Thực trạng hệ thống pháp luật về khám chữa bệnh của nước ta hiện nay Pháp luật về khám bệnh, chữa bệnh một bộ phận cấu thành của Luật Bảo vệ sứckhỏe nhân dân – đạo luật đầu tiên về công
Trang 1BỘ MÔN LUẬT HÀNH CHÍNH
Luận văn tốt nghiệp cử nhân luật
Khóa 32 (2006 – 2010)
Đề Tài:
QUYỀN ĐƯỢC CHĂM SÓC SỨC KHỎE CỦA CÔNG
DÂN THEO QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT HIỆN NAY
Giáo viên hướng dẫn:
Trần Thụy Quốc Thái
Bộ môn: Luật hành chính
Sinh viên thực hiện:
Huỳnh Thanh Tâm
MSSV: 5062355Lớp: Luật hành chính K32
Cần Thơ – 4/2010
Trang 2BỘ MÔN LUẬT HÀNH CHÍNH
Luận văn tốt nghiệp cử nhân luật
Khóa 32 (2006 – 2010)
Đề Tài:
QUYỀN ĐƯỢC CHĂM SÓC SỨC KHỎE CỦA CÔNG
DÂN THEO QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT HIỆN NAY
Giáo viên hướng dẫn:
Trần Thụy Quốc Thái
Bộ môn: Luật hành chính
Sinh viên thực hiện:
Huỳnh Thanh Tâm
MSSV: 5062355Lớp: Luật hành chính K32
Cần Thơ – 4/2010
Trang 3
Trang 4
LỜI NÓI ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 3
CƠ SỞ LÝ LUẬN, PHÁP LÝ VỀ CHĂM SÓC SỨC KHỎE CỦA CÔNG DÂN 3
1.1.Khái quát về chăm sóc sức khỏe của công dân 3
1.1.1 Một số cơ sở lý luận về phát triển y tế với việc chăm sóc sức khoẻ của công dân 3 1.1.2 Vai trò của việc chăm sóc sức khỏe của công dân 5
1.2 Quan điểm của Đảng và Nhà nước về chăm sóc sức khỏe của công dân 6
1.3 Qui định của pháp luật về quyền được chăm sóc sức khỏe của công dân 7
CHƯƠNG 2 10
THỰC TRẠNG ĐẢM BẢO THỰC HIỆN QUYỀN ĐƯỢC CHĂM SÓC SỨC KHỎE CỦA CÔNG DÂN THEO QUI ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT HIỆN NAY 10
2.1 Thực trạng hệ thống pháp luật về khám chữa bệnh của nước ta hiện nay 10
2.1.1 Hệ thống các văn bản qui phạm pháp luật về khám chữa bệnh được ban hành từ năm 1989 đến nay 10
2.1.1.1 Theo nội dung 10
2.1.1.2 Theo hình thức văn bản 12
2.1.1.3 Theo thẩm quyền ban hành 13
2.1.1.4 Theo thời điểm ban hành 14
2.1.2 Một số nhận xét đánh giá về hệ thống văn bản qui phạm pháp luật về khám chữa bệnh hiện nay 15
2.1.2.1 Ưu điểm 15
2.1.2.2 Bất cập 16
2.2 Thực trạng thực hiện công tác khám bệnh, chữa bệnh hiện nay 20
2.2.1 Hệ thống bệnh viện Việt Nam 21
2.2.2 Cơ sở hạ tầng và trang thiết bị bệnh viện 23
2.2.3 Hoạt động chuyên môn 27
2.2.3.1 Sử dụng dịch vụ bệnh viện 27
2.2.3.2 Công suất sử dụng bệnh viện 27
2.2.3.3 Chất lượng chăm sóc sức khỏe 27
2.2.3.4 Nhân lực bệnh viện 28
2.4.4 Tài chính bệnh viện 29
2.4.5 Hệ thống chuyển tuyến 33
2.4.6 Quản lí bệnh viện 33
Trang 5MỘT SỐ GIẢI PHÁP GÓP PHẦN NÂNG CAO HIỆU QUẢ ĐẢM BẢO THỰC HIỆN
QUYỀN ĐƯỢC CHĂM SÓC SỨC KHỎE CỦA CÔNG DÂN 35
3.1 Một số giải pháp nhằm hoàn thiện hệ thống pháp luật, tăng cường hiệu quả truyền thông giáo dục pháp luật về khám bệnh, chữa bệnh trong thực tiễn 35
3.1.1 Hoàn thiện văn bản qui phạm pháp luật khám chữa bệnh 35
3.1.2 Tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật về khám chữa bệnh 36
3.1.3 Sự tuân thủ, thi hành, áp dụng pháp luật khám chữa bệnh của các cơ sở y tế và người bệnh 37
3.2 Các giải pháp đảm bảo thực hiện công tác khám chữa bệnh 39
3.2.1 Giải pháp mang tính định hướng 39
3.2.2 Giải pháp mang tính cụ thể 40
KẾT LUẬN 46 TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 6LỜI NÓI ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Chăm sóc sức khỏe cho người dân là một chính sách xã hội quan trọng, đượcĐảng và Nhà nước hết sức quan tâm Những năm qua, Nhà nước đã cố gắng tạo cơ chế,các địa phương, đơn vị đã có nhiều giải pháp Tuy nhiên kết quả thực hiện cho thấy vẫncòn nhiều khó khăn, vướng mắc cần được tiếp tục nghiên cứu, hoàn thiện Nhằm đánhgiá thực trạng pháp luật cũng như hoạt động khám chữa bệnh để từ đó nghiên cứu những
đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả bảo đảm thực hiện quyền được chăm sóc sức
khỏe của công dân, nên tác giả đã lựa chọn đề tài “Quyền được chăm sóc sức khỏe của công dân theo qui định pháp luật hiện nay”.
2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
Nghiên cứu các chính sách chăm sóc sức khỏe đối với người dân thời gian quathông qua việc ban hành các văn bản quy phạm pháp luật khám chữa bệnh
Đánh giá thực trạng và hiệu quả của việc thực hiện công tác khám chữa bệnh cũngnhư hệ thống bệnh viện nhằm đảm bảo quyền được chăm sóc sức khỏe của công dân
Nghiên cứu đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả đảm bảo thực hiện quyềnđược chăm sóc sức khỏe của công dân trong thời gian tới
3 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các vấn đề về đảm bảo thực hiện quyền đượcchăm sóc sức khỏe của công dân
4 Phạm vi nghiên cứu của đề tài
Phạm vi nghiên cứu của đề tài là những quy định của pháp luật khám chữa bệnh
và hệ thống bệnh viện Việt Nam nhằm đảm bảo thực hiện quyền được chăm sóc sứckhỏe của công dân
5 Phương pháp nghiên cứu
Trên cơ sở các yêu cầu đặt ra, đề tài sử dụng các phương pháp tổng hợp, phân tích
và kế thừa các nghiên cứu trước đây về các vấn đề có liên quan
6 Kết cấu của đề tài nghiên cứu
Nội dung nghiên cứu của đề tài, ngoài phần mở đầu và kết luận, gồm có 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận, pháp lý về chăm sóc sức khỏe của công dân.
Chương 2: Thực trạng đảm bảo thực hiện quyền được chăm sóc sức khỏe của công dân theo qui định pháp luật hiện nay.
Chương 3: Một số giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả đảm bảo thực hiện quyền được chăm sóc sức khỏe của công dân.
Trang 7Kết luận:
Tuy nhiên đây là một vấn đề phức tạp, với lượng kiến thức có hạn bài viết khôngthể tránh khỏi những sai sót, rất mong được sự góp ý của quý thầy cô và các bạn để bàiviết được hoàn thiện hơn
Cuối cùng tôi xin chân thành cảm ơn cô Trần Thụy Quốc Thái, quý thầy cô trongkhoa luật, gia đình và bạn bè đã hướng dẫn, giúp đỡ, hỗ trợ để tạo điều kiện tốt nhất cho
tôi hoàn thành luận văn: “Quyền được chăm sóc sức khỏe của công dân theo qui định
pháp luật hiện nay”.
Trang 8và tài lực đã được huy động tối đa cho việc đánh bại hai đế quốc hùng mạnh của thế giới,tạo dựng và vun đắp thêm niềm tự hào về sức mạnh tinh thần của con người Việt Nam.
Ngày nay, trong công cuộc xây dựng đất nước nước vì mục tiêu: dân giàu, nước
mạnh, xã hội công bằng, dân chủ và văn minh, đặc biệt trong xu thế hội nhập với thế
giới như hiện nay thì “tài nguyên” con người Việt Nam cần được phát huy hơn nữa trêntất cả các phương diện trí tuệ, phẩm chất chính trị, đủ sức khoẻ nhằm tiến tới thực hiệnthành công các mục tiêu kinh tế – xã hội Song song với việc sử dụng nguồn nhân lực,việc tăng cường bồi dưỡng và chăm sóc sức khoẻ cho nhân dân là một việc làm có ýnghĩa quyết định Vì vậy, đảm bảo sức khoẻ cho người dân không chỉ là mục tiêu của tổchức y thế thế giới, mà còn là mục tiêu tổng quát, mục tiêu chiến lược của từng quốc gia
và là thước đo của một xã hội văn minh
Các vấn đề về ô nhiễm môi trường, lao động quá cường độ,… đang là những vấn
đề thời sự nổi bật và có ảnh hưởng rất lớn đến sức khoẻ của nhân dân Vậy vấn đề đặt racần có giải pháp gì cho việc chăm sóc sức khoẻ nhân dân được tốt hơn? Đây là một trongnhững vấn đề lớn đòi hỏi phải có sự phối kết hợp đồng bộ giữa các cơ quan chức năngnhằm đảm bảo các mục tiêu phát triển xã hội mà Đảng và Nhà nước đề ra
1.1.1 Một số cơ sở lý luận về phát triển y tế với việc chăm sóc sức khoẻ của công dân
Như đã nói trên, sức khoẻ là vốn quý, đồng thời là một trong những điều kiện cơbản để đảm bảo hạnh phúc cho mỗi con người, mỗi gia đình và toàn xã hội Do vậy, loàingười dù ở thời đại nào, xã hội nào cũng rất quan tâm đến vấn đề sức khoẻ
Nhận thức được vấn đề này, tổ chức y tế thế giới (WHO) đã xác định: “Sức khoẻ
con người là trạng thái thoải mái về thể chất, tinh thần và xã hội của người đó” Theo
định nghĩa này, sức khỏe không chỉ được hiểu trong một giới hạn hẹp là không bệnh tậttrong cơ thể mà còn là trạng thái thoải mái về tinh thần, lành mạnh trong đời sống xã hội.Nói một cách khác, sức khoẻ cộng đồng là biểu hiện tổng hợp bởi các yếu tố tự nhiên(bẩm sinh, di truyền) và điều kiện sống ở mỗi quốc gia (về lao động, mức sống, vệ sinhmôi trường, văn hoá, giáo dục, y tế…) Theo đó, các quốc gia đều cho rằng sức khoẻ
Trang 9cộng đồng là một trong những yếu tố hàng đầu phản ánh trình độ phát triển kinh tế – xãhội của đất nước và phản ánh rõ về chất lượng đời sống của cư dân.
Sức khoẻ cộng đồng vừa là điều kiện, nhưng cũng là mục tiêu của sự phát triển.Đảm bảo sức khoẻ cho cộng đồng là một trong những phương pháp hữu hiệu để nâng caochất lượng nguồn nhân lực cho sự phát triển xã hội hiện tại cũng như trong tương lai.Mặt khác, đối với một xã hội hiện đại, sức khoẻ lại là một tiêu chí quan trọng để phảnánh mức độ bảo đảm quyền con người, tính nhân văn và sự công bằng xã hội của mỗiquốc gia Vì vậy, có thể nói rằng chăm sóc sức khoẻ cộng đồng là trách nhiệm của mọingười và toàn xã hội Trong tất cả các ngành có liên quan thì y tế phải là ngành đóng vaitrò chủ đạo
Theo cách định nghĩa của tổ chức y tế thế giới (WHO): “Y tế là hệ thống tổ chức
thực hiện các biện pháp dự phòng, chữa bệnh, tư vấn chăm sóc, bảo vệ sức khoẻ cho người dân” Với cách định nghĩa này, y tế hoàn toàn không chỉ là ngành chuyên đảm
nhiệm việc chữa trị các loại bệnh tật mà còn góp phần phòng chống các loại bệnh, nhất làcác bệnh truyền nhiễm mà con người đang phải đối mặt như: sốt suất huyết, viêm gan B,viêm não Nhật Bản ở trẻ em hay các bệnh truyền nhiễm từ động vật sang người…
Để bảo đảm mức độ y tế, bảo vệ và chăm sóc sức khoẻ cho nhân dân người tathường dùng các chỉ báo như: số cán bộ ngành y trên một vạn dân; số giường bệnh trênmột vạn dân; mật độ bệnh viện, phòng khám, trạm y tế (tính theo km2) Tuy nhiên, sựphát triển hệ thống chỉ báo trên lại chịu sự chi phối bởi nhiều yếu tố về trình độ phát triểnkinh tế - xã hội, đặc biệt là mức tăng trưởng kinh tế, mức sống, trình độ giáo dục, vănhoá, xã hội… Ngoài ra, các chính sách về y tế và chăm sóc sức khoẻ nhân dân của Nhànước cũng là một trong những yếu tố hết sức quan trọng
Đối với hệ thống mạng lưới y tế ở nước ta trong nhiều thập kỷ qua đã có nhữngđóng góp xứng đáng vào sự nghiệp giải phóng dân tộc, bảo vệ, xây dựng và phát triển đấtnước Những thành tựu mà hệ thống này đạt được trên lĩnh vực chăm sóc, bảo vệ sứckhoẻ nhân dân là rất đáng ghi nhận
Năm 1989, Luật Bảo vệ sức khỏe nhân dân ra đời, đến năm 1993 Nghị quyết hội
nghị lần thứ 4 Ban chấp hành Trung ương Đảng (khoá VII) tiếp tục định hướng sự pháttriển sự nghiệp y tế trong thời kỳ đổi mới Các nguyên tắc chỉ đạo công tác bảo vệ, chămsóc sức khoẻ cho nhân dân được đề ra là khá sâu sắc và toàn diện như: tăng cường giáodục vệ sinh phòng dịch, nâng cao sức khoẻ nhân dân; chú ý xây dựng nền y học dân tộc;tăng cường đầu tư phát triển hệ thống y tế từ ngân sách nhà nước và từ đóng góp củacộng đồng thông qua việc thu viện phí một cách hợp lý và khuyến khích phát triển hìnhthức bảo hiểm y tế; mở rộng hệ thống y tế công lập và ngoài công lập…
Trang 10Mặc dù, những chính sách trên đã thu được những thành quả nhất định, song sovới nhu cầu hiện nay sự nghiệp phát triển y tế cũng đang đứng trước hàng loạt những khókhăn thử thách Trước hết là sự phát triển kinh tế – xã hội trong thời gian qua đã kéo theo
sự ô nhiễm, suy thoái về môi trường sống làm cho bệnh tật đang có chiều hướng gia tăng,nhất là các bệnh về hô hấp, tiêu hoá Bên cạnh đó, sự phân tầng xã hội ngày càng thểhiện rõ nét, trong đó sự phân hoá giàu nghèo là một thí dụ điển hình Có thể nói, đây lànhững khó khăn trong việc đảm bảo sự công bằng trong lĩnh vực khám bệnh, chữa bệnh
và chăm sóc sức khoẻ cho nhân dân
Qua một số khó khăn nói trên, có thể thấy việc bảo đảm công bằng xã hội trongđiều kiện nền kinh tế thị trường là một thách thức lớn đối với ngành y tế nước ta Theoquan điểm của Đảng ta là mọi người dân đều được bình đẳng về phương diện bảo vệ vàchăm sóc sức khoẻ Trong khi đó, khả năng bao cấp của nhà nước lại không đủ đáp ứngnhu cầu khám, chữa bệnh cho người dân, đây là bất cập trong việc đề ra chủ trương,chính sách và thực thi chính sách trong lĩnh vực y tế Vì vậy, việc “xã hội hoá” hoạt động
y tế là việc làm cần thiết hiện nay
Tóm lại, trong quá trình đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hoá và hiện đại hoá,việc bảo đảm công bằng xã hội trong lĩnh vực chăm sóc sức khoẻ cho cộng đồng là mộthình thức đầu tư có tính chiến lược cho sự phát triển nguồn nhân lực lâu dài của đất nước
và từng địa phương Dựa trên cơ sở lý luận “Con người vừa là mục tiêu vừa là động lực
thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội”, ngành y tế phải ngày càng đóng vai trò chủ đạo
trong việc bảo vệ và chăm sóc sức khoẻ cho nhân dân, nhằm thực hiện mục tiêu tăngtrưởng kinh tế kết hợp với các hoạt động an sinh xã hội
1.1.2 Vai trò của việc chăm sóc sức khỏe của công dân
Chính sách chăm sóc và bảo vệ sức khỏe nhân dân nói chung và khám chữa bệnhnói riêng là một nhiệm vụ hết sức nặng nề và quan trọng, gắn liền với nhiệm vụ pháttriển kinh tế - xã hội của đất nước Mặt khác, đó vừa là một trong những điều kiện đểgiúp cho quá trình tăng trưởng kinh tế ngày càng ổn định, bền vững và phát triển, ngượclại, khi tăng trưởng kinh tế càng phải quan tâm đầu tư hơn cho chăm sóc và bảo vệ sứckhỏe nói chung, trong đó có các chính sách khám chữa bệnh nói riêng Trong nhiều nămqua, Đảng và Nhà nước cũng như chính quyền nhân dân các cấp đã quan tâm, chỉ đạo vàđầu tư kinh phí cũng như ban hành nhiều chính sách và chế độ cho ngành y tế để thựchiện thành công sự nghiệp chăm sóc và bảo vệ sức khỏe nhân dân Tuy nhiên trongnhững chính sách về chăm sóc và bảo vệ sức khỏe nhân dân nói chung và chính sách vềkhám chữa bệnh nói riêng vẫn còn nhiều bất cập, cần phải được nghiên cứu để khắc phụcđược những tồn tại cũng như phát huy được những ưu điểm, những mặt được của chínhsách từ đó huy động được lực lượng đông đảo nhân dân tham gia vào sự nghiệp chăm sóc
Trang 11và bảo vệ sức khỏe nhân dân như việc kết hợp quân dân y, đông tây y kết hợp, hành nghề
y, dược tư nhân để sự nghiệp chăm sóc và bảo vệ sức khỏe nhân dân thực sự là sựnghiệp của toàn đảng, toàn quân và toàn dân chứ không chỉ đơn thuần là sự nghiệp riêngcủa ngành y tế
Trước thực trạng đó, để chính sách chăm sóc và bảo vệ sức khỏe nhân dân nóichung, khám chữa bệnh nói riêng phát huy hiệu quả cần phải có sự giám sát của Quốchội mà cụ thể là Ủy ban thường vụ Quốc hội Đây là một hoạt động thể hiện vai trò tíchcực của Quốc hội trong việc thực hiện quyền giám sát của mình như hoạt động về giámsát xây dựng cơ bản hay về giáo dục trong năm qua, theo đó khi Ủy ban thường vụ Quốchội được Quốc hội giao cho nhiệm vụ giám sát chính sách khám chữa bệnh này sẽ đặt ranhững cơ hội và cả thách thức lớn cho ngành y tế: ngành y tế sẽ có cơ hội để được giãibày trước Quốc hội, trước nhân dân về toàn bộ những khó khăn, thuận lợi, những thànhtựu của mình Qua đó, ngành y tế nhìn nhận lại, đánh giá lại những tồn tại, bất cập củangành y tế trong sự nghiệp xây dựng và phát triển hay nói cách khác đây sẽ là cơ hội đểnhân dân và các cấp lãnh đạo Đảng và Nhà nước hiểu được những khó khăn của công tácchăm sóc và bảo vệ sức khỏe nhân dân, từ đó tạo sự ủng hộ tích cực và tìm ra đượcnhững chính sách mới phù hợp cho ngành y tế khắc phục được những tồn tại, bất cập,trên cơ sở đó tạo điều kiện cho sự nghiệp chăm sóc và bảo vệ sức khỏe nhân dân ngàycàng phát triển hơn, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của xã hội
Thời gian tới, dưới sự quan tâm của Đảng và Nhà nước, ngành y tế sẽ có đượcnhững giải pháp hữu hiệu nhất để khắc phục những hạn chế và bất cập đang tồn tại trongthời gian qua cũng như có được những chính sách mới, đồng bộ và phù hợp để thực hiệntốt hơn và thực hiện thành công sự nghiệp chăm sóc và bảo vệ sức khỏe nhân dân trongđiều kiện phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa hiện nay
Tuy nhiên, song hành với cơ hội là những thách thức lớn khi ngành y tế sẽ phảiphơi bày toàn bộ những hạn chế và bất cập đang tồn tại trong thời gian qua, và làm thếnào để khắc phục được những tồn tại cũng như những bất cập đó như những vấn đề đangnổi cộm hiện nay: Giá thuốc, viện phí, bảo hiểm y tế, định biên hay kinh tế trong y tế bởi tìm ra được vấn đề tồn tại đã khó nhưng tìm ra được giải pháp khắc phục càng khókhăn hơn, nhất là trong giai đoạn phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủnghĩa hiện nay
1.2 Quan điểm của Đảng và Nhà nước về chăm sóc sức khỏe của công dân
Đánh giá đúng đắn vai trò quan trọng của sức khoẻ con người trong quá trình đổimới, đưa đất nước tiến lên công nghiệp hoá và hiện đại hoá, Đảng và Nhà nước ta đã đề
ra mục tiêu tổng quát để phát triển sự nghiệp bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khoẻ
nhân dân là “Giảm tỷ lệ mắc bệnh, tật và tử vong, nâng cao sức khoẻ, tăng tuổi thọ, cải
Trang 12thiện chất lượng giống nòi, góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống, chất lượng nguồn nhân lực, hình thành hệ thống chăm sóc sức khỏe đồng bộ từ Trung ương đến cơ sở và thói quen giữ gìn sức khỏe của nhân dân, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hoá, hiện đại hoá, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc” 1
Để đạt được mục tiêu trên đòi hỏi phải thực hiện nhất quán một trong những quan
điểm cơ bản là “Đổi mới và hoàn thiện hệ thống y tế theo hướng công bằng, hiệu quả và
phát triển, nhằm tạo cơ hội thuận lợi cho mọi người dân được bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khoẻ với chất lượng ngày càng cao, phù hợp với sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước”2 Đồng thời, Nghị quyết 46 - NQ/TW cũng chỉ ra giải pháp thực hiện là
“Đẩy mạnh cải cách hành chính, hoàn thiện hệ thống pháp luật về y tế phù hợp với tình hình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, với các Điều ước quốc tế mà Việt Nam đã
ký kết hoặc tham gia Nghiên cứu và bổ sung luật pháp để bảo vệ sinh mạng, sức khoẻ, nhân phẩm của người bệnh và của cán bộ y tế trong lúc làm nhiệm vụ; thực hiện bảo hiểm rủi ro nghề nghiệp đối với cán bộ y tế…” Thêm vào đó, “Sớm trình Quốc hội, ủy ban thường vụ Quốc hội ban hành luật, pháp lệnh, nghị quyết để hoàn thiện hệ thống pháp luật phục vụ xây dựng nền y tế hướng đến chăm sóc sức khỏe toàn dân, toàn diện trên cơ sở kết hợp y tế công và y tế tư, trong đó y tế công giữ vai trò nòng cốt” 3
Như vậy, quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về chăm sóc sức khỏe nhân dânđều khẳng định nhất quán mục tiêu từng bước nâng cao chất lượng công tác khám bệnh,chữa bệnh và hoàn thiện pháp luật, phát triển hệ thống y tế nhằm đáp ứng ngày một tốthơn nhu cầu chăm sóc và bảo vệ sức khỏe của nhân dân
1.3 Qui định của pháp luật về quyền được chăm sóc sức khỏe của công dân
Xuất phát từ quan điểm đặt con người vào vị trí trung tâm - vừa là mục tiêu vừa làđộng lực của mọi quá trình phát triển kinh tế, xã hội; trong mọi thời kỳ, Đảng và Nhànước ta luôn đặc biệt chú trọng đến sự nghiệp bảo vệ và chăm sóc sức khoẻ nhân dân.Điều 61 Hiến pháp 1980 của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã quy định rõ
“Công dân có quyền được bảo vệ sức khoẻ…” Đến Hiến pháp 1992 (đã sửa đổi bổ sung
năm 2001) Điều 61 của Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam cũng có
quy định rõ “Công dân có quyền được hưởng chế độ bảo vệ sức khoẻ…”.
Thực hiện các quy định trong hiến pháp, ngày 30 tháng 6 năm 1989, Quốc hội đãthông qua Luật Bảo vệ sức khoẻ nhân dân và được Chủ tịch Hội đồng Nhà nước (nay là
Nghị quyết 18/2008/QH12 của Quốc hội ngày 03/6/2008 về đẩy mạnh thực hiện chính sách, pháp luật xã hội hóa
để nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe nhân dân.
Trang 13Chủ tịch nước) ký lệnh công bố ngày 11/7/1989 Đây là đạo luật đầu tiên về công tác y tếcủa nước ta, tạo cơ sở pháp lý hết sức quan trọng cho mọi hoạt động của ngành y tế nóiriêng và của toàn xã hội nói chung trong sự nghiệp chăm sóc, bảo vệ và nâng cao sứckhoẻ nhân dân.
Trong bối cảnh phát triển và hội nhập quốc tế hiện nay, sau một thời gian khá dài
từ khi Luật Bảo vệ sức khỏe nhân dân được ban hành trước những đòi hỏi của thực tiễnphát triển kinh tế - xã hội hệ thống pháp luật về y tế ở nước ta đã không ngừng đượchoàn thiện Đa số các nội dung cơ bản của Luật đã hết hiệu lực bởi được thay thế bằngcác Luật, pháp lệnh mới chuyên sâu về từng vấn đề, cụ thể như:
Nội dung quy định về vệ sinh trong sinh hoạt và lao động, vệ sinh công cộng, vệ sinh thực phẩm, phòng và chống dịch bệnh:
Các nội dung này đã được quy định tại Luật Bảo vệ môi trường ngày 29/11/2005,
Bộ Luật Lao động ngày 23/6/1994 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2002 và năm 2006,năm 2007), Pháp lệnh Vệ sinh an toàn thực phẩm ngày 26/7/2003 (sắp tới sẽ được nânglên thành Luật An toàn thực phẩm), Pháp lệnh Bảo vệ kiểm dịch thực vật ngày25/7/2001, Pháp lệnh thú y ngày 29/4/2004, Luật Phòng, chống nhiễm vi rút gây ra Hộichứng suy giảm miễn dịch mắc phải ở người (HIV/AIDS) ngày 29/6/2006, Pháp lệnh vềtình trạng khẩn cấp, Luật Hàng hải, Luật Giao thông đường bộ, Luật Hàng không, LuậtĐường thủy nội địa, Luật Đường sắt Việt Nam, Luật Xây dựng… và Luật Phòng, chốngbệnh truyền nhiễm
Nội dung quy định về thuốc phòng bệnh, chữa bệnh:
Toàn bộ nội dung về thuốc phòng bệnh, chữa bệnh đã được tách ra quy định tạiLuật Dược ngày 14/6/2005
Nội dung quy định về y học, dược học cổ truyền dân tộc:
Một số nội dung về y, dược học cổ truyền đã được các luật, pháp lệnh khác điềuchỉnh như Luật Dược ngày 14/6/2005, trong đó có quy định về thuốc đông y, Pháp lệnhHành nghề y, dược tư nhân ngày 25/02/2003 quy định về hành nghề y, dược học cổtruyền
Nội dung quy định về bảo vệ sức khỏe người cao tuổi, thương binh, bệnh binh, người tàn tật và đồng bào các dân tộc thiểu số:
Toàn bộ các nội dung này đã được các luật, pháp lệnh khác điều chỉnh như nộidung về bảo vệ sức khỏe người cao tuổi đã được quy định tại Pháp lệnh Người cao tuổingày 28/4/2000 và được nâng lên thành Luật Người cao tuổi sẽ có hiệu lực ngày 01 tháng
7 năm 2010 ; về bảo vệ sức khỏe thương binh, bệnh binh đã được quy định tại Pháp lệnh
ưu đãi người hoạt động cách mạng, liệt sỹ và gia đình liệt sỹ, thương binh, bệnh binh,người hoạt động kháng chiến, người có công giúp đỡ cách mạng ngày 10/9/2004; về bảo
Trang 14vệ sức khỏe người tàn tật đã được quy định tại Pháp lệnh người tàn tật ngày 30/7/1998,
về bảo vệ sức khỏe đồng bào các dân tộc thiểu số được quy định tại Pháp lệnh Dân sốngày 22/01/2003
Nội dung quy định về thực hiện kế hoạch hóa gia đình và bảo vệ sức khỏe phụ nữ, trẻ em:
Toàn bộ nội dung này đã được các luật, pháp lệnh khác điều chỉnh như nội dung
về kế hoạch hóa gia đình đã được quy định trong Pháp lệnh Dân số ngày 22/01/2003, vềbảo vệ sức khỏe trẻ em đã được quy định trong Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ emngày 15/6/2004, về bảo vệ sức khỏe phụ nữ được quy định trong Luật Bình đẳng giớingày 29/11/2006
Nội dung quy định về thể dục thể thao:
Nội dung về thể dục thể thao đã được Pháp lệnh Thể dục thể thao ngày 25/9/2000quy định (đã hết hiệu lực) và Quốc hội đã thông qua Luật Thể dục thể thao ngày 29 tháng
11 năm 2006 trên cơ sở kế thừa, phát triển của Pháp lệnh Thể dục thể thao
Nội dung quy định về khám bệnh và chữa bệnh:
Một số nội dung về khám bệnh, chữa bệnh đã được quy định tại các luật, pháplệnh chuyên sâu đã ban hành như: Pháp lệnh Hành nghề y, dược tư nhân ngày25/02/2003 quy định về hành nghề y tư nhân, Luật Hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thểngười và hiến, lấy xác ngày 29/11/2006 Hiện vẫn còn nhiều nội dung về khám chữabệnh chưa được quy định chi tiết trong các văn bản quy phạm pháp luật
Thực trạng trên cho thấy, Luật Bảo vệ sức khỏe nhân dân được xây dựng và banhành trong thời kỳ bao cấp đã quy định một cách tổng thể các nội dung về bảo vệ sứckhỏe nhân dân trong thời kỳ đó Luật đã góp phần quan trọng, tạo hành lang pháp lý để
sự nghiệp bảo vệ và chăm sóc sức khỏe nhân dân ở nước ta đạt được nhiều thành tựu
đáng ghi nhận Tuy nhiên, đến nay có 6/7 nội dung của Luật đã hết hiệu lực bởi đã được
thay thế bằng các luật, pháp lệnh chuyên sâu hơn song vẫn còn nhiều những vấn đề mới
phát sinh nhất là trong lĩnh vực khám chữa bệnh cần phải được tiếp tục điều chỉnh bằngcác văn bản quy phạm pháp luật mới mang tính cụ thể, chi tiết hơn song vẫn đảm bảotính thống nhất và đồng bộ với hệ thống pháp luật y tế hiện hành Việc ban hành Luậtriêng về khám bệnh, chữa bệnh vì vậy sẽ là hết sức cần thiết Luật Khám bệnh, chữabệnh được ban hành sẽ góp phần từng bước hoàn thiện hệ thống pháp luật về y tế ở nước
ta, phù hợp với thực tiễn phát triển kinh tế - xã hội của đất nước trong thời kỳ mới - thời
kỳ của hội nhập và phát triển
Trang 15CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG ĐẢM BẢO THỰC HIỆN QUYỀN ĐƯỢC CHĂM SÓC SỨC KHỎE CỦA CÔNG DÂN THEO QUI ĐỊNH PHÁP LUẬT HIỆN NAY
2.1 Thực trạng hệ thống pháp luật về khám chữa bệnh của nước ta hiện nay
Pháp luật về khám bệnh, chữa bệnh một bộ phận cấu thành của Luật Bảo vệ sứckhỏe nhân dân – đạo luật đầu tiên về công tác y tế của nước ta được ban hành năm 1989,trên cơ sở các quy định về khám bệnh, chữa bệnh của đạo luật này, hàng loạt các văn bảnhướng dẫn thi hành đã được ban hành tạo thành một hệ thống pháp luật – hành lang pháp
lý quan trọng để quản lý nhà nước về khám bệnh, chữa bệnh cũng như đảm bảo quyềnđược chăm sóc sức khỏe của công dân thông qua việc đánh giá pháp luật về khám chữabệnh ở nước ta
2.1.1 Hệ thống các văn bản qui phạm pháp luật về khám chữa bệnh được ban hành từ năm 1989 đến nay
Kể từ khi có Luật Bảo vệ sức khỏe nhân dân đến nay đã có 250 văn bản qui phạm
pháp luật về khám chữa bệnh đã được ban hành hiện vẫn còn hiệu lực và 84 văn bản đã hết hiệu lực 4 Số liệu này cho thấy trong những năm qua hành lang pháp lý của lĩnh vựckhám chữa bệnh đã thường xuyên được bổ sung, hoàn thiện nhằm điều chỉnh các quan hệ
xã hội mới phát sinh trong thực tiễn
Có thể phân loại các văn bản qui phạm pháp luật về khám chữa bệnh theo một sốtiêu chí cơ bản như: nội dung, hình thức văn bản, thẩm quyền ban hành và thời điểm banhành…
2.1.1.1 Theo nội dung
Chương IV của Luật Bảo vệ sức khỏe nhân dân (về khám bệnh và chữa bệnh) đãquy định về: quyền và trách nhiệm của người bệnh; trách nhiệm và điều kiện hành nghềcủa thầy thuốc; chuyên môn kỹ thuật trong khám chữa bệnh Trên cơ sở các quy địnhnày của Luật, từ năm 1989 đến nay; Uỷ ban Thường vụ Quốc hội, Chính phủ, Thủ tướngChính phủ và các Bộ, ngành đã ban hành nhiều văn bản hướng dẫn chi tiết đối với các
khía cạnh cụ thể trong khám chữa bệnh như: chuyên môn kỹ thuật có 119 văn bản chiếm 47,6%; tổ chức hệ thống y tế và viện phí, bảo hiểm y tế mỗi nội dung có 26 văn bản chiếm 10,4%; chế độ đãi ngộ dành cho cán bộ y tế có 25 văn bản chiếm 10%; khám chữa bệnh cho các đối tượng đặc biệt có 23 văn bản chiếm 9,2%; quy định chung về khám
4
Báo cáo kết quả nghiên cứu đánh giá 18 năm thực hiện pháp luật về khám bệnh, chữa bệnh tại một số địa phương
(Kể từ khi Luật Bảo vệ sức khỏe nhân dân được ban hành năm 1989 đến năm 2008) do Vụ Pháp chế, Vụ Điều trị, Viện Chiến lược và Chính sách y tế - Bộ Y tế thực hiện.
Trang 16chữa bệnh có 20 văn bản chiếm 8%; hành nghề y tư nhân có 8 văn bản chiếm 3,2% và xử
phạt vi phạm hành chính trong khám chữa bệnh có 3 văn bản chiếm 1,2% 5
Số lượng văn bản qui phạm pháp luật về khám chữa bệnh đã
được ban hành theo nội dung:
Có thể thấy nội dung chuyên môn, kỹ thuật trong khám chữa bệnh đã được đặc
biệt chú trọng trong thời gian qua với việc ban hành nhiều văn bản qui phạm pháp luậtkèm theo các quy định chi tiết về: quy trình kỹ thuật trong khám chữa bệnh, quy định về
y đức, chăm sóc người bệnh, quản lý chất thải, chống nhiễm khuẩn bệnh viện, cung ứngquản lý và sử dụng thuốc chữa bệnh tại cơ sở khám chữa bệnh cũng như ứng dụng côngnghệ thông tin trong quản lý bệnh viện; quy định về tiêu chuẩn trang thiết bị, công trình ytế Điều này cho thấy vai trò cũng như trách nhiệm của Nhà nước nói chung và Bộ Y tếnói riêng trong công tác quản lý hoạt động khám chữa bệnh đó ngày càng được tăng
cường Các văn bản về quản lý hành nghề y tư nhân tuy không nhiều, chỉ chiếm 3,2 %
trong tổng số các văn bản qui phạm pháp luật về khám chữa bệnh song đã điều chỉnhhàng loạt các vấn đề liên quan như: hình thức hành nghề; điều kiện, thủ tục, thẩm quyềncấp chứng chỉ hành nghề; giấy chứng nhận đủ điều kiện hành nghề đồng thời cũng đã đềcập đến điều kiện đối với người nước ngoài hành nghề khám chữa bệnh tại Việt Nam Theo đó, những điều kiện đặt ra đối với người hành nghề khám chữa bệnh thuộc khu vực
tư nhân đã được quy định khá chặt chẽ
Mặc dù các văn bản qui phạm pháp luật về khám chữa bệnh được ban hành từnăm 1989 đến nay ở nước ta đã bao quát tương đối đầy đủ và toàn diện các nội dung củahoạt động khám chữa bệnh song vẫn còn nhiều vấn đề hiện đang bị bỏ ngỏ chưa có các
hướng dẫn cụ thể Chẳng hạn như các quy định về quyền và nghĩa vụ của người bệnh,
trách nhiệm của thầy thuốc mới chỉ được đề cập chung chung, đặc biệt là chưa quy định
cụ thể về quyền của thầy thuốc bên cạnh những trách nhiệm mà họ phải thực hiện đối với
bệnh nhân Việc cấp chứng chỉ hành nghề mới chỉ thực hiện được đối với người đứng
đầu cơ sở khám chữa bệnh trong khu vực tư nhân (quy định trong Pháp lệnh hành nghề y,dược tư nhân năm 2003) mà chưa có quy định cấp chứng chỉ hành nghề cho người hànhnghề thuộc khu vực nhà nước và tư nhân Bên cạnh đó, một số vấn đề mới phát sinhtrong thực tiễn hiện vẫn chưa được điều chỉnh bằng các văn bản qui phạm pháp luật như:
quản lý nhà nước đối với các phương pháp chữa bệnh mới tại Việt Nam, việc thừa nhận chứng chỉ hành nghề giữa các nước; bảo hiểm tai nạn rủi ro nghề nghiệp trong khám
chữa bệnh; công nhận chất lượng đối với từng loại dịch vụ y tế, từng cơ sở khám chữa bệnh; giải quyết khiếu kiện của người bệnh liên quan đến hoạt động khám chữa bệnh…
5
Báo cáo kết quả nghiên cứu đánh giá 18 năm thực hiện pháp luật về khám bệnh, chữa bệnh tại một số địa phương
(Kể từ khi Luật Bảo vệ sức khỏe nhân dân được ban hành năm 1989 đến năm 2008) do Vụ Pháp chế, Vụ Điều trị, Viện Chiến lược và Chính sách y tế - Bộ Y tế thực hiện.
Trang 172.1.1.2 Theo hình thức văn bản
Hệ thống các văn bản qui phạm pháp luật về khám chữa bệnh được ban hành ởnước ta từ năm 1989 đến nay đa dạng về hình thức thể hiện với nhiều loại văn bản cóhiệu lực pháp lý khác nhau như: Luật, Pháp lệnh, Nghị định, Nghị quyết, Quyết định, Chỉthị, Thông tư và Thông tư liên bộ (Thông tư liên tịch)…
Phân loại các văn bản qui phạm pháp luật về khám chữa bệnh theo hình
thức văn bản:
Có thể thấy hầu hết các hình thức văn bản được quy định trong Luật ban hànhvăn bản đều đã được hiện diện trong hệ thống các văn bản qui phạm pháp luật về khámchữa bệnh Điều đó chứng tỏ thấy lĩnh vực khám chữa bệnh hàm chứa những mối quan
hệ hết sức đa dạng và nhạy cảm, được sự quan tâm của của nhiều nhóm xã hội khácnhau Quyết định cấp Bộ là hình thức văn bản qui phạm pháp luật được ban hành với sốlượng nhiều nhất thể hiện tính chất phức tạp của hoạt động khám chữa bệnh đòi hỏi cơquan quản lý Nhà nước trực tiếp phải ban hành nhiều văn bản để phục vụ cho chức năngquản lý nhà nước của mình Thông tư liên lịch (có 42 văn bản) và Chỉ thị cấp Bộ (có 28văn bản) về lĩnh vực khám chữa bệnh cũng là những hình thức văn bản được ban hànhvới số lượng tương đối nhiều trong khoảng thời gian từ năm 1989 đến nay.6 Sự hiện diệncủa các hình thức văn bản này cho thấy hoạt động khám chữa bệnh mặc dù có tínhchuyên ngành cao nhưng cũng vẫn có mối liên hệ mật thiết và chịu sự ảnh hưởng củanhiều nhóm xã hội khác nhau đòi hỏi phải có sự phối hợp chặt chẽ giữa các Bộ, ngànhtrong công tác quản lý Nhà nước nhằm đạt được hiệu quả mong đợi Nghị quyết củaChính phủ về khám chữa bệnh là hình thức văn bản ít được ban hành nhất bởi đây là loạihình văn bản mang tính định hướng của Chính phủ đối với ngành y tế Chỉ thị của Thủtướng Chính phủ về khám chữa bệnh cũng là hình thức văn bản ít xuất hiện thời gian quabởi lẽ những vấn đề mới nảy sinh trong thực tế đã được cơ quan cấp Bộ ban hành các vănbản theo thẩm quyền để điều chỉnh nhằm đáp ứng kịp thời nhu cầu phát sinh trong thựctiễn quản lý Nhà nước về lĩnh vực này
Điều dễ nhận thấy là hiệu lực pháp lý của hệ thống các văn bản qui phạm phápluật về khám chữa bệnh từ năm 1989 đến nay không cao bởi lẽ hầu hết các văn bản đềuđược ban hành với hình thức văn bản dưới luật như: Pháp lệnh; Nghị định; Quyết định,Chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ; Quyết định, Chỉ thị cấp Bộ; Thông tư và Thông tư liêntịch… trong đó phần lớn là do cấp Bộ ban hành nhằm hướng dẫn chuyên môn kỹ thuật.Nguyên nhân của tình trạng này là do các quy định của Luật Bảo vệ sức khỏe nhân dân
về khám bệnh, chữa bệnh chỉ mang tính nguyên tắc do vậy để triển khai thực hiện được
6
Báo cáo kết quả nghiên cứu đánh giá 18 năm thực hiện pháp luật về khám bệnh, chữa bệnh tại một số địa phương
(Kể từ khi Luật Bảo vệ sức khỏe nhân dân được ban hành năm 1989 đến năm 2008) do Vụ Pháp chế, Vụ Điều trị, Viện Chiến lược và Chính sách y tế - Bộ Y tế thực hiện.
Trang 18trong thực tiễn nên đòi hỏi phải có nhiều văn bản hướng dẫn thi hành Để nâng cao hiệulực pháp lý của các quy phạm pháp luật về khám chữa bệnh, cần thiết phải luật hóa cácquy định được đề cập trong một số văn bản dưới luật theo hướng bảo đảm sự bình đẳnggiữa khu vực y tế nhà nước và tư nhân như đang áp dụng đối với lĩnh vực Dược hiện nay.
2.1.1.3 Theo thẩm quyền ban hành
Các văn bản qui phạm pháp luật về khám chữa bệnh từ năm 1989 đến nay đãđược ban hành bởi nhiều cấp có thẩm quyền khác nhau như: Quốc hội, Uỷ ban thường vụQuốc hội, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Liên Bộ và Bộ Có thể phân chia thành cácnhóm thẩm quyền ban hành văn bản qui phạm pháp luật như: Quốc hội, Uỷ ban thường
vụ quốc hội; Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ; Liên tịch (Liên Bộ) và Bộ (bao gồm Bộ
Y tế và các Bộ khác) Với cách phân nhóm này, thẩm quyền ban hành của hệ thống cácvăn bản qui phạm pháp luật về khám chữa bệnh trong thời gian qua ở nước ta được thểhiện cụ thể như sau:
Phân loại các văn bản qui phạm pháp luật về khám chữa bệnh theo thẩm
quyền ban hành:
Trên cơ sở 7 văn bản Luật và dưới Luật do Quốc hội, Uỷ ban thường vụ Quốchội ban hành; Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành 41 văn bản (chiếm 16,4%trong tổng số các văn bản qui phạm pháp luật về khám chữa bệnh) Điều đó chứng tỏNhà nước ta rất quan tâm đến lĩnh vực này coi đây là hoạt động không chỉ giới hạn trongphạm vi trách nhiệm của ngành y tế mà còn là trách nhiệm của toàn xã hội Các văn bản
do Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ban hành chủ yếu là về chế độ đối với cán bộ y tếtrong khám bệnh, chữa bệnh Đây là vấn đề thuộc thẩm quyền của Chính phủ, Thủ tướngChính phủ do luật, pháp lệnh chuyên ngành quy định hoặc theo thẩm quyền quy định củaLuật Tổ chức Chính phủ Các cơ quan cấp Bộ (cấp quản lý nhà nước trực tiếp) cũng đãban hành theo thẩm quyền các văn bản hướng dẫn thực hiện trong lĩnh vực khám chữabệnh với số lượng khá lớn, chiếm tới 64% tổng số văn bản Bộ Y tế với nhiệm vụ là cơquan giúp Chính phủ thực hiện chức năng quản lý nhà nước về công tác y tế nói chung
và công tác khám chữa bệnh nói riêng đã ban hành 107 văn bản về chuyên môn kỹ thuật
y tế (chiếm gần 1/2 số văn bản qui phạm pháp luật về khám chữa bệnh) Sở dĩ như vậy là
do hoạt động khám chữa bệnh mang tính chuyên ngành, chuyên sâu nên đòi hỏi Bộ chủquản phải ban hành nhiều văn bản hướng dẫn chi tiết về chuyên môn, kỹ thuật Ngoài ra,khám chữa bệnh còn là lĩnh vực khá nhạy cảm, thường xuyên phát sinh nhiều vấn đề mớiđòi hỏi phải liên tục sửa đổi, bổ sung các văn bản hướng dẫn về chuyên môn, kỹ thuậtnhằm đáp ứng yêu cầu thực tiễn Sự phối hợp liên ngành trong quản lý nhà nước về khámbệnh, chữa bệnh đã được thực hiện khá chặt chẽ thể hiện qua việc đã ban hành được 42
Trang 19văn bản liên tịch chiếm 16,8% tổng số văn bản qui phạm pháp luật về khám chữa bệnhhiện hành.
2.1.1.4 Theo thời điểm ban hành
Từ năm 1989 đến nay số lượng các văn bản qui phạm pháp luật đã được banhành ngày càng tăng theo thời gian nhất là từ sau năm 1989 đến nay
Phân loại các văn bản qui phạm pháp luật về khám chữa bệnh theo thời điểm ban hành:
Đặc biệt số lượng các văn bản qui phạm pháp luật về khám chữa bệnh được banhành đã tăng đột biến vào năm 2002 với 33 văn bản (chiếm 13,2% tổng số văn bản của
cả thời kỳ) trong đó văn bản về chuyên môn, kỹ thuật chiếm tới 20 văn bản Nguyênnhân của hiện tượng này là do ngày 19/3/2001 Chính phủ ban hành Quyết định35/2001/QĐ-TTg phê duyệt "Chiến lược quốc gia về bảo vệ chăm sóc sức khỏe nhân dângiai đoạn 2001- 2010" với mục tiêu “ mọi người dân được hưởng các dịch vụ chăm sócsức khỏe ban đầu, có điều kiện tiếp cận và sử dụng các dịch vụ y tế có chất lượng; giảm
tỷ lệ mắc bệnh ”.7 Để đạt tới mục tiêu này hàng loạt các văn bản qui phạm pháp luậtđược ban hành nhằm điều chỉnh các hoạt động khám bệnh, chữa bệnh
Từ khi có Luật Bảo vệ sức khỏe nhân dân, y tế tư nhân đã được coi là một bộphận cấu thành của hệ thống y tế và y tế tư nhân cũng đã có những đóng góp đáng ghinhận đối với hoạt động khám chữa bệnh góp phần giảm tải cho các cơ sở y tế Nhà nước.Năm 2003, Pháp lệnh hành nghề y, dược tư nhân được ban hành, tiếp theo đó đến nay đã
có 2 văn bản hướng dẫn thực hiện Pháp lệnh đã được ban hành Ngoài ra còn có 6 vănbản khác tuy không phải là văn bản trực tiếp hướng dẫn thực hiện Pháp lệnh nhưng cũng
đã quy định chi tiết thêm một số vấn đề khác trong hành nghề y tư nhân như: phí thẩmđịnh tiêu chuẩn và điều kiện hành nghề, cấp chứng chỉ hành nghề, chế độ tài chínhkhuyến khích đối với cơ sở y tế ngoài công lập Bên cạnh việc phải tuân thủ các các vănbản quy định trực tiếp về hành nghề y tư nhân nêu trên, khu vực y tế tư nhân còn phảituân thủ nhiều văn bản qui phạm pháp luật về khám bệnh, chữa bệnh khác giống như khu
vực y tế Nhà nước, đặc biệt là các văn bản quy định về chuyên môn, kỹ thuật y tế “Nghị
quyết 46- NQ/TW ngày 23/2/2005 của Bộ Chính trị về công tác bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân trong tình hình mới đã khẳng định y tế tư nhân là một bộ phận cấu thành của hệ thống y tế, được Nhà nước tạo điều kiện thuận lợi và khuyến khích phát triển Điều đó chứng tỏ việc hành nghề y tư nhân ngày càng được chú trọng và đóng vai
7
Quyết định 35/2001/QĐ-TTg, ngày 19 tháng 3 năm 2001 của Thủ tướng phê duyệt Chiến lược quốc gia về bảo vệ
chăm sóc sức khỏe nhân dân giai đoạn 2001 – 2010.
Trang 20trò quan trọng trong công tác bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khoẻ nhân dân nói chung và công tác khám bệnh, chữa bệnh nói riêng” 8
2.1.2 Một số nhận xét đánh giá về hệ thống văn bản qui phạm pháp luật về khám chữa bệnh hiện nay
2.1.2.1 Ưu điểm
Hệ thống các văn bản qui phạm pháp luật về khám chữa bệnh được ban hành từnăm 1989 đến nay đã phát huy được vai trò hết sức quan trọng trong việc điều chỉnh cácmối quan hệ xã hội nhằm tăng cường vai trò quản lý Nhà nước đối với lĩnh vực này Cụthể như sau:
Các văn bản qui phạm pháp luật đã khẳng định quyền và nghĩa vụ của ngườibệnh trong khám chữa bệnh, quyền và nghĩa vụ của thầy thuốc, nhân viên y tế đối vớingười bệnh, tạo cơ sở pháp lý cho thầy thuốc và nhân viên y tế khi hành nghề thực hiệnđúng chức trách, bổn phận của mình trong khám, điều trị cho bệnh nhân
Các văn bản qui phạm pháp luật về hướng dẫn thực hiện công tác quản lý, cungứng dịch vụ khám chữa bệnh đối với hệ thống y tế khu vực công và tư đã từng bước được
cụ thể hóa, sửa đổi và bổ sung, điều chỉnh kịp thời nhiều khía cạnh của lĩnh vực khámchữa bệnh, giải quyết được một số vấn đề cấp bách nảy sinh trong thực tiễn, tạo hànhlang pháp lý thuận lợi và hỗ trợ cho công tác quản lý nhà nước về khám chữa bệnh ở tất
cả các cấp
Các văn bản qui phạm pháp luật về khám chữa bệnh đã bước đầu đáp ứng với xuhướng phát triển của hoạt động cung ứng dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh ngày càng đadạng (nhiều hình thức sở hữu và tăng nhanh về số lượng) tạo cơ chế thuận lợi để pháthuy, tập hợp các nguồn lực trong xã hội cùng tham gia vào khám chữa bệnh, đáp ứng vàthể chế hoá các đường lối, chủ trương của Đảng, Nhà nước về xã hội hoá y tế và đổi mới
cơ chế quản lý về y tế
Các văn bản qui phạm pháp luật về khám chữa bệnh hiện hành đã đáp ứng được
xu hướng đơn giản hoá các thủ tục hành chính, phù hợp với cải cách hành chính nhànước hiện nay, xu hướng quản lý bằng cách cấp phép, cho phép đã từng bước được thaythế bằng cách quy định các điều kiện cụ thể hành nghề, sau đó hậu kiểm, chẳng hạn nhưđối với hành nghề massage, kinh doanh trang thiết bị y tế Bên cạnh đó, một số thủ tụcnhư chế độ nhập viện, ra viện cũng đã được đơn giản hóa tạo điều kiện thuận lợi chongười bệnh trong khám bệnh, chữa bệnh
Các văn bản qui phạm pháp luật quy định về chuyên môn trong khám chữa bệnh
đã bao quát được phần lớn các vấn đề như: cấp cứu, xuất nhập viện, chăm sóc người
8
Nghị quyết số 46-NQ/TW, ngày 23/02/2005 của Bộ Chính trị về công tác bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khoẻ nhân dân trong tình hình mới.
Trang 21bệnh toàn diện, chẩn đoán bệnh, kê đơn thuốc điều trị và làm hồ sơ bệnh án, sử dụngthuốc trong bệnh viện, điều trị ngoại trú, hội chẩn, chống nhiễm khuẩn bệnh viện, xử lýchất thải y tế, phẫu thuật, thủ thuật, bắt buộc chữa bệnh…
Hệ thống các văn bản qui phạm pháp luật về khám chữa bệnh trong thời gianqua về cơ bản đã bảo đảm tính hợp hiến, hợp pháp, tính thống nhất của hệ thống phápluật Việt Nam Hệ thống văn bản này đã thực sự đi vào cuộc sống và đã trở thành công
cụ hữu hiệu trong việc phát huy vai trò quản lý nhà nước về y tế
2.1.2.2 Bất cập
Trước những biến đổi của tình hình phát triển kinh tế xã hội cũng như sự chuyểndịch mô hình bệnh tật, sự bùng phát các dịch bệnh mới trong thực tiễn bên cạnh nhiều ưuđiểm nêu trên; hệ thống các văn bản qui phạm pháp luật về khám chữa bệnh hiện hànhcũng đã bộc lộ nhiều bất cập đòi hỏi phải khẩn trương chỉnh sửa và hoàn thiện
Mặc dù các quy định về quyền và nghĩa vụ của người bệnh, quyền và nghĩa vụcủa thầy thuốc và nhân viên y tế đã được pháp luật đề cập, nhưng các quy định trong luậtcòn chung chung Về quyền lợi của người bệnh đã được quy định cụ thể trong các điều
23 và 27 của Luật Bảo vệ sức khỏe nhân dân song vẫn rất chung chung và sơ sài, mới chỉ
đề cập đến quyền được chọn cơ sở khám chữa bệnh và thầy thuốc mà chưa đề cập đếncác quyền nhân thân của họ như: được tôn trọng bí mật riêng tư, được tôn trọng nhânphẩm, được từ chối khám chữa bệnh, được hưởng các dịch vụ khám chữa bệnh chấtlượng cao Đặc biệt là những quy định về quyền và nghĩa vụ của thầy thuốc mới chỉ đềcập trong điều 25 của Luật Bảo vệ sức khỏe nhân dân theo một chiều về nghĩa vụ đối vớibệnh nhân Ngoài ra còn nhiều nghĩa vụ khác mà người thầy thuốc phải thực hiện như:nghĩa vụ đối với nghề nghiệp, nghĩa vụ đối với xã hội thì chưa được điều chỉnh Bêncạnh những trách nhiệm phải thực hiện trong hành nghề, người thầy thuốc còn cần phảiđược hưởng những quyền lợi chính đáng như quyền được bảo vệ bảo hiểm trước nhữngtai nạn rủi ro nghề nghiệp bởi lẽ nghề y là một nghề đặc biệt rất dễ bị mắc lỗi do sai sót
về kỹ thuật Vấn đề này hiện nay chưa được các văn bản qui phạm pháp luật quy định cụthể
Các văn bản qui phạm pháp luật hiện hành chưa theo kịp sự phát triển đa dạngcủa lĩnh vực cung ứng dịch vụ khám chữa bệnh đặc biệt trong khu vực y tế tư nhân Vớicác quy định về điều kiện hành nghề hiện nay rất khó có thể quản lý và nâng cao trình độchuyên môn đối với người hành nghề Nhìn chung chưa có một hệ thống văn bản quiphạm pháp luật phù hợp để quản lý khu vực y tế tư nhân, cụ thể là quản lý hành nghề y.Tuy đã phân cấp, nhưng Sở Y tế với nguồn lực được phân bổ rất hạn chế khó thực thiđược sứ mệnh quản lý, giám sát và cấp chứng chỉ hành nghề cho các cơ sở y tế tư nhânhiện đang phát triển rất tự phát Trong khi đó vai trò của các tổ chức xã hội nghề Hội
Trang 22nghề nghiệp trong hoạt động quản lý nhà nước còn rất mờ nhạt Do vậy, bên cạnh việcNhà nước vẫn giữ vai trò quản lý, định hướng hoạt động thì cần thiết phải có cơ chế đểhuy động sự tham gia và phát huy tiềm năng to lớn của các tổ chức xã hội, nghề nghiệptrong quản lý lĩnh vực khám chữa bệnh nói chung và y tế tư nhân nói riêng.
Tính khả thi, tính dự báo của một số văn bản còn hạn chế nên chỉ sau một thờigian ngắn có hiệu lực đã nảy sinh những bất cập đòi hỏi phải khẩn trương sửa đổi, bổsung cho phù hợp Ví dụ như Điều 24 của Luật Bảo vệ sức khỏe nhân dân đã quy địnhviệc cấp giấy phép hành nghề của thầy thuốc trong khu vực Nhà nước, tập thể, tư nhân.Tuy nhiên, đến nay quy định này mới chỉ được thực hiện một phần với việc cấp chứngchỉ hành nghề cho người đứng đầu cơ sở y tế tư nhân theo Pháp lệnh Hành nghề y, dược
tư nhân ngày 25/02/2003, chưa thực hiện được trong khu vực y tế Nhà nước gây nên tìnhtrạng thiếu công bằng trong hành nghề giữa khu vực Nhà nước và khu vực tư nhân Bêncạnh đó Điều 29 của Luật Bảo vệ sức khỏe nhân dân cũng đã quy định chữa bệnh bắtbuộc đối với người mắc bệnh tâm thần thể nặng, bệnh lao, phong đang thời kỳ lây truyền,bệnh nghiện ma tuý, bệnh SIDA song đến nay vẫn chưa có các văn bản qui phạm phápluật hướng dẫn cụ thể, các cơ sở khám chữa bệnh không có đủ thuốc, kinh phí xétnghiệm để điều trị cho các nhóm đối tượng này Nguyên nhân của tình trạng này là dokhi xây dựng và ban hành các văn bản qui phạm pháp luật không dựa theo bằng chứng từnghiên cứu, đánh giá tác động của các điều luật này đối với kinh tế - xã hội, cũng như cácđiều kiện bảo đảm thực hiện Luật Do vậy, mặc dù các quy định của Luật đã được banhành nhưng vẫn không thực thi được trong thực tiễn
Hiện nay quản lý chất thải đang là vấn đề nổi cộm của ngành Các bất cập cầntháo gỡ như: quy định phân loại và tiêu hủy rác thải bệnh viện còn nhiều điểm chưa hợp
lý Không phải tất cả rác thải đều độc hại và nguy hiểm Việc tiêu hủy tất cả rác thải tốnkém cho bộ máy vận hành, tốn kém kinh phí và gây ô nhiễm môi trường Trong khi đó,
có rác thải vẫn có thể tận dụng để tái chế Tuy nhiên, hiện vấn đề này mới chỉ được quyđịnh ở văn bản dưới luật nên chưa có đủ hiệu lực pháp lý để thực hiện
Trong bối cảnh khoa học kỹ thuật ngày càng phát triển, nhiều phương pháp điềutrị, kỹ thuật y tế mới đã được áp dụng như: ghép gan, ghép thận, ghép tế bào gốc, phẫuthuật tim hở, nối mạch máu, thụ tinh trong ống nghiệm, nội soi can thiệp Tuy nhiênnước ta hiện vẫn chưa có quy định cụ thể cho việc ứng dụng, chuyển giao công nghệ các
kỹ thuật tiên tiến này
Trong tình hình mới hiện nay, vấn đề kiểm định và nâng cao chất lượng dịch vụkhám chữa bệnh cũng đang là vấn đề rất đáng được chú trọng Tuy nhiên, hiện chưa xâydựng được hệ thống cũng như tiêu chí để kiểm soát và đánh giá chất lượng dịch vụ y tếcủa các cơ sở y tế Bên cạnh đó, việc duy trì, bảo đảm tính ổn định về mặt chất lượng đối
Trang 23với từng dịch vụ cũng như từng cơ sở khám chữa bệnh tạo điều kiện cho người dân cókhả năng lựa chọn dịch vụ có chất lượng là một việc làm hết sức cần thiết rất cần phảiđược quy định trong những văn bản có hiệu lực pháp lý cao.
Trong lĩnh vực khám chữa bệnh hiện đang có tình trạng cùng một vấn đề songlại chịu sự điều chỉnh của nhiều văn bản qui phạm pháp luật dẫn đến việc triển khai thựchiện rất khó khăn, chẳng hạn lĩnh vực hành nghề y tư nhân, ngoài Pháp lệnh Hành nghề
y, dược tư nhân, người hành nghề còn phải thực hiện các luật, pháp lệnh khác như LuậtĐầu tư, Luật Thương mại, Luật Doanh nghiệp
Hệ thống pháp luật về y tế không nằm ngoài hệ thống pháp luật Việt Nam nênđều có hạn chế chung là luật, pháp lệnh phần lớn đều quy định mang tính nguyên tắcmuốn thực hiện được phải có nhiều văn bản qui phạm pháp luật hướng dẫn thi hành làmcho hiệu lực tức thì của luật, pháp lệnh thường rất hạn chế do phải chờ đợi thời gian khádài để ban hành văn bản hướng dẫn chi tiết Ví dụ: Luật Bảo vệ sức khỏe nhân dân banhành năm 1989 nhưng để các quy định về khám chữa bệnh trong Luật có hiệu lực thì liêntiếp nhiều năm sau đó mới xây dựng được các văn bản dưới luật hướng dẫn thực hiện…
Tóm lại, vấn đề quyền và nghĩa vụ của người bệnh cũng như quyền và nghĩa vụ của thầy thuốc tuy đã được pháp luật hiện hành quy định nhưng vẫn còn sơ sài, thiếu chi
tiết cụ thể Đặc biệt là nhiều quyền của người bệnh chưa được quy định như: quyền đượcquyết định những vấn đề về khám bệnh; chữa bệnh liên quan đến bản thân; quyền đượctôn trọng bí mật riêng tư; quyền được tôn trọng nhân phẩm… Về nghĩa vụ của thầythuốc, quy định hiện hành chưa điều chỉnh được nghĩa vụ của thầy thuốc với cácnhóm đối tượng khác nhau như: người bệnh, đồng nghiệp, nghề nghiệp và xã hội Bêncạnh đó, những quyền lợi thiết thực mà người thầy thuốc xứng đáng được hưởng khihành nghề đó là: được bảo vệ trong quá trình hành nghề và được bảo vệ khi xảy ra tạinạn rủi ro nghề nghiệp cũng chưa được quy định trong hệ thống các văn bản qui phạmpháp luật hiện hành
Mặt khác, hệ thống luật pháp hiện hành mới chỉ quy định nghĩa vụ của cơ sở
khám chữa bệnh trong trường hợp cấp cứu người bệnh, còn những trường hợp thôngthường khác của quá trình khám bệnh, chữa bệnh lại chưa được quy định cụ thể như: quytrình khám chữa bệnh, tổ chức thực hiện các quy định về chuyên môn kỹ thuật y tế, bảođảm các điều kiện tối thiểu cho người hành nghề trong cơ sở thực hiện các nhiệm vụtrong phạm vi chuyên môn được phép, chấp hành sự huy động của cơ quan quản lý nhànước có thẩm quyền trong các trường hợp khẩn cấp Song song với các nghĩa vụ, nhữngquyền chính đáng của cơ sở khám chữa bệnh cũng chưa được pháp luật quy định như:được nâng cao năng lực chuyên môn, được từ chối khám chữa bệnh trong trường hợp
Trang 24vượt quá khả năng, được thu phí khám chữa bệnh theo quy định của pháp luật, đượchưởng chế độ ưu đãi khi thực hiện các hoạt động theo quy định của pháp luật.
Trước những bất cập của hệ thống pháp luật khám chữa bệnh như đã phân tích ởtrên, thì việc ban hành một văn bản luật thống nhất nhằm điều chỉnh những vấn đề mớiphát sinh trong thực tế của lĩnh vực khám chữa bệnh là một tất yếu khách quan nhằmđảm bảo nhu cầu khám chữa bệnh nói riêng chăm sóc sức khỏe cho nhân dân nói chung
Do đó, Luật Khám bệnh, chữa bệnh đã được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩaViệt Nam khóa XII, kỳ họp thứ 6 thông qua ngày 23 tháng 11 năm 2009 có hiệu lực ngày
01 tháng 01 năm 2011 Đây sẽ là cơ sở pháp lý quan trọng trong việc điều chỉnh các mốiquan hệ xã hội trong lĩnh vực khám chữa bệnh cụ thể như:
Luật Khám bệnh, chữa bệnh vừa được thông qua quy định theo hướng cấp chứngchỉ hành nghề một lần cho cán bộ y tế Đối với cơ sở khám chữa bệnh cũng sẽ chỉ cấpgiấy phép hoạt động một lần Để đảm bảo chất lượng khám chữa bệnh của cán bộ và cơ
sở y tế sau khi chứng chỉ hoặc giấy phép đã được cấp, công tác thanh tra, kiểm tra của cơquan quản lý nhà nước sẽ được tăng cường
Luật còn bổ sung nhiều quy định cụ thể về y đức của người hành nghề y cũng nhưthái độ, hành xử của người đi khám chữa bệnh Theo đó, các hành vi bị nghiêm cấm gồm
có từ chối hoặc cố ý chậm cấp cứu người bệnh; khám bệnh, chữa bệnh không có chứngchỉ hành nghề hoặc đang trong thời gian bị đình chỉ hành nghề; hành nghề khám bệnh,chữa bệnh, cung cấp dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh vượt quá phạm vi hoạt động chuyênmôn (trừ trường hợp cấp cứu); nghiêm cấm người hành nghề bán thuốc cho người bệnhdưới mọi hình thức, trừ bác sỹ đông y, y sỹ đông y, lương y ; quảng cáo không đúng vớikhả năng, trình độ chuyên môn hoặc quá phạm vi hoạt động chuyên môn được ghi trongchứng chỉ hành nghề, giấy phép hoạt động…
Về quy định cấm cán bộ công chức, viên chức tham gia thành lập, điều hành cơ sở
khám bệnh, chữa bệnh tư nhân, Ủy ban thường vụ Quốc hội cho rằng: “Việc quy định chỉ
cấm cán bộ công chức, viên chức y tế thành lập, tham gia thành lập hoặc tham gia quản
lý, điều hành bệnh viện tư hoặc các cơ sở khám chữa bệnh được thành lập và hoạt động theo Luật doanh nghiệp và Luật hợp tác xã là phù hợp với quy định của Luật phòng, chống tham nhũng và Luật cán bộ, công chức”.
Quy định như vậy, cán bộ, công chức, viên chức y tế được phép thành lập phòngkhám tư và được phép làm việc ngoài giờ tại các cơ sở khám chữa bệnh tư theo hợpđồng, tạo điều kiện để tiếp tục sử dụng trình độ chuyên môn của cán bộ y tế, đáp ứng nhucầu khám chữa bệnh của cộng đồng dân cư, nhất là trong tình trạng sẽ còn một thời giankhá dài nữa mới đáp ứng đủ nhu cầu nhân lực y tế phục vụ cho công tác khám chữa bệnh
Trang 25Một nội dung sửa đổi quan trọng khác cũng đã được thể hiện trong Luật liên quanđến khiếu nại, tố cáo và giải quyết tranh chấp trong khám chữa bệnh Theo đó, việc khiếunại và giải quyết khiếu nại đối với quyết định hành chính, hành vi hành chính về khámbệnh, chữa bệnh; việc tố cáo và giải quyết tố cáo vi phạm pháp luật về khám bệnh, chữabệnh được thực hiện theo quy định của pháp luật về khiếu nại, tố cáo Thời hiệu yêu cầugiải quyết tranh chấp về khám bệnh, chữa bệnh là 05 năm kể từ khi sự việc xảy ra.
Luật khám bệnh, chữa bệnh có hiệu lực sẽ đảm bảo công bằng, bình đẳng và cạnhtranh lành mạnh giữa các cơ sở khám chữa bệnh của Nhà nước và tư nhân Các loại hìnhdịch vụ y tế dù thuộc khu vực Nhà nước hay tư nhân đều hoạt động trong một mặt bằngpháp lý, không có sự phân biệt giữa hai khu vực này Nhằm mục tiêu chung là chăm sócsức khỏe nhân dân
2.2 Thực trạng thực hiện công tác khám bệnh, chữa bệnh hiện nay
Trong những năm qua, công tác bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân,trong đó có lĩnh vực khám bệnh, chữa bệnh đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng Hoạtđộng y tế dự phòng được đẩy mạnh hơn Một số dịch bệnh mới như viêm phổi cấp(SARS), dịch cúm A (H5N1) ở người đã được ngăn chặn, khắc phục nhanh Mạng lưới y
tế, đặc biệt là y tế cơ sở đã được củng cố và phát triển; đã có 97,9 % xã trong cả nước cótrạm y tế, 66,5% trạm y tế có bác sỹ Nhiều cơ sở khám bệnh, chữa bệnh được đầu tư,nâng cấp, nhiều kỹ thuật y học cao được áp dụng và mở rộng đến tuyến tỉnh như hỗ trợsinh sản, ghép thận, gan, phẫu thuật tim hở, phẫu thuật nội soi, chẩn đoán hình ảnh… đápứng nhu cầu khám bệnh, chữa bệnh ngày càng cao của nhân dân.9 Chế độ khám bệnh,chữa bệnh cho người nghèo, khám bệnh, chữa bệnh miễn phí cho trẻ em dưới 6 tuổi đangđược triển khai thực hiện Đến nay, "Tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi bị suy dinh dưỡng giảm từ33,4% năm 2000 xuống 21,2% năm 2007; tỷ lệ chết của trẻ em dưới 1 tuổi còn 16%.Tuổi thọ trung bình của người Việt Nam từ 67,8 tuổi đã nâng lên 72,84 tuổi vào năm2007".10
Bên cạnh các kết quả đạt được trên đây, công tác khám bệnh, chữa bệnh vẫn cònmột số tồn tại sau:
Mô hình bệnh tật ở nước ta được phân loại theo 3 nhóm (nhiễm trùng, không nhiễmtrùng và tai nạn, thương tích) Nhóm bệnh không nhiễm trùng chiếm tỷ trọng mắc bệnhcao nhất là 60,61%, nhóm bệnh nhiễm trùng vẫn còn phổ biến và chiếm tỷ trọng mắc bệnhtrên 27,0%, nhóm bệnh do tai nạn thương tích chiếm tỷ trọng mắc bệnh là 11,95% Tìnhtrạng ngộ độc thực phẩm còn cao, tình trạng ô nhiễm môi trường ngày càng trầm trọng,đặc biệt là ô nhiễm do sử dụng hóa chất; tình hình sức khỏe công nhân và bệnh nghề
Trang 26nghiệp, tai nạn lao động vẫn còn cao11nên đòi hỏi việc cung cấp các dịch vụ khám chữabệnh thuận lợi, đa dạng và hiệu quả phải hết sức kịp thời Song song đó thì đòi hỏi hệthống y tế phải không ngừng phát triển, hoàn thiện.
2.2.1 Hệ thống bệnh viện Việt Nam
Sự phát triển hệ thống bệnh viện gắn liền với quá trình phát triển của hệ thống y
tế, bệnh viện giữ vai trò quan trọng trong việc chăm sóc sức khoẻ nhân dân
Hệ thống bệnh viện Việt Nam gồm chủ yếu là các bệnh viện công (chiếm 93,3%).Các bệnh viện tư bao gồm cả bệnh viện bán công và bệnh viện có vốn đầu tư nước ngoàimới chỉ chiếm 3,7% bệnh viện và 2,2% giường bệnh trong cả nước Ngoài ra còn có 22bệnh viện đã được cấp phép đang tiến hành xây dựng Số lượng các cơ sở y tế ngoài cônglập nhiều nhưng quy mô còn nhỏ Tỷ lệ bệnh viện tư và giường bệnh tư của Việt Nam làrất thấp so với các nước trong khu vực như Thái Lan (30% và 22,5%), Indonesia (42% và32%), Malaysia (62,4% và 164,4%), Philippin (67% và 50%).12
Song song với bệnh viện thuộc Bộ Y tế, còn có bệnh viện do các bộ, ngành khácquản lý như Quân đội, Công an, Bưu điện, Giao thông, Gang thép, May mặc Các bệnhviện này thường là bệnh viện đa khoa và điều dưỡng phục hồi chức năng, chủ yếu phục
vụ cho cán bộ công nhân viên của bộ, ngành đó Quy mô của bệnh viện thường ở mứctrung bình và nhỏ
Hiện nay, tính trên cả nước, trong khu vực Nhà nước có 13.460 cơ sở khám bệnh,chữa bệnh, trong đó có 974 bệnh viện công với gần 219.008 giường bệnh,13được đầu tưnhiều trang thiết bị hiện đại nhưng so với nhu cầu cung cấp dịch vụ y tế thì hầu hết cơ sởvật chất, nhà cửa, điện nước, thiết bị thông dụng của các bệnh viện vẫn chưa đạt tiêuchuẩn tối thiểu Ở khu vực tư nhân, đến nay, cả nước đã có 84 bệnh viện tư nhân với trêntổng số 5.158 giường bệnh; hơn 30.000 phòng khám, dịch vụ y tế tư nhân.14Đối với các
cơ sở khám bệnh, chữa bệnh công do chưa có quy định điều kiện cụ thể để cấp giấy phéphoạt động nên nhiều cơ sở khám bệnh, chữa bệnh đã không đạt điều kiện, đặc biệt là cơ
sở vật chất, xử lý chất thải y tế Trong khi đó, các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh tư nhânmuốn hoạt động được phải đáp ứng đầy đủ các điều kiện mới được cấp phép Do đó, cầnthiết phải có cơ chế pháp lý về điều kiện cụ thể và cấp giấy phép hoạt động cho tất cả các
cơ sở trên để bảo đảm cung cấp dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh cho người bệnh một cáchhiệu quả, đồng đều
Cục quản lý khám, chữa bệnh, danh sách bệnh viện tư nhân ở Việt Nam
http://www.kcb.vn/default.aspx?p=115&mnid=158 , [truy cập ngày 15/3/2010].
Trang 27Hệ thống bệnh viện công được phân cấp quản lý hành chính và phân tuyến kỹthuật từ trung ương đến địa phương Tuyến quận/huyện thực hiện các kỹ thuật chăm sócsức khỏe cơ bản, mang tính đa khoa Tuyến tỉnh/thành phố thực hiện chăm sóc sức khỏevới các kỹ thuật phức tạp hơn, mang tính chuyên khoa, tiếp nhận người bệnh do tuyếnhuyện chuyển đến Tuyến trung ương là tuyến cuối cùng, thực hiện các kỹ thuật chuyênkhoa sâu và tiếp nhận người bệnh từ tuyến 2 chuyển lên.
Bệnh viện tuyến cao hơn được phân bổ nhiều ngân sách hơn, được cung cấp trangthiết bị và thuốc men tốt hơn, thu hút nhiều nhân viên y tế giỏi hơn Vì vậy, người bệnhthường bỏ qua tuyến cơ sở để đến khám chữa bệnh ở tuyến tỉnh và trung ương khiến cácbệnh viện tuyến trên luôn ở trong tình trạng quá tải và thực hiện nhiều kỹ thuật y học đơngiản hơn so với quy định về phân tuyến kỹ thuật
Hệ thống các bệnh viện công lập được giữ vững củng cố và phát triển, nhiều cơ sở
đã được đầu tư, nâng cấp, xây dựng mới, bước đầu khắc phục được tình trạng xuống cấp,thiếu hụt giường bệnh Thiết bị dùng cho chẩn đoán và điều trị cơ bản tại bệnh viện tuyếnhuyện, một số thiết bị hiện đại, chuyên sâu cho bệnh viện tỉnh, trung ương đã được đầu
tư, mua sắm Cùng với việc triển khai tốt công tác chỉ đạo tuyến, chuyển giao kỹ thuậtcho tuyến dưới đã giúp cho nhiều bệnh viện nâng cao năng lực chuyên môn, chất lượngchẩn đoán và điều trị, nhiều kỹ thuật mới và phức tạp đã được thực hiện thành công, trình
độ và kỹ thuật y tế Việt Nam đang dần tiến bộ ngang với các nước trong khu vực, gópphần chữa trị và cứu sống được nhiều người bệnh hiểm nghèo
Căn cứ vào chức năng nhiệm vụ, quy mô giường bệnh và khả năng chuyên môn
kỹ thuật các bệnh viện được phân thành 5 hạng: Hạng đặc biệt, hạng I, hạng II, hạng III
và hạng IV (Thông tư 23/2005/TT-BYT ngày 25/8/2005 của Bộ Y tế Hướng dẫn xếphạng các đơn vị sự nghiệp y tế) Hạng đặc biệt và hạng I là hạng cao nhất bao gồm một
số bệnh viện có quy mô quá lớn, trang thiết bị hiện đại như Bệnh viện Bạch Mai, Bệnhviện trung ương Huế…, hạng IV là thấp nhất gồm nhóm các bệnh viện chưa xếp hạng vìchưa đạt tiêu chuẩn xếp hạng III.15
Hệ thống bệnh viện chuyên khoa Việt Nam khá phát triển và cũng được phân cấpthành tuyến trung ương và tuyến tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương Các chuyên khoathường là sản, nhi, lao, da liễu, tâm thần, các bệnh lây truyền qua đường tình dục Đặcbiệt, hệ thống y học cổ truyền rất phát triển và bao phủ hầu hết các tỉnh/thành phố Hiệnnay các bệnh viện chuyên khoa chiếm 25% tổng số bệnh viện của Việt Nam.16