1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

LUẬN văn LUẬT HÀNH CHÍNH RANH GIỚI PHÂN ĐỊNH GIỮA tội cố ý gây THƯƠNG TÍCH HOẶC gây tổn hại CHO sưc KHỎE của NGƯỜI KHÁC

95 120 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 95
Dung lượng 1,74 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Lịch sử hình thành các quy định về tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trong pháp luật hình sự Việt Nam ...21 1.3.3.1.. Một số vướng mắc và ý kiến đề x

Trang 1

Giảng viên hướng dẫn: Sinh viên thực hiện:

Nguyễn Thu Hương Dương Chí Thanh

MSSV: 5095462 Lớp: Luật hành chính – K35

Đề tài:

Trang 2

Cần Thơ, ngày… tháng… năm 2013

Trang 3

Cần Thơ, ngày… Tháng… năm 2013

Trang 4

MỤC LỤC

LỜI NÓI ĐẦU 1

CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ TỘI GIẾT NGƯỜI VÀ TỘI CỐ Ý GÂY THƯƠNG TÍCH HOẶC GÂY TỔN HẠI CHO SỨC KHỎE CỦA NGƯỜI KHÁC 4

1.1 Vài nét về các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của con người trong Luật hình sự Việt Nam 4

1.1.1 Khái niệm về các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của con người 6

1.1.2 Dấu hiệu pháp lý của các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của con người 7

1.1.2.1 Về khách thể của các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của con người 7

1.1.2.2 Về mặt khách quan của các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của con người 7

1.1.2.3 Về chủ thể của các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của con người 8

1.1.2.4 Về mặt chủ quan của các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của con người 8

1.2 Khái quát tội giết người 8

1.2.1 Khái niệm về tội giết người 8

1.2.1.1 Khái niệm về tội giết người theo từ điển Tiếng Việt 8

1.2.1.2 Khái niệm tội giết người theo quan điểm Luật Hình sự 9

1.2.2 Nguyên nhân và điều kiện hình thành phạm tội giết người 10

1.2.2.1 Nguyên nhân và điều kiện thuộc về yếu tố xã hội của tội giết người 10

1.2.2.2 Nguyên nhân và điều kiện thuộc về các cơ quan bảo vệ pháp luật và thuộc về bản thân người phạm tội của tội giết người 12

1.2.3 Lịch sử hình thành các quy định về tội giết người trong pháp luật hình sự Việt Nam 14

1.2.3.1 Giai đoạn trước năm 1945 14

1.2.3.2 Giai đoạn từ năm 1945 – 1985 14

1.2.3.3 Giai đoạn từ năm 1985 – 1999 15

1.3 Khái quát tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác 16

Trang

Trang 5

1.3.1 Khái niệm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức

khỏe của người khác 16

1.3.1.1 Khái niệm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác theo từ điển Tiếng Việt 16

1.3.1.2 Khái niệm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác theo quan điểm Luật Hình Sự 16

1.3.2 Nguyên nhân và điều kiện phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác 17

1.3.2.1 Nguyên nhân và điều kiện thuộc về yếu tố xã hội của tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác 17

1.3.2.2 Nguyên nhân và điều kiện thuộc về các cơ quan bảo vệ pháp luật và thuộc về bản thân người phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác 19

1.3.3 Lịch sử hình thành các quy định về tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trong pháp luật hình sự Việt Nam 21

1.3.3.1 Giai đoạn trước năm 1945 21

1.3.3.2 Giai đoạn từ năm 1945 – 1985 25

1.3.3.3 Giai đoạn từ năm 1985 – 1999 27

1.3.3.4 Giai đoạn từ khi Bộ luật Hình sự năm 1999 ra đời đến nay 28

CHƯƠNG 2 PHÂN BIỆT TỘI GIẾT NGƯỜI VỚI TỘI CỐ Ý GÂY THƯƠNG TÍCH HOẶC GÂY TỔN HẠI CHO SỨC KHỎE CỦA NGƯỜI KHÁC TRONG BỘ LUẬT HÌNH SỰ HIỆN HÀNH 31

2.1 Dấu hiệu pháp lý của tội giết người 31

2.1.1 Khách thể của tội giết người 32

2.1.2 Mặt khách quan của tội giết người 32

2.1.3 Mặt chủ quan của tội giết người 34

2.1.4 Chủ thể của tội giết người 36

2.2 Hình phạt của tội giết người 36

2.3 Dấu hiệu pháp lý của tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác 37

2.3.1 Khách thể của tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác 38

2.3.2 Mặt khách quan của tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác 39

Trang 6

2.3.3 Mặt chủ quan của tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại

cho sức khỏe của người khác 43 2.3.4 Chủ thể của tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức

khỏe của người khác 43

2.4 Hình phạt của tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức

khỏe của người khác 43 2.5 Phân biệt dấu hiệu cơ bản của tội giết người với tội cố ý gây

2.5.1 Tội giết người (chưa đạt nhưng đã gây ra thương tích) với tội

cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác 46

2.5.1.1 Dấu hiệu phân biệt tội giết người (chưa đạt nhưng đã gây ra thương tích) với tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức

khỏe của người khác 46 2.5.1.2 Ví dụ thực tiễn về tội giết người (chưa đạt) với tội cố ý gây

thương tích 50 2.5.1.3 Điểm giống nhau và khác nhau giữa tội giết người (chưa đạt nhưng đã gây ra thương tích) với tội cố ý gây thương tích hoặc gây

tổn hại cho sức khỏe của người khác 52

2.5.2 Tội giết người (hoàn thành) với tội cố ý gây thương tích hoặc

gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trong trường hợp dẫn đến

chết người 53

2.5.2.1 Dấu hiệu phân biệt tội giết người (hoàn thành) với tội cố ý

gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trong trường hợp dẫn đến chết người 53

2.5.2.2 Ví dụ trên thực tế về tội giết người (hoàn thành) với tội cố ý

gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trong trường hợp dẫn đến chết người 56 2.5.2.3 Điểm giống nhau và khác nhau giữa tội giết người (hoàn

thành) với tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe

của người khác trong trường hợp dẫn đến chết người 58

CHƯƠNG 3 MỘT SỐ VƯỚNG MẮC VÀ Ý KIẾN ĐỀ XUẤT

TRONG VIỆC XÁC ĐỊNH TỘI DANH ĐỐI VỚI TỘI GIẾT NGƯỜI

VÀ TỘI CỐ Ý GÂY THƯƠNG TÍCH HOẶC GÂY TỔN HẠI CHO

SỨC KHỎE CỦA NGƯỜI KHÁC 61

Trang 7

3.1 Một số vướng mắc và ý kiến đề xuất trong pháp luật hình sự về

tội giết người và tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức

khỏe của người khác 61

3.1.1 Xung đột quan điểm và đề xuất ban hành văn bản hướng dẫn các trường hợp phân biệt giữa tội giết người với tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác 61

3.1.1.1 Các vướng mắc 61

3.1.1.2 Ý kiến đề xuất 65

3.1.2 Mức hình phạt giữa khoản 2 Điều 93 so với khoản 3 Điều 104 Bộ luật hình sự là chưa phù hợp và ý kiến đề xuất điều chỉnh 70

3.1.2.1 Các vướng mắc 70

3.1.2.2 Ý kiến đề xuất 70

3.2 Một số vướng mắc trên thực tế gây nhầm lẫn trong phân định giữa tội giết người với tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác và ý kiến đề xuất 71

3.2.1 Những thiếu sót trong quá trình điều tra các vụ án hình sự về tội giết người và tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác và một số đóng góp hoàn thiện 71

3.2.1.1 Các thiếu sót 71

3.2.1.2 Một số ý kiến đóng góp 74

3.2.2 Nhầm lẫn trong quan điểm định tội giữa tội giết người và tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác và một số ý kiến hoàn thiện 75

3.2.2.1 Các vướng mắc 75

3.2.2.2 Một số ý kiến đóng góp 79

KẾT LUẬN 81 TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 9

LỜI NÓI ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Con người là vốn quý của xã hội, là đối tượng hàng đầu được pháp luật nói chung, Luật hình sự nói riêng bảo vệ đặc biệt Bảo vệ con người, trước hết là bảo vệ tính mạng, sức khoẻ, nhân phẩm, danh dự và tự do của họ, vì đó là những vấn đề có ý nghĩa quan trọng hàng đầu đối với bất kỳ một con người nào

Trong đời sống hiện nay, hành vi giết người, cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác xảy ra nhiều, do các nguyên nhân và động cơ khác nhau Các cơ quan tiến hành tố tụng hình sự đã ghi nhận được các

sự kiện pháp lý này, nhưng việc khởi tố, điều tra, xử lý lại gặp nhiều khó khăn

Tội giết người và tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe

của người khác có hai trường hợp rất dễ gây nhầm lẫn: Giết người chưa đạt với

cố ý gây thương tích và giết người (hoàn thành) với cố ý gây thương tích dẫn đến chết người Nhiều vụ án người phạm tội dùng hung khí nguy hiểm là những vật

cứng đánh vào vùng trọng yếu của cơ thể nạn nhân như đầu, ngực… Các cơ quan

tố tụng lại có những quan điểm trái ngược khi xác định hành vi này, phạm tội giết người (Điều 93 BLHS) hay tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (Điều 104 BLHS)

Bộ luật hình sự đã có nhiều thay đổi (Bộ luật hình sự năm 1985 đến Bộ luật hình sự năm 1999 và hiện nay là Bộ luật hình sự năm 1999 được sửa đổi, bổ sung năm 2009) Trong lý luận khoa học luật hình sự đã có phân tích về tội giết người và tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác Nhưng hai tội này vẫn làm các cơ quan tố tụng phải nhức đầu bởi ranh giới giữa chúng rất mong manh, dễ nhập nhằng Trên thực tế có nhiều vụ án phức tạp không xác định được ý chí của người phạm tội thì rất khó trong việc định tội Nhiều trường hợp định tội sai dẫn đến nhiều hệ lụy lớn, thiệt hại cả về người và tài sản Nhà nước Người bị oan, không biết phải dựa vào đâu để cứu chữa, người phạm tội giết người lại định tội cố ý gây thương tích và ngược lại Tuy hiện nay khoa học luật hình sự đã có phân tích về hai tội này nhưng vẫn chưa có một văn bản hướng dẫn phân biệt các trường hợp dễ gây nhầm lẫn giữa hai tội danh này nên việc phân biệt khi xử lý vẫn còn bỏ ngỏ, lạc lõng và không vững chắc

Sự phân biệt giữa tội này với tội khác là một vấn đề rất quan trọng và cần thiết trên lý luận cũng như trong thực tiễn xét xử, nếu không xem xét một cách toàn diện thì rất dễ dẫn chúng ta đến nhầm lẫn và như vậy trong quá trình giải

Trang 10

quyết sẽ dẫn đến tình trạng không đúng người, không đúng tội, bỏ lọt tội phạm, không đảm bảo nguyên tắc pháp chế Xung quanh vấn đề này có nhiều ý kiến khác nhau từ dư luận xã hội và từ phương diện lý luận pháp lí Đó là lý do người

viết chọn đề tài “Ranh giới phân định giữa tội giết người với tội cố ý gây

thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác”, người viết xin

phép được tổng hợp và trình bày một số lý luận khoa học và thực tiễn để khai phá

về vấn đề này

2 Mục tiêu nghiên cứu

Luận văn nghiên cứu các vấn đề liên quan đến tội “Giết người” và tội “Cố

ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác” trong Bộ Luật hình sự Việt Nam (được sửa đổi bổ sung ngày 19 tháng 6 năm 2009 có hiệu lực thi hành ngày 01 tháng 01 năm 2010), nhằm nghiên cứu dựa trên những cơ sở lý luận khoa học và những ví dụ từ thực tiễn nhằm đưa ra những cơ sở để phân biệt chính xác giữa tội giết người với tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho

sức khỏe của người khác mà cụ thể giữa Giết người chưa đạt với cố ý gây thương

tích và tội giết người (hoàn thành) với cố ý gây thương tích dẫn đến chết người

3 Phạm vi nghiên cứu

Giới hạn trong luận văn người viết chỉ nghiên cứu và trình bày các tội được quy định tại Điều 93 - Tội giết người và Điều 104 - Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trong BLHS Việt Nam được sửa đổi bổ sung ngày 19 tháng 6 năm 2009 để có cách nhìn và sự hiểu biết sâu hơn về đặc điểm và tính chất của tội phạm từ đó người viết rút ra ý kiến đề xuất nhằm phân biệt hai loại tội phạm này

Nội dung luận văn tập trung nghiên cứu các dấu hiệu pháp lý cơ bản của tội “Giết người” và tội “Cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác” qua đó rút ra những dấu hiệu đặc trưng khác nhau nhằm phân biệt

hai trường hợp Giết người chưa đạt với cố ý gây thương tích và giữa Giết người

(hoàn thành) với cố ý gây thương tích dẫn đến hậu quả chết người đem lại hiệu

quả trong việc giải quyết các vụ án thực tế liên quan đến hai loại tội phạm này

4 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn được viết trên cơ sở những kiến thức được học đồng thời thu thập và tổng hợp các tài liệu thực tế có liên quan đến tội “Giết người” và tội “Cố

ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác” Trong đề tài luận văn này, người viết đã sử dụng một số phương pháp nghiên cứu như sau:

Trang 11

pháp phân tích, tổng hợp, so sánh nhằm làm rõ vấn đề đang được nghiên cứu và đưa ra những ví dụ thực tế để minh họa đánh giá

5 Bố cục luận văn

Ngoài các phần Mục lục, Lời nói đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, luận văn bao gồm 3 chương Cụ thể:

Chương 1 Những vấn đề chung về tội giết người và tội cố ý gây thương

tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác

Chương 2 Phân biệt tội giết người với tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trong Bộ luật hình sự hiện hành

Chương 3 Một số vướng mắc và ý kiến đề xuất trong việc xác định tội danh đối với tội giết người và tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác

Đề tài nghiên cứu “Ranh giới phân định giữa tội giết người với tội cố ý

gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác” là một vấn đề

khá phức tạp, nó đòi hỏi người nghiên cứu đề tài cần có kiến thức sâu rộng cả về

lý luận lẫn thực tiễn về tội giết người và tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác Ngoài ra, nó còn đòi hỏi người viết phải biết nắm bắt được những vấn đề cốt lõi, những tồn tại và vướng mắc còn gặp phải, để từ

đó đề xuất giải pháp giải quyết Do còn hạn chế về trình độ nghiên cứu cũng như

về kinh ghiệm thực tiễn, trong quá trình hoàn thành luận văn người viết sẽ không thể tránh khỏi những thiếu sót nhất định Người viết rất mong nhận được những ý kiến đóng góp từ quý Thầy, Cô, bạn bè… để bài viết được hoàn thiện hơn

Trang 12

CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ TỘI GIẾT NGƯỜI VÀ TỘI CỐ Ý GÂY THƯƠNG TÍCH HOẶC GÂY TỔN HẠI CHO SỨC KHỎE CỦA NGƯỜI

1.1 Vài nét về các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của con người trong Luật hình sự Việt Nam

Lời nói đầu BLHS của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam được

Quốc hội ban hành năm 1999 nêu rõ: “Pháp luật hình sự là một trong những

công cụ sắc bén, hữu hiệu để đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm, góp phần đắc lực vào việc bảo vệ độc lập, chủ quyền thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, tổ chức, góp phần duy trì trật tự an toàn xã hội, trật tự quản lý kinh tế, bảo đảm cho mọi người được sống trong một môi trường

xã hội và sinh thái an toàn, lành mạnh, mang tính nhân văn cao.” Như vậy, bảo

vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân được coi là một trong những mục tiêu quan trọng của BLHS Những quyền con người được pháp luật nói chung và luật hình sự nói riêng bảo vệ là quyền được sống, quyền bất khả xâm phạm về thân thể, sức khoẻ, nhân phẩm và danh dự Vì vậy, BLHS đã quy định một phần riêng biệt gồm 30 điều quy định các tội phạm xâm phạm tính mạng, sức khoẻ, nhân phẩm, danh dự của con người tại Chương XII Về thứ tự, Chương XII chỉ nằm sau Chương quy định các tội phạm xâm phạm an ninh quốc gia trong phần các tội phạm của BLHS chứng tỏ tính chất quan trọng của khách thể mà luật bảo vệ

Về mức hình phạt, có tới 3/30 điều quy định mức hình phạt cao nhất của Luật Hình sự Việt Nam là tử hình

Trang 13

Các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự được quy định trong Chương XII có thể được chia thành 3 nhóm tội, gồm:

- Nhóm tội xâm phạm tính mạng:

 Tội giết người

 Tội giết con mới đẻ

 Tội giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh

 Tội giết người do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng

 Tội làm chết người trong khi thi hành công vụ

 Tội vô ý làm chết người

 Tội vô ý làm chết người do vi phạm quy tắc nghề nghiệp hoặc quy tắc hành chính

 Tội bức tử

 Tội xúi giục hoặc giúp người khác tự sát

 Tội không cứu giúp người khác đang trong tình trạng nguy hiểm đến tính mạng

 Tội đe doạ giết người

- Nhóm tội xâm phạm sức khoẻ:

 Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh

 Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng

 Tội vô ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của ngươi khác

 Tội vô ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác do vi phạm quy tắc nghề nghiệp hoặc quy tắc hành chính

 Tội hành hạ người khác

- Nhóm tội xâm phạm nhân phẩm và danh dự:

 Tội hiếp dâm

 Tội hiếp dâm trẻ em

Trang 14

 Tội cưỡng dâm

 Tội cưỡng dâm trẻ em

 Tội giao cấu với trẻ em

 Tội dâm ô đối với trẻ em

 Tội lây truyền HIV cho người khác

 Tội cố ý truyền HIV cho người khác

Trong xã hội của chúng ta, con người được xem là vốn quý trong xã hội,

là đối tượng hàng đầu được luật hình sự nói riêng cũng như pháp luật nói chung

bảo vệ Hiến pháp năm 1992 tại Điều 71 quy định: “Công dân có quyền bất khả

xâm phạm về thân thể, được pháp luật bảo vệ về tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm

và danh dự”.1

Theo Điều 8 BLHS Việt Nam năm 1999, quy định “tội phạm” là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong BLHS do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc, xâm phạm chế độ chính trị, chế độ kinh

tế, nền văn hóa, quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự, tự do, tài sản, các quyền, lợi ích hợp pháp khác của công dân, xâm phạm những lĩnh vực khác của trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa

Vì vậy, BLHS Việt Nam năm 1999 đã quy định các tội danh xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm của con người thành một chương riêng – Chương XII (từ Điều 93 đến Điều 122) Đây là những điều luật của BLHS Việt Nam nhằm bảo vệ tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của con người với tư cách là chủ thể của xã hội

1

Điều 71 Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam 1992, (được sửa đổi bổ sung vào năm

Trang 15

Như vậy, chúng ta có thể hiểu các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe,

nhân phẩm, danh dự của con người là hành vi nguy hiểm cho xã hội do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện với lỗi cố ý hoặc vô ý xâm phạm đến quyền sống, quyền được bảo hộ về sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của con người

1.1.2 Dấu hiệu pháp lý của các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của con người

1.1.2.1 Về khách thể của các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của con người

Khách thể của nhóm tội phạm này là những quan hệ xã hội đảm bảo quyền sống, quyền được an toàn về sức khoẻ, nhân phẩm, danh dự của con người Đối tượng tác động theo nghĩa rộng của tội phạm này là con người cụ thể

đã được sinh ra và chưa chết Theo nghĩa hẹp thì đối tượng tác động của nhóm tội này liên quan đến 3 nhóm tội là tính mạng, sức khoẻ, nhân phẩm và danh dự của con người

1.1.2.2 Về mặt khách quan của các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của con người

Trên thực tế hành vi phạm tội diễn ra hết sức đa dạng và phong phú phù hợp với từng loại tội phạm Những hành vi này được thực hiện có thể bằng việc

sử dụng công cụ, phương tiện hoặc chỉ bằng sức người Nhưng nhìn chung đó là hành vi có khả năng xâm phạm trực tiếp đến tính mạng, sức khoẻ, nhân phẩm, danh dự con người

Hậu quả được quy định là dấu hiệu bắt buộc trong một số cấu thành tội phạm (như tội giết người, tội cố ý gây thương tích) Trong một số trường hợp khác, hậu quả của tội phạm tuy không được quy định là dấu hiệu bắt buộc nhưng việc xác định hậu quả là cần thiết, bắt buộc giúp cho việc định khung và quyết định hình phạt đúng đắn

Trong những trường hợp cần xác định hậu quả thì đồng thời phải xác định mối quan hệ nhân quả giữa hành vi phạm tội và hậu quả xảy ra

Có một số trường hợp cần mô tả dấu hiệu mối quan hệ giữa người phạm tội với nạn nhân, dấu hiệu hoàn cảnh, phương pháp, thủ đoạn phạm tội và một số điều kiện làm cơ sở để xử lý hình sự

Trang 16

1.1.2.3 Về chủ thể của các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của con người

Chủ thể của tội phạm trong nhóm tội này nhìn chung là chủ thể thường (tức đạt độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự và có đủ năng lực trách nhiệm hình sự) Trong một số tội đòi hỏi chủ thể có một số dấu hiệu đặc biệt như giới tính, độ tuổi, người đang thi hành công vụ và người có quan hệ với nạn nhân thì cần phải xác định rõ vấn đề này

1.1.2.4 Về mặt chủ quan của các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của con người

Lỗi của các tội tại chương này có thể là cố ý, hoặc vô ý tuỳ từng loại tội phạm Động cơ mục đích phạm tội tuy ít trường hợp là dấu hiệu định tội nhưng

nó là tình tiết định khung của nhiều tội phạm và có ý nghĩa trong việc quyết định hình phạt Ví dụ: một hành vi giết người nếu có mục đích chống chính quyền nhân dân sẽ cấu thành tội theo Điều 84 BLHS chứ không chỉ xét xử về tội giết người không.2

1.2 Khái quát tội giết người

1.2.1 Khái niệm về tội giết người

1.2.1.1 Khái niệm về tội giết người theo từ điển Tiếng Việt

- Tội: Là điều trái với quy định của pháp luật, vi phạm vào những điều

cấm của đạo đức xã hội, tôn giáo

- Giết: Là làm cho người chết hay gây ra cái chết một cách đột ngột

- Chết: Là khả năng sống không còn nữa

- Người: Là loài động vật có tổ chức cao nhất, có khả năng tư duy, có tư

thế đứng thẳng, có đầu óc sáng tạo và sử dụng công cụ trong quá trình lao động

Vậy, theo sự cắt nghĩa này, ta có thể hiểu tội giết người là hành vi của

người thực hiện một điều trái với quy định của pháp luật, đạo đức xã hội đối với một người khác và gây ra cái chết cho người đó

2

Phạm Văn Beo, Giáo trình luật hình sự Việt Nam (Phần các Tội phạm), Nxb Chính trị quốc gia, 2008,

Trang 17

1.2.1.2 Khái niệm tội giết người theo quan điểm Luật Hình sự

Điều 93 BLHS năm 1999 quy định tội giết người nhưng không mô tả cụ thể những dấu hiệu của tội này mà chỉ nêu tội danh Từ thực tiễn xét xử đã được thừa nhận có thể định nghĩa:

- Giết người: Là hành vi trái pháp luật cố ý làm chết người ngoài ý muốn của nạn nhân Hành vi làm chết người được hiểu là hành vi có khả năng gây ra cái chết cho con người, chấm dứt sự sống của họ

- Tội giết người: Là hành vi cố ý tước đoạt sinh mạng của người khác một cách trái pháp luật

Như vậy, ta có thể hiểu tội giết người theo quan điểm của luật hình sự như

sau: Tội giết người là hành vi nguy hiểm cho xã hội, tước đoạt tính mạng của

người khác một cách trái pháp luật do chính người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện

Tội giết người là một trong những tội nguy hiểm nhất trong chương XII của BLHS, chính vì vậy có khung hình phạt cao nhất là tử hình

Hậu quả của hành vi trái pháp luật này là chết người Như vậy, tội giết người chỉ được coi là tội phạm hoàn thành khi có hậu quả chết người Nếu hậu quả chết người không xảy ra vì nguyên nhân khách quan thì hành vi phạm tội được coi là phạm tội chưa đạt (khi có lỗi cố ý trực tiếp) hoặc là tội cố ý gây thương tích (khi có lỗi cố ý gián tiếp) Mục đích và động cơ phạm tội không là dấu hiệu bắt buộc của cấu thành tội phạm tội giết người và được quy định là tình tiết định khung tăng nặng hình phạt

Một số hành vi khác cũng làm chết người nhưng không coi là hành vi của tội giết người:

- Hành vi không trái luật: hành vi gây ra cái chết cho người khác được pháp luật cho phép (phòng vệ chính đáng, thi hành án tử hình v.v…)

- Hành vi trái luật: hành vi làm chết người trong khi thi hành công vụ, hành vi vô ý làm chết người, hành vi bức tử, hành vi xúi giục hoặc giúp người khác tự sát, hành vi giết con mới đẻ, hành vi giết người do tinh thần bị kích động mạnh, giết người do vượt quá phòng vệ chính đáng

Trong những trường hợp có những hành vi trái luật như thế, người ta không quy định là tội giết người mà quy định bằng một tội danh cụ thể, tương

Trang 18

ứng với hành vi Hình phạt đối với tội danh này không nghiêm trọng bằng tội giết người

1.2.2 Nguyên nhân và điều kiện hình thành phạm tội giết người

Tội giết người bắt nguồn từ những thói quen, tàn dư, tư tưởng tư hữu, coi thường tính mạng con người; do khó khăn về điều kiện kinh tế xã hội cũng như hậu quả nặng nề của chiến tranh để lại Ngoài ra tội giết người còn có những nguyên nhân đặc thù riêng mà khi nghiên cứu các đặc thù này giúp ta nhận thức đầy đủ và hiểu rõ những tác động trực tiếp làm phát sinh các điều kiện phạm tội như:

1.2.2.1 Nguyên nhân và điều kiện thuộc về yếu tố xã hội của tội giết người

- Sự du nhập của lối sống bạo lực, ích kỷ dẫn đến hình thành ý thức coi

thường tính mạng người khác trong một bộ phận dân cư

Từ khi nền kinh tế thị trường được hình thành ở Việt Nam thì một bộ phận dân cư trong đó chủ yếu là thanh thiếu niên do ảnh hưởng của những băng hình, sách báo, tranh ảnh mang tính bạo lực cao đã tự cho mình cách xử sự bằng bạo lực đối với người khác khi có mâu thuẫn nào xảy ra kể cả khi đó chỉ là những va chạm nhỏ Cũng có thể phần nào đánh giá ý thức coi thường tính mạng người khác qua những trường hợp có thể nhìn thấy người khác bị đánh đập, bị đe dọa tính mạng nhưng vẫn dững dưng không can thiệp Lối sống bạo lực ích kỷ còn được thể hiện qua những vụ án mà dường như can phạm chỉ tìm cách bảo vệ quyền lợi của mình bằng cách chăng dây điện để bảo vệ vườn cây, dùng roi điện

để tấn công người câu cá trộm

Tóm lại, tồn tại như một nguyên nhân của tội giết người, việc coi thường tính mạng của người khác, đề cao mọi quyền lợi cá nhân của mình là yếu tố có thể tìm thấy ở hầu hết các vụ án giết người ở nước ta tùy ở những mức độ khác nhau

- Sự phát triển của các tệ nạn xã hội đặc biệt là nghiện ma túy, cờ bạc

Cũng trong những năm gần đây, tệ nạn xã hội đã len lõi vào từng ngôi làng, ngõ phố nó ảnh hưởng tiêu cực đến nhiều mặt của đời sống xã hội Thực tế cho thấy nhiều vụ án mạng xảy ra lại gắn liền đến các tệ nạn này Tệ nạn này đã cướp đi cả nhân cách của những con nghiện, đẩy họ đến chỗ làm bất cứ thứ gì để

có tiền hút chích, kể cả giết người thuê, giết người cướp tài sản, thậm chí giết

Trang 19

người thân khi họ ngăn cản việc mang tài sản của gia đình mang đi bán Bên cạnh đó các tệ nạn xã hội khác cũng ảnh hưởng không nhỏ đến loại tội phạm này

Tệ nạn cờ bạc làm khuynh gia bại sản nhiều gia đình dẫn tới kéo theo những hành vi tội lỗi liên quan đến tính mạng con người như giết người để quỵt tiền thua bạc, giết người để cướp tài sản lấy tiền đánh bạc… Nghiện rượu lại có trường hợp đẩy con người vào trường hợp không thể nhận thức được và không thể điều khiển tốt hành vi của chính mình từ đó có thể dẫn đến giết người do bất

cứ sự kích động nhỏ nào

- Lối sống buông thả ích kỷ và tư tưởng “đèn nhà ai nấy sáng” tồn tại

trong một bộ phận dân cư

Trước hết phải nói rằng sự du nhập từ lối sống của các nước phương Tây làm cho cách sống theo đạo lý truyền thống của người Việt Nam ngày càng mai một Nhiều người đã tìm cách chạy theo những nhu cầu ích kỷ của bản thân bất chấp cả dư luận xã hội cũng như sự lên án của các giá trị đạo đức Chính lối sống buông thả này đã tạo ra nguyên cớ cho những vụ giết người vì động cơ ghen tuông, giết vợ, giết chồng để tự do lấy vợ lấy chồng khác Hà Nội và Thành phố

Hồ Chí Minh là nơi tiếp thu sớm những tiến bộ văn hóa phương Tây nhưng cũng

là nơi chịu ảnh hưởng nhiều tiêu cực của lối sống này

Bên cạnh đó tư tưởng “đèn nhà ai nấy sáng” trong một bộ phận dân cư thành thị trở thành yếu tố tạo điều kiện thuận lợi cho bọn tội phạm gây án Tư tưởng này cũng là yếu tố bất lợi đối với hoạt động đấu tranh phòng chống tội phạm của các cơ quan bảo vệ pháp luật

Với lối sống buông thả, ích kỷ của bộ phận dân cư thành thị như hiện nay

đã làm cho tình hình tội phạm ngày càng trở nên phức tạp và tạo điều kiện cho tội phạm giết người tồn tại trên địa bàn nước ta

- Hiện tượng chủ quan, thiếu tinh thần cảnh giác của quần chúng nhân dân

Qua nghiên cứu các vụ án giết người trên thực tế, chúng ta thấy có những

vụ giết người chỉ có thể xảy ra khi nạn nhân thiếu tinh thần cảnh giác, cũng có những vụ giết người mà can phạm dễ dàng hành động dựa vào sự chủ quan, thiếu cảnh giác của nạn nhân

Ngoài ra còn phải nói đến hiện tượng thiếu tinh thần cảnh giác của quần chúng nhân dân nói chung Có trường hợp giết người xảy ra trong khu tập thể, kẻ phạm tội bịt miệng, kéo nạn nhân vào nhà tắm để bóp cổ, nạn nhân giãy giụa kêu

Trang 20

la và những người trong khu tập thể nghe thấy nhưng lại không cho rằng đó là một vụ án mạng Trong những trường hợp tương tự như vậy nếu những người hàng xóm chung quanh có tinh thần trách nhiệm, cảnh giác cao hơn nữa thì có thể tội phạm đã được ngăn chặn kịp thời

1.2.2.2 Nguyên nhân và điều kiện thuộc về các cơ quan bảo vệ pháp luật

và thuộc về bản thân người phạm tội của tội giết người

- Công tác quản lý, kiểm tra, giám sát xã hội còn chưa được chặt chẽ

Thực trạng hiện nay là việc giữ gìn trật tự an toàn trên địa bàn các tỉnh, thành phố còn nhiều khiếm khuyết Có thể dễ dàng nhận thấy lực lượng chuyên trách còn quá ít để thực hiện tốt nhiệm vụ của mình Bên cạnh đó do thiếu cả những điều kiện làm việc cần thiết nên lực lượng chuyên trách đã không thu thập được hết thông tin từ quần chúng nhân dân Việc tuần tra khu vực, tuần tra các khu tập thể còn yếu và không thường xuyên, nhiều nơi hoạt động này chỉ là hình thức, các đối tượng có biểu hiện nghi vấn không được phát hiện để có biện pháp ngăn chặn kịp thời

- Chưa giải quyết đầy đủ việc làm cho những người trong độ tuổi lao động

Giải quyết công ăn việc làm cho những người trong độ tuổi lao động hiện nay đang là vấn đề nan giải trong toàn xã hội nói chung và các cơ quan chức năng nói riêng Hiện nay chúng ta chưa thực sự quản lý được những người thất nghiệp, chưa tổ chức, tập hợp được những người trong độ tuổi lao động mà chưa

có việc làm Mặt khác cũng không hướng dẫn, rèn luyện hình thành nhân cách sống của con người mới cho họ Đối tượng những người thất nghiệp bị bế tắc trong cuộc sống do ảnh hưởng của lối sống tiêu cực từ những người xung quanh,

sự đe dọa, tác động trực diện từ các tệ nạn xã hội nên họ đã trở thành một bộ phận đối tượng thực hiện tội giết người

- Công tác thu hồi, quản lý và sử dụng vũ khí còn sơ hở

Hiện tượng tàng trữ và mua bán vũ khí trái phép còn tồn tại do đó chưa ngăn chặn được việc luân chuyển vũ khí vào tay bọn phạm tội, đặc biệt là những tên đã có tiền án, tiền sự Mặt khác, một số ít cán bộ nhân viên có trách nhiệm giữ gìn vũ khí đã vi phạm các quy định về bảo quản và sử dụng Những thiếu sót,

sơ hở này thường bị bọn tội phạm lợi dụng để tìm ra công cụ gây án Kết quả điều tra, truy tố, xét xử đã chỉ rõ trong những năm vừa qua số người phạm tội giết người có dùng súng và các loại vũ khí khác đều có chiều hướng gia tăng gắn

Trang 21

theo nó là sự thiệt hại rất lớn cả vật chất và tinh thần mà loại tội phạm này gây ra cho nạn nhân và xã hội

- Những thiếu sót và hạn chế trong công tác của các cơ quan bảo vệ pháp luật

Các cơ quan Công an, Kiểm sát, Tòa án và cán bộ chuyên trách làm công tác bảo vệ an ninh trật tự ở địa phương chưa giám sát việc quản lý, giáo dục tốt những người có tiền án, tiền sự, những người mãn hạn tù trở về chưa có kế hoạch giáo dục họ trở thành người tốt cho xã hội, tạo điều kiện cho họ tái hòa nhập cộng đồng

Công tác thu nhặt và xử lý thông tin mà quần chúng cung cấp về tội phạm nói chung và tội giết người nói riêng còn nhiều hạn chế, chưa có chế độ khen thưởng, khích lệ quần chúng nhân dân tham gia phòng chống tội phạm và tố giác tội phạm

Công tác truy tố nhiều vụ án còn chậm, chất lượng còn hạn chế Viện kiểm sát, Tòa án và cơ quan điều tra chưa phối hợp chặt chẽ, nhịp nhàng nên thường có nhiều ý kiến khác nhau trong quá trình xét xử vụ án nên kéo dài thời gian vụ án

Công tác xét xử các vụ án giết người còn chưa được xét xử kịp thời, điều

đó làm hạn chế vai trò giáo dục, phòng ngừa của công tác xét xử Số vụ án giết người hàng năm còn tồn đọng nhiều Ngoài ra, một số vụ chưa được xử lý một cách nghiêm minh, tương xứng với tính chất của nó từ đó tạo ra tâm lý coi thường pháp luật, làm mất lòng tin của quần chúng nhân dân vào sự công minh của pháp luật

Việc thi hành án của loại tội phạm này trong nhiều trường hợp cũng chưa kịp thời, triệt để Các cơ quan Công an, Kiểm sát, Tòa án, Tư pháp chưa phối hợp chặt chẽ, chưa quan tâm đến công tác phòng ngừa tội phạm nói chung và tội giết người nói riêng

Qua việc nghiên cứu điều kiện và nguyên nhân của tội giết người có thể thấy tội phạm này tồn tại và gia tăng là do một hệ thống các yếu tố khác nhau, có yếu tố thuộc về bản thân người phạm tội nhưng cũng có yếu tố thuộc về cơ chế quản lý xã hội, quản lý kinh tế hiện nay Do đó việc triệt tiêu hết các yếu tố là nguyên nhân và điều kiện của tội phạm này là công việc hết sức phức tạp, nó đòi hỏi phải có sự hưởng ứng, tham gia tích cực của toàn thể nhân dân

Trang 22

1.2.3 Lịch sử hình thành các quy định về tội giết người trong pháp luật hình sự Việt Nam

Sự hình thành và phát triển các quy phạm pháp luật hình sự về tội giết người gắn liền với sự hình thành và phát triển của hệ thống pháp luật nước ta từ thời phong kiến cho đến sự ra đời của BLHS năm 1999 hiện nay phải trải qua nhiều giai đoạn lịch sử:

1.2.3.1 Giai đoạn trước năm 1945

Trải qua các thời kỳ phát triển của lịch sử, tội giết người trong thời đại phong kiến được quy định thành những tội cụ thể trong các Bộ luật thời Lý, Trần,

Lê, Nguyễn Rõ nét nhất là Bộ luật Hồng Đức nhà Lê hay còn gọi là “Quốc Triều Hình Luật”

Các tội được quy định khá rõ trong chương “Đấu tụng” (đánh nhau kiện cáo) Chương này gồm 30 điều, từ điều 456 đến điều 499 Nhìn chung trong

“Quốc Triều Hình Luật” quy định chung không mang tính chất hành vi cụ thể như các Bộ luật sau này, về dấu hiệu cấu thành tội phạm còn nhiều lẫn lộn, không phân biệt rõ ràng (như tội giết người và tội cố ý gây thương tích) Mặc dù vậy bộ luật này đã đánh dấu sự tiến bộ trong việc xây dựng hệ thống pháp luật trong thời kì phong kiến ở Việt Nam lúc bấy giờ nhằm nghiêm trị kẻ phạm tội

1.2.3.2 Giai đoạn từ năm 1945 – 1985

Đây là giai đoạn đất nước trong thời kì chống thực dân Pháp, chống đế quốc Mỹ và cả nước tiến lên xây dựng Xã Hội Chủ Nghĩa

Đầu tiên là Sắc lệnh số 47/ST ngày 10/10/1945 do Bác Hồ ký, cho phép

áp dụng số văn bản pháp luật của phong kiến của đế quốc mà không trái với nguyên tắc độc lập của nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa Sắc lệnh số 27/ST ngày 28/02/1946 về việc truy tố tội bắt cóc tống tiền và ám sát Thông tư số 442/TTg ngày 19/01/1955 về việc xử lý một số tội phạm như đánh bị thương, cố

ý giết người được thể hiện trong điều 4 của thông tư này

Năm 1955 do bối cảnh lịch sử và tình hình xã hội lúc bấy giờ nên Bộ Tư Pháp đã có thông tư số 19/VHH – HS ngày 30/06/1955 yêu cầu Tòa án không áp dụng luật lệ phong kiến vào việc định tội, từ đó đã cho ra đời hàng loạt văn bản mới như:

+ Thông tư số 24 TAND tối cao ngày 25/11/1974 về việc xét xử các tội cố

ý giết người;

Trang 23

+ Sắc lệnh số 03/ST – 76 ngày 15/03/1976 của Hội đồng Chính phủ cách mạng lâm thời quy định các tội phạm và hình phạt, đồng thời ban hành thông tư hướng dẫn các tội xâm phạm thân thể, nhân phẩm của công dân như: cố ý giết người, cố ý gây thương tích…

1.2.3.3 Giai đoạn từ năm 1985 – 1999

Năm 1985 là mốc lịch sử quan trọng đánh dấu sự ra đời của BLHS đầu tiên của nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam, BLHS đầu tiên của Việt Nam có hiệu lực từ ngày 01/01/1985 Trong đó tội giết người được quy định tại chương II điều 101, bao gồm 4 khoản quy định cụ thể cho từng hành vi của tội này Hình phạt cao nhất là tử hình Đây cũng là giai đoạn áp dụng pháp luật Hình

sự thống nhất cả nước Tòa án nhân dân tối cao đã ra quyết định số 04/HDTP ngày 29/11/1986 của Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định trong phần các tội phạm của BLHS Nghị quyết số 01/89/HDTP ngày 19/04/1986 của Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao hướng dẫn bổ sung một số quy định của BLHS

Qua thực tiễn đấu tranh phòng chống tội phạm, tính chất của tội phạm giết người ngày càng nguy hiểm, càng tinh vi, manh động Nhằm để bắt kịp với tình hình tội phạm phát sinh thực tế, BLHS đã qua 4 lần sửa đổi, bổ sung vào các năm

1989, 1991, 1992, 1997, đến năm 1999, tại kỳ họp thứ VI của Quốc hội khóa X

đã quyết định thông qua BLHS năm 1999 và có hiệu lực ngày 01/07/2000 Ở Bộ luật này, tội giết người được quy định tại điều 93, bao gồm có 3 khoản, quy định chi tiết hơn cụ thể hơn về hành vi tội giết người, đồng thời quy định cụ thể về hình phạt cho từng loại hành vi

Tội giết người được cấu tạo lại thành ba khoản, tách khoản 3 chuyển thành Điều 95, tách khoản 4 thành Điều 94 Khoản 1 vẫn là những trường hợp phạm tội có những tình tiết định khung tăng nặng, nhưng quy định thêm các tình tiết: “giết trẻ em, giết ông, bà, cha, mẹ, người nuôi dưỡng, thầy giáo, cô giáo của mình; để lấy bộ phận cơ thể của nạn nhân; thuê giết người hoặc giết người thuê” Khoản 2 quy định trường hợp giết người không có tình tiết quy định ở khoản 1, nhưng mức cao nhất của khung hình phạt chỉ có mười lăm năm, còn khoản 3 quy định hình phạt bổ sung.3

3

Đinh Văn Quế, Bình luận khoa học BLHS phần các tội phạm, Tập I, Nxb Thành phố Hồ Chí Minh,

2005, Tr 10 – Tr.11

Trang 24

BLHS năm 1999 được Quốc hội khóa XII kì họp thứ V thông qua ngày 21/12/1999 sửa đổi, bổ sung 2009 được Quốc hội thông qua năm 2009 có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2010 Luật sửa đổi, bổ sung BLHS đã có nhiều thay đổi về quy định cũng như hình phạt của một số tội phạm khác riêng đối với tội giết người thì vẫn giữ nguyên quy định và chế tài

1.3 Khái quát tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác

1.3.1 Khái niệm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác

1.3.1.1 Khái niệm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác theo từ điển Tiếng Việt

- Tội: Là điều làm trái với quy định của pháp luật, vi phạm vào những

điều cấm của đạo đức xã hội, tôn giáo

- Cố ý: Là có ý định làm việc gì và cố thực hiện ý định đó

- Gây: Là làm cho nảy sinh, phát sinh

- Thương tích: Là dấu vết để lại trên thân thể do bị thương

Vậy, theo sự cắt nghĩa này, ta có thể hiểu tội cố ý gây thương tích hoặc

gây tổn hại cho sức khỏe của người khác là một người cố ý thực hiện ý định trái với quy định của pháp luật, đạo đức xã hội, để gây ra thương tích trên cơ thể của người khác

1.3.1.2 Khái niệm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác theo quan điểm Luật Hình Sự

Cố ý gây thương tích được hiểu là hành vi dùng vũ lực hoặc thủ đoạn khác (thả chó cắn, trâu chém, bò đá,…) gây tổn thương cho cơ thể của người khác mà tổn thương này có thể xác định được thông qua thị giác

Ví dụ: A dùng dao đâm một nhát vào cánh tay phải của B

Gây tổn hại cho sức khỏe của người khác được hiểu là hành vi của một người dùng thủ đoạn tác động vào cơ thể nạn nhân làm mất hoặc giảm chức năng các bộ phận trên cơ thể nạn nhân Để xác định các tổn thương này phải thông qua phương tiện khoa học kỹ thuật

Ví dụ: A dùng gậy đập vào lưng của B làm B gãy xương bả vai

Trang 25

Như vậy, theo quan điểm của luật hình sự ta có thể hiểu tội cố ý gây

thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác là hành vi nguy hiểm cho xã hội, cố ý gây ra thương tích hoặc tổn hại cho sức khỏe của người khác một cách trái pháp luật dưới dạng những thương tích hoặc tỷ lệ tổn hại sức khỏe

Tội phạm ngày càng gia tăng có rất nhiều nguyên nhân tác động đến không chỉ đối với những người đã có nhiều tuổi, thanh niên, thiếu niên, thậm chí

có rất nhiều học sinh, sinh viên cũng phạm tội Tập trung chủ yếu ở một số nguyên nhân sau đây:

1.3.2.1 Nguyên nhân và điều kiện thuộc về yếu tố xã hội của tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác

- Tác động của những mặt tiêu cực phát sinh từ nền kinh tế thị trường tới mọi đời sống xã hội trong những năm qua ở nước ta

Nguyên nhân dẫn tới tội phạm và vi phạm pháp luật là một vấn đề hết sức phức tạp bao gồm các yếu tố về mặt đạo đức, pháp luật, tổ chức, tâm lý và các yếu tố khác Trong đó nguyên nhân về yếu tố xã hội có thể nói đây là nguyên nhân cơ bản nhất, nguyên nhân của mọi nguyên nhân dẫn đến tội phạm và vi phạm pháp luật

Sự chuyển hướng của nền kinh tế quan liêu bao cấp sang nền kinh tế thị trường nhiều thành phần dưới sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa đã tạo nên sự chuyển biến lớn trong đời sống xã hội Đất nước ta có nhiều khởi sắc, nền kinh tế phát triển, đời sống nhân dân được cải thiện rõ rệt Bên cạnh đó thiếu sự chuẩn bị đầy đủ cho bước chuyển biến này, chưa chú ý đúng mức vấn đề giáo dục, rèn luyện phẩm chất chính trị và đạo đức đối với cán

bộ, đảng viên Những mặt trái của nền kinh tế thị trường đã tạo nên những tiêu cực nhất định đối với xã hội Trong thời gian qua xã hội đã có sự phân tầng, một

Trang 26

số người trở nên giàu có, một số vẫn nghèo đói thiếu thốn mọi mặt và kể cả vật chất đời sống cũng có sự phân biệt quá xa giữa giàu nghèo, tuy vấn đề an sinh xã hội trong thời gian qua được Đảng và Nhà nước đặc biệt chú trọng quan tâm Vấn đề giải quyết công ăn việc làm cho những người trong độ tuổi lao động hiện nay vẫn là một vấn đề nan giải đối với cơ quan chức năng nói riêng và đối với toàn xã hội nói chung Những đối tượng đời sống khó khăn, nghèo đói thì dễ dẫn đến cách nghĩ, cách nhìn nhận sai lệch trong cuộc sống, thiếu công ăn việc làm dẫn đến “ăn chơi” nhậu nhẹt, tập tụ gây gỗ đánh nhau, làm mất trật tự xã hội Bên cạnh đó một số học sinh phổ thông vừa ra khỏi ghế nhà trường do chưa được đào tạo nghề rất khó khăn tìm được việc làm ổn định, đồng thời nhận thức của các em cũng chưa cao, suy nghĩ còn nông cạn là đối tượng rất dễ bị tác động từ môi trường bên ngoài, dễ bị sa ngã vào con đường tội phạm

Như vậy, chính những đối tượng này là một phần trong mối lo ngại về trật

tự xã hội nói chung và có thể là tội phạm cố ý gây thương tích nói riêng Và đây

là một gánh nặng lớn của toàn xã hội, có thể làm chậm sự phát triển của đất nước nếu ta không có những giải pháp giải quyết kịp thời và triệt để

- Nguyên nhân về sự chậm đổi mới chính sách kinh tế - xã hội và pháp luật

Trong những năm qua hệ thống các chính sách kinh tế - xã hội, pháp luật của nước ta đã có nhiều thay đổi sâu sắc và đã đem lại nhiều kết quả rất phấn khởi trong cuộc sống của toàn thể nhân dân ta Nhưng bên cạnh đó còn nhiều hạn chế, sơ hở, có những nội dung chưa thật hoàn chỉnh, từ đó đã có tác động tiêu cực đến xã hội nói chung

Trong quá trình phát triển kinh tế - chính trị đất nước ta ngày nay, công tác giáo dục tư tưởng, giáo dục ý thức lao động chưa đáp ứng được yêu cầu thực tiễn Những thiếu sót này thể hiện thấy rõ, các cơ quan tổ chức cán bộ làm công tác giáo dục tư tưởng chưa chú ý đúng mức tầm quan trọng của nó, đến khía cạnh giáo dục ý thức lao động, ý thức tôn trọng tính mạng, sức khỏe, danh dự của người khác cho mọi người đặc biệt là thanh thiếu niên Công tác giáo dục về tư tưởng hay ý thức lao động, ý thức tôn trọng sức khỏe của người khác, chưa có nội dung, chương trình cụ thể sát thực, còn mang nặng tính chung chung, hiệu quả mang lại chưa cao đối với yêu cầu cấp thiết của xã hội hiện nay

Việc nắm chắc đối tượng và phân loại đối tượng phạm tội của các cơ quan chức năng cũng chưa được tính đến các yếu tố tâm lý, xã hội, lứa tuổi, trình độ

Trang 27

của các đối tượng phạm tội nên chưa đề ra các biện pháp, phương pháp và hình thức giáo dục thích hợp mang lại hiệu quả cao và tránh việc tái phạm tội lại của người phạm tội Các cơ quan chức năng chưa xây dựng được một biện pháp quản

lý và giáo dục những đối tượng có biểu hiện phạm tội ngay ở cơ sở thật hiệu quả, chỉ áp dụng các biện pháp khi đã phạm tội, đây là nguyên nhân cũng góp phần sự gia tăng của tội phạm ở nước ta

1.3.2.2 Nguyên nhân và điều kiện thuộc về các cơ quan bảo vệ pháp luật

và thuộc về bản thân người phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác

- Việc phát hiện và giải quyết các mâu thuẫn trong nội bộ quần chúng nhân dân không được kịp thời và triệt để

Trong xã hội hiện nay có rất nhiều biến đổi rất khả quan, kinh tế - xã hội phát triển và đời sống nhân dân cũng ngày càng được cải thiện Tuy nhiên bên cạnh đó thì trong xã hội cũng có rất nhiều mâu thuẫn giữa vợ chồng, giữa các đồng nghiệp, giữa các nông dân với nhau, thậm chí anh em, cha con ruột trong gia đình với nhau… đó chính là những mâu thuẫn nội tại, bản thân những người mâu thuẫn không đối kháng, song phải phát hiện kịp thời và giải quyết triệt để Nếu không được phát hiện kịp thời và giải quyết thì mâu thuẫn này sẽ phát triển thành nguyên nhân của những tội phạm như: tội cố ý gây thương tích, hành hạ người khác…

Việc phát hiện và giải quyết kịp thời đây là một vấn đề quan trọng trong phòng ngừa tội phạm nói chung và tội phạm cố ý gây thương tích nói riêng Nếu việc phát hiện những vấn đề mâu thuẫn trong gia đình, trong xóm làng, cơ quan… là một vấn đề rất khó khăn nhưng việc giải quyết vấn đề mâu thuẫn đó lại

là một vấn đề gặp nhiều khó khăn hơn Vì vậy đặt ra những thách thức, trách nhiệm cao đối những cá nhân, cán bộ đang làm nhiệm vụ này, từ đó sẽ phát hiện giải quyết kịp thời và thỏa đáng trong nhân dân nói chung

- Công tác của các cơ quan bảo vệ pháp luật như Công an, Tòa án, Viện kiểm sát còn nhiều thiếu sót, hạn chế chưa đáp ứng với tình hình

Trong những năm qua các cơ quan bảo vệ pháp luật đã có nhiều đóng góp tích cực nhằm bảo đảm sự thực thi đúng đắn của pháp luật Nhưng bên cạnh đó công tác của các cơ quan bảo vệ pháp luật vẫn còn một số thiếu sót trong công tác nghiệp vụ chuyên môn, từ đó đã tạo điều kiện làm nảy sinh tội phạm nói chung và tội phạm cố ý gây thương tích nói riêng

Trang 28

Các cơ quan Công an, Kiểm sát, Tòa án và các cán bộ chuyên trách làm công tác bảo vệ an ninh, trật tự ở địa phương chưa giám sát, quản lý, giáo dục tốt những người có tiền án, tiền sự Đặc biệt, trong công tác giúp đỡ, phát động phong trào cảm hóa, giáo dục những người mới mãn hạn tù trở về địa phương với gia đình, tạo điều kiện cho những người phạm nhân vừa ra tù có công việc làm

ổn định để tự nuôi sống họ và gia đình của họ Bởi vì đây là những đối tượng mà mọi người xung quanh có sự thiện cảm không tốt về họ, thái độ cư xử với họ cũng khác hẳn tuy trước đây họ đi vào con đường tội phạm nhưng đã được giáo dục và cảm hóa trở thành người lương thiện có ích cho xã hội Vì thế những người phạm tội khi mãn tù trở về nhà rất dễ bị mặt cảm, họ cứ nghĩ họ là người thừa của xã hội, không còn có lòng tin vào bản thân họ có thể làm lại cuộc đời, nên rất dễ bị sa ngã đi vào con đường phạm tội và tái phạm lại

Các công tác thu thập và xử lý thông tin mà quần chúng, tổ chức cung cấp

về tội phạm nói chung và tội cố ý gây thương tích chưa có chế độ khen thưởng, biểu dương kịp thời

Công tác truy tố nhiều vụ án liên quan đến tội cố ý gây thương tích còn chậm Có nhiều vụ án chuyển sang cho Tòa án xét xử nhưng bị trả hồ sơ lại vì hồ

sơ chưa đủ Ở nhiều vụ án Viện kiểm sát và cơ quan điều tra chưa có sự phối hợp với nhau ngay từ khâu đầu tiên nên thường có nhiều ý kiến khác nhau trong quá trình lập hồ sơ và định tội, kéo dài thời gian điều tra vụ án Công tác xét xử về tội

cố ý gây thương tích chưa kịp thời điều đó làm hạn chế tính giáo dục phòng ngừa tội phạm Số vụ án tội phạm này còn tồn đọng nhiều Đặc biệt nhiều vụ chưa xử

lý nghiêm minh tương xứng với tính chất của hành vi phạm tội, từ đó tạo ra tâm

lý coi thường pháp luật, làm mất lòng tin của nhân dân vào sự công minh của pháp luật Các cơ quan Công an, Tòa án, Viên kiểm sát chưa thật sự phối hợp với nhau để đề ra kế hoạch phòng chống tội phạm nói chung và tội cố ý gây thương tích nói riêng một cách có hiệu quả

- Những nguyên nhân thuộc về bản thân đối tượng phạm tội

Nguyên nhân chủ quan là phải kể đến tâm lý thói quen tiêu cực của họ, tính cách đạo đức của mỗi con người thể hiện qua ý thức, lối sống

Trước hết là phải kể đến một số đông các đối tượng phạm tội có sự hiểu biết về pháp luật kém, về chuẩn mực xã hội, về đạo đức lối sống Thông thường

họ nhận thức sai lệch về chuẩn mực xã hội, có quan điểm tiêu cực về giá trị của ý thức cá nhân và hình thành thái độ thiếu tôn trọng pháp luật

Trang 29

Qua việc nghiên cứu thì chúng ta nhận thấy rằng đối tượng gây án ở nhiều lứa tuổi, thành phần khác nhau Từ những người có chức vụ, quyền hạn đến công nhân, người lao động, lưu manh, côn đồ Đáng chú ý là nhiều vụ có sự góp mặt của các học sinh, sinh viên đang ngồi trên ghế nhà trường Nhìn chung trước tình hình kinh tế hiện nay, tội phạm về cố ý gây thương tích ngày càng có chiều hướng gia tăng là do nhiều yếu tố khác nhau, có yếu tố thuộc về nhân thân của người phạm tội, có yếu tố về quản lý xã hội, cơ chế kinh tế ngày nay Như vậy để triệt tiêu hết những yếu tố điều kiện, nguyên nhân này của tội phạm cố ý gây thương tích là hết sức phức tạp đòi hỏi sự hưởng ứng, tham gia tích cực của toàn Đảng, toàn thể nhân dân

Hiện nay, do mặt trái của cơ chế thị trường, số vụ ly hôn đang có chiều hướng gia tăng Ngày nay khi nói đến hôn nhân, những cặp vợ chồng thường không đắn đo suy nghĩ mà luôn đưa ra những quyết định vội vàng Ngoài ra nhiều gia đình không có một kỹ năng để giải quyết những mâu thuẫn của gia đình Vì vậy, đây cũng là một nguyên nhân, điều kiện rất phổ biến đã đưa những đứa trẻ bước vào con đường phạm tội

Tóm lại, tội phạm cố ý gây thương tích có xu thế gia tăng, có thể nói đây

là một vấn đề nhức nhối trong xã hội ngày nay, làm mất an ninh trật tự, người dân tinh thần bị hoang mang lo sợ Hiện nay, tội phạm này đã xuất hiện từ các thành phố, nông thôn và cả trong nhà trường Nó đã để lại một hậu quả nặng nề, một gánh nặng cho xã hội như: người bỏ học, kẻ bị thương, người tật nguyền

Vì vậy, thiết nghĩ toàn xã hội phải có những phương thức, biện pháp cấp bách, kịp thời và phương thức giáo dục phòng ngừa tội phạm này

1.3.3 Lịch sử hình thành các quy định về tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trong pháp luật hình sự Việt Nam

1.3.3.1 Giai đoạn trước năm 1945

Đây là giai đoạn pháp luật hình sự nói chung có những bước tiến dài trong lịch sử của Nhà nước ta qua các thời đại vua chúa Nhìn chung các quy định về các tội phạm sức khỏe nói chung và tội cố ý gây thương tích nói riêng chưa quy định một cách có hệ thống, hầu hết các quy định do các vua chúa ban ra là để bảo

vệ hoàng cung và triều đình

 Đầu tiên là Quốc Triều hình luật – Luật Hồng Đức

Bộ luật Quốc Triều hình luật nhà Lê là một thành tựu có giá trị đặc biệt trong lịch sử pháp luật Việt Nam Tuy nhiên đây không phải là Bộ luật đầu tiên

Trang 30

trong lịch sử pháp luật Việt Nam, đầu tiên là Bộ luật “Hình Thư” thời nhà Lý, vào thế kỷ XI “Hình thư” được ban hành vào tháng 10 năm Nhâm Ngọ Sau đó đến thời nhà Trần cũng cho lập và ban hành các Bộ luật như: Quốc Triều Thông

Lễ, Hoàng Triều Đại Điển, Hình Thư Nhưng cả hai bộ luật nhà Lý và nhà Trần không còn có một văn bản nào, trong lịch sử

Theo nhận xét của nhà sử học Phan Huy Chú trong sách Lịch Triều Hiến Chương Loại Chí: “Hình của nhà Lý thì lỗi ở khoan hồng, hình của nhà Trần thì lỗi ở nghiêm khắc” Còn nhà Lê “thật là cái mẫu mực để trị nước, cái khuôn phép

để buộc dân”4, Nhà Lê đã để lại rất nhiều sách có giá trị lịch sử rất lớn và trong

đó bộ luật Quốc Triều Hình Luật được coi là bộ luật quan trọng và chính thống của nhà Lê Bộ luật Quốc Triều Hình Luật được sữa đổi, bổ sung hoàn chỉnh dần qua các triều vua để phù hợp với tình hình chính trị, phát triển kinh tế - xã hội của đất nước trong đó có sự đóng góp to lớn của nhà vua Lê Thánh Tông ông đã

có nhiều chính sách hoàn thiện về Bộ luật, lấy tên là Hồng Đức Bộ luật gồm có 6 quyển – 13 chương, các quy định về tội cố ý gây thương tích được quy định tại quyển thứ 4, chương “Đấu tụng” gồm:

“+ Đánh người bằng chân tay không hay đánh bằng gây gộc;

+ Đồng mưu đánh người bị thương;

+ Đôi bên đánh nhau đều bị thương;

+ Kẻ dưới đánh quan lại, quan lại đánh lẫn nhau;

+ Đánh người trong hoàng tộc;

+ Chửi đánh ông bà, cha mẹ;

+ Vợ chửi đánh ông bà, cha mẹ chồng;

+ Đánh cha mẹ họ hàng bên vợ, anh chị em rể;

Trang 31

+ Đánh lại người thi hành công vụ;”5

Hình phạt của bộ luật Hồng Đức cũng được quy định tại Điều 2 Chương

“Đấu tụng”: Đánh người gãy răng, sứt tai mũi, chột một mắt, gãy ngón tay, gãy ngón chân, giập xương, hay lấy nước sôi lửa làm người bị thương và rụng tóc, thì

bị phạt tội đồ 6 làm khao đinh 7 Lấy đồ bẩn thỉu ném vào đầu, mặt người ta thì bị

xử biếm 8 ba tư Đánh gãy hai ngón tay trở lên thì bị xử làm tội đồ làm tượng phường binh Lấy gương giáo đâm chém người, dẫu không trúng nhưng cũng

phải bị xử tội lưu đi châu gần…

Cách quy định này tuy vụn vặt nhưng nó lại thể hiện rõ tính cụ thể và tính phân hóa cao trong luật, khiến quan lại khi xét xử không thể tự ý tăng nặng hình phạt hoặc giảm nhẹ hình phạt được Từ đó góp phần nâng cao hiệu quả áp dụng hình phạt và hạn chế những hành vi tiêu cực

 Hoàng Việt Luật Lệ - Bộ Luật Gia Long

Đến đời nhà Nguyễn đặc biệt quan tâm đến việc ban hành pháp luật Năm

1811, vua Gia Long đưa Nguyễn Văn Thành vào chức Tổng tài làm bộ luật Năm

1815, Bộ luật Gia Long được công bố Bộ luật có 398 Điều, chia thành 22 Quyển, điều chỉnh các mối quan hệ trong xã hội

Trong bộ luật Gia Long, hành vi đánh người cố ý gây thương tích tại Điều

1 Quyển 15, phần “Đấu ẩu” như:

Trang 32

+ Đánh người trong cung;

+ Đánh hàng tôn thần trong tôn thất;

+ Đánh sứ giả nhà vua hoặc trưởng quan cai quản mình;

+ Quan phó dưới quyền đánh trưởng quan;

+ Quan thượng ti và quan dưới quyền cùng đánh nhau;

+ Quan cửu phảm trở lên đánh trưởng quan;

+ Đánh thầy dạy học mình;

+ Kẻ làm và kẻ hèn cùng đánh nhau;

+ Nô tỳ đánh gia trưởng;

+ Thê thiếp đánh chồng;

+ Thân thuộc cùng họ đánh nhau;

+ Đánh hàng đại công xuống đến tôn trưởng;

+ Đánh hàng kì thân tôn trưởng;

+ Đánh ông bà cha, mẹ;

+ Đánh lại kẻ đánh ông bà, cha mẹ của mình;

+ Thê thiếp cùng đánh lộn với thân thuộc bên chồng;

+ Đánh con chồng trước của vợ;

+ Thê thiếp đánh cha mẹ chồng đã chết”.9,10

Hình phạt: cả hai bộ luật này quy định rất tỉ mỉ và chi tiết: “Phàm đánh lộn

với người, nếu đánh bằng tay chân không gây thương tích thì phạt hai mươi roi Làm người bị thương dù không phải đánh hay lấy vật gì đánh….thì bị phạt ba

mươi roi Còn như dùng vật đánh người thì phạt bốn mươi roi… Nếu làm gãy

một cái răng hay một ngón tay hoặc một ngón chân, làm mù một mắt của người

ta thì bị phạt một trăm trượng Làm gãy hai cái răng, hay ngón tay trở lên và cắt hết tóc người ta thì bị phạt sáu mươi trượng và đồ một năm 11 Vì vậy những hành vi đánh chết người trong cung đình, đặc biệt trong lúc lâm triều hay đánh

Trang 33

hàng tôn thần, đánh sứ giả nhà vua, hay trưởng quan cai quản mình, đánh thầy dạy học mình, hoặc đánh ông bà, cha mẹ đều bị xử phạt rất nặng Điều này cho thấy, lễ giáo phong kiến và những quy định trong Bộ luật Mãn Thanh Trung Quốc đã ảnh hưởng sâu sắc đến chính sách hình sự này

1.3.3.2 Giai đoạn từ năm 1945 – 1985

- Giai đoạn từ khi thành lập nước Việt Nam dân chủ cộng hòa đến trước ngày hủy bỏ pháp luật của đế quốc và phong kiến (1945 – 1955)

Trong những ngày đầu mới thành lập Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, để ổn định tình hình đất nước, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký sắc lệnh số 47/SL ngày 10/10/1945 cho phép áp dụng một số pháp luật đế quốc và chế độ phong kiến, với điều kiện không trái với nguyên tắc độc lập của Việt Nam với chính thể cộng hòa

Do áp dụng pháp luật ba miền Bắc, Trung, Nam khác nhau cho nên việc

xử lý tội phạm ba vùng không thống nhất Điều này không phù hợp với chính thể dân chủ cộng hòa Vì vậy, ngày 19/01/1955 Thủ tướng Chính phủ đã ban hành thông tư số 442/TTg về việc trừng trị một số tội phạm Điều 3 thông tư quy định:

“+ Đánh người bị thương: phạt tù từ ba tháng đến năm năm;

+ Đánh người bị thương có tổ chức hay gây thành tật hay chết người có thể phạt đến hai mươi năm;”

Do tình hình đất nước thay đổi việc áp dụng luật lệ của đế quốc và chế độ phong kiến không còn phù hợp nữa Vì vậy Bộ Tư pháp đã có thông tư số 19/VHH – HS ngày 30/06/1955 yêu cầu Tòa án không áp dụng luật lệ chế độ phong kiến nữa

- Giai đoạn hủy bỏ pháp luật của đế quốc và phong kiến đến trước ngày

áp dụng pháp luật của nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (1955 – 1976)

Trong giai đoạn này ở phía Bắc, Bộ Tư pháp đã ban hành thông tư số 19/VHH – HS ngày 30/06/1955 yêu cầu Tòa án không áp dụng pháp luật đế quốc

và chế độ phong kiến Để tăng cường việc quản lý nhà nước bằng pháp luật nhằm đưa miền Bắc tiến lên chủ nghĩa xã hội làm hậu phương vững chắc cho miền Nam, Tòa án tối cao ban hành Chỉ thị số 772 TAND tối cao ngày 10/07/1959 về vấn đề đình chỉ áp dụng pháp luật đế quốc và phong kiến

Trang 34

Ở các tỉnh phía Nam, Chính phủ Việt Nam cộng hòa đã ban hành nhiều văn bản pháp luật, đặc biệt là BLHS ngày 20/12/1972 Bộ luật quy định về tội cố

ý gây thương tích như sau:

+ Cố ý gây thương tích (Điều 334);

+ Dự mưu hay mai phục để gay thương tích (Điều 335);

+ Cố ý đã thương hoặc hành hung nặng nề trẻ em dưới 15 tuổi hoặc cố ý không nuôi dưỡng hay không chăm sóc làm thiệt hại đến sức khỏe của nó (Điều 337)

Đến ngày 30/04/1975 miền Nam hoàn toàn giải phóng, vì vậy cần ban hành luật mới cho pháp luật của ngụy Sài Gòn Do đó, Hội đồng Chính phủ cách mạng lâm thời đã ban hành Sắc luật số 03/SL – 76 ngày 15/03/1976 quy định về tội phạm và hình phạt Tại Điều 5 Sắc luật số 03/SL – 76 có quy định:

“+ Phạm tội cố ý gây thương tích thì bị phạt tù từ một tháng đến ba năm Trường hợp nghiêm trọng thì bị phạt tù đến hai mươi năm;

+ Phạm tội vô ý gây thương tích nặng thì bị phạt tù từ một tháng đến ba năm Trong trường hợp nghiêm trọng thì bị phạt tù đến mười năm”

Như vậy, lần đầu tiên một văn bản pháp luật đã quy định tương đối về tội phạm xâm phạm sức khỏe nói chung và tội cố ý gây thương tích nói riêng với hai tội danh cơ bản

- Giai đoạn từ 1976 cho đến trước Bộ luật Hình sự năm 1985 ra đời

Đây là giai đoạn áp dụng pháp luật thống nhất trong cả nước Sau khi giải phóng miền Nam, nhiệm vụ hàng đầu là thống nhất đất nước về mặt Nhà nước

Vì vậy, nghị quyết ngày 02/07/1976 của Quốc hội khóa VI, kì họp thứ nhất về áp dụng pháp luật thống nhất cả nước, Hội đồng Chính phủ đã tập hợp ý kiến của các ban ngành và đã có một số ý kiến:

+ Những văn bản pháp luật hiện hành ở hai miền được áp dụng trong cả nước vì đều là xuất phát từ đường lối, chính sách của Đảng

+ Hội đồng Chính phủ sẽ công bố dần danh mục những văn bản hiện hành được thi hành thống nhất trong cả nước

Trong giai đoạn này, thông qua tổng kết công tác hàng năm và tổng kết chuyên đề về các nhóm tội phạm Tòa án tối cao đã hướng dẫn việc áp dụng pháp luật cho Tòa án các cấp trong cả nước

Trang 35

1.3.3.3 Giai đoạn từ năm 1985 – 1999

Đặc điểm cơ bản nhất của giai đoạn này là BLHS năm 1985 ra đời và qua bốn lần sửa đổi theo tình hình phát triển của kinh tế - xã hội của đất nước, là công cụ quan trọng góp phần xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ vững chắc Tổ quốc xã hội chủ nghĩa BLHS năm 1985 là một thành tựu lớn của trí tuệ lập pháp hình sự nước ta, đã góp phần vào công cuộc bảo vệ thành quả cách mạng, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ quyền lợi của nhân dân, đấu tranh phòng chống

và phòng ngừa tội phạm Nhóm tội phạm xâm phạm tính mạng, sức khỏe danh

dự của người khác nói chung và tội cố ý gây thương tích nói riêng được quy định

tại Chương II của Bộ luât hình sự năm 1985 như sau: Tội “cố ý gây thương tích

hoặc tổn hại cho sức khỏe của người khác” (Điều 109)

1 Người nào “cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác” thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến một năm hoặc bị phạt tù từ

từ ba tháng đến hai năm

Hình phạt: cảnh cáo; phạt tiền; cải tạo không giam giữ; cải tạo ở đơn vị quân đội; tù có thời hạn; tù chung thân; tử hình Ngoài ra, Bộ luật còn quy định hình phạt bổ sung như: cấm đảm nhiệm chức vụ; làm những nghề hoặc công việc nhất định; cấm cư trú; quản chế;…

Nhìn chung đây là quan điểm mới trong chính sách hình sự của Nhà nước

ta về các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự nói chung và

Trang 36

tội “cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác” nói riêng được đặt vị trí quan trọng của nhóm khách thể này sau các tội xâm phạm an ninh quốc gia và được đặt trước các tội xâm phạm sở hữu xã hội chủ nghĩa trong BLHS Có thể nói BLHS năm 1985 ra đời có một giá trị lớn trong hệ thống pháp luật nước ta nói chung và hình sự nước ta nói riêng, với tính cách là một công cụ sắc bén, hữu hiệu để đấu tranh phòng và chống tội phạm, góp phần đắc lực vào việc bảo vệ các quan hệ xã hội và lợi ích quan trọng… BLHS thể hiện tinh thần chủ động phòng ngừa và kiên quyết đấu tranh chống tội phạm và thông qua hình phạt để răn đe, giáo dục, cảm hóa, cải tạo người phạm tội trở thành người lương thiện; qua đó, bồi dưỡng cho mọi công dân, tinh thần ý thức làm chủ xã hội, ý thức tuân thủ pháp luật, chủ động tham gia phòng ngừa và chống tội phạm

1.3.3.4 Giai đoạn từ khi Bộ luật Hình sự năm 1999 ra đời đến nay

BLHS năm 1985 tuy được ban hành trong những năm của cơ chế tập trung, quan liêu bao cấp, nhưng có thể nói BLHS năm 1985 là bước tiến vượt bậc của pháp luật Việt Nam Bộ luật này đã góp phần đáng kể vào công cuộc đấu tranh phòng chống tội phạm thời kì đó Trong khi đó tình hình kinh tế - xã hội trong nước cũng như tình hình trên thế giới đã có nhiều biến đổi, tình hình tội phạm không còn phù hợp nữa, một số hành vi tội phạm khác có tính nguy hiểm cho xã hội cần được luật hình sự hóa Do đó, ngày 21/12/1999 Quốc Hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa X tại kỳ họp thứ VI đã thông qua BLHS năm 1999 thay thế BLHS năm 1985 BLHS năm 1999 có hiệu lực từ ngày 1/7/1999 BLHS năm 1999 đã được sửa đổi, bổ sung một cách toàn diện, phù hợp với thực tiễn hơn so với BLHS năm 1985

Nhìn chung BLHS năm 1999 quy định tội “cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác” một cách cụ thể hơn BLHS năm 1985 Đây

là điều luật được tạo lại từ Điều 109 BLHS năm 1985, sự cấu tạo mới theo hướng lấy tỷ lệ thương tật làm căn cứ xác định trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội Tuy nhiên do yêu cầu của việc đấu tranh phòng chống tội phạm này nên các nhà làm luật quy định thêm một số trường hợp tuy hành vi cố ý gây thương tích cho người khác có tỷ lệ dưới mức quy định là 11% vẫn bị truy cứu trách nhiệm hình sự Các trường hợp phạm tội này cũng là dấu hiệu định khung hình phạt

Trong các trường hợp quy định từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều 104 BLHS có nhiều trường hợp tương tự như các tình tiết định khung hình phạt của tội giết người, có trường hợp đã được quy định tại khoản 2, khoản 3 Điều 109 Bộ

Trang 37

luật hình sự năm 1985, có trường hợp thực tiễn xét xử được tổng kết và hướng dẫn

Có thể tóm tắt các dấu hiệu cơ bản của tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác như sau:

Nếu cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác

mà tỷ lệ thương tật từ 11% đến 30% thì truy cứu trách nhiệm hình sự theo khoản

1 Điều 104 BLHS

Nếu tỷ lệ thương tật của người bị hại dưới 11% thì phải thuộc một trong các trường hợp quy định tại điểm a đến điểm k khoản 1 Điều 104 BLHS thì người phạm tội mới bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo khoản 1 Điều 104 BLHS Trong các trường hợp quy định từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều 104

có các trường hợp sau đây là quy định mới: “dùng hung khí nguy hiểm hoặc dùng thủ đoạn gây nguy hại cho nhiều người; gây cố tật nhẹ cho nạn nhân; phạm tội nhiều lần đối với cùng một người hoặc đối với nhiều người; đối với trẻ em, phụ nữ đang có thai, người già yếu ốm đau hoặc người khác không có khả năng

tự vệ; đối với ông, bà, cha, mẹ, người nuôi dưỡng, thầy giáo, cô giáo của mình;

có tổ chức; trong thời gian đang bị tạm giữ, tạm giam hoặc đang bị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục; thuê gây thương tích hoặc gây thương tích thuê”

Nếu tỷ lệ thương tật của người bị hại từ 31% đến 60% hoặc từ 11% đến 30% nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều 104 BLHS thì người phạm tội bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo khoản 2 Điều 104 BLHS có khung hình phạt từ hai năm đến bảy năm tù

Nếu tỷ lệ thương tật của người bị hại từ 61% trở lên hoặc dẫn đến chết người hoặc từ 31% đến 60% nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều 104 BLHS, thì người phạm tội bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo khoản 3 Điều 104 Bộ luât hình sự có khung hình phạt từ năm năm đến mười lăm năm nhẹ hơn so với khoản 3 Điều 109 BLHS 1985

Nếu dẫn đến chết người hoặc trong trường hợp đặc biệt nghiêm trọng khác thì người phạm tội bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo khoản 4 Điều 104 BLHS

có khung hình phạt từ mười lăm năm đến hai mươi năm hoặc tù chung thân Đây

là quy định mới nặng hơn so với Điều 109 BLHS năm 1985.12

12

Đinh Văn Quế, Bình luận khoa học BLHS phần các tội phạm, Tập I, Nxb Thành phố Hồ Chí Minh,

2005, Tr 13 – Tr.15

Trang 38

BLHS năm 1999 được Quốc hội khóa XII kì họp thứ V thông qua ngày 19/06/2009 sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS được Quốc hội thông qua năm 1999 có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2010 Luật sửa đổi, bổ sung BLHS

đã đã có nhiều thay đổi về quy định cũng như hình phạt của một số tội phạm Tuy nhiên, đối với tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác thì không có gì thay đổi

Tóm lại, từ việc tìm hiểu các khái niệm, nguyên nhân và lịch sử các tội

phạm xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của người khác qua tội giết người và tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác nói lên tầm quan trọng của việc bảo vệ tính mạng, sức khỏe của con người Lịch sử phát triển pháp luật hình sự của Nhà nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam về các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự được chia thành các thời kỳ Qua mỗi thời kỳ, các quy định của pháp luật đầy đủ hơn, chi tiết hơn, hoàn thiện hơn tạo điều kiện cho việc thực hiện công tác đấu tranh và phòng ngừa các loại tội phạm này được tốt hơn Khẳng định pháp luật hình sự là công cụ sắc bén của Nhà nước ta trong công cuộc đấu tranh phòng chống các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của con người

mà cụ thể ở đây là tội giết người và tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác

Trang 39

CHƯƠNG 2 PHÂN BIỆT TỘI GIẾT NGƯỜI VỚI TỘI CỐ Ý GÂY THƯƠNG TÍCH HOẶC GÂY TỔN HẠI CHO SỨC KHỎE CỦA NGƯỜI KHÁC TRONG

BỘ LUẬT HÌNH SỰ HIỆN HÀNH

Vấn đề định tội là vấn đề khó khăn, phức tạp và đặc biệt quan trọng Bởi

vì, như Mác nói, hiệu quả của pháp luật hình sự phụ thuộc rất nhiều vào tính đúng đắn của công tác xét xử Để định tội đúng, không bỏ lọt tội phạm, loại bỏ những hậu quả tiêu cực, trước hết cần phải phân biệt cho đúng Trong các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe của người khác thì đặc biệt giữa tội giết người và tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác là hai tội danh có nhiều dấu hiệu pháp lý tương đồng dễ gây nhằm lẫn trong việc định tội Cần phải đem ra phân tích, đối chiếu, so sánh để có thể phân biệt và định tội đúng giúp hạn chế sự khó khăn trong việc định tội, hạn chế phần nào sự sai sót của các cơ quan bảo vệ pháp luật

2.1 Dấu hiệu pháp lý của tội giết người

Tội giết người được quy định tại điều 93 BLHS như sau:

1 Người nào giết người thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm, tù chung thân hoặc tử hình:

a) Giết nhiều người;

b) Giết phụ nữ mà biết là có thai;

c) Giết trẻ em;

d) Giết người đang thi hành công vụ hoặc vì lý do công vụ của nạn nhân;

đ) Giết ông, bà, cha, mẹ, người nuôi dưỡng, thầy giáo, cô giáo của mình; e) Giết người mà liền trước đó hoặc ngay sau đó lại phạm một tội rất nghiêm trọng hoặc tội đặc biệt nghiêm trọng;

g) Để thực hiện hoặc che giấu tội phạm khác;

h) Để lấy bộ phận cơ thể của nạn nhân;

i) Thực hiện tội phạm một cách mang rợ;

k) Bằng cách lợi dung nghề nghiệp;

l) Bằng phương pháp có khả năng làm chết nhiều người;

m) Thuê giết người hoặc giết người thuê;

Trang 40

cư trú từ một năm đến năm năm

Qua quy định pháp lý và định nghĩa về tội giết người chúng ta có thể rút

ra những dấu hiệu pháp lý của tội giết người như sau:

2.1.1 Khách thể của tội giết người

Hành vi phạm tội giết người xâm phạm tính mạng của người khác Đối tượng tác động của tội này là những chủ thể có quyền được tôn trọng và bảo vệ tính mạng, đó là những người đang sống, đang tồn tại trong thế giới khách quan với tư cách là một con người – thực thể tự nhiên và xã hội Nếu một người đã chết thì mọi hành vi xâm phạm đến xác chết đó (mà người đó biết là đã chết) không phải là hành vi giết người, nhưng giết một người sắp chết vẫn là giết người Giết một đứa trẻ mới ra đời cũng là giết người, nhưng phá thai, dù cái thai

đó ở tháng thứ mấy cũng không gọi là giết người mà chỉ được xem là hành vi cố

ý gây thương tích hoặc là tình tiết tăng nặng trong trường hợp giết người là phụ

nữ mà biết người đó đang mang thai.13

2.1.2 Mặt khách quan của tội giết người

Hành vi khách quan của tội giết người là hành vi cố ý tước đoạt sinh mạng của người khác một cách trái pháp luật

Hành vi tước đoạt tính mạng được hiểu là hành vi có khả năng gây ra cái chết cho con người, chấm dứt sự sống của họ Như vậy, những hành vi không có khả năng này không thể coi là hành vi khách quan của tội giết người Hành vi có khả năng gây ra cái chết cho con người có thể là hành động hoặc không hành động

13

Đinh Văn Quế, Bình luận khoa học Bộ luật hình sự, Tập II - Các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe,

Ngày đăng: 05/04/2018, 22:41

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm