1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

LUẬN văn LUẬT HÀNH CHÍNH PHÁP LUẬT về QUẢN lý và sử DỤNG đất NGHĨA TRANG, NGHĨA địa

96 602 4

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 96
Dung lượng 674,86 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG CỦA PHÁP LUẬT VỀ QUẢN LÝ VÀ SỬ DỤNG ĐẤT NGHĨA TRANG, NGHĨA ĐỊATrong chương này, người viết sẽ tiến hành tìm hiểu các vấn đề chung về quản lý và sử dụng đất ngh

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ

NGHĨA TRANG, NGHĨA ĐỊA

ThS Nguyễn Thị Thanh Xuân Nguyễn Tri Phương

MSSV: 5075294 Lớp Tư Pháp 3-k33

Cần Thơ, tháng 5 năm 2011

Trang 2

NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN

Trang 3

NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN PHẢN BIỆN

Trang 4

8 ATVMT: An toàn về môi trường

9 TDMNPB: Trung du miền núi phía Bắc

Trang 5

MỤC LỤC

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Mục đích nghiên cứu 2

3 Đối tượng nghiên cứu 2

4 Phạm vi nghiên cứu 2

5 Phương pháp nghiên cứu 3

6 Bố cục đề tài 3

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ GIAO ĐẤT VÀ SỬ DỤNG ĐẤT NGHĨA TRANG, NGHĨA ĐỊA 1.1 Một số khái niệm cơ bản 4

1.1.1 Khái niệm nghĩa trang, nghĩa địa 4

1.1.1.1 Khái niệm nghĩa trang 4

1.1.1.2 Khái niệm nghĩa địa 5

1.1.2 Sử dụng đất nghĩa trang 5

1.2 Một số khái niệm có liên quan 6

1.2.1 Nghĩa trang liệt sỹ 6

1.2.2 Nghĩa trang quốc gia 6

1.2.3 Hoạt động xây dựng nghĩa trang 6

1.2.4 Quản lý nghĩa trang 7

1.2.5 Dịch vụ nghĩa trang 7

1.2.6 Người sử dụng dịch vụ nghĩa trang … 8

1.3 Lược sử về đất nghĩa trang, nghĩa địa 8

1.4 Mối quan hệ giữa giao đất và sử dụng đất nghĩa trang .10

1.5 Các nguyên tắc quản lý, sử dụng đất được giao xây dựng nghĩa trang .11

1.6 Nội dung của công tác quản lý nghĩa trang … 12

1.7 Vai trò của hoạt động giao đất xây dựng nghĩa trang … 14

Chương 2 THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ QUẢN LÝ VÀ SỬ DỤNG ĐẤT NGHĨA TRANG, NGHĨA ĐỊA 2.1 Hiện trạng pháp luật về quản lý đất nghĩa trang hiện nay .16

2.1.1 Cơ sở pháp lý của việc giao đất xây dựng nghĩa trang … 16

2.1.2 Thẩm quyền giao đất xây dựng nghĩa trang .19

Trang 6

2.1.3 Tình hình quản lý đất nghĩa trang hiện nay … 21

2.1.4 Trách nhiệm của các cơ quan quản lý … 24

2.1.5 Trách nhiệm và nghĩa vụ của các tổ chức, cá nhân được giao đất nghĩa trang .25

2.2 Hiện trạng về quy hoạch nghĩa trang hiện nay .27

2.2.1 Quy hoạch địa điểm nghĩa trang .27

2.2.2 Quy hoạch xây dựng nghĩa trang … 29

2.3 Hiện trạng sử dụng đất nghĩa trang hiện nay … 32

2.3.1 Vấn đề giá đất nghĩa trang .32

2.3.2 Vấn đề giá dịch vụ nghĩa trang .35

2.4 Những tác động từ sự hỗ trợ, ưu đãi của nhà nước đến tình hình đầu tư xây dựng nghĩa trang .37

2.5 Thực trạng quản lý, sử dụng đất nghĩa trang trên địa bàn cả nước hiện nay .40

2.5.1 Khái quát chung về thực trạng quản lý, sử dụng đất nghĩa trang trên địa bàn cả nước và nguyên nhân của thực trạng này hiện nay 40

2.5.1.1 Khái quát chung về thực trạng quản lý, sử dụng đất nghĩa trang trên phạm vi cả nước .40

2.5.1.2 Thực trạng quản lý, sử dụng đất nghĩa trang trên một số địa bàn cụ thể .44

2.5.1.3 Nguyên nhân chủ yếu của thực trạng hiện nay 46

2.5.2 Những ảnh hưởng tiêu cực của thực trạng xây dựng nghĩa trang không theo quy hoạch hiện nay .48

2.5.2.1 Xây dựng nghĩa trang không theo quy hoạch ảnh hưởng lớn đến quỹ đất nông nghiệp .48

2.5.2.2 Xây dựng nghĩa trang không theo quy hoạch gây tác động xấu đế môi trường .49

Chương 3 GIẢI PHÁP ĐỀ XUẤT NHẰM HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ GIAO ĐẤT VÀ SỬ DỤNG ĐẤT NGHĨA TRANG, NGHĨA ĐỊA 3.1 Giải pháp trong công tác xây dựng và áp dụng pháp luật về quản lý, sử dụng nghĩa trang .53

3.1.1 Trong công tác xây dựng pháp luật … 53

3.1.2 Trong công tác áp dụng pháp luật … 57

Trang 7

3.2 Biện pháp tác động đối với cộng đồng dân cư trong thực hiện chính sách về quản lý, sử dụng đất nghĩa trang 58 3.3 Giải pháp bảo vệ quỹ đất nông nghiệp trước thực trạng xây dựng nghĩa trang

tự phát hiện nay 61 3.4 Giải pháp bảo vệ môi trường trong quy hoạch, xây dựng nghĩa trang 62 3.5 Giải pháp định hướng phân bố và quy hoạch đất xây dựng nghĩa trang … 64 KẾTLUẬN … 68

Trang 8

LỜI MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài:

Sinh, lão, bệnh, tử là một quy luật tất yếu của đời người, con người lúc sống trong xã hội cần có đất đai để làm tư liệu sản xuất, nhưng trước hết là để ở Và, khi chết con người cũng cần có đất để an táng thi hài Đặc biệt có những người tuy còn sống nhưng cũng đã quan tâm đến việc lo hậu sự cho mình trong đó có chuẩn bị đất để táng thi hài sau khi chết Điều này từ ngàn xưa đã là phong tục tập quán của dân tộc

Nó vừa thể hiện nét văn hóa, tín ngưỡng, tâm linh, vừa thể hiện lòng tôn trọng người

đã chết vì những đóng góp của họ cho xã hội lúc sinh thời Tuy nhiên, do ảnh hưởng của lịch sử dân tộc như nền kinh tế trọng nông quen với đời sống thôn làng, do chiến tranh kéo dài suốt nhiều thập kỷ Nên vấn đề quản lý liên quan đến đất táng dành cho người chết trước đây gần như bị bỏ ngỏ, chỉ thực hiện táng theo tập quán Vì vậy, hình thành rất nhiều những nghĩa địa tự phát của người dân một cách rất không theo nề nếp trong suốt thời gian dài, gây lãng phí đất đai

Hiện nay vấn đề này ngày càng trở nên bức xúc, và tồn tại nhiều bất cập Trong khi Luật đất đai qua các thời kỳ cũng như các văn bản có lên quan điều chỉnh rất chung chung, dẫn đến tình trạng mỗi nơi làm một kiểu không thống nhất trong quản lý đất nghĩa trang, nghĩa địa Thậm chí hiện nay vấn đề tự ý khoanh bao, lấn chiếm diện tích đất nông nghiệp để làm nghĩa trang, nghĩa địa diễn ra khá phức tạp, một mặt gây ảnh hưởng đến quỹ đất nông nghiệp, mặt khác còn gây ảnh hưởng xấu đến cảnh quan môi trường và mỹ quan chung Đất nước Việt Nam đang phát triển và hội nhập quốc

tế, Việt Nam cũng là quốc gia đông dân số trên thế giới, tuy hiện tại dân số đang ở thời

kỳ vàng - dân số trẻ nhưng tương lai giai đoạn này cũng sẽ qua đi và đến thời kỳ dân

số già Vấn đề này sẽ gây nên một áp lực không nhỏ đến quỹ đất hiện nay cho việc sinh sống cũng như để chôn cất người chết Trên thế giới ngày nay vấn đề quan tâm hàng đầu là phát triển bền vững Để có thể phát triển được bền vững, một trong các yếu tố cần phải có đó là xem xét mối tương quan giữa số dân và tài nguyên - trước hết

là tài nguyên đất

Chính vì vậy khi nghiên cứu vấn đề pháp luật về quản lý và sử dụng đất nghĩa trang, nghĩa địa là hoàn toàn phù hợp với xu thế phát triển Và đáp ứng được đầy đủ các yêu cầu quản lý nhà nước về lĩnh vực đất đai trên các phương diện về chính trị, kinh tế văn hóa, xã hội của Đảng, Nhà nước và nhân dân trong thời kỳ mới Vấn đề

Trang 9

này hiện nay cần được quản lý một cách thống nhất chặt chẽ hơn, sử dụng đất một cách tiết kiệm, hiệu quả đúng mục đích và theo quy hoạch kế hoạch sử dụng đất hẳn hoi Vì vậy, hoàn thiện pháp luật về quản lý và sử dụng đất nghĩa trang sẽ đáp ứng được mục tiêu phát triển đất nước và xã hội theo hướng bền vững Đây đồng thời cũng

là lý do thôi thúc người viết tìm hiểu và chọn đề tài này trong luận văn tốt nghiệp cử nhân luật của mình

2 Mục đích nghiên cứu

Pháp luật về quản lý, sử dụng đất nghĩa trang, nghĩa địa hiện nay chưa được quan tâm đúng mức Trong đó vẫn còn nhiều bất cập chưa được tháo gỡ, từ khâu tổ chức quản lý đến thực tiễn sử dụng quỹ đất được giao Nghiên cứu vấn đề này trong

xu thế phát triển của xã hội đáp ứng thực tế dân số ngày càng đông, để tìm hiểu những tồn tại của quy định hiện hành và những bất cập trong quản lý Trên cơ sở xác định rõ những tồn tại hạn chế đó trong cơ chế hiện nay, người viết sẽ đưa ra một số giải pháp nhằm giải quyết vấn đề trên nên tảng khoa học luật Đồng thời, cũng nêu ra những định hướng phát triển trong thời gian tới và đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện luật thực định hiện nay

3 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu chủ yếu là đất nghĩa trang, nghĩa địa gồm: đất được giao

để xây dựng nghĩa trang nhân dân và các nghĩa trang, nghĩa địa tự phát hiện nay Riêng nghĩa trang liệt sỹ và nghĩa trang quốc gia không thuộc phạm vi đối tượng nghiên cứu của đề tài

lý luận chung về khái niệm, đặc điểm, tính thời sự của vấn đề Đồng thời, nêu ra những nhận định, phân tích, đánh giá hiện trạng của công tác quản lý, thực thi các chính sách có liên quan của Đảng và Nhà nước cũng như hiện trạng sử dụng đất nghĩa trang, nghĩa địa hiện nay

Trang 10

5 Phương pháp nghiên cứu

Để phục vụ cho nội dung nghiên cứu và tạo cơ sở nền tảng giải quyết vấn đề, người viết sử dụng kết hợp nhiều phương pháp nghiên cứu khoa học khác nhau như: phương pháp phân tích tổng hợp, phương pháp so sánh, phương pháp phân tích luật viết, phương pháp phân tích đánh giá số liệu, để lý giải và chứng minh cho các vấn đề đặt ra

Trang 11

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG CỦA PHÁP LUẬT VỀ QUẢN LÝ VÀ SỬ DỤNG ĐẤT NGHĨA TRANG, NGHĨA ĐỊA

Trong chương này, người viết sẽ tiến hành tìm hiểu các vấn đề chung về quản lý

và sử dụng đất nghĩa trang, nghĩa địa (sau đây gọi chung là nghĩa trang) như: các khái niệm cơ bản, lược sử về đất nghĩa trang, mối quan hệ giữa giao đất và sử dụng đất nghĩa trang, nguyên tắc quản lý, nội dung quản lý đất nghĩa trang cũng như vai trò của hoạt động giao đất xây dựng nghĩa trang trên các mặt chính trị, kinh tế, văn hóa - xã hội trong giai đoạn mới hiện nay

1.1 Một số khái niệm cơ bản

1.1.1 Khái niệm nghĩa trang, nghĩa địa

1.1.1.1 Khái niệm nghĩa trang

Theo quan niệm các nước phương Tây thì nghĩa trang hay còn gọi là nghĩa địa,

là nơi mà thi thể người chết và di hài sau khi hỏa táng được chôn cất Trong tiếng Anh,

từ nghĩa trang là “cemetery”, ngụ ý vùng đất đó dành riêng cho cho việc chôn cất Ở phương Tây, nghĩa trang là nơi mà các hoạt động tưởng nhớ người đã khuất được tiến hành Các nghi lễ này được thực hiện tùy theo phong tục tập quán hay tôn giáo Ở các nước phương Tây nói chung, tới thế kỷ XIX, nghĩa trang dần thay thế cho bãi tha ma,

vì nhiều lý do, như để đảm bảo vệ sinh, tiện cho việc quản lý, quy hoạch và vì đất đai trở nên chật chội, khan hiếm, thậm chí đắt đỏ

Ở Việt Nam nghĩa trang là danh từ được sử dụng từ rất lâu, nhưng chỉ chính thức xuất hiện trong luật đất đai năm 1993 dưới hình thức điều chỉnh đất nghĩa trang,

và nhà làm luật cũng không định nghĩa thế nào là đất nghĩa trang mà chỉ xem loại đất này là một phân nhóm riêng trong nhóm đất chuyên dùng Mãi đến năm 2008 khi

Chính phủ ban hành Nghị định số 35/2008/NĐ-CP về xây dựng, quản lý và sử dụng nghĩa trang, ngày 25 tháng 3 năm 2008 (sau đây gọi là Nghị định số 35/2008/NĐ-CP) ,

theo đó đưa ra khái niệm nghĩa trang

“Nghĩa trang là nơi táng người chết tập trung theo các hình thức táng khác nhau, thuộc các đối tượng khác nhau và được quản lý xây dựng theo quy hoạch.”1

Đây là khái niệm tương đối hoàn chỉnh và chính thống theo quan điểm chung của các nhà làm luật Có thể thấy về cơ bản nội hàm của khái niệm này đã khái quát được đặc điểm của nghĩa trang cũng như công dụng của loại đất được giao sử dụng

1 Điều 2 nghị định 35/2008/NĐ-CP

Trang 12

làm nghĩa trang

1.1.1.2 Khái niệm nghĩa địa

Khái niệm nghĩa địa không được đề cập đến trong pháp luật hiện hành cũng

như trong Nghị định số 35/2008/NĐ-CP Tuy nhiên một cách khái quát thì: nghĩa địa

trước hết là một danh từ được sử dụng phổ biến từ rất xưa và quen thuộc với người dân Việt Nam

Nghĩa địa còn có tên gọi khác là bãi tha ma, nơi chôn người chết của các làng người Việt Nghĩa địa thường nằm ở ngoài rìa làng, trên một thế đất tương đối cao

và khô ráo, xa nơi ở và đường qua lại Ở một số vùng, nơi có tục cải táng, nghĩa địa thường chia làm hai khu, khu mai táng (hung táng) và khu cải táng (cát táng) Phần khu cải táng thì lăng mộ thường được quy tập theo dòng họ và gia tộc theo thứ tự từ tổ tiên đến các thế hệ kế tiếp Một số dòng họ, chi họ chôn cất thành khu riêng biệt trong nghĩa địa, mồ mả được xây, có bia ghi rõ tên tuổi, nơi sinh, ngày sinh, ngày mất của từng người Một số làng lớn có dựng ngôi nhà ở gần cổng làm nơi tiến hành nghi lễ trước khi hạ huyệt Các làng lớn thường cắt cử người trông coi không để cho trâu bò, súc vật và trẻ con tự tiện quấy phá Nghĩa địa có sơ đồ

để tránh nhầm lẫn phần mộ Xưa kia, một số trường hợp chết không được chôn ở nghĩa địa như trẻ nhỏ chưa thành niên, chết bất đắc kì tử (bị đánh, chém, sét đánh, ngã cây, chết đuối ).2

Từ hai khái niệm nghĩa trang, nghĩa địa đã nêu, có thể thấy khi so sánh, đối chiếu chúng lại với nhau thì rõ ràng trong quan niệm của người dân từ xưa, nghĩa địa

là nơi chôn cất tạp trung người chết và thường là tự phát theo mỗi làng, mỗi thôn, mỗi gia đình Đặc điểm của nó là khi nói đến nghĩa địa người ta hình dung đó là một nơi vắng vẻ, không có người ở, người chết được chôn cất tự do, không theo chiều hướng,

mộ to nhỏ tùy ý và không phải mất tiền mua đất Ngược lại nghĩa trang là nơi được quản lý và có quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất theo quy định, các mộ phải theo chiều hướng nhất định, quy mô, kiến trúc của mộ cũng phải theo quy định, đảm bảo các yêu cầu về tính kỹ thuật khi xây dựng và đảm bảo yêu cầu về bảo vệ môi trường theo quy định của nhà nước

Trang 13

trang mới hoặc cải tạo mở rộng các nghĩa địa cũ, để táng người chết dưới các hình thức táng khác nhau Gắn liền với đó là các hoạt động xây dựng đài tưởng niệm hoặc

hạ tầng cơ sở phục vụ cho việc sử dụng nghĩa trang, nghĩa địa theo quy hoạch và kế hoạch sử dụng đất đã được duyệt

Sử dụng đất nghĩa trang là một hoạt động đặc biệt của chủ thể được giao đất, với nhiều ưu đãi, và chỉ nhằm một mục đích là để táng người chết Đây là hoạt động thực sự cần thiết, có ý nghĩa to lớn phục vụ đời sống dân sinh

1.2 Một số khái niệm có liên quan

1.2.1 Nghĩa trang liệt sỹ

Nghĩa trang liệt sỹ phân biệt với các nghĩa trang nhân dân Loại hình nghĩa trang này do nhà nước chính thức quản lý, là nơi thể hiện sự biết ơn của Đảng, Nhà nước và nhân dân đối với những người đã hi sinh trong chiến tranh, hoặc trong khi đang thi hành các nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ tổ quốc Như vậy:

“Nghĩa trang liệt sỹ là nơi chôn cất phần mộ đồng thời là nơi tưởng niệm, ghi công các liệt sỹ đã hy sinh khi đang làm nhiệm vụ bảo vệ và xây dựng Tổ quốc.”3

1.2.2 Nghĩa trang quốc gia

Nghĩa trang quốc gia phân biệt với nghĩa trang liệt sỹ và nghĩa trang nhân dân Theo đó:

“Nghĩa trang quốc gia là nơi chôn cất phần mộ đồng thời là nơi tưởng niệm, ghi công các cán bộ lãnh đạo cao cấp của Đảng và Nhà nước, các danh nhân văn hóa, các nhà khoa học có công với đất nước.”4

1.2.3 Hoạt động xây dựng nghĩa trang

Vấn đề sử dụng đất để xây dựng nghĩa trang được xác định là việc làm quan trọng trong đời sống hằng ngày và tâm linh của người Việt Nam ta, nó thể hiện truyền thống uống nước nhớ nguồn, biết ơn những thế hệ đi trước và người có công với nước,

đó cũng là nét đẹp văn hoá trong sinh hoạt cộng đồng và xã hội con người Các khu nghĩa trang đã gắn với nơi chôn nhau cắt rốn, gắn với tiềm thức của mỗi con người Thông thường người ta có thể sinh sống, làm ăn ở nhiều nơi nhưng khi về già lại nghĩ

về quê hương, nghĩ đến mồ mả của ông bà và đặc biệt là lo đến chỗ an nghỉ cuối cùng của chính bản thân mình

Vì vậy, hoạt động xây dựng nghĩa trang có ý nghĩa to lớn, nó thể hiện hiệu quả

3 Điều 2 nghị định 35/2008/NĐ-CP.

4 Điều 2 nghị định 35/2008/NĐ-CP

Trang 14

của vấn đề hậu giao đất nghĩa trang Nó chứng minh là đất được giao sử dụng đúng mục đích, có ý nghĩa trong việc đáp ứng nhu cầu và phục vụ đời sống dân sinh Cho nên, để hoạt động này ngày càng đi vào thực chất, Chính phủ đã ban hành nghị định

35/2008 NĐ-CP để điều chỉnh hoạt động này, theo đó:

“Hoạt động xây dựng nghĩa trang bao gồm lập quy hoạch xây dựng, lập dự án đầu tư xây dựng, khảo sát xây dựng, thiết kế xây dựng, thi công xây dựng, giám sát thi công xây dựng, quản lý dự án đầu tư xây dựng nghĩa trang, lựa chọn nhà thầu trong hoạt động xây dựng và các hoạt động khác liên quan đến xây dựng nghĩa trang.”5

1.2.4 Quản lý nghĩa trang

Quản lý trước hết là hoạt động của các cá nhân tổ chức được trao quyền, với hoạt động quản lý nghĩa trang thì đó là trách nhiệm của cá nhân, đơn vị được giao đất xây dựng nghĩa trang Trong đó các đơn vị này phải có quy chế quản lý riêng được duyệt để thực hiện quản lý theo nội dung quy chế đó Như vậy:

“Quản lý nghĩa trang là việc thực hiện các nội dung theo quy chế quản lý đã được phê duyệt.”6

1.2.5 Dịch vụ nghĩa trang

Dịch vụ nghĩa trang là một khái niệm tương đối mới, và xuất hiện như một sự tất yếu trước những yêu cầu thực tế của xã hội Hiện nay, có thể nói mối quan tâm lớn sau vấn đề giao đất để xây dựng nghĩa trang, đặc biệt là giao đất cho các tổ chức cá nhân theo hình thức xã hội hóa lĩnh vực này, ngoài vấn đề quản lý còn là vấn đề cung cấp dịch vụ của các nghĩa trang sau khi xây dựng Sự xuất hiện các dịch vụ nghĩa trang thể hiện sự tiến bộ trong nhận thức, suy nghĩ của người dân về vấn đề này, cũng như

sự tiến bộ, văn minh của xã hội Có thể xem đây cũng là hình thức của một dạng kinh doanh mới ra đời trong nền kinh tế thị trường (có cầu thì sẽ có cung) Vì vậy, đáp ứng yêu cầu quản lý nhà nước trong tình hình mới, Nghị định 35/2008/NĐ-CP, đã quan tâm điều chỉnh, theo đó, tại điều 2 quy định như sau:

“Dịch vụ nghĩa trang bao gồm tổ chức tang lễ, mai táng hoặc hỏa táng thi hài hoặc hài cốt Xây mộ, cải táng, chăm sóc mộ, tu sửa mộ, chăm sóc, bảo quản, lưu giữ tro cốt tại các nhà lưu giữ tro cốt theo nhu cầu và dịch vụ phục vụ thăm viếng, tưởng niệm.”7

5 Điều 2 nghị định 35/2008/NĐ-CP.

6 Điều 2 nghị định 35/2008/NĐ-CP

7 Điều 2 nghị định 35/2008/NĐ-CP.

Trang 15

1.2.6 Người sử dụng dịch vụ nghĩa trang

“Người sử dụng dịch vụ nghĩa trang là người đang sống có quan hệ với người được táng trong nghĩa trang hoặc đến thăm viếng tưởng niệm.”8

Như vậy, theo khái niệm này người sử dụng dịch vụ nghĩa trang rất đa dạng nhưng trước hết phải là người còn sống Những người này có thể là người thân, bạn

bè, hay có bất kỳ mối quan hệ nào với người đã chết mà có nhu cầu thăm viếng mộ phần, hoặc tưởng niệm người chết được táng tại các nghĩa trang Đây cũng là một nhu cầu thực tế thể hiện đời sống tinh thần, thể hiện sự tưởng nhớ, lòng tri ân của những người còn sống với người thân, bạn bè đã chết

1.3 Lược sử về đất nghĩa trang, nghĩa địa

Lĩnh vực đất đai và quản lý đất đai đã sớm được nhà nước ta quan tâm ngay từ sau những năm 1945 cho đến khi đất nước hoàn toàn thống nhất sau năm 1975 thể hiện trong các chính sách, văn bản quy phạm pháp luật về đất đai Đất nghĩa trang, nghĩa địa cũng đã hình thành từ rất lâu đời và có thể khẳng định rằng từ khi con người xuất hiện, ở đâu có đất dành cho người sống thì ở đó đương nhiên có đất dành riêng cho người chết (hay là đất nghĩa trang, nghĩa địa) Tuy nhiên, trước đây thì cụm từ nghĩa địa được sử dụng phổ biến, rộng rãi hơn trong đời sống nhân dân, trong khi pháp luật vẫn chưa có quy định điều chỉnh loại đất này Và, trong lĩnh vực đất đai nói chung trong đó có đất nghĩa trang phần lớn được quản lý bằng tập quán trong nhân dân là chính Trên cơ sở đó các địa phương tự phân cấp quản lý tùy theo đặc điểm, tình hình riêng, nên thường không có sự thống nhất

Thực tế từ năm 1972, Ủy ban thường vụ Quốc hội đã có nghị quyết giao cho Chính phủ chỉ đạo việc xây dựng luật đất đai Đã rất nhiều dự thảo hoàn thành từ năm 1972 đến năm 1980 Song, đối chiếu với các yêu cầu của thực tiễn, các dự thảo dự án luật chưa đáp ứng được trước tình hình mới khi cả nước đi lên xây dựng Chủ nghĩa xã hội Vì vậy, đầu thập kỷ thứ 8 của thế kỷ XX chúng ta chuyển sang xây dựng các dự thảo Pháp lệnh về đất đai thay thế cho các ý tưởng ban đầu Tuy nhiên, nhiều dự thảo xây dựng nhưng cũng không được thông qua.9

Đến khi đất nước được ổn định ngày càng đi lên, những yêu cầu mới đặt ra bức thiết, quản lý toàn diện bằng pháp luật trong lĩnh vực đất đai Và, Luật đất đai đầu tiên của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam được Quốc hội thông qua ngày 29

8 Điều 2 nghị định 35/2008/NĐ-CP

9 Giáo trình Luật đất đai Trường Đại học luật Hà Nội, trang 11.

Trang 16

tháng 12 năm 1987.

Cụm từ đất nghĩa địa cũng từ đó lần đầu tiên được ghi nhận trong Luật đất đai năm 1987 (Bấy giờ luật không sử dụng cụm từ nghĩa trang), và loại đất này được xếp vào nhóm đất chuyên dùng Cụ thể được ghi nhận tại điều 36 Luật đất đai năm 1987

còn nội dung cơ bản về quản lý loại đất này thì quy định tại điều 43 “Đất làm nghĩa địa phải được quy hoạch thành khu tập trung, xa dân cư, thuận tiện cho việc chôn cất, thăm viếng, hợp vệ sinh và tiết kiệm đất.” Đến khi Luật đất đai 1993 ra đời thay thế

Luật đất đai năm 1987, thì trong tình hình mới luật xây dựng thêm khái niệm đất nghĩa trang đi liền với đất nghĩa địa tạo nên cụm từ đất nghĩa trang, nghĩa địa Có thể thấy, mặc dù ghi nhận thêm cụm từ đất nghĩa trang nhưng về tính chất loại đất, nhà làm luật vẫn xác định không khác gì với luật năm 1987 vẫn xếp chúng vào nhóm đất chuyên dùng Nhóm đất này được ghi nhận tại điều 62 Luật đất đai năm 199310 và nội dung cơ bản quản lý loại đất này (điều 70) thì vẫn giữ nguyên theo tinh thần của điều 43 Luật đất đai năm 1987 không có thay đổi gì Đây là đặc điểm khác với luật đất đai 2003 sau này

Thêm vào đó, việc thêm cụm từ nghĩa trang các nhà làm luật dường như không muốn loại trừ đất nghĩa địa, cũng không cho thấy sự phân biệt rạch ròi hai loại đất này

mà có ý để chúng đi liền nhau thành một cụm từ, đặc trưng bởi cùng một nhóm đất có chung một tính chất Như vậy, có thể quản lý được toàn diện với hiện trạng đã có và trước những yêu cầu của tình hình mới đặt ra Có thể lý giải cho nhận định này, là vì trước đây thời điểm luật đất đai năm 1987 ra đời trong hoàn cảnh đất nước chịu nhiều hậu quả chiến tranh, phải tập trung nguồn lực cho nhiều mục tiêu khác quan trọng hơn như xây dựng, tái thiết đất nước, phát triển kinh tế Cho nên vấn đề quy hoạch đất đai nói chung và đất nghĩa trang nói riêng chưa được đặt ra Mà chỉ trên cơ sở hiện trạng đất nghĩa trang đã hình thành để hợp pháp hóa chúng vào trong luật

Mặt khác, một cách phân biệt cơ bản nhất đất nghĩa trang và nghĩa địa là: đất nghĩa trang thì phải có quy hoạch và kế hoạch sử dụng đất được duyệt khi tiến hành xây dựng (trong khi đó lúc bấy giờ nước ta chưa có điều kiện thực hiện) Đất nghĩa địa thì ngược lại thường là những khu đất tự phát, không có quy hoạch trước (trừ trường

10 Điều 62 Đất chuyên dùng là đất được xác định sử dụng vào mục đích không phải là nông nghiệp, lâm nghiệp, làm nhà ở bao gồm: đất xây dựng các công trình công nghiệp, khoa học, kỹ thuật, hệ thống giao thông, hệ thống thuỷ lợi, đê điều, văn hoá, xã hội, giáo dục, y tế, thể dục, thể thao, dịch vụ, đất sử dụng cho nhu cầu quốc phòng, an ninh, đất dùng cho thăm dò, khai thác khoáng sản, đá, cát, đất làm muối, đất làm đồ gốm, gạch, ngói và các vật liệu xây dựng khác, đất di tích lịch sử, văn hoá và danh lam thắng cảnh, đất nghĩa trang, nghĩa địa, đất có mặt nước sử dụng vào các mục đích không phải là nông nghiệp.

Trang 17

hợp đã được cơ quan có thẩm quyền đưa vào quản lý, cải tạo hoặc nâng cấp mở rộng) Thiết nghĩ vì vậy mà luật đất đai năm 1987 không đề cập đến đất nghĩa trang Tóm lại, việc luật đất đai năm 1987 chỉ sử dụng cụm từ đất nghĩa địa cũng là hợp với thực tế và điều kiện lúc bấy giờ nhằm mục đích điều chỉnh hiện trạng thực tế của các nghĩa địa

đã hình thành

Dần dần theo xu hướng đất nước ngày càng phát triển, vấn đề quy hoạch đất nghĩa trang được đặt ra Và, vì việc chỉ ghi nhận trong luật cụm từ đất nghĩa địa không còn phù hợp với thực tiễn đời sống xã hội hiện tại nữa Cho nên Luật đất đai năm 1993 quyết định điều chỉnh thêm đất nghĩa trang, nghĩa địa để đáp ứng yêu cầu mới Có thể nói việc ghi nhận này của luật đất đai 1993 là khá hợp lý và phù hợp với xu thế phát triển của đất nước

Cũng trên tinh thần đó của Luật đất đai năm 1993, Luật đất đai năm 2003 cũng ghi nhận cụm từ đất nghĩa trang, nghĩa địa với mục đích và ý nghĩa tương tự Tuy nhiên trong cách phân loại đất thì có khác, vì loại đất này được xếp vào nhóm đất phi nông nghiệp Ta thấy về mặt bản chất thì loại đất này không thay đổi qua các thời kỳ nhưng về tính chất loại đất thì khác hơn trước Lịch sử hình thành đất nghĩa trang, nghĩa địa là một lịch sử lâu dài, đi liền với chiều dài của lịch sử dân tộc Trước đây do nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan mà mãi đến năm 1987 mới được các nhà làm luật quan tâm điều chỉnh, và dần hoàn thiện qua các thời kỳ cho đến ngày hôm nay

1.4 Mối quan hệ giữa giao đất và sử dụng đất nghĩa trang

Quan hệ giữa giao đất và sử dụng đất nghĩa trang là mối quan hệ mang tính chất hành chính, theo cơ chế xin cho Tức cá nhân, tổ chức muốn có đất xây dựng nghĩa trang phải có đơn xin giao đất hợp lệ và nếu được cơ quan có thẩm quyền chấp thuận thì mới được quyền sử dụng đất Giao đất là yếu tố quyết định cho việc sử dụng đất nghĩa trang, vì loại đất này phải được cơ quan nhà nước có thẩm quyền giao theo hình thức không thu tiền sử dụng đất Hơn nữa quỹ đất cần cho xây dựng nghĩa trang là khá lớn, việc chọn vị trí cũng rất nhạy cảm Nếu khâu đầu tiên này làm tốt như giao đúng thẩm quyền, đủ diện tích cần trên thực tế thì sẽ thúc đẩy cho quá trình sử dụng được thuận lợi, đúng pháp luật, đảm bảo an toàn vệ sinh môi trường Đồng thời đáp ứng được nhu cầu của xã hội, nâng cao chất lượng quy hoạch chung trong xây dựng và đời sống tâm linh của cộng đồng

Trang 18

Ngược lại, quá trình sử dụng cũng có tác động trở lại giúp cho công tác giao đất nghĩa trang cũng như pháp luật có liên quan ngày càng hoàn thiện phù hợp với thực tế

Vì khi sử dụng phải luôn tuân thủ pháp luật về quy hoạch và xây dựng Sử dụng cũng phải luôn đi đôi với cải tạo, nâng cấp để quỹ đất được giao phát huy hết những giá trị của nó

1.5 Các nguyên tắc quản lý, sử dụng đất được giao xây dựng nghĩa trang

Giữa nội dung giao đất và sử dụng đất nghĩa trang có một mối quan hệ tác động qua lại Hoạt động giao đất là hoạt động đặc thù trên một đối tượng đặc thù, vì đất đai

là một loại tư liệu sản xuất đặc biệt Đây là loại tài nguyên không giống như các loại tài nguyên khác như dầu khí, than đá mà nếu thiếu ta có thể nhập khẩu được Cho nên, yêu cầu đặt ra đối với hoạt động này là phải có sự quản lý chặt chẽ từ phía các cơ quan nhà nước có thẩm quyền Đặc biệt là khi giao đất để xây dựng nghĩa trang, cơ quan chức năng không chỉ quan tâm đến vấn đề thuộc tính, vị trí của đất được giao, những ảnh hưởng và tầm quan trọng của nó đến đời sống xã hội mà còn phải đặc biệt chú ý đến việc đất đã giao có được sử dụng đúng mục đích của nó hay không Vì đây là loại hình giao đất mà khi giao nhà nước có nhiều ưu đãi hơn các hình thức giao đất khác (vấn đề này sẽ được đề cập sâu hơn ở chương 2)

Đất được giao xây dựng nghĩa trang tuy nhằm mục đích đặc thù là để táng người chết nhưng suy cho cùng thì việc quản lý và sử dụng quỹ đất này vẫn phải tuân thủ các nguyên tắc chung về sử dụng đất của Luật đất đai Bên cạnh đó còn phải tuân thủ các nguyên tắc quản lý riêng trong lĩnh vực này do chính phủ ban hành Vì vậy, việc thực hiện các nguyên tắc trong quá trình sử dụng đất được giao là rất cần thiết, và phải luôn được quan tâm quản lý từ phía các cơ quan có thẩm quyền Ở đây, người viết phân ra thành 2 nhóm nguyên tắc: nhóm nguyên tắc chung và nhóm các nguyên tắc riêng đặc thù trong quản lý và sử dụng đất nghĩa trang

+ Nhóm các nguyên tắc chung trong sử dụng đất gồm: “Sử dụng đất đúng quy

hoạch, kế hoạch sử dụng đất và đúng mục đích sử dụng đất Sử dụng đất tiết kiệm, có hiệu quả, bảo vệ môi trường và không làm tổn hại đến lợi ích chính đáng của người sử dụng đất xung quanh Người sử dụng đất thực hiện các quyền, nghĩa vụ của mình trong thời hạn sử dụng đất theo quy định của Luật này và các quy định khác của pháp luật có liên quan.”11

11 Điều 11 Luật đất đai năm 2003.

Trang 19

+ Trên cơ sở những nguyên tắc chung này CP đã quy định những nguyên tắc đặc thù đối với hoạt động xây dựng và sử dụng đất nghĩa trang Theo đó, các hoạt động quản lý, sử dụng đất được giao để xây dựng nghĩa trang, phải tuân theo các nguyên tắc cụ thể sau đây:

Tất cả các nghĩa trang đều phải được quy hoạch và xây dựng theo quy hoạch được cấp có thẩm quyền phê duyệt; Việc táng người chết phải được thực hiện trong các nghĩa trang, trường hợp táng trong các khuôn viên nhà thờ, nhà chùa, thánh thất tôn giáo phải bảo đảm vệ sinh môi trường và được sự chấp thuận của chính quyền địa phương theo phân cấp của UBND các tỉnh TP trực thuộc Trung ương sau đây gọi tắt là UBND cấp tỉnh Việc táng phải phù hợp với tín ngưỡng, phong tục, tập quán tốt, truyền thống văn hóa và nếp sống văn minh hiện đại Sử dụng đất đúng mục đích, có hiệu quả và bảo đảm các yêu cầu về cảnh quan, bảo vệ môi trường.12 Đây là những nguyên tắc cơ bản nhất mà một chủ thể khi được giao đất xây dựng và sử dụng đất nghĩa trang phải tuân thủ trong quá trình quản lý, sử dụng loại đất này Ở đây, ngoài những nguyên tắc riêng quy định với vấn đề quản lý nghĩa trang, ta thấy sự đặc biệt nhấn mạnh vấn đề sử dụng đất Đất được giao phải được sử dụng theo đúng quy hoạch, kế hoạch, tiết kiệm, đúng mục đích, hiệu quả và phải đảm bảo về vệ sinh môi trường trong suốt quá trình sử dụng Chỉ có trên cơ sở thực hiện đúng các nguyên tắc đề ra mới tạo được nền tảng cho vấn đề sử dụng đất bền vững Góp phần phát huy được công dụng và tiềm lực của quỹ đất được giao Mặt khác, sẽ nâng cao hơn khả năng quản lý của các cơ quan chức năng và của các chủ thể có liên quan

1.6 Nội dung của công tác quản lý nghĩa trang

Có thể nói đất nghĩa trang là loại đất đặc biệt và việc quản lý, sử dụng đất nghĩa trang cũng rất đặc biệt Nó gắn với phong tục, tập quán và sinh hoạt văn hoá của từng địa phương, từng dân tộc và từng dòng họ Trong giới hạn nghiên cứu của nội dung này người viết chỉ đề cập đến tình hình chung nhất trong việc quản lý sử, dụng đất nghĩa trang hiện nay

Các nội dung của công tác quản lý chung như giao đất, quy hoạch đất nghĩa trang và việc sử dụng không được quan tâm đúng mức hiện nay Có thể nói, trong lĩnh vực quản lý và sử dụng đất nghĩa trang hiện nay chưa có một quy định chung thống nhất nào điều chỉnh cụ thể Việc quản lý chủ yếu dựa vào các nội dung quản lý nhà nước về đất đai của Luật đất đai năm 2003 sửa đổi bổ sung năm 2009 (sau đây gọi là

12 Điều 3 nghị định 35/2008/NĐ-CP

Trang 20

Luật đất đai năm 2003), và các văn bản hướng dẫn thi hành Theo đó sẽ giao về cho mỗi địa phương tự tổ chức thực hiện, và tùy theo điều kiện và tình hình mỗi địa phương sẽ phân cấp về cho UBND, sở xây dựng hoặc sở lao động thương binh và xã hội Dẫn đến việc nhiều địa phương buông lỏng quản lý, hoặc nếu có triển khai thực hiện thì cũng gặp phải nhiều vướng mắc, cũng như xảy ra nhiều bất cập Đó là còn chưa kể đến mỗi nơi làm một kiểu do không có cơ quan nào chính thức quản lý.

Còn về vấn đề quản lý sử dụng đất nghĩa trang sau khi giao đất trước đây cũng gần như bị bỏ ngỏ, một phần vì công tác giao đất nghĩa trang thực hiện chưa tốt Bên cạnh đó, CP chưa có quy định cụ thể nào để hướng các hoạt động quản lý nghĩa trang

đi vào nề nếp Đến năm 2008 khi CP vào cuộc trước những bức xúc của thực tế mới, cần phải quản lý chặt chẽ hoạt động này đáp ứng mục tiêu phát triển Theo đó, CP đã ban hành nghị định 35/2008/NĐ-CP Nghị định này đã góp phần tạo cơ sở để quản lý hoạt động này chặt chẽ hơn Về mặt nội dung, công tác quản lý này được chia ra với hai loại đối tượng

+ Thứ nhất với các nghĩa trang đã đóng cửa, nội dung quản lý phải bao gồm:

“Định kỳ chăm sóc, bảo quản, gìn giữ phần mộ, tro cốt tại các nhà lưu giữ, duy tu bảo dưỡng các công trình trong nghĩa trang Bảo đảm các quy định về vệ sinh môi trường trong nghĩa trang Lập và lưu trữ hồ sơ nghĩa trang và quy định, chỉ dẫn khách thăm viếng, tưởng niệm và quản lý các hoạt động trong nghĩa trang.”13

+ Với loại đối tượng là các nghĩa trang đang sử dụng, nội dung quản lý cơ bản

phải đáp ứng gồm: “Tuân theo các quy định tại khoản 1 điều này Quản lý sử dụng đất, xây dựng phần mộ, bia mộ và các công trình trong nghĩa trang tuân theo quy hoạch xây dựng, quy chế quản lý nghĩa trang được người có thẩm quyền phê duyệt và giám sát quản lý hoặc trực tiếp cung cấp các dịch vụ nghĩa trang.”14

Các nội dung quản lý nêu trên là khá toàn diện đáp ứng được thực tế trong quản

lý nghĩa trang ở nước ta Những vấn đề nêu ra ở trên cũng chính là những yêu cầu mà thực tế quản lý hiện nay đang đặt ra Có thể nói quy định này lần đầu tiên tạo ra cơ sở pháp lý chung để thống nhất quản lý các nghĩa trang trên địa bàn cả nước được chặt chẽ hơn Nó không những có ý nghĩa ở thời điểm hiện tại, mà còn tạo được hành lang pháp lý thúc đẩy cho hoạt động giao đất cũng như sử dụng đất nghĩa trang ngày càng

đi vào nề nếp hơn trước Tuy vậy đến nay vẫn chưa đáp ứng được thực tiễn do nhiều

13 Trích điều 17 nghị định 35/2008 NĐ-CP.

14 Trích điều 17 nghị định 35/2008 NĐ-CP

Trang 21

nguyên nhân khác nhau.

1.7 Vai trò của hoạt động giao đất xây dựng nghĩa trang

Vấn đề giao đất nói chung đã được Hiến pháp của nước Cộng hòa xã hội chủ

nghĩa Việt Nam ghi nhận “Nhà nước giao đất cho các tổ chức và cá nhân sử dụng ổn định lâu dài.”15 Và, cho đến nay đã phát huy được hiệu quả to lớn của nó trong xã hội, được nhân dân đồng tình ủng hộ Trong đó giao đất xây dựng nghĩa trang cũng đóng một vai trò quan trọng

Con người sinh sống cần có đất để ở, canh tác, xây dựng cơ sơ hạ tầng phục vụ cuộc sống và thực hiện các hoạt động vui chơi, giải trí, đến khi chết cũng rất cần chỗ

để an táng thi hài Người dân Việt Nam cũng như người dân Á đông nói chung thường

có tập quán chôn cất người chết trong lòng đất (địa táng) và đã trở thành một phần không thể thiếu trong đời sống tâm linh của mỗi dân tộc Với yêu cầu phải có nơi thăm viếng và tưởng nhớ đến những người thân đã chết cũng như thực hiện các nghi lễ vào những ngày lễ tết trong năm (tết Thanh minh hay tết Nguyên đán) Trước đây hoạt động này là hoàn toàn tự phát, mỗi gia đình khi có người chết thì tự chuẩn bị một phần đất riêng để chôn cất, đó có thể là đất vườn, đất ở, hay phổ biến nhất là đất nông nghiệp Vai trò quản lý của nhà nước chưa thật sự thể hiện rõ ràng

Xã hội ngày càng phát triển và văn minh, đời sống con người ngày càng được nâng cao, vì vậy mà nhu cầu được thỏa mãn về đời sống tinh thần cũng ngày một cao hơn Trong đó, có một nhu cầu và cũng là vấn đề hết sức nhạy cảm của mỗi quốc gia nhất là với những quốc gia có nhiều dân tộc, đó là về nhu cầu tín ngưỡng Bên cạnh

đó, dân số tăng nhanh trong khi đất đai thì ngày càng bị thu hẹp lại nên nhu cầu táng người chết cũng ngày càng trở nên bức thiết hơn Vì vậy, ngoài việc phát triển và khuyến khích các hình thức táng người chết tiết kiệm đất hoặc không cần sử dụng đất thì việc giao đất xây dựng nghĩa trang đóng một vai trò rất lớn Việc này không những

có ý nghĩa về mặt văn hóa, xã hội mà còn có ý nghĩa về mặt chính trị, pháp lý

Thứ nhất, nó góp phần giải quyết những yêu cầu hiện tại của người dân tạo

nên một sự đồng thuận và ổn định trong xã hội Ý nghĩa của nó là khi xã hội đã đồng thuận thì sẽ giảm bớt những xung đột, nền chính trị ngày càng ổn định, tạo được điều kiện phát triển kinh tế Và, nâng cao hơn nữa nét đẹp trong đời sống văn hóa của người dân Đây là điều kiện và động lực tối cần thiết để phát triển đất nước trên mọi

15 Trích điều 18 Hiến pháp năm 1992.

Trang 22

mặt của đời sống.

Thứ hai, hoạt động giao đất xây dựng nghĩa trang tạo được hành lang pháp lý

để điều chỉnh vấn đề táng người chết dần dần đi vào nề nếp, chấm dứt tình trạng các nghĩa trang tự phát không theo quy hoạch tại phần lớn các địa bàn dân cư ở cấp cơ sở Thêm vào đó, hoạt động giao đất còn tạo hiệu quả như sử dụng đất đúng mục đích, tiết kiệm, nâng cao hiệu quả bảo vệ môi trường, tạo vẽ mỹ quan chung và phát triển đồng

bộ hạ tầng cơ sở Nhất là đối với những đô thị lớn tập trung đông dân cư hiện nay

Nhìn chung, qua những nội dung mà người viết đã đề cập ở chương này đã phần nào làm sáng tỏ được các khái niệm nội hàm của vấn đề đặt ra Đồng thời đã khái quát được lược sử và trên cơ sở có nêu những phân tích, quan điểm của người viết xung quanh vấn đề Bên cạnh đó, còn đưa ra thảo luận các vấn đề có liên quan trong thực hiện công tác quản lý và sử dụng đất nghĩa trang như: các nguyên tắc và nội dung phải tuân theo trong quá trình quản lý và sử dụng loại đất này Trên cơ sở phân tích mối quan hệ giữa việc giao đất và sử dụng đất nghĩa trang, nghĩa địa để làm sáng rõ các luận điểm liên quan Qua đó, nêu bật được vai trò của công tác giao đất nghĩa trang trên các mặt chính trị, pháp lý, văn hóa – xã hội Đây là những nội dung cơ bản

mà người viết xác định khi nghiên cứu đề tài phải tìm hiểu làm cơ sở lý luận để nghiên cứu chương tiếp theo – chương 2 Thực trạng pháp luật về quản lý và sử dụng đất nghĩa trang, nghĩa địa

Trang 23

Chương 2 THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ QUẢN LÝ VÀ SỬ DỤNG

ĐẤT NGHĨA TRANG, NGHĨA ĐỊA

Trong chương này người viết sẽ tiến hành nghiên cứu, thảo luận các vấn đề xoay quanh thực trạng pháp luật về quản lý và sử dụng đất nghĩa trang hiện nay Thứ nhất, là hiện trạng của vấn đề quản lý Cụ thể, sẽ nêu ra và phân tích các cơ sở pháp lý, thẩm quyền giao đất trong đó có giao đất nghĩa trang Qua đó phân tích tình hình chung của vấn đề quản lý đất nghĩa trang hiện nay, vai trò của các chủ thể có liên quan Thứ hai, là hiện trạng của vấn đề sử dụng đất, sẽ thảo luận các nội dung cơ bản

về vấn đề quy hoạch, giá đất và giá các dịch vụ nghĩa trang Thứ ba, là thực trạng của công tác quy hoạch nghĩa trang Thứ tư là những chính sách ưu đãi của nhà nước trong giao đất và xây dựng nghĩa trang Sau cùng là nêu lên thực trạng chung của tình hình quản lý, sử dụng đất nghĩa trang trên địa bàn cả nước, những tồn tại và ảnh hưởng không mong muốn của thực trạng này hiện nay

2.1 Hiện trạng pháp luật về quản lý đất nghĩa trang hiện nay

2.1.1 Cơ sở pháp lý của việc giao đất xây dựng nghĩa trang

Cơ sở pháp lý cao nhất hiện nay của vấn đề giao đất nói chung là Hiến pháp năm 1992 sửa đổi bổ sung năm 2001 (Sau đây gọi là Hiến pháp năm 1992) Lần đầu tiên trong một đạo luật có giá trị pháp lý cao nhất là Hiến pháp chính thức ghi nhận

việc, “Nhà nước giao đất cho tổ chức cá nhân sử dụng ổn định lâu dài.”16 Điều này thể hiện một bước tiến dài trong chính sách đất đai của Đảng và Nhà nước ta, vì vấn đề này trong các bản Hiến pháp trước đây không được ghi nhận Cơ sở pháp lý thứ hai là Luật đất đai Qua các thời kỳ Luật đất đai đã sớm ghi nhận vấn đề giao đất, nhưng để

cụ thể hóa được quy định của Hiến pháp năm 1992 cũng như dần hoàn thiện pháp luật

về giao đất thì phải đến Luật đất đai năm 2003 Theo khoản 6 điều 33 Luật đất đai

2003 quy định, trong số các hình thức giao đất không thu tiền sử dụng đất có phân nhóm đất nghĩa trang, nghĩa địa Về chế độ sử dụng thì theo khoản 1 điều 66 Luật đất đai đất nghĩa trang, nghĩa địa là loại được sử dụng ổn định lâu dài Việc giao đất nghĩa trang cũng phải trên cơ sở các căn cứ được quy định tại điều 31 của Luật đất đai hiện hành như: phải có quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất hoặc quy hoạch đô thị, quy hoạch xây dựng điểm dân cư nông thôn đã được cơ quan nhà nước thẩm quyền phê duyệt Nhu cầu sử dụng đất thể hiện trong dự án đầu tư, đơn xin giao đất, thuê đất, chuyển

16 Trích điều 18 Hiến pháp năm 1992.

Trang 24

mục đích sử dụng đất.

Các quy định giao đất nói chung được Luật đất đai hiện nay xây dựng khá cụ thể Tuy nhiên, đấy chỉ là những quy định chung nhất về pháp luật giao đất, trong đó vấn đề giao đất xây dựng nghĩa trang là lĩnh vực có thể nói còn khá mới mẻ khi áp dụng vào thực tế Nói như vậy là vì trước yêu cầu của công tác quản lý đất đai, việc luật hóa tất cả các quan hệ phát sinh là rất cần thiết Cho nên vấn đề giao đất nghĩa trang không nằm ngoài mục tiêu đó Tuy vậy, công tác giao đất nghĩa trang trước nay chưa được quan tâm đúng mức, nên không tạo ra hiệu quả tích cực trong lĩnh vực này

để thay đổi tư duy của các nhà quản lý và người dân Chủ yếu là công nhận sự tồn tại hoặc mở rộng các nghĩa trang đã có sẵn, nên nhiều khi còn phát sinh nhiều bất cập trong quản lý và các hệ lụy xã hội khác

Cần nhắc lại rằng, các quy định về giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất được Luật đất đai năm 2003 và Nghị định 181/2004/NĐ-CP Nghị định Chính phủ về thực thi Luật đất đai quy định khá chi tiết Tuy nhiên, riêng trong lĩnh vực giao đất nghĩa trang hiện nay còn không ít những tồn tại chưa được quan tâm giải quyết Việc các quy định vấn đề giao đất nghĩa trang được lồng vào các quy định giao đất khác nên rất chung chung Quy định của luật trở nên kém hiệu quả khi chưa thật sự đi vào đời sống, thực tiễn áp dụng chưa nhiều Và, khi phân cấp quản lý về các địa phương thì tính khả thi là không cao, nhiều địa phương không thể áp dụng do chưa có

cơ chế rõ ràng và thống nhất

Trên đây mới chỉ là những vướng mắc trong công tác giao đất nghĩa trang Bên cạnh đó, hoạt động cho thuê đất cũng là hoạt động luôn đi song song và được điều chỉnh chung một điều luật với hoạt động giao đất Phân tích kỹ điều 33 Luật đất đai hiện hành ta thấy, đáng chú ý là tại khoản 6 có nhóm đất được giao không thu tiền sử

dụng đất là “đất sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh Đất giao thông, thuỷ lợi Đất xây dựng các công trình văn hoá, y tế, giáo dục và đào tạo, thể dục thể thao phục

vụ lợi ích công cộng và các công trình công cộng khác không nhằm mục đích kinh doanh Đất làm nghĩa trang, nghĩa địa.” Như vậy, trong các loại đất phục vụ cho việc

xây dựng công trình công cộng không bao gồm đất nghĩa trang, vì đây là phân nhóm riêng Hiện nay, xuất hiện nhu cầu thuê đất xây dựng nghĩa trang, đối với các chủ thể không được luật quy định cho giao không thu tiền sử dụng đất với nhóm đất này, nên vấn đề cho thuê đất xây dựng nghĩa trang cũng đang rất bức thiết Chủ yếu vì các

Trang 25

nguyên nhân sau: thứ nhất, trước đây điều kiện đất nước còn khó khăn, hội nhập quốc

tế chưa thật sự sâu rộng, việc thuê đất xây dựng nghĩa trang là không thực tế Mặc dù lĩnh vực kinh doanh bất động sản và các hoạt động liên quan đã sớm phát triển Vì vậy, nên pháp luật đất đai cũng chỉ quan tâm đến vấn đề giao đất không thu tiền khi cá nhân, tổ chức có nhu cầu xin giao đất để xây dựng nghĩa trang (do tính chất phục vụ chung cho cộng đồng) Quy định như vậy là hợp với thực tế và cũng có thể nói quy định này là luật đang dự liệu cho tương lai mà thôi Dần dần, trên đà phát triển, nền kinh tế thị trường ở nước ta hình thành ngày một rõ nét hơn, nhất là khi nước ta chính thức gia nhập tổ chức Thương mại thế giới (WTO) Với nền kinh tế thị trường – nền kinh tế mà ở đó cái gì cũng có giá của nó, trong đó đất đai được khẳng định một giá trị

to lớn không thể thay thế Đất nghĩa trang vì vậy cũng không nằm ngoài xu thế đó

Ở nước ta việc kinh doanh nghĩa trang chưa phổ biến nhưng cũng đã hình thành

ở một số địa phương từ nhiều năm trước Đặc biệt là trong lĩnh vực này đã xuất hiện

cả những nhà đầu tư nước ngoài Trong quá trình phát triển và hội nhập nước ta không ngừng kêu gọi và thu hút đầu tư nước ngoài trên tất cả các lĩnh vực nên pháp luật có liên quan cũng dần được hoàn thiện Còn trong lĩnh vực kêu gọi đầu tư xây dựng nghĩa trang thì chưa có tiền lệ bao giờ Tuy nhiên, hiện nay điều này cũng không còn là vấn

đề, vì thực tế các nhà đầu tư nước ngoài đã tìm đến nước ta xin thuê đất để kinh doanh nghĩa trang Thiết nghĩ, trong khi các lĩnh vực khác chúng ta phải trải thảm đỏ để kêu gọi nước ngoài đầu tư, trong khi lĩnh vực này là họ tự nguyện tìm đến không lý do gì

mà ta không tận dụng Một mặt có thể thu được ngoại tệ từ tiền thuê đất để phục vụ các mục tiêu an sinh xã hội Mặt khác, tạo ra cơ hội để hoàn thiện pháp luật đất đai và đưa hoạt động xây dựng nghĩa trang ngày càng trở nên chuyên nghiệp Tiếp thu được các công nghệ nghĩa trang hiện đại của các nước trên thế giới và để đáp ứng được nhu cầu của người dân

Tuy nhiên, theo quan điểm của người viết khi nghiên cứu đề tài này, đối với giao đất nghĩa trang thì đã có quy định điều chỉnh (điều 33 Luật đất đai 2003) Nhưng vấn đề cho thuê đất đối với chủ đầu tư có yếu tố nước ngoài thì chưa có cơ chế, do các quy định về cho thuê đất chưa rõ ràng đối với đất nghĩa trang Cụ thể: Đất nghĩa trang theo quy định là loại đất được giao không thu tiền sử dụng đất Trong khi các quy định

về cho thuê đất dù với loại cho thuê trả tiền hàng năm hay trả tiền thuê một lần đều không đề cập đến đất nghĩa trang Mà đáng chú ý là chỉ ghi nhận trường hợp giao đất

Trang 26

cho: “Hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất để xây dựng công trình công cộng có mục đích kinh doanh và trường hợp giao đất cho người Việt Nam định cư ở nước ngoài, tổ chức, cá nhân nước ngoài thuê đất xây dựng công trình công cộng có mục đích kinh doanh.”17

Vấn đề đặt ra là liệu đất thuê để xây dựng công trình công cộng có bao gồm đất nghĩa trang không Luật đất đai quy định không rõ và văn bản hướng dẫn cũng chưa giải thích thế nào là công trình công cộng có mục đích kinh doanh, và có bao gồm nghĩa trang không Như đã phân tích ở trên với quy định như vậy của Luật đất đai thì

rõ ràng giữa đất nghĩa trang và đất xây dựng công trình công cộng có mục đích kinh doanh là không giống nhau Vì trong quy định giao đất không thu tiền sử dụng thì không có loại đất xây dựng công trình công cộng có mục đích kinh doanh và ngược lại quy định cho thuê đất thì không có đất nghĩa trang Từ phân tích trên đây có thể nói, trên tinh thần thì Luật đất đai hiện nay xác định: đất nghĩa trang chỉ có thể giao không thu tiền sử dụng đất chứ không được quy định cho thuê vì nếu cho thuê thì chưa có cơ

sở pháp lý rõ ràng Điều này cũng cho thấy rằng khi các quy định của pháp luật – cái

cơ sở nền tảng để điều chỉnh các quan hệ xã hội trở nên không rõ ràng, tất yếu sẽ dẫn đến thực tế áp dụng tùy tiện Đây thật sự là một thiếu sót của Luật đất đai, nếu như nói trước đây khi Luật đất đai năm 2003 ra đời vấn đề thuê đất nghĩa trang chưa có nhu cầu nên luật chưa điều chỉnh Hiện nay, trước đòi hỏi của thực tế, nên sớm xây dựng một cơ chế pháp lý mới điều chỉnh cho toàn diện vấn đề và hợp với thực tiễn

2.1.2 Thẩm quyền giao đất xây dựng nghĩa trang

Như đã đề cập ở trên, giao đất xây dựng nghĩa trang là một nội dung nhỏ trong quy định về giao đất hiện nay Cho nên, thẩm quyền đó cũng là thẩm quyền chung, được phân cấp và quy định chi tiết như sau:

UBND, thành phố trực thuộc trung ương quyết định giao đất, cho thuê đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất đối với tổ chức Giao đất đối với cơ sở tôn giáo Giao đất, cho thuê đất đối với người Việt Nam định cư ở nước ngoài Cho thuê đất đối với tổ chức, cá nhân nước ngoài UBND huyện, quận, thị xã, TP thuộc tỉnh quyết định giao đất, cho thuê đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất đối với hộ gia đình, cá nhân Giao đất đối với cộng đồng dân cư UBND xã, phường, thị trấn cho thuê đất thuộc quỹ đất nông nghiệp sử dụng vào mục đích công ích của xã, phường, thị trấn Cơ quan có thẩm quyền quyết định giao đất,

17 Trích điều 35 Luật đất đai năm 2003.

Trang 27

cho thuê đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất quy định tại các khoản 1, 2

và 3 điều này không được ủy quyền.18

Theo quy định trên ta thấy về thẩm quyền được phân theo các cấp UBND Cấp tỉnh, cấp huyện có thẩm quyền giao và cho thuê đất Riêng cấp xã không có thẩm quyền giao đất mà chỉ có thể cho thuê đất công ích của xã Như vậy, việc giao đất nghĩa trang chỉ thuộc thẩm quyền trực tiếp của hai cấp là cấp tỉnh và huyện Xét về mặt kỹ thuật thì quy định này có ảnh hưởng khá rộng và tác động tích cực đến lĩnh vực giao đất nghĩa trang Ở quy mô cấp tỉnh và huyện diện tích đất sẽ rộng hơn, dân số cũng vì vậy đông hơn so với xã, nên yêu cầu về trình độ và khả năng quản lý cũng phải cao hơn Vấn đề quy hoạch nói chung cũng như quy hoạch nghĩa trang nói riêng

có ảnh hưởng lớn đến toàn xã hội Trong đó, vấn đề sử dụng đất phải được quy hoạch một cách thống nhất, có trọng tâm trọng điểm, tránh tình trạng manh mún làm giảm hiệu suất sử dụng đất là mục tiêu hàng đầu Bên cạnh đó, việc sử dụng đất nghĩa trang phải theo hướng quy hoạch sử dụng được cho nhiều địa phương, nói cách khác là phải theo quan điểm liên vùng khi tiến hành quy hoạch loại đất này Điều này về mặt kỹ thuật thì cấp xã khó có thể đáp ứng được

Phân cấp thẩm quyền khi giao đất nghĩa trang nói riêng như vậy vừa bảo đảm quyền tự chủ, linh hoạt cho cấp dưới vừa đảm bảo tập trung và tính chủ động của cấp trên trong quản lý và chỉ đạo đối với cấp dưới Chủ thể được giao đất nghĩa trang tạm chia ra có hai loại là cá nhân và tổ chức xin giao đất, nên về thẩm quyền giao đất của cấp tỉnh, ta thấy nổi lên một số vấn đề sau: Luật quy định cho UBND cấp tỉnh và thành phố trực thuộc trung ương có thẩm quyền giao đất cao nhất tại địa phương Căn cứ vào chủ thể được giao đất nghĩa trang và theo quy đinh của điều 37 Luật đất đai thì UBND cấp tỉnh và TP trực thuộc trung ương chỉ được giao đất nghĩa trang cho tổ chức (khái niệm tổ chức phải được hiểu theo khoản 1 điều 9 của luật đất đai 2003).19 Cho nên, có thể thấy tuy thẩm quyền chung trong giao đất của UBND tỉnh và TP trực thuộc trung ương khá rộng Nhưng đối với giao đất nghĩa trang thì lại rất hẹp, chỉ giới hạn ở tổ chức trong nước, cùng với quy định không cho thuê đất nghĩa trang đang là một bấp cập lớn của Luật đất đai

18 Điều 37 Luật đất đai năm 2003.

19 Khoản 1 điều 9 Các tổ chức trong nước bao gồm cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, tổ chức kinh tế, tổ chức kinh tế – xã hội, tổ chức sự nghiệp công, đơn vị vũ trang nhân dân và các tổ chức khác theo quy định của Chính phủ (sau đây gọi chung là tổ chức) được Nhà nước giao đất, cho thuê đất hoặc công nhận quyền sử dụng đất; tổ chức kinh tế nhận chuyển quyền sử dụng đất.

Trang 28

Thẩm quyền của UBND huyện, quận, thị xã, TP thuộc tỉnh thì chỉ giao đất nghĩa trang cho cá nhân trong nước Vì đặc điểm của đất nghĩa trang là được giao không thu tiền sử dụng đất, nên các đối tượng còn lại như người Việt Nam định cư ở nước ngoài, cá nhân, tổ chức nước ngoài không được giao đất (các chủ thể này phải được giao đất có thu tiền hoặc chỉ được thuê) Còn hộ gia đình, cộng đồng dân cư tuy thuộc diện giao đất không thu tiền nhưng lại không thuộc đối tượng được giao đất nghĩa trang Với UBND xã, phường, thị trấn vì chỉ có thẩm quyền cho thuê đối với đất công ích của xã nên vấn đề giao đất nghĩa trang không đặt ra đối với cấp hành chính này.

2.1.3 Tình hình quản lý đất nghĩa trang hiện nay

Luật đất đai năm 2003 xác định cụ thể đất nghĩa trang là một phân nhóm riêng trong nhóm đất sử dụng vào mục đích phi nông nghiệp Đây là vấn đề rất thuận lợi cho công tác quản lý đất đai nói chung và quản lý, sử dụng đất nghĩa trang nói riêng Cụ thể của vấn đề quản lý, sử dụng đất làm nghĩa trang như sau:

“Đất làm nghĩa trang, nghĩa địa phải quy hoạch thành khu tập trung, xa khu dân cư, thuận tiện cho việc chôn cất, thăm viếng, hợp vệ sinh và tiết kiệm đất UBND tỉnh, TP trực thuộc Trung ương quy định mức đất và chế độ quản lý việc xây dựng phần mộ, tượng đài, bia tưởng niệm trong nghĩa trang, nghĩa địa.”20

Đến khi CP ban hành nghị định 181/2004/NĐ-CP hướng dẫn thi hành Luật đất đai cũng quy định rất chi tiết việc quản lý và sử dụng đất nghĩa trang Theo đó:

“Việc bố trí đất để xây dựng nghĩa trang, nghĩa địa mới phải phù hợp vơi quy hoạch kế hoạch sử dụng đất của địa phương UBND tỉnh, TP trực thuộc Trung ương quy định tiêu chuẩn định mức sử dụng đất mai táng bảo đảm tiết kiệm đất; Tổ chức và

có chính sách khuyến khích việc an táng người chết không sử dụng đất Nghiêm cấm việc lập nghĩa trang, nghĩa địa riêng trái với quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đã được xét duyệt.”21

Tuy nhiên có thể nói những quy định này thật sự còn khá mới mẻ với người dân, nhất là ở các vùng nông thôn Trong khi vấn đề tuyên truyền để thay đổi nhận thức trong đại bộ phận người dân chưa được quan tâm thực hiện Hiện nay trên địa bàn

cả nước, nhìn chung công tác giao đất và quản lý đất nghĩa trang còn nhiều hạn chế,

bất cập “Trong khi đó một đặc điểm nổi bật và cũng là một nghịch lý hiện nay là đất

20 Điều 101 Luật đất đai năm 2003.

21 Điều 94 Nghị định 181/2004/NĐ-CP.

Trang 29

nghĩa trang còn nhiều hơn cả đất ở đô thị (năm 2000 quỹ đất này chiếm 93.700 ha, trong khi đất đô thị chỉ là 72.200 ha; Năm 2003 số liệu tương ứng là 94.876 ha so với 80.307 ha).”22 Sở dĩ đất nghĩa trang, nghĩa địa lớn là do tập quán mai táng của nhân dân các vùng, miền rất đa dạng, tự phát và rất khó kiểm soát Nhưng cũng không thể không đề cập đến sự yếu kém trong công tác quy hoạch sử dụng đất Đặc biệt, với lĩnh vực giao đất nghĩa trang trong quá trình triển khai thực hiện, các địa phương chưa bám sát quy hoạch, kế hoạch được duyệt Quản lý quỹ đất dành cho nghĩa trang chưa chặt chẽ, dẫn đến tình trạng sử dụng đất nghĩa trang không đúng quy hoạch và vượt kế hoạch được duyệt Một số nơi chính quyền địa phương còn buông lỏng việc quản lý sử dụng quỹ đất này Tình trạng các hộ gia đình, dòng họ tự ý khoanh bao lấn chiếm đất nông nghiệp làm quỹ đất nghĩa địa dự trữ cho dòng họ mình, càng làm cho tình hình này ngày càng trở nên phức tạp

Trước khi có Nghị định số 35/2008/NĐ-CP thì tình hình chung là phần lớn các nghĩa trang không có quy hoạch chi tiết thống nhất, diện tích chiếm đất của mỗi phần

mộ tuỳ tiện và không có tường bao quanh bảo vệ, không có nhà quản trang, hào thoát nước, gây lãng phí đất Kiến trúc các phần mộ cũng không thống nhất, hầu hết là phụ thuộc vào ý muốn chủ quan của mỗi gia đình, dòng họ, gây nên tình trạng lãng phí tiền của, mất mỹ quan chung và không đảm bảo vệ sinh môi trường Sau khi Nghị định này được ban hành, tình hình vẫn chưa có nhiều chuyển biến tích cực Một mặt do ảnh hưởng từ phía người dân, mặt khác do các địa phương tổ chức triển khai thực hiện chưa tốt

Bất cập nữa là do công tác quản lý đất nghĩa trang làm chưa tốt, thiếu tính thống nhất Những năm gần đây tại các đô thi lớn tập trung đông dân cư như Hà Nội

và TP Hồ Chí Minh đất nghĩa trang cũng bị đầu cơ, sốt giá Điều này gây ảnh hưởng không nhỏ đến tình hình kinh tế đất nước, do thị trường bất động sản luôn biến động bất thường Gây bất an trong dư luận và lòng dân, vì giá mỗi phần mộ không dưới vài triệu đồng có khi lên đến hàng chục, hàng trăm triệu đồng tùy theo hình thức mộ được táng, chưa kể đến chi phí cho dịch vụ mai táng Trong khi đó các cơ quan quản lý ở các địa phương thì lúng túng và bị động mà không có biện pháp ngăn chặn hữu hiệu Hiện tượng có không ít cá nhân đến các nghĩa trang thu gom đất huyệt mộ sau đó bán lại kiếm lời rất phổ biến nên giá đất nghĩa trang bị đẩy lên rất cao Lý do là vì kinh

22 Theo http://vietbao.vn/Nha-dat/Dat-nghia-dia-rong-hon-dat-do-thi/45136697/511/ [Ngày truy cập

16/1/2011].

Trang 30

doanh đất nghĩa trang là một hoạt động mới, chưa có khung pháp lý quy định chặt chẽ

và đồng bộ Nên trước thực tế xảy ra các địa phương chỉ bị động đối phó theo kiểu đưa

ra các giải pháp tình thế mà không có một hoạch định hay chiến lược dài hơi nào để giải quyết căn cơ vấn đề

Từ thực tế này làm nảy sinh thêm nhiều vấn đề khác có liên quan Đất nghĩa trang được giao không thu tiền sử dụng đất, nhưng khi các chủ đầu tư xây dựng xong thì sau đó bán lại với giá rất cao (đất huyệt mộ) Người dân vì nhu cầu thực tế nên phải mua đất này để chôn cất người thân mà không có bất kỳ một đảm bảo về mặt pháp lý nào cho họ Ví dụ, trong trường hợp đất bị thu hồi, thiệt hại kinh tế xảy ra ai sẽ chịu trách nhiệm Với việc mua vài mét vuông đất huyệt mộ thì không có quy định nào cấp cho họ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất Thực tế cũng không thể cấp giấy cho loại đất này, và vì họ – những người mua đất huyệt mộ để chôn cất người thân là những người còn sống, không phải là người sử dụng đất Chỉ có chủ thể đã xin giao đất mới được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất

Chính sách đất đai của Đảng và Nhà nước ta ngày càng hoàn thiện, việc thu hồi đất luôn đi liền với bồi thường, hỗ trợ, tái định cư Nếu như nói đất nghĩa trang là đất được giao không thu tiền sử dụng nên khi thu hồi vấn đề bồi thường không đặt ra thì không có gì sai Nhưng đây chỉ mới đề cập đến các nghĩa trang tập trung, còn đối với các nghĩa trang tự phát theo hộ gia đình hoặc dòng họ, thì thực tế khi thu hồi đất vẫn phải bỏ ra một khoản tiền bồi thường và tiền hổ trợ di dời tương ứng với mỗi mộ lên đến vài triệu đồng Thậm chí còn có trường hợp người dân còn dựng lên các mộ giả để được bồi thường Vấn đề “tái định cư” cho người chết cũng cần được đặt ra, trong khi luật không quy định nên mỗi địa phương tự giải quyết theo nhiều cách khác nhau và lại xảy ra bất cập, chồng chéo Thiết nghĩ, khi thu hồi đất phải tái định cư cho người sống vậy tại sao người chết lại không được Vì tập quán người dân Việt Nam xưa nay quen hình thức địa táng, nên phải cần quỹ đất nhất định Vấn đề này không chỉ ở nông thôn, mà các đô thị cũng hiện đang rất bức xúc Vì ở đây đất chật mà người đông, việc quy hoạch nghĩa trang thì diễn ra rất chậm, các nghĩa trang cũ thì quá tải phải đóng cửa, giá huyệt mộ thì đắt đỏ vì khan hiếm Những hạn chế này là do cơ chế chưa rõ ràng thống nhất gây ra, cần sớm quan tâm vấn đề theo cách giải quyết từ gốc của vấn

đề Nâng cao được hiệu quả quản lý và hoàn thiện được pháp luật về đất nghĩa trang trong thời gian tới

Trang 31

2.1.4 Trách nhiệm của các cơ quan quản lý

Việc quản lý tài nguyên đất ở nước ta hiện nay do các cơ quan chuyên ngành

chịu trách nhiệm, cao nhất là Bộ TNMT thống nhất quản lý trên phạm vi cả nước, đến các Sở TNMT trực thuộc UBND cấp tỉnh và các Phòng TNMT trực thuộc UBND cấp huyện Theo đó, quản lý đất nghĩa trang sẽ do UBND cấp tỉnh là cơ quan có thẩm quyền chung cao nhất ở địa phương thống nhất quản lý

“UBND các cấp theo phân cấp quản lý nghĩa trang của UBND cấp tỉnh có trách nhiệm và giao đơn vị quản lý đối với các nghĩa trang thuộc quyền quản lý được đầu tư xây dựng từ nguồn vốn ngân sách nhà nước.”23 Như vậy, quỹ đất được giao xây dựng nghĩa trang khi xây xong sẽ do đơn vị được giao đất quản lý Đơn vị được giao

quản lý này có trách nhiệm: “Quản lý nghĩa trang theo quy chế được người có thẩm quyền phê duyệt Cung cấp các dịch vụ nghĩa trang cho người sử dụng, bảo đảm chất lượng dịch vụ theo quy định; Thực hiện các trách nhiệm khác theo quy định của pháp luật.”24 Quy định này cho thấy, việc quản lý nghĩa trang hiện nay không còn như nhiều người vẫn quan niệm, nghĩa trang là công trình phải do nhà nước quản lý Với việc ban hành nghị định 35/2008/NĐ-CP, thì việc xây dựng và khai thác nghĩa trang sẽ được chính thức thừa nhận là một ngành kinh doanh Đơn vị đầu tư xây dựng được trực tiếp quản lý Tuy vậy với việc quản lý quỹ đất này vẫn cần phải do UBND có thẩm quyền

và các cơ quan chuyên ngành quản lý đất đai thực hiện Nhưng trên thực tế hiện nay các cơ quan này còn chưa làm hết trách nhiệm của mình như chưa phân cấp rõ ràng cho các đơn vị chịu trách nhiệm quản lý Điển hình là ở TP Hà Nội hiện nay, theo như lời của Phó Chủ tịch thường trực ông Phí Thái Bình giãi bày tại hội nghị của UBND TP:

Việc được giao trọng trách quản lý mạng lưới nghĩa trang trên địa bàn TP, nhưng khi bắt tay vào tìm hiểu mới vỡ lẽ không có cơ quan nào chính thức quản lý vấn

đề này Sở Xây dựng chỉ quản lý các nghĩa trang tập trung, Sở Lao động Thương Binh và Xã hội lại chỉ quản lý các nhà tang lễ Bên cạnh đó, các quận, huyện tuy được giao quản lý các nghĩa trang trên địa bàn nhưng cũng không có người chuyên trách nên không nắm được số liệu, tình hình cụ thể về các nghĩa trang Nói

về các nghĩa trang khu vực nông thôn, Phó Chủ tịch UBND TP Hà Nội ông Đào Văn Bình cũng phản ánh: ở các xã hiện nay có tình trạng ruộng nhà ai người đấy

23 Khoản 1 điều 16 nghị định 35/2008/NĐ-CP.

24 Điều 22 nghị định 35/2008/NĐ-CP.

Trang 32

chôn, rất lộn xộn và ô nhiễm môi trường Các huyện không quản lý nghĩa trang,

kể cả nghĩa trang liệt sĩ Ở khu vực Hà Tây cũ chỉ có hai nghĩa trang tập trung lớn

là nghĩa trang ở Hà Đông và Sơn Tây Ngoài ra, có một Công viên - Nghĩa trang Vĩnh Hằng mới được xây dựng qua hình thức xã hội hóa Nhìn chung trên địa bàn

Hà Nội mở rộng việc quy hoạch, quản lý nghĩa trang còn nhiều bất cập.25

Thực tế này một lần nữa cho thấy việc quản lý quỹ đất cũng như các nghĩa trang hiện nay đều bị xem nhẹ chưa được quan tâm đúng mức Vấn đề này không riêng

ở một địa phương nào mà xảy ra trên phạm vi cả nước, từ các đô thị lớn cho đến các vùng nông thôn mà Hà Nội là một ví dụ cụ thể

2.1.5 Trách nhiệm và nghĩa vụ của các tổ chức, cá nhân được giao đất nghĩa trang

Với các đơn vị quản lý là tổ chức, cá nhân Theo khoản 2 điều 16 Nghị định 35/2008/NĐ-CP quy định: các đơn vị này có thể trực tiếp quản lý hoặc thuê quản lý nghĩa trang do mình đầu tư xây dựng, trách nhiệm của các đơn vị này cũng tuân theo quy định tại điều 22 của nghị định này Quy định này lần đầu tiên đã thực hiện việc phân cấp mạnh mẽ, thể hiện quyết tâm xã hội hóa công tác quản lý nghĩa trang của CP Với việc tạo ra cơ chế thông thoáng hơn, các đơn vị là tổ chức, cá nhân có thể hoàn toàn chủ động trong việc thực thi công tác quản lý của mình Đây là một động lực lớn thu hút sự quan tâm và đầu tư từ phía tư nhân với hoạt động xây dựng và quản lý nghĩa trang Mặt tích cực cũng như hiệu quả là vậy, nhưng có thể nói việc quản lý quy hoạch đất nghĩa trang cũng là vấn đề nhạy cảm không kém việc quản lý quy hoạch đất cho người sống Hơn nữa, việc quản lý này tuy không mới nhưng trong bối cảnh hiện nay

nó lại trở nên mới, mới vì từ trước nay chúng ta quản lý theo lối dựa trên kinh nghiệm

mà không có cơ chế rõ ràng Và, còn vì trước thực tế chúng ta phải xã hội hóa công tác này nên có thể các đơn vị được giao quản lý chưa có kinh nghiệm

Mặt khác, nếu như các đơn vị quản lý này thật sự làm tốt trách nhiệm của mình thì không có vấn đề gì Nhưng ngược lại nếu có sự lợi dụng cơ chế thông thoáng này

để thu lợi bất chính thì hậu quả sẽ rất khó lường Bởi vì, khi phân cấp quản lý mạnh như quy định này thì có thể vì vậy các cơ quan quản lý chuyên ngành sẽ lơ là công tác quản lý tổng thể hay thiếu đi sự giám sát cần thiết trong quá trình quản lý của các đơn

vị được giao Thực tế chưa có cơ chế nào chế tài hữu hiệu, nếu các cơ quan quản lý

25 Theo http://www.xaluan.com/modules.php?name=News&file=article&sid=132225#ixzz1B59qk2tx [Ngày

truy cập 22/11/2010].

Trang 33

chuyên ngành không làm tốt chức năng quản lý Những năm gần đây việc các đơn vị quản lý nghĩa trang không làm tròn trách nhiệm gây hậu quả lớn khá phổ biến Đơn cử như cuối năm 2008 (khi Nghị định 35/2008/NĐ-CP của CP đã có hiệu lực) tại TP Đà Lạt việc các quản trang viên ở nghĩa trang Du sinh lập hành nghìn ngôi mộ không có hài cốt (còn gọi là mộ gió) để bán trái phép trong nhiều năm gây rất nhiều bức xúc trong dư luận

Theo đó, cuối năm 2008, khi TP Đà Lạt đưa vào sử dụng lò thiêu xác tại nghĩa trang Du Sinh, lập tức thị trường mộ gió ở Đà Lạt đã nhộn nhịp hẳn lên Giá thấp nhất của một ngôi mộ gió bằng đất chưa xây là 3-4 triệu đồng/mộ đơn và 8-10 triệu đồng/mộ đôi Mộ gió đã xây giá phải từ 20 triệu đồng/mộ chiếc và 30-40 triệu đồng/mộ đôi Giá mộ gió tăng cao còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác như

vị thế đẹp, đất bằng phẳng, gần đường Vì lợi nhuận từ việc kinh doanh mộ gió quá cao nên quản trang viên của nghĩa trang này còn bán cả phần mộ gió của người thân cho người khác Còn ở nghĩa trang Thánh Mẫu do nhu cầu đã vượt cung, không ít người khi mua mộ gió ngỡ ngàng và bức xúc vì bị lừa bán hai lần cho hai chủ khác nhau Số mộ gió hiện nay tại các nghĩa trang trên địa bàn TP Đà Lạt - chưa tính số mộ được các quản trang viên lập và bán trái phép trước đây, cũng đã nằm ở con số hàng ngàn mộ Chỉ tính riêng tại nghĩa trang Thánh Mẫu (Phường 7, TP Đà Lạt), người ta đã phát hiện có hơn 1.300 mộ, đó là chưa kể số

mộ đã được đặt trước cho hậu sự của rất nhiều người, chiếm diện tích nhiều chục

m2 Còn tại nghĩa trang Du sinh (Phường 5, TP Đà Lạt), chỉ tính riêng số mộ phần được lập trái phép trên diện tích rừng bị chiếm, phá (gồm khu vực đồi Cao, đồi An Sơn, khu Mười Tuyển và sau đài hỏa táng) là hơn 1.000 mộ Một cán bộ Hạt Kiểm lâm Đà Lạt cho biết Hiện đơn vị đang phối hợp với Phòng Quản lý đô thị và chủ rừng thanh tra việc lấn chiếm rừng để xây mộ gió, nhưng việc kiểm tra mộ gió là rất khó vì giờ đây chỉ có người lập mộ gió, hay nói đúng hơn là quản trang viên mới biết đích xác mộ nào đã có hài cốt còn lại không thể biết được bởi các nghĩa trang đã loạn mộ gió.26

Qua đó cho thấy, quản lý nghĩa trang là việc làm không hề đơn giản, sự lỏng lẻo trong quản lý cộng với một cơ chế thiếu minh bạch thật sự đã đem lại những bất cập như ví dụ trên đây Trường hợp này cũng chỉ là một trong số nhiều vi phạm liên quan đến quản lý nghĩa trang được báo chí đưa tin Và, cho thấy sự nghiêm trọng của vấn đề

và cần phải có ngay những biện pháp hữu hiệu để ngăn chặn

26 Theo báo Công an nhân dân online http://www.cand.com.vn [Ngày truy cập 25/11/2010].

Trang 34

2.2 Hiện trạng về quy hoạch nghĩa trang hiện nay

2.2.1 Quy hoạch địa điểm nghĩa trang

Quy hoạch địa điểm nghĩa trang là việc rất nhạy cảm bởi tầm ảnh hưởng và tác động của nó cả theo chiều hướng tích cực lẫn tiêu cực Nếu việc quy hoạch địa điểm làm tốt sẽ tạo ra nhiều thuận lợi cho các cơ quan chức năng trong quản lý giám sát Và, được sự ủng hộ từ phía người dân nên tạo ra sự đồng thuận trong xã hội dần dần làm thay đổi tập quán trong mai táng người chết của cộng đồng Điều này rất quan trọng vì

sẽ đưa hoạt động chôn cất người chết vào nề nếp, tập trung hơn, hiệu quả sử dụng đất được cao hơn Hạn chế được tình trạng chôn cất phân tán, sử dụng đất bừa bãi, manh mún làm lãng phí đất đai và ảnh hưởng xấu đến môi trường

Trước đây chúng ta chủ yếu là sử dụng địa điểm của những nghĩa trang đã hình thành mà cải tạo, nâng cấp hoặc mở rộng thêm Hiện nay, quy hoạch địa điểm nghĩa trang được quan tâm, và đã có khung pháp lý điều chỉnh khi CP ban hành Nghị định 35/2008/NĐ-CP, Nghị định này nêu rõ:

Quy hoạch địa điểm nghĩa trang là một nội dung của đồ án quy hoạch xây dựng vùng, quy hoạch chung xây dựng đô thị và quy hoạch xây dựng điểm dân cư nông thôn Khi phê duyệt các quy hoạch này, cơ quan có thẩm quyền đồng thời phê duyệt quy hoạch địa điểm nghĩa trang Về yêu cầu đối với việc quy hoạch địa điểm nghĩa trang như sau: Phù hợp với các điều kiện địa hình, điều kiện địa chất, địa chất thủy văn và khả năng khai thác quỹ đất; Phù hợp với tổ chức phân bố dân

cư và kết nối công trình hạ tầng kỹ thuật; Đáp ứng nhu cầu táng trước mắt và lâu dài của khu vực lập quy hoạch; Bảo đảm các yêu cầu về bảo vệ môi trường theo quy định của pháp luật; Khuyến khích quy hoạch các nghĩa trang phục vụ cho nhiều địa phương khác nhau và các nghĩa trang có sử dụng hình thức táng mới văn minh, hiện đại nhằm tiết kiệm đất, kinh phí xây dựng và giảm thiểu ô nhiễm môi trường; Về nội dung quy hoạch địa điểm nghĩa trang được quy định như sau: Xác định phạm vi phục vụ của các nghĩa trang; Xác định nhu cầu táng và lựa chọn các hình thức táng phù hợp với điều kiện tự nhiên, điều kiện kinh tế - xã hội, tín ngưỡng, phong tục và tập quán tốt, văn hoá, văn minh và bảo đảm tiết kiệm đất, hạn chế ô nhiễm môi trường; Xác định các nghĩa trang cần đóng cửa, di chuyển hoặc cải tạo mở rộng để tiếp tục sử dụng; Xác định vị trí và quy mô của các nghĩa trang xây dựng mới; Dự báo tác động môi trường.27

27 Điều 9 Nghị định 35/2008/NĐ-CP.

Trang 35

Về cơ bản, khi quy hoạch địa điểm nghĩa trang phải đáp ứng được các tiêu chí này Bên cạnh đó, các yêu cầu kỹ thuật khác có liên quan theo quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về quy hoạch của Bộ xây dựng ban hành kèm theo Quyết định số 4/2008/QĐ-

CP ngày 03 tháng 4 năm 2008 cũng phải được coi trọng như: khi lựa chọn địa điểm nghĩa trang, phải nghiên cứu khả năng phục vụ cho nhiều vùng, liên đô thị Nghĩa trang xây dựng mới phải bố trí ở ngoài đô thị, phù hợp với quy hoạch phát triển đô thị (nếu nghĩa trang thuộc khu vực đô thị) hoặc dân cư nông thôn (nếu nghĩa trang thuộc khu vực nông thôn) Đặc biệt là không làm ảnh hưởng đến môi trường dân cư xung quanh, không ảnh hưởng đến nguồn nước cấp cho sinh hoạt, ở cuối hướng gió so với khu dân cư Nghĩa trang hung táng (mai táng thi hài trong một khoảng thời gian nhất định sau đó sẽ cải táng), nghĩa trang chôn cất một lần không được bố trí trong nội thị

Và, các nghĩa trang hiện có trong đô thị không đạt tiêu chuẩn môi trường phải ngừng

sử dụng và có kế hoạch di chuyển

Quy định của pháp luật hiện nay là khá cụ thể, đảm bảo được những nội dung yêu cầu về mặt kỹ thuật khi quy hoạch địa điểm nghĩa trang Tuy nhiên, việc áp dụng những quy định này vào thực tế thì không hề đơn giản Do tính chất đặc thù, ảnh hưởng môi trường sinh thái, nên việc quy hoạch quỹ đất, đầu tư mới, mở rộng nghĩa trang gặp rất nhiều khó khăn Thêm vào đó, sự chủ quan đến từ những cán bộ làm công tác quy hoạch này cũng là nguyên nhân dẫn đến những bất cập hiện nay khi quy hoạch địa điểm nghĩa trang Một mặt do thiếu cái nhìn tổng thể khi tiến hành quy hoạch dẫn đến mắc nhiều sai lầm Đặc biệt, là hiện tượng vì lợi ích cục bộ của một bộ phận thiểu số nào đó nên không thực hiện đúng những quy định của CP, mà điển hình

là vụ việc quy hoạch địa điểm nghĩa trang tại Bắc Sơn - Sóc Sơn - Hà Nội năm 2009,

đã được các phương tiện truyền thông đưa tin gây bất bình không chỉ cho nhân dân sở tại mà còn bất bình trong dư luận cả nước

Vì vậy, nên trong cuộc họp với tập thể UBND TP và các sở ngành của Hà Nội trong chiều ngày 23 tháng 7 năm 2009, Chủ tịch UBND TP Hà Nội Nguyễn Thế Thảo đã thẳng thắn phê bình những người làm công tác quy hoạch nghĩa trang ở

Hà Nội trong thời gian qua đã có nhiều sai lầm, gây hậu quả nghiêm trọng Đó là việc ở xã Bắc Sơn, Sóc Sơn, Hà Nội đã được xây dựng đến hai dự án lớn cùng một lúc Đầu xã là dự án xây dựng khu xử lý rác thải Nam Sơn giai đoạn II của

TP, cuối xã là dự án xây dựng Nghĩa trang Thiên đường Tóm lại, trong cùng một

xã vừa được quy hoạch chôn rác, vừa quy hoạch chôn người, gây bất bình trong

Trang 36

dư luận, quần chúng nhân dân Bên cạnh đó, nhìn chung việc quy hoạch, quản lý

hệ thống nghĩa trang trên địa bàn TP còn bị buông lỏng, rất lộn xộn.28

Để xử lý hậu quả của việc vỡ quy hoạch này tại xã Bắc Sơn Chủ tịch UBND

TP đã quyết định không xây dựng nghĩa trang tại khu vực này và chỉ tập trung cho dự

án xử lý rác thải Và, yêu cầu các cơ quan có liên quan nghiên cứu địa điểm mới để triển khai xây dựng, vì dự án này có tầm quan trọng rất lớn với sự phát triển của Thủ đô

Thực tế này cho thấy, tuy CP đã ban hành những quy định hết sức cụ thể để điều chỉnh công tác quy hoạch địa điểm nghĩa trang, nhưng xem ra như vậy là còn chưa xứng tầm với thực tế của công tác này Việc buông lỏng quản lý, thiếu trách nhiệm, chưa làm tốt công tác triển khai những quy định của pháp luật đến các cán bộ làm công tác này và đối với người dân nói chung Cho nên, thực tế có nhiều dự án vấp phải sự phản đối quyết liệt từ phía người dân khi quy hoạch địa điểm nghĩa trang

2.2.2 Quy hoạch xây dựng nghĩa trang

Bên cạnh việc quy hoạch địa điểm để làm cơ sở cho việc tiến hành xây dựng nghĩa trang, thì công tác quy hoạch xây dựng cũng không kém phần quan trọng Nó đóng một vai trò rất lớn, vì xây dựng nghĩa trang là hoạt động đặc thù Nhất là hiện nay trong tình hình mà đất dành cho người chết chiếm một diện tích đáng kể và nhiều hơn cả đất ở cho người sống Nhận thức được tầm quan trọng phải đưa hoạt động xây dựng nghĩa trang đi đúng quỹ đạo, nên Nghị định 35/2008/NĐ-CP của CP quy định cụ thể việc quy hoạch xây dựng nghĩa trang như sau:

Các nghĩa trang xây dựng mới hoặc mở rộng đều phải lập quy hoạch xây dựng nghĩa trang Yêu cầu đối với quy hoạch xây dựng nghĩa trang gồm: Xác định cụ thể vị trí, quy mô, ranh giới của nghĩa trang; Xác định các hình thức táng sử dụng trong nghĩa trang; Xác định các chỉ tiêu kỹ thuật; Phân khu chức năng, phân lô

mộ, nhóm mộ, hàng mộ, khoảng cách giữa các mộ tuân thủ theo quy định đồng thời phải thuận tiện cho việc thực hiện các nghi lễ táng; Phải có các quy định về kích thước, kiểu dáng các mộ, bia mộ; các yêu cầu đối với thiết kế công trình trong nghĩa trang; Hệ thống hạ tầng kỹ thuật, các công trình nhà hoả táng nhà lưu giữ tro cốt (nếu có) Các công trình phục vụ, các công trình khác có liên quan phải được quy hoạch xây dựng đồng bộ bảo đảm vệ sinh môi trường; Đánh giá tác động môi trường; UBND cấp tỉnh quy định phân cấp trách nhiệm tổ chức lập,

28 Theo http://www.xaluan.com/modules.php?name=News&file=article&sid=132225#ixzz1B59qk2tx

[Ngày truy cập 18/12/2010]

Trang 37

thẩm định, phê duyệt quy hoạch xây dựng nghĩa trang trên địa bàn tỉnh theo các quy định của pháp luật về quy hoạch xây dựng.29

Những quy định cụ thể này tạo cơ sở để những yêu cầu quan trong trong thực hiện quy hoạch được diễn ra thuận lợi Theo đó, trong Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia do

Bộ xây dựng ban hành kèm theo Quyết định số 4/2008/QĐ-BXD ngày 03 tháng 4 năm

2008 quy định rất chi tiết về các yêu cầu kỹ thuật khi quy hoạch xây dựng nghĩa trang

Về mặt tổng thể khi tiến hành xây dựng nghĩa trang, mặt bằng nghĩa trang phải đảm bảo đất bố trí cho các khu vực như: mai táng, hệ thống thu gom và xử lý nước thải từ khu mộ hung táng, đường đi, nhà quản trang, sân hành lễ, cây xanh, hàng rào thích hợp và hệ thống biển báo để nhận biết mộ chí Đối với nghĩa trang hỗn hợp, phải

có các khu vực mai táng khác nhau (hung táng, cát táng, hỏa táng), khu vực dành riêng cho trẻ em, tôn giáo Sau công tác quy hoạch địa điểm nghĩa trang, dựa theo những tiêu chí cụ thể yêu cầu quy hoạch xây dựng phải đáp ứng, thì ứng với các tiêu chí đó là những yêu cầu về mặt kỹ thuật như sau:

- Về quy mô nghĩa trang: quy mô sử dụng đất nghĩa trang cần được dự báo trên

cơ sở dự báo về dân số đô thị Chỉ tiêu sử dụng đất cho một phần mộ cũng phải đảm bảo theo quy định cụ thể với từng hình thức táng Nếu là mộ hung táng và chôn cất một lần thì diện tích tối đa không quá 5m2/mộ Nếu là mộ cải táng thì không quá 3m2/mộ

- Tỷ lệ sử dụng đất trong nghĩa trang: tỷ lệ sử dụng đất cũng khác nhau với mỗi hình thức táng Nghĩa trang hung táng và chôn cất một lần: tối đa 70% diện tích đất dùng để chôn cất Tối thiểu 30% diện tích đất cho công trình giao thông và các công trình phụ trợ Nghĩa trang cát táng: tối đa 50% diện tích đất dùng để chôn cất; tối thiểu 50% diện tích đất cho công trình giao thông và các công trình phụ trợ

- Quy định khoảng cách ATVMT của nghĩa trang Khoảng cách ATVMT nhỏ nhất từ nghĩa trang đến đường bao khu dân cư, trường học, bệnh viện, công sở được quy định như sau:

+ Vùng đồng bằng: khoảng cách ATVMT tối thiểu của nghĩa trang hung táng là 1.500m khi chưa có hệ thống thu gom và xử lý nước thải từ mộ hung táng, và 500m khi có hệ thống thu gom và xử lý nước thải từ mộ hung táng Khoảng cách ATVMT tối thiểu của nghĩa trang cát táng là 100m

29 Điều 10 Nghị định 35/2008/NĐ-CP.

Trang 38

+ Vùng trung du, miền núi: khoảng cách ATVMT tối thiểu của nghĩa trang hung táng là 2.000m khi chưa có hệ thống thu gom và xử lý nước thải từ mộ hung táng, và 500m khi có hệ thống thu gom và xử lý nước thải từ mộ hung táng Khoảng cách ATVMT tối thiểu của nghĩa trang cát táng là 100m Đối với nghĩa trang chôn cất một lần, khoảng cách ATVMT tối thiểu 500m Khoảng cách ATVMT tối thiểu từ nghĩa trang hung táng đến công trình khai thác nước sinh hoạt tập trung là 2.500m

Khoảng cách ATVMT tối thiểu từ nghĩa trang đến mép nước gần nhất của mặt nước (sông, hồ, biển) không dùng cho mục đích cấp nước sinh hoạt: đối với nghĩa trang hung táng là 300m Đối với nghĩa trang cát táng là 100m Khoảng cách ATVMT tối thiểu từ nghĩa trang hung táng tới đường giao thông vành đai đô thị, đường sắt là 200m và phải có cây xanh bao quanh nghĩa trang Khoảng cách ATVMT nhỏ nhất từ công trình hỏa táng xây dựng mới đến khu dân cư, công trình công cộng và dân dụng gần nhất là 500m Trong vùng ATVMT của nghĩa trang được thực hiện các hoạt động canh tác nông, lâm nghiệp, được xây dựng các công trình hạ tầng kỹ thuật như giao thông, thủy lợi, tuyến và trạm điện, hệ thống thoát nước, truyền tải xăng dầu

- Quy định về thu gom và xử lý chất thải của nghĩa trang: chất thải rắn phải được thu gom và xử lý đảm bảo vệ sinh môi trường Phải có hệ thống thu gom nước thấm từ các khu mộ hung táng để xử lý tập trung hợp vệ sinh, trước khi xả ra môi trường Vị trí khu xử lý nước thải từ khu mộ hung táng phải ở hạ lưu nguồn tiếp nhận nước thải, nơi có nền địa hình thấp nhất của nghĩa trang

- Quy định đối với nhà tang lễ: mỗi đô thị phải có tối thiểu một nhà tang lễ phục

vụ tối đa 250.000 dân Địa điểm nhà tang lễ xây dựng mới phải không ảnh hưởng xấu đến các hoạt động của các khu chức năng khác và giao thông nội thị

Khoảng cách ATVMT nhỏ nhất từ nhà tang lễ xây dựng mới đến công trình nhà

ở là 100m đến chợ, trường học, bệnh viện là 200m Mỗi nhà tang lễ có khuôn viên tối thiểu là 10.000m2

Với quy định chi tiết về các yêu cầu kỹ thuật như trên, nếu cơ quan chức năng làm tốt công tác chỉ đạo quản lý, đưa các quy định này thực sự đi vào đời sống Hoạt động xây dựng nghĩa trang sẽ trở nên đồng bộ, có khoa học, dần khắc phục được những hạn chế yếu kém trong hoạt động này hiện nay Không thể phủ nhận những nổ lực của CP trong việc đang cố gắng đưa hoạt động này vào khuôn khổ pháp lý để quản

lý hiệu quả hơn Minh chứng cho điều này là gần đây Thủ tướng CP đã ban hành quyết

Trang 39

định số 1995/QĐ-TTg ngày 02 tháng 11 năm 2010 về phê duyệt nhiệm vụ quy hoạch nghĩa trang thủ đô Hà nội đến năm 2020 tầm nhìn đến năm 2050 Hà Nội là địa bàn có nhiều bất cập nhất cả nước về vấn đề quy hoạch xây dựng nghĩa trang, do dân số rất đông, đất nghĩa trang hiện đang thiếu rất nghiêm trọng Với quyết định này vấn đề quy hoạch nghĩa trang của Hà Nội sẽ mang tầm chiến lược đáp ứng được nhu cầu thực tế trong tương lai Tuy nhiên hiện nay không chỉ riêng gì TP Hà Nội mà nhiều địa phương trong cả nước nhất là các thành phố lớn như Huế, Đà Nẵng, Tp Hồ Chí Minh, vấn đề quy hoạch đất nghĩa trang cũng đang rất bức thiết

Trong bối cảnh hiện tại cũng có nhiều địa phương do được sự quan tâm chỉ đạo của các cấp chính quyền mà công tác quy hoạch và quản lý nghĩa trang có nhiều tiến

bộ và các cách làm hay Như cách quản lý nghĩa trang nhân dân ở xã Hòa Phước, huyện Hòa Vang, TP Đà Nẵng.30 Tuy nhiên những điển hình như vậy hiện nay rất ít, và còn chưa được quan tâm nhân rộng trong cả nước Trong khi đó các địa phương thì mạnh ai nấy làm và tệ hơn là không quan tâm đến quy hoạch nghĩa trang, để mặc cho người dân làm gì tùy thích, nên tình hình này rất lộn xộn Một cơ chế thống nhất và hữu hiệu trong vấn đề quy hoạch nghĩa trang là rất cần thiết hiện nay Thứ nhất có thể chấn chỉnh thực trạng hiện nay Thứ hai là có thể định hướng cho sự phát triển và quản

lý tốt hơn công tác quy hoạch nghĩa trang trong tương lai

2.3 Hiện trạng sử dụng đất nghĩa trang hiện nay

2.3.1 Vấn đề giá đất nghĩa trang

Theo quy định của Luật đất đai hiện nay, đất được Nhà nước giao không thu tiền sử dụng đất thì chủ thể được giao không có các quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, tặng cho, cho thuê quyền sử dụng đất, thế chấp, bảo lãnh, góp vốn bằng quyền sử dụng đất.31 Như vậy, có thể kết luận rằng đất nghĩa trang không được phép chuyển nhượng Tuy nhiên, những năm gần đây tình hình mua bán đất huyệt mộ tại các nghĩa trang diễn ra hết sức phức tạp và công khai trên phạm vi cả nước Do nhu cầu thực tế chôn cất người chết ngày càng tăng, cộng thêm sự quản lý lỏng lẻo của các cấp chính quyền, càng làm cho tình hình này thêm lộn xộn không kiểm soát được Hiện chưa có bất kỳ quy định nào về hạn chế số huyệt mộ được mua, được phép sang nhượng quyền sử dụng Tình trạng cò đất cũng như đầu cơ đất nghĩa trang diễn ra hết sức bức xúc là nguyên nhân làm cho giá đất nghĩa trang bị đẩy lên rất cao, có khi lên

30 Xem thêm phụ lục 1: Quản lý nghĩa trang nhân dân – nhìn từ cách làm của Hòa Phước huyện Hoà Vang.

31 Khoản 2 điều 109 Luật đất đai năm 2003.

Trang 40

đến hàng chục, hàng trăm triệu đồng/mộ tại các thành phố lớn Các địa phương lại thiếu cơ chế quản lý, hiện tượng đầu cơ bằng cách thu gom đất huyệt mộ tại các nghĩa trang sau đó bán lại kiếm lời rất phổ biến Trong điều kiện đất nghĩa trang hiện nay đang thiếu càng tạo nên tình trạng khan hiếm cục bộ, gây ảnh hưởng tiêu cực đối với

sự phát triển kinh tế xã hội đất nước Tạo ra cho người dân tâm lý lo lắng vì đất nghĩa trang ngày càng hiếm và giá thì đắt đỏ chưa từng thấy

Thêm vào đó, hiện tượng đầu cơ còn tạo ra sự khan hiếm giả tạo về nhu cầu đất nghĩa trang, làm cho giá đất này cao hơn gấp nhiều lần giá trị thực của nó Sở dĩ vấn

đề này khó quản lý là do, vì lợi nhuận giới đầu cơ bất chấp mọi quy định Và, đầu cơ đất nghĩa trang hiện còn là một hoạt động siêu lợi nhuận Do lợi dụng việc Nhà nước chưa có quy định cụ thể về đầu tư đất nghĩa trang Kinh doanh loại hình này thì không phải đóng thuế, khai báo thu nhập, muốn mua bao nhiêu thì mua, sang nhượng lại không hạn chế Tuy cũng có một vài nghĩa trang chủ đầu tư hạn chế số lượng mỗi cá nhân (như nghĩa trang công viên bình Dương hạn chế 40 phần mộ/cá nhân) nhưng hạn chế này cũng không mấy hiệu quả Ở các nghĩa trang mặc dù chủ đầu tư đã công bố hết chỗ, nhưng nếu có nhu cầu hỏi các quản trang viên thì vẫn được trả lời là còn, nhưng giá rất cao Điển hình là tại Hà Nội và TP Hồ Chí Minh là những nơi tình hình này xảy ra nhiều nhất, vì tập trung đông dân cư, diện tích đất thì có hạn trong khi nhu cầu rất cao, cụ thể:

Tại TP Hồ Chí Minh theo cục Thống kê, dự kiến đến năm 2020 dân số TP là 10 triệu người Trong đó, mỗi năm sẽ có khoảng 40.000 người chết Hiện nay có khoảng 80% số người chết có nguyện vọng nằm lại TP, còn lại được đưa về quê Như vậy, trong điều kiện đất nghĩa trang của thành phố đang thiếu nghiêm trọng

Và, với nhu cầu lớn như hiện nay, những năm tới thành phố sẽ thiếu hàng chục hecta đất nghĩa trang Tuy nhiên, nguồn cung về đất nghĩa trang của thành phố lại rất hạn chế Nguyên nhân chủ yếu do nghĩa trang Bình Hưng Hoà lớn nhất TP đã đóng cửa, nghĩa trang Đa Phước gần như không còn chỗ trống Trong khi đó, chủ trương của thành phố là không cho người dân chôn cất người thân trên đất thổ cư hay đất ruộng mà phải tập trung vào những nơi được quy hoạch làm nghĩa trang

Để giải quyết nhu cầu này, người dân đang đổ về các tỉnh lân cận như Bình Dương, Đồng Nai, Long An tìm đất xây mộ Do đất nghĩa trang tăng giá, nhiều người dân trên địa bàn lân cận các nghĩa trang cũng bất chấp quy định mà tự ý

Ngày đăng: 05/04/2018, 22:39

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w