Trên thế giới cũng như ở Việt Nam, tình trạng suy thoái và ô niễm môi trường đang diễn ra một cánh nhanh chóng và ngày càng diễn ra trên quy mô lớn, các nguồn tài nguyên suy giảm nhanh c
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA LUẬT
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN LUẬT
Khóa 35 (2009-2013) NHỮNG QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ TRÁCH NHIỆM CỦA THANH TRA TÀI NGUYÊN MÔI TRƯỜNG VÀ VIỆC XỬ LÝ VI PHẠM HÀNH CHÍNH TRONG LĨNH VỰC BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG
MSSV: 5095656 Lớp: Hành Chính K35
Cần Thơ, tháng 10/2012
Trang 2GVHD: ThS Kim Oanh Na Trang 2 SVTT: Lê Quốc Thắng
đỡ, tạo điều kiện cho người viết trong quá trình học tập và hoàn thành luận văn
Đặc biệt, người viết xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến Thạc sĩ Kim Oanh Na đã
tận tình hướng dẫn người viết nghiên cứu đề tài, chỉnh sửa và hoàn chỉnh luận văn
Mặc dù bản thân đã rất cố gắng nhưng chắc chắn luận văn không trách khỏi những thiếu soát, người viết rất mong được nhận những ý kiến đóng góp, bổ sung của quý thầy, cô
và các bạn
Em xin chân thành cảm ơn
Cần thơ, tháng 11 năm 2012 Tác giả luận văn
Lê Quốc Thắng
Trang 3GVHD: ThS Kim Oanh Na Trang 3 SVTT: Lê Quốc Thắng
NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN HƯỚNG DẨN
Cần thơ, Ngày…tháng…năm 2012
Trang 4GVHD: ThS Kim Oanh Na Trang 4 SVTT: Lê Quốc Thắng
NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN PHẢN BIỆN
Cần thơ, Ngày…tháng…năm 2012
Trang 5GVHD: ThS Kim Oanh Na Trang 5 SVTT: Lê Quốc Thắng
MỤC LỤC
Lời nói đầu 01
CHƯƠNG 1: Khái quát chung về môi trường và thanh tra tài nguyên môi trường 04
1.1 Một số vấn đề về môi trường 04
1.1.1 Một số khái niệm 04
1.1.1.1 Khái niệm về môi trường 04
1.1.1.2 Khái niệm về hoạt động bảo vệ môi trường 05
1.1.1.3 Khái niệm về vi phạm hành chính trong lĩnh vực môi trường 06
1.1.1.4 Khái niệm về xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực môi trường 09
1.1.2 Khái quát tình hình môi trường hiện nay 10
1.1.2.1 Tình hình môi trường hiện nay 10
1.1.2.2 Tình hình vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường 14
1.1.3 Sơ lược các quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường và xử lý vi phạm pháp luật trong lĩnh vực môi trường 16
1.1.3.1 Sơ lược các quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường 16
1.1.3.1 Sơ lược các quy định của pháp luật về xử lý vi phạm pháp luật trong lĩnh vực môi trường 17 1.2 Những vấn đề chung về thanh tra tài nguyên môi trường 18
1.2.1 Lịch sử hình thành thanh tra tài nguyên môi trường 18
1.2.2 Khái niệm, vai trò và chức năng của thanh tra tài nguyên môi trường 19
1.2.3 Cơ cấu, tổ chức của thanh tra tài nguyên môi trường 21
CHƯƠNG 2: Trách nhiệm của thanh tra tài nguyên môi trường và vấn đề xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực môi trường- Pháp luật và thực tiễn 23
2.1 Những quy định của pháp luật về trách nhiệm của cơ quan, cán bộ thanh tra tài nguyên môi trường 23
2.2.1 Trách nhiệm của thanh tra Bộ tài nguyên và môi trường 23
2.2.2 Trách nhiệm của thanh tra Tổng cục môi trường 28
2.2.3 Trách nhiệm của thanh tra Sở tài nguyên và môi trường 31
2.3.4 Trách nhiệm của Thanh tra viên chuyên nghành tài nguyên và môi trường… 33
Trang 6GVHD: ThS Kim Oanh Na Trang 6 SVTT: Lê Quốc Thắng
2.2 Những quy định chung về xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực môi trường
34
2.2.1 Nguyên tắc xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực môi trường 34
2.2.2 Hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực môi trường 35
2.2.3 Đối tượng bị xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực môi trường 37
2.2.4 Hình thức xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực môi trường 39
2.2.5 Thời hạn, thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực môi trường… 42
2.2.6 Thủ tục xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực môi trường 43
2.2.7 Thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực môi trường 46
2.3 Thực tiển áp dụng pháp luật bảo vệ môi trường của Thanh tra tài nguyên môi trường ở địa bàn tỉnh Kiên Giang 49
2.3.1 Thực trạng môi trường tại địa bàn tỉnh Kiên Giang 49
2.3.2 Tình hình vi phạm và xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực môi trường tại địa bàn tỉnh Kiên Giang 51
2.3.3 Những thách thức tồn tại và ý kiến đề xuất nhằm góp phần nâng hiệu quả trong công tác xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường 53
2.3.3.1 Những thách thức, tồn tại 53
2.3.3.2 Ý kiến đề xuất nhằm góp phần nâng cao hiệu quả trong công tác xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường 55
Kết luận 57 Danh mục tài liệu tham khảo
Trang 7GVHD: ThS Kim Oanh Na Trang 7 SVTT: Lê Quốc Thắng
LỜI NÓI ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Hiện nay môi trường đang đứng trước nguy cơ suy thoái rất trầm trọng Trên thế giới cũng như ở Việt Nam, tình trạng suy thoái và ô niễm môi trường đang diễn ra một cánh nhanh chóng và ngày càng diễn ra trên quy mô lớn, các nguồn tài nguyên suy giảm nhanh chóng do việc khai thác quá mức và việc xử dụng lãng phí của con người, sự ô nhiễm nguồn nước từ việc thải nước thải chưa được sử lý hoặc xử lý chưa đảm bảo vào nguồn nước của các nhà máy, xí nghiệp, sự thiếu ý thức của người dân và việc chấp hành các quy định bảo
vệ môi trường của một bộ phận dân cư cũng như các nhà máy, cơ quan, xí nghiệp…tất cả các tồn tại trên đặt chúng ta vào tình thế phải tìm ra những biện pháp khắc phục và ngăn chặn sự ô nhiễm, suy thoái của môi trường và trên hết là kiểm tra, giám sát việc thực hiện xử
lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường
Bảo vệ môi trường ngày nay đã trở thành một trong các chính sách quan trọng của Đảng và Nhà nước ta Các văn bản quy phạm pháp luật về bảo vệ môi trường lần lượt ra đời Trong đó, Luật bảo vệ môi trường 2005 được xem là công cụ hữu ích để điều chỉnh những quy phạm pháp luật về bảo vệ môi trường
Điều đáng lưu ý là để đưa Luật vào thực tiễn và áp dụng một cách đúng và đầy đủ thì cần có sự phối hợp của nhiều cơ quan chức năng và sự kiểm tra, giám sát của một số cơ quan nhất định Vì thế, với trách nhiệm kiểm tra, giám sát của mình thanh tra tài nguyên môi trường có vai trò hết sức quan trọng trong việc bảo vệ môi trường và đảm bảo pháp luật về môi trường được thực hiện một cánh đúng đắn và đầy đủ Cùng với đó là trách nhiệm của Thanh tra tài nguyên môi trường trong việc xử lý các vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo
vệ môi trường, một công tác hết sức quan trọng trong việc đảm bảo tính công bằng của pháp luật và hạn chế các vụ vi phạm pháp luật có thể xảy ra
Nhận thức được tầm quan trọng về trách nhiệm của thanh tra tài nguyên môi trường
và việc xử lý các vụ việc vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường, cùng với những kiến thức đã học, người viết đã chọn đề tài: “Những quy định của pháp luật về trách nhiệm của thanh tra tài nguyên môi trường và xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo
vệ môi trường để làm đề tài luận văn tốt nghiệp
2 mục đích nghiên cứu
Qua đề tài, trước tiên người viết muốn nói lên tình trạng ô nhiễm môi trường hiện nay của nước ta hiện nay Và bằng các quy định của pháp luật về thanh tra tài nguyên và môi trường và xử lý vi phạm hành chính người viết muốn làm rõ các trách nhiệm của cơ quan
Trang 8GVHD: ThS Kim Oanh Na Trang 8 SVTT: Lê Quốc Thắng
thanh tra môi trường cũng như những cơ quan chuyên môn nhằm góp phần tạo cơ sở và điều kiện để việc thực hiện pháp luật của thanh tra tài nguyên môi trường có thể được áp dụng dể dàng và rộng rãi Bên cạnh đó, là các vấn đề trong việc bảo vệ môi trường và việc xử lý các
vi phạm hành chính trong lĩnh vực môi trường Và mục đích cuối cùng và cũng là mong muốn của người viết là có thể đóng góp một phần nhỏ trong việc hoàn thiện pháp luật để việc thực thi pháp luật thanh tra và việc xử lý vi phạm được dễ dàng hơn
3 Phạm vi nghiên cứu
Trong phạm vi luận văn này, người viết tập trung nghiên cứu về trách nhiệm của thanh tra tài nguyên môi trường và các vấn đề về xử lý vi phạm hành chính theo pháp luật của Việt Nam Đồng thời, người viết cũng nghiên cứu thực tiễn áp dụng pháp luật về xử lý
vi phạm hành chính ở Việt Nam Từ đó, đề ra các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của việc
áp dụng pháp luật vào thực tiễn
Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài, người viết tập trung phân tích trách nhiệm của thanh tra tài nguyên môi trường và xử lý vi phạm pháp luật trong lĩnh vực môi trường, chủ yếu tập trung vào các quy định hiện hành được quy định tại Nghị định 35/2009/NĐ-CP và Nghị định 117/2009/NĐ-CP
4 Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình thực hiện luận văn, người viết sử dụng các phương pháp cụ thể như sau: phương pháp liệt kê, phương pháp phân tích luật viết, phương pháp so sánh, tổng hợp, phương pháp thu thập tổng hợp và xử lý thông tin, phương pháp nghiên cứu tài liệu để thực hiện việc nghiên cứu đề tài Cụ thể, người viết đã tiến hành phân tích làm rõ các kiến thức chuyên môn, từ đó xây dựng cơ sở lý luận cho vấn đề mình đang nghiên cứu Tiến hành trình bày các quy định của pháp luật, giải thích và chỉ ra các mặt tích cực và những điểm tồn tại trong quy định này Sau đó so sánh, đánh giá giữa cơ sở lý luận và pháp lý có mâu thuẩn hay thống nhất với nhau Bên cạnh đó, người viết thu thập những sự kiện và thống kê các số liệu thực tế để chứng minh cho các vấn đề đã nêu Cuối cùng, người viết tổng hợp các vấn đề trong một mối quan hệ thống nhất, giúp người đọc có cái nhìn tổng quát và nhìn nhận đúng bản chất của vấn đề
5 Kết cấu của đề tài
Đề tài luận văn “Những quy định của pháp luật về trách nhiệm của thanh tra tài
nguyên môi trường và việc xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi
Trang 9GVHD: ThS Kim Oanh Na Trang 9 SVTT: Lê Quốc Thắng
trường” Ngoài lời nói đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn
gồm có 2 chương:
Khái quát chung về môi trường và thanh tra tài nguyên môi trường
Trách nhiệm của thanh tra tài nguyên môi trường và việc xử lý vi phạm pháp luật trong lĩnh vực môi trường: pháp luật và thực tiễn
Trang 10GVHD: ThS Kim Oanh Na Trang 10 SVTT: Lê Quốc Thắng
CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ MÔI TRƯỜNG
VÀ THANH TRA TÀI NGUYÊN MÔI TRƯỜNG 1.1 Một số vấn đề về môi trường
1.1.1 Một số khái niệm
1.1.1.1 Khái niệm về môi trường
Môi trường là một khái niệm có nội hàm rất rộng và được sử dụng trong nhiều lĩnh vực khác nhau
Thuật ngữ “môi trường” có nguồn gốc từ tiếng Pháp “environer” có nghĩa là “bao quanh hoặc chu trình khép kín” Thuật ngữ này cũng được các quốc gia sử dụng khá phổ biến trong những năm đầu thập niên 60 của thế kỷ XX, cụ thể như; “Umwelt” (German- Đức); “Mileu” (Dutch- Hà Lan); “Medio ambiente” (Spanish- Tây Ban Nha); “Meio ambiente” (Portuguese- Thổ Nhĩ Kỳ); “Al’bial” (Arabic- Ả rập); “Okruzhayuchaia sreda” (Russian- Nga); và “Kankyo” ( Japanese- Nhật)
“Môi trường” là một phạm trù rất rộng có thể hiểu theo nhiều cách khác nhau, cụ thể như sau:
“Môi trường” là toàn bộ nói chung những điều kiện tự nhiên và xã hội trong đó con người hay một sinh vật tồn tại, phát triển trong mối quan hệ con người hay sinh vật ấy;
“Môi trường” là toàn bộ hoàn cảnh, vật thể hoặc điều kiện bên ngoài có ảnh hưởng tới sự tồn tại, phát triển của một thực thể hữu cơ;
“Môi trường” là sự kết hợp toàn bộ hoàn cảnh, vật thể hoặc điều kiện bên ngoài vây quanh tác động qua lại lẫn nhau;
“Môi trường” là một nơi chốn trong số các nơi chốn, nhưng có thể là một nơi chốn đáng chú ý, thể hiện các màu sắc xã hội của một thời kỳ hay một xã hội;
“Môi trường” được hiểu là toàn bộ các hệ thống tự nhiên và các hệ thống do con người tạo ra xung quanh mình, trong đó con người sinh sống bằng lao động của mình đã khai thác các tài nguyên thiên nhiên hoặc nhân tạo nhằm thỏa mãn các nhu cầu của con người.(1)
(1)
Xem trang 1, Tài liệu hướng dẫn ôn tập- Luật môi trường -2010,Ths Kim Oanh Na, Đại học Cần Thơ
Trang 11GVHD: ThS Kim Oanh Na Trang 11 SVTT: Lê Quốc Thắng
Môi trường trong lĩnh vực khoa học pháp lý được hiểu như là mối liên hệ giữa con người và tự nhiên, trong đó môi trường là các yếu tố vật chất bao quanh con người và có tác động qua lại với con người
Ở Việt Nam, khái niệm pháp lý về môi trường được ấn định trong đạo luật về bảo vệ môi trường, và tính đến thời điểm hiện nay có thể thấy rằng có hai khái niệm được quy định trong Luật Bảo vệ môi trường 1993 và 2005, cụ thể như sau:
“Môi trường bao gồm các yếu tố tự nhiên và yếu tố vật chất nhân tạo quan hệ mật thiết với nhau, bao quanh con người, có ảnh hưởng tới đời sống sản xuất, sự tồn tại, phát triển của con người và tự nhiên”(2)
“Môi trường bao gồm các yếu tố tự nhiên và yếu tố vật chất nhân tạo bao quanh con người, có ảnh hưởng tới đời sống, sản xuất, sự tồn tại, phát triển của con người và sinh vật”(3)
Ta thấy, môi trường là một tổ hợp các yếu tố tự nhiên và xã hội nó tác động trực tiếp lên con người, các yếu tố tự nhiên ở đây là gió, đất, nước, không khí… và các yếu tố nhân tạo bao gồm tất cả các nhân tố do con người tạo nên, làm thành những tiện nghi trong cuộc sống như máy bay, công viên, các khu đô thị… Các yếu tố trên tác động mạnh mẽ vào cuộc sống con người chúng ta, nó ảnh hưởng hầu hết mọi mặt của đời sống của con người và sinh vật Vì thế, môi trường có một sức ảnh hưởng vô cùng lớn tới sự tồn tại và phát triển của con người
1.1.1.2 Khái niệm về hoạt động bảo vệ môi trường
Hoạt động bảo vệ môi trường là hoạt động giữ cho môi trường trong lành, sạch đẹp; phòng ngừa, hạn chế tác động xấu đối với môi trường, ứng phó sự cố môi trường, khắc phục
ô nhiễm, suy thoái, phục hồi và cải thiện môi trường; khai thác sử dụng hợp lý và tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên; bảo vệ đa dạng sinh học.(4)
Ta thấy hoạt động bảo vệ môi trường gồm rất nhiều việc làm và có rất nhiều cách để thực hiện hoạt động môi trường, từ những hoạt động đơn giản như giữ cho môi trường trong lành sạch đẹp cũng là một cách có thể thực hiện hoạt động bảo vệ môi trường, nhưng cũng
có các công việc đòi hỏi sự chung tay của nhiều người, nhiều cơ quan chức năng như ứng phó sự cố môi trường, khắc phục ô nhiễm…
Trang 12GVHD: ThS Kim Oanh Na Trang 12 SVTT: Lê Quốc Thắng
Các hoạt động bảo vệ môi trường được khuyến khích hiện nay cũng được đưa vào Luật bảo vệ môi trường 2005 cụ thể như sau:(5)
Tuyên truyền, giáo dục và vận động mọi người tham gia bảo vệ môi trường, giữ gìn
vệ sinh môi trường, bảo vệ cảnh quan thiên nhiên và đa dạng sinh học
Bảo vệ và sử dụng hợp lý, tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên
Giảm thiểu, thu gom, tái chế và tái sử dụng chất thải
Phát triển, sử dụng năng lượng sạch, năng lượng tái tạo; giảm thiểu khí thải gây hiệu ứng nhà kính, phá hủy tầng ôzôn
Đăng ký cơ sở đạt tiêu chuẩn môi trường, sản phẩm thân thiện với môi trường Nghiên cứu khoa học, chuyển giao, ứng dụng công nghệ xử lý, tái chế chất thải, công nghệ thân thiện với môi trường
Đầu tư xây dựng các cơ sở sản xuất thiết bị, dụng cụ bảo vệ môi trường; sản xuất, kinh doanh các sản phẩm thân thiện với môi trường; cung cấp dịch vụ bảo vệ môi trường
Bảo tồn và phát triển nguồn gen bản địa; lai tạo, nhập nội các nguồn gen có giá trị kinh tế và có lợi cho môi trường
Xây dựng thôn, làng, ấp, bản, buôn, phum, sóc, cơ quan, cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ thân thiện với môi trường
Phát triển các hình thức tự quản và tổ chức hoạt động dịch vụ giữ gìn vệ sinh môi trường của cộng đồng dân cư
Hình thành nếp sống, thói quen giữ gìn vệ sinh môi trường, xóa bỏ thủ tục gây hại đến môi trường
Đóng góp kiến thức, công sức, tài chính cho hoạt động bảo vệ môi trường
Vì vậy, để thực hiện tốt hoạt động bảo vệ môi trường, mỗi người trong chúng ta cần
có ý thức hơn để có thể giữ cho môi trường tốt hơn và trước hết là thực hiện các hoạt động bảo vệ môi trường với cách của mình một cách phù hợp
1.1.1.3 Khái niệm về vi phạm hành chính trong lĩnh vực môi trường
Vi phạm hành chính là một loại vi phạm pháp luật xảy ra khá phổ biến trong đời sống xã hội Tuy mức độ nguy hiểm cho xã hội của nó thấp hơn so với tình hình tội phạm hình sự, nhưng vi phạm hành chính là loại vi phạm xảy ra rất nhiều và nó đều là những hành
(5)
Điều 6, Luật bảo vệ môi trường 2005
Trang 13GVHD: ThS Kim Oanh Na Trang 13 SVTT: Lê Quốc Thắng
vi gây thiệt hại hoặc đe dọa làm ảnh hưởng đến lợi ích của nhà nước, tập thể, lợi ích của cá nhân cũng như lợi ích chung của toàn thể cộng đồng; đó là các loại vi phạm: vi phạm nguyên tắc an toàn giao thông, vi phạm trong đăng ký kinh doanh…
Ngoài các loại vi phạm hành chính nói trên, vi phạm hành chính trong lĩnh vực môi trường hiện nay cũng là một loại vi phạm hành chính rất phổ biến
Vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường là một trong các loại vi phạm pháp luật hành chính nhưng nó liên quan tới những hành vi mà Luật bảo vệ môi trường cấm
và nó cũng gây thiệt hại đến lợi ích của nhà nước, cá nhân và cộng đồng, nếu không ngăn chặn kịp thời có thể dẩn đến tình hình phạm tội trong lĩnh vực môi trường
Nhận thấy được điều đó định nghĩa vi phạm hành chính đã được đưa vào hệ thống pháp luật Việt Nam
Theo Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012 “Vi phạm hành chính là hành vi vi phạm do cá nhân, tổ chức thực hiện với lỗi cố ý hoặc vô ý vi phạm các quy định của pháp luật về quản lý nhà nước mà không phải là tội phạm và theo quy định của pháp luật phải bị
xử phạt vi phạm hành chính”
Hiện nay Nghị định số 117/2009/NĐ/CP, ngày 31 tháng 12 năm 2009, quy định về
xử lý vi phạm pháp luật trong lĩnh vực bảo vệ môi trường, Nghị định này có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 03 năm 2010, có định nghĩa cụ thể về vi phạm hành chính trong lĩnh vực môi trường: “ Vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường là những hành vi vi phạm các quy định quản lý nhà nước trong lĩnh vực bảo vệ môi trường do cá nhân, tổ chức thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý mà không phải là tội phạm và theo quy định tại nghị định này phải bị xử phạt vi phạm hành chính”.(6)
Cùng với sự ban hành của Nghị định 117/2009/NĐ-CP là Danh mục một số mẫu biên bản và quyết định sử dụng trong xử lý vi phạm pháp luật trong lĩnh vực bảo vệ môi trường:(7)
Mẫu biên bản số 01: Biên bản về vi phạm hành chính
Mẫu biên bản số 02: Biên bản tạm giữ tang vật, phương tiện vi phạm hành chính
Mẫu biên bản số 03: Biên bản khám người theo thủ tục hành chính
Mẫu biên bản số 04: Biên bản khám phương tiện vận tải, đồ vật
Trang 14GVHD: ThS Kim Oanh Na Trang 14 SVTT: Lê Quốc Thắng
Mẫu biên bản số 05: Biên bản khám nơi cất giấu tang vật, phương tiện
Mẫu quyết định số 06: Quyết định tạm giữ người theo thủ tục hành chính
Mẫu quyết định số 07: Quyết định tạm giữ tang vật, phương tiện vi phạm hành chính
Mẫu quyết định số 08: Quyết định khám người theo thủ tục hành chính
Mẫu quyết định số 09: Quyết định khám nơi cất giấu tang vật, phương tiện
Mẫu quyết định số 10: Quyết định xử phạt cảnh cáo theo thủ tục đơn giản
Mẫu quyết định số 11: Quyết định phạt tiền theo thủ tục đơn giản
Mẫu quyết định số 12: Quyết định xử phạt vi phạm hành chính
Mẫu quyết định số 13: Quyết định cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt
Mẫu quyết định số 14: Quyết định áp dụng các biện pháp khắc phục hậu quả do vi phạm hành chính trong trường hợp không áp dụng xử phạt hành chính
Mẫu quyết định số 15: Quyết định áp dụng hình thức tạm đình chỉ hoạt động đối với
cơ sở sản xuất, kinh doanh và dịch vụ gây ô nhiễm môi trường, gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng
Mẫu quyết định số 16: Quyết định áp dụng hình thức cấm hoạt động đối với cơ sở sản xuất, kinh doanh và dịch vụ gây ô nhiễm môi trường kéo dài hoặc nghiêm trọng
Mẫu quyết định số 17: Quyết định áp dụng hình thức buộc di dời đối với cơ sở sản xuất, kinh doanh và dịch vụ vi phạm khoảng cách an toàn về môi trường đối với khu dân cư, khu bảo tồn thiên nhiên và cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng
Mẫu quyết định số 18: Quyết định cưỡng chế thi hành quyết định áp dụng hình thức cấm hoạt động, tạm thời đình chỉ hoạt động, buộc di dời
Mẫu quyết định số 19: Quyết định Xử phạt vi phạm hành chính và cưỡng chế buộc di dời
1.1.1.4 Khái niệm về xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực môi trường
Xử lý vi phạm hành chính bao gồm xử phạt vi phạm hành chính và các biện pháp xử
lý hành chính khác
Xử phạt vi phạm hành chính được áp dụng đối với cá nhân, cơ quan, tổ chức (sau đây gọi chung là cá nhân, tổ chức) có hành vi cố ý hoặc vô ý vi phạm các quy định của pháp
Trang 15GVHD: ThS Kim Oanh Na Trang 15 SVTT: Lê Quốc Thắng
luật về quản lý nhà nước mà không phải là tội phạm và theo quy định của pháp luật phải bị
xử phạt hành chính
“Xử phạt vi phạm hành chính là việc người có thẩm quyền xử phạt áp dụng hình thức xử phạt, biện pháp khắc phục hậu quả đối với cá nhân, tổ chức thực hiện hành vi vi phạm hành chính theo quy định của pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính” (8)
Xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực môi trường được áp dụng cho: Cá nhân,
tổ chức trong nước và cá nhân, tổ chức ngoài nước, có hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực môi trường trên lãnh thổ Việt Nam đều phải bị xử phạt theo nghị định 117/2009/NĐ-CP hoặc các nghị định liên quan(9) trừ những trường hợp có điều ước quốc tế quy định khác mà Việt Nam là thành viên
Cũng như xử phạt vi phạm hành chính trong các lĩnh vực khác, xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực môi trường được áp dụng cho các hành vi trái pháp luật quy định tại Điều 7 Luật bảo vệ môi trường 2005 và Nghị định 117/2009/NĐ-CP và không phải là tội phạm, thì bị xử lý vi phạm hành chính
Các biện pháp xử lý hành chính khác được áp dụng đối với cá nhân có hành vi vi phạm pháp luật về an ninh, trật tự, an toàn xã hội nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự được quy định tại các điều 23, 24, 25, 26 và 27(10) của Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính năm 2002, sửa đổi bổ sung 2007, 2008 bao gồm:
Giáo dục tại xã, phường, thị trấn
Đưa vào trường giáo dưỡng
Đưa vào cơ sở giáo dục
Đưa vào cơ sở chữa bệnh
Quản chế hành chính
1.1.2 Khái quát tình hình môi trường hiện nay
1.1.2.1 Tình hình môi trường hiện nay
Hiện trạng môi trường đất
Trang 16GVHD: ThS Kim Oanh Na Trang 16 SVTT: Lê Quốc Thắng
Tục ngữ Việt Nam có câu “tấc đất tấc vàng” quả đúng như vậy, đất đai không chỉ là tài sản rất quý giá đối với con người, và có vai trò quan trọng đặt biệt đối với chủ quyền quốc gia, mà nó còn là thành phần cốt lõi của môi trường, là chỗ dựa cho tất cả các hệ sinh thái, đồng thời cũng là yếu tố quan trọng để điều hòa khí hậu, nhiệt độ, và là túi lọc chuyển nước bề mặt thành nước ngầm, chứa vô khối nước tinh khiết,… Tuy nhiên, sự tác động thiếu cân nhắc đã gây ảnh hưởng xấu như ô nhiễm, suy thoái, sự cố đất Chính vì vậy, để bảo vệ chúng, cũng như có thể phát huy vai trò vốn có của nó, đòi hỏi phải có sự tác động tích cực một cách thường xuyên từ con người, từng quốc gia và cả toàn cầu.(11)
Hiện nay, tình hình ô nhiễm môi trường đất đang diễn ra rất nghiêm trọng với nguồn gốc phát sinh ra ô nhiễm; hoạt động sản xuất kinh doanh của các nhà máy công nghiệp, nông nghiệp, chất thải sinh hoạt của con người thải vào môi trường đất mà chưa được xử lý… Các loại chất thải này tích tụ trong thời gian dài gây ảnh hưởng tới chất lượng đất và sức khỏe của con người Người ta chia chất thải làm ô nhiễm môi trường đất thành 4 loại cơ bản sau: Chất thải hóa học và hữu cơ ( như thuốc trừ sâu, phân hóa học, xác động vật, thực vật…); Chất thải kim loại (như phế phẩm quặng, mỏ sắt, chì kẽm…); Chất thải khí và phóng xạ (như khí từ các nhà máy nhiệt điện, nhà máy điện nguyên tử…); Chất thải xây dựng (như gạch, cát, đá…)
Nhìn chung, sự thoái hóa và ô nhiễm của môi trường đất nước ta diễn biến theo chiều hướng rất xấu, sự phát triển kinh tế và xã hội đã khiến con người tác động vào đất ngày càng mạnh mẽ hơn, cùng với đó chưa có một cơ chế bảo vệ, phục hồi một cách hợp lý nên làm cho đất ngày càng bị thoái hóa trầm trọng Chính vì thế, chúng ta cần tăng cường bảo vệ và phục hối đất ngay từ bây giờ
Hiện trạng môi trường nước
Với tổng dòng chảy nước mặt khoảng 835 tỷ m3/năm và lượng mưa trung bình hằng năm là 2000mm(12), cùng với nước ngầm và lượng nước trên các con sông (trong đó có 15 con sông có diện tích lưu vực từ 3000 km2 trở lên, và riêng sông Mekong có lượng dòng chảy hằng năm trên 500 tỷ m3/năm, sông Hồng đạt trên 120 tỷ m3/năm) cho thấy Việt Nam
là quốc gia có nguồn nước tương đối giàu và phong phú so với các quốc gia trên thế giới Tuy nhiên, hiện tượng suy giảm và ô nhiễm nước là một trong những thực trạng đáng lo nhất của sự hủy hoại môi trường tự nhiên, điều đó đã và đang xãy ra trên đất nước Việt Nam
Trang 17GVHD: ThS Kim Oanh Na Trang 17 SVTT: Lê Quốc Thắng
Nông nghiệp là ngành sử dụng nhiều nước nhất, dùng tưới lúa và hoa màu, chủ yếu
là ở đồng bằng sông Cửu long và đồng bằng sông Hồng Việc sử dụng nông dược và phân bón hóa học càng góp thêm phần ô nhiễm môi trường
Công nghiệp là ngành làm ô nhiễm nước nghiêm trọng, mỗi ngành có một loại nước thải khác nhau, và điển hình là khu công nghiệp Thái Nguyên thải nước biến sông Cầu thành màu đen, mặt nước sủi bọt trên chiều dài hàng chục cây số; khu công nghiệp Việt Trì xả mỗi ngày hàng ngàn mét khối nước thải của nhà máy hóa chất, thuốc trừ sâu, giấy, dệt…xuống sông Hồng làm nước bị nhiễm bẩn đáng kể; khu công nghiệp Biên Hòa và thành phố Hồ Chí Minh tạo ra nguồn nước thải công nghiệp và sinh hoạt rất lớn, làm nhiễm bẩn tất cả các sông rạch ở đây và cả vùng lân cận
Nước dùng trong sinh hoạt của dân cư ngày càng tăng do quá trình tăng dân số và các đô thị hóa Nước cống từ nước thải sinh hoạt cộng với nước thải của các cơ sở tiểu thủ công nghiệp trong khu dân cư là đặc trưng ô nhiễm của các đô thị ở nước ta
Điều đáng nói là các loại nước thải đều được trực tiếp thải ra môi trường, điều chưa qua xử lý bởi nước ta chưa có hệ thống hoàn chỉnh để xử lý nước thải nào đúng nghĩa như tên gọi, điều đó có thể gây thiệt hại về người, tài sản của nhà nước, tập thể và cá nhân, đồng thời gây ảnh hưởng xấu đến môi trường sinh thái Vì vậy, để nâng cao trách nhiệm và tăng cường hiệu quả quản lý nhà nước đối với tài nguyên nước nói riêng và môi trường sinh thái nói chung, thì cần phải có các quy định cụ thể hơn của pháp luật
Hiện trạng môi trường không khí
Không khí là yếu tố mà sự sống con người không thể thiếu được Cách đây mấy chục năm con người vẫn còn nghĩ rằng không khí là vô tận, thì ngày nay cùng với sự gia tăng dân số và sự phát triển sản xuất, sự suy giảm các yếu tố tự nhiên cũng làm cho không khí biến đổi theo chiều hướng xấu đi Nhằm khắc phục và hạn chế tình trạng ô nhiễm không khí luật pháp quốc tế, và pháp luật quốc gia được đặt ra đã có những đóng góp nhất định trong việc bảo vệ không khí và bảo vệ môi trường
Riêng ở Việt Nam tình hình ô nhiễm không khí diễn ra một cách hết sức nghiêm trọng cùng với quá trình phát triển kinh tế xã hội là sự đô thị hóa một cách nhanh chóng, sự bùng nổ của các phương tiện giao thông cơ giới và sự gia tăng của các khu công nghiệp đã làm cho tình trạng ô nhiễm không khí ngày càng cao
Năng lượng tiêu thụ ở các đô thị có thể chiếm tới ¾ tổng năng lượng tiêu thụ của quốc gia (than, dầu, xăng, khí đốt…) do đó các vấn đề ô nhiễm không khí trầm trọng thường
Trang 18GVHD: ThS Kim Oanh Na Trang 18 SVTT: Lê Quốc Thắng
xảy ra ở các đô thị, đặc biệt là các đô thị lớn Hoạt động giao thông vận tải, các ngành công nghiệp, thủ công nghiệp và hoạt động xây dựng là những nguồn chính gây ô nhiễm không khí ở các đô thị Theo đánh giá của các chuyên gia, ô nhiễm không khí ở đô thị do giao thông gây ra chiếm 70%.(13)
Theo kết quả nghiên cứu vừa công bố tại Diễn đàn kinh tế thế giới Davos, Việt Nam nằm trong số 10 quốc gia có chất lượng không khí thấp và ảnh hưởng nhiều đến sức khỏe Hai trung tâm nghiên cứu môi trường thuộc đại học Yale và Columbia của Mỹ thực hiện báo cáo thường niên mang tên The Enviromental Performance Index (EPI), khảo sát 132 quốc gia Họ sử dụng các số liệu vệ tinh để đo đếm nồng độ ô nhiễm và từ đó tính toán ra mức độ
“bẩn” ảnh hưởng đến sức khỏe con người như thế nào EPI xếp hạng các nước dựa trên việc chỉ số đánh giá việc thực hiện các chính sách liên quan đến môi trường-y tế và chất lượng hệ sinh thái Các chỉ số này là một trong các thước đo đánh giá ở cấp độ quốc gia, xem mỗi quốc gia tiến gần đến mục tiêu đặt ra về môi trường hay chưa Kết quả nghiên cứu được công bố cho từng quốc gia, gồm nhiều chỉ số như chất lượng không khí, nước, ảnh hưởng của môi trường đến sức khỏe, nông nghiệp, biến đổi khí hậu, rừng… Về ảnh hưởng của chất lượng không khí, Việt Nam đứng thứ 123 trong bảng xếp hạng 132 quốc gia được khảo sát
Về ảnh hưởng của môi trường đến sức khỏe, Việt Nam đứng thứ 77 Về chất lượng nước Việt Nam đứng thứ 80 Tính theo chỉ số chung của EPI Việt Nam xếp hạng 79.(14)
Từ những thực trạng trên chúng ta có thể nhận thấy tình trạng ô nhiễm không khí đang diễn ra hết sức trầm trọng, đòi hỏi cấp bách hiện nay là có những chính sách phát triển hợp lý, những biện pháp cũng như công cụ phù hợp để bảo vệ và khắc phục tình trạng ô nhiễm hiện nay
Trang 19GVHD: ThS Kim Oanh Na Trang 19 SVTT: Lê Quốc Thắng
Hiện trạng tài nguyên rừng:
Năm 1943 diện tích rừng của Việt Nam là 14,3 triệu ha, đạt tỷ lệ che phủ là 43,5%(15) Đến năm 1983 chỉ còn lại 7,2 triệu ha, tỷ lệ che phủ chỉ còn 22% Diện tích rừng giảm mạnh trong thời gian 1943-1983 là do các tác động của các cuộc chiến tranh, không lực Hoa Kỳ đã sử dụng hàng triệu tấn bom đạn, hơn 80 triệu lít thuốc diệt cỏ và các phương tiện chiến tranh khác đã tiêu hủy và săn phẳng diện tích rừng rất lớn, trong vòng 40 năm đó diện tích rừng nước ta mất hơn 7 triệu ha, một con số đáng báo động
Ngoài ý nghĩa về kinh tế, rừng còn giữ vai trò cân bằng sinh thái môi trường Để đảm bảo vai trò của rừng đối với việc bảo vệ môi trường, theo quy hoạch chúng ta cần phải nâng độ che phủ của cả nước hiện tại gần 40% lên đến 45- 50%, vùng núi dốc phải đạt 70- 80% Sự quản lý của nhà nước về quy hoạch bảo vệ phát triển rừng được thể hiện qua những nguyên tắc quản lý, sử dụng và phát triển đối với 3 loại rừng: rừng phòng hộ, rừng đặc dụng
ổn định, nếu sử dụng một cách hợp lý sẽ mang lại hiệu quả kinh tế rất cao và bảo vệ được môi trường sinh thái và là lá phổi xanh cho nhân loại
Hiện trạng môi trường tại các khu công nghiệp và khu dân cư
Hiện nay, nước ta có 223 khu công nghiệp, trong đó 171 khu công nghiệp đã hoạt động với diện tích đất gần 57.300 ha, đạt tỷ lệ lấp đầy khoảng 46% Các khu công nghiệp đem lại lợi nhuận rất cao và giải quyết việc làm cho một bộ phận dân cư rất lớn Tuy nhiên,
nó cũng vướng phải một số trở ngại không nhỏ làm ảnh hưởng tới môi trường, khoảng 70% trong số hơn 1 triệu m3 nước thải/ ngày từ các khu công nghiệp được xả thẳng vào các nguồn
Trang 20GVHD: ThS Kim Oanh Na Trang 20 SVTT: Lê Quốc Thắng
tiếp nhận mà không qua xử lý gây ô nhiễm môi trường nước mặt 57% số khu công nghiệp đang hoạt động chưa có hệ thống xử lý nước thải tập trung Chất lượng nước mặt tại các vùng chịu tác động của nguồn thải từ các khu công nghiệp đã suy thoái Không khí tại các khu công nghiệp đang bị ô nhiễm, một số nơi xuất hiện khí CO, CO2, NO2 và các chất độc hại khác Lượng thải rắn tại các khu công nghiệp ngày càng tăng, trong đó chất thải nguy hại chiếm khoảng hơn 20%, tỷ lệ chất thải rắn có thể tái chế hoặc sử dụng lại là khá cao.(17)
Ở các khu dân cư và các chợ tình hình ô nhiễm cũng là những vấn đề đáng báo động Trong khi các nhà máy xí nghiệp đã được quy hoạch vào các khu công nghiệp thì các cơ sở sản xuất thủ công nhỏ lẻ của các hộ gia đình vẫn còn tồn tại không ít nơi trong các khu dân
cư Tình hình này đã dẫn đến một hệ lụy ô nhiễm môi trường, ảnh hưởng đến sức khỏe nhiều người: “cơ sở nhỏ, gây ô nhiễm lớn”.(18)
1.1.2.2 Tình hình vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường
Tình hình vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường của Việt nam hiện nay đang ở mức đáng báo động, theo các đánh giá của các cơ quan chức năng, tình hình vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường không ngừng tăng và các hành vi vi phạm ngày càng tinh vi và diễn biến một cách phức tạp Hiện nay, tình hình vi phạm môi trường được ghi nhân là đang diễn ra trên một phạm vi rất rộng, theo đánh giá của các cơ quan chức năng, nhiều nhà máy,
cơ sở sản xuất vẫn tiếp tục sử dụng hệ thống ngầm dẫn nước thải chưa qua xử lý ra môi trường gây ô nhiễm nghiêm trọng Các bãi xử lý rác thải đô thị quá tải và công nghệ xử lý lạc hậu, nhất là tại các khu vực ngoại thành, gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng là nguyên nhân dẫn đến khiếu kiện Vi phạm pháp luật trong lĩnh vực bảo vệ động vật hoang
dã, quý hiếm tiếp tục diễn biến phức tạp Tình trạng huỷ hoại rừng tiếp tục xảy ra nghiêm trọng, nhất là đối với các khu rừng phòng hộ, khu bảo tồn thiên nhiên Tình trạng nhập rác thải công nghiệp vào nước ta đang diễn biến phức tạp Tính riêng tại Cảng Hải Phòng trong năm qua, cơ quan chức năng đã phát hiện hàng trăm container rác nhập khẩu, trong đó có chất thải nguy hại cả chất dioxin, chất phóng xạ, các thiết bị công nghệ lạc hậu sản xuất từ những năm 60 của thế kỷ trước Hoạt động thu gom, vận chuyển, xử lý trái phép các loại chất thải nguy hại như dầu máy thải, ắc quy chì cũ, bùn thải và bã quặng kim loại diễn ra tại nhiều địa phương Tình trạng cấp phép khai thác tài nguyên khoáng sản bừa bãi, thiếu quy hoạch tổng thể và quản lý chưa chặt chẽ gây lãng phí tài nguyên Nguy cơ ô nhiễm môi trường nghiêm trọng từ khai thác khoáng sản đang hiện hữu ở nhiều địa phương cần được
Trang 21http://giaothongvantai.com.vn/khoa-hoc-doi-song/suc-khoe/201204/Nhuc-nhoi-o-nhiem-moi-truong-noi-khu-dan-GVHD: ThS Kim Oanh Na Trang 21 SVTT: Lê Quốc Thắng
chủ động ngăn chặn ngay từ đầu như nguy cơ bùn đỏ trong khai thác bôxit ở Tây Nguyên,
vụ tràn bùn gây lũ bùn ở Cao Bằng Việc phát triển thủy điện vừa và nhỏ một cách ồ ạt
thiếu quy hoạch khoa học, tình trạng vi phạm pháp luật về môi trường trong các dự án này
đã và đang diễn ra hết sức nghiêm trọng, nhất là tại khu vực miền Trung, Tây Nguyên Tình hình vi phạm an toàn vệ sinh thực phẩm là vấn đề bức xúc trong nhân dân Một số doanh nghiệp kinh doanh trong lĩnh vực này đã đưa ra thị trường nhiều loại thực phẩm kém chất lượng, có chứa hóa chất độc hại, có dư lượng thuốc bảo vệ thực phẩm, quá hạn sử dụng Song nhờ sự vào cuộc quyết liệt của công an và các cơ quan chức năng nên tình trạng này thời gian qua có dấu hiệu lắng xuống Việc sử dụng phân bón, thuốc bảo vệ thực vật, thuốc kích thích tăng trưởng chưa tuân thủ đúng kỹ thuật, tình trạng phát triển nuôi trồng thủy sản
tự phát, thiếu quy hoạch dẫn tới ô nhiễm môi trường xảy ra nghiêm trọng ở một số nơi Nhiều loại dịch bệnh nguy hiểm như lợn tai xanh, H5N1, dịch tả bùng phát trở lại do vi phạm của một bộ phận người dân, đáng lo ngại tại một số địa phương thuộc Hà Nội, Hải Dương, Bắc Giang, Hà Tĩnh Không xử lý gia súc chết do tai xanh, gây ô nhiễm, thậm chí
có nơi còn bán ra thị trường, làm phát tán dịch bệnh và mất an toàn vệ sinh thực phẩm Thiên tai, dịch bệnh xảy ra trên diện rộng có nguyên nhân sâu xa do môi trường bị suy thoái, hủy hoại.(19)
Tổng hợp kết quả phát hiện, xử lý các vi phạm pháp luật do cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện cho thấy, các vi phạm pháp luật về môi trường chủ yếu ở một số lĩnh vực với một số vi phạm điển hình sau đây:
Vi phạm các quy định về báo cáo đánh giá tác động môi trường
Theo kết quả điều tra, khảo sát cho thấy, các tổ chức, cá nhân thường thực hiện không đúng hoặc không đầy đủ cam kết của báo cáo đánh giá tác động môi trường đã được phê duyệt và bản cam kết bảo vệ môi trường hoặc đề án bảo vệ môi trường đã được xác nhận; chưa đầu tư xây dựng hệ thống xử lý chất thải rắn, lỏng, khí như đã cam kết đăng ký, có nhiều tổ chức, doanh nghiệp đã xây dựng trạm xử lý những hệ thống xử lý không đạt yêu cầu về kỹ thuật hoặc không vận hành thường xuyên
Theo quy định, các cơ sở chỉ được phép đi vào hoạt động chính thức sau khi đã được
cơ quan có thẩm quyền "kiểm tra, xác nhận việc đã thực hiện đầy đủ các nội dung của báo cáo đánh giá tác động môi trường và yêu cầu của quyết định phê duyệt báo cáo đánh giá tác động môi trường" Tuy nhiên, trên thực tế phần lớn các doanh nghiệp đi vào hoạt động đã bỏ qua thủ tục này
(19) )
http://gdtd.vn/channel/2774/201101/Vi-pham-phap-luat-bao-ve-moi-truong-ngay-cang-gia-tang-1939260/
Trang 22GVHD: ThS Kim Oanh Na Trang 22 SVTT: Lê Quốc Thắng
Trong năm 2010, kết quả thanh tra, kiểm tra đối với 117 khu công nghiệp trong toàn quốc cho thấy, 24/117 khu công nghiệp đang hoạt động hoặc đang xây dựng (20,51%) nhưng chưa được cấp có thẩm quyền phê duyệt báo cáo đánh giá tác động môi trường, 88/117 khu công nghiệp đang hoạt động hoặc đang xây dựng (75,21%) đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt báo cáo đánh giá tác động môi trường Tuy nhiên, chỉ có 30/88 khu công nghiệp đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt báo cáo đánh giá tác động môi trường (68,18%) thực hiện đúng và đầy đủ nội dung trong báo cáo đánh giá tác động môi trường được phê duyệt.(20)
Theo những báo cáo gần nhất, 6 tháng đầu năm 2012, Cục cảnh sát môi trường, Bộ Công an cho biết, toàn lực lượng phát hiện 4.780 vụ vi phạm pháp luật bảo vệ môi trường, trung bình gần 800 vụ vi phạm mỗi tháng.(21)
Những con số thống kê trên chỉ có thể đánh giá một cách tổng quan tình hình vi phạm môi trường hiện nay, nhưng cũng là những con số đáng báo động về tình hình vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường
1.1.3 Sơ lược các quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường và xử lý vi phạm pháp luật trong lĩnh vực môi trường
1.1.3.1 Sơ lược các quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường
Ở Việt Nam, pháp luật về bảo vệ môi trường là một lĩnh vực mới, Chính phủ đã có những cố gắng nhất định cho việc soạn thảo và ban hành
Từ sau năm 1980, Chính phủ đã có những cố gắng nhất định, từ đó hàng loạt văn bản pháp luật được soạn thảo, ban hành, có hiệu lực thi hành đã có tác dụng trực tiếp hoặc có những phần liên quan đến bảo vệ môi trường, cụ thể như Luật đất đai 1987, Luật bảo vệ sức khỏe nhân dân 1989, pháp lệnh về thuế tài nguyên 1990… Tuy nhiên, các văn bản còn bộc
lộ những đặc điểm cơ bản, quy định chưa chặt, có chổ chưa phù hợp, có điểm lạc hậu, không nhất quán, có sự khiếm khuyết và đặc biệt là sự tồn tại của hàng loạt các quan hệ không có luật nào điều chỉnh
Từ thực tế pháp luật như vậy, để thực thi điều 17 và 29 của Hiến pháp 1992, cũng như phù hợp với xu thế phát triển của pháp luật bảo vệ môi trường của các nước đến lúc phải đòi hỏi soạn thảo và ban hành Luật bảo vệ môi trường ở nước ta, công việc đó được bắt đầu
từ cuối những năm 80 của thế kỷ XX do các nhà khoa học thuộc chương trình nghiên cứu
Trang 23GVHD: ThS Kim Oanh Na Trang 23 SVTT: Lê Quốc Thắng
cấp Nhà nước về tài nguyên và môi trường khởi thảo, tại kỳ họp lần thứ 4 khóa IX, Quốc hội
đã thông qua Luật bảo vệ môi trường ngày 27 tháng 12 năm 1993.(22)
Cùng với sự ban hành các quy định trên, Việt Nam còn tham gia vào nhiều công ước bảo vệ môi trường mang tính toàn cầu: Công ước CITES về buôn bán các loại động vật, thực vật hoang dã nguy cấp- Washinton, tháng 3/1973; Luật biển quốc tế 1982; Công ước 1992
về đa dạng sinh học; Công ước RAMSAR 1971 về các vùng đất ngập nước…
Đến kỳ họp lần thứ 8 Quốc hội khóa XI, ngày 29 tháng 11 năm 2005, đã thông qua Luật bảo vệ môi trường 2005 Luật này có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 07 năm 2006
Ngoài ra, Chính phủ còn ban hành nhiều Nghị định hướng dẫn trên lĩnh vực môi trường, Nghị định 80/2006/NĐ-CP, Hướng dẩn thi hành Luật môi trường 2005, Nghị định số 81/2006/NĐ-CP, Về xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực môi trường và mới đây để thay thế Nghị định 81 là Nghị định 117/2009/NĐ-CP, Về xử lý vi phạm pháp luật trong lĩnh vực môi trường và mới đây nhất chính là Luật xử lý vi phạm hành chính số 15/2012/QH13 đã được Quốc hội thông qua ngày 20/06/2012 với nhiều quy định mới linh hoạt và phù hợp
1.1.3.2 Sơ lược các quy định của pháp luật về xử lý vi phạm pháp luật trong lĩnh vực môi trường
Cũng như pháp luật về bảo vệ môi trường, pháp luật về xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực môi trường cũng phát triển một cách khá muộn, xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực môi trường, ngày 26 tháng 4 năm 1996 Chính phủ ban hành Nghị định số 26/1996/NĐ-CP, Về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường, tiếp theo
đó ngày 12 tháng 05 năm 2004 Chính phủ ban hành Nghị định 121/2004/NĐ-CP về xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực môi trường và được thay thế bằng Nghị định 81/2006/NĐ-
CP, ngày 09 tháng 08 năm 2006 nhằm làm cơ sở pháp lý cho các cơ quan chức năng trong vấn đề xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực môi trường
Ngày 31/12/2009, Chính phủ tiếp tục ban hành Nghị định 117/2009/NĐ-CP, Về xử
lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực môi trường, Nghị định này có hiệu lực từ ngày 01 tháng 03 năm 2010
Và mới đây là việc thông qua Luật xử lý vi phạm hành chính 2012, khi Luật này chính thức có hiệu lực thì cùng các các Nghị định trước đây Luật xử lý vi phạm hành chính
sẽ tạo nên một khung pháp lý hết sức vững chắc cho việc áp dụng và xử lý các vụ việc vi phạm pháp luật trong lĩnh vực bảo vệ môi trường
(22)
Trang 5, Tài liệu hướng dẩn ôn tập- Luật môi trường-2010, Th.s Kim Oanh Na, Đại học Cần Thơ
Trang 24GVHD: ThS Kim Oanh Na Trang 24 SVTT: Lê Quốc Thắng
1.2 Những vấn đề chung về Thanh tra Tài nguyên môi trường
1.2.1 Lịch sử hình thành Thanh tra Tài nguyên môi trường
Pháp luật về thanh tra của nước ta được đánh dấu từ sắc lệnh 64 ngày 23 tháng 11 năm 1945, Pháp luật về thanh tra tài nguyên môi trường được hình thành và phát triển song song với lịch sử hình thành của thanh tra nhà nước Sau khi đất nước ta hoàn thành được công tác giải phóng dân tộc 1975 -1990 Chính phủ đã có những cố gắng nhất định để hoàn thiện hệ thống thanh tra nói chung và thanh tra tài nguyên môi trường nói riêng Giai đoạn 1990-2005 hệ thống thanh tra nước ta có những chuyển biến tích cực hơn, được đánh dấu bằng pháp lệnh thanh tra ngày 01/04/1990- một văn bản mang tính chất pháp lý cao được ban hành, Năm 2003, cơ cấu tổ chức của cơ quan Thanh tra cũng như chức năng, nhiệm vụ
và quyền hạn của nó lại một lần nữa được kiện toàn và bổ sung trên cơ sở Nghị định số 46/2003/NĐ-CP ngày 09/5/2003 của Chính phủ Trước đòi hỏi ngày càng tăng của công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước, trong xu thế toàn cầu hóa, vai trò và vị trí của ngành Thanh tra được Đảng và Nhà nước coi trọng Ngày 16/6/2004, Quốc hội thông qua Luật Thanh tra vào ngày 26/4/2004, Chỉ một năm sau khi Luật Thanh tra được ban hành, cơ cấu
tổ chức của Thanh tra Chính phủ tiếp tục được hoàn thiện trên cơ sở Nghị định 55/2005/NĐ -CP ngày 25/4/2005 của Chính phủ thay thế Nghị định số 46/2003/NĐ-CP ngày 9/5/2003.(24)
Sau một thời gian đi vào thực tiễn luật thanh tra 2004, đã bộc lộ một số khuyết điểm,
để khắc phục và hoàn thiện hơn hệ thống Luật thanh tra 2010 đã được Quốc hội khóa XII thông qua tại kỳ họp thứ 8 ngày 15/10/2010, và có hiệu lực thi hành từ ngày 01/07/2011
Ngoài ra, thanh tra tài nguyên và môi trường còn được quy định cụ thể tại các Nghị định khác nhau, và tiêu biểu là Nghị định 35/2009/NĐ-CP, Về tổ chức và hoạt động của thanh tra tài nguyên và môi trường
1.2.2 Khái niệm, vai trò và chức năng của Thanh tra Tài nguyên môi trường
Khái niệm thanh tra tài nguyên môi trường
Thanh tra (Tiếng Anh là Inspect) xuất phát từ nguồn gốc La tinh (Inspectare) có nghĩa là “nhìn vào bên trong”, chỉ một sự kiểm tra, xem xét từ bên ngoài đối với hoạt động của một số đối tượng nhất định Theo từ điển Tiếng Việt “thanh tra là kiểm soát, xem xét tại chổ việc làm của địa phương, cơ quan, xí nghiệp” Với nghĩa này, Thanh tra bao hàm nghĩa kiểm soát “xem xét và phát hiện ngăn chặn những gì trái với quy định Thanh tra thường đi
(24)
http://thanhtravietnam.vn/vi-VN/News/tulieu/lichsuthanhtra.aspx
Trang 25GVHD: ThS Kim Oanh Na Trang 25 SVTT: Lê Quốc Thắng
kèm với một chủ thể nhất định “người làm nhiệm vụ thanh tra”, “đoàn thanh tra của Bộ” và đặt trong phạm vi quyền hành của một chủ thể nhất định.(25)
Thanh tra là khái niệm chung để chỉ hoạt động của các cơ quan thanh tra và các tổ chức thanh tra nhằm phòng ngừa, phát hiện và xử lý các vi phạm pháp luật, phát hiện những
sơ hở trong cơ chế quản lý chính sách pháp luật để kiến nghị với các cơ quan nhà nước có thẩm quyền các biện pháp khắc phục, phát huy nhân tố tích cực, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả của hoạt động quản lý nhà nước, bảo vệ lợi ích nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân
Thanh tra chuyên ngành là hoạt động thanh tra của cơ quan nhà nước có thẩm quyền
theo ngành, lĩnh vực đối với cơ quan, tổ chức, cá nhân trong việc chấp hành pháp luật chuyên ngành, quy định về chuyên môn – kỹ thuật, quy tắc quản lý thuộc ngành, lĩnh vực
đó.(26)
Hoạt động thanh tra tài nguyên môi trường là một bộ phận của công tác Thanh tra, Thanh tra tài nguyên môi trường thuộc về nhóm Thanh tra chuyên ngành và chịu sự điều chỉnh của Luật thanh tra, nhằm đảm bảo những chức năng nhiệm vụ đặc biệt về lĩnh vực tài nguyên môi trường
Điều 1, Nghị định 35/2009/NĐ-CP, Về tổ chức hoạt động của thanh tra tài nguyên môi trường có quy định: “Thanh tra tài nguyên môi trường là cơ quan thanh tra theo nghành, lĩnh vực, được tổ chức theo quy định; thực hiện chức năng thanh tra hành chính và thanh tra chuyên ngành về đất đai, tài nguyên nước, tài nguyên khoáng sản, địa chất, môi trường, khí tượng, thủy văn, đo đạc, bản đồ, quản lý tổng hợp và thống nhất về biển và hải đảo theo quy định của pháp luật”.(27)
Vai trò của thanh tra tài nguyên môi trường
Thanh tra có một vai trò hết sức quan trong đối với sự phát triển của đất nước, nên công tác thanh tra hết sức được chú trong phát triển và hoàn thiện pháp luật để cho thanh tra thật sự là một công cụ hữu ích của Đảng và Nhà Nước ta, nên vai trò của các cơ quan thanh tra được thể hiện ngay từ Sắc lệnh số 64/SL ngày 23 tháng 11 năm 1945 thành lập Ban Thanh tra đặc biệt Tại Sắc lệnh này quy định Ban Thanh tra đặc biệt có toàn quyền “nhận các đơn khiếu nại của nhân dân; điều tra, hỏi chứng, xem xét các tài liệu giấy tờ của Uỷ ban hành chính hoặc các cơ quan của Chính phủ cần thiết cho công việc giám sát; đình chức, bắt
Trang 26GVHD: ThS Kim Oanh Na Trang 26 SVTT: Lê Quốc Thắng
giam bất cứ nhân viên nào trong Uỷ ban hành chính hay của Chính phủ đã phạm lỗi”
Với những vai trò quan trọng của mình nên việc thanh tra môi trường đóng góp những vai trò hết sức quan trọng vào vai trò chung của công tác thanh tra nói chung và vai trò đối với việc bảo vệ, khắc phục hậu quả và giúp cho môi trường có thể phát triển một cách bền vững nói riêng
Công tác thanh tra môi trường là một biện pháp quan trọng trong việc ngăn ngừa các loại vi phạm môi trường khi nó chưa hoặc mới hình thành để làm giảm đến mức thấp nhất các ảnh hưởng tới môi trường
Công tác thanh tra còn giúp phát hiện các loại vi phạm hành chính trong lĩnh vực môi trường, từ đó có thể ngăn chặn các vi phạm này và có các biện pháp xử lý vi phạm
Cùng với những công cụ pháp luật thanh tra môi trường có thể xử lý những hành vi
vi phạm, đưa ra các hình thức xử lý nhằm ngăn ngừa và giáo dục, găng đe để trách các hành
vi vi phạm có thể xảy ra tiếp theo
Công tác thanh tra môi trường còn giúp cơ quan nhà nước kiểm tra giám sát các hoạt động thực hiện và chấp hành pháp luật tại các cơ quan, tổ chức và cá nhân Bằng các cuộc thanh tra, kiểm tra thường xuyên và định kỳ thanh tra môi trường có thể giám sát việc thực hiện các cam kết môi trường để đảm bảo một sự chấp hành nghiêm chỉnh và đầy đủ các cam kết bảo vệ môi trường
Chức năng của thanh tra tài nguyên môi trường
Theo điều 1, Nghị định 35/2009/NĐ-CP thì chức năng của thanh tra được quy định rất rõ là thực hiện chức năng thanh tra hành chính và thanh tra chuyên ngành về đất đai, tài nguyên nước, tài nguyên khoáng sản, địa chất, môi trường, khí tượng, thủy văn, đo đạc, bản
đồ, quản lý tổng hợp và quản lý thống nhất về biển và hải đảo theo quy định của pháp luật.(28)
Ta thấy chức năng của thanh tra Tài nguyên môi trường là rất rộng và thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau Chức năng thực hiện nhiệm vụ quyền hạn của thanh tra chuyên ngành tài nguyên môi trường: Thanh tra việc chấp hành các quy định của pháp luật về tài nguyên
và môi trường đối với các cá nhân, cơ quan, tổ chức có liên quan đến tài nguyên môi trường, các quy định khác của pháp luật liên quan đến hoạt động quản lý nhà nước về tài nguyên và môi trường
(28)
Điều 1, Nghị định 35/2009/NĐ-CP, Về tổ chức và hoạt động của Thanh tra tài nguyên môi trường
Trang 27GVHD: ThS Kim Oanh Na Trang 27 SVTT: Lê Quốc Thắng
1.2.3 Cơ cấu, tổ chức của Thanh tra Tài nguyên môi trường
Thanh tra tài nguyên môi trường được tổ chức theo Nghị định 35/2009/NĐ-CP.(29)Thanh tra Bộ tài nguyên và Môi trường là cơ quan của Bộ tài nguyên và môi trường, thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn thanh tra hành chính và thanh tra chuyên ngành về tài nguyên
và môi trường trong phạm vi quản lý nhà nước của Bộ tài nguyên và môi trường, thanh tra
bộ có các phòng trực thuộc do Bộ tài nguyên và môi trường quyết định thành lập
Thanh tra Tổng cục quản lý đất đai, Thanh tra Tổng cục môi trường và thanh tra cục địa chất và khoáng sản Việt Nam thuộc Bộ tài nguyên và môi trường (Thanh tra tổng cục và thanh tra cục)
Thanh tra tổng cục và thanh tra cục là cơ quan thuộc Tổng cục, Cục, thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn thanh tra chuyên nghành về tài nguyên và môi trường trong phạm vi quản lý của Tổng cục, Cục Thanh tra Tổng cục có các phòng trực thuộc do Tổng cục trưởng quyết định thành lập
Thanh tra tổng cục, thanh tra cục có Chánh thanh tra, các Phó chánh thanh tra và các thanh tra viên
Tổng cục trưởng, Cục trưởng quy định cụ thể về nhiệm vụ, quyền hạn, tổ chức, biên chế của thanh tra Tổng cục, thanh tra cục
Thanh tra Sở tài nguyên và môi trường là cơ quan trực thuộc Sở tài nguyên và môi trường, thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn thanh tra hành chính và thanh tra chuyên ngành trong phạm vi quản lý nhà nước về tài nguyên và môi trường của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh Thanh tra Sở có các Chánh thanh tra, các phó chánh thanh tra và thanh tra viên
(29)
Nghị định 35/2009/NĐ-CP, Về tổ chức và hoạt động của Thanh tra tài nguyên và môi trường
Trang 28GVHD: ThS Kim Oanh Na Trang 28 SVTT: Lê Quốc Thắng
Sơ đồ cơ cấu tổ chức của Thanh tra tài nguyên môi trường
Thanh tra tài nguyên và môi trường
Thanh tra Tổng cục môi trường
Chánh thanh tra Tổng cục
Các thanh tra viên
Các thanh tra viên
Các phó chánh thanh tra Sở
Chánh thanh tra Sở
Các phòng trực thuộc Các phó chánh thanh tra tổng cục
Trang 29GVHD: ThS Kim Oanh Na Trang 29 SVTT: Lê Quốc Thắng
CHƯƠNG 2 TRÁCH NHIỆM CỦA THANH TRA TÀI NGUYÊN MÔI TRƯỜNG
VÀ VIỆC XỬ LÝ VI PHẠM HÀNH CHÍNH TRONG LĨNH VỰC MÔI TRƯỜNG - PHÁP LUẬT VÀ THỰC TIỄN
2.1 Những quy định của pháp luật về xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực môi trường trách nhiệm của cơ quan, cán bộ thanh tra tài nguyên môi trường
2.2.1 Trách nhiệm của thanh tra Bộ tài nguyên và môi trường
Các quy định về trách nhiệm thanh tra được quy định trong nhiều văn bản pháp luật khác nhau và được quy định một cách khá chi tiết
Theo quy định của Luật bảo vệ môi trường 2005 thì trách nhiệm của Bộ Tài nguyên
và Môi trường được quy định tại Điều 126 Luật bảo vệ môi trường
Theo quy định của Luật thanh tra 2010 cũng có các quy định về trách nhiệm và quyền hạn của thanh tra môi trường và thanh tra viên, cụ thể trong Mục 2, “Cơ quan thanh tra theo ngành và lĩnh vực”, do thanh tra tài nguyên và môi trường được xếp vào loại thanh tra chuyên ngành nên pháp luật điều chỉnh của thanh tra tài nguyên và môi trường là thanh tra theo ngành và lĩnh vực
Ngoài ra còn được quy định tại Nghị định 35/2009/NĐ-CP về tổ chức và hoạt động của thanh tra tài nguyên và môi trường
Bên cạnh đó thì khung hình phạt đối với các vi phạm hành chính trong lĩnh vực môi trường được quy định khá chi tiết tại Nghị định 117/2009/NĐ-CP về xử lý vi phạm pháp luật trong lĩnh vực bảo vệ môi trường
Theo Điều 126, Luật bảo vệ môi trường 2005 thì thanh tra Bộ Tài nguyên và Môi trường có trách nhiệm kiểm tra và ra quyết định thanh tra hoạt động bảo vệ môi trường theo quy định của Luật này và các quy định khác của pháp luật về thanh tra.Thanh tra bảo vệ môi trường thuộc Bộ Tài nguyên và Môi trường thực hiện kiểm tra, thanh tra việc bảo vệ môi trường của cơ sở sản xuất, kinh doanh dịch vụ, thuộc thẩm quyền phê duyệt báo cáo đánh giá tác động môi trường của Bộ Tài nguyên và Môi trường, bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ; phối hợp với thanh tra chuyên ngành bảo vệ môi trường của Bộ quốc phòng và
Bộ công an để kiểm tra, thanh tra việc bảo vệ môi trường của các đơn vị trực thuộc.(30) Ngoài
ra, tại điều 126 còn quy định về trách nhiệm của các cơ quan chuyên môn khác như là thanh
(30)
Khoản 1, Điều 126, Luật bảo vệ môi trường 2005
Trang 30GVHD: ThS Kim Oanh Na Trang 30 SVTT: Lê Quốc Thắng
tra môi trường cấp Tỉnh, Ủy ban nhân dân cấp Huyện, Ủy ban nhân dân cấp Xã và khi có trường hợp đặc biệt xãy ra thì thanh tra môi trường các cấp, Ủy ban nhân dân cấp huyện có trách nhiệm thêm là giúp đỡ, phối hợp với Ủy ban nhân dân cấp Xã để thanh tra về bảo vệ môi trường đối với cá nhân, tổ chức vi phạm nghiêm trọng pháp luật về bảo vệ môi trường Bên cạnh đó là trách nhiệm của các cơ quan quản lý nhà nước các cấp và các cơ quan hữu quan là giúp đỡ, phối hợp với thanh tra bảo vệ môi trường trong quá trình thanh tra, kiểm tra việc thực hiện pháp luật bảo vệ môi trường khi có yêu cầu Cũng tại điều 126 của Luật bảo
vệ môi trường 2005 còn quy định số lần thanh tra, kiểm tra về bảo vệ môi trường nhiều nhất
là hai lần trong một năm đối với cơ sở sản xuất, kinh doanh dịch vụ trừ trường hợp cơ sở kinh doanh, dịch vụ đó bị tố cáo là đã vi phạm hoặc có dấu hiệu vi phạm
Ta có thể thấy tại Điều 126 Luật bảo vệ môi trường 2005 trách nhiệm của Bộ Tài nguyên và Môi trường được quy định một cách khá đầy đủ các nội dung thuộc về trách nhiệm của Thanh tra Bộ Tài nguyên và Môi trường về công tác thanh tra, kiểm tra, phê duyệt báo cáo và phối hợp với các cơ quan chức năng có liên quan Ta thấy trách nhiệm của thanh tra Bộ là khá rộng và phức tạp nhưng các quy định thì chưa thật sự rõ ràng, các quy định về trách nhiệm của Bộ trong Luật bảo vệ môi trường cần được cụ thể hơn để có thể dể dàng thực hiện để có thể đạt hiệu quả cao hơn
Bên cạnh các quy định tại Luật bảo vệ môi trường 2005 là các quy định của Luật thanh tra 2010, thì trách nhiệm thanh tra Bộ (đây là tên gọi chung của thanh tra theo ngành, lĩnh vực ở đây ta đang xét là thanh tra Bộ Tài nguyên môi trường) là cơ quan thuộc Bộ, có trách nhiệm giúp Bộ trưởng quản lý nhà nước về công tác thanh tra, thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn thanh tra hành chính và thanh tra chuyên ngành trong các lĩnh vực thuộc phạm vi quản lý nhà nước của Bộ, thanh tra Bộ chịu sự chỉ đạo trực tiếp của Bộ trưởng, đồng thời chịu sự chỉ đạo, hướng dẫn về công tác, tổ chức, nghiệp vụ của thanh tra Chính phủ.(31)
Và để có thể phát huy một cách có hiệu quả vai trò và chức năng của thanh tra Bộ nên tại Luật thanh tra 2010, có quy định một cách cụ thể và rất rõ ràng các trách nhiệm của thanh tra bộ để việc thực hiện pháp luật có thể diển ra một cách dể dàng và các quy định cụ thể như sau:
Thanh tra việc thực hiện chính sách, pháp luật, nhiệm vụ của cơ quan, đơn vị thuộc quyền quản lý trực tiếp của bộ
Thanh tra việc chấp hành pháp luật chuyên ngành của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong phạm vi quản lý nhà nước theo ngành, lĩnh vực do Bộ phụ trách
(31)
Điều 24, 25, 26- Luật thanh tra 2010
Trang 31GVHD: ThS Kim Oanh Na Trang 31 SVTT: Lê Quốc Thắng
Xử phạt vi phạm hành chính theo quy định của pháp luật về xử lý vi phạm hành chính
Thanh tra vụ việc khác do Bộ trưởng giao
Thực hiện nhiệm vụ giải quyết khiếu nại, tố cáo theo quy định của pháp luật về khiếu nại, tố cáo
Thực hiện nhiệm vụ phòng ngừa và đấu tranh chống tham nhũng theo quy định của pháp luật về chống tham nhũng
Hướng dẫn nghiệp vụ thanh tra chuyên ngành đối với thanh tra Sở; hướng dẫn, kiểm tra các đơn vị thuộc Bộ thực hiện quy định của pháp luật về công tác thanh tra
Tổng hợp, báo cáo kết quả về công tác thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo, chống tham nhũng thuộc phạm vi quản lý nhà nước của Bộ
Thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn khác theo quy định của pháp luật
Cùng với trách nhiệm của thanh tra Bộ nói chung thì Luật thanh tra 2010 còn có quy định các trách nhiệm của Chánh thanh tra Bộ là người đứng đầu trong tổ chức thanh tra của
Bộ và được Bộ trưởng bổ nhiệm, sau khi thống nhất với Tổng thanh tra, Chánh thanh tra cũng có những nhiệm vụ quyền hạn riêng biệt và được quy định cụ thể như sau:
Lãnh đạo, chỉ đạo công tác thanh tra trong phạm vi quản lý nhà nước của Bộ
Xây dựng chương trình, kế hoạch thanh tra trình Bộ trưởng quyết định và tổ chức thực hiện chương trình, kế hoạch đó
Trình Bộ trưởng quyết định việc thanh tra khi phát hiện có dấu hiệu vi phạm pháp luật
Kiến nghị Bộ trưởng tạm đình chỉ việc thi hành quyết định sai trái về thanh tra của
cơ quan, đơn vị thuộc quyền quản lý trực tiếp của Bộ
Xử phạt vi phạm hành chính theo quy định của pháp luật về xử lý vi phạm hành chính
Kiến nghị Bộ trưởng xem xét trách nhiệm, xử lý người có hành vi vi phạm thuộc quyền quản lý của Bộ trưởng; phối hợp với người đứng đầu cơ quan, tổ chức trong việc xem xét trách nhiệm, xử lý người có hành vi vi phạm thuộc quyền quản lý của cơ quan, tổ chức
đó
Trang 32GVHD: ThS Kim Oanh Na Trang 32 SVTT: Lê Quốc Thắng
Kiến nghị Bộ trưởng giải quyết những vấn đề về công tác thanh tra; trường hợp kiến nghị đó không được chấp nhận thì báo cáo Tổng thanh tra
Lãnh đạo cơ quan thanh tra Bộ thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định của Luật này và các quy định khác của pháp luật
Theo quy định tại luật Thanh tra thì trách nhiệm của thanh tra Bộ có tám trách nhiệm chính và các trách nhiệm này được quy định một cách khá chi tiết, tạo điều kiện thuận lợi trong việc thực hiện và áp dụng vào thực tiễn một cách dể dàng hơn
Cùng với các quy định về trách nhiệm, quyền hạn của thanh tra Bộ Tài nguyên và Môi trường được quy định tại Luật bảo vệ môi trường và Luật thanh tra là những quy định được nêu ra tại Nghị định 35/2009/NĐ-CP về tổ chức hoạt động của thanh tra tài nguyên và môi trường cụ thể như sau:
Thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn thanh tra hành chính và thanh tra chuyên ngành theo quy định tại Luật thanh tra
Xử phạt vi phạm hành chính theo quy định của pháp luật về xử lý vi phạm hành chính
Chủ trì hoặc tham gia xây dựng văn bản quy phạm pháp luật trình Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường
Kiến nghị cấp có thẩm quyền sửa đổi, bổ sung hoặc ban hành các văn bản quy phạm pháp luật phù hợp với yêu cầu quản lý nhà nước về tài nguyên và môi trường; kiến nghị cấp
có thẩm quyền đình chỉ hành vi trái pháp luật của tổ chức, cá nhân khi có đủ căn cứ xác định hành vi vi phạm gây thiệt hại đến lợi ích nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân; kiến nghị với cơ quan nhà nước có thẩm quyền đình chỉ việc thi hành hoặc huỷ bỏ những văn bản trái với quy định của pháp luật về tài nguyên và môi trường; kiến nghị xử lý cán bộ, công chức có vi phạm trong thi hành công vụ đã được phát hiện qua công tác thanh tra
Theo dõi, kiểm tra, đôn đốc việc thực hiện các kết luận, kiến nghị, quyết định xử lý về thanh tra của thanh tra Bộ
Giúp Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường tổ chức tiếp công dân, giải quyết tranh chấp, khiếu nại, tố cáo theo quy định của pháp luật
Thực hiện nhiệm vụ phòng ngừa và đấu tranh chống tham nhũng theo quy định của pháp luật