạc đã đạt được những thành tựu quantrọng Trong thời kì này có một người đàn ông đã phát triển âm nhạc và pháthiện ra một loại hình thức mới đó là kỷ thuật ghi lại nhạc bằng nốt, trong thờiđại La Mã, các chiến binh trước khi ra trận thường được nghe các khúc nhạcmạnh mẽ mang tích chất cổ vũ, khích lệ để họ lấy được tinh thần chiến đấu dũng cảm, giai đoạn cuối của các cuộc giao tranh giữa Hán và Sở, TrươngLương là một nhà chính trị, tư tưởng kiệt xuất thời đó cũng đã dùng tiêu đểthổi một khúc nhạc dưới ánh trăng bạc, khiến hàng vạn quân Sở do Hạng Vũ

Trang 10

chỉ huy bỏ trốn và đầu hàng Hàn Tín làm quân của hai bên không bị đổ máuquá nhiều Sau đó, thời kì phong kiến âm nhạc bị chèn ép và suy thoái một thờigian.1

Mãi đến thời kì phục hưng vào khoảng thế kỉ XIV- XVI nền âm nhạcmới được khôi phục lại, trong thời kì này xuất hiện một số thể loại nhạc mớinhư là nhạc opera, nhạc kịch Trong thời bấy giờ xây dựng được nhiều pháinhạc kịch, đầu tiên là ở Ý, sau đó ở Pháp Vào thế kỉ XIX, đây là thời kì thoáitrào của cách mạng Tư sản pháp, vì vậy nhạc thời điểm lúc bấy giờ là phản ánhnỗi bế tắc của người bị áp bức, bóc lột Âm nhạc vào thời kì này được dùng như

là một loại vũ khí để đấu tranh giành lại quyền tự do, nên lúc này có thể thấy

âm nhạc được chú trọng quan tâm phát triển rất cao, giai đoạn này xuất hiện

một số các nhà viết nhạc nổi tiếng Ví dụ như ông Haydn là người viết rất nhiều

bản nhạc giao hưởng, ông Mozart.

Đến thế kỉ XX, ngành âm nhạc phát triển rất mạnh vào thời kì này âm nhạc được đưa vào giảng dạy trong các trường phổ thông và ở một số nướcChâu Âu ngành âm nhạc được coi trọng rất cao, ở những nước này họ đã thànhlập một số trường đại học chuyên giảng dạy và nghiên cứu về âm nhạc Từ năm

1900 và trong suốt thế kỉ XX chiến tranh thế giới thứ hai đã nổ ra, xuất hiệncuộc cách mạng khoa học kỹ thuật Âm nhạc cũng kéo theo, nhằm để phản ánh cuộc sống của mọi người và phản đối cuộc chiến tranh phi nghĩa Như vậy âmnhạc lúc nào cũng là một thứ loại vũ khí dùng để biểu hiện một cách phóng đạicực đoan tâm trạng, cảm xúc của con người Năm 1945 đến nay nền âm nhạc đã được những kết quả phải chú ý, tại một số nước châu Âu đã xuất hiện một sốnhà soạn nhạc sang chế ra một loại hệ thống sáng tác mới là âm nhạc cụ thể và

âm nhạc điện tử, hai loại âm nhạc này được giải thích như sau:

- Âm nhạc là một loại nhạc được lắp ráp và pha trộn những âm thanh ghitrên băng nhựa với nhau

- Âm nhạc điện tử là một loại được tạo ra từ những âm thanh theo lốihiện đại hơn đó là nhờ máy móc

1 phát triền của âm nhạc- có thể bạn chưa biết,

http://www.amnhacbinhminh.com/bvct/chi-tiet/125/lich-su-phat-trien-cua-am-nhac-co-the-ban-chua-biet.html, [truy cập vào ngày 16/4/2013].

Trang 11

Ở Việt Nam do các yếu tố lịch sử hình thành nên một nền âm nhạc mang

cả yếu tố bản địa và chịu ảnh hưởng của cả các nền âm nhạc bên ngoài Nền âmnhạc của nước ta phát triển cũng rất sớm, bắt đầu vào thời kì vua Hùng đã xuấthiện âm nhạc nhưng âm nhạc thời kì này chủ yếu chịu ảnh hưởng nền âm nhạccủa Trung Quốc và Ấn Độ Do nước ta chịu sự lệ thuộc một ngàn năm Bắc thuộc, nền văn hóa trong đó có âm nhạc cũng bị chi phối theo Vào thời này nền

âm nhạc Việt Nam phát triển mạnh hơn thời kì dựng nước, do chịu ảnh hưởngquá lâu của Trung Quốc tạo cho nền âm nhạc Việt Nam nhiều mang sắc thái.Với đặc điểm có trước sự xuất hiện của chữ viết, từ lâu âm nhạc luôn là phươngtiện để người dân thể hiện mọi cảm xúc của mình về thế giới xung quanh, dù làtình yêu đôi lứa, lòng căm thù hay sự buồn giận, chán nản Âm nhạc ở ViệtNam còn sớm thể hiện những tư tưởng tôn giáo, đời sống tâm linh và phong tụctập quán của dân tộc Hiện nay âm nhạc Việt Nam còn chịu sự ảnh hưởng củaChâu Âu và một số nước Châu Á như Hàn Quốc hoặc Nhật Bản do giao lưuvăn hóa giữa Việt Nam với các nước ngày càng phát triển

1.1.2 Khái niệm tác phẩm âm nhạc

Tác phẩm âm nhạc là một loại tác phẩm được tác giả sáng tạo nên từhoạt động lao động trí óc, tuy nhiên tác phẩm âm nhạc có một điểm đặc trưngriêng khác với các tác phẩm khác đều ra đời do thành quả lao động trí óc củatác giả Trước hết hãy thử tách riêng hai từ “ âm” và “ nhạc”, có thể thấy rằng

“âm” là âm thanh có sẵn trong thiên nhiên, còn “ nhạc” là loại âm mang tínhnhạc bởi có tần số rung mà vật lí đã xác định Tần số rung càng nhanh thì mức

độ âm thanh mang tính nhạc càng cao, tần số rung của âm càng chậm thì mức

độ âm thanh mang tính nhạc càng trầm Điều đó dẫn tới sự khác biệt giữa âmthanh mang tính nhạc và tiếng động 2

Nếu đứng dưới góc độ của luật thì tác phẩm âm nhạc do nhiều yếu tốhình thành, chịu sự điều chỉnh của luật khác nhau Vậy tác phẩm âm nhạc làmột tác phẩm lớn chứa đựng nhiều đoạn nhạc ghép với nhau, bằng những thủpháp nối tiếp, dạo đầu, khai triển, biến hóa, lặp lại để có được các cấu trúc 3

2 ThS Hoàng Điệp, Những khái niệm sơ lược về nguồn gốc của âm nhạc,

http://www.giaidieuxanh.vn/news/4484/ nhung- khai- niem- so- luoc- ve- nguon- goc- cua- am- nhac, html, [ truy cập 16/4/2013].

3 Từ điển bách khoa Việt Nam, Nxb Hà Nội, năm 2003, trang 226.

Trang 12

Như vậy theo từ điển Việt Nam tác phẩm âm nhạc được tạo nên từ các đoạnnhạc nhỏ ghép lại với nhau bằng những thủ pháp riêng đặc trưng của ngànhnày, tác phẩm âm nhạc là một loại tác phẩm rất phong phú về thể loại và cảhình thức Cũng như loại hình nghệ thuật khác như hội họa sử dụng đường nét,hình khối, màu sắc còn văn thơ thì sử dụng sức mạnh của ngôn từ, âm nhạc thì

sử dụng âm thanh và giai điệu Vậy âm nhạc là toàn bộ các dấu hiệu cả chữ viếthoặc một số ký tự được dùng để ghi lại âm thanh với các đặc tính riêng của loạihình nghệ thuật này, âm thanh thì được ghi lại bằng các ký tự trong âm nhạc

Đồng thời tác phẩm âm nhạc còn được thể hiện bằng nhiều hình thức

khác như phần khái niệm sau : “tác phẩm âm nhạc là tác phẩm được thể hiện

dưới dạng nhạc nốt trong bản nhạc hoặc các ký tự âm nhạc khác có hoặc không có lời, không phụ thuộc vào việc trình diễn hay không trình diễn” 4 Nhưvậy trong một tác phẩm âm nhạc muốn nó trở thành bản nhạc và phát ra âmthanh mà tất cả mọi người thưởng thức, các nhà soạn nhạc họ phải ghép các nốtnhạc thành một bản nhạc mà họ mong muốn, nhưng không phải tác phẩm âmnhạc nào cũng bắt buộc phải được thể hiện dưới dạng các nốt nhạc mới là tácphẩm âm nhạc, miễn là tác phẩm âm nhạc thể hiện được đủ ba yếu tố của âmnhạc như là giai điệu, nhịp điệu và hòa âm Một khúc nhạc được thể hiện bằngmột loại nhạc cụ như gitar hoặc piano đều được coi là một tác phẩm âm nhạc.Như vậy, theo khái niệm này tác phẩm âm nhạc được thể hiện thành nhạc hoặcchỉ còn là một nốt nhạc, ký tự trong âm nhạc đều được công nhận là tác phẩm

âm nhạc Tuy nhiên có một số điều bắt buộc dù được thể hiện thành âm nhạc,

dù chỉ có là một ký tự nhưng nó phải có giai điệu và nhịp điệu để dễ dàng pháttriển thành bản nhạc Nhưng đối với tác phẩm âm nhạc dân gian không phải tạonên từ nốt nhạc như nhạc hiện đại vì loại hình âm nhạc này nó mang đặc trưng

là tác phẩm khẩu truyền nên tác phẩm âm nhạc dân gian không phải do một tácgiả nào sáng tạo, tuy nhiên loại nhạc dân gian cũng được tạo nên từ các âmthanh, cũng có giai điệu để người trình diễn dễ trình bày nên loại tác phẩm nàycũng được coi như là một loại tác phẩm âm nhạc

4 Điều 12 nghị định 100/2006/NĐ-CP.

Trang 13

Tóm lại, tại điều 12 nghị định 100 năm 2006 (NĐ 100/2006/NĐ-CP) lànghị định đầu tiên nêu lên khái niệm về tác phẩm âm nhạc được thể hiện dưới bất kỳ hình thức nào có thể là một ký tự trong một bản nhạc hoặc chỉ là một ký

tự thể hiện trên giấy, có thể chỉ một câu hát trong dân gian mà nó thể hiện đầy

đủ các yếu tố đặc trưng của âm nhạc như âm thanh, giai điệu và nhịp điệu,mang ý nghĩa âm nhạc mà tất cả mọi người đều thưởng thức, đồng thời nói lêntâm tư tình cảm tác giả muốn truyền đạt

1.1.3 Đặc tr ƣng của tác phẩm âm nhạc

Âm nhạc là nghệ thuật sử dụng âm thanh, các nhân tố âm thanh đượcphát triển nối tiếp nhau và lần lượt đi vào nhận thức thông qua tai nghe, thôngqua sự tiếp nhận của mỗi người Một tác phẩm khi được coi là tác phẩm âmnhạc thì tác phẩm đó phải phát ra âm thanh, có các yếu tố như giai điệu, nhịpđiệu, hòa âm cường độ và cách cấu tạo Tất cả các yếu tố này, luôn tồn tại trongtác phẩm âm nhạc và có mối quan hệ hỗ trợ nhau và không thể tách rời nhau, ví

dụ trong bản nhạc dù có lời hay không lời giai điệu, nhịp điệu và hòa âm khôngthể thiếu được

Giai điệu là sự trình bày ý tưởng âm nhạc trong phạm vi một bè, tronggiai điệu thường có mối tương quan về độ cao của âm thanh, độ dài ngắn, sự ổnđịnh giữa các nốt nhạc Khi sáng tác, các nhạc sĩ hoặc những người viết nhạc cóthể hình thành giai điệu trước, sau đó mới hòa âm cho giai điệu, đôi khi cả giaiđiệu và hòa âm được các nhà viết nhạc viết cùng lúc Còn hòa âm có yếu tốquan trọng bởi vì nó hình thành nên tác phẩm âm nhạc, hòa âm chính là cáchình thức làm rõ nghĩa cho giai điệu Hòa âm và giai điệu có mối liên hệ chặtchẽ với nhau, hòa âm tạo nên chức năng cho giai điệu, hòa âm biến đổi giai điệu làm cho giai điệu có sự căng thẳng và ổn định khác nhau tùy theo loại bảnnhạc mà các nhà viết nhạc hoặc nhạc sĩ hòa âm theo của ý họ Còn về nhịp điệuchỉ là cường độ được thể hiện trong tác phẩm âm nhạc

Vì vậy trong tác phẩm âm nhạc, luôn có 3 yếu tố trên mới được coi làmột tác phẩm âm nhạc hoàn chỉnh và khi kết hợp cả 3 yếu tố đó phải phát ra âmthanh Nếu đã kết hợp cả yếu tố trên mà không phát ra được âm thanh thì khôngthể coi là tác phẩm âm nhạc Tuy nhiên, trong bài hát hoặc bản nhạc muốn có

Trang 14

một giai điệu, nhịp điệu hay tác giả cũng phải tìm kiếm, tập hợp các bản hòa âmcho bản nhạc hoặc ca khúc đó Dù tác phẩm âm nhạc hội đủ ba yếu tố giai điệu,hòa âm, nhịp điệu nhưng nó cũng phải có công sáng tạo của tác giả để biến cácyếu tố này hòa quyện với nhau tạo thành một tác phẩm âm nhạc hấp dẫn, cáctác giả phải biến đổi các âm điệu tập hợp các nốt nhạc ghép lại với nhau thành những nốt nhạc phát ra được âm thanh dài.

Một tác phẩm âm nhạc có thể được thể hiện bằng những ký tự âm nhạc

là các nốt nhạc hoặc lời, dù tác phẩm âm nhạc được thể hiện dưới hình thức nàomột trong hai hình thức này do tác giả, các nhà soạn nhạc lựa chọn để tác phẩm

của họ được thể hiện Ví dụ các nhà soạn nhạc nổi tiếng như Mozart,

Beetthowven và Tchaikovsky thường viết nhạc trên phím đàn, viết nhạc trên giấy Tác phẩm âm nhạc có rất nhiều hình thức để thể hiện như phần khái niệm

đã trình bày, nhưng hình thức chủ yếu mà các nhà viết lời, hoặc nhạc sĩ thườngthể hiện chủ yếu là viết nhạc trên giấy sau đó một số nhạc sĩ sẽ đem đi hòa âmbằng một số dụng cụ

Hiện nay cùng với sự tiến bộ của công nghệ, hình thức soạn nhạc theophương pháp thủ công đã không còn nữa thay vào đó các nhà soạn nhạc sửdụng một số công cụ hoàn toàn cách viết nhạc trên máy như phần mềm soạnnhạc Encore.5 Đây là một phần mềm soạn nhạc mới giúp cho những người soạnnhạc rút ngắn được thời gian, đồng thời phần mềm soạn nhạc này có thể cho tácgiả viết được lời nhạc trong cùng thời gian viết lời và có thể viết một bản nhạctheo ý muốn của mình Như vậy tác phẩm âm nhạc do công sức tham gia sáng tạo của các tác giả cho tác phẩm âm nhạc, tác phẩm âm nhạc cũng là một sảnphẩm của lao động trí óc của tác giả cho nên tác phẩm âm nhạc thuộc các loạihình tác phẩm được bảo hộ quyền tác giả.6

1.1.4 Phân loại tác phẩm âm nhạc

Đối với một nền âm nhạc chuyên nghiệp, người ta có thể phân loại thànhnhiều mảng khác nhau, cách phân loại âm nhạc hiện nay rất đa dạng Dù phânloại theo cách nào thì tác phẩm âm nhạc đều có một điểm chung là được tạo

5 Phần mềm soạn nhạc trên máy tính, ban-soan-nhac-tren-may-tinh.35A5AB38.html, [truy cập 17/4/2013].

http://yume.vn/news/cong-nghe-xe/thiet-bi-so/phan-mem-giup-6 Điều 14 luật sở hữu trí tuệ năm 2005.

Trang 15

nên từ các nốt nhạc, trong một bản nhạc được sáng tạo nên nhờ từ việc ghép lạicác nốt nhạc với nhau thành một bản nhạc hoàn chỉnh Vì vậy theo cách sángtạo một tác phẩm âm nhạc được chia ra thành hai loại đó là nhạc có lời và nhạckhông lời.

Đối với thể loại nhạc có lời, thể loại nhạc này rất phổ biến có phần nhạc

và lời đầy đủ, ví dụ như bài “Dạ Cổ Hoài Lang của nhạc sĩ Vũ Đức Sao Biển”.

Thể loại nhạc có lời có thể chỉ có một tác giả chịu trách nhiệm sáng tác và cũng

có thể do đồng tác giả cùng sáng tác trong một ca khúc, ví dụ ca khúc “Đồng

chí nhạc do Minh Quốc sáng tác và thơ do Chính hữu viết” Trong một tác

phẩm âm nhạc có rất nhiều yếu tố cấu tạo thành nhưng trong đó có hai phầnchủ yếu là phần nhạc và phần lời, nếu có đồng tác giả tham gia sáng tạo tácphẩm âm nhạc thì họ đều có quyền ngang nhau đối với tác phẩm mà họ cùngsáng tác Trong khi đó cũng có một số trường hợp, trong một số tác phẩm âmnhạc có thể có cả nhạc sĩ chuyên phối khí cho tác phẩm và họ cũng tham giasáng tạo tác phẩm bằng sức sáng tạo của chính họ Ở nước ta việc nhạc sĩ tham gia phối khí chỉ mới được xuất hiện phổ biến trong mấy năm trở lại đây, nhữngngười này họ cũng có công sáng tạo cho tác phẩm nên hiện nay cũng có một số

tổ chức công nhận các nhạc sĩ chuyên phối khí như là một đồng tác giả của tác

phẩm âm nhạc Ví dụ vào tháng 6 năm 2005 đài truyền hình Việt Nam tổ chức

chương trình bài hát việt, nhạc sĩ Anh Quân vừa đoạt giải thưởng nhạc sĩ phối khí Với việc tổ chức cuộc thi này, chứng tỏ sự thừa nhận của nhạc sĩ phối khí

trong âm nhạc Việt Nam

Đối với thể loại nhạc không lời là một loại nhạc được diễn tả bằng nhạc

cụ là chủ yếu để thay lời hát của con người, ví dụ như buổi hòa nhạc tại nhà hát

lớn Hà Nội, đây là một thể loại nhạc không lời Tác phẩm âm nhạc không lời

có hai trường hợp xảy ra, trong trường hợp đầu tiên tác giả yêu thích thể loạinhạc không lời nên sáng tác một bản nhạc không lời để giành riêng cho một buổi hòa nhạc hoặc hòa tấu trên sân khấu Còn đối với trường hợp thứ hai, cóthể các đồng tác giả cùng sáng tác trong một tác phẩm âm nhạc họ tách riêng raphần nhạc đem đi làm một thể loại tác phẩm âm nhạc khác, việc các đồng tácgiả tách riêng ra các phần của mình đối với các tác phẩm âm nhạc xác định

Trang 16

được phần riêng lẻ trong tác phẩm âm nhạc đó và mỗi phần mà tác giả tham giasáng tác, nên họ đều có quyền quyết định đối với phần mà họ tham gia sáng tác.

Việc đem phần nhạc thuộc phần mà họ sáng tác đi làm thành một tácphẩm mới thuộc toàn quyền của họ, tác phẩm âm nhạc không lời này có thể làmột loại nhạc phái sinh cũng có thể là một thể loại âm nhạc gốc của một nhạc

sĩ chỉ chuyên viết bản nhạc không lời Nhạc không lời là tác phẩm phái sinh hay tác phẩm gốc làm của một nhạc sĩ đều thành quả lao động của tác giả sáng tạo, tác giả phải miệt mài bỏ công sức và thậm chí cả tiền bạc, thời gian cho tácphẩm âm nhạc để cho mọi người thưởng thức Vì thể loại nhạc không lời cũng

là một loại tác phẩm âm nhạc được tác giả sáng tác từ các ký tự của âm nhạccho nên nó vẫn thuộc tác phẩm âm nhạc được bảo hộ

1.2 Quyền tác giả đối với tác phẩm âm nhạc trong pháp luật quốc tế

1.2.1 Một số điều ƣớc quốc tế điều chỉnh về tác giả đối với tác phẩm

âm nhạc

Công ƣớc Berne 1886

Vấn đề về bảo hộ quyền tác giả ở quốc tế bắt đầu vào khoảng giữa thế kỉXIX trên cơ sở các thỏa ước song phương Nhiều thỏa ước được kí kết nhưng vẫn để bảo hộ về quyền tác giả vẫn chưa thống nhất được, một số quốc gia cốgắng đạt được vấn đề chung mà tất cả các nước đều mong muốn là nhằm chốnglại hành vi xâm phạm quyền tác giả Với lí do đó năm 1886, để quy định cơ sởcho việc công nhận lẫn nhau về quyền tác giả giữa các quốc gia khác nhau, mộtđiều ước quốc tế nhằm thống nhất được vấn đề trên lấy tên là công ước Bernebảo hộ về tác giả tác phẩm văn học, nghệ thuật Công ước này đã trải qua nhiềulần sửa đổi và bổ sung vào các năm 1908 tại Berlin, năm 1928 tại rome, năm

1948 tại Brussel, năm 1967 tại Stockholm Việc sửa đổi, bổ sung công ước xuấtphát từ sự tiến bộ khoa học kỉ thuật, các điều luật được điều chỉnh chi tiết vềviệc bảo hộ liên quan đến vấn đề trên Công ước Berne ra đời đánh dấu sự tiến

bộ rất lớn trong việc bảo hộ quyền tác giả đối với tác phẩm văn học, nghệ thuậttrên thế giới

Sau nhiều lần sửa đổi, công ước Berne đã đưa ra các qui định đạt mứchài hòa cao dựa trên nguyên tắc đối xử quốc gia với những qui định về mức độ

Trang 17

bảo hộ tối thiểu.7 Dựa trên nguyên tắc này thì tác phẩm của các quốc gia khác

mà là thành viên của công ước này đều được bảo hộ như tác phẩm của tác giảbảo hộ như nhau không phân biệt tác phẩm của một cá nhân được sáng tác ởđâu Bên cạnh đó nguyên tắc bảo đảm quyền tối thiểu buộc các quốc gia làthành viên phải qui định trong pháp luật của mỗi quốc gia là thành viên mứcbảo hộ không được bảo hộ thấp hơn mức bảo hộ công ước đã thiết lập

Đó là sự bình đẳng về quyền, nghĩa vụ và lợi ích cho các nước thànhviên Công ước Berne là một công ước quốc tế về bản quyền lâu đời nhất, bởi

vì nó đã tạo một nền tảng cho các công ước và hiệp ước khác Vì vậy, việc tiếpcận với công ước Berne và công ước khác quốc tế về bản quyền để có nhậnthức đầy đủ, làm cơ sở cho việc khai thác các lợi ích bản quyền về tác giả trên phạm vi quốc tế Nhận thức được lợi ích này nên ngày 26 tháng 10 năm 2004Việt Nam là thành viên thứ 156 của công ước Berne

Hiệp ƣớc WCT 1996 (WIPO Copyrigh Treaty)

Sau công ước Bern về bảo tác phẩm văn học nghệ thuật, thường xuyênsửa đổi, khoảng 20 năm sửa đổi không thỏa thuận được cho tới sữa đổi lần cuốicùng ở Stockholm vào năm 1967 và tại Pari năm 1971 Hội nghị nhằm tìm ragiải pháp cho sự phát triển mạnh của công nghệ ghi âm, nhiếp ảnh,kỹ thuậtquay phim và truyền hình8 Cùng với sự ra đời của hiệp ước WPPT là sự ra đờicủa hiệp ước WCT tại hội nghị ngoại giao từ ngày 2 đến 20 tháng 12 năm 1996

và có hiệu lực vào ngày 20 tháng 3 năm 2002

Hiệp ước WCT chủ yếu lưu trữ tác phẩm bằng một phương tiện dưới hình thức kỹ thuật số, việc bảo hộ tác phẩm dưới hình thức trên được hiệp ướcqui định kỷ hơn Đồng thời còn qui định các hạn chế và một số ngoại lệ trongmôi trường kỷ thuật số, các biện pháp bảo hộ và quản lí

doi&Itemid=107&limitstart=6 [ truy cập vào 17/4/ 2013].

8 Kamil Idrit, cẩm nang sở hữu trí tuệ, Trần Hữu Nam dịch.

Trang 18

và kí kết vào ngày 29 tháng 1 năm 1971 nên gọi là công ước Geneva Công ướcbảo hộ cho tất cả các quốc gia là thành viên của công ước hoặc là thành viêncủa liên hiệp quốc, thành viên của bất kì tổ chức nào thuộc hệ thống của tổ chức liên hiệp quốc Công ước có 14 điều qui định nghĩa vụ của các quốc gia thành viên về việc bảo hộ của các nhà sản xuất bản ghi âm mang quốc tịch của các quốc gia thành viên khác, chống lại việc làm bản sao và việc nhập khẩu cácbản sao nhằm mục đích phân phối công cộng, việc phân phối các bản sao tớicông chúng không được sự đồng ý của nhà sản xuất Việc bảo hộ có thể đượcqui định thành đối tượng điều chỉnh luật quyền tác giả, thời hạn bảo hộ cũng giống như của công Rome kéo dài ít nhất 20 năm, kể từ khi định hình hoặccông bố lần đầu tiên bản ghi âm Văn phòng quốc tế WIPO được giao nhiệm vụthực hiện chức năng thư ký của công ước.9 Ngày 15 tháng 7 năm 2009 côngước này có tới 77 quốc gia thành viên của ước và công ước Geneva bắt đầu cóhiệu lực tại Việt Nam ngày 6 tháng 7 năm 2005.

1.2.2 Luật của một số quốc gia điều chỉnh về quyền tác giả đối với tác phẩm âm nhạc

Luật của Hợp Chủng quốc Hoa Kì

Luật quyền tác giả của hợp chúng quốc Hoa Kì gồm 11chương, trong đó

có 8 chương điều chỉnh về quyền tác đối với các tác phẩm văn học, nghệ thuật

và tác phẩm được bảo hộ, 3 chương còn lại qui định các quyền liên quan Trongkhi đó luật quyền tác giả của Mĩ còn qui định các mức xử phạt đối với cáchành vi xâm phạm đối với quyền tác giả, tại điều 106A qui định các quyền củatác giả đối với việc nêu nguồn gốc tác phẩm, tác giả và bảo vệ sự toàn vẹn của tác phẩm.10 Đối với luật của Hoa Kì còn có qui định quyền tác giả đối với tácphẩm phục hồi,11chương 2 qui định về chủ sở hữu quyền tác giả và chuyểnnhượng quyền tác giả còn chương 3 thời hạn bảo hộ quyền tác giả đối với các

9 Cục bản quyền tác giả, các điều ước quốc tế,

quyn-tac-gi-wct&catid=45:cac-dieu-uoc-quoc-te&Itemid=82, [truy cập ngày 22/4/2013].

http://www.cov.gov.vn/cbq/index.php?option=com_content&view=article&id=134:hip-c-ca-wipo-v-10

Cục bản quyền tác giả, Luật quyền tác giả hợp chủng quốc Hoa Kì.

11 Điều 104A luật quyền tác giả hơp chủng quốc Hoa Kì, cục bản quyền tác giả,

chng-quc-hoa-k&catid=46:luat-cua-mot-so-quoc-gia&Itemid=83,[ truy cạp ngày 16/4/2013].

Trang 19

http://www.cov.gov.vn/cbq/index.php?option=com_content&view=article&id=140:lut-quyn-tac-gi-hp-tác phẩm của http://www.cov.gov.vn/cbq/index.php?option=com_content&view=article&id=140:lut-quyn-tac-gi-hp-tác giả là người có quốc tịch Mĩ và các quốc gia mà Mĩ có ký kếtcác hiệp định song phương.

Chương 4 thì lại qui định hình thức đăng ký bảo hộ quyền tác giả, trong chương này gồm có 12 điều Chương 5 qui đinh một biện pháp thực thi chốnglại các hành vi xâm phạm đến quyền tác giả, không những thế trong luật quyền tác giả còn qui định đối với các các yêu cầu về sản xuất và nhập khẩu tác phẩm qua các nước khác, chương 8 qui định các hành thức trả tiền nhuận bút, thù lao khi sử dụng các tác phẩm của tác giả Như vậy, trong luật quyền tác giả của hợpchủng quốc Hoa Kì là một đạo luật nổi tiếng trên thế giới và một đạo luật quiđịnh khá rõ ràng và chi tiết đối với quyền tác giả, các biện pháp xử lí hành vixâm phạm quyền tác giả của Hoa Kì qui định rất nghiêm ngặt hơn luật của ViệtNam Trong luật Việt Nam áp dụng các biện pháp khởi kiện ra tòa án còn nhẹnhư chỉ buộc chấm dứt hành xâm phạm, buộc xin lỗi hoặc cải chính công khai,

12 trong khi luật biện pháp hình sự chỉ qui định trên luật trong khi thực tế vẫnchưa có cơ quan nào áp dụng

Vì vậy, luật quyền tác giả Hoa Kì là một trong những bộ luật tiến bộ Do

đó đây cũng là một bộ luật mẫu mà các nước khác nên học hỏi theo như Việt Nam, hoặc ký kết những hiệp định song phương để học hỏi và trao đổi kinhnghiêm của Hoa Kì khi áp dụng biện pháp khởi kiện ra tòa án sẽ bị tịch thu và

xử lí đồ vật vi phạm hoặc bồi thường thiệt hại đối với hành vi mà người viphạm gây ra và nếu mức độ gây hại quá nặng thì áp dụng ngay biện pháp hình

sự, còn ở Việt Nam trên thực tế chỉ áp dụng biện pháp xử phạt dân sự, nếu nặngthì chỉ áp dụng biện pháp hành chính là chủ yếu Vậy cho thấy pháp luật nước

ta còn nhiều hạn chế

Luật quyền tác giả tác phẩm văn học và nghệ thuật của Thụy Điển

Luật này bắt đầu có hiệu lực vào ngày 1 tháng 7 năm 1961 và luật nàyđược sửa đổi, bổ sung vào ngày 1 tháng 4 năm 2000 Luật quyền tác giả tácphẩm văn học và nghệ thuật của Thụy Điển gồm có 9 chương và có 63 điều,trong luật của Thụy Điển nếu so với luật quyền tác giả của Hoa Kì thì luật củanước Thụy Điển có ít điều hơn nhưng việc qui định việc tác giả hưởng các

12 Điều 202 luật sở hữu trí tuệ năm 2005.

Trang 20

quyền và lợi ích hoặc các biện pháp xử lí các hành vi xâm phạm quyền tác giảcũng rõ ràng và khá chặt chẽ.

Trong chương 1 qui định đối tượng và phạm vi bảo hộ tác phẩm, tại chương này luật của Thụy Điển qui định các tác phẩm nào do tác giả sáng tạo

ra thì đều thuộc phạm vi bảo hộ của pháp.13 Vậy một tác phẩm thuộc phạm vi bảo hộ thì tác phẩm đó phải do tác giả trực tiếp sáng tạo, tương tự với điều 736 luật dân sự Việt Nam Chương 2 qui định giới hạn quyền tác giả, trong giới hạn quyền tác giả luật của Thụy Điển qui định khá chi tiết các hình thức sao chéphợp pháp và các hình thức sao chép trái với qui định của pháp luật khi khôngxin phép tác giả,chương này gồm có 26 điều Tại chương 2 luật của Thụy Điển

có sự tương đồng với nhau như việc xin phép khi sao chép các tác phẩm, một

số trường hợp sao chép gây phương hại đến tác giả sẽ được pháp luật côngnhận nhưng trong luật của Thụy Điển còn có chương qui định về quyền đượchưởng các thù lao đặc biệt14 còn trong luật Việt Nam chỉ qui định các hành visao chép vì mục đích kinh doanh thì được hưởng tiền thù lao

Đối với chương 3 qui đinh các hình thức chuyển giao quyền tác gia chocác cơ quan, tổ chức khác, chương này gồm có 16 điều Chương 4 thì qui định thời hạn bảo hộ quyền tác giả, trong chương 4 chỉ có 3 điều qui định về vấn đề liên đến thời hạn bảo hộ tác phẩm của tác giả Chương 5 thì qui định các quyền liên quan, tại chương 6 là chương dành riêng qui định những trường đặc biệt khi công bố tác phẩm mà không có bút danh hoặc chữ ký của tác giả đó để phânbiệt với các tác phẩm của tác giả trước đó thì sẽ bị pháp luật xử lí theo các biện pháp mà luật nước này qui định tại chương 7, chương 7 gồm 18 qui định cácbiện pháp cưỡng chế của pháp luật khi xâm phạm đến quyền tác giả Như vậytại chương này luật Thụy Điển qui định các biện pháp chế tài các hành vi xâm

13

Cục bản quyền tác giả, luật quyền tác giả Thụy Điển,

phm-vn-hc-va-ngh-thut-ca-thy-in&catid=46:luat-cua-mot-so-quoc-gia&Itemid=83[truy cập ngày 16/4/2013].

http://www.cov.gov.vn/cbq/index.php?option=com_content&view=article&id=141:lut-quyn-tac-gi-tac-14 Chương IIa tại điều 26, 27 luật quyền tác giả tác phẩm văn học và nghệ thuật của Thụy Điển, cục bản quyền tác giả,

phm-vn-hc-va-ngh-thut-ca-thy-in&catid=46:luat-cua-mot-so-quoc-gia&Itemid=83[truy cập 16/4/2013].

Trang 21

http://www.cov.gov.vn/cbq/index.php?option=com_content&view=article&id=141:lut-quyn-tac-gi-tac-phạm quyền tác giả nhẹ hơn luật của Mĩ, tuy vậy luật của Thụy Điển qui định

rõ ràng áp dụng hơn luật của Việt Nam không chồng chéo như luật của nước ta.Chương 8 và chương 9 qui định các vấn đề khác

Do vậy để pháp luật về quyền tác giả trong đó có quyền tác giả âm nhạccủa nước ta bảo đảm các quyền và lợi ích của họ được toàn vẹn đúng với côngsức những người này đầu tư cho sản phẩm của họ, tiến kịp với các nước tiến bộđiển hình như Mĩ và Thụy Điển đã tìm hiểu trên đây và đồng thời để trao dồicho nền pháp luật về tác giả của nước nhà Hiện nay, nước ta đã ký kết một số điều ước quốc tế song phương như: hiệp định giữa chính phủ Cộng Hòa Xã HộiChủ Nghĩa Việt Nam với chính phủ Hoa Kì về thiết lập quan hệ quyền tác giả(BCA) được kí kết vào ngày 26-6-1996, được chính phủ nước ta phê duyệtngày 26-12-1997 và bắt đầu có hiệu lực ngày 23-12-1998 Đồng thời nước ta còn kí kết hiệp định với Liên Bang Thụy Sĩ về bảo hộ sở hữu trí tuệ và hợp tác trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ, hiệp định này kí kết vào ngày 7-7-1999 và có hiệulực ngày 8-6- 2000 Để ngăn chặn các tội phạm xâm phạm đến quyền tác giả được thuận lợi, nhất là trong việc ngăn chặn các tội phạm xâm phạm quyền tác giả thực hiện các hành vi sao chép mang tính quốc tế và các quốc gia trong khuvực Vì lí do này nên Việt Nam còn ký kết một số thỏa thuận với một số nướctrong khu vực Châu Á như với Thái Lan và Hàn Quốc về vấn đề bảo hộ quyềntác giả Quyền tác giả nói chung trong đó quyền tác giả trong tác phẩm âm nhạcnói riêng là một quyền rất quan trọng trong quyền sở hữu trí tuệ

Nam

1.3 Quyền tác giả đối với tác phẩm âm nhạc theo pháp luật Việt

1.3.1 Tr ƣớc khi có luật sở hữu trí tuệ năm 2005

Ở Việt Nam, giai đoạn trước năm 2005 pháp luật về quyền tác giả đượcxây dựng vào những năm 80 của thế kỉ XX Nước ta đã ban hành một số vănbản pháp luật có qui định việc bảo hộ quyền tác giả, vấn đề trên được đề cậpngay trong bản hiến pháp nước ta vào năm 1946 đã ghi nhận những quyền cơbản của công dân liên quan đến quyền tác giả, tư tưởng tiến bộ đó được tiếp tục thể hiện những bản hiến pháp sau này như bản 1959, 1980 và hiến pháp 1992cũng đề cập vấn đề quyền tác giả

Trang 22

Một loạt văn bản liên quan đến quyền tác giả được ban hành, với sự rađời điều lệ Li-xăng 1984 và năm 1986 nghị định 142/HĐBT,đây là những vănbản riêng biệt về quyền tác giả ban hành với một số qui định nhằm điều chỉnh

về quyền này Qua một số năm thực hiện nghị định 142/HĐBT đã tạo tiền đềpháp lý nhằm đáp ứng nhu cầu bảo vệ về quyền tác giả và lợi ích hợp pháp của

họ, làm căn cứ để cơ quan bảo hộ quyền tác giả (Cục Bản quyền tác giả) thựchiện quyền đăng ký và giải quyết các tranh chấp liên quan đến lĩnh vực quyềntác giả Nhưng trong quá trình áp dụng nghị định này bộc lộ một số điểm hạnchế, nên trước yêu cầu đó vào ngày 2 tháng 12 năm 1994, Ủy ban Thường VụQuốc hội khóa IX thông qua pháp lệnh quyền tác giả Kỳ họp lần thứ 8 khóa

IX, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã thông qua Bộ luậtDân Sự vào ngày 28 tháng 10 năm 1995 Bộ luật Dân Sự năm 1995 điều chỉnhhầu hết các vấn đề dân sự trong đó có một phần điều chỉnh quyền tác giả tạichương I phần thứ 6 và phần thứ 7, sự ra đời Bộ luật Dân Sự năm 1995 đượclấy từ pháp lệnh bảo hộ quyền tác giả Với các qui định về quyền tác giả là mộttiến bộ mới về hoạt động lập pháp ở nước ta đối với lĩnh vực sở hữu trí tuệ Sau

Bộ luật này ra đời, theo đó hàng loạt các văn bản có liên quan đến quyền tác giảđược ban hành, bao gồm như là:

-Nghị định 76/CP ban hành ngày 29 tháng 11 năm 1996 của Chính phủhướng dẫn thi hành một số qui định về quyền tác giả trong Bộ luật Dân Sự

-Thông tư 166/1998/TT-BTC,ban hành ngày 19 tháng 12 năm 1998 của

Bộ Tài chính hướng dẫn chế độ thu lệ phí đăng ký quyền tác giả

-Thông tư liên tịch số 27/2001/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BVHTT,ban hành ngày 5 tháng 12 năm 2001 của Tòa án nhân dân tối cao phối hợp vớiViện kiểm soát nhân dân tối cao và Bộ văn hóa thông tin hướng dẫn áp dụngmột số qui định của Bộ luật Dân Sự năm 1995

1.3.2 Từ khi có luật sở hữu trí tuệ năm 2005 đến nay

Mặc dù quyền tác giả có thể được xem hình thành từ các bản hiến phápnhưng quyền tác giả ở Việt Nam vẫn còn là vấn đề mới và phức tạp Việc hoànchỉnh hệ thống pháp luật về quyền tác giả vẫn là một yêu cầu bức thiết nhằmkhuyến khích nội lực sáng tạo của các tác giả và đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc

Trang 23

tế Với lí do này vào tháng 5 năm 2005 Bộ Luật Dân Sự mới ra đời Trong BộLuật Dân Sự năm 2005 vẫn qui định về sở hữu trí tuệ vẫn còn thu hẹp, chúng còn đóng vai trò hướng dẫn chung Năm 2003 luật sở hữu trí tuệ đã được đưavào chương trình làm luật của quốc hội thông qua, ban dự thảo đầu tiên do cục

sở hữu trí tuệ thuộc Bộ khoa học công nghệ và cục bản quyền tác giả thuộc BộVăn hóa thông tin soạn thảo Tại kỳ họp Quốc hội khóa X ngày 29 tháng 11năm 2005, luật sở hữu trí tuệ đã được Quốc hội thông qua, điều chỉnh các quan

hệ sáng tạo và vấn đề bảo hộ quyền tác giả, quyền liên quan và các quyền sởhữu công nghiệp, quyền đối với giống cây trồng và luật này bắt đầu có hiệu lựcngày 1 tháng 7 năm 2006

Luật sở hữu trí tuệ năm 2005 gồm 222 điều, 18 chương và 6 phần, trong

đó quyền tác giả và các quyền liên quan qui định ở phần II với 6 chương và 45điều Bênh cạnh đó qui định về quyền tác giả và quyền liên quan còn được quiđịnh, hướng dẫn tại nghị định 100/2006/NĐ-CP được ban hành ngày 21 tháng 9năm 2006 và nghị định này được sửa, đổi và bổ sung bằng nghị định85/2011/NĐ-CP vào ngày 21 tháng 9 năm 2011 Sự ra đời luật sở hữu trí tuệ

2005 được coi là một bước tiến mới trong công việc ban hành văn bản quiphạm pháp luật của ngành lập pháp nước ta đồng thời góp phần xây dựng một

hệ thống pháp luật hoàn thiện hơn vấn đề bảo hộ quyền tác giả, quyền liên quan

và bảo đảm các thủ tục thực thi các quyền này một cách công bằng, kịp thời

Phù hợp với tình hình hội nhập như hiện nay, nên ngày 19 tháng 6 năm

2009 tại kỳ họp thứ 5, quốc hội khóa XII thông qua luật sở hữu trí tuệ sửa đổi

bổ sung, luật này có hiệu lực ngày 1 tháng 1 năm 2010 Sự ra đời luật sửa đổi,

bổ sung một số điều của luật sở hữu trí tuệ năm 2005, đã góp phần hoàn thiện

về pháp luật sở hữu trí tuệ cũng như tạo thêm sự phù hợp với luật sở hữu trí tuệthế giới với một chuẩn mực mà pháp luật quốc tế, các điều ước và hiệp ướcquốc tế về quyền tác giả, quyền liên quan có qui định

Trang 24

CH ƢƠNG 2 CÁC HÀNH VI XÂM PHẠM QUYỀN TÁC GIẢ

ĐỐI VỚI TÁC PHẨM ÂM NHẠC

Hiện nay, hành vi xâm phạm quyền tác giả đối với tác phẩm âm nhạc diễn ra hết sức phức tạp và ngày càng tinh vi nên rất khó kiểm soát Do đó các hành vi xâm phạm quyền tác giả đối với tác phẩm âm nhạc, không còn giới hạn xâm phạm đến tác giả mà các chủ sở hữu quyền tác giả cũng bị xâm phạm Do

đó để biết được tác giả và chủ sở hữu quyền có những quyền gì mà để ngăn chặn và bảo vệ khi bị xâm phạm.

2.1 Chủ thể quyền tác giả đối với tác phẩm âm nhạc

Các chủ thể tham gia sáng tác tác phẩm âm nhạc gồm những chủ thể là

cá nhân, tổ chức cùng sáng tạo bằng cả trí tuệ và thời gian Những chủ thể này

có thể chỉ là tác giả hoặc đồng tác giả, những cá nhân, tổ chức mà tham gia sáng tạo tác phẩm âm nhạc thì họ đồng thời là chủ sở hữu quyền tác giả nhưngcũng có thể không đồng thời là chủ sở hữu quyền tác giả

2.1.1 Tác giả

Tác giả là người trực tiếp sáng tạo ra toàn bộ hay một phần tác phẩm.15Như vậy một người muốn được công nhận tác giả của một tác phẩm, trước tiênphải trực tiếp tạo nên một tác phẩm nào đó bằng chính sức của mình Khi đócác tác phẩm được sáng tạo được coi là tác giả của tác phẩm này Bên cạnh,luật còn thừa nhận cho một người chỉ có sáng tác một phần hay một đoạn củatác phẩm, trong tác phẩm âm nhạc luôn có hai phần nhạc và phần lời riêng biệt,một tác giả chỉ sáng tác phần nhạc hoặc chỉ sáng tác phần lời cũng được luậtcông nhận người này là tác giả của phần đó Trong trường hợp một tác phẩm

âm nhạc có từ hai hay nhiều người cùng tham gia sáng tác phẩm thì nhữngngười này được gọi là đồng tác giả, các đồng tác giả trong tác phẩm âm nhạckhông chỉ có các nhạc sĩ viết nhạc hoặc viết lời bài hát mà trong tác phẩm âmnhạc còn có một cá nhân có vai trò cũng quan trọng đó là những người chuyênphối khí cho tác phẩm

15 Khoản 1 điều 13 luật sở hữu trí tuệ năm 2005.

Trang 25

Các cá nhân là tác giả bao gồm nhạc sĩ, nhà viết nhạc hoặc viết lời vàngười phối khí có thể đồng loạt cùng xuất hiện chung trong một tác phẩm âm

nhạc thì đương nhiên gọi là đồng tác giả, ví dụ buổi hòa nhạc sẽ có nhạc sĩ phối

khí xuất hiện Nhưng cũng có một số người họ vừa là nhạc viết nhạc vừa là

nhạc sĩ phối khí, trường họp không phải là đồng tác giả mà chỉ có tác giả đơnnhất như một người đảm nhận cả việc viết lời, viết nhạc sĩ và phối khí Các cánhân, tổ chức làm công tác hỗ trợ như góp ý kiến hoặc cung cấp một số tư liệucho tác giả sáng tạo tác phẩm, những người này không phải tác giả Như vậyluật chỉ công nhận tác giả khi một người trực tiếp sáng tạo ra một tác phẩm bất

kỳ tức là tác giả có vai trò quyết định trong việc thể hiện ý tưởng của họ vào tácphẩm, nhưng việc sáng tạo đó không có nghĩa là tác giả không có quyền kếthừa sự sáng tạo của người khác.16 Những người làm tác phẩm phái sinh cũngđược pháp luật công nhận là tác giả của tác phẩm Những người được côngnhận là tác giả của tác phẩm phái sinh bao gồm:

Người tạo ra tác phẩm phái sinh từ các tác phẩm của người khác, tácphẩm phong tác, cải biên, chuyển thể, biên soạn, chú giải, tuyển chọn là tác giảcủa tác phẩm phái sinh đó.17 Những người này được công nhận là tác giả củatác phẩm mà họ làm lại bằng cách phái sinh, với điều kiện tác phẩm mà họ làmphái sinh lại không được gây phương hại đến tác phẩm gốc và phải có tính sángtạo so với tác phẩm gốc

2.1.2 Chủ sở hữu quyền tác giả

“Chủ sở hữu quyền tác giả là tổ chức, cá nhân nắm giữ một, một số hoặc

toàn bộ các quyền tài sản đối với quyền tác giả”.18 Trong khi đó, điều 27 nghị

định 100/2006/NĐ-CP chủ sở hữu quyền tác giả sẽ thuộc về: “tổ chức, cá nhân

Việt Nam; tổ chức, cá nhân nước ngoài có tác phẩm được sáng tạo và thể hiện dưới hình thức vật chất nhất định tại Việt Nam; tổ chức, cá nhân nước ngoài có tác phẩm được công bố lần đầu tiên tại Việt Nam; tổ chức, cá nhân nước ngoài

16 Lê Nết, quyền sở hữu trí tuệ (pdf), nhà xuất bản đại học quốc gia Thành Phố Hồ Chí Minh, năm

2006, trang 59.

17 Khoản 2 điều 7636 bộ luật dân sự năm 2005.

18 Điều 36 luật sở hữu trí tuệ năm 2005.

Trang 26

có tác phẩm được bảo hộ tại Việt Nam theo điều ước quốc tế về quyền tác giả

mà Việt Nam là thành viên”.

Như vậy chủ sở hữu quyền tác giả chỉ thỏa các yêu cầu là tổ chức, cánhân có tác phẩm do mình tự sáng tạo hoặc đầu tư các cơ sở vật chất kỹ thuậtcho tác phẩm đều có quyền trở thành chủ sở hữu của một tác phẩm đó Các chủ

sở hữu này không phân biệt cá nhân, tổ chức là người Việt Nam hay cá nhân, tổchức nước ngoài đều có quyền sở hữu miễn là các nhân này có tác phẩm đượccông bố lần đầu tiên tại Việt Nam

Theo quyền tự do sáng tạo của các cá nhân hoàn toàn có quyền sáng tácvào tất cả các lĩnh vực như tác phẩm văn học, nghệ thuật và có quyền đóng gópmột phần công sức hoặc tài chính vào đóng góp của cá nhân khác, đồng thờicũng có một số cá nhân họ tự sáng tác không có sự đóng góp hoặc trợ giúp củamột tổ chức khác cho tác phẩm của mình Cũng có một số cá nhân được sở hữutác phẩm không phải do họ sáng tạo mà do được chuyển giao hoặc được thừa

kế lại của một cá nhân khác để lại

Theo qui định của luật sở hữu trí tuệ năm 2005 chủ sở hữu quyền tác giảgồm có các chủ sở hữu quyền tác giả:

- Chủ sở hữu quyền tác giả là tác giả;

- Chủ sở hữu quyền tác giả là các đồng tác giả;

- Chủ sở hữu quyền tác giả là các tổ chức, cá nhân giao nhiệm vụ cho tácgiả hoặc giao kết hợp đồng với tác giả;

- Chủ sở hữu quyền tác giả là người thừa kế;

- Chủ sở hữu quyền tác giả là người được chuyển giao quyền;

- Chủ sở hữu quyền tác giả là nhà nước;

- Chủ sở hữu quyền tác giả là những cá nhân, tổ chức nắm giữ một phầnhoặc toàn bộ các quyền về tài sản đối với tác phẩm mà họ nắm giữ, vì lí do này

cá nhân, tổ chức khác muốn sử dụng, khai thác tác phẩm của những cá nhân, tổchức đã kể trên phải xin phép và trả tiền nhuận bút để bù đắp cho quyền mà chủ

sở hữu quyền tác giả đã đầu tư cho tác phẩm

Trang 27

2.2 Nội dung quyền tác giả đối với tác phẩm âm nhạc

2.2.1 Quyền của tác giả sáng tạo

Vì tác giả là người trực tiếp tạo ra tác phẩm từ chính sự lao động bằng trítuệ, đôi khi còn có cả thời gian và vật chất nên tác giả sẽ có một số quyền đốivới tác phẩm đó Trong đó quyền nhân thân là quyền quan trọng nhất đối vớitác giả, bởi vì quyền nhân thân là một quyền gắn liền với mỗi tác giả và quyềnnày không thể chuyển giao người khác bất cứ hình thức nào Quyền nhân thân

là quyền rất đặc biệt đối với tác giả và chỉ có tác giả mới có quyền này, quyềnnhân thân bắt đầu xuất hiện khi tác phẩm được sáng tạo khi đó quyền nhân thânluôn gắn liền với tác giả cho đến suốt cuộc đời Quyền nhân thân qui định tạiđiều 19 luật sở hữu trí tuệ gồm có bốn quyền

Tác phẩm âm nhạc cũng như một số tác phẩm văn hoc, nghệ thuật khác

Để phân biệt tác phẩm này với những tác phẩm khác trong một tác giả hoặc dễ phân biệt các tác phẩm giữa nhạc sĩ này với tác phẩm của nhạc sĩ khác cần phảiđặt tên cho tác phẩm, quyền đặt tên cho tác phẩm chỉ có tác giả mới có quyềnnày Đặt tên như thế cho tác phẩm của họ do tác giả của tác phẩm đó có quyền quyết định đối với tác phẩm mà họ sáng tạo, nhưng việc đặt tên sao cho phùhợp với nội dung mà tác phẩm muốn thể hiện Việc đặt tên cho tác phẩm cònnhằm mục đích để quảng bá tác phẩm âm nhạc của tác giả với công chúng, vìtên tác phẩm là để cá biệt hóa các tác phẩm và đồng thời cũng để cá biệt hóa lênnội dung của tác phẩm

Đặt tên cho tác phẩm âm nhạc có ý nghĩa và để thu hút được người ngheđối với tác phẩm âm nhạc, các nhạc sĩ cũng phải trăn trở, tìm tòi chẳng khác gìsáng tạo tác phẩm Đặt tên cho tác phẩm âm nhạc mà có đồng tác giả cùng sángtác nên tác phẩm thì phải có sự thỏa thuận với nhau, đặt tên cho tác phẩm phảichứa được ý nghĩa Nếu đồng tác giả thỏa thuận không được việc đặt tên chotác phẩm thì coi như tác phẩm âm nhạc chưa có tên gọi Như vậy theo qui địnhcủa pháp luật quyền đặt tên cho tác phẩm là một quyền nhân thân luôn gắn liềnvới tác giả, tên gọi của tác phẩm luôn gắn liền với tên tuổi của tác giả vì có một

số nhạc sĩ được biết đến nhờ tác phẩm của họ Do vậy quyền đặt tên cho tác

Trang 28

phẩm cũng là một quyền rất đặc biệt và cũng không thể chuyển giao cho một cánhân hoặc tổ chức khác đặt tên thay cho tác giả.

Ngoài ra khi một tác phẩm âm nhạc được công bố đến công chúng tácgiả có quyền đứng tên thật hoặc bút danh trên tác phẩm,19 với tư cách là ngườisáng tạo ra tác phẩm thì tác giả có quyền đứng tên thật đối với tác phẩm màmình sáng tạo hoặc có thể lấy tên khác bằng bút danh hay bí danh để đứng têncho tác phẩm hoàn toàn theo ý chí của tác giả Tác phẩm được các tác giả quí

như một “đứa con tinh thần” do họ sản sinh ra nên các tác giả có quyền quyết

định đối với những đứa con tinh thần này theo ý của họ Tác giả có quyền đặttên hoặc đứng tên cho tác phẩm mà họ sáng tạo ra do họ chọn

Nếu so sánh qui định của pháp luật về quyền đặt tên cho tác phẩm thìnhằm để gọi tên, phân biệt và cá biệt hóa tác phẩm thì quyền đứng tên thật hoặcbút danh trên tác phẩm lại thể hiện sự cá biệt hóa tác giả.20 Quyền đặt tên chotác phẩm thì hỗ trợ cho tác phẩm giống như một người sinh ra có tên để gọi thì mọi người sẽ biết đến dễ dàng hơn, còn quyền đứng tên thật hoặc bút danh trên tác phẩm khẳng định quyền của tác giả trên tác phẩm mà họ sáng tạo Hai

quyền này thể hiện mối liên hệ giữa bản thân tác giả với tác phẩm Ví dụ “Áo

anh sứt chỉ đường tà của nhạc sĩ Phạm Duy”, ca khúc này chỉ có nhạc sĩ Phạm

Duy có quyền nhân thân không ai có thể đặt tên gọi khác vì như vậy sẽ xâmphạm quyền nhân thân của nhạc sĩ

Trong âm nhạc đa số các nhạc sĩ hay những người viết nhạc hoặc viết lờicho các tác phẩm âm nhạc thường đứng bằng tên thật trên tác phẩm nhưng cũng

có một số người đứng tên trên tác phẩm bằng bút danh không phải là tên thật.Mặc dù đứng tên thật hoặc bút danh trên tác phẩm âm nhạc có lời hay không lờivẫn khẳng định được tên tuổi của tác giả đó đối với công chúng, nhiều nhà soạnnhạc hoặc các nhạc sĩ được mọi người biết đến tên tuổi của họ là nhờ khẳngđịnh được tên của mình trên tác phẩm của họ Một số tác phẩm âm nhạc có cácđồng tác giả cùng sáng tạo tác phẩm, quyền đứng tên cho tác phẩm thể hiện

19 Khoản 2 điều 19 luật sở hữu trí tuệ năm 2005.

20 Th.S Kiều Thanh, một số vấn đề quyền tác giả trong luật dân sự Việt Nam,nhà xuất bản bộ tư pháp năm 2000.

Trang 29

quyền nhân thân của họ trên tác phẩm đó, cho nên các đồng tác giả có thể lựachọn đứng tên thật hoặc bằng bút danh hoặc bí danh trên tác phẩm.

Đối với tác phẩm âm nhạc một tác giả muốn sản phẩm âm nhạc củamình sau khi sáng tác xong mọi người biết đến tác phẩm mà mình cực khổ sángtác, tác giả phải công bố tác phẩm đó đến với công chúng Việc công bố tácphẩm đến với công chúng tác giả có thể lựa chọn tự mình công bố hoặc chongười khác công bố tác phẩm 21 Quyền này tác giả cũng có toàn quyền quyếtđịnh cho hay không cho người khác công bố tác phẩm của mình, công bố tácphẩm không bao gồm việc trình diễn một tác phẩm trên sân khấu, điện ảnh, âmnhạc; đọc trước công chúng một tác phẩm văn học, nghệ thuật.22 Đồng thời

công bố một tác phẩm đến với công chúng có thể là một hình thức “phát hành

tác phẩm đến công chúng với số lượng bản sao đủ để đáp ứng nhu cần hợp lí của công chúng tùy theo bản chất của tác phẩm, do tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả thực hiện hoặc cá nhân, tổ chức khác thực hiện với sự đồng ý của tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả”.23

Tác phẩm là thành quả hoạt động của việc sáng tạo của trí tuệ, sau khitác phẩm hoàn chỉnh tác giả có muốn công bố hay không công bố đều thể hiện

ý chí của cá nhân tác giả quyết định đối với tác phẩm Nếu tác giả muốn công

bố tác phẩm bằng hình thức, phương tiện nào do tác giả hoặc chủ sở hữu quyền tác giả quyết định không có ai có quyền này vì các quyền đó là quyền nhân thân Quyền công bố hoặc không cho người khác công bố tác phẩm khôngnhững ảnh hưởng đến quyền nhân thân của tác giả mà nó còn ảnh hưởng đếnquyền tài sản của tác phẩm như khoản 2 điều 22 nghị định 100 qui định Ngoàicác hình thức đã liệt kê tại khoản 2 điều 22 nghị định 100/2006/NĐ-CP và điều

3 công ước Berne, các tổ chức là người đầu tư cơ sở vật chất, kỹ thuật công bốtác phẩm cũng được coi là một hình thức cho người khác công bố tác phẩmthay cho tác giả

Tác giả cũng có quyền bảo vệ sự toàn vẹn cho tác phẩm, không chongười khác sửa chữa, cắt xén hoặc xuyên tạc tác phẩm dưới bất kỳ hình thức

21 Khoản 3 điều 19 luật sở hữu trí tuệ năm 2005.

22 Khoản 2 điều 22 nghị định 100/2006/NĐ-CP.

23 Khoản 2 điều 22 nghị định 100/2006/NĐ-CP.

Trang 30

nào gây phương hại đến danh dự và uy tín của tác giả.24 Mỗi tác phẩm ra đờikhông phải đơn giản mà tác giả phải trãi quá trình suy nghĩ, tư duy từ nội dungcho đến hình thức trình bày tác phẩm, do vậy tác giả cần phải bảo vệ sự toànvẹn cho tác phẩm đó để tránh khỏi các hành vi gây ảnh hưởng đến uy tín củatác giả.

Quyền này là một trong các quyền nhân thân rất quan trọng đối với tácgiả, vì nó phục vụ cho việc bảo vệ trực tiếp ngay cả trường hợp tác giả khôngcòn là chủ sở hữu tác phẩm Lúc đó tác giả là những người thừa kế có quyềnyêu cầu những người sử dụng tác phẩm của mình chấm dứt hành vi xâm phạmđến tác phẩm mà mình sở hũu Như vậy quyền nhân thân của tác giả là một quyền bất khả xâm phạm, bất cứ trường hợp chuyển nhượng quyền tác giả hay

là hợp đồng chuyển giao quyền tác giả Các loại hợp đồng chuyển giao, chủ yếuchỉ chuyển giao một phần quyền tài sản cho các tổ chức, cá nhân nhưng quyền nhân thân thì không thể chuyển giao cho bất kỳ một cá nhân, tổ chức nào khácđược

Ví dụ hiện nay ca khúc “Hương thầm” bị một số ca sĩ hát sai lời Tác giả

của ca khúc này là nhạc sĩ Vũ Hoàng và do Phan Thị Thanh Nhàn phổ thơ, yêu cầu các ca sĩ hát sai lời phải tôn trọng lời hát trong ca khúc này và yêu cầu trung tâm tâm bảo vệ quyền tác giả âm nhạc ngăn chặn hiện tượng hát sai lời

ca khúc của đồng tác giả ca khúc “Hương Thầm”.

2.2.2 Quyền của chủ sở hữu

Do chủ sở hữu quyền tác giả cũng có đóng góp một phần quyền vào tácphẩm nên các chủ sở hữu được hưởng một phần quyền đối với tác phẩm, các

chủ sở hữu có quyền định đoạt tác phẩm mà mình nắm giữ “chủ sở hữu quyền

tác giả là tổ chức, cá nhân nắm giữ một, một số hoặc toàn bộ các quyền tài sản đối với quyền tác giả”.25 Quyền cho hay không cho người khác sử dụng, khaithác tác phẩm mà mình đang sở hữu gọi là quyền tài sản Các trường hợp chủ

sở hữu là người giao nhiệm vụ cho tác giả sáng tác thì chủ sở hữu này sẽ đượchưởng quyền tài sản lẫn quyền nhân thân

24 Khoản 4 điều 19 luật sở hữu trí tuệ năm 2005.

25 Điều 36 luật sở hữu trí tuệ năm 2005.

Trang 31

2.2.2.1 Chủ sở hữu quyền tác giả là đồng tác giả

Các chủ sở hữu quyền tác giả đã sử dụng thời gian, tài chính, cơ sở vậtchất- kỹ thuật cùng sáng tạo ra tác phẩm.26 Loại chủ sở hữu này còn quyềnnhân thân đối với các tác phẩm mà họ tham gia sáng tạo đó là các quyền tài sản được qui định tại điều 20 luật sở hữu trí tuệ tác phẩm chung này chủ sở hữu làđồng tác giả có độc quyền sử dụng, định đoạt tác phẩm, tức là có quyền hưởnglợi ích vật chất khi tác phẩm được khai thác, sử dụng dưới bất kỳ hình thức làbản sao hay bản gốc, quyền làm các tác phẩm phái sinh, biểu diễn tác phẩmtrước công chúng, truyền đạt tác phẩm đến với công chúng Các quyền này cóthể do tác giả hoặc chủ sở hữu độc quyền thực hiện khi cá nhân hoặc tổ chứckhác muốn sử dụng tác phẩm phải xin phép tác giả hoặc chủ sở hữu, đồng thờicũng phải trả tiền nhuận bút, thù lao và các quyền lợi vật chất khác cho chủ sởhữu.27 Quyền tài sản được phát sinh đồng thời với quyền nhân thân của tác giả,khi một tác phẩm bắt đầu định hình thì quyền nhân thân sẽ xuất hiện nhưngquyền nhân thân chỉ thuộc về người trực tiếp sáng tác tác phẩm còn quyền tàisản sẽ thuộc về người đã đầu tư vào tác phẩm, trường hợp chủ sở hữu quyền tácgiả là đồng tác giả, đồng tác giả sẽ được hưởng cả quyền nhân thân và quyền tàisản đối với tac phẩm.28 Ví dụ bài hát Học cách quên một người do hai tác giả

đồng sáng tác, gồm phần lời do Đình Khoa, nhạc do Đặng Hải cùng nhau bỏ

thời gian, vật chất để sáng tác bài này và cả hai tác giả này sẽ có quyền độc lậpđối với tác phẩm

tác giả

2.2.2.2 Chủ sở hữu quyền tác giả là tổ chức, cá nhân giao nhiệm vụ cho

Đối với các tổ chức, cá nhân giao nhiêm vụ cho tác giả sáng tác hoặcgiao kết hợp đồng với tác giả sáng tạo ra tác phẩm là chủ sở hữu của tácphẩm.29 Chủ sở hữu này có quyền quyết định cho hay không cho người khác sửdụng tác phẩm của họ sở hữu, tác giả là người sáng tác chỉ có quyền nhân thâncòn quyền tài sản sẽ thuộc về chủ sở hữu nên họ sẽ có quyền cho hay không

26 Điều 38 luật sở hữu trí tuệ năm 2005.

27 Khoản 3 điều 20 luật sở hữu trí tuệ năm 2005.

28 Điều 20 luật sở hữu trí tuệ năm 2005.

29 Điều 39 luật sở hữu tí tuệ năm 2005.

Trang 32

cho người khác khai thác tác phẩm của mình dưới bất kì hình thức nào phải xinphép và có trả tiền nhuận bút cho họ.

Đồng hành với quyền nhân thân của tác giả thì có quyền tài sản của chủ

sở hữu là cá nhân hoặc tổ chức đầu tư cơ sở, vật chất kỹ thuật của tác phẩm.Quyền tài sản của chủ sở hữu không nhất thiết được người khác sử dụng chothuê hoặc bán tác phẩm cho một cá nhân hoặc tổ chức khác mới được hưởng quyền tài sản, quyền làm tác phẩm phái sinh, biểu diễn tác phẩm trước công chúng cũng phải trả các chi phí cho chủ sở hữu quyền tác giả đã đầu tư lúc đầu,chủ sở hữu tác phẩm đó sẽ được hưởng quyền tài sản từ việc cá nhân hoặc tổ

chức lấy tác phẩm làm tác phẩm của họ, ví dụ nhạc sĩ Nguyễn Hải Phong là

nhạc sĩ độc quyền sáng tác ca khúc “Đường cong” cho ca sĩ Thu Minh.

Nhưng việc xin phép làm tác phẩm phái sinh phải xin phép tất cả cácchủ sở hữu đồng ý cho phép và thực hiện đầy đủ quyền trả chi phí cho chủ sởhữu bằng hiện vật hoặc tiền để bù lại lợi ích mà họ đã bỏ ra Các chủ sở hữuloại này sở hữu toàn bộ hoặc một phần quyền tài sản đối với tác phẩm, theo mức độ mà họ đầu tư vào tác phẩm đó Nhưng dù mức độ quyền của họ có tới đâu đi chăng, quyền này chỉ giới hạn trong quyền tài sản mà chủ sở hữu này đãđầu tư cho tác phẩm Các quyền tài sản theo qui định tại điều 20 luật sở hữu trítuệ đều thuộc về chủ sở hữu này Một số hành vi chủ sở hữu này có thể thựchiện hoặc cho người khác thực hiện để thu lợi từ việc cho người người kháclàm như sao chép, biểu diễn tác phẩm trước công chúng hoặc phân phối, cácchủ sở hữu này có quyền biểu diễn các tác phẩm trực tiếp hoặc gián tiếp để thulợi nhuận từ việc khai thác tác phẩm, trong âm nhạc biểu dễn tác phẩm trướccông chúng được các chủ sở hữu cho các ca sĩ biểu diễn Bên cạnh các chủ sởhữu này còn có quyền cho phép người khác sao chép tác phẩm và cũng cóquyền nhập khẩu tác phẩm âm nhạc của nước đến với công chúng trong nước,hoặc nhập khẩu tác phẩm âm nhạc của nước ngoài vào Việt Nam

Các Chủ sở hữu loại này thường là các tổ chức đầu tư cho tác phẩm nhưcác công ty nhạc, đôi khi cũng có thể trung tâm bảo vệ quyền tác giả âm nhạchoặc các hiệp hội các nhạc sĩ Việt Nam cũng có quyền giao nhiệm vụ cho tácgiả sáng tác tác phẩm Thực hiện công việc phân phối hoặc nhập khẩu tác phẩm

là bản chính, bản sao là quyền của chủ sở hữu độc quyền cho hay không cho

Trang 33

người khác làm nếu thấy có xâm phạm đến lợi ích của họ Việc thực hiện quyềnnày còn tùy thuộc vào sự đồng ý hoặc chuyển giao quyền sở hữu bản gốc hoặcbản sao của môt tác phẩm, nếu đạt được sự đồng ý hoặc đã được chuyển giaorồi thì cá nhân, tổ chức đã được chuyển giao tác phẩm là bản sao hoặc bản gốcmới có quyền phân phối theo ý của họ không cần phải xin phép tác giả, đặt raqui định như vậy nhằm tránh sự xâm hại đến lợi ích của chủ sở hữu và tác giả.

Bên cạnh các chủ sở hữu là người đầu tư cho tác phẩm hoặc giao kết hợpđồng sáng tác, các tổ chức là chủ sở hữu có thể là người được chuyển giaoquyền Các chủ sở hữu được chuyển giao quyền chủ yếu chỉ chuyển giao mộtphần quyền, chủ sở hữu sau đây là những chủ sở hữu được chuyển giao mộtphần quyền tài sản

2.2.2.3 Chủ sở hữu quyền tác giả là người thừa kế

Đây là chủ sở hữu được tác giả chuyển giao lại một phần quyền do tácgiả đã chết chuyển giao lại Trong lĩnh vực âm nhạc việc thừa kế này tác giả chỉ

có quyền chuyển giao quyền tài sản đối với tác phẩm âm nhạc của mình vàkhông thể nào chuyển giao quyền nhân thân cho chủ sở hữu thừa kế ngay cả tácgiả đã chết Quyền tài sản mà chủ sở hữu được hưởng như các quyền đượcpháp luật sở hữu trí tuệ qui định, ngòai ra chủ sở hữu này còn được hưởngquyền là tiên đề của quyền tài sản như quyền công bố hoặc cho người kháccông bố tác phẩm, các quyền gắn liền với nhân thân tác giả không được thừakế

Chủ sở hữu là người thừa kế là “tổ chức, cá nhân, cơ quan được thừa kế

quyền tác giả theo qui định của pháp luật thừa kế”.30 Như vậy các chủ sở hữucủa quyền thừa kế có thể là cá nhân, tổ chức cũng đều được trở thành ngườithừa kế theo di chúc của tác giả, cho dù thừa kế theo di chúc tác giả để lại hoặctheo qui định của pháp luật các chủ sở hữu vẫn đủ tư cách là chủ sở hữu đối vớitác phẩm và có quyền định đoạt đối với tác phẩm đó, chủ sở hữu thừa kế cũng

có các độc quyền như các chủ sở hữu trước và quyền tài sản thuộc hoàn toàn vềchủ sở hữu này đúng theo pháp luật cho phép họ Nếu chủ sở hữu là cá nhân, tổchức, cơ quan thừa kế tác phẩm của một tác giả còn sống, chủ sở hữu này được

30 Điều 40 luật sở hữu trí tuệ năm 2005.

Trang 34

quyền hưởng sở hữu đối với quyền tác giả đến hết cuộc đời và năm mươi nămtiếp theo sau khi tác giả chết Nếu tác giả đã chết và chuyển quyền sở hữu của một tổ chức, cá nhân, cơ quan thừa kế tác phẩm của mình, chủ sở hữu sẽ được

hưởng thời gian còn lại trong năm mươi năm sau tác giả chết Ví dụ gia đình cố

nhạc sĩ Phạm Duy có quyền thừa kế các tác phẩm của ông và có quyền cấm các cá nhân sử dụng trái phép.

Quyền của chủ sở hữu thừa kế được hưởng quyền thừa kế theo luật haytheo di chúc, các chủ sở hữu có quyền sở hữu đối với quyền tác giả nhưngquyền mà các chủ sở hữu này được hưởng chỉ có là các quyền tài sản đối vớitác phẩm và công bố hoặc cho phép người khác công bố tác phẩm thay thế tácgiả

2.2.2.4 Chủ sở hữu quyền tác giả là người được chuyển nhượng quyền

Chủ sở hữu quyền tác giả được chuyển nhượng trong trường hợp nàychủ yếu là chuyển nhượng về quyền tài sản, chuyển nhượng có thể là một cá nhân hoặc tổ chức là chủ sở hữu chuyển nhượng cho chủ sở hữu mới.31 Chủ sởhữu quyền tác giả chỉ có thể nhận chuyển nhượng một phần hoặc toàn bộ tácphẩm âm nhạc như đã qui định Ví dụ ca sĩ-nhạc sĩ Duy Mạnh chuyển quyền sở

hữu ca khúc “Hãy về đây bên anh” cho trung tâm bảo vệ quyền tác giả âm nhạc

Việt Nam

Hình thức chuyển nhượng quyền sở hữu tài sản, trong âm nhạc hay trongtác phẩm văn học, nghệ thuật khác thì việc chuyển nhượng quyền sở hữu cũngchỉ là chuyển nhượng quyền tài sản từ tác giả sang cho cá nhân, tổ chức, cơquan khác không thể có thể xảy ra chuyện chuyển nhượng quyền sỏ hữu là quyền nhân thân, vì luật đã qui định quyền nhân thân là một quyền rất đặc biệt không thể chuyển giao dù là tác giả chết Vì vậy chuyển nhượng quyền là ngườithừa kế hoặc đầu tư cho tác phẩm không thể chuyển nhượng quyền nhân thân,chủ sở hữu chỉ được quyền chuyển nhượng quyền tài sản

2.3 Các hành vi xâm phạm quyền tác giả đối với tác phẩm âm nhạc

Hiện nay vẫn chưa một điều luật nào định nghĩa hành vi xâm phạmquyền tác giả là hành vi như thế nào mà chỉ liệt kê một số hành vi xâm phạm

31

Điều 45 luật sở hữu trí tuệ năm 2005.

Trang 35

quyền tác giả tại điều 28 luật sở hữu trí tuệ Từ điều 28 có thể suy luận ra cáchành vi xâm phạm quyền tác giả là những hành vi xâm phạm đến quyền và lợiích của tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả mà không xin phép hay không thựchiện các nghĩa vụ về tiền nhuận bút, thù lao cho tác giả hoặc chủ sở hữu quyềntác giả.

Ngày nay, trong âm nhạc các hành vi xâm phạm đến quyền tác giả hoặcquyền của chủ sở hữu diễn ra ngày càng phổ biến và rất nhiều hành vi tinh vi,một số hành vi vi phạm còn diễn ra công khai trên một số phương tiện truyền thông làm cho tác giả cũng như các tổ chức là chủ sở hữu bị thiệt cả về vật chấtlẫn tinh thần Dưới góc độ của pháp luật, quyền tác giả gồm có hai loại quyền nhân thân và quyền tài sản, quyền nhân thân thân là các quyền mang yếu tố tinhthần của một chủ thể đối với tác phẩm, quyền nhân thân là một loại quyền gắnliền với bản thân của tác giả Quyền tài sản là quyền mang bản chất lợi ích vậtchất, vì quyền này tác giả có thể chuyển giao cho người khác cho nên ngườiđược hưởng quyền này có thể là tác giả hoặc cũng có thể chỉ có chủ sở hữuquyền tác giả

2.3.1 Một số hành vi xâm phạm đến quyền nhân thân của quyền tác giả đối với tác phẩm âm nhạc

Hành vi xâm phạm đến quyền tác giả chủ yếu là xâm phạm liên quanđến quyền nhân thân, xâm hại đến danh dự và uy tín của tác giả Các đối tượng được xem là xâm phạm quyền tác giả xâm phạm quyền mà tác giả không chophép như các quyền định đoạt đối với tác phẩm32 và đang được luật về sở hữutrí tuệ bảo hộ, có yếu tố xâm phạm trong đó đối tượng bị xem xét, người thực hiện hành vi xem xét không phải là chủ thể quyền sở hữu trí tuệ và không phải

là người trực tiếp được pháp luật hoặc cơ quan có thẩm quyền cho phép theoqui định của luật sở hữu trí tuệ, hành vi xem xét đã xảy ra tại Việt Nam.33Trong âm nhạc hiện có một số hành vi xâm phạm phổ biến nhất là các hành vixâm phạm quyền nhân thân không gắn với tài sản và xâm phạm quyền nhânthân gắn với tài sản

32 Điều 28 luật sở hữu trí tuệ năm 2005.

33 Điều 5 nghị định 100/2006/NĐ-CP.

Trang 36

Các hành vi xâm phạm quyền nhân thân không gắn với tài sản bao gồmcác hành vi như: chiếm đoạt quyền tác giả đối với tác phẩm văn học, nghệthuật, khoa học, mạo danh tác giả, sửa chữa, cắt xén hoặc xuyên tạc tác phẩmdưới bất kỳ hình thức nào gây phương hại đến danh dự và uy tín của tác giả.34

Ví dụ Nhạc sĩ Đông Phương Thắng mạo danh nhạc sĩ Hoàng Đinh Hùng ca khúc “Nhật Ký Cho Em (Single)”

Hành vi xâm phạm quyền nhân thân gắn với tài sản bao gồm các hành vicông bố, phân phối tác phẩm mà không được sự cho phép của tác giả Vì hành

vi công bố hay phân phối tác giả có thể thực hiện công việc chuyển giao cho người khác được, quyền này có một phần tài sản nên tác giả có quyền chuyểngiao nhưng các tổ chức, cá nhân phải thực hiện đúng nghĩa vụ trả tiền nhuậnbút cho tác giả

Đối với âm nhạc việc mạo danh tác giả thường xảy ra đối với nhữngnhạc sĩ chưa nổi tiếng vì muốn nổi tiếng nhanh lấy một ca khúc của một nhạc sĩnổi tiếng đặt tên làm của mình, hành vi mạo danh không chỉ việc lấy tác phẩmcủa một người nào sau đó đặt tên khác làm tác phẩm của mình, mà hành vi mạodanh còn xảy ra đối với những trường hợp in sai lời nhạc trong một ca khúc

cũng được coi là mạo danh tác giả Ví dụ nhà xuất bản ghi âm đã in sai phần

lời ca khúc của Hoàng Phủ Ngọc Tường làm ảnh hưởng đến danh tiếng của tác

giả

Mặc cho tác phẩm âm nhạc này đã công bố hoặc chưa công bố một cá nhân, tổ chức khác muốn sử dụng phải tôn trọng quyền đứng tên mà tác giả đãđặt cho tác phẩm của họ Không được làm thay đổi dù bất kỳ hình thức nào,nếu muốn thay đổi tên gọi của một tác phẩm âm nhạc hay chỉ là tên của một cakhúc cũng phải có sự cho phép của tác giả hoăc chủ sở hữu quyền tác giả khi sửdụng hoặc chuyển giao một ca khúc thì chỉ chuyển giao nguyên tác phẩm chonên tên của tác phẩm vẫn phải giữ như lúc đầu, mọi hành vi mạo danh của tácgiả trong âm nhạc đều là xâm phạm quyền nhân thân của tác giả và bị xử lí theoqui định của luật Các hành vi mạo danh này thường là không tôn trọng quyềnđặt tên của tác giả trên tác phẩm, mức thiệt hại mà tác giả phải chịu là danh dự

34

Lê Nết, quyền sở hữu trí tuệ (pdf), nhà xuất bản đại học quốc gia Thành Phố Hồ CHí Minh, năm

2006, trang 66-67.

Ngày đăng: 05/04/2018, 22:43

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm