Khái niệm công chức Theo Pháp lệnh cán bộ, công chức ngày 26/02/1998 sửa đổi, bổ sung năm 2003, thì công chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng vào biên chế, bổ nhiệm vào một ngạch
Trang 1GVHD: Ths Võ Duy Nam Trang 1 SVTH: Trần Thị Thu Uyên
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
Giáo viên hướng dẫn: Sinh viên thực hiện:
Th.s Võ Duy Nam Trần Thị Thu Uyên
MSSV:5055013 Lớp: LK0563A1
Cần Thơ, 03/2009
Trang 2GVHD: Ths Võ Duy Nam Trang 2 SVTH: Trần Thị Thu Uyên
NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
Cần Thơ, ngày tháng năm
Trang 3GVHD: Ths Võ Duy Nam Trang 3 SVTH: Trần Thị Thu Uyên
LỜI CẢM ƠN
Thời gian trôi qua thật nhanh, mới ngày nào tôi bước chân vào Trường Đại học Cần Thơ với thật nhiều bỡ ngỡ và bao điều lo toan cho việc học tập cũng như sinh hoạt của mình Giờ đây, 4 năm Đại học sắp kết thúc, có lẽ tôi chỉ có thể giữ lại được cho mình trong khoảng thời gian đã qua là những kiến thức, những kinh nghiệm, những kỷ niệm, và những kỷ niệm đẹp về Trường Đại học Cần Thơ yêu mến Trong suốt thời gian qua, tôi luôn nhận được sự động viên từ gia đình, sự giáo dục, giúp đõ của nhà trường, thầy cô và bè bạn Nhờ vậy, tôi có thể hoàn thành công việc học tập của mình Xin gởi lời cảm ơn đến gia đình – luôn là chỗ dựa và là nguồn động lực để tôi an tâm học tập Cảm ơn lãnh đạo nhà trường, lãnh đạo khoa Luật, quý thầy cô trường Đại học Cần Thơ – luôn tận tình giúp đỡ, tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt thời gian học tập tại trường; truyền đạt cho tôi nhiều kinh nghiệm trong học tập cũng như trong cuộc sống
Xin chân thành cảm ơn thầy Võ Duy Nam – bộ môn Luật Hành Chính, đã trực tiếp hướng dẫn, giúp đỡ tôi hoàn thành đề tài luận văn tốt nghiệp
Mong rằng sau khi ra trường, những kiến thức và kinh nghiệm quý giá này sẽ là hành trang giúp tôi có được công việc ổn định và hoàn thành nhiệm vụ của mình, góp phần phát triển đất nước, xây dựng xã hội văn minh, giàu đẹp
Xin chân thành cảm ơn!
Sinh viên thực hiện
Trần Thị Thu Uyên
Trang 4GVHD: Ths Võ Duy Nam Trang 4 SVTH: Trần Thị Thu Uyên
LỜI NÓI ĐẦU
- -
1 Tính cấp thiết của đề tài
Bác Hồ từng nói: “cán bộ là gốc của mọi công việc Công việc thành công hay thất bại đều do công tác cán bộ quyết định” Trong giai đoạn đổi mới hiện nay khi nền kinh tế nước ta có những bước phát triển vượt bậc thì nền hành chính của nước nhà vẫn còn chuyển biến chậm, chưa đuổi kịp hay nói đúng hơn là chưa ngang bằng với sự phát triển của nền kinh tế Mặc dù Đảng và Nhà nước đã đề ra chiến lược cải cách hành chính quốc gia và phân kỳ thành thành từng giai đoạn Xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức là khâu khó nhất trong lộ trình cải cách hành chính, vì cán bộ, công chức là cái gốc của mọi công việc, công việc có thành công hay thất bại là do cán bộ, công chức tốt hay xấu Công chức Nhà nước là đội ngũ tiên phong, mang trọng trách lớn trong việc tổ chức và thực thi pháp luật, làm cho pháp luật đi vào cuộc sống nhân dân Chúng
ta phải tuyển chọn những người có đủ đức, đủ tài, vừa hồng, vừa chuyên như Bác Hồ
đã nói để làm cho đất nước ngày càng phát triển và tiến bộ Vì vậy, người viết chọn đề tài “Tuyển dụng công chức Nhà nước – Thực trạng và giải pháp” làm đề tài luận văn tốt nghiệp của mình
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Như đã biết, đây là đề tài đã có nhiều tác giả nghiên cứu Tuy nhiên nhận thấy được sự cần thiết phải nghiên cứu thêm các khía cạnh khác của vấn đề nên người viết
đã chọn đề tài này cho luận văn tốt nghiệp của mình Trong đề tài này, người viết phân tích các quy định của pháp luật về tuyển dụng công chức nhà nước Trên cơ sở so sánh các quy định trong các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan, đồng thời đối chiếu với thực tiễn áp dụng Trên cơ sở đó tổng hợp các vấn đề nghiên cứu để thấy được những ưu điểm tiến bộ và những hạn chế, vướng mắc của các quy định pháp luật hiện hành; cố gắng đưa ra các giải pháp cụ thể để có thể hoàn thiện chế định tuyển dụng công chức nhà nước hiện nay
3 Mục đích nghiên cứu của đề tài
Từ tính cấp thiết của vấn đề này, xét thấy cần phải có nhiều hơn nữa những nghiên cứu nhằm:
- Để hiểu rõ hơn các quy định của pháp luật về tuyển dụng công chức nhà nước
Trang 5GVHD: Ths Võ Duy Nam Trang 5 SVTH: Trần Thị Thu Uyên
- Đi sâu vào phân tích những điều luật cụ thể có liên quan để tìm hiểu nội dung, tính hữu hiệu, cũng như những hạn chế thiếu sót của chế định tuyển dụng công chức nhà nước Từ đó nêu ra những phương hướng cũng như một số giải pháp để hoàn thiện vấn đề
- Trao dồi và củng cố lại kiến thức đã tiếp thu trong quá trình học tập
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
- Về thời gian
Đề tài được thực hiện trong khoảng thời gian từ tháng 01/2009 – 03/2009
- Nguồn thông tin:
Tài liệu chủ yếu được thu thập từ: giáo trình, sách, báo, tạp chí chuyên ngành và truy cập mạng mạng Internet
- Về nội dung:
Giới hạn trong phạm vi nghiên cứu là tuyển dụng công chức nhà nước
5 Phương pháp nghiên cứu của đề tài
Phương pháp nghiên cứu của người viết trong đề tài này chủ yếu dựa trên các cơ
sở khoa học pháp lý Và áp dụng các phương pháp sau:
- Phân tích luật viết với cách tìm hiểu kỹ các quy phạm pháp luật để tìm hiểu tinh thần chung của các quy phạm pháp luật
- Phương pháp so sánh, đối chiếu và tổng hợp các quy định hiện hành
- Phương pháp tiếp cận thông tin trên các phương tiện thông tin đại chúng như sách báo, các tạp chí chuyên ngành, Internet…, và sử dụng phương pháp quy nạp để khái quát vấn đề nghiên cứu
6 Kết cấu của đề tài
Luận văn được trình bày theo thứ tự: lời nói đầu, nội dung chính của đề tài được
cụ thể hóa thành các chương, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo cần thiết cho quá trình nghiên cứu, tìm hiểu đề tài
Nội dung chính gồm có ba chương:
Chương 1: Những vấn đề chung về tuyển dụng công chức Nhà nước
Chương 2: Thực trạng vấn đề tuyển dụng công chức Nhà Nước hiện nay
Chương 3: Phương hướng và giải pháp hoàn thiện về vấn đề tuyển dụng công chức hiện nay
Trang 6GVHD: Ths Võ Duy Nam Trang 6 SVTH: Trần Thị Thu Uyên
CHƯƠNG 1 NHỮNG VẦN ĐỀ CHUNG VỀ CÔNG CHỨC VÀ TUYỂN
- Những người do bầu cử để đảm nhiệm chức vụ theo nhiệm kỳ trong Thường trực hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân; Bí thư, Phó bí thư Đảng ủy; người đứng đầu
tổ chức chính trị - xã hội xã, phường, thị trấn (sau đây gọi chung là cấp xã)
1.1.2 Khái niệm công chức
Theo Pháp lệnh cán bộ, công chức ngày 26/02/1998 sửa đổi, bổ sung năm 2003, thì công chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng vào biên chế, bổ nhiệm vào một ngạch công chức hoặc được giao giữ một công vụ thường xuyên, hưởng lương từ ngân sách, làm việc trong các cơ quan, tổ chức sau đây:
- Các tổ chức thuộc văn phòng Quốc hội thực hiện chức năng, nhiệm vụ giúp việc Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội, Hội đồng dân tộc và các Ủy ban của Quốc hội, các ban của Ủy ban thường vụ Quốc hội (trừ các đơn vị sự nghiệp trực thuộc);
- Các tổ chức giúp Chủ nhiệm Văn phòng Chủ tịch nước trong việc phục vụ Chủ tịch nước thực hiện chức năng, nhiệm vụ theo quy định của Hiến pháp và pháp luật;
- Các tổ chức giúp Bộ trưởng, người đứng đầu cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ thực hiện chức năng quản lý nhà nước;
- Các tổ chức giúp Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và Ủy ban nhân dân quận, huyện, thị xã, thành phố thực hiện chức năng quản lý nhà nước;
- Các tổ chức giúp Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân các cấp thực hiện chức năng, nhiệm vụ theo quy định của Hiến pháp và pháp luật (trừ các đơn vị sự nghiệp trực thuộc);
Trang 7GVHD: Ths Võ Duy Nam Trang 7 SVTH: Trần Thị Thu Uyên
- Cơ quan đại diện nước Cộng hòa chủ nghĩa xã hội Việt Nam ở nước ngoài;
- Những người được tuyển dụng, bổ nhiệm hoặc giao giữ nhiệm vụ thường xuyên làm việc trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; làm việc trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp;
- Những người được tuyển dụng, bổ nhiệm hoặc giao giữ nhiệm vụ thường xuyên làm việc trong tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện;
- Những người được tuyển dụng, giao giữ một chức danh chuyên môn nghiệp vụ thuộc Ủy ban nhân dân cấp xã
1.1.3 Khái niệm viên chức
Theo nghị định số 116/ NĐ – CP ngày 10/10/2003 của Chính phủ về việc tuyển dụng, sử dụng và quản lý cán bộ, công chức trong các đơn vị sự nghiệp của Nhà nước, thì viên chức là công dân Việt Nam, trong biên chế, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào một ngạch viên chức hoặc giao giữ một nhiệm vụ thường xuyên trong đơn vị sự nghiệp của Nhà nước, của tổ chức chính trị, tổ chức chính trị xã hội được quy định tại điểm d khoản 1 Điều 1 của Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh cán bộ, công chức ngày 29/04/2003, hưởng lương từ ngân sách nhà nước và các nguồn thu sự nghiệp theo quy định của pháp luật
1.2 Căn cứ tuyển dụng cán bộ, công chức
1.2.1 Khái niệm tuyển dụng công chức
Tuyển dụng là việc tuyển người vào làm việc trong biên chế của cơ quan Nhà nước thông qua thi tuyển hoặc xét tuyển
1.2.2 Căn cứ tuyển dụng cán bộ, công chức
*Tuyển dụng cán bộ, công chức căn cứ vào nhu cầu công việc, vị trí công tác của chức danh cán bộ, công chức và chỉ tiêu biên chế được giao:
Khi tuyển dụng cán bộ, công chức vào các vị trí sau cơ quan, tổ chức phải căn cứ vào nhu cầu công việc, vị trí công tác của chức danh cán bộ, công chức và chỉ tiêu biên chế được giao:
- Những người được tuyển dụng, bổ nhiệm hoặc hoặc giao giữ nhiệm vụ thường xuyên làm việc trong các tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện;
Trang 8GVHD: Ths Võ Duy Nam Trang 8 SVTH: Trần Thị Thu Uyên
- Những người được tuyển dụng, bổ nhiệm vào một ngạch công chức hoặc giao giữ một công vụ thường xuyên trong các cơ quan nhà nước ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện;
- Thẩm phán Tòa án nhân dân, Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân;
- Những người được tuyển dụng, bổ nhiệm hoặc được giao nhiệm vụ thường xuyên làm việc trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; làm việc trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp;
- Những người được tuyển dụng, giao giữ một chức danh chuyên môn nghiệp vụ thuộc Ủy ban nhân dân cấp xã
*Tuyển dụng cán bộ, công chức căn cứ vào nhu cầu công việc, kế hoạch biên chế và nguồn tài chính của đơn vị Việc tuyển dụng được thực hiện theo hình thức hợp đồng làm việc:
Đối với những người được tuyển dụng, bổ nhiệm vào một ngạch viên chức hoặc giao giữ một nhiệm vụ thường xuyên trong đơn vị sự nghiệp của Nhà nước, tổ chức chính trị và tổ chức chính trị - xã hội
*Tuyển dụng cán bộ, công chức phải qua thực hiện chế độ công chức dự bị
Tuyển dụng cán bộ, công chức phải qua thực hiện chế độ công chức dự bị, đối với:
- Những người được tuyển dụng, bổ nhiệm hoặc được giao nhiệm vụ thường xuyên làm việc trong tổ chức chính trị, tổ chức - chính trị xã hội ở trung ương; cấp tỉnh; cấp huyện;
- Những người được tuyển dụng, bổ nhiệm vào một ngạch công chức hoặc giao giữ một công vụ thường xuyên trong các cơ quan nhà nước ở trung ương; cấp tỉnh; cấp huyện
1.3 Nguyên tắc tuyển dụng
Tuyển dụng công chức là một hoạt động của quản lý hành chính Nhà nước Bởi vì không tuyển dụng thì không thể lựa chọn được người phù hợp khả năng, tiêu chuẩn và điều kiện đảm đương công vụ Khả năng căn cứ vào sự phù hợp trong quan hệ giữa năng lực và công việc do chức vụ đòi hỏi, tiêu chuẩn là những yếu tố cần và đủ để có thể được xét cho tuyển dụng, điều kiện là những cam kết gắn liền với công chức trước
và sau khi tuyển dụng, ràng buộc họ với công vụ Ngoài những đòi hỏi nghiêm túc
Trang 9GVHD: Ths Võ Duy Nam Trang 9 SVTH: Trần Thị Thu Uyên
trong các quy định pháp lý, cần phải hình thành những nguyên tắc bảo đảm các quy định cần phải được tôn trọng Các tài liệu khi đề cập tới việc tuyển dụng đều thừa nhận cần có những nguyên tắc nhưng sự phân loại những nguyên tắc hay xây dựng các nguyên tắc còn có những điểm khác nhau, ở đây không phải là vấn đề đúng sai mà vấn
đề là việc cần thiết phải có hệ thống nguyên tắc cơ bản đáp ứng được những đòi hỏi của thực tiễn và những tiêu chuẩn pháp lý
- Nguyên tắc bình đẳng
Tất cả công dân đều có quyền và cơ hội ngang nhau khi có mong muốn làm việc cho cơ quan, đơn vị sự nghiệp Nhà nước, miễn là đáp ứng những yêu cầu theo quy định của pháp luật và các yêu cầu cụ thể của vị trí cần tuyển dụng Nguyên tắc này cụ thể hóa Hiến pháp, quy định Hiến pháp về những quyền cơ bản của công dân, trong đó có quyền tham gia quản lý Nhà nước, quản lý xã hội, theo đó thì mọi công dân đều bình đẳng trong việc tham gia vào các hoạt động tuyển dụng công chức, bình đẳng về giới tính, giai cấp, tôn giáo, dân tộc,…Trên thực tế do những yếu tố chi phối như tâm lý trọng nam khinh nữ ở một số nơi nên có những quy định hạn chế tuyển dụng công chức
nữ
- Nguyên tắc khách quan
Nguyên tắc này đòi hỏi cơ quan tuyển dụng phải căn cứ vào những yêu cầu khách quan để tuyển dụng và lựa chọn, đó là nhu cầu thực tế của công việc Nguyên tắc này không chấp nhận việc tuyển dụng bị chi phối bởi những thái độ chủ quan như cố tình tuyển dụng số lượng công chức vượt quá tiêu chuẩn biên chế, lựa chọn những thí sinh căn cứ vào những quan hệ chủ quan như chọn người nhà, người mà gia đình có địa vị
xã hội, những quan hệ tiêu cực như hối lộ Vô tư trong tuyển dụng sẽ cho phép việc tuyển dụng những người có đủ tiêu chuẩn, năng lực, đảm bảo tính công bằng Lấy kết quả thi tuyển, bầu chọn để làm cơ sở tuyển chọn, không thiên vị Thực tế cho thấy nhiều trường hợp vi phạm đã dẫn đến những bất bình của thí sinh, và dẫn đến xảy ra nhiều vụ khiếu kiện của các thí sinh
- Nguyên tắc ưu tiên
Nội dung của nguyên tắc này là dành những điều kiện thuận lợi, ngoại lệ cho một
số đối tượng nhất định, phù hợp với quy định của pháp luật Nguyên tắc ưu tiên không
có nghĩa là trái với nguyên tắc khách quan, việc ưu tiên cho một số đối tượng đã được quy định từ trước bởi các cơ quan cấp trên của cơ quan tuyển chọn và được Nhà nước
Trang 10GVHD: Ths Võ Duy Nam Trang 10 SVTH: Trần Thị Thu Uyên
quy định Ưu tiên xuất phát từ sự chênh lệch dân trí, sự bố trí dân cư, thường là ưu tiên cho những dân tộc ít người, sống ở vùng sâu, vùng xa, vùng cao Nếu không thực hiện chính sách ưu tiên thì sẽ rất khó để có thể xây dựng được một đội ngũ công chức vùng cao, cho cộng đồng các dân tộc ít người, hoặc ảnh hưởng đến chính sách của Nhà nước
về vấn đề dân tộc Ưu tiên về giới thường hướng vào thực hiện chính sách của Nhà nước đối với công chức nữ Ưu tiên người có công với nước nhằm tạo điều kiện ưu đãi,
ví dụ như hạ độ tuổi, lấy độ tuổi rộng hơn đối với những người đã có sự hi sinh, đóng góp trong chiến tranh hay những hoàn cảnh đặc biệt, vì thế họ không còn đủ điều kiện
để đáp ứng các tiêu chuẩn trong chế độ tuyển dụng của Nhà nước Nguyên tắc ưu tiên bảo đảm tính khách quan, công bằng, khuyến khích được mọi công chức phát huy tối
đa sự tận tâm, tận lực với công vụ, hạn chế tính quan liêu, tùy tiện, cảm tình cá nhân,…
- Nguyên tắc công khai
Tính công khai xuất phát từ các thiết chế dân chủ được quy định trong Hiến pháp
và Luật, phạm vi công khai không hạn chế, công khai để mọi người cùng biết việc tuyển dụng, như công khai về chế độ dự tuyển, công khai số lượng cần chọn vào cơ quan, công khai kết quả thi tuyển, công khai chế độ ưu tiên,…trên các phương tiện thông tin đại chúng
- Nguyên tắc khuyến khích
Đây là sự ưu tiên dành cho những người mà ngoài những tiêu chuẩn cần đáp ứng,
họ còn có những kết quả, năng lực khác có giá trị bổ trợ đối với chuyên môn đã tham gia dự tuyển Khi hai hoặc nhiều hơn số lượng người đều có đủ những điều kiện trúng tuyển thì phải tính đến nguyên tắc ưu tiên Nhưng nếu nguyên tắc ưu tiên vẫn còn lại hai người trở lên để lựa chọn thì có thể áp dụng nguyên tắc khuyến khích để tìm những người có năng lực, tiêu chuẩn rộng hơn như những yếu tố về chứng chỉ ngoại ngữ, tin học, nơi cư trú, tuổi tác,…Ví dụ: nếu hai người cùng đủ tiêu chuẩn, ai có chứng chỉ ngoại ngữ cao hơn sẽ được tuyển dụng Hoặc nếu có hai người cùng trúng tuyển mà chỉ tiêu còn một thì người có chỗ ở để ổn định công việc sẽ được khuyến khích tuyển dụng
- Nguyên tắc xuất phát từ yêu cầu
Tuyển dụng căn cứ vào nhu cầu thực tế, thiếu công chức cấp nào, thì tuyển đúng chuyên môn trình độ đó, có thể cao hơn nhưng không được thấp hơn, dựa vào việc để tìm người Điều 23 Pháp lệnh cán bộ, công chức quy định: “khi tuyển dụng cán bộ,
Trang 11GVHD: Ths Võ Duy Nam Trang 11 SVTH: Trần Thị Thu Uyên
công chức quy định tại các điểm b, c, đ, e và h khoản 1 Điều 1 của Pháp lệnh này, cơ quan tổ chức tuyển tụng phải căn cứ vào nhu cầu công việc, vị trí công tác của các chức danh cán bộ, công chức trong cơ quan, tổ chức mình và chỉ tiêu biên chế được giao” Tuyển dụng không xuất phát từ nhu cầu sẽ tạo ra những hậu quả rất khó khắc phục sau này như đủ biên chế mà vẫn thiếu người làm việc, có người chơi mà không có người làm, việc đáng một người làm lại chia ra cho ba, bốn người Không những thế, tâm lý tị nạnh, nhòm ngó lẫn nhau trong công vụ khá phổ biến ở những cơ quan bất cập
về cơ cấu hiện nay
- Nguyên tắc đảm bảo vật chất và tinh thần
Kinh nghiệm của nhiều nước trên thế giới cho thấy, nếu ở nước nào có chế độ tiền lương đảm bảo cho công chức có cuộc sống khá về vật chất và tăng mức sống của
xã hội, được bảo đảm về các quyền về tinh thần khác theo quy định của pháp luật thì điều đó sẽ là động lực trực tiếp khơi dậy sự sáng tạo, lòng trung thành, tận tụy của công chức đối với Nhà nước và nhân dân Đồng thời khắc phục có hiệu quả tệ quan liêu, hối
lộ, tiêu cực, tham nhũng trong đội ngũ công chức
Các nguyên tắc trên không tồn tại một cách độc lập mà chúng hỗ trợ, tác động lẫn nhau, phát sinh từ những yếu tố khách quan, yếu tố pháp lý, nguyên tắc tạo điều kiện
để thực hiện nguyên tắc kia, vi phạm nguyên tắc này có thể sẽ vi phạm nguyên tắc khác
1.4 Tiêu chuẩn của người dự tuyển công chức
Khi đề cập tới tiêu chuẩn công chức thì đưa ra những thông tin có thể kiểm nghiệm được khi hình thành những tiêu chuẩn ở mức độ có thể, mà như vậy cũng không nên tuyệt đối hóa tiêu chuẩn theo hai cực đối lập nhau Chẳng hạn nếu nói tiêu chuẩn có thể kiểm nghiệm không có nghĩa là mọi thông tin đưa ra đều có thể đo, đếm được Nhưng có những tiêu chuẩn hoặc có thể phải chấp nhận việc đánh giá bằng sự kết hợp các tiêu chuẩn theo nguyên tắc liên hệ tất yếu Thực tế cho thấy có hai vấn đề liên quan đến việc tiếp nhận người để tuyển dụng vào công chức: đòi hỏi người dự tuyển phải có những điều kiện cụ thể về chuyên môn, tuổi tác và những yếu tố về thể chất,… và tính chất có hạn của biên chế trong bộ máy hành chính Nhà nước khiến cho việc lựa chọn là việc cần thiết Tiêu chuẩn là những tiêu chí cụ thể đòi hỏi người tham gia tuyển dụng phải thỏa mãn để đệ đơn cho cơ quan có trách nhiệm tuyển dụng, tiêu chuẩn là những đòi hỏi trước tuyển dụng vì vậy mọi người thi tuyển phải đủ tiêu chuẩn
Trang 12GVHD: Ths Võ Duy Nam Trang 12 SVTH: Trần Thị Thu Uyên
1.4.1 Tiêu chuẩn về nhân thân
Tiêu chuẩn này đề cập tới các yếu tố, xác định quốc tịch, xác định về tuổi tác, xác định về điều kiện thể chất và cuối cùng là tư cách công dân
Tiêu chuẩn về quốc tịch:
Đối với pháp luật về công chức nước ta, tất cả công dân muốn tham gia vào công
vụ đều phải có quốc tịch Việt Nam Nghĩa là họ phải là người Việt Nam mang quốc tịch Việt Nam (không phải là người Việt Nam mang quốc tịch nước ngoài) hoặc là người nước ngoài mang quốc tịch Việt Nam
Việc xác định quốc tịch và coi đó là một yêu cầu có tính chất tiên quyết đối với công chức đều được thực hiện ở nhiều quốc gia, nhất là công chức trong các cơ quan hành chính mà công vụ của họ trực tiếp phát sinh quyền lực Nhà nước Đối với nước
ta, hầu hết các ngạch công chức hiện nay đều có một yêu cầu là “điều kiện” tuyển dụng: đó là chỉ tuyển dụng vào công chức những người là công dân Việt Nam
Tiêu chuẩn về thể trạng, sức khỏe
Tiêu chuẩn sức khỏe đối với một công chức không những là tiêu chuẩn chung, phổ thông, yêu cầu sức khỏe không những được duy trì ngay từ khi tuyển công chức vào biên chế mà còn được bảo đảm trong suốt quá trình thực hiện cuộc đời công vụ của mình Một người có sức khỏe tốt thì sẽ thực hiện được nhiệm vụ được giao một cách
nhanh nhất và hiệu quả nhất
Tiêu chuẩn về sự bảo toàn các yếu tố của quyền công dân
Như đã nêu trên về tiêu chuẩn quốc tịch đối với công chức Tiêu chuẩn đó để phân định việc tham gia công chức đối với người có quốc tịch hoặc người không có quốc tịch Việt Nam Còn tiêu chuẩn bảo toàn các yếu tố quyền công dân chỉ nói về những công dân Việt Nam Nghĩa là, họ phải giữ được những gì là quyền, nghĩa vụ cơ bản của công dân khi tham gia vào công chức Ví dụ nếu một người mắc bệnh tâm thần bẩm sinh hoặc lâm bệnh bất thường; hoặc một người đang bị truy tố, đang thụ án là những người không bảo toàn được các yếu tố của quyền công dân
1.4.2 Tiêu chuẩn về trình độ, năng lực
Tiêu chuẩn về trình độ và năng lực là một trong những tiêu chuẩn được nhấn mạnh và được kiểm nghiệm khá nghiêm túc trong khi chuyển đổi cơ chế quản lý Tiêu chuẩn về trình độ, năng lực có sự hỗ trợ lẫn nhau, năng lực là hậu quả logic của tiêu chuẩn cũng như một người được đào tạo, bồi dưỡng để được cấp một văn bằng, chứng
Trang 13GVHD: Ths Võ Duy Nam Trang 13 SVTH: Trần Thị Thu Uyên
chỉ xác định về một trình độ phù hợp với năng lực, để đảm đương một chức vụ Tuy nhiên, cũng có nhiều trường hợp xuất hiện sự bất cập khi một người được đào tạo, bồi dưỡng, có hệ thống văn bằng khá tốt, nhưng lại không phát huy được những gì đã tiếp thu để biến thành năng lực trong công tác
Trái lại, có số cán bộ (đương nhiên là thiểu số) do tác động của hoàn cảnh chiến tranh trước đây, do điều kiện công tác, hoàn cảnh hoặc sự thay đổi cơ chế, chính sách không được đào tạo, bồi dưỡng có hệ thống nhưng thực tế lại có khả năng giải quyết những công việc do thực tiễn đặt ra
Như vậy cho thấy rằng, những biểu hiện khác nhau của chế độ, tiêu chuẩn về trình
độ, năng lực Nhưng đòi hỏi chung là, trong điều kiện đổi mới, công chức phải được đào tạo, bồi dưỡng đúng với cương vị, chức vụ mà họ đảm nhiệm
1.4.3 Tiêu chuẩn về thời gian – tuổi tác
Căn cứ vào trách nhiệm dân sự thì một người muốn tham gia vào công chức phải
đủ điều kiện vể tuổi tác cần thiết Đó là tuổi được pháp luật nhà nước từ Hiến pháp đến pháp luật hành chính quy định Đó là tuổi xác định là đủ tiêu chuẩn, đủ tham gia công
vụ theo pháp luật hiện hành, tuổi tham gia công vụ ở hầu hết các chức vụ là đủ 18 tuổi Căn cứ vào sự từng trải thì quá trình thăng tiến của công chức hoặc yêu cầu cần được giao cho một chức vụ, nhất là chức vụ lãnh đạo, khoảng thời gian cần thiết đối với một chức vụ cần phải được xác định Những giới hạn về tuổi tác là rất cần thiết vì tuổi tác một phần phản ánh năng lực làm việc, phản ánh khoảng thời gian còn phát huy năng lực, phản ánh tâm lý, nhất là tâm lý về trách nhiệm công vụ, tâm lý về sự đổi mới, cải biến chế độ công vụ, nêu ra những sáng kiến trong quản lý khi mà một công chức đang trong độ tuổi phù hợp
1.5 Trình tự, thủ tục tuyển dụng công chức
1.5.1.Đối tượng, điều kiện đăng ký dự tuyển công chức
* Đối tượng đăng ký dự tuyển công chức
- Viên chức đang làm việc ở các đơn vị sự nghiệp của Nhà nước;
- Viên chức đang làm công tác quản lý, lãnh đạo từ cấp phòng trở lên trong các doanh nghiệp Nhà nước;
- Cán bộ, công chức cấp xã;
- Sĩ quan và quân nhân chuyên nghiệp trong Quân đội nhân dân Việt Nam và Công an nhân dân Việt Nam
Trang 14GVHD: Ths Võ Duy Nam Trang 14 SVTH: Trần Thị Thu Uyên
*Điều kiện dự tuyển công chức
Theo quy định của pháp luật hiện hành thì người đăng ký dự tuyển công chức phải đảm bảo các điều kiện sau:
- Là công dân Việt Nam, có địa chỉ thường trú tại Việt Nam;
- Tuổi của người dự tuyển từ đủ 18 tuổi đến 45 tuổi;
- Có đơn dự tuyển; có lý lịch rõ ràng; có văn bằng, chứng chỉ đào tạo phù hợp với yêu cầu của ngạch dự tuyển;
- Đủ sức khoẻ để đảm nhận nhiệm vụ, công vụ;
- Không trong thời gian bị kỷ luật, bị truy cứu trách nhiệm hình sự, chấp hành án phạt tù, cải tạo không giam giữ, quản chế, đang bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn hoặc đưa vào cơ sở chữa bệnh, cơ sở giáo dục;
- Có thời gian làm việc liên tục tại cơ quan, tổ chức, đơn vị của Nhà nước từ 3 năm (đủ 36 tháng) trở lên;
Ngoài các điều kiện nói trên, căn cứ vào tính chất và đặc điểm chuyên môn nghiệp vụ của ngạch tuyển dụng, cơ quan có thẩm quyền tuyển dụng có thể bổ sung thêm một số điều kiện đối với người dự tuyển
Những người dự tuyển vào công chức quy định tại điểm b và điểm c khoản 1 Điều
1 của Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh cán bộ, công chức ngày 29 tháng 4 năm 2003 thì đăng ký dự tuyển vào công chức dự bị và phải thực hiện chế độ công chức dự bị theo quy định hiện hành trước khi xem xét tuyển dụng và bổ nhiệm vào ngạch công chức
1.5.2.Trình tự, thủ tục tuyển dụng công chức
Trình tự, thủ tục tuyển dụng công chức được tiến hành như sau:
Bước 1: Thông báo tuyển dụng
Sở Nội vụ niêm yết công khai tại trụ sở và thông báo trên các phương tiện thông tin đại chúng về tiêu chuẩn, điều kiện, số lượng cần tuyển, hồ sơ, thời gian đăng ký dự tuyển để mọi người biết và đăng ký dự tuyển Thời gian nộp hồ sơ đăng ký dự tuyển phải sau thời gian thông báo ít nhất là 15 ngày; thời gian thi phải sau thời gian nộp hồ
sơ đăng ký dự tuyển ít nhất là 15 ngày
Bước 2: Nộp hồ sơ
Người dự tuyển nộp hồ sơ tại sở nội vụ, hồ sơ gồm có:
+ Đơn đăng ký dự tuyển công chức;
Trang 15GVHD: Ths Võ Duy Nam Trang 15 SVTH: Trần Thị Thu Uyên
+ Bản sao sơ yếu lý lịch theo mẫu có xác nhận cả Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi cư trú hoặc của cơ quan, tổ chức nơi người đó đang công tác học tập; + Bản sao giấy khai sinh;
+ Bản sao có công chứng (chứng nhận) của cơ quan có thẩm quyền các văn bằng, chứng chỉ và bản kết quả học tập Người đăng ký dự tuyển cần phải có đủ các văn bằng, chứng chỉ phù hợp với yêu cầu của ngạch dự tuyển mà không phân biệt loại hình đào tạo, kết quả đào tạo, không phân biệt trường công lập và ngoài công lập;
+ Giấy chứng nhận sức khỏe do cơ quan y tế có thẩm quyền cấp huyện trở lên cấp trong vòng 6 tháng tính đến ngày nộp hồ sơ;
+ Hai ảnh 4 x 6; hai phong bì (có dán tem)
Bước 3: Tổ chức sơ tuyển
Đối với trường hợp số người đăng ký dự tuyển từ 100 người trở lên và nhiều hơn hai lần chỉ tiêu được tuyển thì căn cứ vào tình hình cụ thể, hội đồng tuyển dụng quyết định tổ chức sơ tuyển để chọn ra số người đủ tiêu chuẩn và điều kiện dự thi tuyển Số người dự thi tuyển phải nhiều hơn chỉ tiêu được tuyển ít nhất hai lần
Bước 4: Tổ chức thi tuyển
Đối với thí sinh đăng ký dự tuyển vào công chức loại A, người dự tuyển phải
dự thi đủ các môn thi sau:
- Môn hành chính nhà nước bao gồm các nội dung liên quan đến quản lý hành chính nhà nước và kiến thức nghiệp vụ chuyên ngành (nếu có) phù hợp với yêu cầu tuyển dụng Hình thức thi: thi viết và thi trắc nghiệm Thời gian thi viết: 120 phút; thời gian thi trắc nghiệm: 30 phút
- Môn ngoại ngữ: trình độ B (1 trong 5 thứ tiếng Anh, Nga, Pháp, Trung, Đức hoặc ngoại ngữ khác theo yêu cầu của vị trí công tác) Hình thức thi: thi viết và thi nói Thời gian thi viết: 90 phút; thời gian thi nói: 15 phút
- Môn tin học văn phòng: thi thực hành trên máy hoặc thi trắc nghiệm, nếu thi trắc nghiệm, thời gian thi: 30 phút; nếu thi trên máy, thời gian thi: 60 phút
Đối với các thí sinh đăng ký dự tuyển vào công chức loại B, người dự tuyển
phải dự thi đủ các môn thi sau:
- Môn hành chính nhà nước bao gồm các nội dung liên quan đến quản lý hành chính nhà nước và kiến thức nghiệp vụ chuyên ngành (nếu có) phù hợp với yêu cầu
Trang 16GVHD: Ths Võ Duy Nam Trang 16 SVTH: Trần Thị Thu Uyên
tuyển dụng Hình thức thi: thi viết và thi trắc nghiệm Thời gian thi viết: 90 phút; thời gian thi trắc nghiệm: 30 phút
- Môn ngoại ngữ: trình độ A (1 trong 5 thứ tiếng Anh, Nga, Pháp, Trung, Đức hoặc ngoại ngữ khác theo yêu cầu của vị trí công tác) Hình thức thi: thi viết và thi nói Thời gian thi viết: 90 phút; thời gian thi nói: 15 phút
- Môn tin học văn phòng: thi thực hành trên máy hoặc thi trắc nghiệm, nếu thi trắc nghiệm, thời gian thi: 30 phút; nếu thi trên máy, thời gian thi: 60 phút
Đối với thí sinh đăng ký tuyển dụng vào công chức loại C:
Hội đồng tuyển dụng của cơ quan căn cứ vào các văn bằng, chứng chỉ, hình thức, sức khỏe, phẩm chất của người dự tuyển (có thể kết hợp với kiểm tra trực tiếp tay nghề) để quyết định tuyển dụng
Đối với người dự tuyển vào làm việc ở các vùng, địa phương có nhu cầu sử dụng tiếng dân tộc thiểu số thì có thể thay thế môn ngoại ngữ bằng tiếng dân tộc thiểu số Yêu cầu trình độ, hình thức thi, thời gian thi do Chủ tịch Hội đồng thi tuyển công chức quyết định
Đối với một số ngành đặc thù hoặc công việc cần thiết sử dụng ngoại ngữ, tin học
ở trình độ cao hơn mặt bằng chung như ngoại giao, thương mại, hợp tác quốc tế, phiên dịch, khoa học công nghệ, tin học thì căn cứ vào yêu cầu cụ thể của công việc, Hội đồng tuyển dụng sẽ quyết định mức độ, nội dung, hình thức, thời gian thi đối với môn ngoại ngữ, tin học
* Cách tính điểm thi
- Điểm môn hành chính nhà nước, môn ngoại ngữ được tính trên cơ sở lấy điểm thi viết nhân hệ số 2 cộng với điểm thi trắc nghiệm (hoặc nói), tổng số điểm đem chia cho 3 Các môn thi còn lại tính hệ số 1
- Đối với những ngành đặc thù liên quan đến môn ngoại ngữ hoặc tin học thì môn
đó sẽ được tính hệ số 2 Các môn thi còn lại tính hệ số 1
* Cách xác định người trúng tuyển:
Người trúng tuyển trong kỳ thi là người phải thi đủ các môn thi, có số điểm của mỗi phần thi đạt từ 50 điểm trở lên và tính từ người có tổng số điểm cao nhất cho đến hết chỉ tiêu được tuyển Trường hợp nhiều người dự thi có tổng số điểm bằng nhau ở chỉ tiêu cuối cùng thì được Hội đồng thi tuyển xem xét chọn người trúng tuyển theo trình tự sau:
Trang 17GVHD: Ths Võ Duy Nam Trang 17 SVTH: Trần Thị Thu Uyên
+ Nếu hội đồng thi tuyển không có điều kiện tổ chức thi tiếp thì người có điểm thi môn hành chính nhà nước cao hơn sẽ được chọn là người trúng tuyển;
+ Nếu Hội đồng thi tuyển tổ chức thi tiếp để chọn người trúng tuyển là môn hành chính nhà nước Nếu điểm môn thi tiếp bằng nhau thì Hội đồng thi tuyển sẽ chọn người
có trình độ cao hơn là người trúng tuyển Nếu người dự tuyển có trình độ như nhau thì người nào có kết quả học tập cao hơn và tốt nghiệp chuyên ngành chuyên môn nghiệp
vụ phù hợp với ngạch dự tuyển hơn sẽ là người trúng tuyển
Lưu ý: Kết quả thi tuyển của mỗi kỳ thi chỉ có giá trị đối với kỳ thi đó và không
thực hiện bảo lưu kết quả thi
Bước 5: Công bố kết quả
Hội đồng tuyển dụng phải niêm yết công khai danh sách trúng tuyển tại Sở Nội vụ
và gửi thông báo kết quả trúng tuyển cho người dự tuyển Trong thời hạn 15 ngày kể từ khi nhận được thông báo, người trúng tuyển sẽ phải hoàn chỉnh hồ sơ dự tuyển và xuất trình bản gốc các văn bằng, chứng chỉ hoặc các giấy tờ có liên quan tại Sở Nội vụ để kiểm tra Nếu phát hiện, xác minh thấy văn bằng, chứng chỉ không hợp pháp hoặc không thuộc diên ưu tiên tuyển dụng như kê khai trong hồ sơ dự tuyển thì kết quả trúng tuyển sẽ bị hủy bỏ
Bước 6: Tuyển dụng
Trong thời hạn chậm nhất 30 ngày, kể từ ngày công bố kết quả thi tuyển, Sở Nội
vụ ra quyết định tuyển dụng người đã trúng tuyển Trong thời hạn chậm nhất 30 ngày,
kể từ ngày có quyết định tuyển dụng, người được tuyển dụng phải đến cơ quan nhận việc, trừ trường hợp tuyển dụng có quy định thời hạn khác Trường hợp người được tuyển dụng có lý do chính đáng mà không thể nhận việc đúng hạn thì phải làm đơn xin gia hạn và được cơ quan sử dụng công chức đồng ý Thời gian gia hạn không quá 30 ngày Trường hợp người có quyết định tuyển dụng đến nhận việc chậm quá thời hạn nói trên và không có lý do chính đáng thì Sở Nội vụ ra quyết định hủy bỏ quyết định tuyển dụng
1.6.Chế độ ưu tiên trong thi tuyển, xét tuyển
Việc ưu tiên trong tuyển dụng được thực hiện theo Nghị định số 117/2003/NĐ –
CP ngày 10/10/2003 và Nghị định số 09/2007/NĐ – CP ngày 15/01/2007 (sửa đổi, bổ sung Nghị định 117/2003/NĐ – CP) của Chính phủ về tuyển dụng, sử dụng và quản lý cán bộ, công chức trong các cơ quan Nhà nước
Trang 18GVHD: Ths Võ Duy Nam Trang 18 SVTH: Trần Thị Thu Uyên
1.6.1 Chế độ ưu tiên trong thi tuyển:
- Đối tượng được cộng 30 điểm vào tổng kết quả điểm thi bao gồm: Anh hùng Lực lượng vũ trang, Anh hùng Lao động; Thương binh, người hưởng chính sách như thương binh
- Đối tượng được cộng 20 diểm vào tổng kết quả diểm thi bao gồm: Con liệt sĩ, con thương binh, con bệnh binh; Con của người hoạt động cách mạng trước tổng khởi nghĩa (từ ngày 19 tháng 8 năm 1945 trở về trước), con đẻ của người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học; Con Anh hùng Lực lượng vũ trang, con Anh hùng Lao động; Người có học vị tiến sĩ về chuyên ngành đào tạo phù hợp với nhu cầu tuyển dụng
- Đối tượng được cộng 10 diểm vào tổng kết quả diểm thi bao gồm: Những người
có học vị thạc sĩ đúng chuyên ngành đào tạo phù hợp với nhu cầu tuyển dụng, những người tốt nghiệp loại giỏi và xuất sắc ở các bậc đào tạo chuyên môn phù hợp với nhu cầu tuyển dụng; Người đã hoàn thành nghĩa vụ quân sự; Đội viên thanh niên xung phong, đội viên trí thức trẻ tình nguyện phục vụ nông thôn, miền núi từ hai năm trở lên
đã hoàn thành nhiệm vụ; cán bộ, công chức cấp xã nếu có thời gian làm việc liên tục tại các cơ quan, tổ chức cấp xã từ 36 tháng trở lên
1.6.2 Chế độ ưu tiên trong xét tuyển:
Những người cam kết tình nguyện làm việc từ 5 năm trở lên ở vùng cao, vùng sâu, vùng xa, miền núi, biên giới, hải đảo được xét tuyển theo thứ tự ưu tiên sau đây : + Người dân tộc thiểu số, người cư trú tại nơi tự nguyện làm việc;
+ Anh hùng Lực lượng vũ trang, Anh hùng Lao động;
+ Thương binh, người hưởng chính sách như thương binh;
+ Con liệt sĩ;
+ Con thương binh, con bệnh binh, con của người hoạt động cách mạng trước Tổng khởi nghĩa (từ ngày 19 tháng 8 năm 1945 trở về trước), con đẻ của người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học, con Anh hùng Lực lượng vũ trang, con Anh hùng Lao động;
+ Người có học vị tiến sĩ về chuyên ngành đào tạo phù hợp với nhu cầu tuyển dụng; cán bộ, công chức cấp xã đã có thời gian làm việc tại các cơ quan, tổ chức cấp xã
từ 36 tháng trở lên
Trang 19GVHD: Ths Võ Duy Nam Trang 19 SVTH: Trần Thị Thu Uyên
+ Người có học vị thạc sĩ đúng chuyên ngành đào tạo, phù hợp với nhu cầu tuyển dụng; người tốt nghiệp loại giỏi và xuất sắc ở các bậc đào tạo chuyên môn phù hợp với nhu cầu tuyển dụng; người đã hoàn thành nghĩa vụ quân sự, đội viên thanh niên xung phong, đội viên đội trí thức trẻ tình nguyện phục vụ nông thôn, miền núi từ hai năm trở lên đã hoàn thành nhiệm vụ
1.7 Trình tự, thủ tục tuyển dụng công chức dự bị
1.7.1 Điều kiện đăng ký dự tuyển
Người đăng ký dự tuyển công chức dự bị phải có đủ tiêu chuẩn chuyên môn nghiệp vụ của ngạch đăng ký dự tuyển và có đủ các điều kiện sau đây :
- Là công dân Việt Nam, có địa chỉ thường trú tại Việt Nam;
- Phẩm chất đạo đức tốt;
- Tuổi đời phải từ đủ 18 tuổi đến 40 tuổi;
- Có đơn xin dự tuyển và lý lịch rõ ràng; có đủ văn bằng, chứng chỉ theo quy định của ngạch đăng ký dự tuyển;
- Có đủ sức khoẻ để đảm nhận nhiệm vụ;
- Không trong thời gian bị truy cứu trách nhiệm hình sự, chấp hành án phạt tù, cải tạo không giam giữ, quản chế, đang bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn hoặc đưa vào cơ sở chữa bệnh, cơ sở giáo dục
Lưu ý: Căn cứ vào tính chất và đặc điểm chuyên môn nghiệp vụ, cơ quan tuyển
dụng có thể bổ sung thêm một số điều kiện đối với người dự tuyển
1.7.2 Trình tự, thủ tục tuyển dụng công chức dự bị
Bước 1: Thông báo tuyển dụng
Sở Nội vụ niêm yết công khai tại trụ sở và thông báo trên các phương tiện thông tin đại chúng về điều kiện và tiêu chuẩn đăng ký dự tuyển, số lượng cần tuyển, nội dung hồ sơ đăng ký dự tuyển, thời gian đăng ký dự tuyển và địa điểm nộp hồ sơ, số
điện thoại liên hệ, nội dung thi, thời gian thi, địa điểm thi, lệ phí thi
Việc thông báo thi tuyển công chức dự bị được thực hiện 60 ngày trước ngày thi Thời gian nộp hồ sơ đăng ký dự tuyển phải sau thời gian thông báo ít nhất là 15 ngày; thời gian thi phải sau thời gian nộp hồ sơ đăng ký dự tuyển ít nhất là 15 ngày
Bước 2: Nộp hồ sơ
- Đơn đăng ký dự tuyển công chức dự bị
Trang 20GVHD: Ths Võ Duy Nam Trang 20 SVTH: Trần Thị Thu Uyên
- Bản sao sơ yếu lý lịch theo mẫu có xác nhận của Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi cư trú hoặc của cơ quan, tổ chức nơi người đó đang công tác học tập
- Bản sao giấy khai sinh;
- Bản sao có công chứng (chứng nhận) của cơ quan có thẩm quyền các văn bằng, chứng chỉ và bản kết quả học tập Người đăng ký dự tuyển cần phải có đủ các văn bằng, chứng chỉ có trình độ phù hợp với yêu cầu của ngạch dự tuyển mà không phân biệt loại hình đào tạo, kết quả đào tạo, không phân biệt trường công lập và ngoài công lập
- Giấy chứng nhận sức khỏe do cơ quan y tế có thẩm quyền cấp huyện trở lên cấp trong vòng 6 tháng tính đến ngày nộp hồ sơ
- 2 ảnh 4x6, 2 phong bì (có dán tem)
Bước 3: Tổ chức sơ tuyển
Việc sơ tuyển công chức dự bị do Hội đồng sơ tuyển của cơ quan, tổ chức có chỉ tiêu tuyển dụng công chức dự bị thực hiện Hội đồng sơ tuyển do người đứng đầu cơ quan quyết định thành lập có số lượng từ 3 đến 5 thành viên Hội đồng này có nhiệm
vụ tiếp nhận hồ sơ dự tuyển, xem xét để lựa chọn những người dự tuyển đủ tiêu chuẩn
và điều kiện tuyển dụng; báo cáo và đề nghị người đứng đầu cơ quan quyết định danh sách những người được sơ tuyển Số lượng được sơ tuyển phải nhiều hơn số chỉ tiêu được tuyển từ 1/3 lần trở lên
Đối với trường hợp số người đăng ký dự tuyển từ 100 người trở lên và nhiều hơn
2 lần chỉ tiêu được tuyển thì căn cứ vào tình hình cụ thể, Hội đồng tuyển dụng quyết định tổ chức sơ tuyển để chọn ra số người đủ tiêu chuẩn và điều kiện dự thi tuyển Danh sách những người đã được sơ tuyển phải nhiều hơn chỉ tiêu được tuyển ít nhất 2 lần
Bước 4: Tổ chức thi tuyển
Đối với các kỳ thi tuyển công chức dự bị để bổ sung cho công chức loại A, người dự tuyển phải thi đủ các môn thi sau:
- Môn Hành chính nhà nước: bao gồm các nội dung liên quan đến quản lý hành chính nhà nước và kiến thức nghiệp vụ chuyên ngành (nếu có) phù hợp với yêu cầu tuyển dụng
Hình thức thi: Thi viết và thi trắc nghiệm Thời gian thi viết 120 phút, thời gian thi trắc nghiệm 30 phút
Trang 21GVHD: Ths Võ Duy Nam Trang 21 SVTH: Trần Thị Thu Uyên
- Môn Ngoại ngữ: Trình độ B (Một trong 5 thứ tiếng Anh, Nga, Pháp, Trung, Đức
hoặc ngoại ngữ khác theo yêu cầu của vị trí công tác)
Hình thức thi: Thi viết và thi nói Thời gian thi viết 90 phút, thời gian thi nói 15 phút
- Môn Tin học văn phòng: Thi thực hành trên máy hoặc thi trắc nghiệm Nếu thi
trắc nghiệm, thời gian thi 30 phút; nếu thi trên máy, thời gian thi 60 phút
Đối với kỳ thi tuyển công chức dự bị để bổ sung cho công chức loại B, người
dự tuyển phải thi đủ các môn thi sau:
- Môn Hành chính nhà nước: bao gồm các nội dung liên quan đến quản lý hành chính nhà nước và kiến thức nghiệp vụ chuyên ngành (nếu có) phù hợp với yêu cầu tuyển dụng
Hình thức thi: Thi viết và thi trắc nghiệm Thời gian thi viết 90 phút, thời gian thi trắc nghiệm 30 phút
- Môn Ngoại ngữ: Trình độ A (Một trong 5 thứ tiếng Anh, Nga, Pháp, Trung, Đức
hoặc ngoại ngữ khác theo yêu cầu của vị trí công tác)
Hình thức thi: Thi viết và thi nói Thời gian thi viết 60 phút, thời gian thi nói 15 phút
- Môn Tin học văn phòng: Thi thực hành trên máy hoặc thi trắc nghiệm Nếu thi
trắc nghiệm, thời gian thi 30 phút; nếu thi trên máy, thời gian thi 60 phút
Lưu ý:
Đối với người dự tuyển vào làm việc ở các vùng, địa phương có nhu cầu sử dụng tiếng dân tộc thiểu số thì có thể thay thế môn ngoại ngữ bằng tiếng dân tộc thiểu số Yêu cầu trình độ, hình thức thi, thời gian thi do Chủ tịch Hội đồng thi tuyển công chức quyết định
Đối với một số ngành đặc thù hoặc công việc cần thiết sử dụng ngoại ngữ, tin học
ở trình độ cao hơn mặt bằng chung như ngoại giao, thương mại, hợp tác quốc tế, phiên dịch, khoa học công nghệ, tin học thì căn cứ yêu cầu cụ thể của công việc, Hội đồng tuyển dụng sẽ quyết định mức độ, nội dung, hình thức, thời gian thi đối với môn ngoại ngữ, tin học
Trang 22GVHD: Ths Võ Duy Nam Trang 22 SVTH: Trần Thị Thu Uyên
* Cách tính điểm thi:
Điểm môn hành chính nhà nước, môn ngoại ngữ được tính trên cơ sở lấy điểm thi viết nhân hệ số 2 cộng với điểm thi trắc nghiệm (hoặc nói), tổng số điểm đem chia cho
3 Các môn thi còn lại tính hệ số 1
Đối với những ngành đặc thù liên quan đến môn ngoại ngữ hoặc tin học thì môn
đó được tính hệ số 2 Các môn thi còn lại tính hệ số 1
Mỗi phần thi được tính theo thang điểm 100 Người thuộc đối tượng ưu tiên tuyển dụng thì được cộng thêm số điểm ưu tiên vào điểm thi
* Xác định người trúng tuyển:
Người trúng tuyển trong kỳ thi là người phải thi đủ các môn, có số điểm của mỗi phần thi đạt từ 50 điểm trở lên và tính từ người có tổng số điểm cao nhất cho đến hết chỉ tiêu được tuyển Trường hợp nhiều người có tổng số điểm bằng nhau ở chỉ tiêu cuối cùng được tuyển thì Hội đồng thi tuyển quyết định tổ chức thi tiếp để chọn người có điểm cao nhất trúng tuyển
Bước 5: Công bố kết quả
Hội đồng tuyển dụng phải niêm yết công khai danh sách trúng tuyển công chức
dự bị tại Sở Nội vụ và gửi thông báo kết quả trúng tuyển cho người dự tuyển
Trong thời hạn 15 ngày kể từ khi nhận được thông báo, người trúng tuyển hoàn chỉnh hồ sơ dự tuyển và xuất trình bản gốc các văn bằng, chứng chỉ hoặc các giấy tờ liên quan tại Sở Nội vụ để kiểm tra Nếu phát hiện, xác minh thấy văn bằng, chứng chỉ không hợp pháp hoặc không thuộc diện ưu tiên tuyển dụng như kê khai trong hồ sơ dự
tuyển thì kết quả trúng tuyển bị hủy bỏ
Bước 6: Tuyển dụng
Trong thời hạn châm nhất 30 ngày, kể từ ngày công bố kết quả thi tuyển, Sở Nội
vụ ra quyết định tuyển dụng người trúng tuyển vào làm công chức dự bị
Trong thời hạn chậm nhất 30 ngày, kể từ ngày có quyết định tuyển dụng, người được tuyển dụng phải đến cơ quan nhận việc, trừ trường hợp tuyển dụng có quy định thời hạn khác
Trường hợp người được tuyển dụng có lý do chính đáng mà không thể nhận việc đúng hạn thì phải làm đơn xin gia hạn và được cơ quan sử dụng công chức đồng ý Thời gian gia hạn không quá 30 ngày
Trang 23GVHD: Ths Võ Duy Nam Trang 23 SVTH: Trần Thị Thu Uyên
Trường hợp người có quyết định tuyển dụng đến nhận việc chậm quá thời hạn nói trên và không có lý do chính đáng thì Sở Nội vụ ra quyết định huỷ bỏ quyết định tuyển dụng công chức dự bị
1.7.3 Chế độ ưu tiên trong thi tuyển, xét tuyển công chức dự bị
* Các đối tượng ưu tiên trong thi tuyển công chức dự bị:
- Anh hùng Lực lượng vũ trang, Anh hùng Lao động, thương binh, người hưởng chính sách như thương binh được cộng 30 điểm vào tổng kết quả thi tuyển
- Con liệt sĩ, con thương binh, con bệnh binh, con của người hoạt động cách mạng trước tổng khởi nghĩa (từ ngày 19 tháng 8 năm 1945 trở về trước), con đẻ của người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học, con Anh hùng Lực lượng vũ trang, con Anh hùng Lao động, người có học vị tiến sĩ về chuyên ngành đào tạo phù hợp với nhu cầu tuyển dụng được cộng 20 điểm vào tổng kết quả thi tuyển
- Người có học vị thạc sỹ đúng chuyên ngành đào tạo phù hợp với nhu cầu tuyển dụng; những người tốt nghiệp loại giỏi và loại xuất sắc ở các bậc đào tạo chuyên môn phù hợp với nhu cầu tuyển dụng; người đã hoàn thành nghĩa vụ quân sự, đội viên thanh niên xung phong, đội viên trí thức trẻ tình nguyện phục vụ nông thôn, miền núi từ 2 năm trở lên đã hoàn thành nhiệm vụ được cộng 10 điểm vào tổng kết quả thi tuyển
* Các đối tượng ưu tiên trong xét tuyển công chức dự bị:
Những người cam kết tình nguyện làm việc từ 5 năm trở lên ở vùng cao, vùng sâu, vùng xa, miền núi, biên giới, hải đảo được xét tuyển theo thứ tự ưu tiên sau:
1 Người dân tộc thiểu số, người cư trú tại nơi tình nguyện làm việc
2 Anh hùng lực lượng vũ trang, anh hùng lao động;
3 Thương binh, người hưởng chính sách như thương binh;
4 Con liệt sỹ
5 Con thương binh, con bệnh binh, con của người hoạt động cách mạng trước tổng khởi nghĩa (từ ngày 19 tháng 8 năm 1945 trở về trước), con đẻ của người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học, con Anh hùng Lực lượng vũ trang, con Anh hùng Lao động;
6 Người có học vị tiến sĩ về chuyên ngành đào tạo phù hợp với nhu cầu tuyển dụng
7 Người có học vị thạc sỹ đúng chuyên ngành đào tạo, phù hợp với nhu cầu tuyển dụng; người tốt nghiệp loại giỏi và loại xuất sắc ở các bậc đào tạo chuyên môn
Trang 24GVHD: Ths Võ Duy Nam Trang 24 SVTH: Trần Thị Thu Uyên
phù hợp với nhu cầu tuyển dụng; người đã hoàn thành nghĩa vụ quân sự, đội viên thanh niên xung phong, đội viên trí thức trẻ tình nguyện phục vụ nông thôn, miền núi từ 2 năm trở lên đã hoàn thành nhiệm vụ
1.7.4 Thời gian thực hiện chế độ công chức dự bị
Thời gian thực hiện chế độ công chức dự bị là đủ 12 tháng đối với người được tuyển
để bổ sung cho công chức loại A
Thời gian thực hiện chế độ công chức dự bị là đủ 06 tháng đối với người được tuyển để bổ sung cho công chức loại B
có năng lực để bổ nhiệm giữ các vị trí cao, chủ chốt trong hoạt động công vụ
Cần sửa đổi Pháp lệnh cán bộ công chức theo hướng không tuyển dụng suốt đời mà thực hiện chế độ hợp đồng linh hoạt đối với đội ngũ cán bộ, công chức để có
cơ chế, chế độ, chính sách quản lý thích hợp mang lại hiệu quả Đây là việc làm có
ý nghĩa quyết định, nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức nói chung đang thiếu động lực đích thực góp phần đẩy mạnh công cuộc cải cách hành chính
Trang 25GVHD: Ths Võ Duy Nam Trang 25 SVTH: Trần Thị Thu Uyên
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG VẤN ĐỀ TUYỂN DỤNG CÔNG CHỨC NHÀ
NƯỚC HIỆN NAY
2.1 Thực trạng công chức nước ta hiện nay
Theo báo cáo của Bộ Tài chính, tính đến 31.12.2007, tổng số cán bộ công chức là 1.976.976 người, trong đó khu vực sự nghiệp công là 1.428.909 người, khu vực hành chính nhà nước, Đảng, đoàn thể (từ trung ương đến cấp huyện) là 331.820 người, công chức cấp xã là 216.247 người Nếu tính theo tỷ lệ dân số, cứ khoảng hơn 40 người dân thì có một công chức hoặc cán bộ quản lý, phục vụ So với thế giới, tỷ lệ này thật đáng
để suy nghĩ, trong khi hiện nay con số này lại có xu hướng gia tăng cho dù chúng ta đã
cố gắng rút gọn nhiều đầu mối.1
Bất cập về vấn đề cán bộ công chức còn nhiều, và phải tốn rất nhiều giấy mực để phân tích, mổ xẻ và thậm chí là tranh luận Chúng ta có quá nhiều văn bản quy phạm pháp luật hướng dẫn thi hành Pháp lệnh cán bộ, công chức, tuy nhiên hiệu lực thực tế của các văn bản đó chưa cao vì thực hiện chậm, không phù hợp với pháp luật, còn nhiều văn bản chưa được hướng dẫn thi hành, thậm chí mâu thuẫn nhau2 Có thể nói, đây là mấu chốt cơ bản nhất làm cho lâu nay chúng ta lúng túng trong khâu xây dựng
và tổ chức bộ máy, tuyển dụng, bổ nhiệm, luân chuyển, khen thưởng và kỷ luật cán bộ, công chức Để xử lý một tình huống nêu trên, các bộ, ngành, các cơ sở sử dụng cán bộ buộc phải dẫn chiếu quá nhiều văn bản mà thực tế cho thấy vẫn còn nhiều vướng mắc, không có khả năng giải quyết, mà phải chờ một quyết định cá biệt nào đó của thủ trưởng cơ quan có thẩm quyền
Khi bước vào con đường chức nghiệp, hầu hết cán bộ, công chức muốn có một vị thế nhất định trong cơ quan công quyền Tuy nhiên, nói một cách nôm na, đâu
đó vẫn còn quan niệm “vào nhà nước để nhàn thân” nhiều hơn là để “phụng sự nhân dân, phụng sự đoàn thể” Mặc dù vào làm ở cơ quan nhà nước với mức lương thấp, thậm chí quá thấp, nhưng nhiều người vẫn muốn “nương thân” Phải chăng chúng ta đã
Trang 26GVHD: Ths Võ Duy Nam Trang 26 SVTH: Trần Thị Thu Uyên
quá dễ dãi trong nhận thức về cán bộ, công chức và dẫn đến việc tuyển dụng ồ ạt như hiện nay
Thực tế hiện nay nhiều người muốn có được một chỗ làm việc trong cơ quan Nhà nước phải bỏ ra hàng chục, thậm chí hàng trăm triệu đồng tùy theo vị trí công tác, dẫn đến hệ quả người có phẩm chất năng lực nhưng không có tiền, hoặc không chịu chạy sẽ không được tuyển dụng Ngược lại, có người không đủ tiêu chuẩn, điều kiện, nhưng do thân quen hoặc do chạy chọt để được tuyển dụng, làm cho chất lượng công chức ngày càng giảm sút Nguyên nhân của thực trạng trên, là do việc phân cấp tuyển dụng chưa chặt chẽ và cách thức tiến hành còn nhiều sơ hở, tạo điều kiện cho hoạt động ngầm của nạn chạy chọt, tham nhũng, hối lộ tồn tại, phát triển Mặt khác, việc thi tuyển công chức vừa qua còn nhiều bất cập, nặng về kiến thức hành chính, nhẹ về kiến thức chuyên môn và mang tính hình thức vì thí sinh được cơ quan, đơn vị đã hợp đồng giới
thiệu đi thi thì mới được tuyển dụng Còn thí sinh đăng ký tự do, dù cho được điểm
cao, được Sở Nội vụ giới thiệu nhưng nhiều khi không được cơ quan, đơn vị có nhu cầu xem xét, tuyển dụng vì đã có người giữ chỗ Hơn nữa, có tuyển người yếu, kém vào cơ quan Nhà nước thì Thủ trưởng đơn vị cũng không chịu trách nhiệm gì.3
Những bất cập của công tác cán bộ hiện nay là “nơi thừa vẫn thừa, nơi thiếu vẫn thiếu" Sở dĩ có tình trạng này, là do các quy định trong quá trình tuyển dụng đặt ra chưa sát với yêu cầu Người được tuyển dụng đều được đào tạo, có bằng cấp nhưng lại thiếu chuyên môn, nghiệp vụ đặc thù Điều này nảy sinh hiện tượng không ít cán bộ quản lý rất nhiệt tình trong công việc nhưng "lực bất tòng tâm" và cộng thêm tư tưởng bao cấp nên công việc không chạy.4
Bằng cấp chỉ là hình thức Ở bất cứ cơ quan nào cũng có tình trạng công chức bậc thấp hiệu suất công tác cao hơn công chức bậc cao; người nhiệt tình, trách nhiệm với công việc cũng như người “sáng cắp ô đi, tối cắp về” đến kỳ là lên lương, đến kỳ là thi nâng ngạch nếu không bị kỷ luật (tham ô, sa đọa trong tư cách, phẩm chất, đạo đức, lối sống); cuối năm đánh giá công tác, bình chọn, khen thưởng, thi đua hầu như ai cũng có danh hiệu
Trang 27GVHD: Ths Võ Duy Nam Trang 27 SVTH: Trần Thị Thu Uyên
Hệ thống chính sách, chế độ hiện nay đang tạo ra một đội ngũ người lao động làm công ăn lương phần lớn là thụ động và thiếu trách nhiệm công vụ, không khuyến khích động lực phấn đấu, tâm huyết với công việc của từng cá nhân Số ít còn lại, những người có chuyên môn, kinh nghiệm nghề nghiệp, đạo đức phẩm chất, cuộc sống còn nhiều việc phải lo toan sẽ tìm đến những nơi đáp ứng được nhiệt tình, tâm huyết và nhu cầu cuộc sống của họ, đó là quy luật của kinh tế thị trường Thực trạng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức hiện nay còn nhiều vấn đề cần được xem xét một cách nghiêm túc, mà trong đó quan trọng là công tác cán bộ, môi trường làm việc và tiền lương, tiền công Môi trường làm việc tốt phải là nơi cán bộ, công chức, viên chức được làm việc theo đúng năng lực, sở trường, bồi dưỡng và phát huy được tính tự chủ động, sáng tạo trong công việc, có tiền lương hợp lý; có tương lai, tiền đồ phát triển nghề nghiệp,…thì cán bộ, công chức mới thực sự an tâm cống hiến tài năng cho đất nước
Theo Bộ trưởng Trần Văn Tuấn, mặc dù đã có nhiều chuyển biến tích cực, nhưng nhìn chung, năng lực của đội ngũ cán bộ, công chức vẫn chưa đáp ứng kịp yêu cầu của quá trình phát triển nhanh, bền vững và yêu cầu của kinh tế thị trường, hội nhập kinh tế quốc tế cũng như sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
Theo thống kê Bộ Nội vụ, cả nước hiện có trên 200.000 cán bộ, công chức cấp xã, gần bằng số lượng công chức hành chính ở trung ương, cấp tỉnh cộng lại Thực tế, cơ cấu đội ngũ công chức cấp xã vẫn chưa hợp lý: số lượng cán bộ bầu cử chiếm tỉ lệ trung bình 56,62%, có nơi trên 60% Công chức chuyên môn 43,38% đã yếu lại thiếu nên chưa đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ Về độ tuổi, nguồn cán bộ, trình độ văn hóa, chưyên môn nghiệp vụ cũng còn nhiều bất cập, liên quan nhiều đến chế độ tiền lương
2.2.Thực trạng tuyển dụng công chức hiện nay
* Tuyển dụng công chức ở Long An
Tỉnh Long An tiếp giáp với Thành phố Hồ Chí Minh và tỉnh Tây Ninh về phía Đông, giáp với Vương Quốc Campuchia về phía Bắc, giáp với tỉnh Đồng Tháp về phía Tây và giáp tỉnh Tiền Giang về phía Nam
Long An gồm có thị xã Tân An và 13 huyện: Bến Lức, Cần Đước, Cần Giuộc, Châu Thành, Đức Hòa, Đức Huệ, Mộc Hóa, Tân Hưng, Tân Thạnh, Tân Trụ, Thạnh Hóa, Thủ Thừa, Vĩnh Hưng
Huyện Cần Đước gồm 17 xã - thị trấn, với tổng số cán bộ công chức (bao gồm cán bộ chuyên trách và công chức cấp xã) là 332 người
Trang 28GVHD: Ths Võ Duy Nam Trang 28 SVTH: Trần Thị Thu Uyên
Cán bộ chuyên trách và công chức cấp xã có trình độ học vấn tốt nghiệp Trung học phổ thông có 240 người (72,3%); tiểu học là 3,6%, Trung học cơ sở là 24,1% Có thể nói trong thời gian qua, đội ngũ cán bộ cấp xã ở Cần Đước có sự chuyển biến tích cực về số lượng, chất lượng (tính đến nay đã có 209 đảng viên trong tổng số 332 cán
bộ công chức) Tuy nhiên hiện nay trong 193 cán bộ chuyên trách xã thì có 161 người chưa qua đào tạo về chuyên môn (83,4%); trong số 139 công chức xã có 57 người chưa qua đào tạo chuyên môn (41%) Về lý luận chính trị hiện nay có 35% cán bộ công chức chưa qua đào tạo; sơ cấp có 25,6%; trung cấp có 38,2% và cao cấp hiện có 4 người (1,2%) Riêng về Quản lý Nhà nước thì cán bộ công chức cấp xã chỉ đạt ở trình độ sơ cấp (22,9%), trung cấp (2,4%).5
Phát triển nguồn nhân lực là nhiệm vụ đột phá của tỉnh, vừa có tính cấp bách vừa
có tính chiến lược, nhằm xây dựng lực lượng lao động có phẩm chất và năng lực ngày càng cao, có cơ cấu ngành nghề hợp lý, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước Nhằm tổ chức triển khai và thực hiện Nghị định số 114/2003/NĐ-CP ngày 10/10/2003 của Chính phủ về cán bộ, công chức xã, phường, thị trấn và Quyết định số 2250/2004/QĐ-UB ngày 30/6/2004 của Uỷ ban nhân dân tỉnh Long An về ban hành Quy chế tuyển dụng công chức cấp xã trên địa bàn tỉnh Nhằm đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới và dần chuẩn hoá đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã phù hợp với các quy định tại Nghị định 114/2003/NĐ – CP ngày 10/10/2003 của Chính Phủ về cán bộ, công chức cấp xã; đưa sự hoạt động của cán bộ, công chức vào nề nếp, đạt tiêu chuẩn về trình độ, nghiệp
vụ đáp ứng yêu cầu thực hiện nhiệm vụ, công tác chuyên môn theo quy định của pháp luật Trên tinh thần đó, ngày 25/9/2008 Ủy ban nhân dân huyện Cần Đước đã lập kế hoạch tổ chức thi tuyển công chức cấp xã Kế hoạch cụ thể như sau:
Đối tượng dự thi và điều kiện dự thi
* Đối tượng dự thi
- Là cán bộ, công chức hiện đang công tác ở các xã, thị trấn, 9 chức danh công chức cấp xã theo quy định: địa chính - xây dựng; văn hóa – xã hội; tư pháp – hộ tịch; chỉ huy trưởng quân sự; tài chính – kế toán; văn phòng – thống kê; trưởng công an; tư pháp – hộ tịch kiêm phó công an; văn hóa – xã hội kiêm xã đội phó
5
Thống kê về chất lượng đội ngũ cán bộ công chức của huyện Cần Đước năm 2008
Trang 29GVHD: Ths Võ Duy Nam Trang 29 SVTH: Trần Thị Thu Uyên
- Là cán bộ không chuyên trách (ngoài 9 chức danh trên) hiện đang công tác các
xã, thị trấn có bằng trung cấp phù hợp với một trong 9 chức danh công chức cấp xã)
* Điều kiện dự thi
- Là công dân nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
- Có lý lịch rõ ràng và đủ các văn bằng, chứng chỉ quy định trong tiêu chuẩn nghiệp vụ của chức danh dự thi
- Có đủ sức khỏe để đảm nhận nhiệm vụ được giao
- Không trong thời gian bị truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc đang thi hành án
- Tuổi đời từ 18 tuổi đến không quá 35 tuổi
- Có hồ sơ dự thi và được Uỷ ban nhân dân xã xác nhận
Ôn thi và nội dung hình thức thi tuyển
* Ôn thi
Uỷ ban nhân dân huyện sẽ phối hợp với trung tâm bồi dưỡng chính trị tổ chức ôn thi cho các thí sinh trong một ngày Hệ thống hóa các văn bản pháp luật liên quan đến nhiệm vụ, quyền hạn của Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn; nhiệm vụ, chức năng của 9 chức danh công chức cấp xã theo đề cương của Sở Nội vụ
* Nội dung và hình thức thi
- Nội dung thi: bám sát vào nội dung ôn thi
- Hình thức thi: gồm 2 phần
+ Thi viết: thời gian 90 phút, điểm tối đa là 10 điểm
+ Thi vấn đáp: thời gian từ 10 đến 15 phút/ thí sinh, điểm tối đa là 10 điểm
Thí sinh đạt trung bình từ 10 điểm trở lên đối với 2 phần thi được trúng tuyển Thí sinh là con liệt sĩ, con thương binh được cộng thêm 1 điểm ưu tiên
Kinh phí và hồ sơ đăng ký dự thi
- Lệ phí thi: 150.000 đồng/1 thí sinh (thí sinh nộp trước khi ôn thi) bao gồm: hồ
sơ thi tuyển, phí ôn thi, giấy thi…
- Uỷ ban nhân dân huyện hỗ trợ tiền in ấn tài liệu ôn thi, chi phí cho Hội đồng thi tuyển, Ban coi thi, Ban chấm thi, thuê hội trường
+ Hồ sơ dự thi: nhận tại phòng Nội vụ huyện từ ngày 01/11/2008 đến ngày 10/11/2008
Hồ sơ dự thi gồm:
• Đơn xin dự thi
Trang 30GVHD: Ths Võ Duy Nam Trang 30 SVTH: Trần Thị Thu Uyên
• Bản khai lý lịch có xác nhận của công an xã, thị trấn
• Các văn bằng, chứng chỉ theo yêu cầu của chức danh dự thi (có công chứng)
• Bản sao giấy khai sinh
• Giấy chứng nhận sức khỏe do cơ quan y tế có thẩm quyền xác nhận
• Giấy tờ hưởng chính sách ưu tiên (nếu có)
• 3 phong bì dán tem, 3 ảnh cở 4 x 6, phong bì ghi rõ họ tên, địa chỉ người nhận + Nộp hồ sơ tại phòng Nội vụ huyện chậm nhất là ngày 20/11/2008, có xác nhận của Uỷ ban nhân dân xã, thị trấn
Tổ chức ôn thi
Thí sinh tập trung tại Trung tâm bồi dưỡng chính trị huyện lúc 7 giờ 30 phút ngày 05/15/2008 để được hướng dẫn ôn thi
Ngày thi: bắt đầu từ lúc 7 giờ đến 17 giờ ngày 10/12/2008
Địa điểm: Trung tâm bồi dưỡng chính trị huyện
Kết quả thi: Uỷ ban nhân dân huyện sẽ thông báo kết quả thi tuyển sau thời gian
5 ngày làm việc kể từ ngày thi
Các chức danh thi tuyển lần này bao gồm: 4 chức danh văn phòng thống kê, 2 chức danh tư pháp hộ tịch, 5 chức danh tư pháp hộ tịch kiêm phó công an, 2 chức danh văn hóa xã hội, 1 chức danh lao động thương binh và xã hội, 2 chức danh văn thư lưu trữ, 2 chức danh địa chính xây dựng, và 2 chức danh trưởng công an
Trong đợi thi tuyển công chức này đã tuyển dụng 20 công chức cấp xã trong tổng
số 20 thí sinh dự thi, cho 14 xã - thị trấn của huyện Hầu hết các thí sinh đều đạt được kết quả cao trong kỳ thi tuyển Việc tuyển dụng theo đúng quy chế, đã chọn được đội ngũ công chức mới đáp ứng tiêu chuẩn của ngạch bậc công chức và yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá
2.3 Những thành tựu và hạn chế trong công tác nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức
2.3.1 Thành tựu
Trong thời gian qua, Đảng và Nhà nước ta đã luôn coi trọng xây dựng và phát triển đội ngũ cán bộ, công chức, coi đây là nguồn lực quan trọng để phát triển đất nước Cùng với nhiều chủ trương, chính sách quan trọng nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức thì chương trình tổng thể cải cách hành chính giai đoạn 2001 – 2010
đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại quyết định số 136/2001/QĐ – TTg trong
Trang 31GVHD: Ths Võ Duy Nam Trang 31 SVTH: Trần Thị Thu Uyên
đó nội dung đổi mới, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức cũng là một trong những chủ trương lớn của Nhà nước ta Qua 5 năm của giai đoạn I (2001 – 2005) chương trình tổng thể cải cách hành chính, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức đã đạt được một số kết quả sau:
Phần lớn đội ngũ cán bộ, công chức vẫn giữ được phẩm chất đạo đức cách mạng;
có bản lĩnh và lập trường chính trị vững vàng; có tinh thần trách nhiệm trong công tác;
ý thức tổ chức kỷ luật tốt, khắc phục khó khăn hoàn thành nhiệm vụ, luôn gắn bó và giữ mối quan hệ mật thiết với nhân dân
Trình độ đào tạo về các mặt của đội ngũ cán bộ, công chức, đặc biệt là trình độ chuyên môn, nghiệp vụ từng bước được nâng lên Nhiều cán bộ được quy hoạch, bổ nhiệm giữ các chức trách quan trọng trong bộ máy nhà nước Về cơ cấu đội ngũ đã có chuyển biến theo hướng tích cực, tỷ lệ cán bộ trẻ, cán bộ nữ được nâng lên đáng kể Việc tuyển dụng, đánh giá, bổ nhiệm, chuẩn hoá, khen thưởng, kỷ luật cán bộ, công chức được thực hiện chặt chẽ, đúng quy định, từng bước nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ cho đội ngũ cán bộ, công chức ở chính quyền các cấp Công tác quản lý đội ngũ cán bộ, công chức tiếp tục được cải cách theo hướng phân công, phân cấp rõ hơn Thẩm quyền và trách nhiệm trong việc bổ nhiệm, sử dụng, khen thưởng, kỷ luật cán bộ, công chức được xác định rõ cho người đứng đầu cơ quan hành chính và thủ trưởng đơn vị sự nghiệp, dịch vụ công
Phân biệt rõ hơn đội ngũ cán bộ, công chức trong hệ thống chính trị, trên cơ sở
đó, xác định những yêu cầu, tiêu chuẩn về trình độ, năng lực, phẩm chất, cơ chế quản
lý và chế độ, chính sách đãi ngộ thích hợp
Trong chế độ tuyển dụng cán bộ, công chức, có sự phân biệt khá rõ và phù hợp
Ðó là đối với công chức hành chính thì bắt buộc thi tuyển, còn viên chức sự nghiệp được áp dụng cả hình thức thi tuyển và xét tuyển theo chế độ hợp đồng Việc thi nâng ngạch đối với chuyên viên, chuyên viên chính, chuyên viên cao cấp và các ngạch tương đương tiếp tục được triển khai, thực hiện, góp phần nâng cao chất lượng của đội ngũ cán bộ, công chức
Công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức cũng có những bước tiến rõ rệt Tổng số cán bộ, công chức được đào tạo, bồi dưỡng trong giai đoạn I (2001-2005) khoảng 2.510.000 lượt người, trong đó có 407.000 lượt người đã qua đào tạo về lý luận chính trị, 894.000 lượt người đã qua đào tạo về kiến thức quản lý nhà nước, 1.076.000
Trang 32GVHD: Ths Võ Duy Nam Trang 32 SVTH: Trần Thị Thu Uyên
lượt người đã qua đào tạo về chuyên môn, 37.000 lượt người đã qua đào tạo về ngoại ngữ và 96.000 lượt người đã qua đào tạo về tin học Một kết quả khác đáng chú ý là sau đợt bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2004 – 2009, trong năm
2004 đã có gần 292.000 đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp được bồi dưỡng trang bị kiến thức và kỹ năng hoạt động Ngoài ra còn 44.967 lượt cán bộ công chức đi đào tạo, bồi dưỡng ở nước ngoài, trong đó có 21.699 lượt cán bộ lãnh đạo, quản lý và công chức nguồn 6
Bên cạnh đó thì chính sách tiền lương, chế độ bảo hiểm xã hội đối với cán bộ, công chức cũng có những cải cách bước đầu Nhìn một cách tổng thể, phải thừa nhận rằng, chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức đã từng bước được nâng lên, đáp ứng ngày càng tốt hơn yêu cầu của công cuộc đổi mới và hội nhập kinh tế quốc tế
2.3.2 Hạn chế
Bên cạnh những kết quả đã đạt được ở trên, đội ngũ cán bộ, công chức nước ta vẫn chưa đáp ứng được với yêu cầu hội nhập của đất nước và vẫn còn bộc lộ một số tồn tại, hạn chế cần được quan tâm giải quyết, đó là:
Nhận thức về ý nghĩa của công cuộc cải cách hành chính trong một bộ phận cán
bộ, công chức còn hạn chế, chưa xác định rõ đây là khâu đột phá để tạo điều kiện cho môi trường đầu tư thông thoáng, thúc đẩy kinh tế phát triển nên thực hiện còn mang tính đối phó, hình thức.
Công tác đào tạo, bồi dưỡng mặc dù đã được tăng cường, số lượng cán bộ, công chức qua các lớp, khoá đào tạo, bồi dưỡng khá lớn, nhưng nhìn chung chất lượng còn thấp, chưa đáp ứng các yêu cầu về mức độ chuyên nghiệp, tính chuyên sâu, kỹ năng hành chính, lý luận chính trị, quản lý nhà nước, quản lý kinh tế nhất là ở các xã miền núi, vùng sâu, vùng xa dẫn đến hạn chế nhiều mặt trong quản lý điều hành ở cơ sở
Kỹ năng nghề nghiệp, tính chuyên nghiệp, khả năng sẵn sàng đáp ứng sự thay đổi nhiệm vụ, môi trường công tác của cán bộ, công chức cấp còn yếu Phương thức, lề lối làm việc còn thủ công, lạc hậu chưa đáp ứng được yêu cầu chuyên nghiệp, hiện đại Thói thường yếu thì hay ỷ lại, nhân viên ỷ vào lãnh đạo phòng, lãnh đạo phòng thì trông chờ vào lãnh đạo huyện, không dám tự giải quyết công việc và tự chịu trách nhiệm Cũng có không ít cán bộ, công chức chưa nắm chắc chức năng, nhiệm vụ, thẩm
6
TS Trần Anh Tuấn, Viện trưởng Viện Khoa học tổ chức Nhà nước, Bộ Nội vụ, 10 năm thực hiện pháp lệnh cán
bộ, công chức và vần đề đổ mới chế độ công chức, công vụ