Vì thế, xác định rõ đối tượng nào là người tiêu dùng có ý nghĩa rất quan trọng trong việc bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của họ, đồng thời cũng nâng cao ý thức trách nhiệm của tổ chức, cá
Trang 1Giảng viên hướng dẫn: Sinh viên thực hiện:
ThS Võ Duy Nam Nguyễn Thị Ý
MSSV: 5095680 Lớp: Luật hành chính - K35
Trang 2L M 1
CHƯƠNG 1 CƠ S LÝ L ẬN VỀ PHÁP L ẬT BẢO VỆ Q YỀN LỢ NGƯ TIÊU DÙNG 3
1.1 Khái quát chung về pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng 3
1.1.1 Khái niệm người tiêu dùng 3
1.1.2 Nhiệm vụ của luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng 4
1.1.3 Một số khái niệm liên quan 4
1.2 Vai trò của pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng 5
1.2.1 Vai trò của người tiêu dùng 5
1.2.2 Vai trò, ý nghĩa của pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng 6
1.2.3 Sự cần thiết phải bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng 7
1.3 Nội dung và nguyên tắc của pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng 8
1.3.1 Nội dung của pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng 8
1.3.1.1 Các quyền cơ bản của người tiêu dùng 8
1.3.1.2 Nghĩa vụ của người tiêu dùng 11
1.3.1.3 Trách nhiệm của tổ chức, cá nhân sản xuất, cung cấp hàng hóa, dịch vụ 12
1.3.2 Nguyên tắc bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng 12
1.4 Khái quát chung về sự phát triển của pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng ở Việt Nam 12
CHƯƠNG 2 NHỮNG Q Y ỊNH CỦA PHÁP L ẬT VỀ VẤN Ề BẢO VỆ Q YỀN LỢ NGƯ T Ê DÙNG TẠ V ỆT NAM 16
2.1 Cơ sở pháp lý về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng 16
2.1.1 Hiến pháp năm 1992, sửa đổi bổ sung năm 2001 16
2.1.2 Bộ luật Dân sự năm 2005 16
2.1.3 Bộ luật Hình sự năm 1999 sửa đổi, bổ sung năm 2009 17
2.1.4 Luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2010 28 2.1.5 Nghị định điều chỉnh trực tiếp về vấn đề bảo vệ quyền lợi người tiêu
Trang 32.1.6 Một số văn bản luật có liên quan 21
2.2 Pháp luật về chế độ trách nhiệm của tổ chức, cá nhân sản xuất và cung cấp hàng hóa, dịch vụ 23
2.2.1 Trách nhiệm của tổ chức, cá nhân kinh doanh, hàng hóa, dịch vụ trong việc cung cấp thông tin về hàng hóa, dịch vụ cho người tiêu dùng 23
2.2.1.1 Quy định đối với nhãn mác hàng hóa 23
2.2.1.2 Nghĩa vụ bảo hành sản phẩm 25
2.2.1.3 Nghĩa vụ bảo đảm sự trung thực về giá bán 27
2.2.2 Trách nhiệm của cá nhân, tổ chức sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ đối với các hợp đồng theo mẫu 28
2.2.3 Trách nhiệm của cá nhân, tổ chức sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ trong việc đảm bảo tiêu chuẩn, đo lường, chất lượng 30
2.2.4 Trách nhiệm giải quyết khiếu nại đối với người tiêu dùng của cá nhân, tổ chức sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ 31
2.3 Quản lý Nhà nước về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng 32
2.3.1.Vai trò của các cơ quan quản lý nhà nước về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng 32
2.3.2 Cơ quan quản lý nhà nước về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng 32
2.3.3 Tổ chức bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng 35
2.4 Pháp luật về trách nhiệm pháp lý và các hình thức giải quyết tranh chấp giữa người tiêu dùng và tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ 36
2.4.1 Trách nhiệm pháp lý đối với tổ chức, cá nhân xâm phạm quyền lợi người tiêu dùng 36
2.4.1.1 Trách nhiệm hành chính 36
2.4.1.2 Trách nhiệm dân sự 47
2.4.1.3 Trách nhiệm hình sự 38
2.4.2 Các hình thức giải quyết tranh chấp giữa người tiêu dùng và tổ chức, cá nhân kinh doanh, hàng hóa, dịch vụ 38
Trang 42.4.2.2 Hòa giải 39
2.4.2.3 Trọng tài 39
2.4.2.4 Tòa án 40
2.5 Thực trạng bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng ở Việt Nam 40
2.5.1 Thành tựu đạt được trong công tác bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng thời gian qua 40
2.5.2 Một số, tồn tại bất cập 42
2.5.3 Một số vụ điển hình về vi phạm quyền lợi người tiêu dùng trong thời gian qua 45
CHƯƠNG 3 THỰC T ỄN ÁP DỤNG VÀ PHƯƠNG HƯỚNG HOÀN TH ỆN VỀ PHÁP L ẬT BẢO VỆ Q YỀN LỢ NGƯ T Ê DÙNG H ỆN NAY 48
3.1 Thực tiễn về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng tại Thành phố Cần Thơ 48
3.1.1 Các cơ quan quản lý về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng tại Thành phố Cần Thơ 48
3.1.1.1 Uỷ ban nhân dân Thành phố Cần Thơ 48
3.1.1.2 Sở Công thương (Chi cục Quản lý thị trường) 48
3.1.1.3 Sở Y tế (Chi cục Vệ sinh an toàn thực phẩm) 49
3.1.1.4 Sở Khoa học và Công nghệ (Chi cục Tiêu chuẩn - đo lường - chất lượng) 50
3.1.3 Hội Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng Thành phố Cần Thơ 51
3.1.4 Công tác bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng tại Thành phố Cần Thơ trong thời gian gần đây 52
3.1.4.1 Về lĩnh vực quản lý thị trường 52
3.1.4.2 Về lĩnh vực an toàn vệ sinh thực phẩm 54
3.1.4.3 Về lĩnh vực tiêu chuẩn, đo lường và chất lượng hàng hóa, sản phẩm 56
3.2 Phương hướng hoàn thiện về pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng hiện nay 60
3.2.1 Hoàn thiện một số quy định của Luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng 60
Trang 53.2.3 Nâng cao ý thức của tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch
vụ 62 3.2.4 Xây dựng mạng lưới giám sát thực thi pháp luật nhiều chiều, nhiều
tầng 62 3.2.5 Tăng cường thông tin, hướng dẫn, phổ biến, giáo dục nâng cao khả năng tự bảo vệ của người tiêu dùng 63 3.2.6 Tăng cường hợp tác quốc tế 63
KẾT L ẬN 65
Trang 6dư luận song chưa được giải quyết một cách triệt để Việc tham gia đấu tranh chống lại những hành vi xâm phạm quyền lợi người tiêu dùng cũng đồng nghĩa với việc chúng ta đang bảo vệ quyền lợi của bản thân, gia đình, bạn bè và những người xung quanh Xuất phát từ lợi ích đó, đồng thời người viết cũng mong muốn đóng góp một phần công sức trong việc đấu tranh chống lại những hành vi tiêu cực, không lành
mạnh trong tiêu dùng ở nước ta, do vậy người viết chọn đề tài “Pháp luật bảo vệ
quyền lợi người tiêu dùng – lý luận và thực tiễn” nhằm góp phần phổ biến những
quy định của pháp luật trong việc bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong giai đoạn hiện nay
2 ục tiêu nghiên cứu
Đứng trước thực trạng người tiêu dùng đang bị xâm phạm lợi ích cả về vật chất lẫn tinh thần, cộng thêm ý thức của người tiêu dùng chưa cao cũng như pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng còn hạn chế Thông qua đề tài “Pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng – Lý luận và thực tiễn” ngoài việc nâng cao kiến thức hiểu biết về tiêu dùng khi lựa chọn sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ người viết mong muốn người tiêu dùng hiểu biết thêm về những quy định của pháp luật trong việc bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, để họ có thể tự bảo vệ lợi ích chính đáng của mình, góp phần nâng cao ý thức trách nhiệm của doanh nghiệp trong việc bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng thông qua những quy định của pháp luật hiện nay Qua đó, người viết cũng mong muốn phổ biến những quy định của pháp luật về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng để người tiêu dùng hiểu rõ hơn quyền và nghĩa vụ của mình góp phần nâng cao ý thức tự bảo vệ của người tiêu dùng
Trang 73 Phạm vi nghiên cứu
Pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng là mảng đề tài rất rộng, liên quan đến nhiều văn bản pháp luật khác nhau Vì vậy, người viết chỉ tập trung nghiên cứu Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2010 về quyền, nghĩa vụ của người tiêu dùng cũng như trách nhiệm của doanh nghiệp trong việc bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng Bên cạnh đó, người viết cũng nghiên cứu sơ lược các văn bản liên quan về lĩnh vực bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng như: Bộ luật Hình sự năm 1999 sửa đổi, bổ sung 2009; Bộ luật Dân sự năm 2005… và một số văn bản dưới luật liên quan đến vấn đề bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng
4 Phương pháp nghiên cứu
Từ việc tham khảo tài liệu trên mạng, sách, báo, tạp chí, văn bản luật và các tài liệu liên quan khác, người viết đã sử dụng một số phương pháp nghiên cứu trong luận văn như: phương pháp phân tích luật viết; thu thập số liệu; đánh giá, tổng hợp vấn đề
để rút ra những kết luận, nhận xét Ngoài ra, người viết có sự rút kết, tiếp thu những kinh nghiệm của những tác giả đi trước, tham khảo các cuộc hội nghị về vấn đề bảo
vệ quyền lợi người tiêu dùng Tất cả những phương pháp đó nhằm mục đích làm cho
đề tài thực sự cụ thể và sinh động
5 Kết cấu đề tài
Kết cấu luận văn bao gồm:
+ Lời nói đầu
+ Phần nội dung bao gồm ba chương:
Chương 1 Cơ sở lý luận về pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng
Chương 2 Những quy định của pháp luật về vấn đề bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng tại Việt Nam
Chương 3 Thực tiễn áp dụng và phương hướng hoàn thiện về pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng hiện nay
+ Kết luận
+ Danh mục tài liệu tham khảo
Trang 8CHƯƠNG 1
CƠ S LÝ L ẬN VỀ PHÁP L ẬT BẢO VỆ Q YỀN LỢ
NGƯ T Ê DÙNG 1.1 Khái quát chung về pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng
Khi xem xét đến vấn đề bảo vệ người tiêu dùng thì điều quan trọng là làm rõ khái niệm người tiêu dùng Việc xác định thế nào là người tiêu dùng sẽ có ý nghĩa quan trọng trong việc xác định phạm vi tác động của pháp luật bảo vệ người tiêu dùng, từ đó quyền lợi người tiêu dùng mới được bảo vệ bằng pháp luật
1.1.1 Khái niệm người tiêu dùng
Người tiêu dùng ở nước ta xuất hiện từ rất lâu, có thể được hiểu là tất cả chúng
ta, tất cả những người tiêu dùng trong xã hội Nhưng khái niệm người tiêu dùng, với
tư cách là một khái niệm pháp lý để xác định cụ thể đối tượng nào là người tiêu dùng được pháp luật bảo vệ thì chưa được quy định trong bất kỳ văn bản nào vào trước thời
kỳ đổi mới ở nước ta
Từ cuối những năm 80, khi nước ta thực hiện chính sách đổi mới chuyển dịch sang nền kinh tế nhiều thành phần theo cơ chế thị trường dẫn đến sản xuất kinh doanh được mở rộng, người tiêu dùng có điều kiện tốt hơn trong việc lựa chọn, mua và sử dụng hàng hóa, dịch vụ Bên cạnh đó, cơ chế kinh tế thị trường cũng làm nảy sinh hành vi xâm hại nghiêm trọng đến quyền và lợi ích chính đáng của người tiêu dùng như việc sản xuất, kinh doanh hàng giả, hàng kém chất lượng, gian lận trọng lượng, quảng cáo gian dối đánh lừa người tiêu dùng…những hành vi này không những gây thiệt hại cho người tiêu dùng mà còn gây bất ổn cho nền kinh tế - xã hội Vì thế, xác định rõ đối tượng nào là người tiêu dùng có ý nghĩa rất quan trọng trong việc bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của họ, đồng thời cũng nâng cao ý thức trách nhiệm của tổ chức, cá nhân sản xuất kinh doanh hàng hóa, dịch vụ trong việc bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng Cho nên, nhà nước ta đã ban hành nhiều văn bản pháp luật liên quan đến việc bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng và khái niệm người tiêu dùng được chính
thức luật hóa từ năm 1999 trong Pháp lệnh bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng: “ Người
tiêu dùng là người mua, sử dụng hàng hoá, dịch vụ cho mục đích tiêu dùng sinh hoạt của cá nhân, gia đình và tổ chức” 1 Pháp lệnh đã xác định rõ đối tượng nào là người tiêu dùng ở nước ta, giúp cho việc thực thi pháp luật được dễ dàng và tránh được sự xác định không chính xác đối tượng nào là người tiêu dùng Bởi vì, người tiêu dùng
có thể là người mua hoặc sử dụng hàng hóa, dịch vụ vì mục đích tiêu dùng, sinh hoạt của cá nhân, gia đình, tổ chức
1 Điều 1 Pháp lệnh bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 1999
Trang 9Qua thực trạng công tác bảo vệ người tiêu dùng cho thấy mặc dù đã có Pháp lệnh bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng 1999 và nhiều văn bản liên quan nhưng vấn đề thực thi pháp luật vẫn chưa có hiệu quả, quyền người tiêu dùng chưa bảo vệ cách tốt nhất Vì thế, tại kỳ họp thứ VIII Quốc hội khóa XII thông qua Luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2010 có hiêu lực ngày 01 tháng 7 năm 2011 tại Khoản 1 Điều 3
có nêu rõ: “Người tiêu dùng là người mua, sử dụng hàng hóa, dịch vụ cho mục đích
tiêu dùng, sinh hoạt của cá nhân, gia đình, tổ chức”2
Như vậy, không phải tất cả những hành vi mua, sử dụng hàng hóa, dịch vụ đều được coi là hành vi tiêu dùng và được pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng bảo vệ Chỉ những hành vi mua, sử dụng hàng hóa, dịch vụ vì mục đích tiêu dùng, sinh hoạt hoặc vì nhu cầu công việc mới được coi là hành vi tiêu dùng và được pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng điều chỉnh, còn những hành vi mua, sử dụng hàng hóa, dịch vụ với những mục đích khác như sản xuất, kinh doanh của tổ chức, cá nhân hoặc hộ gia đình thì không được xem là hành vi tiêu dùng và không thuộc phạm vi điều chỉnh của pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng
Có thể thấy được rằng quy định về khái niệm người tiêu dùng theo pháp luật Việt Nam cũng tương đối giống một số nước trên thế giới Chẳng hạn, người tiêu dùng sẽ được xác định thông qua hành vi và mục đích sử dụng sản phẩm của mình Ở góc độ hành vi người tiêu dùng có thể là người mua, người sử dụng Xét dưới góc độ mục đích, người tiêu dùng là người sử dụng sản phẩm dùng cho sinh hoạt cá nhân, gia đình, tổ chức mà không phải mục đích phục vụ cho kinh doanh, sản xuất
1.1.2 Nhiệm vụ của luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng
Luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng là quy định về quyền và nghĩa vụ của người tiêu dùng; trách nhiệm của tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ đối với người tiêu dùng; trách nhiệm của tổ chức xã hội trong việc tham gia bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng; giải quyết tranh chấp giữa người tiêu dùng và tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ; trách nhiệm quản lý nhà nước về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng
1.1.3 Một số khái niệm liên quan
Tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ là tổ chức, cá nhân thực hiện
một, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình đầu tư, từ sản xuất đến tiêu thụ hàng hóa hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lợi, bao gồm:
+ Thương nhân theo quy định của Luật thương mại;
2 LG Bá Linh, Tìm hiểu pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, Nhà xuất bản Tư pháp, số 19/2008, tháng
12 năm 2005, trang 28
Trang 10+ Cá nhân hoạt động thương mại độc lập, thường xuyên, không phải đăng ký kinh doanh
Hợp đồng theo mẫu là hợp đồng do tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa,
dịch vụ soạn thảo để giao dịch với người tiêu dùng
Điều kiện giao dịch chung là những quy định, quy tắc bán hàng, cung ứng dịch
vụ do tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ công bố và áp dụng đối với người tiêu dùng
Hòa giải là việc giải quyết tranh chấp giữa người tiêu dùng và tổ chức, cá nhân
kinh doanh hàng hóa, dịch vụ thông qua bên thứ ba
1.2 Vai trò của pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng
1.2.1 Vai trò của người tiêu dùng
Người tiêu dùng – cụm từ đã không còn xa lạ với đại đa số người dân Việt Nam nhưng không phải ai cũng hiểu và nắm rõ được vai trò của mình trong quá trình tiêu dùng hàng hóa Rất nhiều người tiêu dùng chỉ hiểu đơn thuần mình là người đi mua những sản phẩm, hàng hóa theo đúng nhu cầu và mong muốn
Cách hiểu này đúng nhưng chỉ là một phần nhỏ trong những vai trò của người tiêu dùng Chính vì không ý thức được vai trò to lớn và vị trí quan trọng trong nền kinh tế nhiều cạnh tranh hiện nay nên nhiều người tiêu dùng đã bỏ qua hoặc không quan tâm tới những quyền và lợi ích hợp pháp của mình
Đầu tiên, theo cách hiểu đơn giản nhất thì người tiêu dùng chính là người mua
và sử dụng hàng hóa, dịch vụ do các doanh nghiệp cung cấp Người tiêu dùng mua với số lượng lớn, doanh nghiệp bán được nhiều hàng thì doanh thu tăng cao, doanh nghiệp mới có thể tồn tại Chính vì vậy có thể nói sức mua của người tiêu dùng là yếu
tố quyết định sự thành bại của doanh nghiệp Cuộc sống ngày càng phát triển thì nhu cầu mua sắm của con người cũng tăng dần Khi đưa bất kỳ một quyết định mua sắm nào, người tiêu dùng có quyền được tự do tham khảo, chọn lựa sản phẩm mình muốn mua và sử dụng theo đúng nhu cầu và mục đích của mình Chính từ nhu cầu mua sắm của người tiêu dùng, nhiều doanh nghiệp sẽ lên kế hoạch đưa ra nhiều sản phẩm, dịch
vụ đa dạng nhằm đáp ứng nhu cầu sử dụng ngày càng cao của người tiêu dùng đồng thời tăng tính cạnh tranh giữa các doanh nghiệp Người tiêu dùng là người mua và sử dụng hàng hóa, dịch vụ của doanh nghiệp Qua đó, họ có thể đưa ra những ý kiến đóng góp hữu ích và chính xác về sản phẩm và dịch vụ mà mình sử dụng Tùy thuộc vào thị hiếu tiêu dùng và ý kiến thu thập được từ phía người tiêu dùng mà doanh nghiệp có thể điều chỉnh lại phương pháp sản xuất, hoàn thiện sản phẩm của mình sao cho phù hợp với nhu cầu của người tiêu dùng Từ đó doanh nghiệp sẽ có chiến lược
Trang 11phát triển lâu dài và phù hợp với tình hình thực tế Chính vì vậy, người tiêu dùng có vai trò hết sức quan trọng, tác động không nhỏ đến kế hoạch và chiến lược kinh doanh của mỗi doanh nghiệp, cũng như sự phát triển của nền kinh tế của một quốc gia 3
1.2.2 Vai trò, ý nghĩa của pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng
Việc can thiệp hợp lý của pháp luật đối với các quan hệ tiêu dùng là hết sức cần thiết Sự ra đời của pháp luật bảo vệ người tiêu dùng được xem là sự chuẩn bị tốt nhất cho sự phát triển của một đất nước, không chỉ cần thiết cho quyền lợi của người tiêu dùng mà ngay cả nhà sản xuất, phân phối cũng được đảm bảo Đồng thời, pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng còn là công cụ, phương thức hiệu quả cho công tác bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng nói riêng và công tác quản lý nhà nước nói chung Vì thế, pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng có vai trò, ý nghĩa hết sức quan trọng trong nền kinh tế hiện nay thể hiện qua những khía cạnh sau:
Đối với người tiêu dùng:
Sự ra đời của hệ thống pháp luật là một công cụ cần thiết đảm bảo quyền, lợi ích chính đáng của người tiêu dùng, thể hiện sự tôn trọng và cần được bảo vệ đối với người tiêu dùng, tạo tâm lý vững chắc, yên tâm hơn cho người tiêu dùng khi thực hiện các giao dịch mua bán Việc ra đời của các văn bản pháp lý giúp người tiêu dùng
có sự cân bằng trong quan hệ tiêu dùng như khả năng đảm bảo nguồn thông tin về hàng hóa, sản phẩm mà đó chính là cơ sở cho việc lựa chọn mua sắm hàng hóa của người tiêu dùng
Đối với tổ chức, cá nhân sản xuất kinh doanh hàng hóa, sản phẩm:
Sự ra đời của những quy định pháp luật về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng góp phần nâng cao hiệu quả sản xuất, tạo nên môi trường cạnh tranh lành mạnh giữa các doanh nghiệp Thúc đẩy, điều tiết quá trình sản xuất, buộc các doanh nghiệp cần tuân thủ nghiêm ngặt các yêu cầu về tiêu chuẩn, kỹ thuật, chất lượng, an toàn sản phẩm…trong quá trình sản xuất Đây cũng là một trong những nguyên nhân khiến nhà sản xuất cần phải nâng cao chất lượng sản phẩm, giảm thiểu đến mức thấp nhất những khiếm khuyết có thể xảy ra với sản phẩm của mình Việc can thiệp hợp lý bằng pháp luật vào quan hệ tiêu dùng còn góp phần đẩy mạnh sự chuyên môn hóa trong kinh doanh, sản xuất Thực hiện tốt vấn đề này, nhà sản xuất sẽ tạo được lòng tin với người tiêu dùng làm cho doanh nghiệp ngày càng phát triển hơn
3 Nguồn: http://tieudungviet.com.vn/nguoi-tieu-dung-can-biet1.html
Trang 12 Đối với xã hội:
Pháp luật bảo vệ người tiêu dùng ra đời đã giúp cho xã hội loại bỏ bớt các rủi
ro trong quá trình sản xuất tiêu dùng sản phẩm Hơn thế nữa, pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng còn góp phần làm điều hòa các mối quan hệ tiêu dùng, vừa giúp người tiêu dùng tránh được nguy cơ bị bóc lột, lừa đảo; vừa giúp nhà sản xuất phát huy được giá trị đạo đức trong kinh doanh Đồng thời, nó còn là cơ hội để nâng cao nhận thức về tiêu dùng cho xã hội, hình thành các mối quan hệ mua bán lành mạnh trong xã hội tiên tiến, xây dựng và củng cố niềm tin vào nền sản xuất hiện đại
Đối với các cơ quan quản lý có thẩm quyền:
Pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng là công cụ, phương thức sử dụng hiệu quả trong công tác bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, là cơ sở để các cơ quan quản lý thực hiện chức năng nhiệm vụ của mình Góp phần điều tiết, bình ổn nền kinh
tế hiệu quả và công bằng hơn
1.2.3 Sự cần thiết phải bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng
Trong nền kinh tế thị trường, người tiêu dùng có vai trò quan trọng, mang tính quyết định sự tồn tại và phát triển của một doanh nghiệp, một thương hiệu cũng như của một quốc gia Có thể nói người tiêu dùng chính là động lực để thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế và là trọng tâm của kế hoạch kinh tế Nếu như sản phẩm làm ra
mà không có người tiêu thụ sẽ dẫn đến tình trạng khủng hoảng thừa, nền kinh tế không phát triển và các doanh nghiệp không thể tồn tại
Trong thời đại ngày nay, với xu thế toàn cầu hóa sự phát triển mạnh mẽ của khoa học công nghệ, nhiều sản phẩm hữu ích cùng với phương thức kinh doanh hiện đại đã ra đời và phát triển đáp ứng nhu cầu và thị hiếu của người tiêu dùng Tuy nhiên, bên cạnh đó, vì mục đích lợi nhuận nên một số doanh nghiệp, nhà sản xuất đã
vi phạm nghiêm trọng quyền lợi của người tiêu dùng khi đưa ra thị trường các sản phẩm, hàng hóa không đảm bảo chất lượng, thậm chí có sản phẩm còn gây nguy hại
vệ sinh thực phẩm (Bộ Y tế), trong 5 tháng đầu năm 2012, cả nước có 49 vụ ngộ độc với 1.711 người, trong đó 1.330 người phải đi viện và 13 người tử vong 4
Bên cạnh đó, nạn hàng giả, hàng nhái, hàng vi phạm sở hữu trí tuệ, hàng kém chất lượng, hàng không đảm vệ sinh an toàn thực phẩm đang có xu hướng gia tăng ở mức báo động như: sữa nhiễm melamine, rượu gây ngộ độc chết người, những vụ gian lận đo lường xăng dầu, gà nhuộm phẩm màu công nghiệp có nguy cơ gây ung thư…Theo thống kê của ngành Hải quan, trong năm 2010 đã phát hiện và bắt giữ
4 http://www.phapluatvn.vn/thoi-su/201206/Chan-vi-pham-ve-ve-sinh-an-toan-thuc-pham-2068287/
Trang 13được 13.846 vụ vi phạm, trị giá hàng hóa vi phạm ước tính hơn 436 tỷ đồng Các mặt hàng giả chủ yếu vẫn bao gồm: vật tư nông nghiệp, dược phẩm, thực phẩm, trong đó chú ý các mặt hàng có thuế suất cao như rượu, bia, hay thuốc lá 5 Ngoài ra, việc chấp hành các quy định về niêm yết giá và bán theo giá niêm yết trong kinh doanh hàng hóa, dịch vụ trên thị trường đang có nhiều bất cập, vấn đề hậu mãi, các dịch vụ bảo hành, khuyến mại của doanh nghiệp cũng chưa thực hiện đúng cam kết đã đưa ra với người tiêu dùng
Những vấn đề trên chỉ phản ánh một phần nhỏ trên thực tế quyền và lợi ích hợp pháp của người tiêu dùng bị xâm phạm Do vậy, có thể nói rằng người tiêu dùng Việt Nam đang sống trong một môi trường với mức độ an toàn chưa được đảm bảo, quyền
và lợi ích bị xâm phạm ngày càng nhiều và chưa được xử lý kịp thời, nghiêm khắc
Do đó, nhà nước ta và toàn xã hội cần phải coi trọng công tác bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng chính là bảo vệ sự phát triển nhanh và bền vững của xã hội
1.3 Nội dung và nguyên tắc của pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng
1.3.1 Nội dung của pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng
1.3.1.1 Các quyền cơ bản của người tiêu dùng
Người tiêu dùng chính là người bỏ tiền ra để mua sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ của nhà sản xuất, cung cấp dịch vụ, do vậy người tiêu dùng chính là người mang lại lợi nhuận cho các doanh nghiệp Hay nói cách khác, người tiêu dùng chính là người duy trì sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp (khi sản phẩm, dịch vụ của một doanh nghiệp đưa ra thị trường mà không có người sử dụng hoặc chỉ có một số ít người sử dụng thì doanh nghiệp đó sẽ nhanh chóng phá sản)
Theo Nghị quyết số 39/248 ngày 09/4/1985 của Đại hội đồng Liên hợp quốc thông qua “Bản hướng dẫn bảo vệ Người tiêu dùng”, thì người tiêu dùng có tám quyền cơ bản sau 6
:
+ Quyền được thỏa mãn những nhu cầu cơ bản: là quyền được cung cấp
những sản phẩm và dịch vụ cơ bản, thiết yếu như các nhu cầu về lương thực, thực phẩm, quần áo, nhà ở, đi lại, giáo dục, vui chơi, giải trí, chăm sóc sức khỏe, dịch vụ công cộng…;
Trang 14+ Quyền được an toàn: là quyền được bảo vệ để không phải sử dụng các sản
phẩm hàng hóa, quy trình sản xuất và dịch vụ nguy hại cho sức khỏe hoặc đời sống của người tiêu dùng;
+ Quyền được cung cấp thông tin: người tiêu dùng được quyền có các số liệu
và dữ liệu cần thiết về sản phẩm, hàng hóa, dich vụ để trên cơ sở đó người tiêu dùng
có thể lựa chọn, chống gian dối, lừa đảo, quảng cáo, ghi nhãn không rõ ràng, không trung thực;
+ Quyền được lựa chọn: người tiêu dùng được tự do lựa chọn sản phẩm và
dịch vụ có giá cả, chất lượng phù hợp với yêu cầu của người tiêu dùng;
+ Quyền được đại diện: người tiêu dùng được đưa ra các ý kiến với đại diện
của người tiêu dùng trong việc hoạch định các chính sách của Chính phủ trong phát triển hàng hóa và dịch vụ;
+ Quyền được khiếu nại và bồi thường thiệt hại: người tiêu dùng được quyền
khiếu nại với nhà sản xuất kinh doanh khi mua phải hàng hóa kém chất lượng, không phù hợp và được giải quyết thỏa đáng những khiếu nại, được bồi thường những thiệt hại do mua phải hàng hóa, dịch vụ không đúng cam kết của doanh nghiệp, nhà sản xuất;
+ Quyền được giáo dục về tiêu dùng: người tiêu dùng được quyền có những
kiến thức và kỹ năng cần thiết để yêu cầu được cung cấp thông tin, được hướng dẫn
sử dụng; có kiến thức để lựa chọn hàng hóa, dịch vụ; có kiến thức về các quyền cũng như trách nhiệm của người tiêu dùng và cách thức thực thi các quyền và trách nhiệm đó;
+ Quyền được sống trong một môi trường trong sạch và lành mạnh: người tiêu
dùng có quyền sống và làm việc trong một môi trường không bị ô nhiễm cả trong hiện tại và tương lai
Các quốc gia đã căn cứ vào 8 quyền cơ bản của người tiêu dùng nêu trong Bản hướng dẫn bảo vệ người tiêu dùng của Liên hợp quốc, thể chế hoá thành văn bản pháp luật quốc gia phù hợp với tình hình kinh tế - xã hội, phong tục tập quán cũng như đặc điểm riêng của quốc gia mình để bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng Đồng thời, Nghị quyết số 39/248 ngày 09/4/1985 của Đại hội đồng Liên hợp quốc cũng quy định người tiêu dùng có năm trách nhiệm: Biết phê bình; biết hành động; quan tâm đến xã hội; hiểu biết về tiêu dùng; có ý thức cộng đồng cao
Ở nước ta, quyền lợi của người tiêu dùng được quy định trong nhiều văn bản pháp luật có giá trị pháp lý cao như: Hiến pháp năm 1992 sửa đổi năm 2001, Bộ luật hình sự năm 1999 sửa đổi bổ sung năm 2009, Bộ luật dân sự năm 2005, Luật thương
Trang 15mại năm 2005, Luật chất lượng sản phẩm, hàng hóa năm 2007, Luật an toàn thực phẩm năm 2010, Luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2010…tại Điều 8 Luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng 2010 quy định người tiêu dùng Việt Nam có tám quyền sau:
+ Được bảo đảm an toàn tính mạng, sức khỏe, tài sản, quyền, lợi ích hợp pháp khác khi tham gia giao dịch, sử dụng hàng hóa, dịch vụ do tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ cung cấp;
+ Được cung cấp thông tin chính xác, đầy đủ về tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ; nội dung giao dịch hàng hóa, dịch vụ; nguồn gốc, xuất xứ hàng hóa; được cung cấp hóa đơn, chứng từ, tài liệu liên quan đến giao dịch và thông tin cần thiết khác về hàng hóa, dịch vụ mà người tiêu dùng đã mua, sử dụng;
+ Lựa chọn hàng hóa, dịch vụ, tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ theo nhu cầu, điều kiện thực tế của mình; quyết định tham gia hoặc không tham gia giao dịch và các nội dung thỏa thuận khi tham gia giao dịch với tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ;
+ Góp ý kiến với tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ về giá cả, chất lượng hàng hóa, dịch vụ, phong cách phục vụ, phương thức giao dịch và nội dung khác liên quan đến giao dịch giữa người tiêu dùng và tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ;
+ Tham gia xây dựng và thực thi chính sách, pháp luật về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng;
+ Yêu cầu bồi thường thiệt hại khi hàng hóa, dịch vụ không đúng tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật, chất lượng, số lượng, tính năng, công dụng, giá cả hoặc nội dung khác mà tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ đã công bố, niêm yết, quảng cáo hoặc cam kết;
+ Khiếu nại, tố cáo, khởi kiện hoặc đề nghị tổ chức xã hội khởi kiện để bảo vệ quyền lợi của mình theo quy định của pháp luật;
+ Được tư vấn, hỗ trợ, hướng dẫn kiến thức về tiêu dùng hàng hóa, dịch vụ Như vậy, so với quy định của Liên Hiệp Quốc, quyền của người tiêu dùng trong Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng của nước ta đã bao gồm sáu quyền: Quyền được an toàn, quyền được thông tin, quyền được lựa chọn, quyền được lắng nghe, quyền được khiếu nại và bồi thường, quyền được đào tạo về tiêu dùng Còn hai quyền chưa được quy định cụ thể là: Quyền được thõa mãn nhu cầu cơ bản; quyền được có môi trường sống lành mạnh và bền vững Tuy hai quyền này không quy định trong luật, nhưng những quyền này hiện đã được quy định trong Hiến pháp và nhiều văn
Trang 16bản pháp luật khác nên không cần thiết phải nhắc lại trong Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, chỉ quy định riêng cho nội dung bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng
1.3.1.2 Nghĩa vụ của người tiêu dùng
Song song với việc hưởng quyền lợi của mình, người tiêu dùng cũng phải thực hiện một số nghĩa vụ nhất định để đảm bảo cho chính quyền lợi của mình và của người tiêu dùng khác Điều 9 của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng 2010 quy định người tiêu dùng có hai nhóm nghĩa vụ cơ bản:
+ Kiểm tra hàng hóa trước khi nhận; lựa chọn tiêu dùng hàng hóa, dịch vụ có nguồn gốc, xuất xứ rõ ràng, không làm tổn hại đến môi trường, trái với thuần phong
mỹ tục và đạo đức xã hội, không gây nguy hại đến tính mạng, sức khỏe của mình và của người khác; thực hiện chính xác, đầy đủ hướng dẫn sử dụng hàng hóa, dịch vụ
+ Thông tin cho cơ quan nhà nước, tổ chức, cá nhân có liên quan khi phát hiện hàng hóa, dịch vụ lưu hành trên thị trường không bảo đảm an toàn, gây thiệt hại hoặc
đe dọa gây thiệt hại đến tính mạng, sức khỏe, tài sản của người tiêu dùng; hành vi của
tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ xâm phạm đến quyền, lợi ích hợp pháp của người tiêu dùng
Ngoài ra, người tiêu dùng cũng cần trung thực, khách quan trong việc nhìn nhận hàng hóa, dịch vụ; tôn trọng người bán, lịch sự trong giao tiếp
Không chỉ quy định về quyền và các biện pháp bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng, một trong những điểm mới nổi bật mà Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng đưa ra là quy định cụ thể về nghĩa vụ của người tiêu dùng Theo đó, người tiêu dùng có nghĩa vụ đảm bảo và tạo điều kiện cho công tác bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng được thực hiện một cách hiệu quả
Đặc biệt so với Pháp lệnh Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng 1999, Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng khẳng định nghĩa vụ của người tiêu dùng trong việc thông tin cho cơ quan nhà nước, tổ chức, cá nhân có liên quan khi phát hiện hàng hóa, dịch
vụ lưu hành trên thị trường không bảo đảm an toàn, gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại đến tính mạng, sức khoẻ, tài sản của người tiêu dùng; hành vi của tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ xâm phạm đến quyền, lợi ích hợp pháp của người tiêu dùng
1.3.1.3 Trách nhiệm của tổ chức, cá nhân sản xuất, cung cấp hàng hóa, dịch vụ
Trách nhiệm của tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ đối với người tiêu dùng: tổ chức, cá nhân kinh doanh phải thực hiện đầy đủ nghĩa vụ bảo hành đối với hàng hóa do mình cung cấp, trong thời gian bảo hành phải cung cấp cho người tiêu dùng hàng hóa tương tự để sử dụng tạm thời hoặc có hình thức giải quyết khác
Trang 17được người tiêu dùng chấp nhận, phải chịu chi phí về sửa chữa và vận chuyển hàng hóa, linh kiện được bảo hành Hàng hóa có khuyết tật, tổ chức, cá nhân kinh doanh phải thông báo công khai trên các phương tiện thông tin đại chúng, tiến hành thu hồi
và báo kết quả với cơ quan quản lý nhà nước về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng 7
Người tiêu dùng có nhiều quyền lợi hơn, đồng nghĩa với việc các doanh nghiệp cung cấp hàng hóa và dịch vụ có thêm nhiều trách nhiệm, ràng buộc về chất
1.3.2 Nguyên tắc bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng 9
Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng là trách nhiệm chung của Nhà nước và toàn
xã hội; quyền lợi của người tiêu dùng được tôn trọng và bảo vệ theo quy định của pháp luật; bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng phải được thực hiện kịp thời, công bằng, minh bạch, đúng pháp luật; hoạt động bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng không được xâm phạm đến lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ và tổ chức, cá nhân khác
1.4 Khái quát chung về sự phát triển của pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng ở Việt Nam
Trước đây, trong thời kỳ kinh tế kế hoạch hóa tập trung bao cấp, mọi hàng hóa, dịch vụ đều do các doanh nghiệp nhà nước hoặc thành phần kinh tế tập thể (hợp tác xã) sản xuất, kinh doanh và phải tuân thủ chặt chẽ các chỉ tiêu chất lượng do Nhà nước quy định Người tiêu dùng được cấp phát, mua sản phẩm theo định mức quy định (thông qua cơ chế tem phiếu), do vậy người tiêu dùng không phải lo lắng về chất lượng của sản phẩm hàng hóa, dịch vụ Chính vì thế, trong thời kỳ này mặc dù nước
ta chưa có văn bản quy phạm pháp luật nào quy định trực tiếp về bảo vệ người tiêu dùng nhưng quyền và lợi ích của người tiêu dùng về cơ bản vẫn được bảo đảm
Vào những năm 90 của thế kỷ XX, khi Việt Nam bắt đầu chuyển từ nền kinh
tế kế hoạch hóa tập trung sang cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, chính sách phát triển kinh tế hàng hóa nhiều thành phần được áp dụng đã khuyến khích nhiều thành phần kinh tế tự chủ trong sản xuất kinh doanh do đó người tiêu dùng có điều kiện tốt hơn trong việc lựa chọn và sử dụng hàng hóa, dịch vụ Tuy nhiên, bên cạnh những mặc tích cực, nền kinh tế thị trường đã nảy sinh không ít những hành vi
vi phạm nghiêm trọng quyền, lợi ích chính đáng của người tiêu dùng, gây bất ổn cho nền kinh tế và xã hội Chính nhận thức từ điều đó, Nhà nước ta đã quan tâm, chú
Trang 18trọng công tác bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng hơn 10
Đầu tiên, các quyền này của người tiêu dùng đã được đề cập Điều 28 Hiến pháp năm 1992, sửa đổi bổ sung năm
2001: “Mọi hoạt động sản xuất, kinh doanh bất hợp pháp, mọi hành vi phá hoại nền
kinh tế quốc dân, làm thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tập thể và của công dân đều bị xử lý nghiên minh theo pháp luật Nhà nước có chính sách bảo hộ quyền lợi của người sản xuất và người tiêu dùng” Tuy nhiên,
chúng ta vẫn thiếu một văn bản quy phạm pháp luật hoàn chỉnh để điều chỉnh về vấn
đề bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng Chính vì lẽ đó, Ngày 27/4/1999 Ủy ban thường
vụ Quốc hội đã thông qua Pháp lệnh bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng và có hiệu lực 01/10/1999, đánh dấu bước phát triển mới trong công tác bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, trong đó quy định các quyền cơ bản của người tiêu dùng cũng như trách nhiệm của các nhà sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ Tiếp đó, ngày 02/10/2001, Chính phủ ban hành Nghị định số 69/2001/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành Pháp lệnh bảo
vệ quyền lợi người tiêu dùng, theo đó, Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi trường (nay
là Bộ Khoa học và Công nghệ) chịu trách nhiệm trước Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng Từ năm 2004, tại Nghị định số 29/2004/NĐ-CP ngày 16/01/2004 quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ thương mại, Chính phủ đã giao cho Bộ Thương mại thực hiện chức năng quản lý nhà nước về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng Tháng 01 năm
2006, Chính phủ ban hành Nghị định số 06/2006/NĐ-CP quy định chức năng, nhiệm
vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Cục Quản lý cạnh tranh thực hiện chức năng giúp Bộ trưởng Bộ Thương mại (nay Bộ Công thương) thực hiện quản lý nhà nước về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng Đến năm 2008, Nghị định số 55/2008/NĐ-CP ngày 24/4/2008 được Chính phủ ban hành thay thế cho Nghị định 69/2001/NĐ-CP trong
đó quy định Bộ Công Thương chịu trách nhiệm trước Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong phạm vi cả nước và cục Quản lý cạnh tranh là cơ quan giúp Bộ trưởng Bộ Công thương thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước trong lĩnh vực này11
Tuy nhiên, thực trạng công tác bảo vệ người tiêu dùng cho thấy mặc dù đã có Pháp lệnh Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng và nhiều văn bản quy định liên quan nhưng chưa thực thi có hiệu quả, chưa có chế tài đủ mạnh để ngăn chặn, xử phạt, bồi thường thỏa đáng cho người tiêu dùng Đặc biệt, chưa có cơ chế xử lý riêng đối với các khiếu nại của người tiêu dùng do vậy chưa khuyến khích, tạo điều kiện để người
Trang 19tiêu dùng tự bảo vệ mình hoặc khiếu nại các hành vi vi phạm quyền lợi người tiêu dùng
Nhận thức rõ điều đó, thực hiện Nghị quyết số 27/2008/NQ-QH12 ngày 15 tháng 11 năm 2008 của Quốc hội về Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm 2009; Quyết định số 25/QĐ-TTg ngày 07 tháng 01 năm 2008 của Thủ tướng Chính phủ về việc phân công Cơ quan chủ trì soạn thảo dự án luật, pháp lệnh của Chính phủ năm 2009; Bộ Công Thương đã chủ trì, giao Cục Quản lý cạnh tranh làm đầu mối tiến hành soạn thảo Luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng Luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng (Luật số 59/2010/QH12) được Quốc hội khóa XII, kỳ họp thứ 8, thông qua ngày 17 tháng 11 năm 2010 và sẽ có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 7 năm 2011 Sự ra đời của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng đáp ứng yêu cầu cấp thiết hiện nay để đảm bảo quyền lợi của người tiêu dùng Việt Nam được tôn trọng và bảo vệ, đồng thời góp phần quan trọng trong việc tạo môi trường kinh doanh lành mạnh và sự phát triển bền vững của đất nước 12
Để cụ thể hóa Luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, ngày 27 tháng 10 năm
2011 Chính phủ ban hành Nghị định số 99/2011/NĐ-CP Quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng Nhằm củng cố vững chắc hơn nữa trong công tác bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, Chính phủ ban hành Nghị định số 19/2012/NĐ-CP ngày 16 tháng 3 năm 2012 quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng Theo đó, mức phạt tiền tối đa đối với mọi hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực người tiêu dùng là
70 triệu đồng Để bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong các dịch vụ, hàng hóa thiết yếu nên ngày 13 tháng 01 năm 2012 Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 02/2012/QĐ-TTg về việc ban hành Danh mục hàng hóa, dịch vụ thiết yếu phải đăng
ký hợp đồng theo mẫu, điều kiện giao dịch chung Theo quy định này, các loại hàng hóa, dịch vụ phải đăng ký 13
là những mặc hàng thiết yếu, rất cần thiết cho điều kiện sinh hoạt của người dân nên cần có sự can thiệp, quản lý của nhà nước để hạn chế tình trạng xâm hại đến lợi ích người tiêu dùng
Bên cạnh đó, pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng còn được quy định trong các văn bản điều chỉnh gián tiếp như: Bộ luật Hình sự năm 1999 sửa đổi bổ sung năm 2009; Bộ luật Dân sự năm 2005; Luật Doanh nghiệp năm 2005; Luật Đầu
Trang 20tư năm 2005; Luật Thương mại năm 2005; Luật Cạnh tranh năm 2004; Pháp lệnh Quảng cáo năm 2003; Pháp lệnh Giá năm 2002; Luật Tiêu chuẩn, quy chuẩn kĩ thuật năm 2006; Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hóa năm 2007; Luật Đo lường 2011; Các quy định về nhãn hàng hóa 14
Như vậy, từ sau Hiến pháp 1992 được ban hành nhà nước ta đã có hàng loạt những văn bản pháp luật quy định về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng nhưng cho đến nay vấn đề xâm phạm quyền lợi người tiêu dùng vẫn còn đang tiếp diễn, nạn hàng giả, hàng kém chất lượng vẫn còn xuất hiện trên thị trường, người tiêu dùng chưa hiểu rõ pháp luật cũng như về quyền và nghĩa vụ của mình, ý thức trách nhiệm của doanh nghiệp chưa cao những vấn đề đó được phản ánh rõ trong thực trạng về pháp luật bảo vệ người tiêu dùng hiện nay
14 Xem: Nghị định của Chính phủ số 89/2006/NĐ-CP ngày 30 tháng 9 năm 2006 về nhãn hàng hóa và Thông tư
số 09/2007/TT-BKHCN ngày 06/4/2007 hướng dẫn thi hành một số điều của Nghị định số 89/2006/NĐ-CP ( Thông tư này được bổ sung bởi Thông tư số 14/2007/TT-BKHCN ngày 25/7/2007)
Trang 21CHƯƠNG 2 NHỮNG Q Y ỊNH CỦA PHÁP L ẬT VỀ VẤN Ề BẢO VỆ Q YỀN LỢ
NGƯ T Ê DÙNG TẠ V ỆT NA 2.1 Cơ sở pháp lý về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng
2.1.1 Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2001 theo Nghị quyết số 51/2001-QH10 ngày 25 tháng 12 năm 2001)
Hiến pháp là đạo luật cơ bản trong hệ thống pháp luật Trong Hiến pháp 1992, cùng với các quy định cơ bản về chế độ chính trị, kinh tế tổ chức bộ máy của Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, đã có một điều quy định về chính sách bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng tại điều 28 Hiến pháp năm 1992 sửa đổi, bổ sung
năm 2001 nêu rõ: “Mọi hoạt động sản xuất, kinh doanh bất hợp pháp, mọi hành vi
phá hoại nền kinh tế quốc dân, làm thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tập thể và của công dân đều bị xử lý nghiêm minh theo pháp luật Nhà nước có chính sách bảo hộ quyền lợi của người sản xuất và người tiêu dùng”
Quy định này là cơ sở quan trọng cho các quy định điều tiết hoạt động kinh doanh
cũng như bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong các văn bản pháp luật dưới Hiến
pháp
Việc ghi nhận chính sách bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong một văn bản
có hiệu lực cao nhất là Hiến pháp thể hiện được sự đánh giá về tầm quan trọng của công tác bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng và là cơ sở cho việc xây dựng các cơ chế pháp lý cụ thể nhằm bảo vệ người tiêu dùng một cách tích cực và hiệu quả trong nền kinh tế hiện nay
2.1.2 Bộ luật Dân sự năm 2005
Trong hệ thống pháp luật, Luật Dân sự là đạo luật chung nhất điều chỉnh các quan hệ, các giao dịch trong đời sống dân sự, trong đó có mối quan hệ giữa người tiêu dùng với các nhà sản xuất, cung ứng hàng hoá dịch vụ
Bộ luật dân sự năm 2005 đã có nhiều quy định quan trọng liên quan tới lĩnh vực luật hợp đồng và lĩnh vực bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng để áp dụng cho các giao dịch giữa tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh với người tiêu dùng Cụ thể như:
+ Trách nhiệm hợp đồng: Vấn đề hợp đồng mẫu 15; Về nghĩa vụ cung cấp
; Về trách nhiệm đảm bảo chất lượng của vật mua
Trang 22+ Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng áp dụng cho các vụ việc người tiêu dùng bị thiệt hại từ quá trình sử dụng hàng hoá có thể được áp dụng theo quy định của Bộ luật Dân sự năm 2005 tại Điều 604, Điều 605, Điều 606 và Điều 608- Điều 612 Đặc biệt tại Điều 630 quy định rõ vấn đề bồi thường thiệt hại do vi
phạm quyền lợi của người tiêu dùng như sau: "Cá nhân, pháp nhân, chủ thể khác sản
xuất, kinh doanh không bảo đảm chất lượng hàng hoá mà gây thiệt hại cho người tiêu dùng thì phải bồi thường"
Như vậy, thông qua việc điều chỉnh mối quan hệ giữa bên mua và bên bán, các quy định trong Bộ luật Dân sự năm 2005 đã xác định được những trách nhiệm cơ bản của người bán hàng hoá trong việc đảm bảo lợi ích của người tiêu dùng bao gồm trách nhiệm hướng dẫn và cung cấp thông tin, trách nhiệm đảm bảo đảm bảo chất lượng hàng hoá, trách nhiệm sản phẩm (chịu trách nhiệm về các khuyết tật chưa được phát hiện ngay khi mua-bán; chịu trách nhiệm bảo hành), chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại Các quy định đều theo hướng có lợi cho người tiêu dùng, đặc biệt, trách nhiệm bảo hành được quy định tương đối chi tiết Tuy nhiên, trong khuôn khổ một đạo luật chung, các quy định này chưa hoàn toàn phù hợp và không thể áp dụng với mọi tình huống, dẫn đến tính khả thi chưa cao (ví dụ như không phải vật mua bán nào cũng là đối tượng cần được bảo hành) Hơn nữa, các quy định trong Bộ luật Dân
sự được xây dựng trên nguyên tắc tự do thoả thuận và các quy định về trách nhiệm trên chỉ áp dụng khi các bên không có thoả thuận, do vậy các quy định này về cơ bản chưa thể hạn chế được việc phía người bán (là bên có thế mạnh hơn) đưa ra các điều kiện áp đặt đối với người tiêu dùng Ngoài ra, trách nhiệm của các chủ thể trong khâu liên thông sản xuất, phân phối, cung ứng đến người tiêu dùng chưa được làm rõ 18
2.1.3 Bộ luật Hình sự năm 1999 sửa đổi, bổ sung năm 2009
Bộ luật Hình sự hiện hành quy định một hệ thống biện pháp chế tài hình sự (phạt tiền, phạt cải tạo không giam giữ, phạt tù v.v.) áp dụng cho các cá nhân có hành
vi vi phạm quyền lợi người tiêu dùng, tập trung chủ yếu vào một số tội sau: Tội sản xuất, buôn bán hàng giả 19
; tội sản xuất, buôn bán hàng giả là lương thực, thực phẩm, thuốc chữa bệnh, thuốc phòng bệnh (Điều 157); tội sản xuất, buôn bán hàng giả là thức ăn dùng để chăn nuôi, phân bón, thuốc thú y, thuốc bảo vệ thực vật, giống cây trồng, vật nuôi (Điều 158); tội làm tem giả, vé giả, tội buôn bán tem giả, vé giả (Điều
17 Điều 444- Bộ luât dân sự 2005
18 Lê Hồng Hạnh, Dương Thị Thanh Mai, Đinh Dũng Sỹ, Báo cáo Nâng cao chất lượng pháp luật bảo vệ người tiêu Việt Nam, http:// www.mutrap.org.vn/thu_vien/MUTRAPIII , [truy cập ngày 10-9-2012]
19 Điều 156 Bộ luật Hình sự 1999, sửa đổi bổ sung 2009, mức hình phạt cao nhất 15 năm tù, người vi phạm có thể bị phạt tiền từ 5 đến 50 triệu đồng
Trang 23164) Như chúng ta thấy, các chế tài trong Bộ luật Hình sự chủ yếu tập trung vào các tội sản xuất, mua bán hàng giả nhưng đến nay khái niệm hàng giả trong Bộ luật Hình
sự chưa được giải thích rõ Thay vào đó, Nghị định số 06/2008/NĐ-CP ngày 16/01/2008 - quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động thương mại - được dùng làm văn bản giải thích khái niệm hàng giả trong Bộ luật hình sự Theo văn bản này thì có tới 4 nhóm hàng bị coi là hàng giả bao gồm: giả chất lượng và công dụng; giả mạo nhãn hàng hoá, bao bì hàng hoá; các loại đề can, nhãn hàng hoá, bao bì hàng hoá, tem chất lượng, tem chống giả, phiếu bảo hành, hàng hoá có nội dung giả mạo tên, địa chỉ thương nhân, nguồn gốc hàng hoá, nơi sản xuất, đóng gói, lắp ráp hàng hoá 20 Bên cạnh đó, Bộ luật còn quy định: tội quảng cáo gian dối; tội lừa dối khách hàng, người mua bán, kinh doanh hàng hóa, dich vụ có những hành vi cân, đong, đo, đếm sai; đánh tráo loại hàng; dùng mọi thủ đoạn gian dối làm cho khách hàng phải thanh toán tiền lớn hơn giá trị thực của hàng hóa, với mức hình phạt cao nhất là 7 năm tù, có thể phạt tiền đến 30 triệu đồng
Việc đặt ra biện pháp chế tài hình sự áp dụng đối với các hành vi thương mại không công bằng gây thiệt hại hoặc đe doạ gây thiệt hại cho lợi ích của người tiêu dùng như trên cho thấy thái độ nghiêm khắc đối với các hành vi xâm phạm lợi ích người tiêu dùng Các quy định này ngoài xử lý và răn đe những cá nhân có hành vi vi phạm còn góp phần tích cực trong việc bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, thúc đẩy các nhà sản xuất, kinh doanh thực hiện đúng, nghiêm chỉnh theo quy định của pháp luật Tuy nhiên, những quy định này ít có tác dụng trong việc giúp khôi phục lại quyền lợi của người tiêu dùng đã bị xâm phạm
2.1.4 Luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2010
Nhận thức được những yếu kém trong Pháp lệnh Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng 1999, ngày 17 tháng 11 năm 2010 tại kỳ họp thứ 8 Quốc hội khóa XII đã thông qua Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2010 có hiệu lực ngày 01 tháng 7 năm 2011 Luật có những quy định mới, tiến bộ hơn so với Pháp lệnh chẳng hạn như: Quy định về Bảo vệ thông tin của người tiêu dùng 21 Đây là quy định hoàn toàn mới của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng so với Pháp lệnh Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trước đây Xuất phát từ yêu cầu chính đáng cần được bảo vệ thông tin trong khi tham gia giao dịch, sử dụng hàng hóa của người tiêu dùng, Luật
Trang 24Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng đã đưa nguyên tắc bảo vệ thông tin của người tiêu dùng thành một trong những nguyên tắc cơ bản của luật
Quy định cụ thể về nghĩa vụ của người tiêu dùng 22 Không chỉ quy định về quyền và các biện pháp bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng, một trong những điểm mới nổi bật mà Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng đưa ra là quy định cụ thể về nghĩa vụ của người tiêu dùng Theo đó, người tiêu dùng có nghĩa vụ đảm bảo và tạo điều kiện cho công tác bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng được thực hiện một cách hiệu quả Cụ thể, người tiêu dùng có nghĩa vụ kiểm tra hàng hoá trước khi nhận; lựa chọn tiêu dùng hàng hóa, dịch vụ có nguồn gốc, xuất xứ rõ ràng, không làm tổn hại đến môi trường, trái với thuần phong mỹ tục và đạo đức xã hội, không gây nguy hại đến tính mạng, sức khỏe của mình và của người khác; thực hiện chính xác, đầy đủ hướng dẫn sử dụng hàng hóa, dịch vụ
Đặc biệt so với Pháp lệnh Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng khẳng định nghĩa vụ của người tiêu dùng trong việc thông tin cho
cơ quan nhà nước, tổ chức, cá nhân có liên quan khi phát hiện hàng hóa, dịch vụ lưu hành trên thị trường không bảo đảm an toàn, gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại đến tính mạng, sức khoẻ, tài sản của người tiêu dùng; hành vi của tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ xâm phạm đến quyền, lợi ích hợp pháp của người tiêu dùng
Các hành vi bị cấm trong lĩnh vực Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng 23 Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng đã đưa ra các quy định chi tiết và đầy đủ về các hành vi bị cấm như: cấm tổ chức, cá nhân kinh doanh thực hiện những hành vi như lừa dối, gây nhầm lẫn cho người tiêu dùng thông qua hoạt động quảng cáo hoặc cung cấp không đầy đủ, sai lệch, không chính xác hoặc che dấu thông tin về hàng hóa, dịch
vụ, về uy tín, khả năng kinh doanh; cấm việc tiếp xúc, liên hệ trái ý muốn của người tiêu dùng từ 2 lần trở lên… Việc quy định cụ thể này sẽ tạo cơ sở pháp lý cho người tiêu dùng được bảo vệ đầy đủ hơn, đồng thời ràng buộc chặt chẽ hơn các trách nhiệm liên quan đến bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng của các tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ
Tóm lại, Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng ra đời tạo nên bước ngoặc quan trọng trong công tác bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, đảm bảo quyền và nghĩa vụ của các cơ sở sản xuất, kinh doanh cũng như đối với người tiêu dùng Đồng thời, củng cố vững chắc hơn nữa cơ sở pháp lý về bảo quyền lợi người tiêu dùng, góp phần
Trang 25tích cực trong công tác quản lý nhà nước, tạo nên nền kinh tế phát triển tiên tiến, bền vững
2.1.5 Nghị định điều chỉnh trực tiếp về vấn đề bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng
+ Nghị định số: 99/2011/NĐ-CP ngày 27 tháng 10 năm 2011 quy định chi tiết
và hướng dẫn thi hành một số điều của luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng
Nghị định này quy định về bảo vệ người tiêu dùng trong giao dịch với cá nhân hoạt động thương mại độc lập, thường xuyên không phải đăng ký kinh doanh; hợp đồng giao kết với người tiêu dùng và điều kiện giao dịch chung; giải quyết yêu cầu bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng; tổ chức xã hội tham gia hoạt động bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng; tổ chức hòa giải các tranh chấp giữa người tiêu dùng và tổ chức, cá nhân kinh doanh và quản lý nhà nước về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng
Nghị định cũng quy định vấn đề công bố công khai danh sách tổ chức, cá nhân
trên phương tiện thông tin đại chúng, niêm yết tại trụ sở và đăng tải trên trang thông tin điện tử của cơ quan bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng
Như vậy, cùng với Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, Nghị định số 99/2011/NĐ-CP hướng dẫn chi tiết, cụ thể góp phần củng cố vững hành lang pháp lý trong vấn đề bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng hiện nay
+ Nghị định Số: 19/2012/NĐ-CP ngày 16 tháng 3 năm 2012 của Chính phủ về
việc xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng
Theo Nghị định 19/2012/NĐ-CP quy định các hình thức xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng 25 bao gồm:
+ Phạt cảnh cáo;
+ Phạt tiền
Ngoài ra, có thể áp dụng một số hình thức phạt bổ sung:
+ Tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề;
+ Tịch thu tang vật, phương tiện được sử dụng để vi phạm hành chính
Bên cạnh đó, Nghị định còn quy định chi tiết những hành vi vi phạm trong lĩnh vực bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, với mức phạt tiền cao nhất lên đến 70.000.000 đồng chủ yếu trong các lĩnh vực về vi phạm hợp đồng theo mẫu, điều kiện giao dịch
Trang 26chung 26; vi phạm về trách nhiệm bảo hành hàng hóa (khi hàng hóa trên 2 tỷ) 27; kinh doanh hàng hóa không đảm bảo chất lượng Ngoài ra, Nghị định cũng quy định rõ thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính như: Thẩm quyền của Cục trưởng Cục Quản
lý cạnh tranh; Thẩm quyền của Chủ tịch Ủy ban nhân dân các cấp; Thẩm quyền xử phạt của lực lượng Quản lý thị trường
2.1.6 Một số văn bản luật có liên quan
Pháp lệnh giá năm 2002
Điều quan trọng nhất của các quy định về giá trong lĩnh vực bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng thể hiện ở các biện pháp can thiệp hành chính nhằm đảm bảo bình ổn giá đối với các hàng hoá, dịch vụ thiết yếu, từ đó bảo đảm quyền của người tiêu dùng được thoả mãn các nhu cầu cơ bản, tránh việc lợi dụng quyền cung cấp các hàng hoá, dịch vụ thiết yếu để tăng giá, làm hạn chế khả năng tiếp cận của người tiêu dùng Nhà nước thực hiện các chính sách, biện pháp cần thiết tác động vào quan hệ cung cầu để bình ổn giá thị trường đối với những hàng hoá, dịch vụ quan trọng, thiết yếu, kiểm soát lạm phát, ổn định tình hình kinh tế - xã hội, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của
tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh, của người tiêu dùng và lợi ích của Nhà nước, góp phần khuyến khích đầu tư, phát triển 28
Luật Cạnh tranh năm 2004
Tại Điều 4 nêu rõ “Việc cạnh tranh phải được thực hiện theo nguyên tắc trung
thực, không xâm phạm đến lợi ích của Nhà nước, lợi ích công cộng, quyền và lợi ích hợp pháp của doanh nghiệp, của người tiêu dùng”, quy định cấm đối với các hành vi
26 Xem Điều 11, Điều 14-Nghị định 19/2012/NĐ-CP ngày 16 tháng 3 năm 2012
27 Điều 18-Nghị định 19/2012/NĐ-CP ngày 16 tháng 3 năm 2012
Trang 27 Luật Thương mại 2005
Quy định tại Điều 14 về nguyên tắc bảo vệ lợi ích chính đáng của người tiêu
dùng: “Thương nhân thực hiện hoạt động thương mại có nghĩa vụ thông tin đầy đủ,
trung thực cho người tiêu dùng về hàng hoá và dịch vụ mà mình kinh doanh và phải chịu trách nhiệm về tính chính xác của các thông tin đó và thương nhân thực hiện hoạt động thương mại phải chịu trách nhiệm về chất lượng, tính hợp pháp của hàng hoá, dịch vụ mà mình kinh doanh”
Cùng với việc ghi nhận nguyên tắc nêu trên, trong phạm vi điều chỉnh của Luật Thương mại có các quy định về các hành vi thương mại có tác động trực tiếp tới người tiêu dùng, bao gồm các quy định liên quan đến khuyến mãi, quảng cáo thương mại, quy định về việc giao nhận hàng hoá, cung ứng dịch vụ, quy định về giá cả, quy định về điều kiện kinh doanh thương mại, trách nhiệm, bảo hành
Luật Tiêu chuẩn và quy chuẩn kỹ thuật năm 2006
Tiêu chuẩn là quy định về đặc tính kỹ thuật và yêu cầu quản lý dùng làm chuẩn
để phân loại, đánh giá sản phẩm, hàng hoá, dịch vụ nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả của các đối tượng này
Quy chuẩn kỹ thuật là quy định về mức giới hạn của đặc tính kỹ thuật và yêu cầu quản lý mà sản phẩm, hàng hoá, dịch vụ trong hoạt động kinh tế - xã hội phải tuân thủ để bảo đảm an toàn, vệ sinh, sức khoẻ con người; bảo vệ lợi ích và an ninh quốc gia, quyền lợi của người tiêu dùng và các yêu cầu thiết yếu khác
Các quy định về tiêu chuẩn và quy chuẩn có vai trò quan trọng trong việc đảm bảo các dịch vụ, hàng hoá cung cấp cho người tiêu dùng đạt được những yêu cầu tối thiểu để không gây hại cho sức khoẻ của người tiêu dùng, đồng thời các quy định về tiêu chuẩn có ý nghĩa quan trọng để thông tin cho người tiêu dùng về chất lượng của hàng hoá, dịch vụ mà họ sử dụng, từ đó có thể lựa chọn phù hợp với nhu cầu của mình Việc áp dụng các quy định về tiêu chuẩn, quy chuẩn góp phần ngăn ngừa hành
vi lừa dối người tiêu dùng về chất lượng, tính năng của sản phẩm hàng hoá, dịch vụ thông qua việc các hàng hoá đó để lưu hành trên thị trường đã phải đáp ứng các yêu cầu về hợp quy và khi đã được công bố hợp chuẩn thì cũng phải đáp ứng các yêu cầu
về hợp chuẩn 31
31 Lê Hồng Hạnh, Dương Thị Thanh Mai, Đinh Dũng Sỹ, Báo cáo Nâng cao chất lượng pháp luật bảo vệ người tiêu Việt Nam, http:// www.mutrap.org.vn/thu_vien/MUTRAPIII , [ truy cập ngày 10-9-2012]
Trang 28 Luật chất lượng sản phẩm, hàng hoá năm 2007
Chất lượng sản phẩm, hàng hóa là mức độ của các đặc tính của sản phẩm, hàng hóa đáp ứng yêu cầu trong tiêu chuẩn công bố áp dụng, quy chuẩn kỹ thuật tương ứng
Việc ban hành Luật chất lượng sản phẩm, hàng hoá là một bước tiến quan trọng trong việc hoàn thiện pháp luật về chất lượng hàng hoá nói riêng và pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng nói chung
do vậy, việc đặt ra các yêu cầu riêng biệt về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong lĩnh vực thực phẩm là hết sức quan trọng Các quy định về vệ sinh an toàn thực phẩm bảo vệ lợi ích người tiêu dùng thông qua các quy định nghiêm ngặt về điều kiện sản xuất, chế biến, bảo quản và trách nhiệm thông tin đến người tiêu dùng về thực phẩm được cung cấp
Luật đo lường 2011
Các quy định nêu trên có tác dụng ngăn ngừa hành vi gian dối trong đo lường- một trong những hành vi thương mại không công bằng gây thiệt hại cho lợi ích người tiêu dùng đang rất phổ biến hiện nay
2.2 Pháp luật về chế độ trách nhiệm của tổ chức, cá nhân sản xuất và cung cấp hàng hóa, dịch vụ
2.2.1 Trách nhiệm của tổ chức, cá nhân kinh doanh, hàng hóa, dịch vụ trong việc cung cấp thông tin về hàng hóa, dịch vụ cho người tiêu dùng
2.2.1.1 Quy định đối với nhãn mác hàng hóa
Ghi nhãn hàng hoá là thể hiện nội dung cơ bản, cần thiết về hàng hoá lên nhãn
để người tiêu dùng nhận biết, làm căn cứ lựa chọn, tiêu thụ và sử dụng; để nhà sản xuất, kinh doanh quảng bá cho hàng hoá của mình và để các cơ quan chức năng thực hiện việc kiểm tra, kiểm soát 32 Tổ chức, cá nhân sản xuất và cung cấp hàng hóa,
Trang 29Hàng hóa phải ghi nhãn là hàng hoá lưu thông trong nước, hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu phải ghi nhãn theo quy định của Nghị định số 89/2006/NĐ-CP, trừ những
+ Hàng hoá là thực phẩm tươi, sống, thực phẩm chế biến không có bao bì và bán trực tiếp cho người tiêu dùng;
+ Hàng hoá là nhiên liệu, nguyên liệu (nông sản, thuỷ sản, khoáng sản), vật liệu xây dựng (gạch, ngói, vôi, cát, đá, sỏi, xi măng, đất màu, vữa, hỗn hợp bê tông thương phẩm), phế liệu (trong sản xuất, kinh doanh) không có bao bì và bán trực tiếp theo thoả thuận với người tiêu dùng
Trường hợp tổ chức, cá nhân nước ngoài nhập khẩu hàng hoá của Việt Nam yêu cầu ghi nhãn hàng hoá theo hợp đồng mua bán hàng hoá và chịu trách nhiệm về yêu cầu của mình thì tổ chức, cá nhân xuất khẩu hàng hoá được thực hiện theo hợp đồng với điều kiện những yêu cầu này không làm sai lệch bản chất của hàng hoá, không vi phạm pháp luật Việt Nam và pháp luật của nước nhập khẩu
Hàng hoá thuộc lĩnh vực an ninh, quốc phòng; hàng hoá là chất phóng xạ, hàng hoá sử dụng trong trường hợp khẩn cấp nhằm khắc phục thiên tai, dịch bệnh; phương tiện giao thông đường sắt, đường thuỷ, đường không; hàng hoá do các cơ quan nhà nước tịch thu đem bán đấu giá, thanh lý có quy định riêng
Nội dung ghi nhãn hàng hoá kể cả nhãn phụ phải bảo đảm trung thực, rõ ràng, chính xác, phản ánh đúng bản chất của hàng hoá 35
+ Hàng hoá được sản xuất, lắp ráp, chế biến, đóng gói tại Việt Nam để lưu thông trong nước thì tổ chức, cá nhân sản xuất hàng hoá phải chịu trách nhiệm về việc ghi nhãn
+ Hàng hoá được sản xuất, chế biến tại Việt Nam để xuất khẩu thì tổ chức, cá nhân xuất khẩu hàng hoá phải chịu trách nhiệm về việc ghi nhãn
Trong trường hợp hàng hoá không xuất khẩu được mà đưa trở lại lưu thông trong nước thì tổ chức, cá nhân đưa hàng hoá ra lưu thông phải ghi nhãn theo quy định của Nghị định số 89/2006/NĐ-CP
+ Hàng hoá nhập khẩu vào Việt Nam mà nhãn gốc không phù hợp với quy định của Nghị định số 89/2006/NĐ-CP thì tổ chức, cá nhân nhập khẩu phải ghi nhãn phụ theo quy định tại khoản 3 Điều 9 của Nghị định này trước khi đưa ra lưu thông và phải giữ nguyên nhãn gốc
34 Điều 5 Nghị định 89/2006 ngày 30 tháng 9 năm 2006 về ghi nhãn hàng hóa
35 Điều 10 Nghị định 89/2006 ngày 30 tháng 9 năm 2006 về ghi nhãn hàng hóa
Trang 30Việc công bố đầy đủ, rõ ràng các thông tin cơ bản của sản phẩm hàng hóa dịch
vụ trên bao bì, nhãn mác là điều quan trọng trong việc đảm bảo quyền lợi người tiêu dùng, khẳng định tính minh bạch và giá trị sản phẩm của doanh nghiệp trên thị trường đồng thời góp phần hiệu quả cho việc quản lý nhà nước trong lĩnh vực bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong nền kinh tế thị trường hiện nay
2.2.1.2 Nghĩa vụ bảo hành sản phẩm
Khi người tiêu dùng lựa chọn một sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ thì họ đã tin tưởng sản phẩm, dịch vụ đó vì thế, để thu hút người tiêu dùng vào sản phẩm, dịch vụ của mình thì mỗi doanh nghiệp đều chú trọng công tác chăm sóc khách hàng, thỏa mãn được các yêu cầu của người tiêu dùng, tạo cho người tiêu dùng được hưởng các chế độ, dịch vụ tốt nhất, cũng như tạo uy tín cho thương hiệu của doanh nghiệp Do
đó, trách nhiệm bảo hành được đề cập đến như một sự đảm bảo về chất lượng của sản phẩm, dịch vụ của doanh nghiệp, nó không những là quyền mà còn là nghĩa vụ của mỗi doanh nghiệp nên đã được quy định trong nhiều văn bản pháp luật Trong Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng 2010 đã bổ sung, mở rộng một số trách nhiệm của doanh nghiệp về chế độ bảo hành so với Pháp Lệnh Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng
1999 để phù hợp với điều kiện kinh tế, xã hội Điều 22 quy định rõ 36: Hàng hóa, linh kiện, phụ kiện được bảo hành theo thỏa thuận của các bên hoặc bắt buộc bảo hành theo quy định của pháp luật Trường hợp hàng hóa, linh kiện, phụ kiện được bảo hành, tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa có trách nhiệm:
+ Thực hiện đầy đủ nghĩa vụ bảo hành hàng hóa, linh kiện, phụ kiện do mình cung cấp;
+ Cung cấp cho người tiêu dùng giấy tiếp nhận bảo hành, trong đó ghi rõ thời gian thực hiện bảo hành Thời gian thực hiện bảo hành không tính vào thời hạn bảo hành hàng hóa, linh kiện, phụ kiện Trường hợp tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa thay thế linh kiện, phụ kiện hoặc đổi hàng hóa mới thì thời hạn bảo hành linh kiện, phụ kiện hoặc hàng hóa đó được tính từ thời điểm thay thế linh kiện, phụ kiện hoặc đổi hàng hóa mới;
+ Cung cấp cho người tiêu dùng hàng hóa, linh kiện, phụ kiện tương tự để sử dụng tạm thời hoặc có hình thức giải quyết khác được người tiêu dùng chấp nhận trong thời gian thực hiện bảo hành;
+ Đổi hàng hóa, linh kiện, phụ kiện mới tương tự hoặc thu hồi hàng hóa, linh kiện, phụ kiện và trả lại tiền cho người tiêu dùng trong trường hợp hết thời gian thực hiện bảo hành mà không sửa chữa được hoặc không khắc phục được lỗi;
36 Xem Điều 22 Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2010
Trang 31+ Đổi hàng hóa, linh kiện, phụ kiện mới tương tự hoặc thu hồi hàng hóa và trả lại tiền cho người tiêu dùng trong trường hợp đã thực hiện bảo hành hàng hóa, linh kiện, phụ kiện từ ba lần trở lên trong thời hạn bảo hành mà vẫn không khắc phục được lỗi;
+ Chịu chi phí sửa chữa, vận chuyển hàng hóa, linh kiện, phụ kiện đến nơi bảo hành và từ nơi bảo hành đến nơi cư trú của người tiêu dùng;
+ Chịu trách nhiệm về việc bảo hành hàng hóa, linh kiện, phụ kiện cho người tiêu dùng cả trong trường hợp ủy quyền cho tổ chức, cá nhân khác thực hiện việc bảo hành
Những quy định trên là quy định hợp lý bởi vì việc tiêu dùng, sử dụng hàng hóa là nhu cầu thiết yếu hàng ngày nếu hàng hóa bị hư hỏng phải bảo hành thì trong thời gian bảo hành người tiêu dùng vẫn cần sử dụng những sản phẩm đó, việc quy định nghĩa vụ cung cấp cho hàng hoá tương tự để người tiêu dùng sử dụng tạm thời là việc cần thiết Bên cạnh đó, việc quy định chịu trách nhiệm bảo hành khi được ủy quyền của doanh nghiệp cũng là vấn đề cần thiết tránh sự đùng đẩy cho nhau trong việc bảo hành sản phẩm cho người tiêu dùng 37
Tại Bộ luật Dân sự năm 2005 thì bảo hành được xem là nghĩa vụ của nhà sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ đối với người tiêu dùng Trong thời hạn bảo hành nếu bên mua phát hiện được khuyết tật của vật mua bán thì có quyền yêu cầu bên bán sửa chữa không phải trả tiền, giảm giá, đổi vật có khuyết tật lấy vật khác hoặc trả lại vật và lấy tiền 38 Ngoài ra, luật còn quy định rõ 39:
+ Bên bán phải sửa chữa vật và đảm bảo vật có đủ các tiêu chuẩn chất lượng hoặc có đủ các đặc tính đã cam kết;
+ Bên bán chịu chi phí về sữa chữa và vận chuyển vật đến nơi sửa chữa và từ nơi sửa chữa đến nơi cư trú hoặc trụ sở của bên mua;
+ Bên mua có quyền yêu cầu bên bán hoàn thành việc sửa chữa trong thời hạn
do các bên thỏa thuận hoặc trong một thời gian hợp lý; nếu bên bán không thể sửa chữa được hoặc không thể hoàn thành việc sửa chữa trong thời hạn đó thì bên mua có quyền yêu cầu giảm giá, đổi vật có khuyết tật lấy vật khác hoặc trả lại vật và lấy tiền
Trang 32Ngoài việc yêu cầu thực hiện các biện pháp bảo hành, bên bán còn có thể chịu trách nhiệm bồi thương thiệt hại cho người tiêu dùng do các khuyết tật của vật gây ra trong thời hạn bảo hành 40
Tóm lại, trong giai đoạn này tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ phải thực hiện nghĩa vụ bảo hành, sữa chữa, đổi lại hàng hóa, trả lại tiền, nhận lại hàng hóa đã bán nếu người tiêu dùng yêu cầu họ phải thực hiện, các nhà sản xuất kinh doanh không được từ chối, thờ ơ với việc thực hiện nghĩa vụ của mình đối với người tiêu dùng Nhiều văn bản pháp luật đã được ban hành nhằm bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng nhưng để thực hiện tốt vấn đề này cần có ý thức của doanh nghiệp trong việc đảm bảo quyền lợi người tiêu dùng cũng như đảm bảo uy tín thương hiệu cho doanh nghiệp của mình
2.2.1.3 Nghĩa vụ bảo đảm sự trung thực về giá bán
Như ta đã biết trong các giao dịch mua bán hàng hóa, dịch vụ dù trong lĩnh vực thương mại hay dân sự đều được thực hiện theo nguyên tắc tự do, bình đẳng với nhau trong việc thỏa thuận và định đoạt Vì vậy, nên các cá nhân, tổ chức sản xuất kinh doanh cũng có các quyền tự do riêng của mình Cho nên, nhà nước tôn trọng quyền định giá và cạnh tranh về giá của các tổ chức sản xuất, kinh doanh nhưng tự do
đó phải đúng và phù hợp với pháp luật, các tổ chức, cá nhân sản xuất kinh doanh cần phải thực hiện nghĩa vụ niêm yết, thực hiện công khai về giá đối với các loại hàng hóa, dịch vụ mình sản xuất ra Việc niêm yết giá, công khai về giá giúp người tiêu dùng nắm được giá cả hàng hóa, dịch vụ Vì thế, Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng 2010 quy định tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ phải niêm yết
cạnh đó, Pháp lệnh giá năm 2002 cũng quy định nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh 42
: Lập phương án giá hàng hoá, dịch vụ thuộc danh mục Nhà nước định giá trình cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định và chấp hành đúng mức giá đó; cung cấp thông tin về giá, các quyết định giá hàng hoá, dịch vụ do tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh quyết định theo yêu cầu của cơ quan có thẩm quyền quản
lý nhà nước về giá; chấp hành các biện pháp của Nhà nước nhằm bình ổn giá thị trường quy định tại Pháp lệnh này; bồi thường thiệt hại do hành vi vi phạm pháp luật
về giá theo quy định của pháp luật Ngoài ra, Pháp lệnh còn quy định về niêm yết giá
43
như sau:
40 Điều 448 Bộ luật Dân sự 2005
41 Khoản 2 Điều 12 Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2010
42 Khoản 2 Điều 30 Pháp lệnh giá 2002
43
Điều 29 Pháp lệnh giá 2002
Trang 33+ Tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh phải niêm yết giá hàng hoá, dịch vụ tại cửa hàng, nơi giao dịch mua bán hàng hoá và cung ứng dịch vụ; việc niêm yết giá phải rõ ràng, không gây nhầm lẫn cho khách hàng;
+ Đối với hàng hoá, dịch vụ do Nhà nước định giá thì tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh phải niêm yết đúng giá do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định và mua bán đúng giá đã niêm yết;
+ Đối với hàng hoá, dịch vụ không thuộc danh mục Nhà nước định giá thì niêm yết theo giá do tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh quyết định
Niêm yết giá và thực hiện bán hàng hóa, cung cấp dịch vụ theo đúng giá niêm yết không những góp phần tạo ra môi trường kinh doanh lành mạnh, tạo được tin tưởng cho khách hàng, góp phần xây dựng văn minh thương mại, tạo ra lợi ích bền vững, lâu dài cho chính tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh mà còn là cơ sở để người tiêu dùng lựa chọn hàng hóa, dịch vụ đáp ứng nhu cầu của mình
2.2.2 Trách nhiệm của cá nhân, tổ chức sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch
vụ đối với các hợp đồng theo mẫu
Theo quy định của pháp luật, hợp đồng theo mẫu phải được lập thành văn bản
ràng, dễ hiểu; cỡ chữ ít nhất là 12; nền giấy và màu mực thể hiện nội dung hợp đồng theo mẫu và điều kiện giao dịch chung phải tương phản nhau
được quy định như sau:
+ Trước khi áp dụng hợp đồng theo mẫu, điều kiện giao dịch chung thuộc danh mục hàng hóa, dịch vụ phải đăng ký theo quy định của Thủ tướng Chính phủ, tổ chức, cá nhân kinh doanh phải thực hiện việc đăng ký theo quy định của Nghị định này;
+ Hợp đồng theo mẫu, điều kiện giao dịch chung chỉ được áp dụng đối với người tiêu dùng khi việc đăng ký được hoàn thành theo quy định tại Điều 14 Nghị định 99/2011/NĐ-CP Nhằm đảm bảo quyền lợi người tiêu dùng tốt hơn trong việc thực hiện hợp đồng theo mẫu, điều kiện giao dịch chung tại Quyết định số: 02/2012/QĐ-TTg ngày 13 tháng 01 năm 2012 của Thủ tướng Chính phủ quy định cụ
44 Điều 7- Nghị định 99/2011/NĐ-CP ngày 27 tháng 10 năm 2011 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một
số điều của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng
45 Điều 8- Nghị định 99/2011/NĐ-CP ngày 27 tháng 10 năm 2011 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một
số điều của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng
Trang 34thể Danh mục hàng hóa, dịch vụ thiết yếu phải đăng ký hợp đồng theo mẫu, điều kiện giao dịch chung, theo đó, có chính loại hàng hóa, dich vụ thiết yếu phải đăng ký 46
Như vậy, thương nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ có sử dụng hợp đồng theo mẫu phải đăng ký với cơ quan quản lý nhà nước trước khi sử dụng Điều này cho thấy quyền lợi người tiêu dùng được đảm bảo hơn trong giao dịch ký kết hợp đồng theo mẫu Tuy nhiên, bên cạnh mặt tích cực đó thì hợp đồng theo mẫu nhiều khi không phải là kết quả của quá trình gặp gỡ ý chí giữa các bên đối tác trong giao dịch
mà có thể do một bên soạn thảo chủ động đề xuất từ đó có thể tạo nên sự mất cân đối, bất công về quyền và nghĩa vụ của các bên
Trên thực tế, người tiêu dùng Việt Nam đã quen với tình trạng điện nước, điện thoại, bị cắt một cách đột ngột hay cung cấp không đầy đủ Trong thời gian gần đây, nhiều vụ tranh chấp về các điều khoản của hợp đồng theo mẫu chủ yếu phát sinh ở các lĩnh vực như: hợp đồng cung cấp dịch vụ internet, dịch vụ điện thoại, các hợp đồng mua bán điện nước…Đứng trước tình trạng người tiêu dùng bị chèn ép như vậy cho nên, để bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong hợp đồng mẫu tại Khoản 1 Điều
17 Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng quy định: Khi giao kết hợp đồng theo mẫu,
tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ phải dành thời gian hợp lý để người tiêu dùng nghiên cứu hợp đồng Bên cạnh đó, cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng tự mình hoặc theo đề nghị của người tiêu dùng, yêu cầu tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ hủy bỏ hoặc sửa đổi hợp đồng theo mẫu, điều kiện giao dịch chung trong trường hợp phát hiện hợp đồng
ra, luật còn có quy định: Trong trường hợp hợp đồng theo mẫu có điều khoản không
rõ ràng thì bên đưa ra hợp đồng theo mẫu phải chịu bất lợi khi giải thích điều khoản đó; trong trường hợp hợp đồng theo mẫu có điều khoản miễn trách nhiệm của bên đưa ra hợp đồng theo mẫu, tăng trách nhiệm hoặc loại bỏ quyền lợi chính đáng của
Những quy định trên, đã góp phần hạn chế thiệt hại cho người tiêu dùng trong giao dịch hợp đồng theo mẫu
46 Cung cấp điện sinh hoạt; cung cấp nước sạch sinh hoạt; truyền hình trả tiền; thuê bao điện thoại cố định; thuê bao di động trả sau; kết nối Internet; vận chuyển hành khách đường hàng không; vận chuyển hành khách đường sắt; mua bán căn hộ chung cư, các dịch vụ sinh hoạt do đơn vị quản lý khu chung cư cung cấp
47 Khoản 2 Điều 19 Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2010
48
Khoản 2, 3 Điều 407 Bộ luật Dân sự 2005
Trang 352.2.3 Trách nhiệm của cá nhân, tổ chức sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch
vụ trong việc đảm bảo tiêu chuẩn, đo lường, chất lượng
Nhằm bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong quản lý tiêu chuẩn, đo lường và chất lượng sản phẩm hàng hóa nhà nước ta đã ban hành rất nhiều văn bản quy định về vấn đề này và được thể hiện trong Điều 23 Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng quy định về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hàng hóa có khuyết tật gây ra của nhà sản suất, kinh doanh có nghĩa là tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ phải đảm bảo chất lượng như đã công bố nếu hàng hóa có khuyết tật, không đạt tiêu chuẩn chất lượng phải bồi thường thiệt hại cho người tiêu dùng Ngoài ra, các văn bản chuyên ngành như: Luật Tiêu chuẩn và Quy chuẩn kỹ thuật 2006, Luật Trách nhiệm
127/2007/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Tiêu chuẩn và Quy chuẩn kỹ thuật và các nghị định hướng dẫn Nghị định 132/2008/NĐ-CP ngày 31 tháng 12 năm 2008 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Chất lượng sản phẩm hàng hóa, Nghị định 38/2012/NĐ-CP ngày 25 tháng 04 năm
2012 quy định chi tiết thi hành một số điều Luật An toàn thực phẩm Việc công bố các tiêu chuẩn này sẽ tạo sự yên tâm cho người tiêu dùng vì khi thấy một sản phẩm
đã được kiểm tra chất lượng, được công bố là có đầy đủ tiêu chuẩn nên khi sử dụng
sẽ được an toàn hơn
Tổ chức, cá nhân sản xuất tuân thủ các điều kiện bảo đảm chất lượng đối với sản phẩm trước khi đưa ra thị trường và chịu trách nhiệm về chất lượng sản phẩm do mình sản xuất; thông tin trung thực về chất lượng sản phẩm, hàng hóa; cảnh báo về khả năng gây mất an toàn của sản phẩm và cách phòng ngừa cho người bán hàng và người tiêu dùng; thông báo yêu cầu về vận chuyển, lưu giữ, bảo quản, sử dụng sản phẩm, hàng hóa; cung cấp thông tin về việc bảo hành và thực hiện việc bảo hành sản phẩm, hàng hóa cho người mua, người tiêu dùng; thu hồi, xử lý sản phẩm, hàng hóa không bảo đảm chất lượng Trong trường hợp phải tiêu huỷ hàng hóa thì phải chịu toàn bộ chi phí cho việc tiêu huỷ hàng hóa và chịu trách nhiệm về hậu quả của việc tiêu huỷ hàng hóa theo quy định của pháp luật 49
Đối với lĩnh vực kinh doanh lương thực, thực phẩm Đây là sản phẩm gần gũi
và gắn liền với người tiêu dùng nhất, người tiêu dùng phải sử dụng lương thực thực phẩm hàng ngày, vì vậy, việc công bố tiêu chuẩn, chất lượng trong lĩnh vực này là rất cần thiết Để quy định trách nhiệm công bố tiêu chuẩn vệ sinh an toàn thực phẩm của các doanh nghiệp Luật An toàn thực phẩm năm 2010 quy định đối với từng lĩnh vực
49
Điều 10 Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hóa 2007
Trang 36cụ thể điển hình như: Điều kiện đối với cơ sở sản xuất, kinh doanh thực phẩm đã qua chế biến; điều kiện đối với cơ sở sản xuất, kinh doanh thực phẩm tươi sống; điều kiện
Ngày nay, chất lượng hàng hóa, dịch vụ không chỉ khẳng định sự tồn tại của doanh nghiệp mà còn là chuẩn mực chung trong quan hệ thương mại, mua bán Đảm bảo chất lượng sản phẩm hàng hóa, dịch vụ có ý nghĩa rất quan trọng đối với người tiêu dùng bởi khi họ tiêu dùng một sản phẩm, dịch vụ nào đó thì nó tác động trực tiếp đến người tiêu dùng, ảnh hưởng đến tinh thần, sức khỏe của họ Cho nên, việc quy định đảm bảo chất lượng sản phẩm, hàng hóa của nhà sản xuất là phù hợp bởi lẽ nhà sản xuất chính là người trực tiếp tạo ra sản phẩm, mỗi doanh nghiệp cần phải nhận thức được trách nhiệm của mình để vừa đảm bảo yêu cầu về tiêu chuẩn đo lường chất lượng sản phẩm, hàng hóa còn có thể đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của người tiêu dùng để đưa ra thị trường những sản phẩm, dịch vụ tốt nhất
2.2.4 Trách nhiệm giải quyết khiếu nại đối với người tiêu dùng của cá nhân,
tổ chức sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ
Khiếu nại của người tiêu dùng là việc người tiêu dùng đề nghị tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ giải quyết các yêu cầu liên quan tới hàng hóa, dịch vụ
do các tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ đó cung cấp khi cho rằng
Người tiêu dùng có quyền khiếu nại, tố cáo, khởi kiện hoặc đề nghị tổ chức xã hội khởi kiện để bảo vệ quyền lợi của
qua đại diện của mình thực hiện việc khiếu nại doanh nghiệp dưới mọi hình thức theo quy định của pháp luật
Tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ có trách nhiệm tiếp nhận, tiến hành thương lượng với người tiêu dùng trong thời hạn không quá 07 ngày làm việc,
Khi đó, doanh nghiệp có trách nhiệm tiếp nhận và giải quyết khiếu nại một cách nhanh chóng, kịp thời Nhưng trên thực tế, dường như không có hoặc rất ít người tiêu dùng, tổ chức bảo vệ người tiêu dùng nào gửi đơn khiếu nại hoặc khởi kiện doanh nghiệp bởi người tiêu dùng thường yếu thế và chịu thiệt thòi hơn so với doanh nghiệp Người tiêu dùng thường e ngại khi khiếu nại đến
cá nhân, tổ chức kinh doanh hàng hóa, dịch vụ, chưa nói đến khiếu kiện ra cơ quan chức năng hoặc tòa án để bảo vệ quyền lợi chính đáng của mình Vì thế, giải quyết
50
Xem chi tiết Chương IV Luật Vệ sinh an toàn thực phẩm 2010
51 Điều 25 Dự thảo Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng lần 5
52 Khoản 7 Điều 8 Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng 2010
53 Khoản 2 Điều 31 Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2010