1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

LUẬN văn LUẬT HÀNH CHÍNH thời hiệu khởi kiện về thừa kế theo quy định của pháp luật việt nam hiện hành lý luận và thực tiễn

74 503 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 74
Dung lượng 0,93 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Một khi pháp luật đã cho mọi người một quyền năng nhất định đó là quyền khởi kiện thì mọi người cần phải tuân thủ đúng những quy định trong khoảng thời gian được phép thực hiện điều đó;

Trang 1

Giảng viên hướng dẫn: Sinh viên thực hiện:

Nguyễn Văn Khuê Lê Thị Trinh

Mssv: 5086009

Lớp: Luật Hành Chính k34

Cần Thơ, tháng 05/2012

Trang 2

Trang 3

Trang 4

MỤC LỤC



LỜI MỞ ĐẦU

1.Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Mục đích nghiên cứu của đề tài 2

3 Phạm vi nghiên cứu đề tài 3

4 Phương pháp nghiên cứu đề tài 3

5 Bố cục của đề tài 4

CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG THỪA KẾ VÀ THỜI HIÊU KHỞI KIỆN VỀ THỪA KẾ 1.1 Những vấn đề chung về thừa kế 6

1.1.1 Khái niệm về thừa kế và quyền thừa kế 6

1.1.1.1 Khái niệm thừa kế 6

1.1.1.2 Khái niệm quyền thừa kế 7

1.1.2 Các nguyên tắc của quyền thừa kế 7

1.1.2.1 Nguyên tắc bảo hộ quyền thừa kế của cá nhân và bình đẳng về thừa kế 7

1.1.2.2 Nguyên tắc người thừa kế phải còn sống vào thời điểm mở thừa kế 10

1.1.2.3 Nguyên tắc người thừa kế có các quyền và nghĩa vụ về tài sản do người chết để lại 12

1.1.3 Khái quát về di sản thừa kế 13

1.1.3.1 Khái niệm về di sản thừa kế 13

1.1.3.2 Hình thức tồn tại của di sản thừa kế 14

1.1.3.3 Thời điểm xác lập quyền sở hữu đối với di sản thừa kế 16

1.1.4 Thời điểm mở thừa kế và địa điểm mở thừa kế 17

1.1.4.1 Thời điểm mở thừa kế 17

1.1.4.2 Địa điểm mở thừa kế 19

1.2 Những vấn đề chung về thời hiệu khởi kiện về thừa kế 19

1.2.1 Quyền khởi kiện về thừa kế của cá nhân 19

1.2.2 Khái niệm thời hiệu và thời hiệu khởi kiện về thừa kế 20

1.2.1.1 Khái niệm thời hiệu khởi kiện 20

1.2.1.2 Khái niệm thời hiệu khởi kiện về thừa kế 21

Trang 5

1.3 Lược sử và sự phát triển của các chế định thời hiệu khởi kiện trong pháp luật

Việt Nam 22

1.3.1 Giai đoạn từ năm 1945 đến trước năm 1990 22

1.3.2 Giai đoạn từ năm 1991 đến trước năm 1996 23

1.3.3 Giai đoạn từ năm 1996 đến trước năm 2006 24

1.3.4 Giai đoạn từ năm 2006 đến nay 25

CHƯƠNG 2: THỜI HIỆU KHỞI KIỆN VỀ THỪA KẾ TRONG HỆ THỐNG PHÁP LUẬT VIỆT NAM HIỆN HÀNH 2.1 Thời hiệu khởi kiện về quyền thừa kế của người thừa kế trong một số trường hợp cụ thể 27

2.1.1 Thời hiệu khởi kiện để người thừa kế yêu cầu chia di sản thừa kế 27

2.1.2 Thời hiệu khởi kiện để người người thừa kế yêu cầu xác nhận quyền thừa kế của mình 28

2.1.3 Thời hiệu để người thừa kế yêu cầu bác bỏ quyền thừa kế của người khác 29

2.2 Thời hiệu khởi kiện để yêu cầu người thừa kế thực hiện nghĩa vụ về tài sản của người chết để lại 32

2.3 Những trường hợp không áp dụng thời hiệu khởi kiện về thừa kế 35

2.3.1 Trường hợp áp dụng các quy định của pháp luật về chia tài sản chung trong điểm a, Tiểu mục 2.4, Mục 2, Phần I, Nghị quyết số 02/2004 35

2.3.2 Trường hợp di sản thừa kế không do người thừa kế trực tiếp quản lý, sử dụng được quy định trong điểm b, Tiểu mục 2.4, Mục 2, Nghị quyết số 02/2004 39

2.4 Thời gian không tính vào thời hiệu khởi kiện và bắt đầu lại thời hiệu khởi kiện về vụ án dân sự, việc dân sự nói chung và thừa kế nói riêng 40

2.4.1 Thời gian không tính vào thời hiệu khởi kiện về vụ án dân sự nói chung và thừa kế nói riêng 41

2.4.2 Quy định bắt đầu lại thời hiệu khởi kiện về vụ án dân sự, việc dân sự…

.43

2.5 Thời hiệu khởi kiện về thừa kế quyền sử dụng đất 45

CHƯƠNG 3: THỰC TIỄN ÁP DỤNG CÁC QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ THỜI HIỆU KHỞI KIỆN VỀ THỪA KẾ 3.1 Sự tiến bộ của quy định pháp luật hiện hành về chế định thời hiệu khởi kiện về thừa kế 50

Trang 6

3.2 Thực trạng về tình hình áp dụng chế định thời hiệu khởi kiện về thừa kế trong những năm gần đây .52 3.3 Một số bất cập trong quy định pháp luật hiện hành liên quan đến chế định thời hiệu khởi kiện 57 3.3.1 Thời điểm để bắt đầu tính thời hiệu khởi kiện về thừa kế chưa rõ ràng 57 3.3.2 Thời hiệu khởi kiện về thừa kế là quá ngắn 58 3.3.3 Quy định các trường hợp không áp dụng thời hiệu khởi kiện về thừa kế

(tiểu mục Mục 2, Phần I của nghị quyết số 02/2004) khá phức tạp và thiếu cơ sở khoa học 61 3.4 Phương hướng hoàn thiện và một số giải pháp nâng cao hiệu quả của các quy định thời hiệu khởi kiện về thừa kế 64

KẾT LUẬN 68

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 7

LỜI MỞ ĐẦU



1 Tính cấp thiết của đề tài

Như một tất yếu, con người sinh ra, tồn tại cần phải có những lợi ích vật chất

để đáp ứng nhu cầu ăn, mặc, ở… của mình Vì thế, điều duy nhất và cần thiết trước hết mà con người cần phải làm đó là lao động để tạo ra của cải vật chất phục vụ cho chính xã hội nói chung và con người nói riêng Song để biến lao động thành một hoạt động tự giác, phát huy được tính năng động, sáng tạo của người lao động thì xã hội phải quan tâm tới lợi ích của họ Chính vì thế, chế định quyền thừa kế nói chung và chế định thời hiệu khởi kiện về thừa kế nói riêng ra đời là một trong những phương thức pháp lý cần thiết để bảo toàn và gia tăng tích lũy của cải trong xã hội

Trong bất kỳ chế độ xã hội có giai cấp nào, vấn đề thừa kế cũng có vị trí quan trọng trong các chế định pháp luật, là hình thức pháp lý chủ yếu để bảo vệ các quyền của công dân, trong chế định thừa kế thì chế định thời hiệu khởi kiện về thừa

kế đã trở thành một chế định không thể thiếu được đối với đời sống của mỗi cá nhân, gia đình, cộng đồng xã hội Một khi pháp luật đã cho mọi người một quyền năng nhất định đó là quyền khởi kiện thì mọi người cần phải tuân thủ đúng những quy định trong khoảng thời gian được phép thực hiện điều đó; và pháp luật dân sự

về thời hiệu khởi kiện đã cho phép những người thừa kế khởi kiện về quyền thừa kế của mình, cũng như cho phép những chủ nợ có quyền khởi kiện các người thừa kế, thực hiện các nghĩa vụ về tài sản do người chết để lại trong khoảng thời gian luật định Tuy nhiên, trong bối cảnh hội nhập, với thực trạng nền kinh tế thị trường và xây dựng Nhà nước pháp quyền thì vấn đề tài sản thuộc sở hữu cá nhân ngày càng phong phú, thừa kế di sản cũng nảy sinh nhiều dạng tranh chấp phức tạp bởi những rắc rối về thời hiệu khởi kiện về thừa kế Trong một số trường hợp, xuất phát từ từ tranh chấp về thừa kế mà các gia đình ly tán, cha mẹ từ mặt con, anh em thù hận nhau…gây nên tình trạng bất ổn trong đời sống sinh hoạt của mỗi gia đình, cộng đồng và xã hội Hàng năm toà án nhân dân các cấp đã thụ lý và giải quyết hàng ngàn vụ án thừa kế Nhiều vụ tranh chấp thừa kế phải xét xử nhiều lần mà tính thuyết phục không cao Có những bản án quyết định của toà án vẫn bị coi là chưa

"thấu tình đạt lý"

Sở dĩ còn tồn tại những bất cập đó là do nhiều nguyên nhân trong đó phải kể đến là do các quy định pháp luật về thời hiệu khởi kiện khởi kiện về thừa kế chung chung, mang tính chất khung, chưa chi tiết, chưa rõ ràng, văn bản hướng dẫn thi hành

Trang 8

cho từng vấn đề cụ thể thì lại thiếu cơ sở khoa học Điều này dẫn đến pháp luật về thời hiệu khởi kiện về thừa kế hiện hành không thể trù liệu hết những trường hợp, tình huống xảy ra trên thực tế Mặt khác, trong quá trình áp dụng chế định thời hiệu khởi kiện về thừa kế còn nhiều quan điểm trái ngược nhau, nên khi áp dụng vào thực tế xảy

ra tình trạng không nhất quán trong cách hiểu cũng như cách giải quyết Điều đó đã xâm phạm quyền được hưởng thừa kế của công dân, quyền yêu cầu thực hiện nghĩa vụ

do người chết để lại, điều này xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của những người thừa kế cũng như các chủ nợ

Trong thời gian gần đây nhiều văn kiện của Đảng như Nghị quyết 48 về chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật đến năm 2010, Nghị quyết số 08 của Bộ chính trị về một số nhiệm vụ trọng tâm của công tác cải cách tư pháp trong thời gian tới, đã xác định rõ nhiệm vụ, mục tiêu, sự cần thiết phải hoàn thiện hệ thống pháp luật trong thời kỳ đổi mới, trong đó có pháp luật về thừa kế nói chung

và thời hiệu khởi kiện về thừa kế nói riêng

Xuất phát từ những lý do trên, người viết đã chọn đề tài: “Thời hiệu khởi kiện

về thừa kế theo quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành- Lý luận và thực tiễn”

để làm đề tài nghiên cứu khoa học của mình Đây là một đề tài có ý nghĩa quan trọng cấp bách cả về phương diện lý luận cũng như thực tiễn

2 Mục đích nghiên cứu của đề tài

Việc nghiên cứu đề tài “Thời hiệu khởi kiện về thừa kế theo quy định của

pháp luật Việt Nam hiện hành- Lý luận và thực tiễn” nhằm làm sáng tỏ những quy

định của pháp luật có liên quan đế chế định thời hiệu khởi kiện về thừa kế và đánh giá thực trạng việc áp dụng những quy định này trong cuộc sống thường nhật Trên

cơ sở đó, nêu lên những quan điểm, giải pháp nhằm khắc phục những bất cập trong việc áp dụng pháp luật về thời hiệu khởi kiện về thừa kế trong giai đoạn hiện nay Luận văn là một công trình nghiên cứu một cách tổng quát các vấn đề có liên quan đến chế định về thời hiệu khởi kiện về thừa kế qua các giai đoạn lịch sử, để phân tích đưa ra những nhận định, đánh giá nhằm làm sáng tỏ quá trình phát triển

và thực trạng áp dụng của pháp luật Việt Nam qua các giai đoạn cụ thể Từ những nhận xét, đánh giá sự phát triển và thực trạng áp dụng pháp luật thời hiệu khởi kiện

về thừa kế ở Việt Nam, tham khảo một số quan điểm của nhà luật học, Thẩm phán… Luận văn đã đưa ra các quan điểm, giải pháp cụ thể nhằm khắc phục những bất cập trong những quy phạm pháp luật hiện hành có liên quan và thực tiễn áp dụng của chế định này

Trang 9

Để thực hiện mục tiêu trên, luận văn có những nhiệm vụ sau:

Thứ nhất, tìm ra cơ sở lý luận có liên quan đến chế định thời hiệu khởi kiện

về thừa kế Dựa trên cơ sở lý luận này, vận dụng nó vào việc phân tích và áp dụng quy định của pháp luật có liên quan đến chế định thời hiệu khởi kiện về thừa kế trong thực tiễn

Thứ hai, phân tích quá trình phát triển và thực trạng áp dụng pháp luật thời

hiệu khởi kiện về thừa kế ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay Qua đó nhận xét, đánh giá những ưu điểm, nhược điểm của pháp luật thời hiệu khởi kiện về thừa kế hiện hành, rút ra nguyên nhân của hạn chế

Thứ ba, nêu lên sự cần thiết khách quan, quan điểm, tiêu chí cũng như giải

pháp cụ thể có tính khả thi nhằm khắc phục những bất cập trong việc áp dụng quy định của chế định này

3 Phạm vi nghiên cứu đề tài

Việc nghiên cứu đề tài được xác định trong phạm vi các quy phạm pháp luật Việt Nam có liên quan đến chế định thời hiệu khởi kiện về thừa kế từ năm 1945 đến nay, nhưng đặc biệt tập trung nghiên cứu các quy phạm pháp luật về thời hiệu khởi kiện về thừa kế hiện hành Tuy nhiên, do trong lĩnh vực về thừa kế nói chung

và thời hiệu khởi kiện về thừa kế nói riêng rất phức tạp nên người viết chỉ tập trung nghiên cứu các quy phạm pháp luật có liên quan đến chế định thời hiệu khởi kiện

về thừa kế trong nước, các bất cập trong việc áp dụng các quy định này và tìm ra giải pháp nhằm khắc phục các bất cập đó

4 Phương pháp nghiên cứu đề tài

Để hoàn thành luận văn người viết chủ yếu sử dụng một số phương pháp nghiên cứu như sau:

*Phương pháp phân tích, tổng hợp: Người viết dựa trên các điều khoản của

pháp luật về thời hiệu khởi kiện về thừa kế để phân tích nó ra thành những yếu tố đơn giản để nghiên cứu và làm sáng tỏ vấn đề, sau đó tổng hợp các vấn đề có liên quan được phân tích

*Phương pháp so sánh, đối chiếu: Người viết vận dụng phương pháp này để

so sánh những điểm giống nhau cũng như khác nhau của pháp luật về thời hiệu khởi kiện về thừa kế qua các thời kỳ Bên cạnh đó, đối chiếu giữa lý luận và thực tiễn để tìm ra và giải quyết những hạn chế, bất cập trong chế định này

*Phương pháp thu thập nghiên cứu tài liệu: Thu thập và nghiên cứu tài liệu

là một công việc quan trọng trong bất kỳ một hoạt động nghiên cứu nào, để thuận

Trang 10

tiện cho việc nghiên cứu đề tài, người viết đã tiếp thu cũng như là thu thập từ nhiều tài liệu khác nhau như: sách bình luận khoa học về thừa kế, giáo trình, tạp chí… để

hỗ trợ cho trong quá trình nghiên cứu

kế, địa điểm mở thừa kế, lịch sử phát triển chế định về thời hiệu khởi kiện về thừa

kế từ năm 1945 đến nay… dựa vào lý luận cơ bản này, người viết phân tích các quy định pháp luật thực định, áp dụng tương tự pháp luật và nêu lên một số phương hướng khắc phục những bất cập của luật thực định

* Chương 2 Thời hiệu khởi kiện về thừa kế trong pháp luật Việt Nam hiện hành

Chương này được xem là nền tảng của luận văn, trong chương này người viết phân tích chi tiết quy định của pháp luật hiện hành đến các vấn đề cần thiết như: thời hiệu khơi kiện về quyền thừa kế của người thừa kế, thời hiệu kiện để yêu cầu người thừa kế thực hiện nghĩa vụ về tài sản của người chết để lại,các trường hợp không áp dụng thời hiệu khởi kiện về thừa kế… Ngoài ra, người viết còn phân tích chế định thời hiệu khởi kiện về thừa kế quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật hiện hành

* Chương 3 Thực tiễn áp dụng các quy định của pháp luật về thời hiệu khởi kiện về thừa kế

Trong chương 3 người viết chủ yếu nêu lên những tiến tiến bộ cũng như những bất cập về chế định thời hiệu khởi kiện về thừa kế, đồng thời nêu ra thực trạng và tình hình áp dụng chế định thời hiệu khởi kiện về thừa kế trong những năm gần đây Dựa trên những hạn chế bất cập cũng như thực tiễn áp dụng chế định thời hiệu khởi kiện về thừa kế người viết tìm ra những giải pháp thích hợp và hữu ích để khắc phục những điểm còn hạn chế, chưa phù hợp của luật thực định với sự phát triển của xã hội hiện nay

Trang 11

CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ THỪA KẾ VÀ THỜI HIỆU KHỞI KIỆN

VỀ THỪA KẾ 1.1 Những vấn đề chung về thừa kế

1.1.1 Khái niệm về thừa kế và quyền thừa kế

1.1.1.1 Khái niệm thừa kế

Thừa kế, với ý nghĩa là một phạm trù kinh tế có mầm móng và xuất hiện ngay trong thời kì sơ khai của xã hội loài người Ở thời kỳ này, việc thừa kế nhằm di chuyển tài sản của người chết cho những người còn sống được tiến hành dựa trên quan hệ huyết thống và phong tục tập quán riêng của từng bộ lạc, thị tộc quyết định

Nghiên cứu về thừa kế Ăng Ghen viết “Theo chế độ mẫu quyền, nghĩa là chừng nào

mà huyết tộc chỉ kể về bên mẹ và theo phong tục thừa kế nguyên thủy trong thị tộc chết Tài sản phải để lại trong thị tộc, vì tài sản để lại có giá trị lớn, nếu lâu nay trong thực tiễn có lẽ người ta vẫn trao tài sản đó đó cho những bà con thân thích nhất, nghĩa là trao cho những người cùng huyết tộc với người”1 Quan hệ thừa kế là một quan hệ pháp luật, xuất hiện đồng thời với quan hệ sở hữu và phát triển cùng với sự phát triển của xã hội loài người Do vậy, sở hữu cũng là một yếu tố khách quan xuất hiện ngay từ khi có xã hội loài người và cùng với thừa kế, chúng phát triển cùng với xã hội loài người

Ở nước ta, thừa kế là một trong những vấn đề lớn nhất của pháp luật dân sự

Bộ luật Dân sự năm 2005 của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã dành hẳn phần thứ tư gồm 5 chương để nói về nó (chưa kể các điều luật liên quan đến thừa kế quyền sử dụng đất); các nghiên cứu trong luật thực định luôn chiếm tỷ trọng cao trong tổng “khối lượng” công trình nghiên cứu luật học dân sự Chính vì thừa

kế được điều chỉnh bởi những quy phạm pháp luật nên thừa kế trở thành một phạm trù pháp lý mang tính chất chủ quan của các nhà lập pháp và nó bị ảnh hưởng bởi điều kiện kinh tế, xã hội, chính trị, văn hóa, tư tưởng của từng thời kỳ Qua đây ta

có thể hiểu rằng thừa kế là sự chuyển quyền sở hữu di sản của người chết cho người

thừa kế Ngoài ra, từ điển tiếng việt cũng đã định nghĩa “Thừa kế là được hưởng tài

sản, của cải do người chết để lại cho”2, điều này đã nói lên thừa kế có nghĩa là tiếp nối, tiếp tục - người sống thừa hưởng tài sản của người chết và việc thừa kế chỉ được thực hiện khi người có tài sản chết

1

Ăng Ghen, “Nguồn gốc gia đình của chế độ tư hữu và Nhà nước” Nxb Sự Thật, Hà Nội, 1961 Tr.79

2 Viện ngôn ngữ học, Từ điển Tiếng việt, Nxb Đà Nẵng, Trung tâm từ điển Việt Nam, Hà Nội 2000,

tr.972

Trang 12

1.1.1.2 Khái niệm quyền thừa kế

Như đã phân tích thừa kế là chế định pháp luật dân sự, là tổng hợp các quy phạm pháp luật điều chỉnh việc chuyển dịch tài sản của người chết cho người khác theo di chúc hoặc theo trình tự nhất định, đồng thời quy định phạm vi quyền, nghĩa

vụ và phương thức bảo vệ các quyền và nghĩa vụ của người thừa kế Chủ thể của quan hệ thừa kế bao gồm người để lại di sản và người thừa kế Người có tài sản khi chết gọi là người để lại di sản, người được hưởng tài sản của người chết gọi là người thừa kế

Khái niệm quyền thừa kế là một phạm trù pháp luật mà nội dung của nó xác định phạm vi quyền và nghĩa vụ của các chủ thể trong lĩnh vực thừa kế Theo điều

631 Bộ luật Dân sự năm 2005 quy định về quyền thừa kế của cá nhân như sau: “Cá

nhân có quyền lập di chúc để định đoạt tài sản của mình; để lại tài sản của mình cho người thừa kế theo pháp luật; hưởng di sản theo di chúc hoặc pháp luật.”3

Xuất phát điều luật này ta có thể hiểu quyền thừa kế như sau: “Quyền thừa kế là một

chế định pháp luật dân sự, là tổng hợp các quy phạm pháp luật điều chỉnh việc chuyển dịch tài sản và quyền sở hữu tài sản của người chết cho người khác theo di chúc hoặc theo pháp luật, đồng thời quy định phạm vi quyền, nghĩa vụ và phương thức bảo vệ các quyền và nghĩa vụ đó” Ngoài ra, dưới góc độ thu hẹp, quyền thừa

kế được hiểu là quyền năng để người đó có quyền lập di chúc để định đoạt tài sản của mình, để lại tài sản của mình cho người thừa kế theo pháp luật, hưởng theo di sản theo di chúc hoặc pháp luật Như vậy, quyền để lại di sản của người có tài sản cho người thừa kếvà quyền hưởng di sản thừa kế là hai nội dung cơ bản của quyền thừa kế được pháp luật công nhận và bảo vệ

1.1.2 Các nguyên tắc của quyền thừa kế

1.1.2.1 Nguyên tắc pháp luật bảo hộ quyền thừa kế của cá nhân và bình đẳng

về thừa kế

*Nguyên tắc pháp luật bảo hộ quyền thừa kế của các nhân:

Quan hệ thừa kế là một quan hệ xuất hiện đồng thời với quan hệ sở hữu và đồng thời có mối quan hệ mật thiết với quan hệ sở hữu, điều này được thể hiện ở chỗ: nếu quyền sở hữu là tiền đề để quyền thừa kế phát sinh thì ngược lại, quyền thừa kế là phương tiện để duy trì và cũng cố và phát triển quyền sở hữu tài sản Tại

Điều 58 Hiến pháp năm 1992 quy định “Nhà nước bảo hộ quyền sở hữu hợp pháp

và quyền thừa kế của công dân” Điều này cho thấy rằng quyền sở hữu và quyền

3

Xem Điều 163, Bộ luật Dân sự năm 2005

Trang 13

thừa kế của cá nhân được Nhà nước bảo hộ một cách tuyệt đối Ngay từ điều đầu tiên trong phần thừa kế (Điều 631 Bộ luật sự năm 2005) đã đưa ra nguyên tắc chung

nhất, đó là “Quyền thừa kế của cá nhân” Trên cơ sở của Điều 631 Bộ luật Dân sự

năm 2005 đã thể hiện rõ hơn về nguyên tắc bảo hộ quyền thừa kế của cá nhân Nguyên tắc này đã thể hiện sự bảo hộ của Nhà nước đối với cá nhân trên cả hai phương diện là quyền để lại di sản và quyền hưởng di sản thừa kế

Phương diện thứ nhất: Quyền để lại di sản theo ý chí của cá nhân bằng cách lập di chúc Điều này được hiểu rằng cá nhân có quyền lập di chúc để định đoạt tài sản của mình và bằng di chúc cá nhân có thể để lại di sản cho những người mà cá nhân đó muốn người đó tiếp tục quản lý sử dụng tài sản của mình khi mình chết mà không ai được quyền ngăn cản, đe dọa, lừa dối… và nếu như họ không muốn viết di chúc là do ý chí của họ hoặc chưa thể viết di chúc vì những nguyên nhân khách quan, bất khả kháng thì họ có thể để lại tài sản bằng con đường pháp luật Nhà nước tôn trọng ý chí, quyền định đoạt hay không định đoạt của người để lại di sản Chính phương diện này Nhà nước đã tạo mọi điều kiện để cá nhân có quyền để lại

di sản theo di chúc hoặc theo pháp luật tùy vào từng trường hợp có thể xảy ra trong cuộc sống

Phương diện thứ hai: Quyền được hưởng di sản thừa kế của cá nhân theo di chúc hoặc theo pháp luật Điều này có thể hiểu rằng, khi cá nhân được người để lập

di chúc cho hưởng di sản thì không ai có quyền hạn chế quyền được hưởng di sản của họ (trừ trường hợp người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc)4,

và nếu như người chết không muốn định đoạt tài sản bằng di chúc cho họ thì họ có quyền hưởng di sản theo pháp luật nếu họ thuộc hàng thừa kế theo pháp luật của người chết Ta thấy rằng, đây là phương diện bảo hộ quyền thừa kế của người thừa

kế đó là quyền được hưởng di sản theo di chúc hoặc theo quy định của pháp luật và nếu như người thừa kế không muốn nhận di sản thừa kế vì một số lý do nào đó thì

họ có quyền từ chối nhận di sản thừa kế theo quy định của Bộ luật Dân sự năm

4

Điều 669, Bộ luật Dân sự năm 2005:

Người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc

Những người sau đây vẫn được hưởng phần di sản bằng hai phần ba suất thừa kế theo pháp luật, nếu di sản được chia theo pháp luật, trong trường hợp họ không được người lập di chúc cho hưởng di sản hoặc chỉ cho hưởng ít hơn hai phần ba suất đó, trừ khi họ là những người từ chối nhận di sản theo quy định tại Điều

642 hoặc họ là những người không có quyền hưởng di sản theo quy định tại khoản 1, Điều 643 của Bộ luật này:

1 Con chưa thành niên, cha, mẹ, vợ, chồng:

2 Con đã thành niên không có khả năng lao động

Trang 14

20055 Điều này đồng nghĩa với việc nếu như những người thừa kế không từ chối nhận di sản thì họ coi như đồng ý nhận thừa kế và không ai được phép cản trở việc nhận thừa kế của họ

* Nguyên tắc bình đẳng về quyền thừa kế của cá nhân:

Nguyên tắc này là sự cụ thể hoá một phần các nguyên tắc cơ bản của Bộ luật Dân sự Đó là quyền bình đẳng giữa các chủ thể của quan hệ pháp luật dân sự trong khi xác lập, thực hiện quyền và nghĩa vụ dân sự6 Tại Điều 52 Hiến pháp năm 1992

quy định: “Mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật”, dựa vào nguyên tắc hiến

định này, Bộ luật Dân sự năm 2005 đã thể hiện thành một nguyên tắc cơ bản trong quan hệ pháp luật thừa kế, bắt buộc các chủ thể tham gia quan hệ thừa kế phải tuân

theo Nguyên tắc này cơ bản được thể hiện tại Điều 632 như sau: “Mọi cá nhân đều

bình đẳng về quyền để lại tài sản của mình cho người khác và hưởng quyền di sản theo di chúc hoặc theo pháp luật”

Theo nguyên tắc này thì mọi cá nhân không phân biệt nam, nữ, tuổi tác, thành phần, tôn giáo, địa vị chính trị, xã hội… đều có thể để lại tài sản của mình cho người khác theo di chúc hoặc theo pháp luật Như vậy có nghĩa là mọi người đều có thể lập di chúc để định đoạt tài sản của mình cho những người thừa kế và không phân biệt độ tuổi, năng lực hành vi… họ đều có quyền hưởng thừa kế Vợ chồng đều được thừa kế của nhau, phụ nữ và nam giới, con trai, con gái đều được hưởng thừa kế ngang nhau theo quy định của pháp luật

Nguyên tắc này thể hiện sự tiến bộ hơn so với các quy định về thừa kế vào thời Pháp thuộc Một điển hình là theo Điều 346 Dân luật Bắc kì và Điều 341 Dân luật

Trung kỳ quy định: “Nếu chồng chết trước thì người vợ chỉ có quyền hưởng dụng

tài sản riêng của chồng, khi không còn người thừa kế nào bên nội, bên ngoại của chồng” Và “Nếu người vợ góa tái giá, thì tài sản riêng của chồng phải trả lại nhà chồng, tài sản riêng của vợ thì được mang theo đi, còn tài sản chung của vợ chồng

5

Điều 642, Bộ luật Dân sự năm 2005: Từ chối nhận di sản:

1 Người thừa kế có quyền từ chối nhận di sản, trừ trường hợp việc từ chối nhằm trốn tránh việc thực hiện nghĩa vụ tài sản của mình đối với người khác

2 Việc từ chối nhận di sản phải được lập bằng văn bản; người từ chối phải báo cho những người thừa kế khác, người được gia cho nhiệm vụ phân chia di sản, cơ quan công chứng hoặc Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi có địa điểm mở thừa kế về việc từ chối nhận di sản

3 Thời hạn từ chối di sản thừa kế là sáu tháng, kể từ ngày mở thừa kế Sau sáu tháng kể từ ngày mở thừa

kế nếu không có từ chối nhận di sản thì được coi là đồng ý nhận thừa kế

6

Điều 5, Bộ luật Dân sự năm 2005: Nguyên tắc bình đẳng

Trong quan hệ dân sự, các bên đều bình đẳng, không được lấy lý do khác biệt về dân tộc, giới tính, thành phần xã hội, hoàn cảnh kinh tế, tín ngưỡng, tôn giáo, trình độ văn hóa, nghề nghiệp để đối xử không bình đẳng với nhau

Trang 15

phải để lại cho con” (Điều 360 Dân luật Bắc kì và Điều 359 Dân luật Trung kì)

Như vậy, ta thấy rằng dưới thời Pháp thuộc có sự bất bình đẳng giữa nam và nữ, sự bất bình đẳng giữa vợ và chồng trong quan hệ thừa kế một cách rõ rệt

Nguyên tắc bình đẳng về thừa kế thể hiện nguyên tắc Hiến định “Mọi người

đều bình đẳng trước pháp luật” Mục đích của nguyên tắc này nhằm bảo đảm cho

mọi thanh viên trong gia đình bình đẳng với nhau, cùng nhau đoàn kết, xây dựng gia đình ấm no hạnh phúc phù hợp với nguyện vọng của đông đảo các tầng lớp nhân dân, cũng như phù hợp với phong tục, tập quán, truyền thống dân tộc của nhân dân

ta

1.1.2.2 Nguyên tắc người thừa kế phải còn sống vào thời điểm mở thừa kế

Với đặc trưng cơ bản của sự thừa kế là sự tiếp nối về quyền sở hữu tài sản giữa người sống với người chết nên người thừa hưởng di sản đương nhiên phải là người còn sống Việc dịch chuyển di sản từ người chết này sang người chết khác là không thực hiện được Tiếp theo là việc người thừa kế đó phải còn sống ở thời điểm mở thừa kế hoặc đã thành thai vào thời điểm mở thừa kế với điều kiện là phải được sinh

ra và còn sống mới được hưởng di sản thừa kế7 Trong trường hợp người thừa kế bị tuyên bố là đã mất tích hoặc chết nhưng sau đó người đó còn sống trở về thì người

đó vẫn được coi là còn sống và được quyền hưởng di sản sau khi có yêu cầu Tòa án hủy bỏ tuyên bố mất tích hoặc đã chết

Người thừa kế là người có khả năng được hưởng di sản theo quy định của pháp luật và là người phải còn sống vào thời điểm mở thừa kế để được hưởng di sản Nguyên tắc này đã loại trừ những người có quyền hưởng di sản của nhau nhưng đều chết trong cùng một thời điểm hoặc được coi là chết trong cùng thời điểm không thể xác được người nào chết trước thì họ không được thừa kế di sản của nhau Những người theo quy định tại khoản 1 Điều 643 Bộ luật Dân sự năm 20058, cũng không

7

Điều 635, Bộ luật Dân sự năm 2005: Người thừa kế

Người thừa kế là cá nhân phải còn sống vào thời điểm mở thừa kế hoặc sinh ra và còn sống sau thời điểm mở thừa kế nhưng thành thai trước khi người để lại di sản chết Trong trường hợp người thừa kế theo di chúc là cơ quan, tổ chức thì phải là cơ quan, tổ chức tồn tại vào thời điểm mở thừa kế

8 Điều 643, Bộ luật Dân sự năm 2005: Người không được quyền hưởng di sản;

1 Những người sau đây không được quyền hưởng di sản:

a Người bị kết án về hành vi cố ý xâm phạm tính mạng, sức khỏe hoặc về hành vi ngược đãi nghiêm trọng, hành hạ người để lại di sản, xâm phạm nghiêm trọng danh dự, nhân phẩm của người đó;

b Người xâm phạm nghiêm trọng nghĩa vụ nuôi dưỡng người để lại di sản;

c Người bị kết án về hành vi cố ý xâm phạm tính mạng người thừa kế khác nhằm hưởng một phần hoặc toàn bộ di sản mà người thừa kế đó có quyền hưởng;

d Người có hành vi lừa dối, cưỡng ép, hoặc ngăn cản người để lại di sản trong việc lập di chúc; giả mạo di chúc; sửa chữa di chúc, hủy di chúc nhằm hưởng một phần hoặc toàn bộ di sản trái với ý chí của người để lại di sản

Trang 16

phải là người thừa kế theo pháp luật do đã bị tước quyền thừa kế Những người từ chối nhận di sản hợp pháp cũng không được hưởng thừa kế di sản (có thể là từ chối theo di chúc hoặc theo pháp luật hoặc từ chối theo di chúc và pháp luật) Người thừa kế theo quy định của Bộ luật Dân sự không thể nhường quyền hưởng di sản cho người thừa kế khác, như đã từng được quy định tại Điều 31 Pháp lệnh Thừa kế năm 19909

Bên cạnh đó, song song với việc người thừa kế phải còn sống vào thời điểm

mở thừa kế thì tổ chức cũng phải tồn tại vào thời điểm mở thừa kế Đó là trường hợp người thừa kế là tổ chức được hưởng thừa kế theo di chúc, nếu như tổ chức bị không còn tồn tại ở thời điểm mở thừa kế thì cũng không được quyền hưởng di sản thừa kế từ di chúc của người chết Theo quy định của Bộ luật Dân sự năm 2005 các pháp nhân cùng loại có thể bị chấm dứt khi sáp nhập, hợp nhất, chia.10 Trong những trường hợp này, pháp nhân không chấm dứt tuyệt đối mà quyền và nghĩa vụ của nó được chuyển giao cho các pháp nhân khác Mặc dù, quyền và nghĩa vụ không chấm dứt tuyệt đối nhưng đối với nhưng trường hợp này thì pháp nhân không có quyền hưởng thừa kế, bởi một khi những pháp nhân này bị sáp nhập, hợp nhất hoặc bị chia thì xem như bị chấm dứt theo khoản 1, Điều 99 Bộ luật Dân sự năm 200511 Điều này có nghĩa là, nếu vào thời điểm mở thừa kế mà pháp nhân bị sáp nhập, hợp nhất hoặc bị chia thì xem như không còn tồn tại vào thời điểm mở thừa kế, điều này đồng nghĩa với việc pháp nhân sẽ không được quyền hưởng di sản thừa kế Mặt khác, pháp nhân cũng có thể bị chấm dứt theo quy định về giải thể hoặc phá sản Khi đó, pháp nhân chấm dứt tuyệt đối Và dĩ nhiên, vào thời điểm mở thừa kế nếu

2 Những người quy định tại khoản 1 Điều này vẫn được hưởng di sản, nếu người để lại di sản đã biết hành vi của người đó, nhưng vẫn cho họ hưởng di sản theo di chúc

9 Điều 31, Pháp lệnh về thừa kế năm 1990: Khước từ quyền hưởng di sản

1 Người thừa kế có thể khước từ quyền hưởng di sản, trừ trường hợp việc khước từ đó nhằm trốn tránh việc thực hiện nghĩa vụ của bản thân về tài sản Người thừa kế có thể nhường quyền hưởng di sản cho người thừa kế khác

2 Thời hạn khước từ quyền hưởng di sản là sáu tháng, kể từ ngày người thừa kế biết thời điểm mở thừa

Khoản 1, Điều 99 Bộ luật Dân sự năm 2005:

1 Pháp nhân chấm dứt trong các trường hợp sau đây:

a) Hợp nhất, sáp nhập, chia, giải thể pháp nhân theo quy định tại các điều 94, 95, 96 và 98 của Bộ luật này;

b) Bị tuyên bố phá sản theo quy định của pháp luật về phá sản

Trang 17

như pháp nhân bị giải thể hoặc phá sản thì cũng sẽ không được hưởng di sản thừa

kế theo di chúc của người chết

1.1.2.3 Nguyên tắc người thừa kế có các quyền và nghĩa vụ về tài sản do người chết để lại

Pháp luật Việt Nam không quy định về độ tuổi và năng lực nhận di sản thừa kế

mà chỉ quy định quyền của cá nhân được hưởng di sản và thực hiện một số nghĩa vụ nhất định về tài sản Do vậy, người có năng lực hành vi hay không có năng lực hành

vi dân sự đều được nhận di sản thừa kế theo pháp luật phần ngang nhau nếu họ cùng thuộc hàng thừa kế được hưởng Tuy nhiên, song song với quyền thừa kế của người thừa kế là các nghĩa vụ về tài sản do người chết để lại

Người thừa kế có các quyền và nghĩa vụ về tài sản do người chết để lại Người hưởng thừa kế có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ do người chết để lại Theo quy định này, việc thực hiện nghĩa vụ do người chết để lại thuộc về người hưởng di sản, nghĩa vụ về tài sản do người chết để lại mà người hưởng di sản thực hiện được hiểu

là người thừa kế kế quyền tài sản đồng thời phải thực hiện nghĩa vụ về tài sản của người chết để lại trong phạm vi di sản thừa kế Di sản thừa kế là những tài sản của người chết để lại được chia cho những người có quyền hưởng theo di chúc hoặc theo pháp luật Tuy nhiên, những quyền tài sản và nghĩa vụ tài sản gắn liền với nhân thân người chết thì không phải là di sản thừa kế, vì nghĩa vụ gắn liền với nhân thân người chết chấm dứt cùng thời điểm mở thừa kế Người hưởng di sản theo quy định của pháp luật phải chỉ thanh toán nghĩa vụ về tài sản của người chết để lại trong phạm vi di sản của người đó, khi nhận thừa kế thì các chủ nợ của người chết cũng không có quyền đòi quá số di sản để lại Và người thừa kế phải có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ về tài sản do người chết để lại theo Điều 637 Bộ luật Dân sự năm

2005

Tóm lại: Quyền luôn luôn đi kèm với nghĩa vụ Do đó những người thừa kế có

quyền thừa hưởng di sản để lại từ người chết theo di chúc hoặc theo pháp luật, phần

di sản họ được hưởng có thể bằng nhau hoặc không bằng nhau tùy theo ý chí của người chết Đồng thời họ có nghĩa vụ thực hiện nghĩa vụ tài sản do người chết để lại theo Điều 637 Bộ luật Dân sự năm 200512, nghĩa vụ tài sản họ phải thực hiện sẽ tùy

12

Điều 637, Bộ luật Dân sự năm 2005: Thựa hiện nghĩa vụ do người chết để lại:

1 Những người hưởng thừa kế có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ tài sản trong phạm vi di sản do người chết để lại, trừ trường hợp có thỏa thuận khác

2 Trong trường hợp di sản chưa được chia thì nghĩa vụ tài sản do người chết để lại được người quản lý

di sản thực hiện theo thỏa thuận của những người thừa kế

Trang 18

theo phần mà họ được hưởng Nếu người thừa kế khước từ hoặc không được nhận phần di sản để lại của người chết thì họ có quyền từ chối thực hiện nghĩa vụ tài sản của người chết

1.1.3 Khái quát về di sản thừa kế

1.1.3.1 Khái niệm về di sản thừa kế

Cùng với sự phát triển nền kinh tế - xã hội của Việt Nam ta trong những năm vừa qua, với những chính sách đổi mới đất nước, phát triển nền kinh tế nhiều thành phần… đến nay thành phần, khối lượng, giá trị tài sản thuộc quyền sở hữu tư nhân – nguồn của di sản thừa kế ngày một phong phú, nhiều hơn và lớn hơn Theo quy

định tại Điều 163 Bộ luật Dân sự năm 2005: “Tài sản bao gồm vật, tiền, giấy tờ có

giá và các quyền tài sản” Từ quy định này ta có thể hiểu rằng tài sản có khá nhiều

hình thức tồn tại, chính vì thế di sản thừa kế cũng tồn tại ở nhiều hình thức khác nhau trong thực tế

Tuy nhiên, về di sản thừa kế có nhiều cách hiểu khác nhau, thậm chí ngay trong pháp luật qua mỗi thời kì cũng quy định khác nhau Theo hướng dẫn của Thông tư số 81/TANDTC ngày 24/7/1982 của Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn giải quyết các tranh chấp về thừa kế tại mục II thì di sản thừa kế không những bao gồm những tài sản, quyền tài sản mà còn bao gồm nghĩa vụ của một người đã chết được dịch chuyển cho người thừa kế hợp pháp của người đó Cho đến khi Bộ luật Dân sự năm 1995 ra đời, di sản thưa kế đã được quy định cụ thể tại điều tại Điều

637 như sau: “Di sản thừa kế bao gồm tài sản riêng của người chết, phần tài sản

riêng của người chết trong khối tài sản chung với người khác Quyền sử dụng đất cũng thuộc di sản thừa kế và được để lại thừa kế theo quy định tại Phần thứ năm của Bộ luật này”, theo quy định này ta có thể hiểu rằng di sản thừa kế chỉ bao gồm

tài sản, quyền tài sản của người để lại di sản mà không bao gồm những nghĩa vụ tài sản của họ Đến khi Bộ luật dân sự năm 2005 ra đời thì tại Điều 634 đã bỏ quy định

tại đoạn hai của Điều luật tương ứng và chỉ quy định thành một đoạn: “Di sản bao

gồm tài sản riêng của người chết, phần tài sản riêng của người chết trong khối tài sản chung với người khác” Ta có thể liệt kê di sản thừa kế trong quy định này bao

gồm tiền bảo hiểm, quyền sử dụng rừng, quyền sử dụng đất… Điều này không có nghĩa là từ nay pháp luật không thừa nhận quyền sử dụng đất là một di sản Quyền

3 Trong trường hợp di sản đã được chia thì mỗi người thừa kế thực hiện nghĩa vụ tài sản do người chết

để lại tương ứng nhưng không vượt quá phần tài sản mình đã nhận, trừ trường hợp có thỏa thuân khác

4 Trong trường hợp Nhà nước, cơ quan, tổ chức hưởng di sản theo di chúc thì phải thực hiện nghĩa vụ tài sản do người chết để lại như người thừa kế là cá nhân

Trang 19

sử dụng đất vẫn là một loại di sản thừa kế vì theo Bộ luật Dân sự năm 2005 và Luật Đất đai năm 2003 thì quyền sử dụng đất là một loại tài sản và được để lại thừa kế Chính vì thế, Bộ luật Dân sự năm 2005 đã không cần thiết phải quy định kèm thêm

về di sản là quyền sử dụng đất, từ đây ta có thể hiểu di sản thừa kế quy định trong

Bộ luật Dân sự năm 2005 (Điều 634) chỉ bao gồm tài sản và quyền tài sản của người chết để lại mà không bao gồm nghĩa vụ tài sản do người chết để lại

Tóm lại: Di sản thừa kế là toàn bộ tài sản thuộc quyền sở hữu hợp pháp của

người chết để lại cho những người có quyền thừa kế, mà không bao gồm các nghĩa

vụ tài sản của người đó

1.1.3.2 Hình thức tồn tại của di sản thừa kế

Quy định tại Điều 634 Bộ luật Dân sự năm 2005: “Di sản bao gồm tài sản

riêng của người chết, phần tài sản riêng của người chết trong khối tài sản chung với người khác” Theo quy định này ta thấy di sản thừa kế tồn tại dưới hai dạng cơ

bản như sau:

Di sản thừa kế là tài sản riêng của người chết: Tài sản riêng của người chết

là tài sản do người người đó tạo ra bằng thu nhập hợp pháp (như tiền lương, tiền thưởng, tiền trúng thưởng xổ số…) tài sản được tặng cho, được thừa kế, tư liệu sinh

hoạt riêng (như quần áo, giường tủ, xe máy, ô tô,…) Nói tóm lại, “Tài sản riêng

của người chết được xác định khi người đó còn sống, có quyền sở hữu tài sản của mình một cách độc lập và tự mình chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản theo ý chí của riêng mình mà không bị ràng buộc vào ý chí của người khác và chỉ tuân theo pháp luật”13 Hoặc là “Tài sản riêng của người chết là tài sản mà người đó có được

từ các căn cứ xác lập quyền sở hữu hợp pháp”14 Theo quy định tại khoản 1, Điều

212, Bộ luật Dân sự năm 2005 thì tài sản riêng của người chết bao gồm: “Thu nhập

hợp pháp, của cải để dành, nhà ở, tư liệu sinh hoạt, tư liệu sản xuất, vốn, hoa lợi, lợi tức và các tài sản hợp pháp khác của cá nhân là tài sản thuộc hình thức sở hữu

tư nhân Tài sản hợp pháp thuộc hình thức sở hữu tư nhân không bị hạn chế về số lượng, giá trị”

Như vậy, có thể hiểu tài sản riêng của người chết là phần tài sản về phương diện pháp lý không bị chi phối hay phải chịu một ràng buộc nào với các chủ thể khác trong việc chiếm hữu, sử dụng và thực hiện quyền định đoạt Tất cả các tài sản riêng của người chết không phân biệt tư liệu sản xuất hay tư liệu tiêu dùng, không

Trang 20

phân biệt là vật, tiền, giấy tờ có giá hay quyền tài sản nếu thuộc quyền sở hữu hợp pháp của người đó thì đều trở thành di sản thừa kế

Di sản thừa kế là phần tài sản của người chết trong khối tài sản chung với

người khác: Bên cạnh việc quy định tài sản riêng của người chết là di sản thì pháp luật dân sự còn quy định phần di sản của người chết trong khối tài sản chung với người khác Và hiện nay pháp luật quy định sở hữu chung tồn tại dưới hai hình thức

cơ bản là sở hữu chung theo phần và sở hữu chung hợp nhất

Thứ nhất, di sản thừa kế là phần tài sản của người chết trong khối tài sản

chung theo phần với người khác : Khi còn sống người chết là đồng sở hữu chung theo phần đối với tài sản, khi người này chết thì phần quyền tài sản của người này trong khối tài sản chung là di sản thừa kế Và trong thực tế thì có nhiều trường hợp

do nhiều người cùng góp vốn để cùng sản xuất kinh doanh, được thừa kế chung, tặng cho chung… nên có khối tài sản thuộc sở hữu chung của nhiều người và nó tồn tại dưới hình thức sở hữu chung theo phần15 Nếu một trong đồng sở hữu chết thì tài sản thừa kế của người chết là phần tài sản thuộc sở hữu của người đó đã đóng góp trong khối tài sản chung

Thứ hai, di sản thừa kế là phần tài sản của người chết trong khối tài sản chung

hợp nhất: Theo quy định của Bộ luật Dân sự năm 2005 thì ngoài phần sở hữu chung theo phần thì một người cũng có thể là đồng chủ sở hữu trong khối tài sản chung hợp nhất16 Người chết là đồng sở hữu chung hợp nhất tài sản chung với vợ hoặc chồng người chết và khi vợ hoặc chồng chết trước, phần di sản của người chết trước

là chồng hoặc vợ được xác định là ½ giá trị trong tổng giá trị tài sản chung hợp nhất của vợ chồng Ngoài ra, Bộ luật Dân sự năm 2005 còn chia sở hữu chung hợp nhất thành hai loại là sở hữu chung hợp nhất có thể phân chia và sở hữu chung hợp nhất không thể phân chia Đối với tài sản chung hợp nhất có thể phân chia của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân thì khi một bên chết trước thì thì một nữa khối tài sản chung

đó là tài sản của người chết và sẽ được coi là di sản để phân chia thừa kế, còn đối

15

Điều 216, Bộ luật Dân sự năm 2005: sở hữu chung theo phần

1 Sở hữu chung theo phần là sở hữu chung mà trong đó phần quyền sở hữu của mỗi chủ sở hữu được xác định đối với tài sản chung

2 Mỗi chủ sở hữu theo phần có quyền, nghĩa vụ đối với tài sản thuộc sở hữu chung tương ứng với phần quyền sở hữu của mình, trừ trường hợp có thỏa thuận khác

16

Điều 217, Bộ luật Dân sự năm 2005: Sở hữu chung hợp nhất

1 Sở hữu chung hợp nhất là sở hữu chung mà trong đó phần quyền sở hữu của mỗi chủ sở hữu chung không được xác định đối với tài sản chung

Sở hữu chung hợp nhất bao gồm sở hữu chung hợp nhất có thể phân chia và sở hữu chung hợp nhất không phân chia

1 Các chủ sở hữu chung hợp nhất có quyền, nghĩa vụ ngang nhau đối với tài sản thuộc sở hữu chung

Trang 21

với tài sản chung hợp nhất không thể phân chia như: sở hữu chung của cộng đồng (Điều 220 Bộ luật Dân sự năm 2005), sở hữu chung trong nhà chung cư (Điều 225

Bộ luật Dân sự năm 2005)… thì không thể xác định được là di sản thừa kế cho nên khi có một người chết đi thì tài sản đó thuộc quyền sở hữu của những chủ thể còn lại chứ không thể xác định là di sản thừa kế của người chết

Lưu ý: Khi xác định di sản thừa kế, sự cần thiết phải xác định đúng tài sản nào

là di sản thừa kế, loại tài sản nào không phải là di sản thừa kế để tránh những tranh chấp do có sự hiểu lầm bản chất của di sản thừa kế, chẳng hạn như đối với những quyền tài sản gắn liền với nhân thân của người để lại di sản như: quyền của người

để lai di sản khi còn sống được hưởng lương hưu, hưởng trợ cấp thương tật… thì không thuộc di sản thừa kế Bởi vì những quyền này chấm dứt khi người để lại di sản chết và thể chuyển giao được cho những người thừa kế Ngược lại những tài sản

mà người để lại di sản được hưởng từ những quyền nhân thân khi còn sồng thì thuộc di sản thừa kế như: tiền lương hưu, tiền trợ cấp đã được hưởng khi còn sống…

1.1.3.3 Thời điểm xác lập quyền sở hữu đối với di sản thừa kế

Việc xác định thời điểm xác lập quyền sở hữu đối với di sản thừa kế là nội dung có ý nghĩa cả về lý luận lẫn thực tiễn Bởi lẽ, việc xác định thời điểm xác lập quyền sở hữu của người hưởng thừa kế đối với phần di sản thừa kế mà họ được hưởng ảnh hưởng trực tiếp đến việc xác định tổng khối di sản mà người chết để lại Khi người chết chưa xác lập quyền sở hữu đối với phần di sản thừa kế trong khối di sản thừa kế mọi giá trị vật chất của khối di sản bị tiêu hủy, bị giảm giá trị hay gây thiệt hại cho người khác được xác định là quyền và nghĩa vụ chung của tất cả những người hưởng di sản thừa kế Các hệ quả này được xác định là hệ quả của quyền thừa

kế chứ không phải hệ quả của quyền sở hữu Ngược lại, khi người thừa kế đã nhận

và được xác lập quyền sở hữu thì mọi giá trị vật chất phát sinh từ phần di sản đó cũng như mọi rủi ro hay bất lợi cho di sản từ phần di sản đó thuộc về người thừa kế Thêm vào đó, xác định thời điểm xác lập quyền sở hữu đối với di sản thừa kế có nghĩa quan trọng trong việc xem xét tính hợp pháp của các giao dịch liên quan đến

di sản thừa kế Nếu có tranh chấp, cơ quan xét xử có cơ sở để công nhận hay tuyên

bố giao dịch đó vô hiệu, vì chỉ có chủ sở hữu tài sản mới có quyền tài sản thuộc quyền sở hữu của mình

Hiện nay, Bộ luật Dân sự năm 2005 không quy định thời điểm xác lập quyền

sở hữu của người thừa kế đối với phần tài sản mà họ được hưởng trong khối di sản

Trang 22

thừa kế của người chết để lại Vì vậy, việc xác định thời điểm xác lập quyền sở hữu của người thừa kế đối với di sản thừa kế sẽ được áp dụng dựa vào nguyên tắc chung

về thời điểm chuyển quyền sở hữu đối với tài sản được quy định tại Điều 168 Bộ luật Dân sự năm 2005 Theo đó, thời điểm xác lập quyền sở hữu của người người thừa kế từ khi họ nhận được di sản (đối với tài sản mà pháp luật không yêu cầu phải đăng ký quyền sở hữu) hoặc từ khi hoàn tất thủ tục đăng ký quyền sở hữu đối với di sản thừa kế (đối với những tài sản mà pháp luật bắt buộc phải đăng ký quyền sở hữu)17

1.1.4 Thời điểm mở thừa kế và địa điểm mở thừa kế

1.1.4.1 Thời điểm mở thừa kế

Pháp luật dân sự quy định thời điểm mở thừa kế là thời điểm người có tài sản chết (khoản 1, Điều 633 Bộ luật Dân sự năm 2005), việc xác định thời điểm mở thừa kế có ý nghĩa rất quan trọng, vì thời điểm đó xác định được chính tài sản, quyền và nghĩa vụ về tài sản của người để lại di sản gồm có những gì Tuy nhiên, trên thực tế có người chết mà không xác định được ngày người đó chết, pháp luật quy định trường hợp này tại khoản 2 Điều 81 Bộ luật Dân sự năm 2005 Theo đó, ngày chết của người mà tòa án tuyên bố là đã chết bằng một bản án thì thời điểm

mở thừa kế của người này là ngày bản án tuyên bố người này chết có hiệu lực pháp luật Ngoài ra, thời điểm mở thừa kế còn là căn cứ xác định những người thừa kế của người đã chết, vì người thừa kế phải là cá nhân còn sống vào thời điểm mở thừa

kế hoặc sinh ra và còn sống vào thời điểm mở thừa kế nhưng đã thành thai trước khi người để lại di sản chết

Việc xác định chính xác thời điểm mở thừa kế có ý nghĩa rất quan trọng đối với các vấn đề về thừa kế cụ thể như sau:

Thứ nhất, là căn cứ để xác định tài sản và nghĩa vụ về tài sản do người chết để

lại, nhờ vào thời điểm mở thừa kế mà chúng ta có thể xác định di sản của người chết

để lại gồm có những gì và đến khi chia thừa kế còn bao nhiêu Do đó, cần phải xác định chính xác ngày mở thừa kế Ngoài ra, dựa vào thời điểm mở thừa kế mà những người thừa kế có thể yêu cầu những người gây thiệt hại cho di sản thừa kế phải bồi thường thiệt hại

17

Điều 168 Bộ luật Dân sự năm 2005

Thời điểm chuyển quyền sở hữu đối với tài sản

1 Thời điểm chuyển quyền sở hữu đối với bất động sản có hiệu lực kể từ thời điểm đăng ký quyền sở hữu, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác

2 Việc chuyển quyền sở hữu đối với động sản có hiệu lực kể từ thời điểm động sản được chuyển giao, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác

Trang 23

Thứ hai, là căn cứ để xác định những người có quyền hưởng di sản của người

chết Bởi lẽ, theo Điều 635 Bộ luật Dân sự năm 2005 “Người thừa kế là cá nhân

phải còn sống vào thời điểm mở thừa kế hoặc sinh ra và còn sống sau thời điểm mở thừa kế nhưng đã thành thai trước khi người để lại di sản chết Trong trường hợp người thừa kế theo di chúc là cơ quan, tổ chức thì phải là cơ quan tổ chức tồn tại vào thời điểm mở thừa kế” Chính điều này đã nói lên rằng những người có quyền

hưởng thừa kế thì phải còn sống vào thời điểm mở thừa kế, còn đối với tổ chức thì

phải tồn tại vào thời điểm mở thừa kế và đồng thời khẳng định rằng “Trong trường

hợp những người có quyền thừa kế di sản của nhau đều chết cùng thời điểm do không thể xác định được người nào chết trước (sau đây gọi là chết cùng thời điểm) thì họ không được thừa kế di sản của nhau và di sản của mỗi người do người thừa

kế của người đó hưởng, trừ trường hợp thừa kế thế vị quy định tại Điều 677 của Bộ luật này" (Điều 641 Bộ luật Dân sự năm 2005)

Thứ ba, thời điểm người có tài sản chết là thời điểm di chúc phát sinh hiệu lực

pháp luật, di chúc được mang ra thực hiện theo ý chí của người người lập di chúc Chính vì vậy việc xác định thời điểm mở thừa kế rất quan trọng trong việc xác định hiệu lực của di chúc Hơn thế nữa, thời điểm mở thừa kế có vai trò quan trọng trong việc xác định quyền từ chối nhận di sản, vì theo khoản 3 Điều 642 Bộ luật Dân sự năm 2005 thì người thừa kế chỉ có quyền từ chối nhận di sản trong vòng 6 tháng kể

từ ngày mở thừa kế, nếu sau 6 tháng đó mà người thừa kế không từ chối nhận di sản thì xem như đồng ý nhận thừa kế

Thứ tư, thời điểm mở thừa kế là căn cứ để bắt đầu tính thời hiệu khởi kiện về

thừa kế theo quy định tại Điều 645 Bộ luật Dân sự năm 2005 và thời điểm mở thừa

kế còn là thời điểm làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của người thừa kế theo Điều

636: “Kể từ thời điểm mở thừa kế, những người thừa kế có các quyền, nghĩa vụ tài

sản do người chết để lại”

Tóm lại: Thời điểm mở thừa kế giữ một vai trò đặc biệt quan trọng trong việc

xác định các vấn đề liên quan đến thừa kế như trên nên việc xác định chính xác thời điểm mở thừa kế là một việc làm hết sức cần thiết Nếu chúng ta không xác định chính xác thời điểm mở thừa kế sẽ dẫn đến việc xác định không đúng những vấn đề

về thời hiệu Từ đó dẫn đến việc chia thừa kế cho những người không có quyền hưởng di sản thừa kế hoặc bỏ sót những người có quyền thừa kế

Trang 24

1.1.3.2 Địa điểm mở thừa kế

Trong suốt cuộc đời của mỗi người, ai cũng có nhu cầu được sinh sống và cư trú ổn định Tuy nhiên, không phải lúc nào chúng ta cũng xác định được nơi cư trú của họ, có nhiều trường hợp trên thực tế có người sinh sống ở nhiều nơi khác nhau Chính vì vậy, pháp luật đã quy quy định địa điểm mở thừa kế là nơi cư trú cuối cùng của người để lại di sản, vì nơi cư trú cuối cùng thường là nơi có nhiều tài sản, nơi tập trung các giao dịch của người chết, là nơi phát sinh và thực hiện các quyền

và nghĩa vụ về tài sản của người chết Địa điểm mở thừa kế cũng là nơi thuận tiện

để xác định và phân chia di sản Ngoài ra luật còn dự liệu trường hợp “nếu không

xác định được nơi cứ trú cuối cùng thì địa điểm mở thừa kế là nơi có toàn bộ hoặc phần lớn di sản” (khoản 2, Điều 633 Bộ luật Dân sự năm 2005)

Bộ luật Dân sự năm 2005 quy định địa điểm mở thừa kế, vì ở nơi đó thường phải tiến hành những công việc như: kiểm kê ngay tài sản của người đã chết (trong trường hợp cần thiết); thực hiện việc quản lý, thanh toán và phân chia di sản… Việc xác định địa điểm mở thừa kế có ý nghĩa rất quan trọng bởi vì:

Thứ nhất, việc xác định đúng thời điểm mở thừa kế có ý nghĩa quan trọng

trong việc thực hiện và quản lý di sản, kiểm kê tài sản trong những trường hợp cần thiết nhằm ngăn chặn những hành vi phân tán hoặc chiếm đoạt tài sản trong khối di sản

Thứ hai, địa điểm mở thừa kế là nơi thực hiện việc thanh toán nghĩa vụ tài

sản và phân chia tài sản

Thứ ba, địa điểm mở thừa kế còn là nơi thực hiện các thể thức liên quan đến

di sản như việc từ chối nhận di sản (phải báo cho Cơ quan công chứng hoặc Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi có địa điểm mở thừa kế)

Bên cạnh đó, theo pháp luật về tố tụng thì địa điểm mở thừa kế còn có ý nghĩa trong việc xác định tòa án có thẩm quyền giải quyết các tranh chấp về thừa kế Bởi, Tòa án có thẩm quyền giải quyết việc kiện về quyền thừa kế, các tranh chấp di sản

về thừa kế là Tòa án nơi mở thừa kế

1.2 Những vấn đề chung về thời hiệu khởi kiện về thừa kế

1.2.1 Quyền khởi kiện về thừa kế của cá nhân

Pháp luật trên thế giới nói chung và Việt Nam chúng ta nói riêng đều ghi nhận rằng có nhân có quyền yêu cầu công lý can thiệp để bảo vệ quyền lợi của mình và quyền khởi kiện của cá nhân về thừa kế là một trong những quyền cơ bản của cá nhân được pháp luật thừa nhận

Trang 25

Hiện nay, quyền khởi kiện vụ án là một trong những quy định của Bộ luật Tố

tụng dân sự Theo đó, cá nhân, cơ quan, tổ chức có quyền tự mình hoặc thông qua người đại diện hợp pháp khởi kiện vụ án (gọi chung là người khởi kiện) tại tòa án

có thẩm quyền để yêu cầu bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình Như vậy, người thừa kế là người được thừa hưởng tài sản của người chết để lại theo chỉ định trong di chúc hoặc theo quy định của pháp luật thì khi quyền hưởng di sản thừa kế của họ bị xâm phạm thì họ có quyền khởi kiện về thừa kế để bảo vệ lợi ích chính đáng cho họ

1.2.2 Khái niệm thời hiệu và thời hiệu khởi kiện về thừa kế

1.2.2.1 Khái niệm thời hiệu khởi kiện

Xét về phương diện xã hội, thời hiệu là phương tiện được sử dụng nhằm ổn định tình trạng hiện hữu của các quan hệ xã hội sau một thời gian nào đó vì lợi ích của thương mại hay pháp lý Và về mặt pháp lý, việc kiện tụng không thể thực hiện một cách vô hạn định mà cần phải thực hiện trong thời hạn mà nhà lập pháp ấn định Do vậy, Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004 đã định nghĩa về thời hiệu khởi

kiện tại khoản 1 Điều 159 như sau: “Thời hiệu khởi kiện là thời hạn mà chủ thể

được quyền khởi kiện yêu cầu tòa án giải quyết vụ án dân sự bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp bị xâm phạm; nếu thời hạn đó kết thúc thì mất quyền khởi kiện, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác”

Với khái niệm trên thì thời hiệu khởi kiện chính là một chế định pháp lý quy định một khoảng thời gian nhất định để các chủ thể khi có các quyền, lợi ích hợp pháp bị xâm hại (ví dụ chủ sở hữu bị kẻ gian lấy trộm tài sản) hay khi cần xác định một quyền nào đó (ví dụ yêu cầu xác định tư cách thừa kế) thì có quyền yêu cầu đến Toà án, cơ quan Nhà nước có thẩm quyền giải quyết cho mình Việc quy định thời hiệu khởi kiện buộc các đương sự phải ý thức được việc bảo vệ quyền lợi của mình

và sớm có yêu cầu cơ quan có thẩm quyền giải quyết, tránh tình trạng khởi kiện theo ý muốn và khởi kiện quá thời hạn

Theo nguyên tắc tự do ý chí, thời hiệu khởi kiện được coi như là một suy đoán

có tính mặc nhiên theo ý chí của chủ thể đối với quyền lợi Luật suy đoán rằng, người có quyền lợi đã từ bỏ quyền khởi kiện nếu họ không hành động trong thời hạn mà họ đã có thể thực hiện nó Như vậy, nếu trong một thời hạn nhất định, người

có quyền đã không khởi kiện mặc dù không có bất kỳ trở ngại nào cản trở việc thực hiện quyền này thì có thể suy đoán rằng, họ đã từ bỏ quyền khởi kiện của mình Và đồng nghĩa với điều này thì một người có thể không thực hiện quyền khởi kiện được

Trang 26

do có những trở ngại khách quan bất khả kháng thì thời gian bị mất trong trường hợp bất khả kháng đó không tính vào thời hiệu khởi kiện18

1.2.1.2 Khái niệm thời hiệu khởi kiện về thừa kế

Như đã đề cập phía trên, thời hiệu khởi kiện là thời hạn mà đương sự được quyền yêu cầu cơ quan tòa án giải quyết vụ việc nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp

pháp của mình bị xâm phạm Như vậy “thời hiệu khởi kiện về thừa kế là thời hạn

mà chủ thể có quyền khởi kiện để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp bị xâm phạm, nếu thời hạn đó kết thúc thì mất quyền khởi kiện”19 Điều này có thể hiểu rằng một khi pháp luật đã quy định một thời hạn nhất định để cho chủ thể có quyền khởi kiện yêu cầu khởi kiện để bảo vệ quyền và lợi ích của mình thì các chủ thể phải thực hiện các quyền trong khoảng thời gian luật định

Luật viết Việt Nam lần đầu tiên đề cập đến vấn đề “Thời hiệu khởi kiện về

thừa kế” được ghi nhận tại Pháp lệnh Thừa kế năm 1990, tiếp đó là đến Bộ luật Dân

sự năm 1995 cũng quy định về thời hiệu khởi kiện về thừa kế và cho đến ngày này tại Điều 645 Bộ luật Dân sự 2005 hiện hành cũng đã quy định về vấn đề này một

cách rõ ràng theo đó “Thời hiệu khởi kiện để người thừa kế yêu cầu chia di sản, xác

nhận quyền thừa kế của mình hoặc bác bỏ quyền thừa kế của người khác là mười năm, kể từ thời điểm mở thừa kế Thời hiệu khởi kiện để yêu cầu người thừa kế thực hiện nghĩa vụ về tài sản của người chết để lại là ba năm, kể từ thời điểm mở thừa kế” Việc quy định thời hiệu khởi kiện về thừa kế là ba năm đối với trường hợp yêu

Trở ngại khách quan là những trở ngại do hoàn cảnh khách quan tác động làm cho người có quyền, nghĩa

vụ dân sự không thể biết về việc quyền, lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm hoặc không thể thực hiện được quyền và nghĩa vụ của mình;

2 Chưa có người đại diện trong trường hợp người có quyền khởi kiện, người có quyền yêu cầu chưa thành niên, mất năng lực hành vi dân sự hoặc bị hạn chế năng lực hành vi dân sự;

3 Chưa có người đại diện khác thay thế hoặc vì lý do chính đáng khác mà không thể tiếp tục đại diện được trong trường hợp đại diện của người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự chết

19

LS-TS Phan Thị Hương Thủy, 99 tình huống và tư vấn pháp luật về thừa kế và quyền sử dụng đất,

Nxb Tư pháp, Hà Nội, 2005, tr.24

Trang 27

cầu người thừa kế thực hiện nghĩa vụ về tài sản của người chết để lại không chỉ xác định quyền tài sản của các chủ nợ, quyền của người khác có liên quan đến di sản được bảo hộ trong thời hạn mà còn bảo đảm tính giao lưu trong dân sự

1.3 Lược sử về sự phát triển của các chế định thời hiệu khởi kiện trong pháp luật Việt Nam

Pháp luật về thừa kế ở nước ta đã có một lịch sử hình thành, phát triển và có những đặc thù riêng của nó Phân tích, đánh giá quá trình hình thành và phát triển của pháp luật thừa kế nói chung, thời hiệu khởi kiện về thừa kế nói riêng phải căn

cứ trên cơ sở các quy định của pháp luật qua các thời kỳ Sự phân chia giai đoạn phát triển pháp luật về thời hiệu khởi kiện về thừa kế dưới đây dựa trên các văn bản pháp luật được ban hành và các văn hướng dẫn giải quyết những tranh chấp về thừa

kế ở nước ta từ năm 1945 đến nay

1.3.1 Giai đoạn từ năm 1945 đến trước năm 1990

Cùng với thắng lợi của Cách mạng tháng Tám năm 1945, nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ra đời vào ngày 2/9/1945, là Nhà nước dân chủ đầu tiên ở Đông Nam

Á Cùng với sự ra đời của Nhà nước non trẻ, pháp luật của chế độ mới cũng được hình thành và phát triển, trong đó quyền thừa kế của công dân được coi trọng Tuy nhiên, khi mới giành độc lập công cuộc xây dựng đất nước là yêu cầu cấp thiết nhất trong giai đoạn này vì vậy chế định thời hiệu khởi kiện về thừa kế vẫn chưa được đặt ra trong các văn bản lên quan đến vấn đề thừa kế

Điểm đáng chú ý trong giai đoạn từ năm 1945 đến trước năm 1990 là việc Tòa

án nhân dân tối cao đã ban hành Thông tư số 81-TANDTC ngày 24-7-1981 (sau đây gọi tắt là Thông tư 81) hướng dẫn đường lối giải quyết các tranh chấp thừa kế như: Xác định di sản thừa kế, trình tự thừa kế theo di chúc và pháp luật, thừa kế thế vị, việc thừa kế của những người chết cùng một thời điểm, chia di sản thừa kế Tuy văn bản này là văn bản hướng dẫn đường lối giải quyết những tranh chấp thừa kế, có các nội dung bao quát tương đối các vấn đề thừa kế nhưng vẫn chưa có quy định chế định thời hiệu khởi kiện về thừa kế và có đó là điểm hạn chế nhất định của thông tư này Thông tư này được ban hành trong giai đoạn nước ta có nền kinh tế tập trung bao cấp, vì vậy quyền sở hữu của Nhà nước được ưu tiên bảo vệ còn các vấn đề liên quan đến quyền thừa kế của công dân nói chung chưa được coi trọng và chế định về thời hiệu khởi kiện về thừa kế nói riêng thì lại chưa được thừa nhận Tuy rằng sự phát triển của nước ta trong giai đoạn này còn hạn chế nhưng trong lịch sử phát triển của Luật dân sự Việt Nam nói chung và pháp luật thừa kế

Trang 28

nói riêng, Thông tư 81 đã là văn bản tương đối hoàn chỉnh về các quy phạm pháp luật liên quan đến quyền thừa kế của công dân trước khi có Pháp lệnh Thừa kế năm

1990, đánh dấu một bước trưởng thành và đáp ứng yêu cầu của thời kỳ lịch sử

1.3.2 Giai đoạn từ năm 1991 đến trước năm 1996

Trong giai đoạn này, cùng với sự phát triển của kinh tế- xã hội ở nước ta, quyền dân sự cũng được củng cố và phát triển phù hợp và trong giai đoạn này công cuộc xây dựng đất nước, phát triển xã hội là một nhiệm vụ quan trọng mà Đảng và Nhà nước ta đã đề ra Để phù hợp với sự đổi mới mọi mặt của đất nước và đáp ứng nhu cầu phát triển của toàn xã hội, Hiến pháp năm 1992 đã được ban hành Chế độ

sở hữu đã được Hiến pháp năm 1992 quy định tương ứng với các thành phần kinh tế quốc doanh, kinh tế tập thể, kinh tế tư bản tư nhân và kinh tế gia đình Quyền thừa

kế và quyền sở hữu có mối quan hệ mật thiết vơi nhau, cho nên việc Nhà nước ta quy định công dân có những quyền sở hữu nhất định về tư liệu sản xuất thì các vấn

đề liên quan đến thừa kế trong giai đoạn này được chú trọng hơn

Ngày 30/8/1990, Nhà nước ta đã ban hành Pháp lệnh Thừa kế, đây là văn bản

có hiệu lực pháp lý cao đầu tiên quy định khá đầy đủ các vấn đề liên quan đến thừa

kế, đặc biệt Pháp lệnh này lần đầu tiên đề cập đến vấn đề “Thời hiệu khởi kiện về

thừa kế” được ghi nhận tại điều 36 khoản 1, 2 Pháp lệnh Thừa kế năm 1990 theo đó:

“Trong hạn mười năm, kể từ thời điểm mở thừa kế, người thừa kế có quyền khởi kiện để yêu cầu chia di sản, xác nhận quyền thừa kế của mình hoặc bác bỏ quyền thừa kế của người khác Trong thời hạn ba năm, kể từ thời điểm mở thừa kế, cá nhân, cơ quan, tổ chức có quyền khởi kiện để yêu cầu người thừa kế thực hiện nghĩa

vụ về tài sản do người chết để lại, thanh toán các khoản chi từ di sản” Như vậy

Pháp lệnh Thừa kế đã phân biệt hai loại quyền: một dành cho các thừa kế và một dành cho các chủ nợ của thừa kế với hai thời hiệu khác nhau

Tóm lại: Pháp lệnh Thừa kế năm 1990 được ban hành là sự kiện quan trọng

nhằm hoàn thiện hệ thống Pháp luật thừa kế nói chung và chế định về thời hiệu khởi kiện về thừa kế nói riêng Tuy nhiên, vấn đề thời hiệu khởi kiện về thừa kế ở nước

ta trong giai đoạn này cũng khá mới mẻ Chính vì thế đòi hỏi phải có những quy định pháp luật về thời hiệu khởi kiện sao cho thật phù hợp với từng giai đoạn phát triển của đất nước, đồng thời góp phần tạo ra nền tảng cho việc quy định chế định thời hiệu khởi kiện về thừa trong những giai đoạn tiếp theo

Trang 29

1.3.3 Giai đoạn từ năm 1996 đến trước năm 2006

Với mong muốn có một cái nhìn thấu đáo hơn về các quy định về các vấn đề liên quan đến thừa kế đã tồn tại trong Pháp lệnh Thừa kế năm 1990, vì thế trong giai đoạn này Nhà nước ta đã ban hành Bộ luật Dân sự năm 1995 Trong Bộ luật này, quyền sở hữu về tài sản và quyền thừa kế của công dân đã được cụ thể hóa, thêm một bước khẳng định quyền thừa kế tài sản của công dân Việt Nam luôn được pháp luật bảo hộ và không ngừng được sửa đổi, bổ sung phù hợp với tiến trình phát triển kinh tế - xã hội của nước ta qua từng giai đoạn lịch sử

Bộ luật Dân sự nước ta ban hành và có hiệu lực từ ngày 1/7/1996 Với tinh thần thừa kế và phát triển của pháp luật thừa kế ở Việt Nam từ năm 1945 đến nay, quyền khởi kiện về thừa kế của cá nhân vẫn tiếp tục được ghi nhận Tuy nhiên, Bộ

luật Dân sự năm 1995, Điều 648 khi đề cập đến vấn đề trên dưới tiêu đề “Thời hiệu

khởi kiện về quyền thừa kế” chỉ quy định ngắn gọn: “Thời hiệu khởi kiện về quyền thừa kế là mười năm, kể từ thời điểm mở thừa kế”, mà không liệt kê nội dung quyền

khởi kiện (yêu cầu chia di sản, xác nhận quyền thừa kế hay bác bỏ quyền thừa kế) như Pháp lệnh Thừa kế năm 1990 đã ghi nhận như trước đây Tại Điều 640 Bộ luật

Dân sự năm 1995 khi đề cập việc “Thực hiện nghĩa vụ tài sản do người chết để lại”

cũng không đề cập đến vấn đề thời hiệu dành cho các chủ nợ của người chết nhằm thu hồi lại khoản nợ mà người này trước khi chết có trách nhiệm hoàn trả như Pháp lệnh Thừa kế năm 1990 trước đây có quy định

Chính việc quy định “Thời hiệu khởi kiện về quyền thừa kế là mười năm, kể từ

thời điểm mở thừa kế” đã dẫn đến việc có nhiều quan điểm khác nhau về một vấn

đề:

Quan điểm thứ nhất: Thời hiệu khởi kiện về quyền thừa kế (10 năm) chỉ áp

dụng đối với các tranh chấp về quyền thừa kế, nói một cách chính xác là kiện về tư cách thừa kế Ví dụ một người khởi kiện xin được hưởng thừa kế vì họ là con nuôi

của người để lại di sản thì người này chỉ có thể khởi kiện yêu cầu được hưởng di sản trong 10 năm kể từ thời điểm mở thừa kế Quan điểm này được Tiến sĩ Nguyễn

Ngọc Điện giải thích như sau: “Kiện về quyền thừa kế là việc kiện mà bằng việc

kiện đó, người khởi kiện yêu cầu công nhận tư cách của người có quyền hưởng di sản của mình nhằm thu hồi toàn bộ hay một phần di sản hoặc một tài sản đặc định thuộc di sản bị chiếm giữ bởi người quản lý di sản, người đang chiếm hữu, sử dụng,

Trang 30

quản lý di sản hoặc người tự xưng là người thừa kế hoặc người được di tặng”20 Vì thế việc kiện chia di sản thừa kế không bị ràng buộc bởi quy định của điều này

Quan điểm thứ hai: Thời hiệu khởi kiện về quyền thừa kế (10 năm) áp dụng

đối với tất cả các tranh chấp liên quan đến quyền thừa kế trong đó có quyền khởi

kiện chia di sản thừa kế Quan điểm này được đưa ra vì cho rằng “ thuật ngữ quyền

thừa kế có nội hàm rất rộng đó là quyền lập chúc để định đoạt tài sản của mình, để lại tài sản của mình cho người thừa kế theo pháp luật; hưởng di sản theo di chúc hoặc theo pháp luật Do đó, việc khởi kiện phân chia di sản là một hành vi của chủ thể với mục đích biến quyền thừa kế thành hiện thực nhằm được hưởng phần di sản theo di chúc hay theo pháp luật…” 21 Do đó, việc khởi kiện chia di sản cũng phải

tuân theo quy định về thời hiệu là 10 năm

Tóm lại, nhìn chung trong giai đoạn này, mặc dù Nhà nước ban hành Bộ luật Dân sự năm 1995 với mục đích hoàn thiện và phát triển hơn nữa chế định thời hiệu khởi kiện Tuy nhiên, việc quy định thời hiệu khởi kiện về thừa kế trong giai đoạn này khá ngắn gọn, không liệt kê nội dung quyền khởi kiện về quyền thừa kế là: yêu cầu chia di sản, xác nhận quyền thừa kế hay bác bỏ quyền thừa kế; và cũng không liệt kê nội dung thời hiệu khởi kiện để yêu cầu người thừa kế thực hiện nghĩa vụ về tài sản do người chết để lại Cho nên, cần phải có những quy định tiến bộ hơn để các cơ quan có thẩm quyền vận dụng một cách đúng đắn hơn nhằm giải quyết thỏa đáng quyền lợi cũng như nghĩa vụ của những người thừa kế nói chung và những chủ nợ nói riêng

1.3.4 Giai đoạn từ năm 2006 đến nay

Có thể nói, việc ra đời chế định thời hiệu khởi kiện về thừa kế trong Pháp lệnh Thừa kế năm 1990 lẫn trong Bộ luật Dân sự năm 1995 là thành tựu của các nhà lập pháp về vấn đề này Sơ lược qua quá trình phát triển của chế định thời hiêu khởi kiện về thừa kế từ năm 1990 cho đến khi Bộ luật Dân sự năm 2006 có hiệu lực thì ta thấy rằng việc quy định thời hiệu khởi kiện về thừa kế trong Bộ luật Dân sự năm

1995 thật sự qua ngắn gọn chưa liệt kê hết nội dung quyền khởi kiện về thừa kế của công dân Chính vì thế, Bộ luật Dân sự năm 2005 ra đời và có hiệu lực ngày 01/01/2006 đã kế thừa ý niệm của Pháp lệnh Thừa kế năm 1990 trước đây về việc phân hai loại quyền khởi kiện cũng như xác định được nội dung của quyền khởi

Trang 31

kiện về thừa kế Cụ thể là Bộ luật Dân sự năm 2005 với tiêu đề “Thời hiệu khởi kiện

về thừa kế” tại điều 645 đã ghi rõ: “ Thời hiệu khởi kiện để người thừa kế yêu cầu chia di sản, xác nhận quyền thừa kế của mình hoặc bác bỏ quyền thừa kế của người khác là mười năm, kể từ thời điểm mở thừa kế

Thời hiệu khởi kiện để yêu cầu người thừa kế thực hiện nghĩa vụ về tài sản

của người chết để lại là ba năm, kể từ thời điểm mở thừa kế”

Trước đó, Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao ban hành Nghị quyết

02/2004/NQ-HĐTP ngày 10 tháng 8 năm 2004, đã giải thích: “Quyền thừa kế quy

định tại khoản 1 điều 36 Pháp lệnh Thừa kế năm 1990, Điều 648 của Bộ luật Dân

sự bao gồm quyền yêu cầu chia di sản thừa kế, quyền yêu cầu xác nhận quyền thừa

kế của mình hoặc quyền yêu cầu bác bỏ quyền thừa kế của người khác” và đồng

thời quy định về việc không áp dụng thời hiệu khởi kiện về quyền thừa kế, nguyên

tắc chung được Nghị quyết 02/2004/NQ-HĐTP đưa ra là: “Trường hợp trong thời

hạn mười năm, kể từ thời điểm mở thừa kế mà các đồng thừa kế không có tranh chấp về quyền thừa kế và có văn bản cùng xác nhận là đồng thừa kế hoặc sau khi kết thúc thời hạn mười năm mà các đồng thừa kế không có tranh chấp về hàng thừa

kế và đều thừa nhận di sản do người chết để lại chưa chia thì di sản đó chuyển thành tài sản chung của các thừa kế Khi có tranh chấp và yêu cầu Tòa án giải quyết thì không áp dụng thời hiệu khởi kiện về quyền thừa kế, mà áp dụng các quy định của pháp luật về chia tài sản chung để giải quyết ”22 Khi soạn thảo BLDS năm 2005 mới nhằm thay thế toàn bộ BLDS năm 1995, nhà làm luật Việt Nam đã lấy tinh thần của Nghị quyết 02/2004/NQ-HĐTP về việc giải thích nội hàm của

quyền thừa kế và đưa vào điều 645 BLDS năm 2005 vì vậy “nguyên tắc không áp

dụng thời hiệu khởi kiện về quyền thừa kế” do Nghị quyết 02/2004/NQ-HĐTP đưa

ra vẫn còn giá trị pháp luật

Tóm lại: Việc quy định thời hiệu khởi kiện về thừa kế trong Bộ luật Dân sự

năm 2005 đã phần nào phân hai loại quyền dành cho hai chủ thể khác nhau đó là: một dành cho các thừa kế và một dành cho các chủ nợ của thừa kế với hai thời hiệu khác nhau Tuy nhiên, việc xác định thời hiệu khởi kiện 10 năm cho cùng 3 nội dung (chia di sản, xác nhận tư cách quyền thừa kế, bác bỏ tư cách quyền thừa kế) theo điều 645 BLDS năm 2005 dẫn đến việc áp dụng gặp nhiều khó khăn trong thực tiễn pháp lý

22

Tiểu điểm 2.1, điểm 2, Phần I Nghị quyết 02/2004/NQ-HĐTP

Trang 32

CHƯƠNG 2 THỜI HIỆU KHỞI KIỆN VỀ THỪA KẾ TRONG HỆ THỐNG PHÁP

LUẬT VIỆT NAM HIỆN HÀNH 2.1 Thời hiệu khởi kiện về quyền thừa kế của người thừa kế trong một số trường hợp cụ thể

Quyền thừa kế bao gồm: Quyền yêu cầu chia di sản thừa kế, quyền yêu cầu

xác nhận quyền thừa kế của mình hoặc quyền yêu cầu bác bỏ quyền thừa kế của người khác23 Tại đoạn đầu tiên của Điều 645, Bộ luật Dân sự năm 2005 đã ghi rõ: “

Thời hiệu khởi kiện để người thừa kế yêu cầu chia di sản, xác nhận quyền thừa kế của mình hoặc bác bỏ quyền thừa kế của người khác là mười năm, kể từ thời điểm

mở thừa kế Điều này có thể hiểu rằng thời hiệu khởi kiện về thừa kế là mười năm

kể từ thời điểm mở thừa kế đối với ba trường hợp cụ thể sau đây:

2.1.1 Thời hiệu khởi kiện để người thừa kế yêu cầu chia di sản thừa kế

Trường hợp này đã xác định được người thừa kế, tuy nhiên những người thừa

kế không thống nhất được cách chia tài sản Hay nói khác hơn là họ không thống nhất được người thừa kế nào sẽ nhận được di sản thừa kế nào Một thí dụ trên thực

tế là :

“Ông A và Bà B kết hôn năm 1960 Ông bà đã có 2 con chung là C và D

Năm 1975, ông bà nhận nuôi một người con nuôi là E Năm 2003, ông A mất không

để lại di chúc Trong thời kỳ kết hôn, ông bà có một khối tài sản chung là 100 triệu đồng, và ông A có 1 sổ tiết kiệm riêng là 30 triệu đồng Do có sự mâu thuẫn giữa C,

D và E nên họ không thỏa thuận được việc chia thừa kế Chính vì vậy, ngày 20/4/2010 E đã gửi đơn khởi kiện đến Tòa án yêu cầu chia di sản thừa kế”24

Qua tình huống trên, người viết thấy rằng việc yêu cầu chia di sản thừa kế của

E là hoàn toàn hợp lý, bởi lẽ E cũng là người thừa kế theo pháp luật cùng với C và

D và rõ ràng trong trường hợp này đã xác định được người thừa kế đó là B, C, D và

E chỉ có điều là họ không thống nhất được việc chia di sản của cha mẹ mình mà thôi Chính vì lẽ đó pháp luật về thừa kế đã thừa nhận cho những người thừa kế có một quyền năng nhất định đó là quyền yêu cầu chia di sản thừa kế và pháp luật cũng thừa nhận thời hiệu khởi kiện là mười năm kể từ ngày mở thừa kế đối với vấn

Trang 33

http://www.diendanphapluat.vn/4rum/hoi-ve-van-de-thua-ke-di-san/9312-phan-chia-di-san-thua-đề này Trở lại tình huống trên ta thấy từ năm 2003 (thời điểm ông A mất- thời điểm mở thừa kế) đến năm 2010 (thời điểm yêu cầu chia di sản thừa kế) là 7 năm cho nên thời hiệu khởi kiện để yêu cầu chia di sản thừa kế vẫn còn, đồng nghĩa với việc tòa án sẽ áp dụng việc chia di sản thừa kế đúng theo quy định của pháp luật dân sự về việc phân chia di sản thừa kế

Trong việc yêu cầu phân chia di sản thừa kế ta cần lưu ý có hai trường hợp yêu

cầu phân chia di sản đó là: “Yêu cầu phân chia di sản trong trường hợp giữa những

người thừa kế không thỏa thuận được với nhau việc phân chia di sản và yêu cầu hủy bỏ việc phân chia di sản để phân chia lại”25 Trong yêu cầu hủy bỏ việc phân

chia di sản để phân chia lại; cần lưu ý rằng, đây là trường hợp tuy có thỏa thuận về việc phân chia di sản của những người thừa kế, nhưng một trong số những người thừa kế không có mặt trong buổi thỏa thuận phân chia di sản, hoặc một người trong

số họ không đồng ý với việc phân chia di sản không đúng với thỏa thuận của những người thừa kế, thì người thừa kế có quyền yêu cầu Tòa án phân chia lại di sản đã chia Còn nếu người này đã ký vào biên bản thỏa thuận việc phân chia di sản, nghĩa

là người đó đồng ý về việc phân chia di sản và việc phân chia di sản được thực hiện đúng với biên bản thỏa thuận phân chia di sản thì người thừa kế không thể yêu cầu Tòa án phân chia lại di sản đã chia

2.1.2 Thời hiệu khởi kiện để người người thừa kế yêu cầu xác nhận quyền thừa kế của mình

Đây là trường hợp một người đáng lẽ ra phải là một trong số những người thừa

kế nhưng không được những người thừa kế khác công nhận là người thừa kế có quyền khởi kiện để yêu cầu xác nhận quyền thừa kế của mình Chính vì vậy trong trường hợp này pháp luật thừa nhận cho họ có quyền yêu cầu xác nhận quyền thừa

kế của mình Trong trường hợp này người thừa kế phải đưa ra các giấy tờ chứng minh tư cách thừa kế của mình, sau đây là vụ tranh chấp di sản thừa kế yêu cầu xác nhận quyền thừa kế của mình:

Tóm tắt: “Ông A kết hôn hợp pháp với bà B có 3 con là C, D, E Ông A

thường phải đi công tác xa nhà, trong thời gian đó ông có phải lòng với cô G và có với cô G một đứa con Năm 2005 ông A chết không để lại di chúc, Sau khi ông A mất được 3 năm bà B cùng các con đã thỏa thuận với nhau phân chia di sản thừa kế của ông A Năm 2009 có một thanh niên 20 tuổi tên là V đến gặp gia đình bà B nói

25

Dương Bạch Long – Nguyễn Xuân Anh, Hỏi- đáp các quy định của pháp luật về thừa kế, Nxb

Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2010, tr.20

Trang 34

mình là con riêng của ông A với bà G, anh đã xuất trình các giấy tờ chứng minh mình cho việc đó Anh V yêu cầu được chia di sản thừa kế của ông A, nhưng gia đình của bà B không đồng ý, vì vậy anh V đã khởi kiện để yêu cầu xác nhận quyền thừa kế của mình”26 Ta thấy rằng trong tình huống này yêu cầu được chia di sản

thừa kế của anh V là đúng bởi: Ông A không để lại di chúc để định đoạt tài sản của mình cho ai, nên theo quy định tại Điều 676 BLDS năm 2005 thì sau khi ông A mất

di sản của ông A sẽ được đem chia đều cho những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất theo quy định của pháp luật27: ở đây bao gồm có ông nội, bà nội (nếu ông bà còn sống), bà B và các con Mỗi con của người để lại di sản ở đây đều được hưởng một suất thừa kế ngang nhau, không phân biệt con đẻ hay con nuôi, con trong giá thú hay con ngoài giá thú, con trai hay con gái, theo quy định của pháp luật Vì vậy, mặc dù V là con riêng của ông A với chị G (không có đăng ký kết hôn) nhưng V vẫn được công nhận là người thừa kế theo pháp luật thuộc hàng thừa kế thứ nhất của ông A và V có quyền được hưởng một suất thừa kế Đó là trường hợp điển hình trong số các trường hợp yêu cầu xác nhận tư cách thừa kế của cá nhân

Lưu ý: Khi yêu cầu xác nhận tư cách thừa kế người thừa kế phải đưa ra các

bằng chứng chứng minh tư cách thừa kế của mình như: Giấy khai sinh, giấy đăng

ký kết hôn…để chứng minh quan hệ huyết thống, quan hệ hôn nhân, hoặc quan hệ nuôi dưỡng với người để lại di sản; hoặc đưa ra di chúc mà người quá cố đã lập để lại di sản cho mình

2.1.3 Thời hiệu để người thừa kế yêu cầu bác bỏ quyền thừa kế của người

khác

Trường hợp này là trường hợp một người không có quyền hưởng di sản thừa

kế do họ không được quyền hưởng thừa kế theo quy định tại Điều 643 Bộ luật Dân

26

Xem tình huống tại link: http://oceanlaw.vn/article/detail/597, Công ty Cổ phần tư vấn đầu tư và

SHTT OCEAN LAW, truy cập ngày [16/02/2012]

27

Điều 676, Bộ luật Dân sự năm 2005: Người thừa kế theo pháp luật

1 Những người thừa kế theo pháp luật được quy định theo thứ tự sau đây:

a Hàng thừa kế thứ nhất gồm: Vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết;

b Hàng thừa kế thứ hai gồm: Ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh ruột, chị ruột, em ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại;

c Hàng thừa kế thứ ba gồm: Cụ nội, cụ ngoại của người chết; bác ruột, chú ruột, cô ruột, cậu ruột, dì ruột, chắt ruột của người chết mà người chết là cụ nội, cụ ngoại

2 Những người thừa kế cùng hàng được hưởng phần di sản bằng nhau

3 Nếu những người thừa kế sau chỉ được hưởng thừa kế, nếu không còn ai ở hàng thừa kế trước do đã chết, không có quyền hưởng di sản, bị truất quyền hưởng di sản hoặc từ chối nhận di sản

Trang 35

sự năm 200528 Pháp luật về thừa kế cho phép những người thừa kế có quyền yêu cầu tòa án bác bỏ tư cách thừa kế của những người này

“Trong vụ án do bà Ngô Thị Nguyệt khởi kiện yêu cầu tòa án bác bỏ quyền

thừa kế của Ông Ngô Văn Phú với lý do ông Phú đã có hành vi đầu độc bố mẹ, làm cho bố mẹ chết Ông Ngô Văn Phú không tham gia phiên tòa với lý do bị ốm nặng Sau hai lần triệu tập hợp lệ ông Phú vẫn không tham gia phiên tòa, Tòa án vẫn tiến hành xét xử và chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, tước bỏ quyền thừa kế của ông Phú đối với tài sản của bố mẹ ông Phú để lại”29 Trong vụ án này, yêu cầu bác bỏ

tư cách thừa kế của bà Nguyệt đã được chấp nhận và trong nội tại của vấn đề ta thấy rằng ông Phú đã có hành vi xâm phạm nghiêm trọng đến người để lại di sản (hành

vi đầu độc bố mẹ) cho nên việc ông Phú bị tước quyền thừa kế là một việc hoàn

toàn hợp lý Hơn thế nữa, tùy thuộc vào kết quả xét xử mà Tòa án có thể chấp nhận hoặc không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn và nếu có căn cứ, Tòa án chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, tước bỏ quyền thừa kế của ông Ngô Văn Phú đối với tài sản mà ba mẹ ông Phú để lại Trường hợp này, quyết định của Tòa án có giá trị bắt buộc thi hành đối với ông Phú không phụ thuộc vào ông Phú có tham gia hay không tham gia phiên tòa Mặc dù không đưa ra các mốc thời gian để tính thời hiệu nhưng thiết nghĩ rằng, trong vụ án yêu cầu bác bỏ tư cách thừa kế vừa nêu phía trên vẫn còn thời hiệu, chính vì thế Tòa án mới thụ lý xét xử Lưu ý rằng, trong trường hợp bác bỏ quyền thừa kế của người khác, người yêu cầu cũng phải đưa ra các bằng chứng chứng minh người thừa kế đó thuộc một trong các trường hợp bị truất quyền thừa kế, hoặc không phải là người thừa kế theo di chúc (vì người chết đã lập một

28Điều 643, Bộ luật Dân sự năm 2005: Người không được quyền hưởng di sản;

1 Những người sau đây không được quyền hưởng di sản:

a Người bị kết án về hành vi cố ý xâm phạm tính mạng, sức khỏe hoặc về hành vi ngược đãi nghiêm trọng, hành hạ người để lại di sản, xâm phạm nghiêm trọng danh dự, nhân phẩm của người đó;

b Người xâm phạm nghiêm trọng nghĩa vụ nuôi dưỡng người để lại di sản;

c Người bị kế án về hành vi cố ý xâm phạm tính mạng người thừa kế khác nhằm hưởng một phần hoặc toàn bộ di sản mà người thừa kế đó có quyền hưởng;

d Người có hành vi lừa dối, cưỡng ép, hoặc ngăn cản người để lại di sản trong việc lập di chúc; giả mạo di chúc; sữa chữa di chúc, hủy di chúc nhằm hưởng một phần hoặc toàn bộ di sản trái với ý chí của người để lại di sản

2 Những người quy định tại khoản 1 Điều này vẫn được hưởng di sản, nếu người để lại di sản đã biết hành vi của người đó, nhưng vẫn cho họ hưởng di sản theo di chúc

29

Thạc sĩ Phạm Minh Lương; Luật sư Tạ Mạnh Tuấn, Hỏi đáp về luật thừa kế, NXB Công an Nhân

dân, 2006, Tr.195

Trang 36

bản di chúc khác thay thế), hoặc người đó không thuộc hàng thừa kế được hưởng di sản

Lưu ý: Theo quy định tại điểm 2.2, Khoản 2, Mục I Nghị quyết số

2/2004/NQ-HĐTP của Hội đồng thẩm phán TANDTC ngày 10/8/2004 về hướng dẫn áp dụng pháp luật trong việc giải quyết các vụ án hôn nhân và gia đình đã ghi

nhận: “Đối với trường hợp thừa kế mở trước ngày 1/7/1996, thì thời hiệu khởi kiện

về quyền thừa kế được thực hiện theo quy định tại Điều 36 của Pháp lệnh Thừa kế năm 1990 và hướng dẫn tại Nghị quyết 02/HĐTP ngày 19/10/1990 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao về việc hướng dẫn áp dụng một số quy định của Pháp lệnh Thừa kế” Căn cứ theo quy định tại điều 36 Pháp lệnh Thừa kế năm

1990 thì: “Trong thời hạn mười năm, kể từ thời điểm mở thừa kế, người thừa kế có

quyền khởi kiện để yêu cầu chia di sản, xác nhận quyền thừa kế của mình hoặc bác

bỏ quyền thừa kế của người khác… Đối với các việc thừa kế đã mở trước ngày ban hành Pháp lệnh này thì thời hạn quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều này được tính

từ ngày công bố Pháp lệnh này.” Cho nên, dựa vào điểm B khoản 10 Nghị quyết số

02/HĐTP ngày 19-10-1990 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân Tối cao ta

có thể khẳng định: “Đối với những việc thừa kế đã mở trước ngày 10-9-1990 thì

thời hiệu khởi kiện được tính từ ngày 10-9-1990, do đó: Sau ngày 10-9-2000, đương sự không có quyền khởi kiện để yêu cầu chia di sản, xác nhận quyền thừa kế của mình hoặc bác bỏ thừa kế của người khác;…” Ta có thể thí dụ một trường hợp

liên quan đến vấn đề này như sau:

“Ông Bính có hai người con là anh Dậu và anh Tuất Năm 1980 Ông Bính

mất không có di chúc để lại 1 miếng đất Sau khi Ông Bính mất, anh Dậu là người

ở trên mảnh đất đó, anh Tuất đi làm ăn xa, không phân chia tài sản chung do Ông Bính để lại Vì làm ăn thất bại nên năm 1982 anh Tuất về nhà xin anh Dậu chia một miếng đất, anh Dậu đồng ý chia cho anh Tuất một miếng đất nhỏ Đến năm 2005,

do làm ăn thất bại nên anh Tuất tiếp tục yêu cầu chia cho mình thêm một miếng đất, anh Dậu không đồng ý Anh Tuất quyết định khởi kiện để yêu cầu chia miếng đất mà anh Dậu đang ở”30

Vậy trong trường hợp trên thời hiệu khởi kiện yêu cầu chia di sản thừa kế của anh Tuất còn hay đã hết? Ta Thấy rằng thời điểm Ông Bính chết là năm 1980, do

đó, đối với phần di sản của ông Bính thời hiệu khởi kiện đã hết vào ngày

30

Luật sư Lê Kim Quế, 108 Câu hỏi – đáp pháp luật thừa kế theo Bộ luật Dân sự năm 2005,

NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2006, tr.16

Trang 37

10/09/2000 Trong tình huống này mãi cho đến năm 2005 anh Tuất mới nộp đơn yêu cầu chia tài sản thừa kế cho nên anh Tuất không còn quyền khởi kiện đòi chia

di sản thừa kế theo thời hiệu khởi kiện do thời hiệu đã hết Điều này đồng nghĩa với việc Tòa án sẽ không chấp nhận đơn yêu cầu của anh Tuất Hơn thế nữa trong tình

huống này có một chi tiết là “năm 1982 anh Tuất về nhà xin anh Dậu chia một

miếng đất”, điều này có nghĩa là hai người đã thỏa thuận chia di sản thừa kế nghĩa

là anh Tuất đã đồng ý về việc phân chia di sản và việc phân chia di sản được thực hiện đúng với biên bản thỏa thuận phân chia di sản, thì người anh Tuất không thể

yêu cầu Tòa án phân chia lại di sản đã chia

Tóm lại: Đối với các tranh chấp về thừa kế, khi giải quyết các vụ án này cần

lưu ý các quy định về thời hiệu khởi kiện, bởi lẽ khi thời hiệu khởi kiện không còn, quyền yêu cầu tòa án của các chủ thể chấm dứt Ngoài ra, khi giải quyết các tranh chấp vè thừa kế ngoài việc lưu ý về thời hiệu khởi kiện cũng cần chú ý đến các quy định về thời hiệu như: thời gian không tính vào thời hiệu, quy định bắt đầu lại thời hiệu… Những vấn đề này sẽ được phân tích ở những phần sau

2.2 Thời hiệu khởi kiện để yêu cầu người thừa kế thực hiện nghĩa vụ về tài sản của người chết để lại

Tại đoạn hai Điều 645 Bộ luật Dân sự năm 2005 có quy định “thời hiệu khởi

kiện yêu cầu người thừa kế thực hiện nghĩa vụ về tài sản của người chết để lại là ba năm, kể từ thời điểm mở thừa kế” Điều này đã nói lên rằng, các chủ nợ có quyền

khởi kiện để yêu cầu người thừa kế thực hiện nghĩa vụ về tài sản do người chết để lại tỏng thời hạn ba năm kể từ thời điểm mở thừa kế đó

Thông tư liên ngành số 03/1996 của Tòa án nhân dân Tối cao, Viện kiểm sát nhân dân Tối cao dựa vào Nghị quyết ngày 28/10/1995 của Quốc hội để hướng dẫn

thời hiệu khởi kiện đòi nợ do người chết để lại là “không hạn chế thời gian” Quy

định này đã gây ra một hậu quả tiêu cực về mặt tố tụng: bất cứ lúc nào, chủ nợ cũng

có thể khởi kiện đòi nợ do người chết để lại Để khắc phục nhược điểm này, BLDS năm 2005 đã bổ sung qui định về thời hiệu khởi kiện đòi thực hiện nghĩa vụ tài sản

do người chết để lại là 3 năm, tính từ ngày mở thừa kế Cụ thể là tại Điều 645:

“…Thời hiệu khởi kiện để yêu cầu người thừa kế thực hiện nghĩa vụ do người chết

để lại là 3 năm, kể từ thời điểm mở thừa kế” Điều này đồng nghĩa với việc các chủ

nợ của người để lại di sản có quyền khởi kiện yêu cầu người thừa kế thực hiện nghĩa vụ về tài của người chết là ba năm, kể từ thời điểm mở thừa kế, hết ba năm thì các chủ nợ của người để lại di sản mất quyền khởi kiện Căn cứ để các chủ nợ của

Ngày đăng: 05/04/2018, 22:42

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w