1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

LUẬN văn LUẬT HÀNH CHÍNH QUẢN lý NHÀ nước về LĨNH vực bảo HIỂM xã hội – THỰC TIỄN ở TỈNH bến TRE

85 169 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 85
Dung lượng 797,49 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đến năm 1961, khi các doanh nghiệp nhà nước đã đi vào hoạt động thì xuất hiện khái niệm “Công nhân – viên chức”, trong thời gian này chiếm tỉ trọng đáng kể trong lao động xã hội và đã th

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ

QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ LĨNH VỰC BẢO HIỂM XÃ

HỘI – THỰC TIỄN Ở TỈNH BẾN TRE

Giáo viên hướng dẫn: Sinh viên thực hiện:

Th.S Võ Duy Nam Phạm Thị Mỹ Nhanh

Bộ môn: Luật Hành chính MSSV: 5095540

Lớp:Luật Hành chính – K35

Cần Thơ, tháng 5/2013

Trang 2

đã mang đến cho tôi biết bao nhiêu là kiến thức, trải nghiệm quý giá, không chỉ trong học tập mà cả kiến thức xã hội, đó là hành trang để tôi vững bước trong cuộc đời cũng như trong sự nghiệp của mình

Luận văn là hồi chuông báo hiệu sắp qua rồi thời sinh viên và những ký ức tươi đẹp đó sẽ theo tôi trên suốt chặn đường sau này Luận văn là sự kiểm nghiệm lại kiến thức mà tôi đã học, là sản phẩm của quá trình tìm tòi, nghiên cứu của bản thân người viết Luận văn cũng là cả một quá trình dày công hướng dẫn của giáo viên, người thầy

đã đồng hành, giúp đỡ tôi rất nhiều trong chặng đường của thời sinh viên Nhân đây, xin gửi lời cảm ơn trân trọng và chân thành nhất đến gia đình, thầy cô và bạn bè Đặc biệt là thầy ThS Võ Duy Nam, thầy hướng dẫn luận văn đã tạo điều kiện thuận lợi và chỉ bảo tôi tận tình để tôi hoàn thành tốt luận văn này

Vì đây là lần đầu tiên nghiên cứu đề tài khoa học và trình độ kiến thức còn hạn chế của bản thân người viết cùng với thời gian và quá trình nghiên cứu thực tế còn nhiều hạn chế Hơn nữa vì đây là một đề tài khá rộng, mang tính thực tiễn cho nên luận văn không thể tránh khỏi những thiếu sót Kính mong được sự góp ý từ quý thầy,

cô, các bạn Khoa Luật cũng như các cán bộ có trình độ chuyên môn liên quan để giúp

cho bài viết được hoàn thiện hơn./

Xin chân thành cảm ơn!

Cần thơ, ngày 27 tháng 04 năm 2013

Phạm Thị Mỹ Nhanh

Trang 3

NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN



-

-

-

-

-

-

-

-

-

-

-

-

-

-

-

-

-

-

-

-

-

-

-

-

-

-

-

-

-

-

-

-

-

-

-

-

-

-

-

-

Trang 4

NHẬN XÉT CỦA HỘI ĐỒNG CHẤM LUẬN VĂN

 -

-

-

-

-

-

-

-

-

-

-

-

-

-

-

-

-

-

-

-

-

-

-

-

-

-

-

-

-

-

-

-

-

-

-

-

-

-

-

-

-

-

-

Trang 5

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

UBND: Ủy ban nhân dân

HĐND: Hội đồng nhân dân

BH: Bảo hiểm

BHXH: Bảo hiểm xã hội

BHYT: Bảo hiểm y tế

TNLĐ – BNN: Tai nạn lao động – Bệnh nghề nghiệp

CBVC: Cán bộ viên chức

ASSA: Hiệp hội An sinh xã hội ASEAN

AWCF: Diễn đàn đền bù cho người lao động Châu Á

SFR: Diễn đàn các Quỹ Chủ quyền Toàn câu

Trang 6

MỤC LỤC



Trang

LỜI NÓI ĐẦU 1

1 Lý do nghiên cứu đề tài 2

2 Mục tiêu nghiên cứu 2

3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 2

4 Phương pháp nghiên cứu 2

5 Kết cấu luận văn 2

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI BHXH 1.1 KHÁI QUÁT VỀ BHXH 3

1.1.1 Khái niệm, đặc điểm BHXH 3

1.1.1.1 Khái ni ệm 3

1.1.1.2 Đặc điểm 4

1.1.2 Phân loại BHXH 5

1.1.2.1 BHXH b ắt buộc 5

1.1.2.2 BHXH t ự nguyện 5

1.1.2.3 BH th ất nghiệp 5

1.1.3 Bản chất và chức năng của BHXH 6

1.1.3.1 B ản chất của BHXH 6

1.1.3.2 Ch ức năng của BHXH 7

1.1.4 Lịch sử hình thành, phát triển của BHXH 8

1.2 QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI BHXH 11

1.2.1 Khái niệm quản lý nhà nước .11

1.2.2 Khái niệm quản lý nhà nước về BHXH 12

1.2.3 Đặc điểm và nguyên tắc quản lý nhà nước về BHXH 13

1.2.3.1 Đặc điểm 13

1.2.3.2 Nguyên t ắc 14

1.3 VAI TRÒ VÀ Ý NGHĨA CỦA CÔNG TÁC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ BHXH 15

1.3.1 Vai trò 15

1.3.2 Ý nghĩa 16

CHƯƠNG 2 NHỮNG QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VÀ THỰC TIỄN

Trang 7

QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ BHXH Ở TỈNH BẾN TRE

2.1 CƠ SỞ PHÁP LÝ CỦA CÔNG TÁC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC

VỀ BHXH 17

2.1.1 Luật Hiến pháp năm 1992 sửa đổi, bổ sung theo Nghị quyết số 51/2001/QH10 ngày 25 tháng 12 năm 2001 17

2.1.2 Luật BHXH ngày 29 tháng 6 năm 2006 18

2.1.3 Nghị định số 152/2006/NĐ–CP ngày 22 tháng 12 năm 2006 hướng dẫn một số điều của Luật BHXH về BHXH bắt buộc 19

2.1.4 Nghị định số 86/2010/NĐ-CP ngày 13 tháng 08 năm 2010 quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực BHXH 19

2.1.5 Nghị định 190/2007/NĐ-CP ngày 28 tháng 12 năm 2007 hướng dẫn một số điều của Luật BHXH về BHXH tự nguyện 20

2.1.6 Nghị định 127/2008/NĐ-CP ngày 12 tháng 12 năm 2008 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật BHXH về BHTN và Nghị Định 100/2012/NĐ-CP ngày 21 tháng 11 năm 2012 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 127/2008 20

2.2 NỘI DUNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ BHXH 21

2.2.1 Xây dựng và tổ chức thực hiện chiến lược, chế độ, chính sách BHXH 21

2.2.2 Công tác ban hành và tổ chức thực hiện văn bản quy phạm pháp luật về BHXH 22

2.2.3 Công tác tuyên truyền, phổ biến chế độ, chính sách, pháp luật về BHXH 24

2.2.4 Thực hiện công tác thống kê, thông tin về BHXH 25

2.2.5 Tổ chức bộ máy thực hiện BHXH; đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực làm công tác BHXH 26

2.2.6 Thanh tra, kiểm tra việc chấp hành pháp luật về BHXH, giải quyết khiếu nại, tố cáo và xử lý vi phạm pháp luật về BHXH 28

2.2.7 Hợp tác quốc tế về BHXH 30

2.3 CƠ QUAN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ BHXH 32

2.3.1 Cơ quan quản lý nhà nước ở cấp Trung ương 32

2.3.1.1 Chính phủ 32

2.3.1.2 B ộ Lao động – Thương binh và Xã hội 33

2.3.1.3 BHXH Vi ệt Nam 34

2.3.2 Cơ quan quản lý nhà nước cấp tỉnh 36

2.3.2.1 Ủy ban nhân dân cấp tỉnh 36

2.3.2.2 S ở Lao động – Thương binh và Xã hội 36

Trang 8

2.3.2.3 BHXH t ỉnh 37

2.3.3 Cơ quan quản lý nhà nước cấp huyện 38

2.3.3.1 Ủy ban nhân dân cấp huyện 38

2.3.3.2 Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội 39

2.3.3.3 BHXH huy ện 39

2.4 THỰC TIỄN CÔNG TÁC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ BHXH TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH BẾN TRE 40

2.4.1 Cơ quan quản lý nhà nước về BHXH tỉnh Bến Tre 40

2.4.1.1 Ủy ban nhân dân tỉnh Bến Tre 40

2.4.1.2 S ở Lao động – Thương binh và Xã hội tỉnh Bến tre 41

2.4.1.3 BHXH t ỉnh Bến Tre 41

2.4.2 Tình hình chung về hoạt động của cơ quan BHXH tỉnh Bến Tre 42

2.4.3 Tình hình công tác quản lý nhà nước về BHXH tỉnh Bến Tre 43

2.4.3.1 Công tác ban hành và tuyên truy ền, phổ biến chính sách pháp luật về BHXH 43

2.4.3.2 Công tác thu, chi và gi ải quyết chế độ BHXH 46

2.4.3.3 Công tác t ổ chức – hành chính và cấp sổ BHXH 48

2.4.3.4 Công tác ti ếp nhận – quản lý hồ sơ và giải quyết đơn 49

2.4.3.5 Công tác thanh tra, ki ểm tra và xử lý vi phạm pháp luật v ề BHXH 50

CHƯƠNG 3 PHƯƠNG HƯỚNG, GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI BHXH 3.1 NHỮNG THÀNH TỰU ĐẠT ĐƯỢC VÀ MỘT SỐ HẠN CHẾ, KHÓ KHĂN CÒN TỒN TẠI TRONG CÔNG TÁC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ BHXH 53

3.1.1 Những thành tựu đạt được của công tác quản lý nhà nước về BHXH 53

3.1.1.1 Nh ững thành tựu chung 53

3.1.1.2 Nh ững thành tựu đạt được ở tỉnh Bến Tre 54

3.1.2 Một số hạn chế, khó khăn trong công tác quản lý nhà nước về BHXH 55

3.1.2.1 M ột số hạn chế, khó khăn chung 55

3.1.2.2 H ạn chế, khó khăn ở tỉnh Bến Tre 56

3.2 NGUYÊN NHÂN CỦA NHỮNG HẠN CHẾ, KHÓ KHĂN TRONG CÔNG TÁC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI BHXH 58

3.2.1 Nguyên nhân khách quan 58

3.2.2 Nguyên nhân chủ quan 59

Trang 9

3.3 PHƯƠNG HƯỚNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ BHXH TRONG

THỜI GIAN TỚI 60 3.3.1 Phương hướng chung 60 3.3.2 Phương hướng chỉ đạo thực hiện thời gian tới ở tỉnh Bến Tre 61 3.4 GIẢI PHÁP NHẰM TĂNG CƯỜNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI

VỚI BHXH HIỆN NAY 63 3.4.1 Giải pháp chung 63

3.4.1.1 Hoàn thi ện hệ thống chính sách, pháp luật về BHXH 63

3.4.1.2 M ở rộng và tăng cường quản lý có hiệu quả đối tượng

3.4.1.5 Nâng cao n ăng lực đội ngủ cán bộ làm công tác BHXH, công

tác qu ản lý và theo dõi hoạt động BHXH 65

3.4.1.6 T ăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, nâng cao hoạt động

thanh tra 65

3.4.2 Giải pháp nhằm tăng cường quản lý nhà nước về BHXH

tỉnh Bến Tre 66 3.4.3 Một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật BHXH nhằm nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về hoạt động BHXH 68 KẾT LUẬN 71

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 10

mà không ai có thể phủ nhận Chính sách BHXH không chỉ mang bản chất nhân văn sâu sắc của Nhà nước ta mà nó còn giúp người lao động an tâm công tác sản xuất, chiến đấu góp phần thắng lợi vào công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc

Luật BHXH có hiệu lực thi hành ngày từ ngày 01/01/2007 đã tạo khung pháp lý cao nhất để điều chỉnh các quan hệ trong hoạt động BHXH và góp phần tích cực trong việc nâng cao đời sống người lao động, khẳng định được vai trò của mình với việc trợ cấp vật chất, hỗ trợ đời sống cho những đối tượng hưởng BHXH khi gặp phải những rủi ro, biến cố trong cuộc sống Với vị trí quan trọng trong sự nghiệp đất nước, BHXH cần phải thực sự đi vào cuộc sống người lao động nhưng để đạt được điều đó cần có sự quản lý chặt chẽ của Nhà nước trong lĩnh vực BHXH Nhìn dưới góc độ Nhà nước thì các công cụ quản lý nhà nước về BHXH mà chủ yếu là pháp luật chưa hoàn thiện, chưa đáp ứng được yêu cầu thực tế đối với nhu cầu người dân trong nền kinh tế thị trường của nước ta Luật BHXH nước ta đã có hiệu lực hơn 5 năm nhưng dường như vai trò quản lý nhà nước đối với lĩnh vực BHXH mới dừng lại ở việc ban hành các văn bản luật, văn bản hướng dẫn thi hành, các văn bản quản lý cụ thể vẫn chưa thiết thực, Luật BHXH còn nhiều bất cập Chính vì thế, nhiều vấn đề cụ thể về BHXH chưa rõ ràng, nhiều khúc mắc chưa được làm sáng tỏ; một số bộ phận người dân chưa nhận thức đúng đắn về chính sách BHXH dẫn đến tình trạng trốn đóng, tránh tham gia BHXH hoặc tham gia không đầy đủ, tình trạng nợ kéo dài của không ít người sử dụng lao động trong các doanh nghiệp làm ảnh hưởng đến quyền lợi người lao động

Các vấn đề trên hầu như các cơ quan BHXH nào cũng gặp phải nhất là ở cơ quan BHXH tỉnh, cơ quan trực tiếp tổ chức thực hiện chế độ, chính sách BHXH đối với người lao động trên địa bàn tỉnh mình Tất cả đặt ra nhu cầu cần thiết phải có những giải pháp hữu hiệu để nâng cao hiệu quả công tác quản lý nhà nước trong lĩnh vực BHXH cả về phương diện pháp lý lẫn việc thi hành chính sách pháp luật của các

cơ quan trung ương và địa phương nhằm đảm bảo quyền lợi, tạo điều kiện tốt nhất cho người lao động an tâm công tác, sản xuất đồng thời thúc đẩy nền kinh tế phát triển

Trang 11

Chính những yêu cầu thiết thực như vậy mà người viết đã tiến hành chọn đề tài: “Quản

lý nhà nước về lĩnh vực BHXH – thực tiễn ở tỉnh Bến Tre” để nghiên cứu làm luận văn tốt nghiệp Cử nhân Luật của mình

2 Mục tiêu nghiên cứu

Đề tài được thực hiện với mục đích nghiên cứu và làm sáng tỏ những vấn đề lý luận có liên quan, cơ sở pháp lý, thực trạng quản lý nhà nước đối với hoạt động BHXH Tìm ra những ưu, khuyết điểm cũng như làm rõ những nguyên nhân gây nên những hạn chế trong công tác quản lý nhà nước về BHXH của nước ta Từ đó người viết đề ra những biện pháp mang tính khả thi cho công tác quản lý nhà nước đối với hoạt động BHXH đồng thời đưa ra một số kiến nghị cho việc xây dựng và hoàn thiện pháp luật BHXH nhằm tăng cường hơn nữa vai trò quản lý nhà nước đối với hoạt động BHXH trong thời gian tới

3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu là vấn đề quản lý và điều hành của nhà nước đối với hoạt động BHXH ở Việt Nam Nội dung chủ yếu của đề tài là những quy định của pháp luật

về quản lý nhà nước đối với hoạt động BHXH và thực trạng quản lý nhà nước đối với hoạt động này ở tỉnh Bến Tre Từ đó phân tích những bất cập về mặt lý luận và thực tiễn của nội dung Đề tài sẽ không đề cập các nội dung liên quan đến nghiệp vụ BHXH

4 Phương pháp nghiên cứu

Đề tài được nghiên cứu với phương pháp truyền thống như: phương pháp phân tích luật viết kết hợp với phân tích lịch sử Ngoài ra người viết còn sử dụng phương pháp diễn dịch, quy nạp, liệt kê, so sánh, tổng hợp những tài liệu, số liệu thu thập được, vận dụng cơ sở pháp lý…nhằm đi sâu vào từng điều luật hiện hành để tìm hiểu nội dung, mặt thành tựu và những hạn chế từ đó đưa ra hướng giải quyết cho những vấn đề tồn tại

5 Kết cấu luận văn

Đề tài được nghiên cứu theo bố cục sau:

Phần mở đầu

Phần nội dung: Gồm 3 chương

Chương 1: Cơ sở lý luận chung về công tác quản lý nhà nước đối với BHXH Chương 2: Những quy định của pháp luật và thực tiễn quản lý nhà nước về BHXH ở tỉnh Bến Tre

Chương 3: Phương hướng, giải pháp tăng cường công tác quản lý nhà nước về BHXH

Phần kết luận

Trang 12

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC

ĐỐI VỚI BẢO HIỂM XÃ HỘI

1.1 KHÁI NIỆM VỀ BẢO HIỂM XÃ HỘI

1.1.1 Khái niệm, đặc điểm và lịch sử hình thành, phát triển bảo hiểm xã hội

1.1.1.1 Khái ni ệm bảo hiểm xã hội

BHXH đã có lịch sử phát triển lâu dài nhưng hiện tại vẫn chưa có định nghĩa thống nhất về bảo hiểm xã hội (BHXH), tùy theo góc độ nhìn nhận mà khái niệm BHXH được tiếp nhận ở nhiều khía cạnh khác nhau BHXH là: “Bảo đảm vật chất cho người lao động có tham gia quỹ bảo hiểm, khi họ hết tuổi lao động, vì ốm đau, sinh đẻ, chết hoặc bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, thất nghiệp.”1

Giáo trình Luật lao động của Khoa Luật Đại học quốc gia Hà Nội định nghĩa, dưới góc độ pháp lý: “BHXH là tổng hợp các quy định của Nhà nước để điều chỉnh các quan hệ kinh tế – xã hội hình thành trong lĩnh vực bảo đảm trợ cấp nhằm ổn định đời sống người lao động khi họ gặp những rủi ro, hiểm nghèo trong quá trình lao động hoặc già yếu không còn khả năng lao động.”2

Dưới góc độ tài chính thì: “BHXH là quá trình san sẻ rủi ro và san sẻ tài chính giữa những người tham gia BHXH theo quy định của pháp luật.”3 Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam, tập 1: “BHXH xét về chính trị, kinh tế là sự thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập cho người lao động khi họ bị mất, hoặc giảm thu nhập do ốm đau, thai sản, tai nạn lao động hoặc bệnh nghề nghiệp, tàn tật, thất nghiệp, tuổi già, tử tuất Dựa trên cơ sở một quỹ tài chính do sự đóng góp của các bên tham gia BHXH, có sự bảo

hộ của Nhà nước theo pháp luật nhằm đảm bảo an toàn đời sống cho người lao động

và gia đình họ đồng thời góp phần bảo đảm an toàn xã hội.”

Giáo trình Bảo hiểm – Trường Đại học Kinh tế Quốc dân Hà Nội định nghĩa:

“BHXH là quá trình tổ chức và sử dụng một quỹ tiền tệ tập trung được tồn tích dần do

sự đóng góp của người sử dụng lao động, người lao động dưới sự điều tiết của Nhà nước nhằm đảm bảo phần thu nhập thỏa mãn những nhu cầu thiết yếu của người lao động và gia đình họ khi gặp những biến cố làm giảm hoặc mất thu nhập theo lao động.”

Gần đây, một số quan điểm lại cho rằng: BHXH là sự đảm bảo thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập đối với người lao động khi họ gặp phải những biến cố làm giảm hoặc mất khả năng lao động hoặc bị mất việc làm, bằng cách hình thành và sử

1

Tô Tử Hạ, Từ điển hành Chính, Nxb Lao động – xã hội, 2003, tr 30

2 Trường Đại học Khoa học xã hội và nhân văn, Khoa Luật, Giáo trình luật lao động Việt Nam, Nxb Đại học

Quốc gia Hà Nội, 1999, tr 312-313

3 Trường Đại học Kinh tế Quốc dân, Bộ môn Kinh tế Bảo hiểm, Giáo trình an sinh xã hội, Nxb Đại học kinh tế

Trang 13

dụng một quỹ tài chính tập trung do sự đóng góp của các bên tham gia BHXH, nhằm góp phần đảm bảo an toàn đời sống của người lao động và gia đình họ, góp phần đảm bảo an toàn xã hội

Hiện nay, theo quy định tại Khoản 1 Điều 3 Luật BHXH năm 2006 định nghĩa

như sau: “Bảo hiểm xã hội là sự đảm bảo thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập của

ng ười lao động khi họ bị giảm hoặc mất thu nhập do ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, thất nghiệp, hết tuổi lao động hoặc chết, trên cơ sở đóng vào

qu ỹ bảo hiểm xã hội.”

Tuy có nhiều cách hiểu khác nhau nhưng xét về bản chất của BHXH gần như giống nhau và được thể hiện khá rõ ràng, cụ thể Đối tượng của BHXH chính là thu nhập hay còn gọi là số tiền bị biến động giảm hoặc mất mát do các trường hợp được quy định trong Luật BHXH của những người lao động tham gia BHXH BHXH đã lấy

số đông bù số ít và thực hiện chức năng phân phối lại thu nhập theo cả chiều dọc và chiều ngang, giữa người lao động có thu nhập thấp hơn, giữa những người khỏe mạnh đang làm việc với những người ốm yếu phải nghỉ việc Nói cách khác, BHXH góp phần đảm bảo sự thăng bằng về thu nhập cho người lao động và gia đình họ Điều này

đã góp một phần vào việc thực hiện công bằng xã hội, thúc đẩy nền kinh tế đất nước phát triển

1.1.1.2 Đặc điểm của bảo hiểm xã hội

Qua tìm hiểu khái niệm bảo hiểm xã hội ở nhiều góc độ khác nhau ta có thể rút

ra một số đặc điểm cơ bản về BHXH như sau:

Th ứ nhất, Nguồn thu quỹ BHXH thông qua sự đóng góp của các bên tham gia

BHXH: người lao động, người sử dụng lao động, tiền sinh lời của hoạt động đầu tư quỹ và có sự hỗ trợ của Nhà nước, có thể được hình thành từ các nguồn thu hợp pháp khác

Th ứ hai, Nguồn đóng của các bên tham gia được đưa vào quỹ độc lập, tập trung

nằm ngoài ngân sách Nhà nước để chi trợ cấp cho các chế độ và hoạt động BHXH

Th ứ ba, Việc tham gia BHXH về nguyên tắc là bắt buộc đối với mọi người lao

động làm công ăn lương trong các doanh nghiệp, cơ quan, tổ chức Trừ một số trường hợp, người lao động có thu nhập không ổn định do công việc làm thường xuyên không

ổn định, hoặc theo mùa vụ

Th ứ tư, Số tiền tạm thời nhàn rỗi của quỹ được đầu tư sinh lời nhằm bảo toàn và

tăng trưởng quỹ

Th ứ năm, Quyền hưởng các chế độ trợ cấp BHXH dựa trên nguyên tắc phải gắn

liền với nghĩa vụ đóng góp BHXH của người lao động

Trang 14

1.1.2 Phân loại BHXH

1.1.2.1 B ảo hiểm xã hội bắt buộc

Theo Khoản 2 Điều 3 Luật BHXH năm 2006 định nghĩa như sau: “Bảo hiểm xã hội bắt buộc là loại hình bảo hiểm xã hội mà người lao động và người sử dụng lao động phải tham gia.”

Về đối tượng áp dụng, BHXH bắt buộc áp dụng với người lao động là công dân Việt Nam, nhìn chung là những lao động không xác định thời hạn hoặc có xác định thời hạn làm việc ở mức nhất định (từ đủ 3 tháng trở lên), tiền lương hàng tháng có tính cố định đồng thời người sử dụng lao động tham gia BHXH bắt buộc phải là những

cơ quan, tổ chức hoạt động trên lãnh thổ Việt Nam, những doanh nghiệp, hợp tác xã sử dụng số lượng lao động ổn định

Về mức đóng BHXH bắt buộc, đối tượng tham gia BHXH bắt buộc có nghĩa vụ hàng tháng phải đóng một khoản tiền nhất định theo quy định của pháp luật tương ứng với tỷ lệ tiền lương của người lao động cho quỹ BHXH Người tham gia BHXH bắt buộc được hưởng quyền lợi theo chế độ: ốm đau, thai sản, tai nạn lao động – bệnh nghề nghiệp, hưu trí và tử tuất đối với người lao động thuộc lực lượng vũ trang có quy định riêng

1.1.2.2 B ảo hiểm xã hội tự nguyện

Theo Khoản 3 Điều 3 Luật bảo hiểm xã hội năm 2006 định nghĩa như sau: “Bảo hiểm xã hội tự nguyện là loại hình BHXH mà người lao động tự nguyện tham gia, được lựa chọn mức đóng phù hợp với thu nhập của mình để hưởng bảo hiểm xã hội.”

Người tham gia BHXH tự nguyện là công dân Việt Nam từ đủ 15 tuổi đến đủ

60 tuổi đối với nam và đủ 15 tuổi đến đủ 55 tuổi đối với nữ và không thuộc diện áp dụng của pháp luật về BHXH bắt buộc

Về mức đóng BHXH tự nguyện thì tổ chức bảo hiểm có thiết kế nhiều mức phí bảo hiểm và thể thức đóng khác nhau để người tham gia tự nguyện có thể lựa chọn cho phù hợp Mức đóng bằng tỷ lệ phần trăm đóng BHXH tự nguyện theo quy định pháp luật nhân với mức thu nhập tháng

Người tham gia BHXH tự nguyện được lựa chọn phương thức đóng hàng tháng hoặc hàng quý hoặc 6 tháng một lần cho cơ quan BHXH Người tham gia BHXH tự nguyện được hưởng chế độ hưu trí và tử tuất khi có đủ điều kiện theo quy định

1.1.2.3 B ảo hiểm xã hội thất nghiệp

Bảo hiểm thất nghiệp có hiệu lực từ ngày 01/01/2009 sau BHXH bắt buộc và BHXH tự nguyên và đến nay vẫn chưa có định nghĩa chính thức loại hình bảo hiểm thất nghiệp Thông qua định nghĩa về BHXH và người thất nghiệp tại Khoản 1 và Khoản 4 Điều 3 Luật BHXH năm 2006, có thể hiểu bảo hiểm thất nghiệp là loại hình BHXH mà người lao động và người sử dụng lao động tham gia nhằm bảo đảm hoặc

Trang 15

thay thế một phần thu nhập cho người lao động khi họ bị mất thu nhập do mất việc làm hoặc chấm dứt hợp đồng lao động, hợp đồng làm việc nhưng chưa tìm được việc làm

Về đối tượng tham gia bảo hiểm thất nghiệp, đối với người lao động thì là công dân Việt Nam làm việc theo hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc mà các hợp đồng này không xác định thời hạn hoặc xác định thời hạn từ đủ 12 tháng đến 36 tháng Người sử dụng lao động tham gia bảo hiểm thất nghiệp phải là những đối tượng thuộc Khoản 2 Điều 2 Luật BHXH năm 2006 và có sử dụng từ 10 lao động trở lên

Mức đóng bảo hiểm thất nghiệp: người lao động đóng bằng 1% tiền lương, tiền công tháng đóng bảo hiểm thất nghiệp Người sử dụng lao động đóng bằng 1% quỹ tiền lương, tiền công tháng đóng bảo hiểm thất nghiệp của người lao động

1.1.3 Bản chất và chức năng của BHXH

1.1.3.1 B ản chất của BHXH

BHXH ra đời, tồn tại và phát triển là một tất yếu khách quan của xã hội loài người cùng với sự phát triển của nền kinh tế hàng hóa Có thể nhận thấy rằng, khi nền kinh tế càng phát triển thì nhu cầu thiết yếu của con người càng nâng cao thì BHXH sẽ

ra đời để đảm bảo nhu cầu đó của con người Chính vì thế, nền kinh tế càng phát triển chứng tỏ rằng hệ thống BHXH càng đa dạng, các hình thức BHXH càng phong phú và chế độ BHXH cũng mở rộng ra hơn Xét về bản chất của BHXH, ta thấy nó được thể hiện ở một số nội dung như sau:

BHXH là sự tổ chức để đền bù những hậu quả xãy ra do những biến cố, rủi ro hoặc những sự kiện phát sinh Những biến cố làm giảm hoặc mất khả năng lao động, mất việc làm có thể do trái ý muốn của người lao động nhưng cũng có khi là trường hợp hoàn toàn ngẫu nhiên do tuổi già, thai sản Sự đền bù được thể hiện thông qua mối quan hệ giữa các bên trong BHXH phát sinh trên cơ sở quan hệ lao động và diễn

ra giữa 3 bên: Bên tham gia BHXH, bên BHXH và bên được BHXH Bên tham gia BHXH có thể chỉ là người lao động hoặc cả người sử dụng lao động và người lao động Bên BHXH thông thường là các cơ quan nhà nước chuyên trách về lĩnh vực BHXH và bên được BHXH là người lao động và gia đình của họ khi có đủ điều kiện hưởng BHXH theo quy định của pháp luật

Phần thu nhập của người lao động bị giảm hoặc mất đi do những biến cố, rủi ro

sẽ được bù đắp hoặc thay thế từ sự đóng góp của các bên tham gia BHXH là chủ yếu

và các nguồn thu nhập hợp pháp khác của quỹ BHXH, ngoài ra còn có sự hỗ trợ một phần của nhà nước Qua đó, ta thấy được quá trình phân phối lại thu nhập cho những người lao động khi phát sinh những nhu cầu thiết yếu khi gặp khó khăn như ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, già yếu , khi làm việc người lao động đóng BHXH và khi không làm việc được thì họ sẽ được nhận lại thu nhập Điều này cũng thể hiện sự đùm bọc, san sẽ giữa những người khỏe mạnh cho những người không may gặp khó khăn

Trang 16

trong cuộc sống, giữa người có thu nhập cao và người có thu nhập thấp, giữa người trẻ cho người già, giữa nam và nữ

BHXH góp phần thực hiện mục tiêu thỏa mãn những nhu cầu thiết yếu của người lao động và gia đình họ “BHXH mang cả bản chất kinh tế và cả bản chất xã hội.”4 Về mặt kinh tế, nhờ sự tổ chức phân phối thu nhập, đời sống người lao động và gia đình họ được đảm bảo trước những bất trắc, rủi ro xã hội Về mặt xã hội, người lao động chỉ phải đóng một khoản nhỏ thu nhập của mình cho quỹ BHXH nhưng với nguyên tắc lấy số đông bù cho số ít thì người lao động nhận được một phần thu nhập lớn để trang trải rủi ro xãy ra Như vậy, BHXH là một chính sách lớn của xã hội nhằm đảm bảo đời sống cho người lao động đồng thời tạo cơ sở cho việc bảo vệ và phát triển lực lượng lao động, lực lượng sản xuất, tăng năng suất, ổn định trật tự xã hội Tuy nhiên, tính kinh tế và tính xã hội không tách rời nhau mà đan xen lẫn nhau Khi nói đến sự bảo đảm kinh tế cho người lao động và gia đình họ là đã nói đến tính xã hội của BHXH và khi nói đến sự đóng góp ít nhưng nhận một phần lớn thì cũng đề cập đến tính kinh tế của BHXH

1.1.3.2 Ch ức năng của BHXH

Thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập cho người lao động tham gia BHXH khi họ bị giảm hoặc mất thu nhập do mất khả năng lao động hoặc mất việc làm Đây là chức năng cơ bản nhất của BHXH, quyết định nhiệm vụ, tính chất và cả cơ chế tổ chức hoạt động của BHXH đồng thời cũng thể hiện được bản chất kinh tế và bản chất xã hội của BHXH Người lao động khi tham gia đóng BHXH thì khi gặp khó khăn, thiếu hụt thì họ sẽ được hưởng trợ cấp BHXH theo quy định của pháp luật

Thực hiện phân phối và phân phối lại thu nhập giữa những người tham gia BHXH Tham gia BHXH không chỉ người lao động mà còn cả người sử dụng lao động Quỹ BHXH dùng để trợ cấp cho một số người lao động tham gia BHXH khi họ

bị giảm hoặc mất thu nhập Số lượng những người được hưởng trợ cấp BHXH trong cùng một thời gian thường là chiếm tỉ trọng nhỏ hơn tổng số người tham gia đóng góp, theo quy luật số đông bù cho số ít “Quỹ BHXH là dòng chảy liên tục của sự đóng vào

và chi ra của tiền bảo hiểm.”5 BHXH thực hiện phân phối lại thu nhập theo cả chiều dọc và chiều ngang giữa những người tham gia BHXH, giữa những người khỏe mạnh đang làm việc với những người ốm đau, bệnh tật phải nghỉ việc, giữa người lao động trẻ đóng góp để cho người lao động đã hết tuổi lao động được hưởng Thực hiện chức năng này có nghĩa là BHXH đã góp phần thực hiện công bằng xã hội

BHXH góp phần kích thích người lao động an tâm và hăng hái lao động, sản xuất, nâng cao năng suất lao động cho chính bản thân và xã hội Khi khỏe mạnh tham

4 Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình Luật an sinh xã hội, Nxb Công an nhân dân, năm 2008, Tr 115

Trang 17

gia lao động, sản xuất, người lao động được người sử dụng lao động trả tiền lương và

họ trích một phần tham gia vào quỹ BHXH đến khi họ về già hoặc khi họ ốm đau, thai sản, tai nạn lao động thì BHXH sẽ trợ cấp một phần thu nhập mà họ bị mất

Trong thực tế lao động, sản xuất thường tồn tại những mâu thuẫn nội tại, khách quan về tiền lương, tiền công giữa người lao động và người sử dụng lao động Nhưng từ khi BHXH ra đời, xác lập một hình thức pháp luật nhất định thì những mâu thuẫn đó dần được dung hòa và giải quyết, tạo cơ sở gắn bó và hiểu nhau hơn giữa người lao động và người sử dụng lao động BHXH tạo sự đoàn kết, tương trợ và gắn kết lợi ích giữa các bên tham gia BHXH, người lao động hàng tháng chỉ trích một tỷ lệ nhỏ tiền lương đóng vào quỹ BHXH nhưng khi gặp phải rủi ro họ nhận được sự trợ cấp đủ để trang trải cho rủi ro đó Người sử dụng lao động tuy không trực tiếp hưởng trợ cấp như người lao động trong khi họ vẫn có sự đóng góp vào quỹ BHXH, điều này tạo sự yên tâm cho họ, họ không cần phải lo lắng chi phí về khoản tiền lớn đền bù cho người lao động khi người lao động không may gặp rủi ro

1.1.4 Lịch sử hình thành, phát triển của bảo hiểm xã hội

BHXH đem lại cuộc sống an lành, hạnh phúc của con người, góp phần ổn định

đời sống cho nhân dân lao động, ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội, thúc đẩy sự nghiệp xây dựng đất nước, bảo vệ Tổ quốc Con người muốn tồn tại và phát triển, trước hết họ phải lao động để thỏa mãn những nhu cầu tối thiểu như ăn, mặc, ở, đi lại Nhưng để hưởng được điều đó đòi hỏi con người phải lao động, việc thỏa mãn các nhu cầu sinh sống và phát triển của con người phụ thuộc vào chính khả năng lao động của họ, sản phẩm họ tạo ra càng nhiều thì đời sống họ càng đầy đủ, văn minh hơn Trên thực tế, con người không phải lúc nào cũng luôn gặp những thuận lợi để

có đủ thu nhập đảm bảo cuộc sống cho bản thân và gia đình họ Sự tác động của tự nhiên vào con người là một quy luật khách quan và con người khó mà kiểm soát được làm ảnh hưởng đến cuộc sống con người Một điều tất yếu mà không ai tránh khỏi đó

là quy luật của cuộc sống, sinh, lão, bệnh, tử Con người sinh ra, trưởng thành và khi

về già thì ốm đau rồi sẽ phải chết Bởi vậy, để vượt qua những khó khăn, rủi ro trên và tồn tại, ổn định cuộc sống xã hội loài người phải tìm và áp dụng các biện pháp phòng ngừa, khắc phục hậu quả Thời kỳ công xã nguyên thủy và phong kiến đã tìm ra những biện pháp khác nhau như san sẻ, đùm bọc lẫn nhau có thể đi vay, đi xin hoặc dựa vào

sự cứu trợ của nhà nước, của những người hảo tâm Điều này đã được thể hiện qua từng thời kỳ của đất nước ta Nhưng những cách này, người gặp khó khăn đặt mình vào hoàn cảnh hoàn toàn thụ động trông chờ vào sự trợ giúp của người khác, điều này không tạo cơ sở chắc chắn cho họ trong hoàn cảnh khó khăn

Khi nền kinh tế hàng hóa phát triển, việc thuê mướn nhân công trở nên phổ biến, lúc đầu người chủ lao động chỉ cam kết trả công lao động nhưng về sau đã cam

Trang 18

kết cả việc bảo đảm cho người lao động có một số thu nhập nhất định để họ trang trải nhu cầu cuộc sống thiết yếu khi không may bị ốm đau, tai nạn, thai sản, tuổi già… Các trường hợp trên có thể không xãy ra nhưng cũng có khi xãy ra dồn dập buộc người sử dụng lao động phải bỏ ra một số tiền lớn dù họ không mong muốn Điều này tất yếu dẫn đến mâu thuẫn giữa người sử dụng lao động và người lao động, cuộc đấu tranh đòi người sử dụng lao động thực hiện cam kết diễn ra ngày càng rộng lớn đã tác động đến nhiều mặt của đời sống xã hội Dần dần xuất hiện vai trò bên thứ ba đóng vai trò trung gian giúp thực hiện những cam kết giữa người sử dụng lao động và người lao động bằng việc Nhà nước hỗ trợ một phần để hình thành nên quỹ tài chính với mục đích đảm bảo đời sống người lao động và gia đình họ nhằm tạo ra tâm lý ổn định đối với những người lao động để họ an tâm lao động sản xuất Điều đó cũng đảm bảo quyền lợi cho người sử dụng lao động không phải lo chi trả đột xuất những khoản tiền trợ cấp cho người người lao động khi họ gặp khó khăn, rủi ro Từ đó, BHXH đã trở thành một trong những quyền cơ bản của con người được xã hội thừa nhận

BHXH là một trong những loại hình bảo hiểm ra đời khá sớm và đến nay đã được thực hiện ở tất cả các nước trên thế giới Xét về mặt lịch sử, BHXH ở nước ta xuất hiện vào những năm 30 của thế kỷ XX Sau Cách mạng tháng tám thành công, Hồ Chủ Tịch đã đọc bản tuyên ngôn độc lập khai sinh ra nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, tại văn bản pháp luật cao nhất đã có quy định về BHXH, thể hiện sự quan tâm và nhận thức của nhà nước về vấn đề này Điều 14 Hiến pháp năm 1946 quy đinh:

“Những người công dân già cả hoặc tàn tật, không làm được việc thì được giúp đỡ, trẻ con được chăm sóc về mặt giáo dưỡng” Sau đó Chủ Tịch Hồ CHí Minh đã ký nhiều sắc lệnh quan trọng liên quan đến chính sách xã hội, Sắc lệnh số 29/SL ngày 12/3/1947 gồm 10 chương 187 điều khoản quy định mối quan hệ giữa chủ và thợ (người Việt Nam hay người nước ngoài) với công nhân Việt Nam tại các hầm mỏ, nhà máy, các thương điền hay ngành nghề tự do Sắc lệnh 76/SL ngày 20/5/1950 về quy chế công chức Việt Nam trong đó quy định công chức có quyền hưởng hưu bổng được chăm sóc về sức khỏe và trợ cấp khi bị tai nạn Sắc lệnh 77/SL ngày 22/5/1950 về quy chế bậc lương, tuyển dụng, ngày công, khen thưởng, kỷ luật ở các mức độ khác nhau thông qua các chế độ cụ thể Tuy vậy, nhưng do hoàn cảnh kháng chiến lâu dài và gian khổ, việc thực hiện các sắc lệnh có nhiều hạn chế, một số quy định bất khả kháng trong thực hiện

Đến năm 1961, khi các doanh nghiệp nhà nước đã đi vào hoạt động thì xuất hiện khái niệm “Công nhân – viên chức”, trong thời gian này chiếm tỉ trọng đáng kể trong lao động xã hội và đã thực hiện chế độ tiền lương đồng thời pháp luật BHXH được chính thức áp dụng rộng rãi kể từ khi Chính phủ ban hành Nghị Định số 218/CP ngày 27/12/1961 kèm theo Điều lệ tạm thời về BHXH đối với công nhân, viên chức

Trang 19

nhà nước khi bị tai nạn lao động hay bệnh nghề nghiệp theo Quyết Định số 212/ BCĐ – LĐ ngày 15/12/1982 Cái mới ở giai đoạn này là đã có thêm chế độ BHXH đối với khu vực ngoài quốc doanh Hệ thống BHXH ở Việt Nam lúc bấy giờ bao gồm 6 chế độ: chế độ trợ cấp ốm đau, thai sản, tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp, hưu trí, mất sức lao động và tử tuất Về cơ bản Điều lệ này được thiết kế theo các chế độ BHXH trong khu vực nhà nước, điểm đặc trưng cơ bản là nguồn thu dựa trên cơ sở tiền đóng của người lao động Do sản xuất tiểu thủ công nghiệp không ổn định, người lao động đóng góp không thường xuyên, quỹ BHXH chưa được sự bảo hộ của nhà nước Tuy Điều lệ này chỉ được thực hiện trong một thời gian ngắn nhưng trong giai đoạn này được coi là văn bản gốc của pháp luật BHXH

Sau đó với sự thừa nhận và phát triển của nền kinh tế thị trường từ năm 1986 nên pháp luật về BHXH đã có sự đổi mới Giai đoạn này, các văn kiện của Đảng và nhà nước đều đề cập đến chính sách BHXH Điều 56 Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2001) ghi nhân rõ điều đó: “Nhà nước quy định… chế độ bảo hiểm xã hội đối với viên chức nhà nước và những người làm công ăn lương; khuyến khích phát triển các hình thức bảo hiểm xã hôi khác đối với người lao động” Đây chính là cơ sở pháp lý quan trọng tạo điều kiện và tiền đề cho sự đổi mới hệ thống chính sách BHXH

ở Việt Nam Trên cơ sở đó, Chính phủ ban hành Nghị định số 43/CP ngày 22/6/1993 quy định tạm thời chế độ BHXH thay thế Nghị định 218 của Chính phủ nêu trên Sau một thời gian thực hiện, trên cơ sở đúc kết kinh nghiệm và từ yêu cầu của thực tế đời sống, pháp luật BHXH được xây dựng thành một chương độc lập (Chương XII) trong

Bộ luật lao động ngày 23/6/1994 đã tạo cơ sở pháp lý cho việc đổi mới, cải cách chế

độ BHXH Để cụ thể hóa các quy định của Bộ Luật lao động, Chính phủ ban hành Nghị định số 12/CP ngày 26/01/1995 kèm theo Điều lệ BHXH; Nghị định số 19/CP ngày 16/02/1995 về việc thành lập BHXH Việt Nam Với sự sửa đổi, bổ sung Bộ luật lao động thông qua vào kỳ họp thứ 11 khóa X tháng 4 năm 2002 có hiệu lực thi hành

từ ngày 01/01/2003 trong đó có các nội dung về BHXH Theo đó Chính phủ đã ban hành Nghị định số 01/2003/NĐ-CP ngày 9/01/2003 của Chính phủ về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Điều lệ bảo hiểm xã hội ban hành kèm theo Nghị Định số 12/CP ngày 26/01/1995 được ban hành

Tiếp đó, trên cơ sở các cam kết của Chính phủ Việt Nam trong việc gia nhập WTO về chính sách an sinh xã hội cùng với những định hướng xã hội chủ nghĩa của nền kinh tế thị trường ở nước ta trong việc thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội, tiếp tục cải cách hệ thống BHXH đồng thời với những nhận thức về điều kiện kinh tế - xã hội đất nước, nhu cầu đời sống xã hội nên ngày 29/6/2006 tại kỳ họp thứ 9, Quốc hội khóa

XI nước ta đã thông qua Luật BHXH và có hiệu lực ngày 01/01/2007 (riêng đối với

Trang 20

BHXH tự nguyện có hiệu lực từ ngày 01/01/2008; Bảo hiểm thất nghiệp có hiệu lực từ ngày 01/01/2009)

1.2 QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI BẢO HIỂM XÃ HỘI

1.2.1 Khái niệm quản lý nhà nước

Để nghiên cứu khái niệm quản lý nhà nước trước hết ta cần làm rõ khái niệm

“Quản lý” đã được sử dụng hàng ngày trong cuộc sống của người dân nhưng đến nay vẩn chưa có một khái niệm thống nhất về “Quản lý” Quản lý thường được hiểu theo nhiều cách khác nhau tùy theo gốc độ tiếp nhận của người nghiên cứu

Theo quan niệm của các nhà khoa học nghiên cứu về quản lý hiện nay: “Quản

lý là sự tác động chỉ huy, điều khiển các quá trình xã hội và hành vi hoạt động của con người để chúng phát triển phù hợp với quy luật, đạt tới mục đích đã đề ra và đúng với

ý chí của người quản lý.” Theo cách hiểu này thì quản lý là việc tổ chức, chỉ đạo các hoạt động của xã hội nhằm đạt được mục đích của người quản lý, nói rõ cách thức quản lý và mục đích quản lý

Một số tác giả lại cho rằng, quản lý là công tác phối hợp có hiệu quả các hoạt động của những người cộng sự khác cùng chung một tổ chức

Theo cách hiểu chung nhất thì “Quản lý” là sự tác động có ý thức của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý là hoạt động thiết yếu nảy sinh khi con người hoạt động tập thể nhằm thực hiện các mục tiêu quản lý chung của tổ chức

Theo từ điển Hành Chính: “Quản lý nhà nước là sự tác động của nhà nước lên các quan hệ xã hội để bảo đảm cho các quan hệ xã hội phát triển theo đúng những mục tiêu đã định”.6 “Quản lý nhà nước là sự chỉ huy, điều hành xã hội để thực thi quyền lực của nhà nước; là tổng thể về thể chế, về tổ chức cán bộ của bộ máy nhà nước có trách nhiệm quản lý công việc hàng ngày của nhà nước, do các cơ quan nhà nước tiến hành bằng các văn bản quy phạm pháp luật để thực hiện các chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn mà Nhà nước đã giao cho trong việc tổ chức và điều chỉnh các quan hệ xã hội và hành vi của công dân.”7

Như vậy, quản lý nhà nước là hoạt động có tổ chức chỉ đạo và điều hành kết hợp với thanh tra, kiểm tra mang tính chất quyền lực nhà nước để điều chỉnh các quan

hệ trong các lĩnh vực xã hội Chức năng quản lý nhà nước trước hết được thực hiện bởi tất cả các cơ quan nhà nước, song có thể là các tổ chức chính trị – xã hội, đoàn thể quần chúng và nhân dân trực tiếp thực hiện nếu được cơ quan nhà nước ủy quyền, trao quyền thay mặt nhà nước tiến hành các hoạt động quản lý nhà nước nhưng phải theo quy định của pháp luật bởi pháp luật là phương tiện chủ yếu để quản lý nhà nước Quản lý nhà nước được thực hiện chức năng đối nội và đối ngoại của nhà nước

6 Tô Tử Hạ, Từ điển hành chính, Nxb Lao động – xã hội, năm 2003, tr 202

7 Viện nghiên cứu sư phạm, Quản lý hành chính nhà nước và quản lý ngành giáo dục đào tạo, Nxb Đại học sư

Trang 21

Quản lý nhà nước là dạng quản lý xã hội thực thi quyền lực nhà nước, dạng quản lý này được thực hiện trong các cơ quan nhà nước Điều 12 Hiến pháp 1992 sửa đổi, bổ sung năm 2001 có ghi: “Nhà nước quản lý xã hội theo pháp luật, không ngừng tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa.” Qua đó không chỉ thấy được công cụ quản lý nhà nước chính là pháp luật mà còn nhận thấy nhiệm vụ không ngừng hoàn thiện hệ thống pháp luật để nâng cao vai trò quản lý nhà nước

1.2.2 Khái niệm quản lý nhà nước về BHXH

Hiện nay chưa có khái niệm hay định nghĩa cụ thể về quản lý nhà nước đối với BHXH nhưng từ việc làm rõ các khái niệm có liên quan ở trên ta có thể đưa ra khái niệm và một vài đặc trưng về quản lý nhà nước đối với BHXH như sau:

Quản lý nhà nước về BHXH là sự tác động có tổ chức chỉ đạo và điều hành bằng quyền lực nhà nước đối với các hoạt động BHXH, do các cơ quan quản lý trong

bộ máy nhà nước từ trung ương đến cơ sở tiến hành để thực hiện chức năng, nhiệm vụ

do nhà nước ủy quyền trên cơ sở các văn bản quy phạm pháp luật về BHXH nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội và hành vi của công dân đối với lĩnh vực BHXH, góp phần thực hiện chính sách xã hội, phát triển đất nước

Quản lý nhà nước về BHXH là việc nhà nước thực hiện quyền lực công để điều hành, điều chỉnh toàn bộ các hoạt động BHXH trong phạm vi toàn xã hội để thực hiện mục tiêu công bằng xã hội, phục vụ lợi ích nhân dân lao động, đảm bảo sự thăng bằng

về thu nhập cho người lao động và gia đình của họ

Quản lý nhà nước về BHXH là một quá trình từ việc xây dựng, ban hành các văn bản quy phạm pháp luật về BHXH; tuyên truyền, phổ biến chế độ, chính sách pháp luật về BHXH; tổ chức thực hiện chiến lược, chế độ, chính sách về BHXH đến việc tổ chức bộ máy thực hiện cũng như thanh tra, kiểm tra việc chấp hành pháp luật

về BHXH

Trong công tác quản lý nhà nước về BHXH, công tác tổ chức chỉ đạo của các

cơ quan trong bộ máy nhà nước phải thống nhất chặt chẽ và đồng bộ Cơ cấu tổ chức phù hợp từ trung ương đế cơ sở, công tác chỉ đạo thể hiện được đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và nhà nước ta bởi BHXH ra đời là chính sách lớn được Đảng và Nhà nước ta rất quan tâm, thể hiện tinh thần đoàn kết và mang đậm tính nhân văn sâu sắc Có thể nói, công tác tổ chức, chỉ đạo đảm nhiệm chức năng quan trọng trong công tác quản lý nhà nước về BHXH để thực thi quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp, thực

tế là thực thi hành chính nhà nước đối với các hoạt động BHXH Công tác tổ chức, chỉ đạo phải định hướng ngay từ ban đầu và phải phù hợp với tình hình phát triển kinh tế của đất nước nhằm xác định rõ mục tiêu hướng tới, nhiệm vụ của các cơ quan nhà quản lý nhà nước mà hoàn thành tốt chức năng, nhiệm vụ của mình

Trang 22

Trên cơ sở tổ chức đã có được một tổ chức phù hợp hoạt động có hiệu quả thì công tác điều hành thực hiện chức năng quản lý nhà nước về BHXH do các cơ quan trong bộ máy nhà nước tiến hành Quốc hội sẽ tiến hành ban hành luật BHXH, thể hiện được tâm tư, nguyện vọng cũng như nhu cầu thiết yếu của người lao động trong giai đoạn hiện tại Từ đó, các cơ quan hành chính nhà nước dựa trên đạo luật đã ban hành thực thi quyền lực nhà nước bằng pháp luật ra các quyết định, chỉ thị trên cơ sở các văn bản quy phạm pháp luật đã ban hành nhằm thể chế hóa chủ trương, đường lối của Đảng đồng thời cụ thể hóa đạo luật đã ban hành đến với đời sống người dân Vấn đề tổ chức và điều hành để đạt được hiểu quả cao trong cộng tác quản lý nhà nước đòi hỏi phải có sự giám sát, kiểm tra của các cơ quan quản lý nhà nước về BHXH Đây cũng thể hiện sức mạnh cưỡng chế bằng quyền lực nhà nước nếu có sự vi phạm qui định pháp luật về BHXH

1.2.3 Đặc điểm và nguyên tắc quản lý nhà nước về BHXH

1.2.3.1 Đặc điểm

Từ khái niệm quản lý nhà nước nêu trên ta có thể nêu ra một số đặc điểm riêng

về quản lý nhà nước đối với BHXH như sau:

Nhà nước là chủ thể tổ chức và quản lý các hoạt động BHXH trong nền kinh tế thị trường Nền kinh tế thị trường vốn có tính phức tạp và nhạy cảm đòi hỏi sự quản lý của nhà nước mang tính quyền lực nhà nước để có thể tổ chức và điều hành có hiệu quả các hoạt động trong lĩnh vực BHXH Nhà nước không trực tiếp thực hiện mà sẽ trao quyền và ủy quyền cho các cơ quan nhà nước, các tổ chức và các cá nhân để xây dựng tổ chức và quản lý các hoạt động BHXH, thực hiện đúng sứ mệnh mà nhà nước giao cho

Quản lý nhà nước về BHXH bằng pháp luật Công cụ quản lý hàng đầu trong công tác quản lý nhà nước đối với BHXH là pháp luật mà bất kỳ công cụ nào cũng không thể thay thế Bởi pháp luật là sự cụ thể hóa đường lối chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, phản ánh lợi ích của toàn dân nên pháp luật là hành lang pháp

lý cho việc triển khai các hoạt động BHXH, việc không tuân thủ pháp luật là vi phạm trật tự, kỷ cương và sẽ bị xử lý theo quy định của pháp luật

Bộ máy thực hiện các hoạt động BHXH phải thật sự có hiệu lực và hiệu quả đồng thời cần một hệ thống pháp luật về BHXH đồng bộ và hoàn chỉnh Các cơ quan quản lý nhà nước về BHXH phải được tổ chức thống nhất từ trung ương đến cơ sở Nhà nước ra chính sách và các qui định pháp luật về BHXH như luật, các văn bản pháp luật, các công cụ cưỡng chế phù hợp với trình độ kinh tế, văn hóa, xã hội của nền kinh tế nước ta hiện tại Chính pháp luật là công cụ hữu hiệu nhất mang tính bắt buộc chung nên không thể thiếu trong công tác quản lý nhà nước đối với lĩnh vực BHXH

Trang 23

1.2.3.2 Nguyên t ắc

Qu ản lý nhà nước dưới sự lãnh đạo của Đảng

Đảng Cộng Sản Việt Nam lãnh đạo hoạt động quản lý nhà nước về BHXH bằng việc đưa ra đường lối, chủ trương, chính sách của mình về các lĩnh vực hoạt động BHXH BHXH là vấn đề quan trọng trong công tác quản lý nhà nước, cần phải có đường lối, chủ trương của tổ chức Đảng nhằm tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với lĩnh vực hoạt động BHXH Đảng đưa ra các phương hướng hoạt động cơ bản tạo

cơ sở quan trọng để các chủ thể quản lý nhà nước có thẩm quyền thể chế hóa thành các văn bản pháp luật thực hiện các hoạt động BHXH Luật BHXH là một trong những văn bản quy phạm pháp luật được cụ thể từ chính đường lối, chính sách của Đảng Trong quản lý nhà nước, Đảng còn thể hiện vai trò lãnh đạo trong công tác tổ chức cán

bộ Các tổ chức Đảng đã bồi dưỡng, đào tạo những Đảng viên ưu tú, có phẩm chất và năng lực để gánh vác những nhiệm vụ trong bộ máy hành chính nhà nước Thông qua việc kiểm tra thực hiện đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng trong hoạt động quản lý nhà nước đã đánh giá được tính hiệu quả, tính thực tế của chính sách Đảng đề

ra, trên cơ sở đó khắc phục những khiếm khuyết, phát huy những mặt tích cực trong công tác lãnh đạo

Qu ản lý nhà nước bằng pháp luật và tăng cường pháp chế

Trong quản lý nhà nước, phương tiện quan trọng để đảm bảo thực hiện có hiệu quả các hoạt động BHXH chính là pháp luật, pháp luật sẽ phát huy tác dụng nếu được thực hiện một cách nghiêm chỉnh trong công tác quản lý nhà nước Để tồn taị được, mọi thiết chế của nhà nước và xã hội phải được tổ chức trên cơ sở pháp luật Hiến pháp năm 1992, sửa đổi, bổ sung năm 2001 nước ta đã xác định: “Nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật, không ngừng tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa.”Nguyên tắc này đòi hỏi mọi tổ chức, cá nhân trong hoạt động quản lý nhà nước về BHXH đều phải dựa trên cơ sở pháp luật Mọi người phải nghiêm chỉnh chấp hành và thực hiện theo pháp luật BHXH, các cơ quan quản lý nhà nước cần phải tăng cường công tác quản lý nhằm đưa pháp luật BHXH vào đời sống người lao động Các cơ quan quản lý nhà nước về BHXH khi ban hành các quyết định quản lý hành chính nhà nước phải phù hợp với nội dung và mục đích của Luật BHXH và các văn bản có giá trị pháp lý cao hơn trong lĩnh vực BHXH Đây là nguyên tắc cơ bản và quan trọng trong công tác quản lý nhà nước, nguyên tắc này cần có sự tôn trọng các văn bản pháp luật ở những chủ thể quản lý hành chính nhà nước khi thực hiện các hoạt động BHXH; để ngăn chặn kịp thời các hành vi vi phạm pháp luật, đảm bảo pháp luật thi hành một cách nghiêm chỉnh thì phải tăng cường kiểm tra, giám sát và thanh tra việc thi hành pháp luật, phát hiện và xử lý nghiêm những hành vi vi phạm pháp luật trong quản lý hành chính nhà nước

Trang 24

Nguyên t ắc tập trung dân chủ

Nguyên tắc này là sự kết hợp hai yếu tố tập trung và dân chủ Trước hết là sự lãnh đạo tập trung đối với những vấn đề cơ bản, chính yếu nhất, phát huy tính dân chủ

sẽ khơi dậy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của mọi cá nhân, tổ chức Đó là việc nhà nước và Đảng ta không ngừng chăm lo đến cuộc sống người lao động cả về mặt vật chất và tinh thần, chính sách BHXH đã thể hiện rõ điều đó Việc thực hiện và tuân theo mệnh lệnh của cấp trên về chủ trương, đường lối, phát triển BHXH nhưng không phải là sự máy móc mà phải phát huy tính chủ động, sáng tạo trong công việc có như thế mới đảm bảo tính tập trung dân chủ đồng thời cấp trên phải thống nhất quản lý các vấn đề cơ bản, phân định rõ chức năng, nhiệm vụ cần thực hiện, chống biểu hiện tùy tiện, quan liêu trong công tác quản lý nhà nước Quản lý nhà nước về BHXH cũng tuân thủ nguyên tắc này bởi đây là một nguyên tắc quan trọng trong tổ chức và hoạt động của các cơ quan BHXH trong bộ máy nhà nước Nguyên tắc tập trung dân chủ yêu cầu các cơ quan quản lý nhà nước trong lĩnh vực BHXH phải có sự thống nhất từ trung ương đến cơ sở đồng thời phân cấp rõ ràng về trách nhiệm của các cơ quan quản

lý nhà nước về BHXH tạo điều kiện để cơ sở phát huy tính chủ động và sáng tạo

Qu ản lý nhà nước về BHXH hiệu quả, đảm bảo kịp thời và đầy đủ quyền lợi của

ng ười tham gia BHXH

Xuất phất từ bản chất nhà nước ta là của dân, do dân và vì dân, tâm tư và nguyện vọng người dân đã được Đảng và Nhà nước ta quan tâm sâu sắc Chính vì vậy, các văn bản pháp luật ban hành ra phải phù hợp với thực tế xã hội và thật sự đi vào cuộc sống người dân, thể hiện nhu cầu thiết thực và lợi ích cho họ, có như thế mới tạo được lòng tin trong nhân dân đối với chính sách BHXH nói chung và thể hiện được hiệu quả trong công tác quản lý của các cơ quan nhà nước nói riêng Chính sách BHXH ra đời tạo cơ sở vững chắc để người lao động có thể đảm bảo đầy đủ quyền lợi của mình khi tham gia vào quỹ BHXH Quản lý để đạt hiệu quả phải có quan điểm đúng đắn, biết phân tích những mặt tích cực, tiêu cực trong mọi tình huống, biết kết hợp đúng đắn lợi ích cá nhân với lợi ích tập thể và biết đặt lợi ích chung lên trên lợi ích riêng Từ đó mà các cơ quan hành chính ra các quyết định nhằm tạo điều kiện tốt nhất có lợi nhất cho nhu cầu phát triển kinh tế xã hội

1.3 VAI TRÒ VÀ Ý NGHĨA CỦA CÔNG TÁC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ BẢO HIỂM XÃ HỘI

1.3.1 Vai trò

Công tác quản lý nhà nước về BHXH có vai trò rất quan và cần thiết trong việc phát triển nền kinh tế thị trường, xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Trong điều kiện kinh tế thị trường hiện nay, cùng với sự phát triển mạnh mẽ, phức tạp của nền kinh tế nhiều thành phần và yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế đã đặt ra nhiều

Trang 25

thách thức bởi sự biến động phức tạp của thị trường dẫn đến nhiều doanh nghiệp, cơ sở sản xuất kinh doanh có nguy cơ bị phá sản Điều này mang đến sự lựa chọn, đào thải lao động dẫn đến mất việc làm và thất nghiệp của người lao động Đây cũng là nguyên nhân đưa đến cho người lao động những rủi ro ốm đau, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp ngày một gia tăng Tất cả những biến động trên sẽ tác động mạnh mẽ đến chính sách, pháp luật BHXH của nước ta Chính vì vậy, để xây dựng nhà nước của dân, do dân, vì dân, bảo vệ lợi ích hợp pháp của người lao động đòi hỏi Nhà nước ta phải tăng cường vai trò quản lý của mình hơn nữa đối với chính sách BHXH bởi chỉ có sự quản

lý chặt chẽ của các cơ quan nhà nước thì pháp luật về BHXH mới được hoàn thiện song song với việc thực hiện các hoạt động BHXH một cách nhất quán, đồng bộ và đi vào cuộc sống người lao động và gia đình của họ, tạo sự công bằng, dân chủ trong xã hội nhằm theo kịp trình độ của các nước trong khu vực và trên thế giới, đồng thời thực hiện thắng lợi chiến lược kinh tế - xã hội, mở rộng hợp tác quốc tế

1.3.2 Ý nghĩa

Quyền được hưởng chế độ BHXH là một quyền quan trọng của con người BHXH là một trong những chính sách xã hội cơ bản thể hiện đường lối, chủ trương của Đảng và nhà nước ta hướng vào mục tiêu phát triển con người, thúc đẩy công bằng

và tiến bộ xã hội Chính sách BHXH tạo cả điều kiện về vật chất và tinh thần cho người lao động, giúp họ an tâm hoàn thành công việc của mình góp phần nâng cao năng suất, chất lượng lao động Quản lý nhà nước về BHXH đã xác định rõ trách nhiệm của người sử dụng lao động và người lao động trong việc đóng góp vào quỹ BHXH và trách nhiệm của nhà nước đối với hoạt động BHXH Quản lý nhà nước về BHXH là một nhiệm vụ quan trọng của Nhà nước ta, trong mọi điều kiện của nền kinh

tế - xã hội phải luôn đảm bảo cho người lao động khi tạm thời hoặc vĩnh viễn ngưng lao động phải có đời sống ổn định Quản lý nhà nước có hiệu quả thì việc thực hiện các hoạt động BHXH càng thiết thực, BHXH mới thực sự thể hiện đúng bản chất của

nó, quản lý quỹ BHXH tập trung thống nhất tạo điều kiện để người sử dụng lao động thực hiện tốt nghĩa vụ của mình đối với người lao động, nâng cao trách nhiệm bảo đảm quyền lợi cho người lao động của cơ quan BHXH Vì vậy, quản lý nhà nước về BHXH mang nhiều ý nghĩa sâu sắc, thể hiện tinh thần đoàn kết, tương thân tương ái, một tinh thần truyền thống của dân tộc ta, không chỉ thúc đẩy nền kinh tế phát triển mà còn đảm bảo sự tiến bộ công bằng xã hội, đáp ứng những nhu cầu tất yếu và khách quan đối với nền kinh tế thị trường của nước ta hiện nay

Trang 26

CHƯƠNG 2 NHỮNG QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VÀ THỰC TIỄN QUẢN LÝ

NHÀ NƯỚC VỀ BẢO HIỂM XÃ HỘI Ở TỈNH BẾN TRE

2.1 CƠ SỞ PHÁP LÝ CỦA CÔNG TÁC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ BẢO HIỂM XÃ HỘI

2.1.1 Luật Hiến pháp Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992

được sửa đổi, bổ sung theo Nghị quyết số 51/2001/QH10 ngày 25 tháng 12 năm

2001

Luật Hiến pháp là văn bản pháp luật cơ bản, có giá trị pháp lý cao nhất trong hệ thống văn bản pháp luật của nhà nước ta Có thể nói Hiến pháp nước ta là văn bản pháp lý thể hiện một cách tập trung nhất ý chí và những lợi ích cơ bản của nhân dân lao động trên các lĩnh vực của đời sống xã hội Thông qua Hiến pháp, nhân dân thực hiện việc giao quyền cho các cơ quan nhà nước, quy định nhiệm vụ, quyền hạn của các

cơ quan nhà nước, xác định địa vị pháp lý của các tổ chức xã hội, quy chế pháp lý của các cá nhân Vì vậy, các cơ quan nhà nước, các tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội và mọi công dân nghiêm chỉnh chấp hành Hiến pháp tức là chấp hành ý chí của nhân dân

Theo Điều 56 Hiến pháp năm 1992 sửa đổi, bổ sung 2001 quy định: “Nhà nước quy định thời gian lao động, chế độ tiền lương, chế độ nghỉ ngơi và chế độ BHXH đối với viên chức nhà nước và những người làm công ăn lương; khuyến khích phát triển các hình thức BHXH khác đối với người lao động” Như vậy, Nhà nước ta đã quy định chế độ BHXH, khuyến khích sự tham gia và phát triển các hình thức BHXH dành cho người lao động, qua đó ta thấy Nhà nước đã nắm bắt được tâm tư, nguyện vọng nên thể hiện ý chí, lợi ích của nhân dân, quan tâm sâu sắc đối với người lao động không chỉ ở chế độ tiền lương, nghỉ ngơi mà khi người lao động gặp khó khăn, mất thu nhập lao động còn được hưởng chế độ BHXH hợp lý Quản lý nhà nước về BHXH xuất phát từ chức năng xã hội, chức năng quản lý xã hội của nhà nước ta Nhà nước định ra các chính sách và các quy định pháp luật về BHXH, xác định các loại chế độ BHXH phù hợp với các đối tượng khác nhau, phù hợp với trình độ kinh tế, văn hóa, xã hội từng thời kỳ của đất nước

Hiến pháp quy định trách nhiệm của Nhà nước trong việc khuyến khích người lao động tham gia các hình thức BHXH nhằm tạo điều kiện để các hình thức này phát triển, điều này giúp cho người lao động có nhiều hình thức BHXH tham gia khi đủ điều kiện theo quy định pháp luật để hưởng những chế độ giúp đỡ của xã hội mà trong

đó có sự đóng góp của Nhà nước Hiến pháp năm 1992 sửa đổi, bổ sung năm 2001 là

cơ sở pháp lý cao nhất trong hệ thống các văn bản pháp luật Dựa trên cơ sở văn bản pháp luật cao nhất các cơ quan quản lý nhà nước sẽ ban hành các văn bản pháp luật cụ

Trang 27

thể nhằm điều chỉnh các vấn đề về lĩnh vực BHXH phối hợp với các cơ chế bảo đảm

xã hội khác nhau, tổ chức bộ máy thực hiện thống nhất từ trung ương đến địa phương

2.1.2 Luật BHXH ngày 12 tháng 7 năm 2006

Luật BHXH đã được Quốc Hội khóa XI, kỳ họp thứ 9 thông qua ngày 29 tháng

6 năm 2006 và có hiệu lực ngày 01 tháng 01 năm 2007, riêng đối với BHXH tự nguyện thì có hiệu lực từ ngày 01 tháng 01 năm 2009 Luật BHXH gồm XI Chương với 141 Điều Luật BHXH ra đời góp phần hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đồng thời nâng cao vai trò quản lý nhà nước về BHXH Việc xây dựng Luật BHXH dựa trên cơ sở kế thừa và phát huy những thành tựu lập pháp đã đạt được cũng như điều chỉnh các quan hệ mới theo điều kiện thực tế, BHXH đã trở thành lĩnh vực dịch

vụ xã hội phát triển, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước Luật BHXH năm 2006 quy định các chế độ của BHXH bắt buộc, BHXH tự nguyện, BHXH thất nghiệp Các loại BHXH có vai trò quan trọng trong cuộc sống của người lao động

Luật BHXH năm 2006 đi vào cuộc sống người dân, tác động tích cực đến các hoạt động văn hóa, xã hội, Luật BHXH đã thể hiện được sự quan tâm của Đảng và Chính phủ ta đối với chính sách BHXH một cách có tính nhân văn sâu sắc, luôn có những chính sách, biện pháp tốt để tạo điều kiện thuận lợi khuyến khích người lao động tham gia BHXH Ở Điều 6, Điều 9 Luật BHXH năm 2006 đã khẳng định được điều đó: “Nhà nước khuyến khích và tạo điều kiện để cơ quan, tổ chức, cá nhân tham gia BHXH; Nhà nước ta cũng có chính sách ưu tiên đầu tư quỹ BHXH và áp dụng nhiều biện pháp để tăng trưởng và bảo hộ quỹ đồng thời Nhà nước ta cũng khuyến khích phát triển công nghệ và phương tiện kỹ thuật tiên tiến để bảo đảm áp dụng phương pháp quản lý nhà nước BHXH hiện đại.”

Luật BHXH có hiệu lực đã nêu được mục tiêu, yêu cầu quan trọng trong công tác quản lý nhà nước về BHXH như nâng cao nhận thức của nhân dân lao động về quyền lợi và trách nhiệm trong việc thực hiện, phát triển hoạt động BHXH, mở rộng đối tượng tham gia, chấp hành nghiêm chỉnh những quy định pháp luật về BHXH đồng thời đảm bảo cho người dân được bình đẳng về quyền lợi và nghĩa vụ trong việc tham gia và thụ hưởng BHXH Có thể nói, Luật BHXH ra đời thật sự là thành quả vượt bậc trong việc thể chế hóa chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng Luật BHXH là kết quả của một quá trình phát triển, trải nghiệm lâu dài của thực tiễn hoạt động và hệ thống pháp luật về BHXH

Công tác quản lý nhà nước về BHXH được Luật BHXH đề cập trong Chương I tập trung từ Điều 6 đến Điều 10 cụ thể quy định về nội dung quản lý nhà nước và cơ quan quản lý nhà nước về BHXH, chính sách của nhà nước ta đối với BHXH và việc hiện đại hóa quản lý BHXH cũng như công tác thanh tra việc chấp hành pháp luật BHXH Từ đó, ta thấy Luật BHXH ra đời là một chủ trương sáng suốt của Đảng, phù

Trang 28

hợp với tình hình phát triển kinh tế – xã hội của đất nước trên cơ sở kinh nghiệm của một quá trình lâu dài thực hiện chính sách BHXH Luật BHXH đã tác động tích cực vào đời sống xã hội, mở ra giai đoạn phát triển cho hoạt động BHXH và toàn bộ hệ thống An sinh xã hội của đất nước ta

2.1.3 Nghị định số 152/2006/NĐ-CP ngày 22 tháng 12 năm 2006 hướng dẫn một số điều của Luật BHXH về BHXH bắt buộc

Nghị định này hướng dẫn một số điều của Luật BHXH về BHXH bắt buộc đối với cán bộ, công chức, viên chức và người lao động Việt Nam làm việc theo hợp đồng lao động Nghị định này dựa trên cơ sở Luật BHXH ngày 12/7/2006 nhằm chi tiết hóa các vấn đề về BHXH bắt buộc mà Luật đã đề ra, Nghị định gồm VI Chương, 61 Điều quy định các vấn đề liên quan đến BHXH bắt buộc, một loại hình BHXH Thông qua Nghị định này giúp ta hiểu rõ hơn về những quy định của BHXH bắt buộc bởi Nghị định đã có sự cụ thể hóa những quy định của Luật BHXH về đối tượng tham gia, mức đóng, thời gian hưởng các chế độ ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, chế độ hưu trí, chế độ tử tuất Nghị định cũng giúp ta hiểu rõ hơn về phương thức đóng, sử dụng và quản lý quỹ BHXH, thực hiện BHXH và trách nhiệm của các

cơ quan quản lý nhà nước về BHXH

Từ những quy định chi tiết của Nghị định 152/2006/NĐ-CP đã góp phần cho công tác quản lý nhà nước về BHXH đặc biệt hơn là quản lý nhà nước về BHXH bắt buộc được thực thi một cách có hiệu quả, thực hiện đúng theo các chế độ BHXH bắt buộc mà Đảng và Nhà nước ta đã đề ra Nghị định này cũng là nguồn cung cấp sự hiểu biết sâu rộng hơn cho người lao động để họ thực hiện đúng theo tinh thần của pháp luật đồng thời nắm được quyền lợi và nghĩa vụ khi tham gia BHXH, người sử dụng lao động cũng phần nào hiểu rõ hơn về trách nhiệm và quyền lợi mình khi đóng BHXH cho người lao động

2.1.4 Nghị định số 86/2010/NĐ-CP ngày 13 tháng 08 năm 2010 quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực BHXH

Nghị định 86/2010/NĐ-CP có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01 tháng 10 năm

2010 và thay thế Nghị định 135 ngày 16 tháng 8 năm 2007 của Chính phủ quy định về

xử phạt hành chính trong lĩnh vực BHXH Nghị định này quy định về các hành vi hành chính, hình thức xử phạt, mức xử phạt, thẩm quyền, thủ tục xử phạt và biện pháp khắc phục hậu quả đối với hành vi vi phạm pháp luật về BHXH Nghị định này không áp dụng đối với hành vi vi phạm pháp luật về bảo hiểm y tế, bảo hiểm tiền gửi và các loại bảo hiểm mang tính kinh doanh Nghị định này gồm IV Chương 54 Điều góp phần cho công tác quản lý nhà nước về BHXH được thi hành, thực hiện đúng theo đường lối, chủ trương của Đảng và Nhà nước ta đồng thời theo nguyên tắc pháp chế, quản lý nhà nước bằng pháp luật

Trang 29

Nghị định 86/2010/NĐ-CP đã đưa ra các hành vi vi phạm pháp luật về đóng BHXH, về thủ tục thực hiện BHXH, về sử dụng tiền đóng và quỹ BHXH, về lập hồ sơ

để hưởng chế độ BHXH, các nguyên tắc xử phạt các hành vi vi phạm pháp luật về BHXH; các hình thức xử phạt và biện pháp khắc phục hậu quả, trong đó có hai hình thức xử phạt là xử phạt chính gồm có cảnh cáo và phạt tiền, mức phạt tiền tối đa là 30 triệu đồng, hình thức phạt bổ sung Tùy theo từng mức độ vi phạm mà tương ứng với hình thức xử phạt khác nhau, Nghị định dựa trên những hành vi vi phạm thực tế trong lĩnh vực BHXH mà đưa ra mức độ xử phạt tương ứng Từ việc đưa ra các hình thức và mức độ xử phạt vi phạm hành chính sẽ giúp cho việc giáo dục và răn đe mọi người thực hiện nghiêm chỉnh pháp luật về BHXH từ cơ quan quản lý nhà nước đến đối tượng tham gia BHXH, tất cả phải nghiêm túc chấp hành pháp luật Từ đó, tạo điều kiện vững chắc cho cơ quan quản lý nhà nước thực hiện tốt trách nhiệm, quyền hạn của mình Cơ quan thanh tra, kiểm tra xử phạt có cơ sở pháp lý để hoàn thành nhiệm

vụ được giao, người lao động và người sử dụng lao động tự giác hơn trong việc tham gia BHXH, tránh tình trạng chậm đóng, nợ đóng gây thất thu quỹ BHXH

2.1.5 Nghị định 190/2007/NĐ-CP ngày 28 tháng 12 năm 2007 hướng dẫn một

số điều của Luật BHXH về BH tự nguyện

Các quy định của Nghị định 190/2007/NĐ-CP được thực hiện từ ngày 01 tháng

01 năm 2008 góp phần cho công tác quản lý nhà nước về BHXH tự nguyện được thi hành, thực hiện đúng theo kế hoạch, chủ trương đã đề ta, thực hiện đúng mục đích quản lý nhà nước Nghị định dựa trên cơ sở Luật BHXH ngày 12/7/2006 ban hành nhằm chi tiết hóa các vấn đề mà Luật đã đề ra Nghị định gồm VI Chương, 43 Điều, hướng dẫn một số điều của Luật BHXH về đối tượng áp dụng; quyền và trách nhiệm của các bên tham gia BHXH tự nguyện, các chế độ BHXH tự nguyện gồm chế độ tử tuất và chế độ hưu trí; quỹ BHXH tự nguyện; thủ tục thực hiện BHXH tự nguyện; khiếu nại, tố cáo về BHXH tự nguyện và quản lý nhà nước về BHXH tự nguyện

Việc cụ thể hóa và chi tiết hóa những quy định pháp luật về loại hình BHXH tự nguyện, một loại hình BHXH giúp cho công tác quản lý nhà nước được dễ dàng, thuận lợi hơn đồng thời giúp cho cơ quan quản lý nhà nước thực hiện đầy đủ chức năng, nhiệm vụ của mình và chấp hành pháp luật của người tham gia BHXH Nghị định này cũng giúp người dân có ý thức tự giác tham gia BHXH tự nguyện vì quyền lợi của mình mà không có sự bắt buộc, đòi hỏi một tinh thần tự nguyện

2.1.6 Nghị định 127/2008/NĐ-CP ngày 12 tháng 12 năm 2008 quy định chi tiết

và hướng dẫn thi hành một số điều của luật BHXH về BH thất nghiệp và Nghị

định 100/2012/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 127/2008

Nghị định 127/2008/NĐ-CP có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 01 năm 2008 gồm VII Chương 44 Điều hướng dẫn một số điều của Luật BHXH về đối tượng và

Trang 30

phạm vi áp dụng; quyền và trách nhiệm của các bên tham gia BHTN; các chế độ BHTN; quỹ BHTN; thủ tục thực hiện BHTN; khiếu nại, tố cáo về BHTN Nghị định 100/2012/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 15 tháng 01 năm 2013 đã có những quy định về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 127/2008 nhằm sửa đổi những quy định không còn phù hợp và bổ sung thêm những quy định mới giúp cho công tác quản

lý nhà nước về BHXH được cụ thể và chi tiết hơn Cả hai nghị định này đều dựa trên

cơ sở Luật BHXH ngày 12/7/2006 quy định những vấn đề về BHXH và đặc biệt là sự chú trọng đến các điều luật quy định về BHTN, một loại hình trong BHXH

Nghị định này giúp ta hiểu rõ hơn về pháp luật BH thất nghiệp bởi sự cụ thể hóa từ những điều luật quy định trong Luật BHXH Những quy định chi tiết về công tác quản lý nhà nước về BHXH tập trung ở Điều 4 của Nghị định 127/2008 đã giúp nhận biết cụ thể về các cơ quan quản lý nhà nước về BHTN cũng như trách nhiệm và quyền hạn của những cơ quan này Từ đó góp phần cho công tác quản lý nhà nước về BHXH thực thi có hiệu quả cao đồng thời cũng tạo điều kiện cho sự hiểu biết về những chế độ có trong BHTN được chi tiết hơn, quyền lợi của người lao động khi tham gia BHTN, tạo điều kiện tốt cho việc mở rộng phạm vi đối tượng tham gia BHXH trong những năm tiếp theo

2.2 NỘI DUNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ BẢO HIỂM XÃ HỘI

2.2.1 Xây dựng và tổ chức thực hiện chiến lược, chế độ, chính sách BHXH

Xây dựng và tổ chức thực hiện chiến lược, chế độ, chính sách BHXH có ảnh hưởng to lớn trong hệ thống An sinh xã hội bởi chính sách BHXH là chính sách lớn của Đảng và Nhà nước ta, thực hiện tốt chiến lược, các chế độ BHXH góp phần ổn định đời sống của nhân dân, thực hiện công bằng xã hội và ổn định chính trị – xã hội

Để đáp ứng yêu cầu thực tế hiện nay, khắc phục những hạn chế của pháp luật BHXH, đồng thời nhằm pháp điển hóa các quy định hiện hành và bổ sung chính sách BHXH cho phù hợp với quá trình chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, đáp ứng nguyện vọng đông đảo người lao đông, bảo đảm an sinh xã hội và hội nhập quốc tế, việc xây dựng và thực hiện chiến lược, chế độ, chính sách BHXH là một yêu cầu khách quan và rất bức thiết Xây dựng chiến lược, chế độ, chính sách BHXH phải dựa trên nguyên tắc BHXH:8

- Mức hưởng BHXH được tính trên cơ sở mức đóng, thời gian đóng BHXH và

có sự chia sẻ giữa những người tham gia BHXH

- Mức đóng BHXH bắt buộc, BH thất nghiệp được tính trên cơ sở tiền lương, tiền công của người lao động Mức đóng BHXH tự nguyện được tính trên cơ sở mức thu nhập do người lao động lựa chọn nhưng mức thu nhập này không thấp hơn mức lương tối thiểu chung

Trang 31

- Người lao động vừa có thời gian đóng BHXH bắt buộc vừa có thời gian đóng BHXH tự nguyện được hưởng chế độ hưu trí và chế độ tử tuất trên cơ sở thời gian đã đóng BHXH

- Quỹ BHXH được quản lý thống nhất, dân chủ, công khai, minh bạch, được sử dụng đúng mục đích, được hoạch toán độc lập theo các quỹ thành phần của BHXH bắt buộc, BHXH tự nguyện và BH thất nghiệp

- Việc thực hiện BHXH phải đơn giản, dễ dàng, thuận tiện, bảo đảm kịp thời và đầy đủ quyền lợi của người tham gia BHXH

Để công tác hoạt động BHXH có hiệu quả thì phải xác định được nội dung quan trọng của Luật BHXH Luật BHXH năm 2006 cho ta thấy nội dung quan trọng nhất là các chế độ trợ cấp BHXH Tùy theo điều kiện của từng nước mà sẽ có những chế độ trợ cấp phù hợp, theo công ước Quốc tế 102 ngày 26 tháng 8 năm 1952 của tổ chức Lao động quốc tế quy định chung các dạng trợ cấp như: “Chăm sóc y tế, trợ cấp ốm đau, trợ cấp thai sản, trợ cấp thất nghiệp, trợ cấp tử tuất, trợ cấp gia đình, trợ cấp tai nạn lao động, trợ cấp tàn tật, trợ cấp tuổi già.” Theo điều kiện tình hình kinh tế xã hội nước ta hiện nay thì nước ta đã xây dựng và tổ chức thực hiện 5 loại trợ cấp BHXH như sau9:

- Đối với BHXH bắt buộc bao gồm các chế độ: ốm đau; thai sản; tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp; hưu trí; tử tuất

- Đối với BHXH tự nguyện bao gồm 2 chế độ là hưu trí và tử tuất

- Riêng đối với bảo hiểm thất nghiệp có các chế độ như: trợ cấp thất nghiệp; hỗ trợ học nghề; hỗ trợ tìm việc làm

Tổ chức thực hiện chế độ, chính sách BHXH đối với người lao động là các hoạt động chi trả các chế độ cho người lao động tham gia BHXH khi họ gặp các sự cố trong lao động hoặc do tuổi già, tử tuất Đây là hoạt động đưa lại quyền lợi cho người lao động Vì vậy, để bảo vệ lợi ích hợp pháp cho mọi người lao động tham gia BHXH thì công tác thực hiện chi trả các chế độ, chính sách như đã quy định ở trên đối với người lao động cần được thực hiện nghiêm túc nhằm bảo đảm chi trả đúng đối tượng

2.2.2 Công tác ban hành và tổ chức thực hiện văn bản quy phạm pháp luật về BHXH

Trước khi có sự ra đời của Luật BHXH thông qua vào ngày 29 tháng 6 năm

2006 tại kỳ họp lần thứ 9 thì đã có việc ban hành hàng loạt các văn bản pháp luật về lĩnh vực BHXH Qua từng giai đoạn thăng trầm khác nhau của đất nước, Đảng và Nhà nước ta luôn chú trọng tới lĩnh vực BHXH dành cho người lao động Nhiều văn bản quy phạm pháp luật về lĩnh vực BHXH đang được soạn thảo, ban hành, bổ sung nhằm điều chỉnh kịp thời các hoạt động BHXH phát sinh từ nền kinh tế thị trường Những

Trang 32

văn bản quy phạm pháp luật qua từng thời kỳ lịch sử, cái sau có giá trị và đầy đủ hơn những văn bản pháp luật trước bởi có sự bổ sung, sửa đổi cho hoàn chỉnh Chính điều này cho thấy tính nhất quán trong sự nghiệp bảo vệ và chăm lo cho cuộc sống người lao động của Đảng và Nhà nước ta

Công tác ban hành và tổ chức thực hiện văn bản quy phạm pháp luật là một quá trình có ý nghĩa quan trọng không chỉ riêng ở lĩnh vực nào cả mà đối với tất cả lĩnh vực kinh tế – xã hội BHXH là một chính sách lớn được sự quan tâm sâu sắc của Đảng

và Nhà nước ta, vì vậy quá trình thể chế chính sách BHXH là một quá trình không thể thiếu Trước khi thực hiện văn bản luật thì đòi hỏi cần phải có công tác ban hành ra luật để thực hiện và để có văn bản thực hiện thì không thể không có chủ trương, đường lối của Đảng chỉ đạo Chính vì thế, quá trình thể chế hóa đường lối, chủ trương của Đảng để xây dựng chính sách BHXH nhất thiết phải trải qua các bước như sau:

Trước tiên, Đảng ta phải ban hành chủ trương, đường lối, chính sách về lĩnh vực BHXH thông qua những Nghị quyết, Chỉ thị của Đảng qua từng giai đoạn phát triển kinh tế – xã hội hay nói cách khác là theo từng thời kỳ phát triển xã hội, Đảng ta nắm vững những nhu cầu tất yếu của người dân để có thể đưa ra đường lối, chủ trương

cho phù hợp Sau đó, Nhà nước mà đại diện là Quốc hội, cơ quan quyền lực cao nhất,

Ủy ban thường vụ Quốc hội, Chủ Tịch Nước sẽ thể chế hóa những chủ trương, đường lối và chính sách của Đảng về lĩnh vực BHXH bằng các văn bản quy phạm pháp luật, đặc biệt là Luật BHXH năm 2006 được Nhà nước chú trọng nhằm quản lý hoạt động BHXH Chính phủ và Thủ tướng Chính phủ sau đó cũng ban hành các văn bản pháp quy như Nghị định, Quyết định quy định cụ thể hơn và hướng dẫn việc thi hành các văn bản quy phạm pháp luật như Luật, pháp lệnh của Nhà nước về BHXH Từ những văn bản quy phạm pháp luật và những văn bản pháp quy đã ban hành, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ ban hành các Thông tư là văn bản dùng để thi hành Luật BHXH, Pháp lệnh của Nhà nước, các văn bản của Chính phủ và Thủ tướng Chính phủ Ngoài ra HĐND có thề ban hành Nghị quyết, UBND ban hành Quyết định, Chỉ thị có hiệu lực pháp lý trên địa bàn thuộc thẩm quyền mình quản lý nhưng phải đảm bảo tuân thủ các quy định của văn bản quy phạm pháp luật cấp trên

Đó là một quá trình để ban hành và thực hiện văn bản quy phạm pháp luật, một quá trình xây dựng thể chế về BHXH có vai trò to lớn trong công tác quản lý nhà nước

về BHXH đòi hỏi sự quan tâm của Đảng, Nhà nước và sự quản lý, lãnh đạo có năng lực của các cơ quan có thẩm quyền trong bộ máy nhà nước góp phần nâng cao nhận thức của người dân vào sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng vào chính sách Nhà nước ta đưa ra Từ đó, công tác ban hành luật sẽ theo một chuẩn mực nhất định và khi các văn bản quy phạm pháp luật ra đời sẽ nhận được sự hưởng ứng tích cực của nhân dân cùng với sự quản lý chặt chẽ của các cơ quan nhà nước

Trang 33

2.2.3 Công tác tuyên truyền, phổ biến chế độ, chính sách, pháp luật về BHXH

Đi đôi với công tác xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật thì việc tuyên truyền, phổ biến chế độ, chính sách, pháp luật về BHXH có vai trò tích cực trong việc bảo vệ quyền và lợi ích cho người lao động, có ý nghĩa quan trọng trong tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật Một trong những nhiệm vụ và giải pháp của Bộ Chính trị đưa ra trong Nghị quyết số 21- NQ/TW nhằm tăng cường công tác tuyên truyền, phổ biến và giáo dục pháp luật BHXH là: “Tăng cường lãnh đạo công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật, chính sách, chế độ về BHXH, để cán bộ, đảng viên và nhân dân thấy rõ vai trò, ý nghĩa của BHXH trong hệ thống An sinh xã hội; quyền lợi và nghĩa vụ của người dân khi tham gia BHXH.”10 Nhiệm vụ cơ bản của công tác tuyên truyền, phổ biến chế độ, chính sách, pháp luật về BHXH là làm cho mọi người dân hiểu biết pháp luật về BHXH, giáo dục để người dân hiểu đúng và làm theo pháp luật Công tác tuyên truyền, phổ biến chế độ, chính sách, pháp luật về BHXH được phát huy mạnh mẽ qua từng giai đoạn của đất nước thông qua các kỳ Đại hội VIII, IX, X của Đảng và đặc biệt là ở văn kiện Đại hội Đảng Khóa VIII đã khẳng định: “Triển khai mạnh mẽ công tác tuyên truyền và giáo dục pháp luật; huy động lực lượng của các đoàn thể chính trị, xã hội, nghề nghiệp, các phương tiện thông tin đại chúng tham gia vào các đợt vận động thiết lập trật tự kỷ cương và các hoạt động thường xuyên xây dựng nếp sống và làm việc theo pháp luật trong các cơ quan nhà nước và trong xã hội.”

Yêu cầu xuyên suốt trong quá trình triển khai là mọi người phải hiểu đúng các quy định của pháp luật về BHXH để từ đó vận dụng một cách thống nhất, nhưng để hiểu đúng pháp luật đòi hỏi cần phải tăng cường công tác giải thích luật BHXH và các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan, làm cơ sở cho công tác tuyên truyền, phổ biến và giáo dục pháp luật Việc xây dựng một văn bản quy phạm pháp luật là một quá trình nên việc phổ biến pháp luật cũng cần nhiều thời gian và kế hoạch cụ thể để việc thực hiện pháp luật đạt được hiệu quả lâu dài

Hiện nay có nhiều hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật cần vận dụng một cách phù hợp theo tâm lý, nhận thức và trình độ của mỗi người để đạt hiệu quả như: phổ biến, giáo dục một cách trực tiếp, thông qua kênh thông tin mạng lưới truyền thanh, các loại hình báo chí, biên soạn và phát hành các loại tài liệu về BHXH, giáo dục về tìm hiểu pháp luật về BHXH trong nhà trường để học sinh, sinh viên nhận thức hoặc thông qua tổ chức công đoàn phổ biến cho người lao động Công tác tuyên truyền, phổ biến chế độ, chính sách, pháp luật về BHXH nhằm mục đích cốt yếu là để các cơ quan nhà nước, các tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội và mọi công dân hiểu biết

10 Khoản 1 mục 4 Nghị quyết số 21-NQ/TW của Bộ Chính trị về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công

Trang 34

đầy đủ thông tin về lĩnh vực hoạt động để có hành vi xử sự cho đúng pháp luật, là cơ

sở để Nhà nước quản lý có hiệu quả hoạt động BHXH Công tác ban hành văn bản quy phạm pháp luật và việc tuyên truyền, phổ biến chế độ, chính sách, pháp luật về BHXH phải đi đôi với nhau Khi đã ban hành Luật thì phải có công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật, có như vậy mới đạt hiệu quả cao cho mục tiêu bảo vệ quyền lợi người lao động, đảm bảo an sinh xã hội Có Luật thì phải có sự am hiểu thật sự mới có thể áp dụng thực hiện tốt pháp luật, tăng cường sự quản lý nhà nước một cách chặt chẽ, đồng

bộ hơn Chính vì vậy, các cơ quan nhà nước và các tổ chức BHXH có trách nhiệm:

“Tuyên truyền, phổ biến chế độ, chính sách, pháp luật về BHXH; hướng dẫn thủ tục thực hiện chế độ BHXH đối với người lao động, người sử dụng lao động thuộc đối tượng tham gia BHXH.”11

2.2.4 Thực hiện công tác thống kê, thông tin về BHXH

Công tác thống kê, thông tin về BHXH rất quan trọng mang tính chất khái quát tổng hợp, giúp cơ quan nhà nước thống kê được số lượng những người tham gia BHXH, số người chậm đóng, nợ đóng BHXH, tình hình thu – chi quỹ BHXH cũng như tình hình các đối tượng được giải quyết chế độ BHXH để có kế hoạch quản lý thích hợp đồng thời phát huy những mặt tích cực và có phương hướng khắc phục nhằm điều chỉnh kịp thời các hoạt động BHXH Cụ thể, tại Hội nghị trực tuyến tổng kết công tác năm 2012 triển khai nhiệm vụ năm 2013 của ngành BHXH Việt Nam tổ chức ngày 22/01/2013, BHXH Việt Nam đã có sự tổng kết chung về sự hoàn thành thắng lợi các chỉ tiêu, nhiệm vụ đươc giao như sau: “Đối tượng tham gia BHXH ngày càng tăng, năm sau cao hơn năm trước, năm 2012 số người tham gia BHXH 13.857.680 người; Việc giải quyết chính sách có nhiều tiến bộ, năm 2012 toàn Ngành giải quyết cho 6.362.923 lượt người hưởng chế độ BHXH, tăng 588.247 lượt người (10,2%) so với năm 2011.”12

Công tác thống kê, thông tin về BHXH được quy định trong nhiệm vụ quyền hạn của các cơ quan quản lý nhà nước về lĩnh vực BHXH, trong đó Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực hiện quản lý nhà nước

về BHXH với nhiệm vụ: “Chủ trì, phối hợp với các Bộ, ngành thực hiện công tác thống kê, thông tin; tuyên truyền, phổ biến chế độ, chính sách, pháp luật về BHXH.”13

Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội “Quy định chế độ thông tin, báo cáo về

11

Khoản 1 Điều 20 Luật BHXH ngày 29 tháng 6 năm 2006

12 Trang tin điện tử: Bảo hiểm xã hội tỉnh Cao Bằng, Năm 2012: BHXH Việt Nam hoàn thành thắng lợi các chỉ tiêu, nhi ệm vụ được giao, http://bhxhcaobang.gov.vn/nam-2012-bhxh-viet-nam-hoan-thanh-thang-loi-cac-chi- tieu-nhiem-vu-duoc-giao.html , [ truy cập ngày 02-03-2013]

13 Điểm b khoản 2 Điều 5 Nghị Định 152/2006/NĐ-CP hướng dẫn một só điều của Luật BHXH về BHXH bắt

Trang 35

BHXH”14; Sở Lao động – Thương binh và Xã hội thực hiện công tác tổng hợp, thống

kê, thông tin, báo cáo định kỳ và đột xuất về tình hình thực hiên nhiệm vụ được giao theo quy định của UBND cấp tỉnh và Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội; “Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội thực hiện chế độ thông tin, báo cáo định kỳ và đột xuất về tình hình thực hiện nhiệm vụ được giao theo quy định của UBND cấp huyện

và Sở Lao động – Thương binh và Xã hội.”15 Chủ tịch UBND cấp tỉnh chỉ đạo Sở Lao động – Thương binh và Xã hội thực hiện tốt công tác quản lý nhà nước về BHXH bằng việc tổ chức thống kê tình hình thực hiện BHXH, sau đó trình lên Chủ tịch UBND cấp tỉnh phê duyệt

Việc thống kê, thông tin về BHXH ở địa phương thường được thực hiện hàng năm, theo sự chỉ đạo của Chủ tịch UBND cấp tỉnh nhằm đánh giá sát tình hình thực tế công tác thực hiện nhiệm vụ chính sách BHXH được giao Chủ tịch UBND cấp tỉnh hàng năm tổng hợp báo cáo của Sở Lao động – Thương binh và Xã hội, các cơ quan khác có liên quan đến BHXH để tổng kết công tác quản lý nhà nước về BHXH trên địa bàn mình quản lý, sau đó báo cáo lên BHXH Việt Nam từ đó BHXH Việt Nam sẽ

“Báo cáo định kỳ 6 tháng một lần và báo cáo đột xuất vối Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội về tình hình thực hiện chế độ, chính sách BHXH; tình hình thu, chi và quản lý, sử dụng các quỹ BHXH Từ việc thống kê, thông tin về BHXH các cơ quan chức năng sẽ tiến hành các chủ trương, chính sách phù hợp với yêu cầu thực tế hơn, theo sát tình hình thực hiện chế độ, chính sách BHXH, từ đó có thể điều chỉnh các chính sách, chủ trương cho phù hợp với hoàn cảnh thực tế

2.2.5 Tổ chức bộ máy thực hiện BHXH; đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực làm công tác BHXH

Hoạt động BHXH cũng như bất kỳ hoạt động nào khác đều cần có đội ngũ cán

bộ bởi “Con người là trung tâm của chiến lược phát triển, đồng thời là chủ thể phát triển.”16 Từ đó, cho thấy việc xây dựng đội ngũ cán bộ làm công tác BHXH là một hoạt động cần thiết trong thực tế hiện nay Tổ chức bộ máy thực hiện BHXH là một nhân tố hết sức quan trọng quyết định hiệu quả trong công việc thực hiện nhiệm vụ chính của ngành BHXH Vì vậy, hệ thống BHXH rất chú trọng đến việc tổ chức bộ máy, cơ cấu phòng ban chức năng, nhiệm vụ và nhân sự từ trung ương đến BHXH huyện, thị xã Bộ máy BHXH được tổ chức từ trung ương đến địa phương, BHXH

16 Trích Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa (bổ sung, phát triển năm 2011), văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng Cộng Sản Việt Nam, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, năm

Trang 36

Việt Nam được tổ chức và quản lý theo hệ thống dọc, tập trung, thống nhất từ Trung ương đến địa phương, gồm có:17

- Ở Trung ương là BHXH Việt Nam

- Ở tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương là BHXH tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương trực thuộc BHXH Việt Nam

- Ở huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh là BHXH huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh trực thuộc BHXH tỉnh

Cùng với sự phát triển của xã hội thì bất kỳ bộ máy tổ chức ở lĩnh vực nào cũng phải luôn được hoàn thiện, đáp ứng với nhu cầu phát triển thực tế của đất nước, tổ chức bộ máy thực hiện BHXH là việc làm không thể thiếu, chiếm một vị trí quan trọng trong công tác quản lý nhà nước đối với hoạt động BHXH Nhận thức được vai trò quan trọng của con người đối với sự phát triển kinh tế xã hội của đất nước, trong nhưng năm gần đây công tác đào tạo và phát triển nguồn nhân lực đó được Đảng và Nhà nước ta quan tâm đúng mức Quán triệt quan điểm của Đảng và Nhà nước về xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức trong quá trình đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế, Tổng Giám Đốc BHXH Việt Nam đã phê duyệt quy hoạch phát triển nhân lực ngành BHXH giai đoạn 2011-2020 như sau:18

- Phát triển nhân lực ngành BHXH là nội dung trọng tâm trong chiến lược phát triển của ngành BHXH đến năm 2020, phát triển nhân lực phải gắn với đào tạo, coi đầu tư cho đào tạo là đầu tư cho phát triển, huy động toàn xã hội tham gia và tối đa hóa các nguồn lực có thể dành cho phát triển nhân lực ngành BHXH

- Phát triển nhân lực ngành BHXH là nhiệm vụ của các cấp, các ngành và toàn

xã hội, có tính chiến lược lâu dài; đồng thời là nhiệm vụ thường xuyên, liên tục có trọng tâm, trọng điểm nhằm đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ của ngành BHXH ở từng thời

kỳ, đảm bảo nhu cầu về số lượng, chất lượng và cơ cấu đội ngũ cán bộ của từng vùng, miền, địa phương trong toàn quốc

- Phát triển, đào tạo nhân lực ngành BHXH phải đảm bảo gắn liền với việc bố trí, sử dụng nhằm phát huy đầy đủ năng lực, phẩm chất của cán bộ, công chức, viên chức; là nội dung quan trọng nhất và gắn kết với phát triển con người, góp phần thực hiện những mục tiêu phát triển con người

Tổng Giám Đốc BHXH Việt Nam cũng đạt ra mục tiêu phát triển nguồn nhân lực ngành Bảo hiểm xã hội giai đoạn 2011-2020 như sau:19

17

Điều 6 Nghị Định 94/2008/NĐ – CP ngày 22 tháng 08 năm 2008 cùa Chính phủ quy định chức năng, nhiệm

vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của BHXH Việt Nam

18 Điểm b Khoản 1 Điều 1 Quyết định số 445/QĐ-BHXH của Tổng Giám Đốc BHXH Việt Nam phê duyệt quy hoạch phát triển nhân lưc ngành BHXH giai đoạn 2011-2020

19 Điểm a Khoản 1 Điều 1 Quyết định số 445/QĐ-BHXH của Tổng Giám Đốc BHXH Việt Nam phê duyệt quy

Trang 37

- Phát triển nguồn nhân lực ngành BHXH đủ về số lượng, đảm bảo về chất lượng, có cơ cấu hợp lý, đáp ứng yêu cầu thực tiễn và chiến lược phát triển ngành BHXH giai đoạn 2011-2020;

- Phát triển nhân lực ngành BHXH bảo đảm phát huy tối đa thế mạnh của từng

cơ quan, đơn vị và địa phương; phải bảo đảm tính khoa học, đồng bộ, khả thi, kế thừa

và phát huy tối đa nguồn lực công chức, viên chức ngành BHXH hiện có, bảo đảm sự phát triển ổn định, bền vững và phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội đất nước

Nhìn chung, đội ngũ cán bộ công chức hiện nay của ngành BHXH có trình độ học vấn chưa cao, thiếu cán bộ hiểu biết sâu về chế độ, chính sách, lao động, tiền lương tài chính Trước những mặt yếu kém đó đòi hỏi phải có chiến lược đầu tư trọng điểm cho cán bộ trẻ có năng lực, xây dựng đội ngũ chuyên môn hóa làm công tác BHXH “Xây dựng, nâng cao chất lượng đội ngũ công chức, viên chức, tổ chức đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ lý luận chính trị, chuyên môn nghiệp vụ.”20 Kèm theo

đó là việc Nhà nước cần có những chính sách đãi ngộ thích hợp như:21

_ Tập trung đào tạo, đào tạo lại cán bộ, công chức, viên chức hiện có của toàn ngành BHXH

- Tuyển dụng và sử dụng nhân lực đã được đào tạo đúng chuyên ngành và tập huấn, bồi dưỡng chuyên sâu; Phát triển, nâng cao chất lượng các cơ sở đạo tào, đội ngũ giảng viên và đổi mới nội dung, phương pháp đào tạo

- Tập trung hoàn thiện cơ chế chính sách đào tạo, bồi dưỡng, cơ chế đãi ngộ; xây dựng các chương trình, đề án đào tạo, phát triển nguồn nhân lực giai đoạn 2011-

- Việc thu nộp và cấp, quản lý, sử dụng sổ BHXH

- Quản lý các đối tượng hưởng các chế độ trợ cấp BHXH

- Quản lý tài chính BHXH và chi trả các chế độ BHXH

20

Trang tin điện tử: Bảo hiểm xã hội Việt Nam, BHXH Việt Nam: 06 nhóm nhiệm vụ trong công tác cải cách hành chính n ăm 2013 http://baohiemxahoi.gov.vn/index.aspx?u=nws&su=d&cid=384&id=6752 , [ truy cập ngày 02-03-2013]

21 Điểm a, b, c Khoản 3 Điều 1 Quyết định số 445/QĐ-BHXH của Tổng Giám Đốc BHXH Việt Nam phê duyệt

Trang 38

- Tiếp nhận và xử lý các khiếu nại, tố cáo liên quan đến việc thực hiện trái pháp luật và việc chấp hành các quy định khác của pháp luật về BHXH

Công tác thanh tra, ki ểm tra tập trung vào các đối tượng:22

- Các đơn vị thuộc sự quản lý của BHXH Việt Nam;

- Đơn vị sử dụng, quản lý người tham gia bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế;

- Cơ sở khám chữa bệnh có ký hợp đồng khám chữa bệnh bảo hiểm y tế với cơ quan bảo hiểm xã hội;

- Cá nhân tham gia và thụ hưởng các chế độ bảo hiểm xã hội

Thanh tra Lao động – Thương binh và Xã hội thực hiện thanh tra chuyên ngành

v ề BHXH theo Điều 10 Luật BHXH có các nhiệm vụ sau đây:23

- Thanh tra việc thực hiện các chế độ, chính sách, pháp luật về BHXH;

- Thanh tra về nguồn hình thành, quản lý và sử dụng các quỹ BHXH;

- Xác minh, kết luận, kiến nghị việc giải quyết khiếu nại, tố cáo về BHXH theo quy định của pháp luật;

- Xử phạt theo thẩm quyền các hành vi vi phạm pháp luật về BHXH, kiến nghị các cơ quan chức năng xử lý vi phạm pháp luật về BHXH;

- Hướng dẫn, bồi dưỡng nghiệp vụ thanh tra chuyên ngành về BHXH

Về công tác thanh tra, kiểm tra và xử lý vi phạm pháp luật BHXH chưa thường xuyên, chất lượng chưa cao, việc xử lý sau kiểm tra, thanh tra và chưa được quan tâm đúng mức Công tác xác minh điều kiện thi hành án đối với đơn vị sử dụng lao động bị khởi kiện gặp nhiều khó khăn về thủ tục, thời gian thi hành án kéo dài.“Tuy nhiên việc tiến hành thanh tra còn lồng ghép với nội dung của pháp luật lao động, số cuộc thanh tra chuyên ngành còn thấp, hiệu quả chưa cao Bên cạnh đó, do tính chất liên ngành nên các thành viên tham gia không đầy đủ nên hạn chế hiệu quả của công tác thanh tra.”24 Công tác phối hợp thanh tra liên ngành ở cấp trung ương còn hạn chế: “Số cuộc thanh tra liên ngành rất ít, do đó việc phát hiện, ngăn chặn và xử lý các vi phạm pháp luật về BHXH tại các địa phương không đáng kể, hiệu quả công tác thanh tra liên ngành chưa đáp ứng yêu cầu đặt ra.”25

Việc khiếu nại, tố cáo về BHXH được quy định ở Điều 130, Điều 131, Điều

132 Luật BHXH năm 2006, “Người lao động, người đang hưởng lương hưu, trợ cấp

24 Trang thông tin điện tử: ThS Nguyễn Văn Dung, Thanh tra Việt Nam, Một số đề xuất sửa đổi Luật Bảo hiểm

xã h ội qua kết quả kiểm tra tại 3 tỉnh miền Trung,

http://thanhtravietnam.vn/vi-VN/News/diendanthanhtra/2013/02/28819.aspx, [ truy cập ngày 04-03-2013]

25 Trang thông tin điện tử: Bảo hiểm xã hội Việt Nam, Năm 2012, cơ quan BHXH Việt Nam hoàn thành xuất sắc

các ch ỉ tiêu, nhiệm vụ được giao, http://baohiemxahoi.gov.vn/index.aspx?u=nws&su=d&cid=384&id=6818,

Trang 39

bảo hiểm xã hội hằng tháng có quyền khiếu nại quyết định, hành vi của người sử dụng lao động, tổ chức bảo hiểm xã hội khi có căn cứ cho rằng quyết định, hành vi đó vi phạm pháp luật về bảo hiểm xã hội, xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của mình.”26 Nhìn chung công tác giải quyết đơn thư khiếu nại đảm bảo đúng thẩm quyền, quy trình và quy định của pháp luật về khiếu nại tố cáo Trong quá trình giải quyết, BHXH tỉnh, thành phố đã phối hợp rất chặt chẽ với Sở Lao động – Thương binh và Xã hội hoặc các cơ quan liên quan kịp thời và đảm bảo quyền lợi chính đáng của người lao động, số vụ việc đơn thư khiếu nại kéo dài đã giảm đáng hơn Tuy nhiên vẫn còn những vụ việc khiếu nại kéo dài, đơn thư vượt cấp, đối tượng cố tình không thực hiện quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, gây khó khăn cho cơ quan giải quyết

Công tác xử phạt vi phạm pháp luật về BHXH được thực hiện đồng bộ khi Chính phủ vừa ban hành Nghị định số 86/2010/NĐ-CP ngày 13/8/2010 Theo đó, tùy theo tính chất, mức độ vi phạm mà tổ chức, cá nhân vi phạm có thể bị xử phạt theo hình thức cảnh cáo hoặc phạt tiền và áp dụng biện pháp khắc phụ hậu quả theo quy định Mức phạt tiền tối đa trong xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực BHXH là

30 triệu đồng Ngoài ra, tổ chức, các cá nhân còn có thể bị áp dụng hình thức xử phạt

bổ sung như tịch thu tang vật, phương tiện sử dụng để vi phạm pháp luật BHXH Công tác thanh tra và xử lý vi pham, giải quyết khiếu nại tố cáo về BHXH phải đi đôi với nhau, công tác thanh tra giúp công tác quản lý nhà nước được thực hiện nghiêm túc, cơ chế thanh tra giám sát sẽ làm hạn chế vi phạm, đảm bảo nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa, nâng cao tinh thần trách nhiệm của cá nhân, tổ chức trong công việc quản lý nhà nước về BHXH Đồng thời theo cơ chế thanh tra nếu có vi phạm thì phải xử phạt tùy theo mức độ cần xử lý mà xử lý vi phạm hành chính khác nhau nhằm mang tính giáo dục, răn đe và khắc phục hậu quả do hành vi vi phạm đã gây ra, để bảo đảm thực hiện đúng chính sách pháp luật về BHXH

2.2.7 Hợp tác quốc tế về BHXH

Trong tình hình kinh tế – xã hội ngày càng phát triển, hội nhập với nền kinh tế thế giới sẽ tác động mạnh mẽ tới toàn bộ chính sách, pháp luật của Việt Nam Theo đó, nhiều lĩnh vực, nhiều tổ chức và cá nhân trong nước đều bị lôi cuốn tham gia vào quá trình hợp tác hội nhập quốc tế Những lĩnh vực liên quan như dịch vụ tài chính, ngân hàng, việc làm, BHXH, an toàn lao động cần phải được quan tâm, cải thiện, nâng cao chất lượng tạo thuận lợi cho đất nước phát triển Lĩnh vực BHXH cũng không nằm ngoài tiến trình trên, pháp luật BHXH cần được hoàn thiện song song với việc tổ chức thực hiện các hoạt động BHXH một cách nhất quán, đồng bộ nhằm theo kịp trình độ của các nước trong khu vực và quốc tế Hợp tác quốc tế về BHXH đóng một vai trò quan trọng trong bối cảnh hiện nay, tạo điều kiện cho đất nước ta có thể thu được

Trang 40

những kinh nghiệm quý báu trong công tác quản lý, thực hiện chính sách, chủ trương của Đảng đề ra và nâng cao vị thế quốc tế của ngành

Thấy được tầm quan trọng của công tác hợp tác quốc tế về BHXH, tại Quyết định số 445/QĐ-BHXH, Tổng Giám Đốc BHXH Việt Nam đã phê duyệt quy hoạch phát triển nhân lực ngành BHXH giai đoạn 2011-2020, nhấn mạnh việc hợp tác quốc

tế về đào tạo nguồn nhân lực như sau: “Gửi một số công chức, viên chức và giảng viên

đi đào tạo ở nước ngoài và mời giảng viên nước ngoài tham gia đào tạo trong nước; Tham gia các hiệp định hợp tác song phương, đa phương về trao đổi đào tạo nguồn nhân lực, thu hút vốn đầu tư nước ngoài để phục vụ công tác đào tạo nhân lực ngành BHXH; Tăng cường đầu tư chuyên sâu cho một số lĩnh vực trọng điểm của Ngành trong hợp tác quốc tế.”

Hiện nay, với sự nhận thức được tầm quan trọng của việc hội nhập và hợp tác trong lĩnh vực An sinh xã hội, “BHXH Việt Nam đã chủ động, tích cực tham gia vào các diễn đàn hợp tác đa phương bao gồm Hiệp hội An sinh xã hội ASEAN (ASSA), Diễn đàn đền bù cho người lao động Châu Á (AWCF), Diễn đàn các Quỹ Chủ quyền Toàn cầu (SFR) Đặc biệt, vào tháng 11/2012 tại Hội nghị toàn thể AWCF lần thứ nhất

tổ chức tại Seoul, Hàn Quốc, BHXH Việt Nam đã được tín nhiệm bầu làm Phó Chủ tịch Diễn đàn AWCF Trong năm 2012, thông qua việc tổ chức các đoàn của BHXH Việt Nam tham dự hội nghị quốc tế, nghiên cứu khảo sát, trao đổi kinh nghiệm, chia sẽ thông tin trong lĩnh vực BHXH cũng như việc tổ chức hội thảo quốc tế, đón tiếp phái đoàn và chuyên gia quốc tế, BHXH Việt Nam đã đẩy mạnh các hoạt động hợp tác cụ thể và đi vào chiều sâu với các đối tác Hàn Quốc, Nhật Bản, Australia, Pháp và Thái Lan.”27

Hợp tác quốc tế về BHXH không chỉ trao dồi, học hỏi được những mặt tích cực, những kinh nghiệm quý báo có thể ở nước ta không có được mà còn thúc đẩy tình đoàn kết hữu nghị lâu dài với các nước trên thế giới, để từ đó nhận được sự hỗ trợ, giúp đỡ nhiệt tình của nước bạn, huy động các nguồn lực và trợ giúp quốc tế nhằm tận dụng tối đa nguồn lực, kinh nghiệm chuyên môn quốc tế đem lại lợi ích thiết thực phục

vụ sự phát triển của ngành BHXH đồng thời đóng góp vào việc thực hiện thành công chủ trương “chủ động và tích cực hội nhập quốc tế” của Đảng và Nghị Quyết số 21-NQ/TW của Bộ Chính trị về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác BHXH, BHYT giai đoạn 2012-2020

27 Trang thông tin điện tử: Nguyễn Vinh Quang, Tạp chí Bảo hiểm xã hội Việt Nam, Thúc đẩy hợp tác và hội

nh ập Quốc tế,

Ngày đăng: 05/04/2018, 22:40

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm