1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

LUẬN văn LUẬT HÀNH CHÍNH QUẢN lý NHÀ nước về LĨNH vực báo CHÍ – THỰC TRẠNG tại THÀNH PHỐ cần THƠ

81 168 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 81
Dung lượng 835,17 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

- Báo chí không chỉ là hoạt động thông tin đại chúng, năng động nhất phục vụ tới mọi tầng lớp trong xã hội với những quan tâm sở thích và nhu cầu không giống nhau bằng những cách thức ri

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ

CẦN THƠ

Giảng viên hướng dẫn: Sinh viên thực hiện:

Bộ môn: Luật Hành chính MSSV: 5095620

Lớp: Luật Hành chính – K35

Cần Thơ Tháng 11/2012

Trang 2

CẦN THƠ

Giảng viên hướng dẫn: Sinh viên thực hiện:

Bộ môn: Luật Hành chính MSSV: 5095620

Lớp: Luật Hành chính – K35

Cần Thơ Tháng 11/2012

Trang 3



Trang 4



/

Trang 5



Trang

LỜI MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG I: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG BÁO CHÍ Ở VIỆT NAM 1.1 Khái quát về báo chí 3

1.1.1 Khái niệm, đặc điểm và lịch sử hình thành báo chí 3

1.1.1.1 Khái niệm báo chí 3

1.1.1.2 Đặc điểm của báo chí 3

1.1.1.3 Lịch sử hình thành, phát triển của báo chí Việt Nam 4

1.1.2 Các loại hình báo chí trong giai đoạn hiện nay 7

1.1.2.1 Báo in 7

1.1.2.2 Báo nói 7

1.1.2.3 Báo hình 7

1.1.2.4 Báo điện tử 7

1.1.3 Tính chất và chức năng của báo chí 7

1.1.3.1 Tính chất của báo chí 7

1.1.3.2 Chức năng của báo chí 8

1.1.4 Giá trị và vai trò của báo chí trong sự nghiệp bảo vệ chủ quyền và xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam 9

1.2 Quản lý nhà nước đối với báo chí 10

1.2.1 Khái niệm và các nguyên tắc quản lý nhà nước đối với báo chí 10 1.2.1.1 Khái niệm về “quản lý” 10

1.2.1.2 Khái niệm về quản lý nhà nước đối với báo chí 11

1.2.1.3 Các nguyên tắc cơ bản trong quản lý nhà nước đối với báo chí 12 1.2.2 Quản lý nhà nước về báo chí 14

1.2.2.1 Hệ thống lãnh đạo, quản lý nhà nước về báo chí hiên nay 14

1.2.2.2 Các cơ quan chủ quản báo chí 16

1.2.3 Vai trò của quản lý nhà nước trong lĩnh vực báo chí 16

1.2.4 Ý nghĩa của việc quản lý nhà nước trong lĩnh vực báo chí .17

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG BÁO CHÍ TẠI CẦN THƠ

Trang 6

2.2 Thực trạng quản lý nhà nước trong lĩnh vực báo chí 18

2.2.1 Thực trạng pháp luật về quản lý nhà nước đối với lĩnh vực báo chí19 2.2.2.Về thực tiễn quản lý 19

2.2.2.1 Quản lý nhà nước về báo chí ở Trung ương 19

2.2.2.2 Quản lý nhà nước về báo chí ở các bô, cơ quan ngang bộ 34

2.2.2.3 Quản lý nhà nước về báo chí ở địa phương 35

2.3 Thực trạng quản lý nhà nước trong lĩnh vực báo chí tại thành phố Cần Thơ 36

2.3.1.Tình hình hoạt động báo chí và công tác quản lý lĩnh vực báo chí tại thành phố Cần thơ 36

2.3.1.1.Tổng quan về hoạt động báo chí ở thành phố Cần thơ 36

2.3.1.2.Công tác quản lý lĩnh vực báo chí tại Thành phố Cần thơ 37

2.3.2 Kết quả kiểm tra cơ quan, văn phòng đại diện báo, đài địa phương và Trung Ương; mạng truyền hình cáp; cơ sở sử dụng thiết bị truyền hình vệ tinh (TVRO) trên địa bàn thành phố Cần thơ năm 2010 38

2.3.2.1 Nội dung kiểm tra 38

2.3.2.2 Kết quả kiểm tra 38

2.3.2.3 Hướng xử lý 42

2.3.3 Những khó khăn kiến nghị trong công tác quản lý lĩnh vực báo chí tại Thành phố Cần Thơ 43

2.4 Nguyên nhân của thực trạng quản lý Nhà nước đối với báo chí 45

2.4.1 Nguyên nhân chủ quan 45

2.4.2 Nguyên nhân khách quan 45

CHƯƠNG 3: PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ BÁO CHÍ 3.1 Yêu cầu thực tế trong quản lý nhà nước về báo chí 47

3.1.1 Sự phát triển vượt bậc của báo chí Việt Nam 47

3.1.2 Những yếu kém, khuyết điểm trong việc quản lí Nhà nước về báo chí 48

3.2 Các giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý Nhà nước đối với báo chí51 3.2.1 Những cơ hội, thách thức đối với báo chí Việt Nam hiện nay và nhu cầu hoàn thiện về quản lý Nhà nước 51

3.2.2 Giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý Nhà nước đối với báo chí 53 3.2.2.1 Yêu cầu nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về báo chí 53

Trang 7

KẾT LUẬN 64

Trang 8

PHẦN MỞ ĐẦU 

1 Tính cấp thiết của đề tài

Sau hơn 20 năm đổi mới, cùng với kinh tế, nền báo chí cách mạng Việt Nam đã không ngừng phát triển và đạt được những thành tựu quan trọng Báo chí đã bám sát đời sống xã hội, cung cấp những thông tin đa chiều, sâu sắc; tuyên truyền chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước hiệu quả

Vai trò của báo chí ngày càng nâng cao trong đời sống xã hội, đặc biệt là trong quá trình đấu tranh chống tham nhũng, quan liêu, lãng phí Hầu hết các cơ quan báo chí đã tuyên truyền sâu rộng những tấm gương người tốt việc tốt; sản phẩm mới, công trình mới, rút ra những kinh nghiệm hay, bài học tốt, thúc đẩy phong trào thi đua, xây dựng xã hội phát triển lành mạnh Trước tình hình đó, ngày 17-10-1997, Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII đã ban hành Chỉ thị 22-CT/TW về việc tiếp tục đổi mới và tăng cường sự lãnh đạo, quản lý công tác báo chí, xuất bản Đây chính là động lực để kỳ họp thứ 5, Quốc hội khóa X thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Báo chí ngày 12-6-1999 Điều này cho thấy, Nhà nước ta đã thể hiện sự cố gắng trong quá trình quản lý hoạt động báo chí phù hợp với điều kiện, tình hình mới

Tuy nhiên, khi mà sự phát triển không đi cùng với việc nâng cao năng lực quản lý phù hợp đã làm cho hoạt động báo chí bộc lộ nhiều bất cập, thiếu ổn định Đó chính là xu hướng thương mại hóa, xa rời tôn chỉ mục đích, đối tượng phục vụ; làm lộ bí mật, an ninh quốc gia; nhiều tờ báo chạy theo thị hiếu tầm thường, đăng bài ảnh dung tục, thiếu văn hóa, đi ngược lại thuần phong mỹ tục; nhiều địa phương vì lý do này hoặc lý do khác đã gây cản trở hoạt động của phóng viên, cung cấp thông tin sai lệch v.v Trong khi đó, dưới góc độ Nhà nước thì các công cụ quản lý về báo chí mà chủ yếu là pháp luật chưa hoàn thiện, không phù hợp với thực tiễn phát triển sinh động trong lĩnh vực báo chí thời gian gần đây

Tất cả đã đặt ra nhu cầu cần phải có những giải pháp hữu hiệu để nâng cao hiệu quả quản lý Nhà nước cả về phương diện pháp lý lẫn thực tiễn Chính

từ bức xúc như vậy mà người viết đã tiến hành chọn đề tài “Quản lý Nhà nước

về lĩnh vực báo chí - thực trạng tại thành phố Cần Thơ” để nghiên cứu làm luận văn tốt nghiệp Cử nhân Luật của mình

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

Đề tài được thực hiện với mục đích:

+ Xây dựng và làm sáng tỏ những vấn đề cơ bản về hoạt động báo chí và quản

lý Nhà nước đối với hoạt động báo chí, vai trò và đóng góp của báo chí trong đời sống xã hội Phân tích những bất cập của pháp luật nước ta trong những quy định về quản lý hoạt động báo chí Trình bày các ưu khuyết diểm trong công tác quản lý Nhà nước đối với hoạt động báo chí của Nhà nước ta và tìm ra các nguyên nhân

Trang 9

+ Từ cơ sở trên, các tác giả đề ra những biện pháp mang tính khả thi cho công tác quản lý Nhà nước đối với hoạt động báo chí và đưa ra những ý kiến mới cho việc xây dựng pháp luật hoàn thiện và chặt chẽ hơn, nhằm tạo ra hành lang pháp

lý tích cực cho công tác quản lý Nhà nước đối với hoạt động báo chí

3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

Nội dung được đề cập chủ yếu của đề tài là báo chí ở Việt Nam, những quy định pháp luật về quản lý Nhà nước đối với hoạt động báo chí và thực trạng quản lý Nhà nước đối với hoạt động này tại thành phố Cần Thơ Từ đó phân tích những bất cập cơ bản nhất cả về lý luận cũng như thực tiễn của nội dung này Đề tài sẽ không đề cập các nội dung liên quan đến vấn đề về nghiệp vụ báo chí

4 Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp nghiên cứu đề tài là phương pháp phân tích truyền thống như: phương pháp phân tích luật viết, kết hợp với phân tích lịch sử Ngoài ra, người viết còn sử dụng phương pháp diễn dịch, quy nạp, liệt kê, so sánh, đối chiếu, nhằm đi sâu vào từng điều luật hiện hành để tìm hiểu nội dung, tính hữu hiệu cũng như mặt hạn chế, từ đó, có những kiến nghị và hướng giải quyết cho những vấn đề còn tồn tại đã được đặt ra

5 Kết cấu Luận văn

Đề tài được nghiên cứu theo bố cục sau:

Phần mở đầu

Phần nội dung: Gồm 3 chương

Chương 1: Những vấn đề chung về quản lý Nhà nước đối với báo chí

Chương 2: Thực trạng quản lý Nhà nước đối với hoạt động báo chí tại Thành phố Cần Thơ

Chương 3: Yêu cầu và giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về báo chí Phần kết luận

Trang 10

CHƯƠNG 1:

NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI HOẠT

ĐỘNG BÁO CHÍ Ở VIỆT NAM 1.1 Khái quát về báo chí

1.1.1 Khái niệm, đặc điểm và lịch sử hình thành báo chí

1.1.1.1 Khái niệm báo chí

Báo chí là phương tiện thông tin đại chúng, có tính định kỳ, đáp ứng nhu

phương tiện thông tin đại chúng thiết yếu đối với đời sống xã hội, báo chí còn là

cơ quan ngôn luận của Đảng, Nhà nước, các tổ chức xã hội, và đồng thời là diễn đàn của nhân dân

- Báo chí là một môn khoa học ứng dụng gắn bó chặt chẽ với thực tiễn xã hội Hoạt động báo chí gắn liền trực tiếp với mọi hình thái tinh thần thực tế và các tiến trình hoạt động của xã hội

- Báo chí là loại hình hoạt động thông tin chính trị xã hội Ngày nay báo chí là một lĩnh vực hoạt động xã hội sâu rộng, đóng vai trò to lớn trong việc đáp ứng nhu cầu thông tin ngày càng tăng của đời sống xã hội Báo chí do vậy đã trở thành một ngành kinh tế năng động và phát triển Đương nhiên nó cũng là một mặt trận luôn nóng hổi, sôi động của cuộc đấu tranh tư tưởng

1.1.1.2 Đặc điểm của báo chí

 Tính thời sự: khác với những phương tiện thông tin khác, tính thời sự là đặc trưng của báo chí Báo chí phải kịp thời phản ánh những sự kiện mới xảy ra càng sớm càng tốt, đưa thông tin đến độc giả (thính giả) càng nhanh càng tốt Ngày nay việc phản ánh sự kiện khi nó đang xảy ra qua phương tiện phát thanh

và truyền hình (tường thuật trực tiếp) đang ngày càng được chú trọng

 Tính định kỳ: việc phát hành báo chí luôn có tính định kỳ, ổn định cao Đặc trưng này trở thành điểm hẹn của người đưa thông tin và người nhận thông tin Chu kỳ của báo phụ thuộc vào đặc trưng phương tiện của báo, vào lĩnh vực thông tin mà báo đảm nhận, sao cho đáp ứng tốt nhu cầu thông tin của xã hội: báo hằng ngày (nhật báo), hằng tuần (tuần báo), nửa tháng (bán nguyệt san) Các chương trình phát thanh và truyền thông theo chuyên đề, chuyên mục, phát vào những giờ nhất định trong ngày trong tuần

 Tính phổ cập: tính phổ cập vừa là đặc trưng, vừa là sức mạnh hàng đầu của báo chí trong lĩnh vực thông tin Khác với báo cáo, hội nghị, hội thảo, phương châm của báo chí là càng đưa thông tin đến cho nhiều người thì càng tốt Đặc trưng này một mặt làm cho báo chí trở thành công cụ tư tưởng lợi hại; mặt khác, tạo cho báo chí một lợi thế trở thành một ngành kinh tế quan trọng thu hút đầu tư của xã hội

[1]

Xem Quản lý hoạt động tư tưởng- văn hóa, PGS.TS ĐÀO DUY QUÁT, nhà xuất bản chính trị quốc gia Hà Nội, năm 2010

Trang 11

1.1.1.3 Lịch sử hình thành, phát triển của báo chí Việt Nam

Cách đây 85 năm 1925-2010, Bác Hồ đã lập ra tờ báo Thanh niên, tờ báo đầu tiên của cách mạng, hoạt động trong tình hình đất nước còn chìm đắm trong ách thống trị của thực dân phong kiến Từ đó đến nay đã 85 năm trôi qua, nền báo chí cách mạng Việt Nam (CMVN) đã lớn mạnh không ngừng và giờ đây đã trở thành công cụ đắc lực, đáng tin cậy của Đảng và Nhà nước ta Cả nước hiện

có hơn 700 cơ quan báo chí từ Trung Ương (TW) đến địa phương Đã có 17 ngàn nhà báo chuyên nghiệp được cấp thẻ đang hoạt động trong các cơ quan báo chí Bấy nhiêu đó cũng đủ thấy mạng lưới báo chí nước ta phát triển mạnh mẽ như thế nào và trên thực tế hiện nay báo chí đang nắm giữ vai trò quan trọng trong đời sống kinh tế chính trị của đất nước

Báo chí Việt Nam phát triển với những đặc trưng và thế mạnh của nó, từ khi ra đời, báo chí đã ngay lập tức và ngày càng phát huy vai trò và sức mạnh của nó trong cuộc đấu tranh giành và giữ quyền lực chính trị của các thế lực, giai cấp trong tiến trình phát triển kinh tế – văn hóa – xã hội, trong việc nâng cao dân trí, giáo dục nhân cách con người

- Báo chí Việt Nam từ trước năm 1945

Có thể nói chủ tịch Hồ Chí Minh là người Thầy của báo chí cách mạng nước ta Ngay từ những năm tháng bôn ba ở nước ngoài, tiếp thu chủ nghĩa Mác LêNin, Người đã sáng lập và xuất bản tờ báo Le Paria (Người cùng khổ) ở Paris, thủ đô nước Pháp năm 1922 - 1926 Đến khi do nhu cầu thông tin và làm cách mạng trong nước Người thành lập tờ báo Thanh Niên(1925)

Trong một thời gian hoạt động tờ báo này đã mang lại hiệu quả to lớn, cao trào cách mạng được đẩy lên cao, nhưng có những thời kỳ bị kẻ thù đàn áp cho lắng xuống, báo chí vẫn âm thầm dùng sức mạnh của mình để chiến đấu

- Báo chí Việt Nam từ 1945 - 1954

Báo chí giai đoạn này gắn liền với những điều kiện kháng chiến kiến quốc, sự phát triển củng cố chính quyền Nhà nước Báo chí đã phản ánh một cách tích cực toàn cảnh động viên quần chúng tham gia vào cuộc kháng chiến Hoạt động báo chí đã dần đi vào chuyên môn hóa, chuyên nghiệp hóa Đảng ta cũng có sự quan tâm cụ thể, rõ ràng hơn thông qua các sắc lệnh, pháp lệnh báo chí, tạo điều kiện cho nhiều người làm báo phát huy hết năng lực làm báo của mình

Sau khi dành được độc lập Bộ Thông tin Tuyên truyền ra đời ngày

28-8-1945 đã nắm vững quyền lực thông tin Nhà nước Ngoài các tờ báo đã có từ trước Cách mạng tháng 8, còn có thêm báo Lao động (Công đoàn Cứu quốc), Tiếng gọi Phụ nữ (Phụ nữ cứu quốc), Sao vàng (quân đội), Sự thật (Hội nghiên cứu Chủ nghĩa Các Mác) v.v… Đặc biệt lập Đài phát thanh Tiếng nói Việt Nam (7-9-1945), Thông tấn xã Việt Nam (15-9-1945) làm cho tiếng nói chính thức của Nhà nước Việt Nam có chủ quyền Đến năm 1947 Đài Phát thanh Nam Bộ,

Trang 12

Thông tấn xã Nam bộ được thành lập, và năm 1949 có thêm Đài Tiếng nói Sài Gòn - Chợ Lớn Tự do của Đặc khu Sài Gòn là những cơ quan tuyên truyền đắc lực của nhà nước ta Báo chí cách mạng thời kỳ này đã trở thành một hoạt động cách mạng công khai hợp pháp chính thống và được nhiều người, nhiều tầng lớp trong xã hội đón nhận

- Báo chí Việt Nam từ 1954 đến 1975

Kết thúc cuộc kháng chiến chống Pháp- đất nước ta tiến hành xây dựng Chủ nghĩa xã hội (CNXH) ở Miền Bắc, kháng chiến chống Mỹ ở Miền Nam Nền báo chí nước nhà cũng có nhiều thay đối Báo chí miền Bắc đã trở thành nền báo chí chính thống Xã Hội Chủ Nghĩa, báo chí miền Nam chụi sự kiểm soát của địch nhưng vẫn được phát hành bí mật

Ngày 14-12-1956, Hồ Chủ tịch ký ban hành chế độ báo chí, quy định về

tự do ngôn luận trong chế độ ta Tháng 3-1955, tạp chí Học tập, cơ quan lý luận

và chính trị của Đảng ra đời, đáp ứng yêu cầu của Đảng và phản ánh ý nguyện của nhân dân

Năm 1965, Tổng cục Thông tin được thành lập làm mũi nhọn tuyên truyền chống Mỹ

Trong giai đoạn này, nền báo chí cách mạng nước ta đã đóng một vai trò rất quan trọng, đã góp phần hướng dẫn và cổ vũ toàn dân thực hiện mục tiêu kháng chiến nhất định thắng lợi, dẫn đến chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ vang dội cả thế giới

Cho đến nay báo chí đã trải qua thời gian hình thành và phát triển khá dài, đang dần hoàn thiện Sự phát triển mạnh mẽ của khoa học kỹ thuật được báo chí áp dụng triệt để và cạnh tranh nhau để cùng tiến bộ

qua các thời kỳ kháng chiến

- Ra đời từ những ngày phong trào cách mạng còn trong trứng nước với mục đích phục vụ cách mạng, phục vụ sự nghiệp giải phóng dân tộc

- Tiếng nói của báo chí góp phần thống nhất được các chủ trương, phương pháp hành động khác nhau nhằm đạt được mục đích, khắc phục những thiếu sót trong hoạt động tư tưởng và thực tiễn của những người cộng sản, làm thức tỉnh quần chúng

- Chính tờ báo là sợi dây cơ bản, dựa vào nó phong trào cách mạng không ngừng phát triển, tổ chức tăng lên theo cả chiều rộng và chiều sâu.Vai trò tổ chức của tờ báo không chỉ thể hiện tư tưởng chỉ đạo và các phương pháp tổ chức, mà ngay việc phát hành báo cũng là cơ sở tạo ra mối liên hệ thực tế giữa các địa phương, từ đó thúc đẩy công tác tổ chức của Đảng đạt tới quy mô ngày càng rộng lớn hơn, từ thành thị tới các vùng nông thôn

- Đối với thời kỳ cả nước đang chống thực dân Pháp, báo chí là phương tiện truyền tải tư tưởng Mac-LêNin vào quần chúng, những nhà báo đã phải kín

Trang 13

đáo đưa tư tưởng cứu nước tiền bộ ấy đến từng hầm mỏ của công nhân, đến từng xóm làng của nông dân

- Như bác Hồ đã nói “Báo chí là đội quân đi đầu trong công tác tư tưởng,

là vũ khí cách mạng Cán bộ báo chí cũng là chiến sĩ cách mạng Cây bút, trang giấy là vũ khí sắc bén của họ Nhiều lần, Người nhấn mạnh ý tưởng này: “Cây bút là vũ khí sắc bén, bài báo là tờ hịch cách mạng động viên quần chúng đoàn kết, đấu tranh chống chủ nghĩa thực dân cũ và mới…”, “Ngòi bút là vũ khí sắc bén trong sự nghiệp phò chính trừ tà.”

- Báo chí đã làm sống dậy tinh thần yêu nước quật cường trong lòng dân, với những bài báo vạch trần tội ác của thực dân Pháp, những bài viết lý luận nói

về quyền tự do của con người, báo chí đã đánh mạnh vào bọn thực dân, thức tỉnh

sự mê muội của dân tộc, cả nước đứng lên khởi nghĩa dưới sự lãnh đạo của Đảng, làm nên thắng lợi 1945

- Đến năm 1954 - miền Bắc được giải phóng, miền Nam vẫn phải chiến đấu

để chống lại đế quốc Mỹ Báo chí cũng chuyển đổi phong cách viết, xoay ngòi bút hướng tới hai miền Nam - Bắc Đối với Miền Bắc, báo chí ca ngợi sự thành công của cuộc cách mạng, ca ngợi những chiến công lừng lấy của nhân dân ta,

cổ vũ tinh thần lao động sản xuất của nhân dân Báo chí ca ngợi chế độ XHCN, ghi lại những khoảnh khắc đẹp trong lao động sản xuất Còn ở Miền Nam, báo chí hướng ngòi bút cổ vũ tinh thần chiến đấu của nhân dân, góp phần gắn kết hai miền với nhau, vạch rõ những ý đồ đen tối của Mỹ… Đảng tận dụng triệt để báo chí để làm cách mạng, bởi báo chí có sức mạnh ghê gớm với quần chúng, nó đi sâu, đi sát vào nhân dân, khơi dậy khát khao tự do trong mỗi con người…

- Sau năm 1975, đất nước thống nhất, báo chí lại chuyển hướng theo sự chuyển hướng của Cách Mạng Giai đoạn xây dựng CNXH, nhiệm vụ cách mạng đã thay đổi, báo chí cũng phải thay đổi cho phù hợp với nhiệm vụ mới của cách mạng Vấn đề căn bản là báo chí phải nói nhiều đến xây dựng đời sống mới, đến những sự việc luôn xảy ra trong lĩnh vực đó, bởi vì, khi giai cấp vô sản giành được chính quyền, bắt tay vào xây dựng xã hội mới thì chính trị đã hoàn toàn sáng tỏ rồi Trong thời kỳ hiện nay, hội nhập kinh tế quốc tế, các nhà báo phải tập trung tuyên truyền, biểu dương các điển hình tiên tiến, các phong trào thi đua yêu nước, đồng thời báo chí phải kiên quyết đấu tranh chống các hiện tượng tiêu cực đang diễn ra trong xã hội

 Sự lãnh đạo của Đảng đối với báo chí gắn liền với các nguyên tắc hoạt động của báo chí cách mạng Trước hết là nguyên tắc tính Đảng của báo chí cách mạng Tính đảng của báo chí cách mạng do mục đích, chức năng và vai trò của báo chí cách mạng quy định Tính đảng đòi hỏi báo chí cách mạng phải đấu tranh kiên quyết chống các tư tưởng thù địch, phản động, đi ngược lại lợi ích của giai cấp vô sản và nhân dân lao động, phải đấu tranh không khoan nhượng với các hiện tượng tiêu cực trong xã hội Cùng với tính Đảng, tính nhân dân là nguyên tắc cơ bản tiếp theo của báo chí cách mạng Báo chí cách mạng phải hiểu sâu sắc cuộc sống của nhân dân, từ đó mới có thể nói lên, thể hiện đúng

Trang 14

những tư tưởng và tình cảm hàng ngày của nhân dân đang suy nghĩ thật sự theo cách của nhân dân

- Những thành tựu kỳ diệu của khoa học – kỹ thuật và công nghệ từ thế kỷ

XX với việc tạo ra những phương tiện truyền thông hiện đại đã thu hẹp trái đất lại khiến không còn một khu vực nào trên thế giới sống lẻ loi cô lập

- Từ các hình thức truyền thống là thông tin truyền miệng từ một người này sang người khác cho đến những chữ viết cổ đầu tiên đã góp phần trao đổi thông tin giữa người với người

- Báo chí và kỹ thuật có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, sự phát triển của báo chí đòi hỏi kỹ thuật phải không ngừng phát triển để đáp ứng, còn sự phát triển của kỹ thuật sẽ giúp cho truyền thông phục vụ công chúng tốt hơn

- Với sự phát triển của khoa học công nghệ, các tờ báo đã biến cơ quan báo chí của mình thành một tờ báo đa phương tiện Một tờ báo in giờ không đơn thuẩn chỉ khai thác mỗi mảng báo in nữa mà đã phát triển các website đi kèm Trên đó không chỉ đăng các bài báo đã in trên báo in mà còn cập nhật những tin mới, đăng tải clip hay các chương trình phát thanh online Thông tin dưới nhiều hình thức sẽ giúp cho khán giả có nhiều lựa chọn cho mình

- Đặc biệt khi máy tính và mạng internet ra đời thì báo mạng điện tử trở thành loại hình báo chí thích hợp nhất cho giới văn phòng, những công dân bận rộn, bởi chỉ với một cú click thì cả thế giới dường như hiện ra trước mắt, ở Việt Nam loại hình báo chí này chưa thực sự phổ biến do kinh tế nước ta còn kém, nhưng trong tương lai có thể báo mạng sẽ phát triển và phổ biến nhất, bởi với lợi thế nhanh nhạy, báo mạng còn kết hợp được âm thanh, hình ảnh sống động, tạo

độ tin cậy cao cho thông tin…

 Báo chí Việt Nam ra đời muộn hơn so với các nước phương tây, nhưng

nó lại phát triển nhanh, mạnh Bởi sự ra đời của nó gắn với cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật đang bùng nổ mạnh mẽ trên khắp thế giới

1.1.2 Các loại hình báo chí trong giai đoạn hiện nay

1.1.2.1 Báo in

Thể loại báo chí xuất hiện lâu đời nhất, hình thức thể hiện trên giấy, có hình ảnh minh họa Ưu điểm: tính phổ cập cao, có nội dung sâu, người đọc có thể nghiên cứu Nhược điểm: thông tin chậm, khả năng tương tác hai chiều (giữa người đọc và người viết) kém

1.1.2.2 Báo nói

Thông tin được chuyển tải qua thiết bị đầu cuối là radio bằng ngôn ngữ

Ra đời thế kỷ XIX Ưu điểm: thông tin nhanh Nhược điểm: không trình bày được các thông tin bằng hình ảnh (phóng sự ảnh) hoặc các thông tin có hình ảnh minh họa

Trang 15

1.1.2.3 Báo hình

Thông tin được chuyển tải bằng hình ảnh và âm thanh qua thiết bị đầu cuối là máy phát hình (đài truyền hình) và máy thu hình (television) Ưu điểm: thông tin nhanh; Nhược điểm: khả năng tương tác hai chiều chưa cao

1.1.2.4 Báo điện tử

Báo điện tử là một loại hình báo chí chủ yếu sử dụng ngôn ngữ viết truyền tải thông tin, hình ảnh qua đường truyền internet Báo sử dụng giao diện wibise trên Internet để truyền tải thông tin bằng các bài viết, âm thanh, hình ảnh, đoạn video gồm cả hình ảnh động và âm thanh Ưu điểm: thông tin cập nhật nhanh chóng, tính tương tác hai chiều cao Khuyết điểm: tính phổ cập yếu

 Ngoài các báo in và báo điện tử, tại Việt Nam còn có một số báo khác không được nhà nước chính thức thừa nhận, bao gồm đủ loại trang blog khác nhau Đa số các blog sử dụng các máy chủ ở nước ngoài để vượt ra khỏi tầm kiểm duyệt của nhà nước Một số blog được trình bày khá chuyên nghiệp và thực hiện các nỗ lực nghiêm túc để đăng các bài khách quan cũng như bình luận

về các vấn đề nổi bật trong ngày, nhưng còn lại những trang blog khác chỉ là những trang châm chọc gay gắt

1.1.3 Tính chất và chức năng của báo chí:

1.1.3.1 Tính chất của báo chí:

- Tính khuynh hướng: Báo chí có tính khuynh hướng tư tương, bởi vì báo chí là lĩnh vực thuộc kiến trúc thượng tầng xã hội Trong xã hội có phân chia giai cấp, kiến trúc thượng tầng nói chung bị định hướng bởi lợi ích của giai cấp thống trị, do đó tư tưởng thống trị xã hội là tư tưởng của giai cấp thống trị Đời sống sinh hoạt tinh thần phản ánh các điều kiện xã hội hiện thực, trong đó có hiện thực đấu tranh giai cấp, đấu tranh tư tưởng Giai cấp thống trị luôn sử dụng báo chí để tuyên truyền bảo vệ lợi ích của giai cấp mình Các giai cấp bị trị cũng

sử dụng vũ khí báo chí để đấu tranh chống lại giai cấp thống trị Tuy nhiên, với quyền lực của người nắm quyền thống trị, báo chí của giai cấp thống trị vẫn là kênh thông tin chủ đạo trong lĩnh vực báo chí

- Tính đảng: Báo chí hiện đại ra đời cùng với cách mạng công nghiệp – thời điểm của các cuộc đấu tranh giai cấp hiện đại và các đảng chính trị Mỗi chính đảng đại diện cho một giai cấp, một tầng lớp, một lực lượng xã hội có những lợi ích xác định Báo chí trở thành cơ quan ngôn luận của những chính đảng đó, thể hiện lập trường chính trị, chiến lược, mục tiêu, khẩu hiệu của các chính đảng trong cuộc đấu tranh giai cấp

Báo chí ở nước ta ngày nay phải thể hiện rõ bản chất xã hội chủ nghĩa, bảo vệ và tuyên truyền cho sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta dưới sự lãnh đạo của Đảng nhằm xây dựng một nước Việt Nam dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ văn minh Đó chính là mục tiêu cách mạng của Đảng ta hướng đến, thể hiện bản chất cộng sản của Đảng ta

Trang 16

- Tính nhân dân: Tính nhân dân của báo chí được quy định từ đặc trưng phổ cập của nó Trong tính khuynh hướng và bản chất của mình, báo chí luôn phải hướng tới đại chúng Báo chí tiếp nhận thông tin từ những lĩnh vực rộng lớn trong đời sống xã hội và đưa những thông tin đó đến quãng đại quần chúng Tuy nhiên, trong các xã hội còn tình trạng người bóc lột người, tính nhân dân của báo chí luôn mâu thuẫn với tính đảng, tính giai cấp của nó và bị hạn chế bởi tính khuynh hướng tư tưởng của giai cấp thống trị Ngược lại trong xã hội ta, lợi ích của Đảng và lợi ích của nhân dân là đồng nhất Tính đảng càng cao thì càng phù hợp với nhân dân Báo chí vừa là cơ quan ngôn luận của Đảng, vừa là diễn đàn mà ở đó quảng đại quần chúng nhân dân thể hiện nguyện vọng của mình Báo chí phải phản ánh ngày càng trung thực đời sống xã hội, phản ánh đầy đủ nguyện vọng của nhân dân, thể hiện ý chí và quyền làm chủ của nhân dân lao động

1.1.3.2 Chức năng của báo chí:

 Chức năng thông tin:

- Báo chí đáp ứng nhu cầu thông tin cho tất cả các giai cấp, tầng lớp, nhóm xã hội cũng là tiêu chuẩn để đánh giá về trình độ của một tờ báo nói riêng

và của một nền báo chí nói chung về tất cả các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa, thể thao, giải trí của đời sống xã hội

- Tính thời sự, tính chính xác và tính trung thực của thông tin là một trong những yêu cầu căn bản mà báo chí luôn phải phấn đấu Đây cũng là lợi thế đặc thù của lĩnh vực báo chí mà các phương tiện thông tin khác không có được

 Chức năng ngôn luận:

- Báo chí là cơ quan ngôn luận của các tổ chức Đảng, của các cơ quan nhà nước, các tổ chức chính trị của quần chúng, đưa đến quảng đại quần chúng các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, tuyên truyền, giải thích các chủ trương, chính sách đó cho nhân dân hiểu và làm theo

- Như Lênin đã nói: Báo chí là người tuyên truyền tập thể, cổ động tập thể, tổ chức tập thể Đồng thời, báo chí cũng là diễn đàn của công luận, nơi mà mỗi người dân đều có cơ hội thể hiện những ý nghĩ, tư tưởng và nguyện vọng của mình đối với những chủ trương, chính sách và công việc của các tổ chức Đảng, Nhà nước và các tổ chức khác trong hệ thống chính trị Thực hiện ngày càng tốt vai trò diễn đàn của nhân dân là một trong những cơ sở tồn tại của báo chí

 Chức năng giáo dục:

- Tính phổ cập cao làm cho báo chí trở thành một phương thức giáo dục hiệu quả, thường xuyên và rộng rãi Những tri thức mới mà báo chí cung cấp bao quát tất cả các lĩnh vực, không hạn chế, đóng góp tích cực vào việc nâng cao dân trí một cách toàn diện

- Hơn nữa, mặc dầu không có tính hệ thống, công việc giáo dục của báo chí lại mang một thế mạnh khác, đó là tính cập nhật của những tri thức mới

Trang 17

Những phát kiến mới nhất chưa thể đưa ngay vào chương trình đào tạo của các

cơ sở giáo dục, nhưng có thể đã được công bố trên báo chí

 Chức năng đáp ứng nhu cầu thưởng thức:

- Cùng với các loại hình nghệ thuật khác nhau, báo chí đáp ứng một phần quan trọng nhu cầu giải trí của đông đảo công chúng bằng khả năng trở thành phương tiện thể hiện một số loại hình nghệ thuật (văn, thơ, nhạc, họa và các hình thức giải trí) Mặc dù không phải chức năng cơ bản, nhưng khả năng đáp ứng nhu cầu thưởng thức, hưởng thụ nghệ thuật và giải trí của báo chí có khi trở nên rất quan trọng trong điều kiện thiếu vắng các loại hình khác

Như vậy, với bốn chức năng kể trên, báo chí ngày càng trở thành một lĩnh vực không thể thiếu và không thể thay thế được trong đời sống tinh thần của xã hội Xã hội càng phát triển, càng văn minh, hiện đại, thì vai trò của báo chí càng được nâng cao

1.1.4 Giá trị và vai trò của báo chí trong sự nghiệp bảo vệ chủ quyền và xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam

- Sau hơn 20 năm đổi mới sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta dưới sự lãnh đạo của Đảng đã thu được những thắng lợi quan trọng: đất nước đang bước vững chắc trên con đường đi tới phồn vinh và phát triển; uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế ngày càng được nâng cao, quá trình hội nhập được đẩy mạnh trong khi nền độc lập dân tộc thường xuyên được củng cố, an ninh chính trị ngày càng vững chắc, trật tự xã hội được giữ vững

- Tuy nhiên, nguy cơ tụt hậu vẫn còn, hội nhập càng cao và rộng thì những thách thức mới ngày càng khó khăn và to lớn hơn, đặc biệt là đối với chiến lược phát triển bền vững ở hiện tại Sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta dưới sự lãnh đạo của Đảng với mục tiêu xây dựng một nước Việt Nam dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ và văn minh vẫn còn phải trãi qua nhiều khó khăn và gian khổ

- Báo chí không chỉ là hoạt động thông tin đại chúng, năng động nhất phục vụ tới mọi tầng lớp trong xã hội với những quan tâm sở thích và nhu cầu không giống nhau bằng những cách thức riêng (qua ngôn ngữ, thể tài báo chí)

mà báo chí còn là một thế lực nó có thể trở thành một lực lượng thông tin hết sức quan trọng cho sự phát triển chung của xã hội.Trong bối cảnh đó báo chí Việt Nam ngày càng có vai trò quan trọng trong cuộc sống xã hội hiện nay với các nhiệm vụ cơ bản sau:

Một là: tuyên truyền, phổ biến một cách sâu rộng, kịp thời có hiệu quả

đường lối chủ trương, chính sách của Đảng và chính sách pháp luật của Nhà nước, góp phần củng cố sự thống nhất về mặt tư tưởng trong toàn Đảng, toàn quân, toàn dân, tạo nên ý chí chung, quyết tâm chung của cả nước nhằm thực hiện thành công sự nghiệp đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa, hội nhập kinh

tế của đất nước Đây là nhiệm vụ hàng đầu cảu báo chí trong giai đoạn cách mạng hiện nay

Trang 18

Hai là: Phản ánh một cách sinh động, nhanh chóng, trung thực đời sống

xã hội đang diễn ra ngày càng sôi động, nhưng cũng ngày càng phức tạp của công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Đồng thời, phản ánh một cách kịp thời và sát thực với nguyện vọng của các tầng lớp nhân dân trong cả nước, phát huy mạnh mẽ vai trò diễn đàn của nhân dân, cổ vũ vai trò làm chủ, tinh thần năng động sáng tạo, tính tự giác và khả năng cách mạng to lớn của nhân dân

Ba là: Góp phần củng cố và phát triển khối đại đoàn kết dân tộc; cổ vũ

động viên đồng bào các dân tộc anh em trong cộng đồng dân tộc việt nam, đoàn kết, thống nhất, giúp đỡ nhau xây dựng đất nước, nâng cao đời sống nhân dân, bảo vệ và phát huy các giá trị truyền thống, phát triển kinh tế - xã hội ở những vùng sâu , vùng xa, vùng núi và vùng dân tộc thiểu số, không phân biệt tín ngưỡng, tôn giáo, động viên tinh thần giáo dân sống tốt đời, đẹp đạo, sống phúc

âm giữa lòng dân tộc, đấu tranh chống mọi âm mưu chia rẽ dân tộc, tôn giáo của các thế lực thù địch

Bốn là: Cổ vũ, động viên và nêu gương các điển hình tiên tiến của những

tập thể và cá nhân trong công cuộc vận động cách mạng; tuyên truyền nhân rộng các gương người tốt việc tốt, những sáng kiến cải tiến trong sản xuất kinh doanh, trong tổ chức đời sống xã hội, trong các lĩnh vực bảo vệ an ninh chính trị, trật tự xã hội, những tấm gương phấn đấu vượt qua khó khăn, gian khổ trong công tác và học tập, làm giàu chính đáng, phấn đấu xóa đói giảm nghèo và nghị lực vươn lên trong cuộc sống

Năm là: Đóng vai trò là lực lượng xung kích trên mặt trận chống tham

nhũng, tiêu cực, dũng cảm vạch trần bộ mặt thật của những kẻ thoái hóa biến chất, lợi dụng chức quyền để “vinh thân phì gia”, ức hiếp quần chúng, vi phạm quyền làm chủ của nhân dân, coi thường kỷ cương phép nước, buôn lậu và gian lận thương mại, che chắn bảo kê cho những phần tử hoạt động vi phạm pháp luật, làm phương hại đến uy tín của Đảng và Nhà nước, làm suy giảm lòng tin của nhân dân vào sự nghiệp cách mạng do Đảng lãnh đạo

Sáu là: Đấu tranh chống lại mọi luận điệu của những lực lượng thù địch

nhằm vu cáo, xuyên tạc lịch sử, phá hoại công cuộc phát triển của đất nước, chia

rẽ khối đoàn kết dân tộc, truyền bá những tư tưởng độc hại, phá hoại truyền thống tốt đẹp và thuần phong mỹ tục Việt Nam, bôi nhọ chế độ xã hội chủ nghĩa

Bảy là: Bảo vệ và phát huy nền văn hóa dân tộc, khẳng định và phát huy

các giá trị nhân bản phong phú và sâu sắc của văn hóa Việt Nam, chống lại sự

du nhập của văn hóa suy đồi, lai căng độc hại; góp phần xây dựng con người Việt Nam tiên tiến, sống nhân nghĩa vị tha, phấn đấu cho sự nghiệp cách mạng của Đảng và nhân dân

Tám là: Tuyên truyền cho đường lối đối ngoại Việt Nam là bạn, đối tác

tin cậy của các đối tác trong cộng động quốc tế, tham gia tích cực vào tiến trình hợp tác quốc tế và khu vực

Trang 19

Báo chí tác động vào dư luận xã hội thông qua việc khơi nguồn,phản ánh

dư luận, định hướng và điều hòa dư luận, tâm lý, tâm trạng xã hội, giám sát xã hội

1.2 Quản lý nhà nước đối với báo chí

1.2.1 Khái niệm và các nguyên tắc quản lý Nhà nước đối với báo chí

1.2.1.1 Khái niệm “quản lý”:

Từ khi xuất hiện nền sản xuất xã hội, nhu cầu liên kết con người, phối hợp với các hoạt động riêng lẻ tăng lên thì hoạt động quản lý trở nên cần thiết, tất yếu Để duy trì sự tồn tại và phát triển của mọi quy mô loại hình tổ chức người, từ một gia đình cho đến cấp quốc gia, quốc tế cho tất cả các tổ chức kinh

tế, cũng như các tổ chức chính trị, tư tưởng – văn hóa, khoa học, giáo dục, an ninh, quốc phòng, đối ngoại… đều cần có vai trò quản lý Một tổ chức hoặc một lĩnh vực hoạt động bất kỳ nào của con người nếu không có sự quản lý sẽ dẫn đến

sự tự phát, hỗn loạn và kém hiệu quả

Ngày nay, khái niệm quản lý đã được sử dụng hằng ngày trong mọi tầng lớp của xã hội, từ người lãnh đạo cao nhất đến người dân bình thường, vậy khái niệm quản lý là gì?

- Khái niệm quản lý có nhiều cách hiểu khác nhau:

+ Có nhiều tác giả cho rằng, quản lý là các hoạt động được thực hiện nhằm đảm bảo sự hoàn thành công việc qua những nổ lực của người khác

+ Một số tác giả khác lại cho rằng, quản lý là công tác phối hợp có hiệu quả các hoạt đông của những người cộng sự khác cùng chung một tổ chức

+ Ngoài ra, quản lý còn được cho là một hoạt động thiết yếu nảy sinh khi con người lao động, sinh hoạt tập thể đạt đến một trật tự có thể kiểm soát, điều kiển được và nhằm thực hiện có mục tiêu chung của tập thể, tổ chức v.v

 Định nghĩa: Quản lý là hoạt động thiết yếu nảy sinh khi con người hoạt

động tập thể, là sự tác động của chủ thể vào khách thể quản lý nhằm thực hiện các mục tiêu chung của tổ chức

- Chủ thể của quản lý luôn luôn là con người và có cơ cấu tổ chức phụ thuộc vào quy mô độ phức tạp của khách thể quản lý Với một tổ chức nhỏ, chủ thể quản lý thường chỉ là một cá nhân Một tổ chức hoạt một lĩnh vực hoạt động rộng lớn đòi hỏi chủ thể quản lý của nó phải là một hệ thống tổ chức

- Khách thể quản lý là các đối tượng chụi sự điều kiển, tác động của chủ thể quản lý, bao gồm con người, các nguồn tài nguyên, tư liệu sản xuất…

Như vậy, khái niệm quản lý trở thành một thuật ngữ quan trọng của các khoa học xã hội, có cả hoạt động tinh thần thần, tư tưởng

1.2.1.2 Khái niệm quản lý Nhà nước đối với báo chí

Điều 1 Chương I luật báo chí của nước ta cũng nêu rõ: “Báo chí ở nước

Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là phương tiện thông tin đại chúng thiết

Trang 20

yếu đối với đời sống xã hội, là cơ quan ngôn luận của các tổ chức của Đảng, cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội, diễn đàn của nhân dân”

Hoạt động báo chí là hoạt động tư tưởng có mục đích của một giai cấp, một chính đảng nhằm hình thành, phát triển, truyền bá hệ tư tưởng thống trị trong quần chúng, tạo niềm tin và thúc đẩy quần chúng hoạt động vì lợi ích của chính mình Trong xã hội ta, chủ thể công tác tư tưởng là cơ quan lãnh đạo của Đảng, là toàn Đảng bao gồm toàn thể đảng viên trên các đơn vị công tác của mình, toàn bộ hệ thống chính trị và toàn bộ đội ngũ cán bộ tư tưởng

Từ khi có chính quyền, Nhà nước ta có trách nhiệm quản lý hoạt động tư tưởng, quản lý hoạt động báo chí Bởi vì, báo chí là tiếng nói của Đảng, Nhà nước và các tổ chức chính trị, xã hội, nghề nghiệp, là diễn đàn tin cậy của nhân dân Báo chí tuyên truyền, phổ biến đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước, phản ánh nguyện vọng chính đáng của các tầng lớp nhân dân

 Định nghĩa: Quản lý của Nhà nước đối với báo chí là hoạt động tất yếu

của một giai cấp thống trị, một chính đảng nhằm phát triển, tuyên truyền, phổ biến đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước và phản ánh quyền làm chủ thực sự của nhân dân lao động

Quản lý báo chí có thể phân chia thành hai cấp độ: quản lý vi mô và quản

lý vĩ mô Quản lý vi mô là quản lý tòa soạn báo chí Ở cấp độ này, có thể gọi là quản trị tòa soạn báo chí Quản lý vĩ mô là quản lý nhà nước về báo chí

Tất cả các cấp độ quản lý trên đây đều phải dựa trên những quan điểm, nguyên tắc nhất định Quản lý báo chí ở nước ta đều phải đặt dưới sự lãnh đạo trực tiếp, toàn diện và triệt để của Đảng Do đó, việc nắm vững, quán triệt những quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về báo chí và quản lý nhà nước về lĩnh vực báo chí là môt yêu cầu có ý nghĩa cơ bản và cấp thiết

1.2.1.3 Các nguyên tắc cơ bản trong quản lý Nhà nước đối với báo chí

 Nguyên tắc tính khách quan:

- Tính khách quan là nguyên tắc hết sức quan trọng trong hoạt động quản

lý báo chí của Nhà nước ta Nó đòi hỏi phải tính đến các quy luật khách quan và đặc điểm biểu hiện của chúng trong các điều kiện cụ thể

- Việc thực hiện nguyên tắc này cho phép hệ thống quản lý sử dụng đầy

đủ nhất các quy luật khách quan và các ưu thế của chủ nghĩa xã hội để đạt được mục tiêu quản lý Nguyên tắc tính khách quan là nhằm chống lại chủ nghĩa chủ quan, duy ý chí, chống lại những quyết định tùy tiện, những hành động vội vã

mà không chú ý đến các tình thế và quá trình thực tế

- Trong việc quản lý, nguyên tắc tính khách quan là sự cụ thể hóa nguyên tắc phương pháp luận chung của chủ nghĩa duy vật biện chứng, đòi hỏi phải xem xét các sự vật, các hiện tượng một cách khách quan Tính khách quan đòi hỏi phải nghiên cứu đầy đủ nhất các quy luật, các khuynh hướng phát triển của các quá trình xã hội, tính đến hệ thống phức tạp của các mối quan hệ và liên hệ, các

Trang 21

sự việc tồn tại thực tế và tiến trình biến đổi của chúng, phát hiện các mâu thuẫn

và giải quyết các mâu thuẫn

- Quản lý phù hợp với yêu cầu của nguyên tắc khách quan có nghĩa là tạo điều kiện bảo đảm phạm vi tác dụng lớn nhất cho các quy luật phát triển khách quan

- Quan điểm đồng bộ đối với các vấn đề quản lý hoạt động báo chí biểu hiện một đặc điểm căn bản của nguyên tắc tính khách quan Đảng giải quyết các vấn đề phát triển kinh tế - xã hội trong sự thống nhất với vấn đề tư tưởng, thông tin báo chí Quan điểm đồng bộ trong quản lý đòi hỏi phải phối hợp chặc chẽ các vấn đề kinh tế - chính trị - xã hội- tư tưởng Nguyên tắc tính khách quan của quản lý có thể được thực hiện khi có đầy đủ thông tin cần thiết, đúng đắn Hiệu quả của quản lý tùy thuộc vào việc tổ chức các nguồn thông tin, phân tích và nhận thức các khuynh hướng của nó Thông tin thiếu hụt, sai lệch không thể bảo đảm đánh giá các nghị quyết một cách khách quan

 Nguyên tắc tập trung dân chủ

- Cơ sở của nguyên tắc tập chung dân chủ là nguyên lý về sự thống nhất giữa các mặt đối lập trong một sự vật, hiện tượng, quá trình Đây là nguyên tắc

cơ bản của tổ chức trong mọi lĩnh vực

Nội dung của nguyên tắc: phải đảm bảo mối quan hệ chặt chẽ và tối ưu giữa tập chung và dân chủ trong quản lý Tập chung trên cơ sở dân chủ, dân chủ phải trong khuôn khổ tập chung

- Phát huy dân chủ sẽ khơi dậy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của mọi

tổ chức, mọi cá nhân Đó là việc Nhà nước và Đảng không ngừng chăm lo tới những nhu cầu vật chất và tinh thần chính đáng của người dân, trong đó có nhu cầu thông tin, báo chí

- Khi mọi người đã phát biểu ý kiến, đã tìm thấy chân lý, lúc đó quyền tự

do tư tưởng là quyền phục tùng chân lý

- Chân lý là cái gì có lợi cho Tổ quốc, cho nhân dân Có thể thấy những gì trái lại với lợi ích của Tổ quốc, của nhân dân tức là không phải là chân lý Ra sức phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân, chính là phục tùng chân lý.[3]

- Nguyên tắc tập chung dân chủ là nguyên tắc quan trọng trong quản lý,

nó có tính khách quan, phổ biến, song thực hiện thì không hề đơn giản, phụ thuộc nhiều vào bản lĩnh, phẩm chất đạo đức và phong cách của người quản lý Thực hiện nguyên tắc này phải chống các biểu hiện tập chung quan liêu và dân chủ hình thức

 Nguyên tắc hiệu quả

- Đây là nguyên tắc quy định mục tiêu của quản lý, bao gồm cả hiệu quả chính trị, kinh tế và xã hội Nguyên tắc hiệu quả đòi hỏi người quản lý phải có quan điểm hiệu quả đúng đắn, biết phân tích hiệu quả trong từng tình huống

[3]

Hồ Chí Minh: Toàn tập, nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002,t8,tr216

Trang 22

khác nhau, biết kết hợp đúng đắn lợi ích cá nhân và lợi ích tập thể, lợi ích xã hội, biết đặt lợi ích chung lên trước và trên lợi ích cá nhân, từ đó mà ra các quyết định tối ưu nhằm tạo được các thành quả có lợi nhất cho nhu cầu phát triển của

hệ thống

- Hiệu quả của công tác tư tưởng thể hiện ở ba mức độ

+ Một là, hiệu quả lâu dài:

Hiệu quả lâu dài thể hiện ở những kết quả nghiên cứu lý luận, những phát hiện mới về lý luận cung cấp cơ sở khoa học cho việc hoạch định đường lối, chiến lược đúng đắn, xác lập hệ thống giá trị của xã hội

Hiệu quả này có thể bộc lộ ngay hoặc sau đó, trong sự phát triển của thực tiễn Cũng có loại hiệu quả lâu dài nằm ở dạng tiềm tàng mà chỉ trong những điều kiện nhất định mới bộc lộ (thí dụ như kết quả giáo dục lòng yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội)

Hiệu quả này liên quan đến tính bền vững tương đối của các trang thái

và thuộc tính tâm lý xã hội, của trình độ nhận thức tư tưởng và phương pháp tư duy Để đánh giá loại hiệu quả này có thể dùng các biện pháp điều tra, thăm dò

dư luận xã hội, các trắc nghiệm điểm, đối thoại, chọn mẫu với những câu hỏi mang tính nhận thức, phân tích, đánh giá chiều sâu của các phong trào, sự vận động của ý thức xã hội

+ Hai là: hiệu quả trước mắt

Hiệu quả trước mắt thể hiện trong việc hình thành và phát triển ý thứ tự giác của quần chúng trong quá trình thực hiện các nhiệm vụ chính trị, kinh tế, xã hội, văn hóa…đang đặt ra cho xã hội và công tác tư tưởng đang hướng vào

Để đánh giá loại hiệu quả này có thể căn cứ vào các chỉ tiêu kinh tế, xã hội, văn hóa, đã đạt được so với trước đây, các đánh giá phong trào thi đua, mức

độ tham gia của quần chúng ở cấp cơ sở….làm thước đo, dùng để điều tra dư luận xã hội và những nội dung cụ thể của các nhiệm vụ để xác định

+ Ba là: hiệu quả trực tiếp

Hiệu quả trực tiếp là hiệu quả của một phương pháp, một hoạt động tác động tư tưởng xác định, như tác dụng của một bài báo, một bài giảng, một buổi nói chuyện, một cuộc diễn thuyết, một lời kêu gọi thi đua, một gương tiêu biểu được phát động…đối với nhận thức của đối tượng Đây là hiệu quả cụ thể, trực tiếp cả trên hai mặt tuyên truyền, giáo dục và cổ vũ hành động

Việc đánh giá hiệu quả của công tác tư tưởng phải quán triệt các mức độ

và tiêu chí sau:

- Mức độ phát triển lý luận, tổng kết thực tiễn để tìm ra được những quy luật, quá trình, xu hướng phát triển của thực tiễn, từ đó tham gia phát triển và hoàn thiện đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước trong mỗi thời kỳ cách mạng

- Mức độ nâng cao nhận thức của cán bộ, đảng viên, quần chúng (sau một quá trình, một thời gian thực hiện) và những vấn đề chủ yếu liên quan chính trị,

Trang 23

đường lối, quan điểm, lập trường tư tưởng, sự chi phối của hệ tư tưởng Mác – Lênin trong xã hội Hiệu quả cao nhất của công tác tư tưởng đạt được khi nhận thức lý luận trở thành niềm tin của quần chúng, thấm sâu và quần chúng, trở thành tình cảm cách mạng của quần chúng

- Sự chuyển biến của nhận thức tư tưởng phong trào quần chúng thể hiện qua mức độ tích cực, tự giác, số lượng người tham gia, chất lượng hoàn thành nhiệm

vụ của phong trào khi đặt ra

- Sự đồng tình ủng hộ của quần chúng nhân dân, đối tượng của công tác tư tưởng, qua việc thực hiện những chủ trương chính sách cụ thể của địa phương, đơn vị, ngành và cả nước

- Mức độ đồng tình ủng hộ của các đối tượng trong một đợt học tập chính trị, một khóa học, một buổi lên lớp, một cuộc nói chuyện thời sự, một bài phát biểu tại cuộc mít tinh, gặp gỡ công chúng, một lời kêu gọi…

1.2.2 Quản lý Nhà nước về báo chí

1.2.2.1 Hệ thống lãnh đạo, quản lý Nhà nước báo chí hiện nay

 Chính phủ thống nhất quản lí nhà nước về báo chí

Theo quy định của Hiến pháp nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt

nam, Chính phủ là cơ quan chấp hành của Quốc Hội, cơ quan hành chính cao nhất của nước ta Chính phủ thống nhất quản lý việc thực hiện các nhiệm vụ chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng an ninh và đối ngoại của Nhà nước; bảo đảm hiệu lực của bộ máy nhà nước từ Trung ương đến cơ sở; bảo đảm việc tôn trọng và chấp hành hiến pháp và pháp luật; phát huy quyền làm chủ của nhân dân trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, bảo đảm ổn định và nâng cao đời sống vật chất - tinh thần của nhân dân

Ở nước ta, Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về báo chí, giúp việc cho Chính phủ quản lý nhà nước về lĩnh vực này là Bộ Thông tin - truyền thông Đối với những hoạt động báo chí có liên quan đến các Bộ và cơ quan ngang bộ , các bộ có liên quan có trách nhiệm thực hiện quản lý nhà nước về báo chí theo quy định của Chính phủ

 Cơ quan lãnh đạo,quản lý Nhà nước về báo chí ở Trung ương

- Ban tuyên giáo Trung ương, bộ phận chuyên trách là Vụ báo chí – Xuất bản

Đây là cơ quan đực bộ Chính trị và Ban Bí thư ủy và quyền lãnh đạo, chỉ đạo, giám sát, đôn đốc toàn diện hoạt động báo chí trong cả nước theo nguyên tắc Đảng lãnh đạo toàn diện hoạt động báo chí

Ban Tuyên giáo Trung Ương có trách nhiệm thông báo các chủ trương của Đảng đối với hoạt động báo chí, định hướng tuyên truyền phục vụ các nhiệm vụ chính trị của Đảng và Nhà nước; kiểm tra, giám sát việc thực hiện những nhiệm vụ cho phù hợp với tình hình chính trị, kinh tế, xã hội, đưa ra các nghị quyết, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước vào cuộc sống

Trang 24

Ban Tuyên giáo Trung ương cũng có nhiệm vụ tham mưu cho Trung ương những vấn đề liên quan đến việc lãnh đạo và quản lý báo chí, những chủ trương và chính sách đối với báo chí trong từng thời kỳ; tham mưu cho Chính phủ xây dựng các chính sách về báo chí

- Bộ Thông tin và Truyền thông với bộ phận chuyên trách là Cục báo chí và Cục Phát thanh, Truyền hình và Thông tin điện tử

Đây là cơ quan quản lý Nhà nước về báo chí Bộ Thông tin và Truyền thông là cơ quan trực tiếp cao nhất quản lý báo chí theo luật Báo chí nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam, trực tiếp lãnh đạo mọi hoạt động hằng ngày của báo chí trong cả nước; phối hợp với Ban Tuyên giáo Trung ương các quyết định xuất bản, đình bản, khen thưởng, kỷ luật cơ quan và cán bộ báo chí, đề bạt các chức vụ lãnh đạo các cơ quan báo chí

Đồng thời Bộ thông tin Truyền thông còn có nhiệm vụ chủ trì các công việc xây dựng các chính sách về báo chí, tham mưu cho Chính phủ ban hành các quy định của Nhà nước về hoạt động báo chí

- Các bộ, cơ quan ngang bộ - với vai trò là cơ quan chủ quản báo chí - đã có nhiều cố gắng trong công tác chỉ đạo, quản lý cơ quan báo chí thuộc quyền trong việc thực hiện phương hướng, nhiệm vụ, kế hoạch hoạt động; đồng thời tổ chức

bộ máy, xây dựng đội ngũ cán bộ báo chí đảm bảo các tiêu chuẩn về chính trị, nghiệp vụ Nhiều cơ quan chủ quản báo chí đã chủ động xây dựng quy chế quản

lý cơ quan báo chí thuộc quyền, tạo điều kiện cho cơ quan báo chí hoạt động đúng quy định, có sự rành mạch, thống nhất trong chỉ đạo, quản lý và trong công tác phối hợp của cơ quan báo chí với các đơn vị liên quan thuộc Bộ Thông tin và truyền thông

 Cơ quan quản lý Nhà nước về báo chí ở địa phương

Ở các địa phương, Ban Tuyên giáo và Sở Thông tin – Truyền thông của các tỉnh, thành phố trực thuộc lãnh đạo, quản lý hoạt động báo chí ở địa phương theo sự phân cấp của Trung ương và trực tiếp chụi sự lãnh đạo của Ban Tuyên giáo Trung ương và Bộ thông tin Truyền thông trong các nhiệm vụ đó

Thực hiện Nghị định số 13/2008/NĐ-CP ngày 04/2/2008 của Chính phủ,

Sở Thông tin và Truyền thông được thành lập dựa trên chức năng, nhiệm vụ do

Sở Bưu chính, Viễn thông thực hiện và tiếp nhận thêm chức năng quản lý nhà nước về báo chí, xuất bản từ Sở Văn hóa -Thông tin (tên sở trước khi sát nhập) sang

Trong thời gian qua, các Sở Thông tin và truyền thông đã chú trọng thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước về báo chí ở địa phương Các Sở cũng chú trọng công tác tham mưu cho Tỉnh ủy, Thành ủy, UBND tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương về quy hoạch báo chí; soạn thảo mới, cụ thể hóa, hướng dẫn việc thực hiện các văn bản pháp quy về báo chí trên cơ sở nội dung của Luật Báo chí và Nghị định 51/2002/NĐ-CP; thực hiện tốt chức năng quản lý hoạt động của các Văn phòng đại diện và phóng viên thường trú của báo chí trung ương và địa phương khác trên địa bàn…

Trang 25

- Vụ báo chí Bộ Ngoại giao là cơ quan phát ngôn báo chí của Bộ Ngoại giao, phụ trách hoạt động nhà nước về báo chí đối ngoại

Vụ báo chí Bộ Ngoại giao có trách nhiệm quản lý các phóng viên và hoạt động cả các cơ quan đại diện báo chí nước ngoài ở Việt Nam theo Luật Báo chí của nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam và phù hợp với các công ước quốc tế về hoạt động báo chí Đồng thời, Vụ Báo chí Bộ Ngoại giao còn có trách nhiệm theo dõi và định hướng thông tin đối ngoại, tổng hợp thông tin nước ngoài vào Việt Nam

- Hội Nhà báo Việt Nam là tổ chức quần chúng có tính chất chính trị, xã hội và nghiệp vụ của những người làm báo Việt Nam Hội không có chức năng lãnh đạo , quản lý báo chí về mặt Nhà nước, nhưng lại có vai trò quan trọng trong hoạt động báo chí, tham gia tổ chức, vận động hội viên thực hiện tốt các nhiệm vụ chính trị của Đảng và Nhà nước về hoạt động báo chí Hội có cơ sở ở các tỉnh, thành phố, các chi hội và liên chi hội ở các cơ quan Trung ương

1.2.2.2 Các cơ quan chủ quản báo chí

Các cơ quan chủ quản các báo, tạp chí ở Trung ương gồm:

- Bộ Chính trị: cơ quan chủ quản của Báo Nhân dân, tạp chí Cộng sản

- Chính phủ: cơ quan chủ quản của Đài Tiếng nói Việt Nam, Thông tấn xã Việt Nam, Đài truyền hình Việt Nam

- Các Bộ và cơ quan ngang bộ, ban chấp hành Trung ương của các đoàn thể quần chúng (Mặt Trận Tổ quốc Việt Nam, Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh, Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam, Tổng Liên đoàn lao động Việt Nam, ),

là cơ quan chủ quản của các báo và tạp chí thuộc ngành mình

- Các tổng cục (Tổng cục thuế, Tổng cục hải quan, ), các viện nghiên cứu (Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam,Viện Khoa học xã hội Việt Nam), là cơ quan chủ quản các báo và tạp chí thuộc lĩnh vực của mình

Ở các địa phương, Tỉnh ủy, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh là cơ quan chủ quản các báo và tạp chí ở địa phương mình

1.2.3.Vai trò của quản lý nhà nước trong lĩnh vực báo chí

Có thể nói rằng, báo chí là hiện tượng xã hội tác động và chi phối ngày càng sâu sắc đến mọi lĩnh vực của đời sống xã hội Trong họat động lãnh đạo và quản lý kinh tế - xã hội, báo chí cũng là phương tiện và phương thức lợi hại Nếu biết sử dụng thì công năng sẽ đặc biệt hữu dụng; nếu không sẽ gây ra những hậu quả khó lường, thậm chí là nguy cơ trực tiếp của các bùng nổ xã hội

Do đó, quản lý nhà nước về báo chí là đòi hỏi tất yếu khách quan, là nguyên tắc và phương thức bắt buộc để huy động tối đa năng lực tác động của báo chí, truyền thông vào mục đích phát triển đất nước, hạn chế đến mức thấp nhất những hiệu ứng ngoài mong đợi

Quản lý nhà nước (QLNN) về báo chí là làm cho sức mạnh của báo chí được phát huy cao nhất, để báo chí tập trung nguồn lực và mọi cố gắng vào phục

Trang 26

vụ mục đích phát triển đất nước dưới sự lãnh đạo của Đảng; là tạo mọi điều kiện cho báo chí phát triển và phục vụ sự phát triển kinh tế xã hội của đất nước

Báo chí gắn liền với vấn đề tự do tư tưởng, tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do ngôn luận trên báo chí Quản lý nhà nước về báo chí là nhằm bảo đảm

tự do báo chí và tự do ngôn luận trên báo chí được thực hiện trong khuôn khổ pháp luật, vì mục tiêu “dân giàu, nước manh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh”

Dư luận báo chí gắn liến với dư luận xã hội QLNN về báo chí là nhắm bảo đảm cho báo chí phát huy vai trò định hướng dư luận xã hội không chỉ trong nước, trong khu vực mà còn trên phạm vi toàn thế giới

1.2.4 Ý nghĩa của việc quản lý Nhà nước đối với lĩnh vực báo chí hiện nay

Để thực hiện nguyên tắc: "Báo chí, xuất bản nước ta đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước và hoạt động trong khuôn khổ pháp luật", trong năm qua với vai trò quản lý của nhà nước, báo chí tiếp tục khẳng định vị trí quan trọng của mình trong đời sống xã hội và thực hiện tốt hơn vai trò là cơ quan ngôn luận của Đảng, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội và là diễn đàn của nhân dân; tích cực tuyên truyền, cổ vũ phong trào thi đua lao động sản xuất, thực hiện các nhiệm vụ kinh tế - xã hội, phòng, chống và khắc phục hậu quả thiên tai, dịch bệnh xảy ra trong năm; tuyên truyền, vận động nhân dân chấp hành các quy định của pháp luật, nhất là quy định bắt buộc đội mũ bảo hiểm khi

đi xe môtô, xe gắn máy đã đạt được thắng lợi bước đầu rất đáng khích lệ

Báo chí đã tích cực tham gia công tác thông tin, tuyên truyền đối ngoại, đặc biệt là trên truyền hình, phát thanh, báo điện tử trên mạng Internet đã góp phần quan trọng đưa thông tin Việt Nam ra với bạn bè quốc tế và giúp bạn bè quốc tế ngày càng hiểu rõ hơn về đất nước, con người và sự nghiệp đổi mới ở Việt Nam Nhận rõ vai trò là công cụ tích cực đấu tranh chống các hiện tượng tiêu cực, tham nhũng, các tệ nạn xã hội, đấu tranh phê phán các quan điểm, tư tưởng sai trái của các thế lực thù địch, các phần tử cơ hội chính trị, bảo vệ quan điểm, đường lối, cương lĩnh của Đảng và góp phấn tích cực vào công tác tuyên truyền tư tưởng của Đảng, cung cấp một khối lượng kiến thức, thông tin to lớn

về nhiều lĩnh vực cho nhân dân, góp phần nâng cao dân trí, làm phong phú đời sống văn hóa tinh thần cho toàn xã hội, các cơ quan quản lý về báo chí đã thực

sự làm tốt chức năng và nhiệm vụ để phát huy hơn vai trò của hoạt động báo chí trong đời sống xã hội ở nước ta

Trang 27

CHƯƠNG 2:

THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG BÁO

CHÍ TẠI CẦN THƠ 2.1 Khái quát về tình hình báo chí Việt Nam hiện nay

Công cuộc đổi mới hơn 20 năm của Đảng và nhân dân ta đã khẳng định tính đúng đắn của sự lựa chọn con đường đi lên CNXH Sự nghiệp xây dựng thành công CNXH ở Việt nam có những bảo đảm hoàn toàn hiện thực, tương lai dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng văn chủ văn minh là xu thế không thể đảo ngược

Trong tình hình đó, Đảng ta luôn luôn nhấn mạnh vai trò của báo chí trong việc đóng góp vào sự nghiệp đẩy mạnh công cuộc đổi mới, thực hiện công nghiệp hóa hiện đại hóa Từng bước hòa nhập với xu thế phát triển của toàn cầu,

xã hội phát triển các giá trị nhân văn cùng với nhu cầu thông tin giải trí của người dân ngày càng được cải thiện và mở rộng Vì vậy, nền công nghiệp báo chí ở nước ta cũng không ngừng lớn mạnh

Theo những số liệu liệu gần đây nhất thì hiện nay ở nước ta có 706 cơ quan báo chí in (trong đó có 178 báo và 528 tạp chí); về loại hình phát thanh truyền hình: cả nước hiện có 67 đài phát thanh truyền hình (Trung ương: 02; địa phương: 65); một đài truyền hình kỷ thuật số mặt đất Báo chí điện tử là loại hình báo chí mới ra đời ở nước ta từ năm 1997, nhưng tốc độ phát triển nhanh

Cả nước có khoảng 10 báo điện tử, 130 trang tin điện tử của các cơ quan báo chí

và hàng ngàn trang web có nội dung cung cấp thông tin và có gần 15.000 nhà báo được cấp thẻ

Cũng chính do sự phát triển mạnh mẽ đó mà công tác quản lý Nhà nước

về báo chí cũng đã có sự vận động và phát triển Tháng 8/2007, Bộ Thông tin và Truyền thông được thành lập trên cơ sở chức năng nhiệm vụ của Bộ Bưu chính, Viễn thông và tiếp nhận thêm chức năng, nhiệm vụ quản lý nhà nước về báo chí, xuất bản từ Bộ Văn hóa – Thông tin cũ

Theo Điều 1 Nghị định 187/2007/NĐ- CP quy định “Bộ Thông tin và Truyền thông là cơ quan của Chính phủ, thực hiện chức năng quản lý nhà nước

về báo chí; xuất bản; bưu chính và chuyển phát; viễn thông và internet; truyền dẫn phát sóng; tần số vô tuyến điện; công nghệ thông tin, điện tử; phát thanh và truyền hình và cơ sở hạ tầng thông tin truyền thông quốc gia; quản lý nhà nước các dịch vụ công trong các ngành, lĩnh vực thuộc phạm vi quản lý nhà nước của Bộ”

Riêng trong quản lý báo chí, xuất bản, ngoài các đơn vị cũ như Cục Báo chí, Cục xuất bản, từ tháng 10/2008, Bộ Thông tin và Truyền thông đã thành lập thêm các Cục Quản lý Phát thanh, Truyền hình và Thông tin điện tử; Cục thông tin đối ngoại

Việc thành lập Bộ Thông tin và Truyền thông và sau đó là các Cục quản

lý chuyên ngành kể trên thể hiện tư duy mới trong quản lý đa ngành, đa lĩnh vực

Trang 28

theo hướng tinh gọn bộ máy quản lý hành chính, tăng tính trách nhiệm và hiệu quả quản lý phù hợp với xu thế phát triển và hội tụ giữa công nghiệp nội dung

và hạ tầng truyền thông của thế giới

2.2 Thực trạng quản lý Nhà nước trong lĩnh vực báo chí

Quản lý Nhà nước là một trong những nhân tố trọng tâm và góp phần vào sự phát triển của xã hội trong tất cả các lĩnh vực của kinh tế nước ta Trình

độ quản lý của các cơ quan báo chí có tiến bộ rõ rệt, theo dõi sát sao, quản lý chặt chẽ giúp cho hoạt động báo chí ngày càng có tác dụng chính trị- xã hội rõ rệt

Tuy nhiên, trong điều kiện nước ta chuyển sang nền kinh tế thị trường từ một nền kinh tế chưa phát triển, với sản xuất nông nghiệp là chủ yếu nên tình hình kinh tế xã hội cũng còn nhiều diễn biến phức tạp Kinh nghiệm quản lý nền kinh tế thị trường của chúng ta còn yếu kém, luật pháp chưa hoàn thiện và chặt chẽ Bộ máy công quyền còn cồng kềnh, kém hiệu quả, đội ngủ công chức chưa được chuyên môn hóa,…, làm cho công việc thực hiện hóa đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước ta chưa triệt để

2.2.1 Thực trạng pháp luật về quản lý Nhà nước đối với lĩnh vực báo chí

Báo chí tác động từng ngày, từng giờ đến đời sống xã hội Vì vậy, mọi chế độ chính trị đều có chủ trương và biện pháp quản lý báo chí theo hướng có lợi nhất cho mình Ở nước ta, mục tiêu cao nhất của báo chí cách mạng là phục

vụ cho sự phát triển của đất nước và lợi ích của nhân dân

Trong thời gian qua, báo chí đã có bước phát triển vượt bậc về loại hình (số lượng và chất lượng), về đội ngũ và tính chuyên nghiệp; báo chí thực sự là kênh thông tin 2 chiều giúp cho việc tuyên truyền những định hướng, chính sách của Chính phủ đến người dân được nhanh hơn cũng như giúp Chính phủ nắm bắt nhanh hơn kiến nghị của người dân phục vụ công tác chỉ đạo, điều hành Báo chí góp phần tôn vinh gương người tốt, việc tốt cũng như phê phán những sai trái để khắc phục, sửa chữa…Bên cạnh đó, vẫn còn một số tồn tại làm giảm hiệu lực quản lý nhà nước về báo chí Hệ thống các văn bản luật và dưới luật về quản lý báo chí còn thiếu đồng bộ, chưa theo kịp thực tiễn phát triển của báo chí

Bởi vậy, quản lý nhà nước về báo chí trong từng thời kỳ phát triển của đất nước cũng phải có sự điều chỉnh, thay đổi cho phù hợp với sự thay đổi hàng ngày của thực tế đời sống

2.2.2 Về thực tiễn quản lý

Theo quy định của Luật Báo chí năm 1999 (đã sửa đổi, bổ sung), cơ quan quản lý nhà nước về báo chí gồm: cơ quan quản lý nhà nước về báo chí ở trung ương (Bộ Thông tin và truyền thông); các bộ, cơ quan ngang bộ; cơ quan quản

lý nhà nước về báo chí ở địa phương (UBND tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương; Sở Thông tin và Truyền thông)

2.2.2.1 Quản lý nhà nước về báo chí ở trung ương

Trang 29

Bộ Thông tin và Truyền thông là cơ quan quản lý nhà nước về báo chí ở Trung ương Theo quy định của Nghị định số 178/2007/NĐ-CP ngày 03 tháng

12 năm 2007 và Nghị định số 187/2007/NĐ-CP ngày 25 tháng 12 năm 2007, Bộ Thông tin và Truyền thông có chức năng và nhiệm vụ sau:

- Trình Chính phủ dự án luật, dự thảo nghị quyết của Quốc hội, dự án pháp lệnh, dự thảo nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội; dự thảo nghị quyết, nghị định của Chính phủ theo chương trình, kế hoạch xây dựng pháp luật hàng năm của Bộ đã được phê duyệt và các dự án, đề án theo sự phân công của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ

- Trình Thủ tướng Chính phủ chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển dài hạn, năm năm, hàng năm; chương trình mục tiêu quốc gia, chương trình hành động và các dự án, công trình quan trọng quốc gia thuộc ngành, lĩnh vực; các dự thảo quyết định, chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ

- Ban hành các chỉ thị, quyết định, thông tư thuộc phạm vi quản lý nhà

nước của Bộ

- Chỉ đạo, hướng dẫn, kiểm tra và chịu trách nhiệm tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật, chiến lược, quy hoạch, kế hoạch đã được phê duyệt thuộc phạm vi quản lý nhà nước của Bộ; thông tin, tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về ngành, lĩnh vực thuộc phạm vi quản lý nhà nước của Bộ

Thực hiện chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn được Luật Báo chí và Nghị định 187/2007/ NĐ- CP quy định, Bộ Thông tin và Truyền thông thực hiện chức năng quản lý nhà nước về báo chí trên nhiều lĩnh vực, điển hình là các lĩnh vực sau:

Xây dựng pháp luật, quy hoạch, kế hoạch, chính sách phát triển sự nghiệp báo chí

phát triển báo chí

- Trong những năm qua, hoạt động thông tin ở nước ta có bước phát triển mạnh mẽ, toàn diện cả về tính chất, nội dung, hình thức và loại hình Thông tin ngày càng khẳng định là phương tiện thiết yếu của đời sống xã hội, không chỉ là công cụ phục vụ sự lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng, Nhà nước mà còn thực sự là diễn đàn của các tầng lớp nhân dân

Tuy vậy, sự phát triển thông tin ở nước ta vẫn đang trong tình trạng thiếu cân đối, vừa có sự chồng chéo về nội dung, về phân bố, đồng thời vừa có sự thiếu hụt ở một số lĩnh vực, một số địa bàn Nhu cầu được thông tin của một bộ phận nhân dân chưa được đáp ứng đầy đủ Mức độ và cơ hội thụ hưởng thông tin của các tầng lớp nhân dân ở các khu vực không đồng đều Ở một số lĩnh vực thông tin còn nặng yếu tố phổ biến, truyền đạt, tính hai chiều và tính diễn đàn trong thông tin chưa được phát huy đầy đủ

Trang 30

Thông tin về kinh tế, khoa học, công nghệ, pháp luật cho nhân dân, nhất là vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi còn hạn chế Một thời gian dài vẫn chưa xây dựng được chiến lược, quy hoạch phát triển thông tin trong cả nước Công tác quản lý thông tin còn nhiều thiếu sót, khuyết điểm

- Thời gian qua, hoạt động này được Bộ Thông tin và truyền thông thực hiện nghiêm túc, đúng định hướng và sự chỉ đạo của lãnh đạo Đảng và Nhà nước Thực hiện ý kiến chỉ đạo của Bộ Chính trị và Thủ tướng Chính phủ, “Bộ

đã và đang tiếp tục tiến hành rà soát chức năng, nhiệm vụ các cơ quan báo chí, xác định những ấn phẩm chồng chéo về tôn chỉ, mục đích, chức năng, nhiệm vụ, không phù hợp quy hoạch đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt năm 1999; trình Thủ tướng Chính phủ ký ban hành “Chiến lược phát triển thông tin đến năm 2010” , xây dựng quy hoạch hệ thống báo chí in toàn quốc”[6]

Đa số các Bộ, ngành, tỉnh, thành phố có cán bộ lãnh đạo quản lý thông tin, được bổ túc, đào tạo các chương trình quản lý công nghệ thông tin và truyền thông với trình độ tương đương trong khu vực[7]

Tuy nhiên, việc quy hoạch làm không đều, liên tục Thêm nữa, công tác quản lý nhà nước về báo chí còn “thiếu chủ động trong định hướng chiến lược; chạy theo vụ việc, lúng túng trong quy hoạch, sắp xếp”[8]

Thực tế hoạt động báo chí hiện nay vẫn tồn tại hiện tượng vừa thừa, vừa thiếu, nhất là tình trạng có nhiều tờ báo trùng lắp về nội dung và thiếu ở chỗ nội dung một số mảng đề tài không được đề cập đến, nhất là mảng đề tài về các ngành khoa học Thừa, thiếu còn thể hiện ở việc báo được xuất bản, phát hành phân bố không đều, tập trung chủ yếu ở thành thị, còn nông thôn, nhất là vùng sâu, vùng xa, vùng miền núi, nhân dân có rất ít báo hoặc không có báo để đọc

“Nhiều cơ quan báo chí chỉ coi trọng địa bàn thành phố, thị xã vì ở đó có thể phát hành được nhiều, còn các địa bàn khác không được quan tâm đúng mức tình trạng đó dẫn đến mức hưởng thụ sách báo quá chênh lệch giữa thành phố, thị xã và vùng nông thôn, miền núi, vùng sâu, vùng xa Hiện nay, 75% báo chí chủ yếu phát hành ở thành phố, vùng trung tâm, còn 25% báo chí được phát hành ở nông thôn

 Công tác xây dựng, ban hành và tổ chức thực hiện, áp dụng các văn bản qui phạm pháp luật về báo chí

Từ năm 1999 đến nay, Bộ Thông tin và truyền thông đã chủ trì, phối hợp xây dựng và trình Chính phủ ký ban hành, tự ban hành hơn 30 văn bản quy phạm pháp luật trong lĩnh vực báo chí Cùng với Luật Báo chí, các văn bản pháp luật này bước đầu phục vụ có hiệu quả công tác quản lý báo chí

Trang 31

Tuy nhiên, với sự phát triển như vũ bão của công nghệ thông tin và sự thay đổi nhanh chóng của đời sống thì nhìn chung, các văn bản quy phạm pháp luật này còn thiếu đồng bộ, việc sửa đổi, bổ sung chậm được tiến hành Với chức năng là cơ quan quản lý cấp trung ương, Bộ Thông tin và truyền thông chưa kịp thời, chủ động trong việc tổ chức tập huấn triển khai nội dung các văn bản pháp luật cho cán bộ quản lý của các sở; đề xuất, kiến nghị, xây dựng văn bản liên quan đến báo chí còn hạn chế [9] Sự lãnh đạo , chỉ đạo và quản lý của

bộ đôi khi còn nể nang, thiếu kiên quyết, nhất là đối với những vấn đề nhạy cảm phức tập, đột xuất, đòi hỏi chất lượng và hiệu quả cao

- Ban hành quy chế hoạt động báo chí

Một tổ chức muốn được hoạt động trong lĩnh vực thông tin báo chí đòi hỏi phải đáp ứng được một số điều kiện nhất định theo luật Báo chí năm 1989

và luật Báo chí năm 1999 (đã sửa đổi, bổ sung) quy định:

+ Có người đủ tiêu chuẩn để đứng đầu cơ quan báo chí theo quy định tại Điều 13 của Luật Báo chí năm 1989 ;

+ Xác định rõ tên gọi, tôn chỉ, mục đích, đối tượng phục vụ, phạm vi phát hành chủ yếu, công suất, thời gian, tần số, phạm vi toả sóng và ngôn ngữ thể hiện của cơ quan báo chí ;

+ Có trụ sở chính và có các điều kiện cần thiết khác bảo đảm cho hoạt động của cơ quan báo chí

Ngoài việc quy định rõ cá nhân hoạt động trong lĩnh vực báo chí tại Việt nam phải là người mang quốc tịch Việt nam và phải được cấp thẻ nghề mới được xem là nhà báo thì nhà báo còn được cơ quan quản lý nhà nước quy định

rõ những quyền và nghĩa vụ phải có để thực hiện tốt nhiệm vụ của một nhà báo chân chính tại Điều 15 luật Báo chí năm 1989 và khoản 6 Điều 1 Luật sửa đổi

bổ sung luật Báo chí năm 1999

 Nhà báo có những quyền sau đây:

a) Hoạt động báo chí trên lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam; hoạt động báo chí ở nước ngoài theo quy định của Chính phủ;

b) Khai thác và được cung cấp thông tin trong hoạt động báo chí theo quy định của pháp luật;

c) Khước từ việc biên soạn hoặc tham gia biên soạn tác phẩm báo chí trái với quy định của pháp luật về báo chí;

d) Được đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ nghiệp vụ báo chí; hưởng một số chế độ ưu tiên cần thiết trong hoạt động báo chí theo quy định của Chính phủ;

[9]

Bộ Thông tin và truyền thông, Báo cáo tổng kết 8 năm thi hành Luật báo chí; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Báo chí, Hà Nội, tháng 12/2007, tr 15-16

Trang 32

đ) Được pháp luật bảo hộ trong hoạt động nghề nghiệp Không ai được đe doạ, uy hiếp tính mạng, xúc phạm danh dự, nhân phẩm của nhà báo, phá huỷ, thu giữ phương tiện, tài liệu, cản trở nhà báo hoạt động nghề nghiệp đúng pháp luật

 Nhà báo có những nghĩa vụ sau đây:

a) Thông tin trung thực về tình hình trong nước và thế giới phù hợp với lợi ích của đất nước và của nhân dân; phản ánh ý kiến, nguyện vọng chính đáng của nhân dân, góp phần thực hiện quyền tự do báo chí, quyền tự do ngôn luận trên báo chí của công dân;

b) Bảo vệ đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước; phát hiện, bảo vệ nhân tố tích cực; đấu tranh phòng, chống các tư tưởng, hành vi sai phạm;

c) Thường xuyên học tập, rèn luyện nâng cao trình độ chính trị, phẩm chất đạo đức và nghiệp vụ báo chí; không được lạm dụng danh nghĩa nhà báo để sách nhiễu và làm việc vi phạm pháp luật;

d) Phải cải chính, xin lỗi trong trường hợp thông tin sai sự thật, xuyên tạc,

vu khống, xúc phạm uy tín của tổ chức, danh dự, nhân phẩm của cá nhân;

đ) Chịu trách nhiệm trước pháp luật và trước người đứng đầu cơ quan báo chí về nội dung tác phẩm báo chí của mình và về những hành vi vi phạm pháp luật về báo chí

- Cấp giấy phép hoạt động báo chí

Bên cạnh phải đáp ứng một số điều kiện để trở thành cơ quan báo chí thì một tổ chức muốn hoạt động trong lĩnh vực báo chí nhất thiết phải được cấp giấy phép hoạt động báo chí của cơ quan có thẩm quyền cấp Theo quy định tại Luật Báo chí năm 1989 và luật Báo chí năm 1999 đã sửa đổi và bổ sung thì cơ quan quản lý nhà nước về báo chí của nước ta là Bộ Văn hóa - Thông tin nên việc quản lý về lĩnh vực báo chí và cụ thể là việc cấp giấy phép hoạt động là do

Bộ Văn hóa – Thông tin cấp, nhưng hiện nay do việc thay đổi chức năng và quyền hạn giữa các bộ, vì vậy, nhiệm vụ quản lý nhà nước về lĩnh vực báo chí

đã được giao cho Bộ Thông tin và Truyền thông đảm nhận Thế nên, thẩm quyền cấp giấy phép hoạt động của các cơ quan báo chí hiện nay thuộc về thẩm quyền của Bộ Thông tin và Truyền thông theo quy định tại Khoản 5 Điều 2 của Nghị định 187/2007/NĐ-CP, Nghị định Quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Thông tin và Truyền thông

Bộ Thông tin và Truyền thông có nhiệm vụ “Cấp, gia hạn, tạm đình chỉ, đình chỉ, thu hồi giấy phép hoạt động báo chí; giấy phép xuất bản đặc san, số phụ, phụ trương, chương trình đặc biệt, chương trình phụ; thẻ nhà báo; cấp phép cho báo chí xuất bản ở nước ngoài phát hành tại Việt Nam”[10]

[10]

Xem Điểm g Khoản 2 Điều 2 Nghị định 187/2007/NĐ- CP

Trang 33

Công tác quản lý, bồi dưỡng nâng cao trình độ, nghiệp vụ đối với cán

bộ báo chí và việc thực hiện chức năng của cơ quan chủ quản:

chất lượng, trình độ chính trị và nghiệp vụ không ngừng được nâng cao:

Trong những năm đổi mới, phát huy truyền thống vẻ vang của báo chí cách mạng, đội ngũ những người làm báo nước ta không ngừng nâng cao bản lĩnh, giữ vững lập trường trước mọi diễn biến phức tạp của tình hình, tuyệt đối trung thành và tích cực tuyên truyền đường lối, chủ trương của Đảng và Nhà nước, tích cực nêu gương các điển hình tiên tiến, phản ánh ngày càng sâu sắc hơn hiện thực xã hội, đời sống và nguyện vọng của nhân dân, được quần chúng ngày càng yêu mến

Trong hệ thống chính trị của nước ta, nhà báo không chỉ là chủ thể hoạt động báo chí bị quản lý với tư cách là khách thể, mà còn là thành tố tham gia tích cực vào quá trình quản lý nhà nước về báo chí Nhà báo không chỉ có quyền hạn và nghĩa vụ thực hiện tự do báo chí và tự do ngôn luận trên báo chí của công dân, mà còn tham gia giám sát xã hội bảo đảm cho quá trình quản lý đạt được hiệu quả; góp phần tuyên truyền pháp luật, giáo dục ý thức chấp hành pháp luật cho nhân dân cũng chính là góp phần tham gia quản lý nhà nước về báo chí Đặc biệt trong những năm gần đây, công tác đào tạo cán bộ cũng đã đi vào nề nếp với những trung tâm đào tạo ngày càng có uy tín Trình độ quản lý của các cơ quan báo chí có tiến bộ rõ rệt, theo dõi sát sao, quản lý chặt chẽ giúp cho hoạt động báo chí ngày càng có tác dụng chính trị- xã hội rõ rệt Tất cả những nhân tố trên đã làm cho báo chí trong thời kỳ đổi mới có bước tiến bộ rất mạnh mẽ về mọi mặt, có thể nói là đã để lại dấu ấn trong lịch sử báo chí nước nhà

Tuy nhiện hiện nay vẫn còn một số người làm báo thiếu tu dưỡng, rèn luyện về phẩm chất đạo đức nghề nghiệp và trách nhiệm công dân, vi phạm luật báo chí, vi phạm kỷ luật thông tin của Đảng Thậm chí, có cơ quan báo chí còn

để tư nhân, trong đó có cả tư nhân ngoại quốc thao túng việc lựa chọn đề tài và chủ đề tuyên truyền…

Bất kỳ một tổ chức nào hoạt động cũng đều phải đưa ra được những điều kiện hoạt động theo đúng những quy định của cơ quan chủ quản, và lĩnh vực báo chí cũng không là ngoại lệ Một cơ quan báo chí muốn được thành lập

và hoạt động thì cần phải tuân thủ một số điều kiện nhất định theo quy định của pháp luật về báo chí

 Theo quy định tại Điều 18 Luật Báo chí 1989, một tổ chức muốn thành lập cơ quan báo chí phải có đủ các điều kiện sau đây:

- Có người đủ tiêu chuẩn để đứng đầu cơ quan báo chí theo quy định tại Điều 13 của Luật Báo chí năm 1989;

Trang 34

- Xác định rõ tên gọi, tôn chỉ, mục đích, đối tượng phục vụ, phạm vi phát hành chủ yếu, công suất, thời gian, tần số, phạm vi toả sóng và ngôn ngữ thể hiện của cơ quan báo chí;

- Có trụ sở chính và có các điều kiện cần thiết khác bảo đảm cho hoạt động của cơ quan báo chí

 Cấp giấy phép hoạt động cho các cơ quan báo chí :

-Việc cấp giấy phép hoạt động báo chí phải căn cứ vào các điều kiện quy định tại Điểm g khoản 5 Điều 2 của Nghị định 187/2007/NĐ-CP và phải phù hợp với quy hoạch phát triển báo chí Bộ Thông tin và Truyền thông cấp giấy phép hoạt động báo chí

Hồ sơ xin cấp giấy phép hoạt động báo chí do Bộ Thông tin và Truyền thông quy định

- Cơ quan báo chí phải có giấy phép do cơ quan quản lý nhà nước về báo chí cấp mới được hoạt động Trong trường hợp không cấp giấy phép thì chậm nhất là ba mươi ngày, kể từ ngày nhận được hồ sơ xin phép hoạt động báo chí,

cơ quan quản lý nhà nước về báo chí phải trả lời bằng văn bản, nói rõ lý do Tổ chức bị từ chối cấp giấy phép có quyền khiếu nại với cơ quan có thẩm quyền hoặc khởi kiện tại Tòa án

- Thành lập cơ quan đại diện, cơ quan thường trú của cơ quan báo chí:

Cơ quan báo chí có nhu cầu thành lập cơ quan đại diện, cơ quan thường trú ở trong nước phải có đủ điều kiện về nhân sự, trụ sở và phải được sự đồng ý bằng văn bản của ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương nơi cơ quan báo chí xin đặt cơ quan đại diện, cơ quan thường trú và phải thông báo cho

Bộ Thông tin và Truyền thông biết

Chính phủ quy định cụ thể việc đặt cơ quan đại diện, cơ quan thường trú của báo chí Việt Nam ở nước ngoài và cơ quan đại diện, cơ quan thường trú của báo chí nước ngoài tại Việt Nam

Để nguồn thông tin đưa đến cho công chúng là đúng luồng và chuẩn mực, cần phải có sự định hướng vĩ mô của Nhà nước Muốn vậy, việc tổ chức thông tin cho báo chí, quản lý thông tin của báo chí phải được thực hiện một cách nghiêm túc và tuân thủ theo đúng quy định của luật Báo chí

Căn cứ vào luật Báo chí năm 1989 và luật sửa đổi bổ sung năm 1999, việc tổ chức thông tin cho báo chí; quản lý thông tin của báo chí được quy định rất cụ thể về vấn đề cung cấp thông tin trên báo chí, trả lời trên báo chí và việc cải chính của cơ quan báo chí, đặc biệt với việc nêu lên những trường hợp không được thông tin trên báo đã thể hiện rõ chức năng quản lý tổng thể của cơ quan nhà nước trong lĩnh vực báo chí

- Cơ quan báo chí không chỉ thực hiện vai trò đưa nhưng thông tin đến quãng đại quần chúng mà còn phải tiếp nhận thông tin từ những lĩnh vực sâu

Trang 35

rộng trong đời sống xã hội Để thực hiện nhiệm vụ này, không những cơ quan báo chí phải có đủ lực lượng cán bộ báo chí có năng lực mà còn dựa vào khả năng tiếp nhận và xử lý thông tin thông qua việc cung cấp thông tin từ các cá nhân và tổ chức khác trong xã hội Tại Điều 7 – Luật Báo chí năm 1989, việc cung cấp thông tin trên báo chí không chỉ là quyền mà còn là nghĩa vụ của một

số tổ chức, nhằm giúp cho báo chí có thể thông tin một cách chính xác và kịp thời đến quần chúng nhân dân Đối với cơ quan hành chính nhà nước việc cung cấp thông tin được quy định cụ thể tại Quyết định số 77/2007, ngày 28/05/2007 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành quy chế phát ngôn và cung cấp thông tin cho báo chí

Theo quy định của pháp luật, người phát ngôn và cung cấp thông tin cho báo chí của cơ quan hành chính nhà nước (sau đây gọi là Người phát ngôn) là người đứng đầu cơ quan hành chính nhà nước hoặc người được người đứng đứng đầu cơ quan hành chính nhà nước giao nhiệm vụ phát ngôn và cung cấp thông tin cho báo chí Họ tên và chức vụ người phát ngôn của cơ quan hành chính nhà nước phải được công bố bằng văn bản cho các cơ quan báo chí và cơ quan quản lý nhà nước về báo chí

 Để có thể đảm nhận vai trò là người phát ngôn đòi hỏi cá nhân đó phải đáp ứng một số tiêu chuẩn của pháp luật quy định cụ thể tại Khoản 3 Điều 2 của

Quyết định 77/2007/ QĐ-TTg ngày 28/05/2007của Thủ tướng Chính phủ:

+Là cán bộ, công chức thuộc biên chế chính thức và đang công tác tại cơ quan hành chính nhà nước;

+Có lập trường chính trị, tư tưởng vững vàng, có phẩm chất đạo đức tốt, có thái độ trung thực, khách quan;

+Có am hiểu sâu về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, cơ cấu tổ chức và lĩnh vực quản lý của cơ quan hành chính nhà nước mà mình đang công tác; có hiểu biết nhất định về lĩnh vực báo chí, nắm vững các quy định pháp luật về báo chí; +Có năng lực phân tích, tổng hợp, xử lý thông tin báo chí và có khả năng giao tiếp với báo chí

 Căn cứ vào Điều 5 của Quyết định 77/2007, Quyền và trách nhiệm của Người phát ngôn được quy định như sau:

1 Người phát ngôn được nhân danh, đại diện cơ quan hành chính nhà nước phát ngôn và cung cấp thông tin cho báo chí Chỉ những thông tin do người phát ngôn cung cấp mới được coi là thông tin chính thống của cơ quan hành chính nhà nước

Cơ quan báo chí, nhà báo có trách nhiệm đăng, phát, phản ánh trung thực nội dung phát ngôn và thông tin do người phát ngôn cung cấp, đồng thời phải ghi rõ họ tên người phát ngôn, cơ quan hành chính nhà nước của người phát ngôn

2 Người phát ngôn có quyền yêu cầu các đơn vị, cá nhân có liên quan trong cơ quan mình cung cấp thông tin, tập hợp thông tin để phát ngôn, cung cấp

Trang 36

thông tin định kỳ, đột xuất cho báo chí theo quy định tại Điều 3, Điều 4 của Quy chế này; để trả lời các phản ánh, kiến nghị, phê bình, khiếu nại, tố cáo của tổ chức, công dân do cơ quan báo chí chuyển đến hoặc đăng, phát trên báo chí theo quy định của pháp luật

3 Người phát ngôn có quyền từ chối, không phát ngôn và cung cấp thông tin cho báo chí trong các trường hợp sau:

a) Những vấn đề thuộc bí mật nhà nước; những vấn đề bí mật thuộc nguyên tắc và quy định của Đảng; những vấn đề không thuộc quyền hạn phát ngôn;

b) Các vụ án đang được điều tra hoặc chưa xét xử, trừ trường hợp các cơ quan hành chính nhà nước, cơ quan điều tra có yêu cầu cần thông tin trên báo chí những vấn đề có lợi cho hoạt động điều tra và công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm;

c) Những văn bản chính sách, đề án đang trong quá trình soạn thảo mà theo quy định của pháp luật chưa được cấp có thẩm quyền cho phép phổ biến, lấy ý kiến rộng rãi trong xã hội

4 Người phát ngôn chịu trách nhiệm trước pháp luật về nội dung phát ngôn

và thông tin cung cấp cho báo chí

Trong trường hợp người phát ngôn không phải là người đứng đầu cơ quan hành chính nhà nước thì còn phải chịu trách nhiệm trước người đứng đầu cơ quan hành chính nhà nước về tính chính xác, tính trung thực của nội dung phát ngôn và thông tin cung cấp cho báo chí

- Với chức năng là cơ quan ngôn luận của Đảng, và là diễn đàn của quảng đại quần chúng nhân dân, nên cơ quan báo chí được nhà nước trao cho những quyền hạn rất đặc trưng đó là quyền trả lời trên báo chí Căn cứ vào Điều 8 luật Báo chí hiện hành thì những người đứng đầu cơ quan báo chí được quyền yêu cầu các cơ quan, tổ chức và những người có chức vụ trả lời vấn đề mà công dân nêu ra trên báo chí Thêm vào đó, cơ quan báo chí khi phát hiện hoặc nhận được khiếu nại, tố cáo của công dân về những việc có dấu hiệu phạm tội thì phải báo ngay cho cơ quan điều tra hoặc Viện kiểm sát bằng văn bản; cơ quan điều tra, Viện kiểm sát có trách nhiệm thụ lý và trả lời cho báo chí cách giải quyết

- Khi báo chí thông tin sai sự thật, xuyên tạc, vu khống xúc phạm danh dự của tổ chức, danh dự, nhân phẩm của công dân thì phải cải chính và xin lỗi hoặc đăng, phát sóng lời cải chính của tổ chức, công dân Trong trường hợp báo chí không cải chính hoặc cải chính không thoả đáng; không đăng, phát sóng lời cải chính của tổ chức, công dân mà không có lý do chính đáng thì họ có quyền khiếu nại với cơ quan chủ quản báo chí hoặc yêu cầu Toà án xét xử

Khi tiến hành cải chính, cơ quan báo chí phải đăng và phát sóng kịp thời

và tương xứng với thông tin cần cải chính của cơ quan báo chí của tổ chức và công dân theo đúng quy định tại khoản 4 Điều 1 của Luật Báo chí sửa đổi bổ sung năm 1999

Trang 37

Để có thể hiểu rõ hơn những quy định về việc cải chính trên báo chí, Chính phủ đã ra quyết định ban hành Nghị định 51/2002/NĐ-CP, Nghị định quy định chi tiết thi hành Luật Báo chí năm 1989; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Báo chí, cụ thể tại Điều 4 như sau:

1 Khi có văn bản kết luận của cơ quan nhà nước có thẩm quyền về nội dung thông tin trên báo chí sai sự thật, xuyên tạc, vu khống, xúc phạm uy tín của

tổ chức, danh dự, nhân phẩm của cá nhân thì cơ quan báo chí phải đăng, phát nguyên văn văn bản kết luận đó cùng với lời xin lỗi của cơ quan báo chí, của tác giả Cơ quan báo chí phải đăng, phát văn bản kết luận vào đúng vị trí với cùng một kiểu, cỡ chữ (đối vớibáo in, báo điện tử), đúng chuyên mục đã phát sóng (đối với báo nói, báo hình)mà báo chí đã đăng, phát thông tin trên

Thời điểm đăng, phát được tính từ ngày cơ quan báo chí nhận được văn bản kết luận như sau: năm (5) ngày đối với báo ngày, đài phát thanh, đài truyền hình; mười (10) ngày đối với báotuần và trong số ra gần nhất đối với tạp chí Đối với tạp chí xuất bản trên ba mươi (30) ngày/kỳ thì ngoài việc phải đăng trên tạp chí đó trong số ra gần nhất, còn phải thông qua một tờ báo hàng ngày hoặc đài phát thanh, đài truyền hình có phạm vi phát hành, phủ sóng tương đương với phạm vi phát hành của tạp chí mình để đăng, phát kết luận đó và phải chịu toàn

bộ phí tổn về việc cảichính

2 Trường hợp cơ quan báo chí, tác giả tự phát hiện nội dung thông tin trên báo chí, tác phẩm của mình có nội dung sai sự thật, xuyên tạc, vu khống, xúc phạm uy tín của tổ chức, danh dự, nhân phẩm của cá nhân thì phải cải chính, xin lỗi trên báo chí của mình đồng thời phải gửi văn bản cải chính, xin lỗi đến tổ chức, cá nhân đó

Thể thức cải chính, xin lỗi trên báo chí như quy định tại khoản 1 Điều 5 Nghị định 51/2002/NĐ-CP

3 Cơ quan báo chí nhận được lời phát biểu bằng văn bản của tổ chức, cá nhân về những nội dung đề cập trên báo chí của mình khi có căn cứ cho rằng báo chí đã thông tin sai sự thật, xuyên tạc, vu khống, xúc phạm đến họ thì phải đăng, phát lời phát biểu đó đúng vị trí, chuyên mục mà báo chí đã đăng, phát thông tin Lời phát biểu không được vượt quá diện tích, thời lượng đã đăng, phát nội dung thông tin nói trên

Trường hợp không nhất trí với lời phát biểu của tổ chức, cá nhân, cơ quan báo chí có quyền thông tin tiếp làm rõ quan điểm của mình Sau ba (3) lần đăng, phát ý kiến phát biểu của tổ chức, cá nhân và cơ quan báo chí mà không

có sự nhất trí giữa hai bên thì cơ quan quản lý nhà nước về báo chí có quyền yêu cầu ngừng đăng, phát các thông tin của đương sự Tổ chức, cá nhân có quyền khiếu nại đến cơ quan chủ quản của báo chí đó, cơ quan quản lý nhà nước về báo chí hoặc khởi kiện tại Tòa án theo quy định của pháp luật

Thể thức, thời gian đăng, phát lời phát biểu của tổ chức, cá nhân như quy định tại khoản 1 Điều 4 Nghị định 51/2002/NĐ- CP

Trang 38

Cơ quan báo chí có quyền không đăng, phát lời phát biểu của tổ chức, cá nhân nếu lời phát biểu của tổ chức, cá nhân đó vi phạm pháp luật, xúc phạm đến

uy tín, danh dự của cơ quan báo chí, tác giả Trong trường hợp đó cơ quan báo chí phải gửi văn bản báo cho tổ chức, cá nhân biết, nói rõ lý do, đồng thời phải gửi báo cáo bằng văn bản tới cơ quan quản lý nhà nước về báo chí

- Mặc dù là cơ quan ngôn luận của Đảng và Nhà nước, các cơ quan báo chí

có trách nhiệm và quyền hạn đưa thông tin đến quảng đại quần chúng, nhưng để quyền tự do ngôn luận trên báo chí được sử dụng đúng đắn, báo chí phải tuân theo những điều sau đây [11]:

1 Không được đăng, phát những tác phẩm báo chí, nghệ thuật, văn học, tài liệu trái pháp luật, có nội dung chống đối Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam và phá hoại khối đoàn kết toàn dân

2 Không được miêu tả tỉ mỉ những hành động dâm ô, chém giết rùng rợn trong các tin, bài, hình ảnh về các vụ án và hành động tội ác Không được đăng, phát tin, bài, hình ảnh, tranh, ảnh khỏa thân và có tính chất kích dâm, thiếu thẩm

mỹ, không phù hợp với thuần phong mỹ tục Việt Nam

3 Không được đăng, phát ảnh của cá nhân mà không có chú thích rõ ràng hoặc làm ảnh hưởng đến uy tín, danh dự của cá nhân đó (trừ ảnh thông tin các buổi họp công khai, sinh hoạt tập thể, các buổi lao động, biểu diễn nghệ thuật, thể dục thể thao, những người có lệnh truy nã, các cuộc xét xử công khai của Tòa án, những người phạm tội trong các vụ trọng án đã bị tuyên án)

4 Không được đăng, phát tin bài ảnh hưởng xấu đến đời tư, công bố tài liệu, thư riêng của cá nhân khi chưa được sự đồng ý của người viết thư, người nhận thư hoặc người chủ sở hữu hợp pháp tài liệu, bức thư đó Đối với tài liệu, thư riêng của cá nhân có liên quan đến các vụ tiêu cực, vi phạm pháp luật thì cơ quan báo chí thực hiện theo quy định tại khoản 6 Điều 5 Nghị định 51/2002/NĐ-

CP

5 Không được đăng, phát tin, bài truyền bá hủ tục, mê tín, dị đoan Đối với loại thông tin về những vấn đề khoa học mới chưa được kết luận, những chuyện thần bí thì cần có chú dẫn xuất xứ tư liệu (nguồn gốc tác phẩm, nơi công

bố, thời gian)

6 Việc sử dụng cácvăn kiện của các cơ quan Đảng và Nhà nước, tài liệu của các tổ chức phải theo đúng những quy định trong Pháp lệnh Bảo vệ bí mật nhà nước ngày 28 tháng 12 năm 2000

Đối với văn kiện, tài liệu của tổ chức, tài liệu, thư riêng của cá nhân có liên quan đến các vụ án đang được điều tra hoặc chưa xét xử, cơ quan báo chí có quyền khai thác theo nguồn tin của mình và phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về những nội dung thông tin đó

Công tác quản lý hợp tác, việc liên doanh, liên kết và kinh doanh với các

cơ quan báo chí nước ngoài:

[11]

Điều 10 luật Báo chí năm 1989

Trang 39

Bộ Thông tin và Truyền thông là cơ quan thực hiện chức năng quản lý nhà nước về hoạt động báo chí ở Việt Nam liên quan đến nước ngoài Bộ cũng

có chức năng quản lý về cấp giấy phép cho hoạt động báo chí, thông tin nước ngoài tại Việt Nam Ngoài ra, trong quá trình thực hiện quản lý nhà nước về thông tin đối ngoại, Bộ Thông tin và Truyền thông sẽ chủ chì phối hợp với các

Bộ khác như: Bộ ngoại giao, Bộ Nội vụ, Bộ Kế hoạch và Đầu tư,…

Nhà nước mở rộng quan hệ quốc tế trong hoạt động báo chí theo nguyên tắc tôn trọng độc lập, chủ quyền quốc gia, bình đẳng và các bên cùng có lợi, nhằm giúp cho nước ta học hỏi kinh nghiệm của một số quốc gia trên thế giới trong việc tổ chức hệ thống thanh tra chuyên ngành, xây dựng hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về thông tin và truyền thông, một số kinh nghiệm về trình

tự, thủ tục tiến hành một cuộc thanh tra, đặc biệt là kinh nghiệm thanh tra, kiểm tra về trò chơi trực tuyến, trang thông tin điện tử, xuất bản, in, phát hành, việc

xử phạt vi phạm hành chính chuyên ngành về báo chí, xuất bản

Ngoài ra, còn có thể mở rộng sự hiểu biết lẫn nhau giữa các nước và các dân tộc, tham gia vào sự nghiệp của nhân dân thế giới vì hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội Hợp tác quốc tế trong lĩnh vực đào tạo, bồi dưỡng

về trình độ khoa học, công nghệ hiện đại, kỹ năng, kỹ xảo về phát thanh, truyền hình, công nghệ tin học, in ấn, chế bản; về nghiệp vụ làm báo và kỹ năng sử dụng các phương tiện kỹ thuật thông tin hiện đại khác

Tăng cường việc đưa thông tin của Việt Nam đến với cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài và cộng đồng quốc tế Hợp tác trong việc kinh doanh, phát hành báo chí, xuất bản phẩm của Việt Nam ở nước ngoài, tiếp âm, tiếp sóng phát thanh, truyền hình ở các khu vực trên thế giới Phát triển hệ thống thông tin trên Internet, tăng số lượng các thông tin bằng tiếng nước ngoài trên mạng để phục vụ tốt hơn công tác thông tin đối ngoại

Có biện pháp tích cực trong việc ngăn chặn những thông tin độc hại từ bên ngoài xâm nhập vào Việt Nam Tăng cường hợp tác quốc tế trong việc thiết lập trật tự thông tin quốc tế mới

Qúa trình thương mại hóa báo chí và hình thành các tập đoàn báo chí vẫn tiếp tục phát triển Báo chí ngày nay sống nhờ nguồn thu từ quảng cáo Bên cạnh

đó, các cơ quan báo chí đã tự đổi mới và biến mình thành như một tập đoàn kinh

tế, không chỉ hoạt động trong lĩnh vực báo chí mà còn lấn sân sang các hình thức kinh doanh khác Xu hướng thương mại hóa báo chí còn đặt ra thách thức đối với người làm báo đó là: làm thế nào để không bị đồng tiền chi phối tin tức… nhưng xem ra vấn đề này rất nan giải

Hướng dẫn, kiểm tra việc thực hiện phương hướng, nhiệm vụ báo chí

và các quy định pháp luật về báo chí; thực hiện khen thưởng và xử lý các vi phạm theo quy định của pháp luật:

Thanh tra, kiểm tra trong hoạt động báo chí

Trong những năm qua, cùng với việc hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng, sự phát triển nhanh chóng của khoa học, công nghệ đã tạo điều kiện

Trang 40

thuận lợi cho sự phát triển nhanh chóng, vững mạnh của ngành thông tin và truyền thông

Hoạt động thanh tra, kiểm tra báo chí đang ngày càng đi vào nề nếp “Từ năm 1999 đến nay, Bộ đã tiếp nhận và giải quyết hơn 1.750 đơn thư khiếu nại,

tố cáo, phản ánh về những thông tin không chính xác trên báo chí do các cá nhân, tổ chức trong cả nước gửi tới liên quan đến gần 1.000 vụ việc”[12] Một số nhà báo lợi dụng uy tín nghề nghiệp làm trái với đạo đức, trách nhiệm của người làm báo, vi phạm Luật Báo chí đã bị xử lý nghiêm bằng các hình thức: cảnh cáo, tịch thu thẻ nhà báo, phê bình, khiển trách Những người đứng đầu cơ quan báo chí có người vi phạm, do buông lỏng quản lý cũng phải chịu những hình thức kỷ luật đúng mức

Bên cạnh những thành tựu đã đạt được, thời gian qua cũng đã phát sinh nhiều vấn đề phức tạp Hàng loạt các sai phạm về đăng tải thông tin không chính xác, thông tin trái quy định của pháp luật, trái thuần phong mỹ tục, xúc phạm, bôi nhọ nhân phẩm đã bị xử phạt vi phạm hành chính, hàng chục đầu sách, ấn phẩm đã bị đình chỉ phát hành, hàng chục nhà báo đã bị thu hồi thẻ

Hàng chục doanh nghiệp, hàng trăm đại lý cung cấp các dịch vụ bưu chính, viễn thông, công nghệ thông tin đã bị xử phạt với số tiền lên đến hàng tỷ đồng, đặc biệt trong thời gian gần đây là các dịch vụ nhắn tin, dịch vụ trò chơi điện tử….Sự đa dạng, phức tạp của các hình thức thông tin, của nội dung thông tin, đặc biệt là thông tin điện tử, của các loại hình giải trí trên mạng Internet Công tác thanh tra báo chí, xuất bản là hai lĩnh vực mới của Thanh tra

Bộ Thông tin Truyền thông sau khi Bộ Thông tin và Truyền thông được thành lập, tiếp nhận công tác quản lý nhà nước trong lĩnh vực báo chí, xuất bản từ Bộ Văn hóa Thông tin nay là Bộ Văn hoá Thể thao Du lịch chuyển sang Ngày 02/02/2008 Bộ trưởng Bộ Thông tin và Truyền thông ký Quyết định số 14/2008/QĐ-Bộ TT&TT quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Thanh Tra Bộ Thông tin và Truyền thông Ngày 24/07/2008 Chánh thanh tra Bộ Thông tin và Truyền thông ban hành Quyết định số 581/QĐ-TTra

về việc Quy định chế độ làm việc, phân công công việc của lãnh đạo, nhiệm vụ quyền hạn và mối quan hệ công tác của các phòng thuộc thanh tra Bộ Thông tin

và Truyền thông, Quyết định này có nêu rõ chức năng nhiệm vụ của Phòng thanh tra báo chí xuất bản có 8 nhiệm vụ cơ bản đó là:

+ Tham gia xây dựng các văn bản quy phạm pháp luật trong lĩnh vực Báo chí, Xuất bản;

+ Xây dựng chương trình kế họach công tác thanh tra kiểm tra hàng năm; + Chủ trì phối hợp với các cơ quan liên quan để thanh tra kiểm tra việc chấp hành pháp luật đối với các tổ chức, cá nhân họat động trong lĩnh vực báo chí xuất bản;

[12]

Bộ Thông tin và truyền thông, Báo cáo tổng kết 8 năm thi hành Luật báo chí; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Báo chí, Hà Nội, tháng 12/2007, tr 14.

Ngày đăng: 05/04/2018, 22:40

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm