Qua định nghĩa trên, tham nhũng bao gồm cả hối lộ, lợi lộc cá nhân do chức vụ đem đến, chọn người quen, người thân vào những chức vụ mà lẽ ra nhiều người khác có thể làm nhiệm vụ đó tốt
Trang 2LỜI NÓI ĐẦU 1
Chương 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ THAM NHŨNG 1. KHÁI NIỆM 4
1.1. Khái niệm về tham nhũng 4
1.2. Khái niệm về phòng và chống tham nhũng 6
2. LỊCH SỬ HÌNH THÀNH VÀ MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM CỦA 8
2.1. Lịch sử hình thành 8
2.2. Đặc điểm của tham nhũng 9
3. NGUYÊN NHÂN VÀ HẬU QUẢ CỦA THAM NHŨNG 10
3.1. Nguyên nhân 10
3.2. Hậu quả của hành vi tham nhũng 14
Chương 2: CƠ SỞ PHÁP LÝ VỀ NHỮNG BIỂU HIỆN CỦA THAM NHŨNG 1. QUI ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ CÁC HÀNH VI THAM NHŨNG 20
1.1.Theo Bộ luật Hình Sự 1999 20
1.2.Theo Luật phòng chống tham nhũng 2005 26
2. CÁC BIỆN PHÁP PHÁT HIỆN HÀNH VI THAM NHŨNG 29
2.1. Phát hiện tham nhũng thông qua 30
2.2. Phát hiện tham nhũng thông qua công tác kiểm tra 35
2.3. Phát hiện tham nhũng thông qua tố cáo 36
3. CÁC BIỆN PHÁP XỬ LÝ HÀNH VI THAM NHŨNG 37
3.1. Các nguyên tắc xử lý 37
3.2. Các biện pháp xử lý 39
Chương 3: THỰC TRẠNG THAM NHŨNG HIỆN NAY; HƯỚNG NÂNG CAO VÀ KHẮC PHỤC 1. NHỮNG BIỂU HIỆN THAM NHŨNG HIỆN NAY 41
1.1. Quy mô và mức độ tham nhũng hiện nay 41
1.2. Những biểu hiện tham nhũng hiện nay 47
1.3. Dự báo tình hình tham nhũng sắp tới 50
2. HƯỚNG NÂNG CAO VÀ MỘT SỐ KIẾN NGHỊ 50
Trang 32.2. Những kiến nghị 57
2.2.1. Những phương hướng chung 57
2.2.2. Những kiến nghị cụ thể 59
KẾT LUẬN 63 TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 6Tham nhũng là một hiện tượng tiêu cực của xã hội, là hành vi lợi dụng quyền lực của những người có chức, có quyền nhằm mục đích trục lợi cho bản thân. Tham nhũng đã xuất hiện gắn liền với xã hội có giai cấp, chúng tồn tại cùng lịch sử từ khi hình thành nhà nước đầu tiên thời các vua Hùng .
Tham nhũng diễn ra hết sức phổ biến trong cuộc sống, nó như một loài vật sống ký sinh sống trên vật chủ là Quốc gia, nó cùng sống và không ngừng gây tác hại cho vật chủ, không phân biệt vật chủ đó to hay nhỏ, béo hay gầy…Tham nhũng cũng vậy, chúng diễn ra ở tất cả các Quốc gia, không phân biệt chế độ chính trị xã hội, quốc gia đó giàu hay nghèo và trình độ phát triển ra sao? Chúng gây ra hậu qủa hết sức tai hại cho nền kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội; Làm giảm hiệu qủa hoạt động của bộ máy nhà nước, làm giảm lòng tin của nhân dân đối với vai trò lãnh đạo của Đảng và nhà nước, làm xói mòn đạo đức, nhân phẫm con người, làm cản trở sự phát triển của đất nước.
Nhận thức được tác hại và nguy cơ của tệ nạn tham nhũng, nên ngay từ khi giành được chính quyền về tay nhân dân, Đảng và nhà nước ta không ngừng nâng cao kinh nghiệm lãnh đạo và phát triển đất nước, trong đó có một mục tiêu là xây dựng bộ máy nhà nước trong sạch nhằm cũng cố lòng tin của nhân dân đối với Đảng và nhà nước. Với quyết tâm chính trị cao nhằm xây dựng bộ máy nhà nước trong sạch, vững mạnh nên tại kỳ họp thứ 8, Quốc hội khóa XI đã thông qua luật phòng chống tham nhũng, Sự ra đời của Luật phòng, chống tham nhũng đánh dấu
sự quyết tâm đấu tranh quyết liệt với tệ nạn tham nhũng của Đảng ta. Mặc dù đã ban hành nhiều văn bản pháp luật, nhiều biện pháp đấu tranh cũng như nhiều biện pháp tuyên truyền. Nhưng qua thực tiễn cho thấy tham nhũng vẫn còn tồn tại, có khuynh hướng diễn biến phức tạp, chúng được ngụy trang dưới nhiều hình thức khác nhau, không cố định, bất biến mà thay đổi một cách uyển chuyển tùy vào bối cảnh kinh tế, chính trị, xã hội và trình độ dân trí.
Hiện nay, ở nước ta cũng như trên thế giới đã có rất nhiều công trình nghiên cứu lớn của các tổ chức, học giả về vấn đề này. Để góp phần làm rõ hơn về tham
nhũng nên tác giả đã chọn đề tài: “Những biểu hiện của tham nhũng thực tiễn
và hướng khắc phục”. Trong khuôn khổ đề tài luận văn tốt nghiệp người viết với
mục đích nghiên cứu làm rõ vấn đề lý luận và thực tiễn của hiện tượng tham nhũng; những biểu hiện của tham tham nhũng theo quy định của pháp luật về phòng, chống tham nhũng
Trang 7Nhiệm vụ trọng tâm của đề tài: hệ thống cơ sở lý luận, phân tích nguyên nhân, hậu qủa, những biểu hiện của hành vi tham nhũng, trên cơ sở đó đưa ra dự báo tình hình tham nhũng sắp tới đồng thời đề ra một số giải pháp góp phần nâng cao hiệu qủa của cuộc đấu tranh phòng và chống tham nhũng.
Để đạt được mục đích nghiên cứu đề tài sẽ:
Phân tích làm rõ khái niệm tham nhũng, nguyên nhân và hậu qủa của hành vi tham nhũng; cơ sở pháp lý về những biểu hiện cũng như biện pháp phát hiện tham nhũng.
sự, luật phòng, chống tham nhũng và một số văn bản pháp luật có liên quan; Phân tích các biện pháp phát hiện và các biện pháp xử lý hành vi tham nhũng
Trang 8Chương 3: THỰC TRẠNG THAM NHŨNG HIỆN NAY;
HƯỚNG NÂNG CAO VÀ KHẮC PHỤC;
Chương này gồm có 2 phần lớn: Phân tích những biểu hiện của tham nhũng trong giai đoạn hiện nay; Đề xuất một số giải pháp nhằm hạn chế tình trạng tham nhũng.
Vấn đề phòng, chống tham nhũng là vấn đề nóng bỏng, phức tạp có nội dung rộng lớn liên quan đếu rất nhiều nghành, nhiều lĩnh vực đời sống xã hội. Người viết đã cố gắng xem xét khách quan trong vấn đề nghiên cứu tuy nhiên trong quá trình nghiên cứu đề tài chắc chắn còn nhiều thiếu xót mong được sự cảm thông và sự đóng góp của quý thầy cô và các bạn
Trang 91 KHÁI NIỆM:
Tham nhũng là một phạm trù lịch sử xuất hiện cùng với sự ra đời của nhà nước và ra đời tồn tại song song cùng với sự phát triển của nhà nước. Lịch sử nhà nước từ khi xuất hiện đến nay cho thấy, tham nhũng như một khuyết tật bẩm sinh của quyền lực, là một loại tội phạm cực kỳ nguy hiểm bởi tính chất và hậu qủa do
nó gây ra. Việt Nam cũng như nhiều quốc gia trên thế giới coi tham nhũng là một
“quốc nạn” cần phải phòng ngừa và kiên quyết trừng trị bằng những biện pháp mạnh mẽ. Vì vậy, để phòng ngừa và đấu tranh có hiệu qủa với tham nhũng đòi hỏi chúng ta phải hiểu rỏ tham nhũng là gì? Thuật ngữ tham nhũng xuất hiện từ bao
giờ? Hiện nay có rất nhiều quan điểm về vấn đề này.
1.1. Khái niệm về tham nhũng:
Do xuất phát từ những điều kiện, đặc thù riêng, các quốc gia có sự khác nhau về truyền thống lịch sử, đặc điểm văn hóa, điều kiện kinh tế xã hội, tình hình tham nhũng…nên quan niệm về tham nhũng có khác nhau. Tham nhũng tiếng Anh
gọi là corruption, xuất phát từ tiếng LaTinh corrumpere, có nghĩa là hư hỏng,
bại hoại, tiêu hủy. Theo tổ chức minh bạch quốc tế (Transparency International) định nghĩa tham nhũng là lạm dụng chức vụ hay quyền hành của cơ quan chính
vụ nào của người nhận hối lộ, lợi ích khác hoặc hứa hẹn hối lộ và lợi ích khác đó” 1 .
Theo Luật phòng, chống tham nhũng Xingapo (Điều 2), quy định: Tham
nhũng “tiền hay mọi hình thức quà biếu, tiền vay mượn, tiền thưởng, tiền hoa hồng, các bảo đảm có giá trị tài sản, lợi tức của tài sản dưới hình thức động sản hay bất động sản, chức vụ công việc hay hơp đồng, mọi hình thức trả tiền, thanh toán hay trả nợ, miễn thực hiện nghĩa vụ hay các khoản thanh toán khác; Mọi hình thức dịch vụ, giúp đỡ hay tạo điều kiện, kể cả việc bảo đảm không bị hình phạt,
1
Ngô Tự Lập – Những bộ mặt của tham nhũng – Tạp chí khoa học và & Tổ quốc, số tháng 8/2004
Trang 10không bị kỷ luật hoặc không chịu trách nhiệm hình sự hay không phải thực hiện nghĩa vụ khác; Mọi hình thức cung phụng, thực hiện hay hứa sẽ cung cấp sẽ cung
cấp một khoản tiền nào đó như quy định trên. Theo Rick Stapenhurst chuyên gia quản lý khu vực công cộng và Shahrzad Sedight, nhà tư vấn Viện phát triển Kinh
tế, Ngân hàng thế giới thì “tham nhũng theo ý nghĩa đơn giản nhất là sự lạm dụng quyền lực, đa phần để đạt được những lợi ích cá nhân hoặc lợi ích của một nhóm người mà người ta phải trung thành với nó. Tham nhũng có thể do lòng tham thúc đẩy, do ước muốn duy trì hoặc tăng quyền lực, hay một cách khác khá vô lý là do
niềm tin vào một cơ may mà người ta cho rằng là lớn lao hơn. Thuật ngữ “tham
Tham nhũng, lãng phí gắn liền với quan liêu, quan liêu thể hiện ở rất nhiều
khía cạnh khác nhau. Lênnin đã chỉ rõ quan liêu biểu hiện ở: “Những nhân vật có
đặc quyền thoát ly quần chúng và đứng trên quần chúng…, đem lợi ích của sự nghiệp phục tùng lợi ích của tư tưởng thăng quan tiến chức, tức là hết sức chú trọng vào địa vị “an nhàn” hưởng lợi mà không biết đến công tác, tức là tranh giành nhau để bổ tuyển” Chủ Tịch Hồ Chí Minh gọi tham nhũng là tham ô,
người gọi bọn họ là kẻ ăn cắp, ăn trộm. Người viết “tham ô là hành động xấu xa nhất của con người …Tham ô là lấy trộm của công, chiếm của công làm của tư…” 2 .
Trang 11bộ phận chính thống của một vai trò vì tiền hoặc tài sản trục lợi cho cá nhân (hoặc cho người thân), Xâm phạm các quy tắc, ngược lại với hành xử chuẩn mực, liên quan đến quyền lợi cá nhân” 3 .
Qua định nghĩa trên, tham nhũng bao gồm cả hối lộ, lợi lộc cá nhân do chức
vụ đem đến, chọn người quen, người thân vào những chức vụ mà lẽ ra nhiều người khác có thể làm nhiệm vụ đó tốt hơn, quyết định không dựa trên nền tảng ích lợi của đơn vị (công ty, xí nghiệp, thành phố, quốc gia vv…) mà người có quyền quyết định, như chọn công ty, thực hiện dự án không qua tiêu chuẩn giá cả, chất lượng hay những tiêu chuẩn đặc biệt đã được qui định (ưu tiên cho những công ty trong vùng để yểm trợ phát triển địa phương hay giảm tình trạng thất nghiệp của địa phương vv…) mà theo tiêu chuẩn bè phái cá nhân hay đổi chác vv…
Tóm lại, mặt dù có rất nhiều cách định nghĩa khác nhau về tham nhũng nhưng nhìn chung tham nhũng điều có quan niệm tương đối thống nhất: tham nhũng là hành vi lợi dụng chức vụ, quyền hạn để vụ lợi. Tuy nhiên, trong một số trường hợp, kẻ tham nhũng không chỉ có chức vụ, quyền hạn. Tham nhũng gây thiệt hại tài sản, lợi ích của Nhà nước, tập thể và của người dân, nó làm biến dạng
và cản trở quá trình hoạt động của các cơ quan Nhà nước, tổ chức xã hội.
1.2. Khái niệm về phòng, chống tham nhũng:
Hiện nay, chưa có một khái niệm chính thức nào được đưa ra nhưng cũng
có một số quan điểm khác nhau về hoạt động phòng, chống tham nhũng. Có ý kiến cho rằng hoạt động phòng, chống tham nhũng là cuộc đấu tranh chính trị quan trọng liên quan đến sự sống còn của thể chế chính trị Nhà nước. Có quan điểm lại cho rằng phòng, chống tham nhũng dù ở quy mô gia đình, công ty, quốc gia hay quốc tế, đều đồng nghĩa với việc đảm bảo để mọi thành viên gia đình, xã hội và đời sống quốc tế đều có quyền phát biểu và quyền được lắng nghe. Phòng, chống tham nhũng vì thế không thể chỉ là hoạt động riêng lẻ mang tính chất đối phó. Nó phải bắt đầu từ một thay đổi sâu sắc về quan niệm bình đẳng xã hội, về vai trò của nhà nước và về quan hệ quốc tế. Chống tham nhũng, dù trong một công ty, trong một quốc gia hay trên thế giới, suy cho cùng chính là dân chủ hóa.
Qua nghiên cứu các quan điểm chúng ta có thể đưa ra khái niệm phòng, chống tham nhũng như sau: Hoạt động phòng, chống tham nhũng là việc các cơ quan Nhà nước, các tổ chức và công dân sử dụng, tổng hợp các biện pháp và cách thức mà pháp luật cho phép nhằm phòng ngừa, phát hiện, ngăn chặn và xử lý các
3
Tạp chí nghiên cứu Lập pháp, số 2 (9/2005), tr.1.
Trang 12hành vi tham nhũng, loại trừ những phần tử tham nhũng ra khỏi bộ máy Nhà nước. Theo đó thì khái niệm có hai bộ phận đó là hoạt động phòng ngừa và hoạt động
chống tham nhũng.
Hoạt động phòng ngừa tham nhũng là tổng thể các hoạt động với sự tham
gia của tất cả mọi người dân và tất cả các cơ quan trong bộ máy Nhà nước sử dụng tất cả mọi biện pháp theo đúng quy định của pháp luật nhằm ngăn ngừa không để tình trạng tham nhũng xảy ra. Là một hoạt động thường xuyên, liên tục được thực hiện trước khi tham nhũng xảy ra. Phòng ngừa tham nhũng là một công tác mang tính chất tổng hợp, và điều này tạo cơ sở xác lập một mặt trận rộng rãi đấu tranh chống tham nhũng, để sử dụng một cách hiệu qủa không chỉ bằng các phương tiện pháp luật mà cả các phương tiện kinh tế, tư tưởng, tổ chức, kỹ thuật… Đây có thể xem là biện pháp chính và có tác dụng hơn cả trong cuộc đấu tranh chống tham nhũng.
Phòng ngừa tham nhũng là nhằm xóa bỏ bản thân nguồn gốc của tình trạng tham nhũng, cụ thể là khắc phục những nguyên nhân và điều kiện của tình hình tham nhũng. Nói cách khác việc phòng ngừa tham nhũng là hình thức can thiệp ngay từ đầu chuỗi mắc xích những sự kiện và hiện tượng có thể dẫn đến việc gây
ra những thiệt hại cho lợi ích của Nhà nước và xã hội. Tóm lại, công tác phòng ngừa tham nhũng cho phép chúng ta giải quyết các nhiệm vụ đấu tranh chống tình
trạng phạm tội mà phí tổn đối với xã hội là thấp nhất.
Hoạt động chống tham nhũng, là tổng thể các hoạt động với sự tham gia
của tất cả mọi người dân và tất cả các cơ quan trong bộ máy Nhà nước (Trong đó các cơ quan bảo vệ pháp luật: Công an, thanh tra, Viện kiểm sát, tòa án là lực lượng chủ lực và nồng cốt). Sử dụng hệ thống các biện pháp do pháp luật quy định nhằm phát hiện, đấu tranh ngăn chặn tệ nạn tham nhũng. Đây cũng là hoạt động thường xuyên liên tục một khi còn hiện tượng tham nhũng. Hoạt động này thường được tiến hành khi tham nhũng xảy ra. Việc phát hiện tham nhũng là trách nhiệm của mọi chủ thể đã nêu trên nhưng khác với hoạt động phòng ngừa, trách nhiệm chính của việc đấu tranh chống tham nhũng được giao cho các cơ quan thực thi pháp luật với nhiệm vụ là đấu tranh, ngăn chặn và xử lý các hành vi tham nhũng theo pháp luật, người dân và các cơ quan tổ chức khác chỉ tham gia hổ trợ đồng thời giám sát các cơ quan thực thi pháp luật nhằm đảm bảo xử lý đúng đối tượng, đúng người, đúng tội
Trang 132.1. Lịch sử hình thành:
Hiện tượng tham nhũng bắt đầu khi những người đứng đầu bộ lạc, thị tộc do lòng tham đã lợi dụng uy tín chiếm đoạt của cải dư thừa làm của riêng đây chính là hình thức sơ khai của tham nhũng. Nhưng tham nhũng chỉ trở thành vấn đề của xã hội và phát triển mạnh khi xã hội bắt đầu có giai cấp, nhà nước. Như vậy, trong chế độ cộng xã nguyên thủy không có tham nhũng.
Có nhiều cách giải thích khác nhau để giải thích về nguồn gốc của tham nhũng. Có thể khẳng định rằng tham nhũng xuất hiện từ rất lâu trong lịch sử loài người, từ khi có sự phân chia quyền lực và hình thành Nhà nước. Có ý kiến cho rằng tham nhũng bắt nguồn và phát triển từ nền văn hóa độc tài, đề cao cá nhân và coi trọng biếu xén. Ý kiến khác lại cho rằng, xã hội thay đổi các chuẩn mực về đạo đức và xã hội biến đổi liên tục, nền kinh tế biến đổi mạnh mẽ làm nảy sinh tham
nhũng.
Lịch sử loài người đã trải qua ba lần phân công lao động xã hội lớn, mà mỗi lần xã hội lại có những bước tiến mới. Sau lần phân công lao động xã hội đầu tiên – chăn nuôi tách ra khỏi trồng trọt thành một nền kinh tế độc lập thì những mần mống đầu tiên của chế độ tư hữu xuất hiện, xã hội phân chia thành người giàu, người nghèo. Đến lần phân công lao động lần hai – thủ công nghiệp tách ra khỏi nông nghiệp, nô lệ đã trở thành bộ phận cấu thành chủ yếu của hệ thống xã hội và lần phân công lao động lần thứ ba – Nghành thương nghiệp phát triển, xuất hiện tầng lớp nhân dân. Những thay đổi trên đã làm thay đổi đời sống thị tộc, những xung đột về lợi ích giữa các giai cấp, giữa người giàu và người nghèo diễn ra gay gắt. Xã hội đòi hỏi cần phải có một tổ chức đứng ra giải quyết mâu thuẫn, xung đột
đó, tồ chức đó chính là Nhà nước. Nhà nước ra đời kịp thời giải quyết những mâu thuẫn xung đột đồng thời cũng kế thừa những mầm mống tham nhũng sơ khai. Do
đó căn bệnh tham nhũng tồn tại song song và gắn liền với bộ máy Nhà nước.
Tham tức là tham lam, vơ vét của cải cho mình, còn nhũng là nhũng nhiễu, cũng cùng là mục đích vơ vét của cải. Vơ vét của công và vơ vét của dân, của doanh nghiệp. Tham nhũng đi đôi với Nhà nước, Nhà nước nào cũng có tham nhũng, nhưng chỉ khác nhau ở mức độ và hình thức biểu hiện. Nhưng tại sao nhà nước và công chức lại tham nhũng, đó là vì Nhà nước có quyền lực, và chỉ có những người có chức vụ, quyền hạn mới có thể tham nhũng được. Do đó, quyền lực cũng là một yếu tố hình thành nên tham nhũng.
Về lý thuyết, người ta chia ra ba loại quyền lực: Quyền lực chính trị (tức là của giai cấp cai trị), họ có đủ các hệ thống bảo đảm cho quyền lực của mình, như
Trang 14pháp luật, quân đội, công an, tòa án…; Quyền lực tài chính (các chính phủ nắm tiền trong tay hoặc các tập đoàn tài chính); Quyền lực trí tuệ (quyền lực này có giá trị nhất, cơ bản nhất và lâu bền nhất). Các tập đoàn thống trị dựa vào quyền lực chính trị để thực hiện sự cai trị của mình. Người nắm quyền lục thường nắm luôn nguồn tài chính công, để có thể chi phối việc chi tiêu nguồn tài chính đó (qua đó,
có thể vơ vét). Đồng thời vì quyền lực trí tuệ là cái cao sang nhất, được người đời kính nể nhất, cho nên người nắm quyền lực chính trị thường muốn thể hiện luôn quyền lực của mình trong lĩnh vực trí tuệ, buộc mọi người coi trí tuệ của mình là cao hơn người, khai sáng nhất, buộc mọi người phải nghĩ như mình, nói như mình, không được nói khác, nghĩ khác. Người ta thường nói đến “bệnh quyền lực” như một thứ ma túy có sức cám dỗ rất mạnh không dễ từ bỏ.
Theo lý thuyết, mọi quyền lực đều phải được giám sát, nếu không quyền lực trở thành tuyệt đối, ngày một bành trướng, ảnh hưởng xấu đến sự phát triển của
một xã hội. Từ thế kỷ XVII, Montesqieu đã viết “bất cứ ai có quyền điều có xưu
hướng lạm quyền, họ sử dụng quyền đến khi nào gặp phải giới hạn”. Quyền lực
không bị giám sát thì dễ xảy ra các tệ nạn như độc quyền, cửa quyền, đặc quyền, lạm quyền, tiến quyền (tức là cướp quyền)…Và khi quyền lực đã trở thành một loại hàng hóa, có “thị trường quyền lực”, nơi có thể mua, bán quyền lực, thì thị trường diễn biến rất phức tạp, sôi động, ở nhiều lĩnh vực, nhiều cấp, vì quyền lực đem lại lợi nhuận béo bở (siêu lợi nhuận) như thế, cho nên người ta tranh nhau bỏ tiền ra để mua một chức vụ hoặc một chổ ngồi nào đó (có thể kiếm ra tiền). Sau khi họ đã mua được một vị trí kiếm ra tiền, thì họ lại phải tìm cách “hoàn vốn” và nhất định phải “có lãi” so với số vốn bỏ ra. Như thế, cái “vòng xoáy quyền lực” đó
thường không có điểm dừng.
2.2. Đặc điểm của tham nhũng: Dựa trên khái niệm về tham nhũng chúng ta có thể rút ra 3 đặc điểm chính của tham nhũng như sau:
* Về chủ thể: Chủ thể tham nhũng phải là những người có chức vụ, quyền
hạn hay có trách nhiệm trong việc quản lý một số công việc cụ thể làm việc trong
bộ máy Nhà nước, bộ máy của Đảng chính trị hay trong bộ máy của các tổ chức
kinh tế tư nhân (nếu hiểu tham nhũng theo nghĩa rộng).
* Đặc điểm về mặt hành vi: tham nhũng được thể hiện bằng cách người
thực hiện hành vi lợi dụng chức vụ, quyền hạn, lợi dụng nhiệm vụ, trọng trách cũng như vị trí, địa vị công tác mà mình được giao phó để không làm hoặc làm trái những nguyên tắc quản lý Nhà nước, trái với nội dung công việc được giao, gây thiệt hại đến lợi ích chung của Nhà nước, xã hội, các tổ chức và công dân
Trang 15* Đặc điểm động cơ, mục đích: Thể hiện ở chỗ vụ lợi cá nhân cho bản
thân, cho người thân nhằm mang tính tập thể hoặc cho những người khác, sự vụ lợi
cá nhân về vật chất có thể được hưởng ngay nhưng cũng có thể phải qua khâu trung gian, hoặc chuyển vụ lợi cá nhân cho người thân. Những đặc điểm trên ngoài tác dụng giúp chúng ta nhận diện những hành vi tham nhũng còn là yếu tố trong
cần thiết giúp cho công tác đấu tranh phòng và chống tham nhũng có hiệu qủa hơn. 3.1. Nguyên nhân:
Qua thực tiễn công tác đấu tranh phòng và chống tham nhũng của các nước
và trên thế giới, có thể thấy có nhiều nguyên nhân cũng như ý kiến khác nhau dẫn đến tham nhũng. Nguyên nhân thì có nhiều nguyên nhân như: Nguyên nhân khách quan và nguyên nhân chủ quan, nguyên nhân trực tiếp và nguyên nhân gián tiếp, nguyên nhân phổ biến và nguyên nhân đặc thù. Về ý kiến cũng vậy, có rất nhiều ý kiến nhấn mạnh đến nguyên nhân kinh tế xã hội, Có ý kiến cho rằng do việc quản
lý xã hội còn nhiều nhược điểm,…Sự phân định của tất cả các nguyên nhân và ý kiến trên điều chỉ mang tính chất tương đối chưa phân biệt đầy đủ những nguyên nhân phát sinh. Qua nghiên cứu tổng các ý kiến và xe xét toàn diện vấn chúng ta
thấy có những nguyên nhân cơ bản sau:
Thứ nhất, Tham nhũng nảy sinh do sự biến động mạnh mẽ về chính trị,
kinh tế và xã hội. Về kinh tế, ở các nước đang phát triển, các quốc gia công nghiệp mới, có nơi tham nhũng tràn lan cùng với sự tăng trưởng và bùng nổ của nền kinh
Trang 16và các giấy tờ tương tự. Tham nhũng trong bộ máy chính trị trở thành tục quen thuộc khi chính khách mời chào các tập đoàn kinh tế lớn góp quỹ phục vụ cuộc vận động tranh cử chính trị, để đổi lấy các cơ hội kinh doanh ưu đãi. Về khía cạnh hành chính có quá nhiều những quy định thực tế và không cần thiết định nghĩa và tiêu chuẫn áp dụng không rõ ràng đối với nội dung các quy định, quy tắc, luật lệ, thủ tục hành chính phức tạp, rườm rà, nhu cầu kiếm thêm tiền để bù đắp thu nhập thấp của cán bộ công chức. Hàng loạt các yếu tố về văn hóa cũng góp phần vào tình trạng tham nhũng tràn lan khắp xã hội, trong đó đáng kể là chế độ độc tài, phe cánh, cục bộ và chế độ ủng hộ thiên vị bắt nguồn từ quan hệ cá nhân hay quan hệ nhân thân. Quan hệ thông đồng, cấu kết giữa chính trị gia, quan chức chính phủ và doanh nhân để vụ lợi; kế toán kinh doanh hoặc chi tiêu không rõ ràng, thiếu minh bạch về tài chính. Cơ chế tham nhũng của chế độ Tư Bản điều tiết theo chính phủ hoặc trực tiếp tham gia, hoặc gián tiếp chỉ đạo, hướng dẫn các doanh nghiệp vào các nghành sản xuất. Sự can thiệp của chính phủ vào thị trường, nhất là trong lĩnh vực tài chính, tiền tệ; kết qủa là môi trường điều tiết trở thành mảnh đất màu mỡ cho tham nhũng, có rất nhiều cơ hội mờ ám, sự gia tăng các khoản lợi bất chính và rủi ro, khi phát hiện tham nhũng thì chế tài trừng trị bởi tội tham nhũng còn thấp.
Do đó, khu vực kinh doanh dể phát sinh tham nhũng có thể được xem là sự liên kết giữa Nhà nước và trùm Tư Bản.
Ở những nước chậm phát triển hoặc đang phát triển, những biến động thay đổi lớn về chính trị đã làm đảo lộn trật tự xã hội, kinh tế bị đình đốn kém phát triển, kỹ cương xã hội bị buông lỏng đã tạo cơ sở để nảy sinh tham nhũng. Sự tăng trưởng không đồng điều về mặt kinh tế, sự quản lý thiếu chặt chẽ trong các lĩnh vực xã hội làm cho tệ nạn tham nhũng phát triển mạnh mẽ. Những nước khi bắt đầu công cuộc cải cách kinh tế, chuyển đổi cơ cấu kinh tế và cơ chế quản lý bộ máy, quản lý hành chính củ kỹ, quan liêu, mệnh lệnh không thỏa mản yêu cầu phát triển của các thành phần kinh tế và các nhân tố mới càng tạo tiền đề cho tham nhũng phát triển.
Xu thế toàn cầu hóa về kinh tế, trao đổi thương mại và sự luân chuyển các nguồn tài chính và “rửa tiền” cũng là yếu tố làm nghiêm trọng thêm tình trạng tham nhũng. Những nước nghèo, lạc hậu, đời sống nhân dân thấp kém, chiến tranh sắc tộc, tôn giáo xảy ra triền miên, bộ máy Nhà nước bị quân sự hóa , độc đoán chuyên quyền cũng là mảnh đất màu mỡ để tham nhũng có cơ hội phát triển
Trang 17Thứ hai, Do cơ chế 4 quản lý nhà nước trên các lĩnh vực của đời sống xã hội còn yếu kém đây là những lĩnh vực rất quan trọng và có rất nhiều ý kiến khác nhau
về nguyên nhân dẫn đến tham nhũng, có ý kiến cho rằng nguyên nhân chủ yếu nhất sinh ra tệ nạn tham nhũng đó là: cơ chế quản lý kinh tế, quản lý xã hội; cơ chế tiền lương; cơ chế chi tiêu thanh toán; cơ chế đào tạo và tuyển chọn cán bộ; cơ chế thanh tra, kiểm tra…Cụ thể như: cơ chế “xin cho”, các chương trình, dự án, nguồn vốn đầu tư, nguồn vốn tín dụng ưu đãi, vốn ODA,…còn tồn tại ở không ít nơi. Cơ chế đầu tư xây dựng cơ bản, quản lý đất đai, vốn, tài sản Nhà nước, tài sản doanh nghiệp, hoạt động xuất, nhập khẩu chưa chặt chẽ. Việc thực hiện chế độ, chính sách thiếu công khai, minh bạch. Hoạt động thu, chi tài chính, tuyển dụng,
đề bạt, tuyển dụng cán bộ chưa nghiêm.
Từ cơ chế kế hoạch hóa tập trung chuyển sang cơ chế thị trường định hướng
xã hội chủ nghĩa. Nhà nước ta đang đổi mới cơ chế, phương pháp quản lý bằng những công cụ chính sách và pháp luật nhằm giữ vững mục tiêu: dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Tuy nhiên do mới xây dựng nền kinh
tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, cơ chế quản lý kinh tế xã hội chưa hoàn thiện, còn không ít sơ hở. Những cơ chế này thiếu đồng bộ, thiếu chặt chẽ không thống nhất, thậm chí còn chồng chéo lên nhau. Cơ chế hiện nay chưa phù hợp và dẫn đến phát sinh tiêu cực nhất là cơ chế tiền lương và thu nhập của cán bộ, công chức. Tiếp theo là cơ chế chi tiêu thanh toán phổ biến dùng tiền mặt, khiến cho việc ăn cắp công qũy khá dễ, và dù sau nữa nhưng cũng quan trọng không kém
là cơ chế đề bạt cất nhắc cán bộ thiếu công khai, minh bạch dễ dẫn đến tệ mua bán tước, chạy quyền chạy chức.
Cơ chế là một nguyên nhân rất quan trọng vì mỗi cơ chế hình thành là do một điều kiện kinh tế xã hội quy định. Khi điều kiện kinh tế xã hội thay đổi thì cơ chế cũng phải thay đổi theo để thích ứng. Ở nước ta khi điều kiện kinh tế xã hội có những khủng hoảng, biến động, kinh tế khó khăn xã hội mất ổn định buộc chúng ta phải tiến hành cải cách mở cửa chuyển đổi cơ chế, từ cơ chế quản lý hành chính quan liêu 5 sang cơ chế quản lý thị trường. Chính trong giai đọan chuyển đổi này khi cơ chế cũ chưa mất đi, cơ chế mới đang được xây dựng chưa hoàn thiện (cơ chế quản lý kinh tế, xã hội còn nhiều sơ hở, lỏng lẻo do đang trong giai đoạn đầu chuyển đổi nền kinh tế xã hội) dẫn tới tình trạng rất nhiều người, rất nhiều vị trí
4
Cơ chế là một cách thức theo đó một quá trình thực hiện – Từ điển tiếng việt, NXB Đà Nẵng 1998 tr207.
5
Theo từ điển tiếng việt, tr.771 thì quan liêu là cách thức lãnh đạo, chỉ đạo thiên về dùng mệnh lệnh, giấy tờ, xa rời thật tế, xa quần chúng. Theo Chù tịch Hồ Chí Minh tệ quan liêu là
nguồng góc của tham nhũng, lãng phí. Bác nói:“ có nạn tham ô, lãng phí là vì bệnh quan liêu”
Trang 18công việc người ta có thể dễ dàng chiếm đoạt tiền bạc, của cải, tài sản của Nhà nước, của nhân dân làm của riêng. Điều đó tạo môi trường thuận lợi cho tệ tham
nhũng phát triển.
Thứ ba, Tham nhũng nảy sinh do sự độc quyền và lũng đoạn của các tập
đoàn kinh tế, chính trị, nó là hệ qủa của sự độc đoán chuyên quyền, sự tham lam của sự cầm quyền. Ở những nước kinh tế phát triển, thường xảy ra những vụ tham nhũng lớn với sự cấu kết của một số nhà chính trị và giới tài phiệt. Thậm chí còn
có sự tham gia của băng nhóm tội phạm. Đó là sự tham lam của những người có thế lực, sự lũng đoạn của các tập đoàn kinh tế, chính trị. Ở những nước đang phát triển, do nhu cầu cần vốn đầu tư nước ngoài và đổi mới thiết bị công nghệ để công nghiệp hóa đất nước, nhưng hệ thống pháp luật không đủ, năng lực quản lý kinh tế yếu kém dẫn đến làm tăng nguy cơ tham nhũng, gây nên thất thoát vô cùng to lớn
cho sự phát triển của đất nước.
Thứ tư, Tham nhũng nẩy sinh do sự yếu kém của cơ quan bảo vệ pháp luật
trong việc phát hiện và xử lý hành vi tham nhũng. Sự yếu kém và hạn chế này một mặt là do: Lãnh đạo của các cơ quan bảo vệ pháp luật (Công an, kiểm sát, tòa án,…) Chưa quan tâm đúng mức đến việc chỉ đạo xây dựng hoàn thiện cơ cấu tổ chức, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, quy chế của đơn vị và ngành mình; chưa tăng cường đúng mức cán bộ có bản lĩnh vững vàng, phẩm chất đạo đức tốt, tinh thần trách nhiệm cao vào các vị trí chủ chốt của đơn vị, ngành. Nhận thức, quan điểm đối với việc phát hiện, xử lý hành vi tham nhũng chưa kiên quyết và thống nhất; cơ chế phối hợp giữa các cơ quan bảo vệ pháp luật chưa hoàn thiện, rõ ràng; lực lượng cán bộ mỏng, có nhiều hạn chế về trình độ chuyên môn, nghiệp vụ.
Một mặt, do điều kiện kinh tế của đất nước còn khó khăn nên điều kiện trang bị kỹ thuật phục vụ công tác đấu tranh phòng chống tham nhũng còn thiếu thốn và lạc hậu. Một lý do nữa rất quan trọng đó là cơ chế hoạt động của các cơ quan bảo vệ pháp luật: Cơ chế “ Song trùng” trực thuộc tức là các cơ quan này (trừ nghành kiểm sát) ngoài việc chịu sự lãnh đạo dọc theo nghành của Bộ chủ quản (Cơ quan cấp trên trực tiếp chỉ đạo) vì chịu sự lãnh đạo của chính quyền địa phương cùng cấp. Chẳng hạn như ngành công an là lực lượng chủ lực trong cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng (Bộ công an giao nhiệm vụ phòng ngừa và đấu tranh chống tham nhũng cho lực lượng cảnh sát điều tra tội phạm kinh tế và chức vụ) vừa chịu sự lãnh đạo của Bộ công an vừa phải chịu sự chỉ đạo của chính quyền địa phương cùng cấp mà các vụ tham nhũng thường do quan chức chính quyền hay những kẻ tham nhũng có mối quan hệ với các quan chức trong chính quyền địa phương từ huyện đến tỉnh. Và chính những quan chức tỉnh, huyện này là
Trang 19Đó chính là những “Lực cản vô hình” rất mạnh (nhưng rất ít có dấu vết) làm cho lãnh đạo công an tỉnh, huyện “ không giám điều tra” hoặc không điều tra được tham nhũng. Vì vậy, mà khả năng phát hiện và xử lý những hành vi tham nhũng của các cơ quan bảo vệ pháp luật bị hạn chế, bọn tội phạm tham nhũng không bị
phát hiện sẽ ngày càng lộng hành.
Thứ năm, Tham nhũng do công tác tuyên truyền pháp luật chưa nhiều, chủ
yếu mang tính hình thức, mang lại kết qủa thiết thực chưa cao, vẫn nặng về khâu thành tích. Do công tác tuyên truyền pháp luật cho các tầng lớp nhân dân còn yếu kém, mang nặng tính hình thức. Điều này dẫn tới việc hiểu biết về pháp luật, về quyền và nghĩa vụ công dân của người dân còn kém, nhiều người dân không biết, không hiểu rõ mình có những quyền và nghĩa vụ gì. Đa số người dân chưa hiểu rõ, thậm chí không hiểu một điều là việc thực hiện những công việc hành chính theo yêu cầu của nhân dân là nhiệm vụ của cán bộ, công chức Nhà nước. Không hiểu rằng phục vụ nhân dân là nghĩa vụ của cán bộ, công chức. Không biết rằng trong
chế độ ta “Cán bộ, công chức là công bộc của nhân dân” .
Cụ thể công tác tuyên truyền, giáo dục về đấu tranh chống tham nhũng chưa được chỉ đạo thường xuyên, chưa huy động được sức mạnh của toàn xã hội tố giác các hành vi tham nhũng, chưa tạo được dư luận xã hội phê phán, lên án mạnh mẽ những cán bộ có chức, có quyền tham nhũng. Việc biểu dương người tốt, việc tốt, người có công trong cuộc đấu tranh chống tham nhũng làm chưa tốt. Chính những
điều này là nguyên nhân, cũng là điều kiện thuận lợi cho nạn tham nhũng tồn tại. 3.2. Hậu qủa của hành vi tham nhũng:
Tham nhũng hiện nay đang là vấn đề nhức nhối của hầu hết các quốc gia trên thế giới, không phân biệt nước giàu hay nghèo, theo chế độ chính trị nào. Nó
là căn bệnh ác tính của cả loài người, là tệ nạn của mọi tệ nạn ở khắp các quốc gia,
có sức tàn phá và lực cản lớn đối với sự phát triển của mỗi quốc gia.
Tham nhũng làm chậm sự phát triển về kinh tế của đất nước, là nguy cơ làm cho nước ta bị tuộc hậu xa hơn về kinh tế. Tham nhũng làm thất thoát đáng kể ngân sách Nhà nước, tiền đóng góp từ mồ hôi, nước mắt của nhân dân. Theo số liệu thống kê thì tổng số tiền thiệt hại do tham nhũng gây ra trên cả nước tính từ 1/10/2006 đến 1/10/2007 là 286 tỷ đồng, tổng số vụ án bị khởi tố là 406 với 826 bị can về các hành vi tham nhũng. Hiện các cơ quan chức năng mới thu hồi được 70
tỷ đồng. Trong số các vụ án khởi tố, tội tham ô chiếm tới 56,1%. Vụ Bùi Tiến Dũng, nguyên Tổng giám đốc PMU18, cơ quan điều tra xác định tham ô hết hơn 3
Trang 20112, các đối tượng cũng tham ô nhiều tỷ đồng. Trong khi đó, số vụ việc sai phạm
về kinh tế (trong đó có tham nhũng) do hệ thống thanh tra phát hiện lớn hơn nhiều. Trong thời gian trên, ngành thanh tra phát hiện sai phạm 2.870 tỷ đồng, 1,24 triệu USD và 880 ha đất. Cơ quan thanh tra đã kiến nghị thu hồi 1.200 tỷ đồng và 880
ha đất, xử lý kỷ luật 1.464 cán bộ sai phạm; chuyển hồ sơ sang cơ quan điều tra xử
lý 52 vụ với 89 đối tượng 6 ; Còn theo báo cáo kết qủa phòng, chống tham nhũng của ban phòng, chống tham nhũng tỉnh Cà Mau 7 , từ ngày 01/6/2006 đến ngày 01/6/2008, Ngành Thanh tra tỉnh Cà Mau đã triển khai thanh tra kinh tế xã hội
122 cuộc, đã kết thúc 115 cuộc, hiện còn 07 cuộc đang tiến hành thanh tra. Qua thanh tra, phát hiện sai phạm về tài chính với số tiền 57.525.843.912 đồng; trong đó: số tiền liên quan đến tham ô là 1.878.295.883 đồng. Đã tiến hành thu hồi số tiền 937.305.932 đồng. Cơ quan Công an đã khởi tố điều tra 10 vụ, có 27 bị can (tội danh tham ô tài sản), tài sản thiệt hại 2.318.424.400 đồng; đã thu hồi được 618.000.000 đồng.
Qua các số liệu trên cho thấy tham nhũng gây thiệt hại vô cùng lớn cho nền kinh tế, nó làm thay đổi mọi lĩnh vực trong trong xã hội như kinh tế, luật pháp quốc gia, dân chủ, luân lý, giáo dục vv…Những tổn thất do tham nhũng gây nên thật khó đo lường cho hết, những tổn thất thuộc về vật chất như: Cản trở đầu tư nước ngoài; Thất thoát vốn đầu tư trong nước; Giảm tốc độ làm việc, sản xuất; Giá sản phẩm đắt hơn thực tế, lương tăng theo nhịp độ giá hàng hóa, sức cạnh tranh với nước ngoài yếu hơn; Phá hủy chỗ làm, thất nghiệp cao; Nợ quốc gia tăng qúa mức thực tế; Hạn chế phát triển kinh tế.
Tham nhũng không những lũng đoạn xã hội về mặt vật chất mà còn phá hoại xã hội về mặt tinh thần như: Nhân tài không được trọng dụng dẫn đến tình trạng thất thoát ra nước ngoài (chảy máu chất xám); Gia tăng tệ nạn xã hội; Luật pháp quốc gia bị lũng đoạn; Nền tảng xã hội bị hủy hoại, đạo đức bị suy đồi; Phản giáo dục, làm gương xấu cho những thế hệ sau. Những tác hại về mặt tinh thần nêu trên là điều kiện cơ bản cho sự phát triển một xã hội lành mạnh và cũng là điều
Trang 21tư. Trong quá khứ, xác xuất thất thoát tài sản đầu tư ở những nước do tham nhũng gây nên không phải là những con số khiêm tốn. Kết qủa của nhiều cuộc tham khảo
đã khẳng định sự tương quan, đồng thuận giữa tham nhũng và đầu tư nước ngoài
những nơi có mức tham nhũng cao thì đầu tư nước ngoài thấp.
* Tham nhũng làm thất thoát vốn đầu tư trong nước:
Để có thể che dấu hành động tham nhũng và cũng nhằm bảo đảm tài khoản tham nhũng được, những nhân vật tham nhũng thường chuyển tài khoản này ra nước ngoài. Có người lập những tài khoản bí mật tại Thụy sĩ, Luxembourg v.v Có người dùng tiền tham nhũng lập những thương nghiệp, xí nghiệp ở nước ngoài với chủ nhân là những người thân tín. Nếu tài khoản này không bị chuyển ra nước ngoài sẽ được dùng chi phí cho các dự án, đầu tư ở trong nước để phát triển kinh
tế, tạo công ăn việc làm cho người dân.
* Tham nhũng làm giảm tốc độ làm việc, sản xuất:
Để có thể nhận được tiền hối lộ, những người có chức, có quyền phải kéo dài thời gian giải quyết công việc, đòi hỏi phải có thủ tục (nhưng thật chất không cần thiết),… để người “trong cuộc” phải trả tiền. Những dự án không có tham nhũng, mọi thành viên của dự án gắn sức đạt kết qủa cao về số lượng cũng như về phẩm chất, trong khi những dự án có tham nhũng ỷ lại, làm qua loa cho có lệ vì
“đút tiền là xong!”. Mối tương quan giữa sản xuất và tham nhũng là: “Những nơi
có tham nhũng cao mức độ sản xuất thấp”, ngược lại “những nơi có tham nhũng thấp ở đó mức độ sản xuất cao”. Giá sản phẩm sẽ đắt hơn, lương tăng theo nhịp độ
giá hàng hóa, sức cạnh tranh với nước ngoài yếu hơn.
Tốc độ làm việc giảm ảnh hưởng đến số lượng và chất lượng sản phẩm sản xuất cũng như dịch vụ, mặt khác tiền trả cho tham nhũng làm tăng thêm phí tổn sản xuất. Số luợng sản xuất giảm, chất lượng kém hơn trước, tổn phí sản xuất tăng, những sự kiện này làm tăng gía sản phẩm nhưng với chất lượng kém hơn trước đây, sức cạnh tranh với những quốc gia khác do đó cũng yếu hơn trước. Vật giá gia tăng nhanh, lạm phát ngày càng cao hơn, lưong nhân công cũng phải tăng phù hợp với vật giá. Nếu lương không tăng kịp với vật gía, đời sống của công, nhân viên bị giảm xuống, đến một mức độ nào đó sẽ xảy ra những cuộc đấu tranh gay gắt. Một khi có những cuộc đấu tranh gay gắt xảy ra, lương trả cho công nhân viên sẽ tăng nhảy vọt vì không những điều chỉnh những khác biệt của hiện tại mà còn trong quá khứ. Lương tăng, sản phẩm cũng phải tăng cho phù hợp, người tham nhũng đòi hỏi
Trang 22* Tham nhũng làm hạn chế phát triển kinh tế:
Khi những điều kiện cho sự phát triển kinh tế bị hủy diệt như: Vốn trong nước bị thất thoát ra nước ngoài, thu hút vốn từ nước ngoài đầu tư nhỏ giọt, lương nhân công cao, giá sản phẩm cao, sức cạnh tranh với nước ngoài yếu vv… kinh tế trong nước sẽ chậm phát triển hay có thể gây khủng hoảng kinh tế như trường hợp nhiều nước trên thế giới
Trang 23* Nhân tài không được trọng dụng dẫn đến tình trạng thất thoát nhân tài ra nước ngoài, cản trở phát triển khoa học kỹ thuật:
Khi tốt nghiệp ra trường, ngoài tiền “bồi dưỡng” phải quen biết lớn mới có chỗ làm tốt, phù hợp sở thích. Trong hoàn cảnh như vậy, nhân tài khó có thể phát triển, nếu có phát triển được nhưng không quen biết và không có tiền để hối lộ cũng không được trọng dụng nên họ thường làm việc không đúng ngành. Những người khá hơn, may mắn hơn sẽ kiếm được việc trong các công ty nước ngoài. Sự thất thoát nhân tài không chỉ thất thoát thông thường mà qua đó nó làm cản trở phát triển khoa học kỹ thuật phát triển kinh tế mà còn làm tăng thất nghiệp trong nước. Vì chuyên gia rất cần thiết cho một công việc (họ được ví như thuyền trưởng trên một con tàu) số lượng chuyên gia cần sử dụng tùy thuộc vào dự án lớn hay nhỏ, có nhiều dự án lớn cần thiết nhiều nghìn người.
Mặt khác, các công ty nước ngoài mạnh về năng lực tài chính, do “kinh nghiệm” trong lĩnh vực hối lộ nên những công ty này thường thắng thầu trong các
dự án. Các công ty trong nước do không có nhiều hợp đồng nên không có điều kiện, tài chính cho những công trình nghiên cứu rộng lớn và thu thập kinh nghiệm
nghề nghiệp.
* Tăng trưởng tệ nạn xã hội:
Để công việc không bị cản trở những kẻ phạm pháp tìm cách mua chuộc cán bộ, công chức (những người có nhiệm vụ, quyền hạn). Nếu những cán bộ, viên chức này tham nhũng thì hành vi của những kẻ phạm pháp được che chở và trở thành “hợp pháp hoá”. Người dân hàng ngày chứng kiến những hành vi phạm pháp nhưng không bị trừng phạt, dần dần mọi người quen thuộc với những hành vi này
và cuối cùng hành vi hối lộ được công nhận trong xã hội. Kết qủa của nhiều bài tham khảo đưa đến kết luận rằng, tham nhũng là một trong những nguyên nhân
chính làm tăng trưởng tệ nạn xã hội.
* Tham nhũng làm luật pháp quốc gia bị lũng đoạn:
Khi những người có chức vụ, quyền hạn có hành vi nhận hối lộ thì những cán bộ, viên chức đã vi phạm pháp luật, sau khi nhận hối lộ thì những người có nhiệm vụ quyền hạn này sẽ không vô tư trong khi thi hành công vụ, họ sẵn sàng ra những quyết định, ban hành những văn bản không thuộc thẩm quyền trái với pháp luật. Do đó, họ tự lập ra pháp luật và áp dụng chúng thay vì luật pháp quốc gia hiện hành. Nếu trong một quốc gia có 1 triệu viên chức tham nhũng, trong quốc gia đó sẽ có 1 triệu cơ quan lập pháp và hành pháp tư nhân được thực dụng, trong lúc cơ quan lập pháp và hành pháp chính thức của quốc gia chỉ là bù nhìn
Trang 24* Tham nhũng làm xã hội bị hủy hoại, đạo đức bị tàn phá:
Tham nhũng làm mất lòng tin của nhân dân vào cơ cấu, thể chế của xã hội, thậm chí dẫn đến đổ vỡ hoàn toàn một cơ cấu xã hội nhất định hoặc dẫn tới tình trạng vô chính phủ. Có nhà nghiên cứu cho rằng đây là hình ảnh của sự phá hủy dần dần. Tham nhũng làm xói mòn phẩm chất, đạo đức cách mạng, tha hóa và làm hỏng bộ phận không nhỏ cán bộ, Đảng viên, gây nên sự bất bình từ phía nhân dân, làm giảm sút lòng tin của nhân dân đối với Đảng và Nhà nước. Theo báo cáo cáo của Bộ Công an từ năm 1993 đến 2005, đối tượng tham nhũng lại là những người đang giữ chức vụ rất cao trong các cơ quan quản lý Nhà nước. Đã có 1 bộ trưởng,
5 thứ trưởng, 14 chủ tịch và phó chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh cùng hàng trăm vụ trưởng, tổng giám đốc đã bị xử lý hình sự, hàng trăm cán bộ trung, cao cấp liên quan đến tham nhũng, buôn lậu bị xử lý hành chính 8 .
* Tham nhũng làm phản giáo dục, làm gương xấu cho những thế hệ sau:
Từ khi còn nhỏ các em đã chứng kiến những hành vi biếu xén quà cáp, hối lộ nhằm “biến” hành vi bất hợp pháp trở thành hành vi hợp pháp của cha mẹ, người thân,… Khi đến trường phải tặng quà, phải đi học thêm ở nhà thầy, cô mới được điểm cao… Những tục lệ này được làm quen với các em từ tuổi thơ nên đối với các em là chuyện bình thường, dẫn đến quan niệm lệch lạc trong cuộc sống:
“có tiền mua Tiên cũng được”, học sinh đương nhiên trở thành “khách hàng” của
giáo viên vì “khách hàng là vua” nên học sinh không nhất thiết phải cố gắng học hành nhưng vẫn được điểm cao. Khi lớn lên các em sẽ bắt chước người lớn phạm pháp vì “cha mẹ chúng sẽ dùng tiền biến mọi việc không thành có”.
8
Báo An ninh thế giới, số 487 (17/09/2005)
Trang 25Chương 2: CƠ SỞ PHÁP LÝ VỀ NHỮNG BIỂU HIỆN
CỦA THAM NHŨNG
1. QUI ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ CÁC HÀNH VI THAM NHŨNG:
Nhận thức được tính chất đặc biệt nghiêm trọng của nạn tham nhũng, do đó Đảng và Nhà nước ta đã đề ra nhiều chủ trương, biện pháp nhằm ngăn chặn và bài trừ tham nhũng. Theo luật pháp hiện hành của nước ta hiện nay tham nhũng chủ yếu được qui định cụ thể trong hai đạo luật quan trọng là Bộ luật hình sự 1999 và Luật phòng, chống tham nhũng 2005. Bên cạnh đó những biện pháp phòng ngừa hành vi tham nhũng cũng được quy định trong các văn bản khác như: Luật khiếu
nại tố cáo; Luật hoạt động giám sát của Quốc hội; pháp lệnh cán bộ, công chức… 1.1. Theo Bộ luật Hình Sự 1999:
Các hành vi tham nhũng được ghi nhận trong chương XXI các tội phạm về chức vụ tại mục A các tội phạm về tham nhũng. Mục A có 7 Điều luật ứng với 7 hành vi tham nhũng: Tham ô tài sản; Nhận hối lộ; Lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản; Lợi dụng chức vụ quyền hạn khi thi hành công vụ; Lạm quyền trong khi thi hành công vụ; Lợi dụng chức vụ, quyền hạn gây ảnh hưởng đối với người khác để trục lợi; Giả mạo trong công tác. Đây là những hành vi phạm tội bị
xử lý rất nghiêm khắc với khung hình phạt được áp dụng cao nhất là tử hình.
Nói đến tham nhũng là nói đến việc lạm dụng chức vụ, quyền hạn. Người lạm dụng chức vụ, quyền hạn được nói đến trong phần các tội phạm về tham nhũng này là những người đã qua quyết định bổ nhiệm của lãnh đạo cơ quan Nhà nước, do bầu cử, do hợp đồng hoặc do hình thức khác, có hưởng lương hoặc không hưởng lương, được giao thực hiện những công vụ nhất định và có quyền hạn nhất định khi thực hiện công vụ. Những người được giao thực hiện công vụ thường xuyên, lâu dài, hoặc chỉ được giao trong một thời gian nhất định và có quyền hạn nhất định trong khi thực hiện công vụ.
Các hành vi tham nhũng đã được quy định rõ trong từng điều luật với những dấu hiệu đặc trưng được mô tả đầy đủ để chúng ta nhận biết rõ ràng từng hành vi
Trang 26Trách nhiệm quản lí tài sản cần được phân biệt với trách nhiệm bảo vệ đơn thuần của những người làm công việc bảo vệ ở cơ quan Nhà nước, doanh nghiệp Nhà nước hay hợp tác xã. Những người này hoàn toàn không liên quan đến tài sản
+ Dấu hiệu: Hành vi lợi dụng chức vụ quyền hạn, quyền hạn chiếm đoạt tài
sản mà mình có trách nhiệm quản lí cấu thành tội tham ô khi có một trong các dấu hiệu sau: Gía trị tài sản chiếm đoạt từ năm trăm nghìn đồng trở lên; Gây hậu qủa nghiêm trọng; Đã bị xử lí kỷ luật về hành vi này mà còn vi phạm; đã bị kết án về một trong các tội được quy định từ Điều 278 đến Điều 284, chưa được xóa án tích
mà còn vi phạm.
9
Trường hợp tuy chỉ là bảo vệ nhưng do đặc điểm của tài sản được bảo vệ, họ có khả năng tiếp cận trực tiếp với tài sản nên họ được coi như người tạm thời qủan lí tài sản khi người qủan lí chính thức vắng mặt. Ví dụ: Bảo vệ nông sản, thủy sản đang phơi…. Trong trường hợp này họ có thể trở thành chủ thể của tội tham ô.
Trang 27Có một số trường hợp tài sản bị chiếm đoạt dưới năm trăm nghìn đồng nhưng vẫn cấu thành tội tham ô như: Người chiếm đoạt đã bị xử lí kỷ luật về hành
vi này mà còn tái phạm; Chiếm đoạt tài sản dưới năm trăm nghìn nhưng gây hậu qủa nghiêm trọng …
Mặt chủ quan của tội phạm: Lỗi của người phạm tội là lỗi cố ý trực tiếp,
tức là hành vi này được thực hiện khi người phạm tội nhận thức được hành vi của mình, thấy trước hậu qủa và mong muốn hậu qủa đó xảy ra. Mục đích là dấu hiệu
Mặt chủ quan của tội phạm: Động cơ của người phạm tội là động cơ tư
lợi. Người phạm tội mong muốn lợi ích vật chất cho mình hoặc cho người khác mà mình quan tâm. Lỗi của người phạm tội là lỗi cố ý trực tiếp. Người phạm tội ý thức được việc mình làm là trái pháp luật nhưng vì động cơ tư lợi nên vẫn làm và qua
đó gây thiệt hại cho xã hội.
1.1.3. Điều 280. Tội lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản:
* Khái niệm:
Tội lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản là hành vi của người có chức vụ, quyền hạn đã vượt ra ngoài phạm vi quyền hạn của mình chiếm đoạt tài
sản của người khác.
* Dấu hiệu pháp lí:
Trang 28 Chủ thể của tội phạm: Chủ thể của tội này là chủ thể đặc biệt – người có chức vụ, quyền hạn.
Mặt khách quan của tội phạm: Người phạm tội lạm dụng chức vụ, quyền
hạn chiếm đoạt tài sản của người khác, trước hết phải là người có hành vi lạm dụng chức vụ, quyền hạn của mình. Lạm dụng chức vụ,quyền hạn là hành vi vượt quá quyền hạn của mình, làm trái công vụ để chiếm đoạt tài sản của người khác. Theo đó người có chức vụ, quyền hạn chỉ là chủ thể của tội phạm này khi họ lạm dụng chức vụ quyền hạn mà họ có. Nếu họ không lạm dụng mà chỉ lợi dụng chức
vụ, quyền hạn để chiếm đoạt tài sản thì nếu chiếm đoạt tài sản thuộc sở hữu nhà nước thì sẽ cấu thành tội tham ô, nếu chiếm đoạt tài sản thuộc sở hữu cá nhân, tổ chức thì có thể cấu thành tội cưỡng đoạt tài sản hay các tội xâm phạm sở hữu khác.
xã hội, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, do vụ lợi hoặc động cơ cá nhân
có những quyền gì. Nếu trong khi thi hành công vụ họ đã thực hiện vượt quá giới hạn cho phép là lạm dụng chức vụ quyền hạn mà không phải lợi dụng chức vụ quyền hạn là dựa vào điều kiện thuận lợi do chức vụ, quyền hạn đem lại làm trái công vụ để trục lợi cá nhân đây là điểm phân biệt giữa lợi dụng và lạm dụng. Tội phạm hoàn thành khi chủ thể có hành vi làm trái công vụ gây thiệt hại. Về hậu qủa, người có chức vụ, quyền hạn, lợi dụng chức vụ, quyền hạn phải gây thiệt hại cho lợi ích của Nhà nước, tổ chức xã hội, quyền lợi ích hợp pháp của công dân. Khác
Trang 29với tội phạm khác, hậu qủa của lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ gây thiệt hại cho lợi ích Nhà nước, tổ chức xã hội, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân là dấu hiệu bắt buộc. Ngoài thiệt hại cho lợi ích Nhà nước, tổ chức xã hội, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, là dấu hiệu bắt buộc, thì còn
có những hậu qủa khác không phải là dấu hiệu bắt buộc nhưng trong một số trường hợp nó là yếu tố định khung hình phạt như: Hậu qủa nghiêm trọng, rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng. Trong đó, có những thiệt hại vật chất và phi vật chất.
Mặt chủ quan của tội phạm: Lỗi của người phạm tội là lỗi cố ý trực tiếp.
Động cơ phạm tội là động cơ vụ lợi hoặc động cơ cá nhân khác. Động cơ vụ lợi là động cơ mưu cầu lợi ích vật chất cho mình hoặc cho người khác mà mình quan tâm. Động cơ cá nhân khác có thể là động cơ cũng cố địa vị, uy tín cá nhân hoặc
quyền lực cá nhân mà không mưu cầu lợi ích vật chất.
1.1.5. Điều 282. Tội lạm quyền trong khi thi hành công vụ:
* Khái niệm:
Tội lạm quyền trong khi thi hành công vụ là hành vi của người có chức vụ, quyền hạn vì vụ lợi hoặc động cơ cá nhân khác đã vượt quá quyền hạn của mình làm trái công vụ gây thiệt hại cho lợi ích của Nhà nước, của xã hội, quyền, lợi ích
ích vật chất khác.
* Dấu hiệu pháp lí:
Trang 30 Chủ thể của tội phạm: Chủ thể của tội này là chủ thể đặc biệt – Người có chức vụ, quyền hạn.
Mặt khách quan của tội phạm: Hành vi của người có chức vụ, quyền hạn dùng ảnh hưởng của mình thúc đẩy người có chức vụ, quyền hạn khác làm hoặc không làm một việc thuộc trách nhiệm hoặc liên quan trực tiếp đến công việc của
họ hoặc làm một việc không được phép làm. Đây cũng là dấu hiệu phân biệt tội này với tội nhận hối lộ. Nếu như trong tội nhận hối lộ, người có chức vụ, quyền hạn làm hoặc không làm một việc theo yêu cầu của người đưa hối lộ thì trong tội này người có chức vụ, quyền hạn lại dùng ảnh hưởng của mình thúc đẩy, tác động người có chức vụ, quyền hạn khác để người này làm theo yêu cầu của người đưa hối lộ. Trong thực tế, người có ảnh hưởng đối với ngưuời có chức vụ thường là người có chức vụ cao hơn. Tuy nhiên cũng có trường hợp người có ảnh hưởng chỉ
Trang 31vụ, quyền hạn vào giấy tờ, tài liệu. Đối tượng của tội giả mạo trong công tác là giấy tờ, tài liệu của cơ quan Nhà nước, tổ chức xã hội…
Mặt chủ quan của tội phạm: Lỗi của người phạm tội là lỗi cố ý trực tiếp (Người phạm tội nhận thức được hành vi của mình và mong muốn hậu qủa đó xảy
ra).
1.2. Theo Luật phòng chống tham nhũng 2005:
Theo quy định của luật phòng, chống tham nhũng 2005 có tất cả 12 hành vi tham nhũng được quy định tại Điều 3 với 12 khoản theo thứ tự sau:
9. Lợi dụng chức vụ, quyền hạn sử dụng trái phép tài sản của Nhà nước vì vụ lợi.
10. Nhũng nhiễu vì vụ lợi.
11. Không thực hiện nhiệm vụ, công vụ vì vụ lợi.
12. Lợi dụng chức vụ, quyền hạn để bao che cho người có hành vi vi phạm pháp luật vì vụ lợi; cản trở, can thiệp trái pháp luật vào việc kiểm tra, thanh tra, kiểm toán, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án vì vụ lợi.
Trong 12 loại hành vi tham nhũng nêu trên, thì có 7 loại hành vi đầu (Từ khoản 1 đến khoản 7) đã được quy định cụ thể, chi tiết trong Bộ Luật Hình Sự
1999 (Từ Điều 278 đến Điều 284), 5 loại hành vi sau (Từ khoản 8 đến khoản 12) là
Trang 32những hành vi đã phát sinh trong xã hội và đang trở nên phổ biến, cần được quy định cụ thể làm cơ sở pháp lý cho việc xử lý. Bảy loại hành vi đầu tiên đã được phân tích làm rõ ở phần các quy định của Bộ Luật Hình Sự 1999, vì vậy trong phần này người viết chỉ phân tích và làm rõ 5 loại hành vi sau (Từ khoản 8 đến
khoản 12).
Chủ thể chung của các hành vi này: Là người có chức vụ, quyền hạn
gồm: Cán bộ, công chức, viên chức; Sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân; sĩ quan, hạ sĩ quan nghiệp vụ, sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên môn kỹ thuật trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân; Cán bộ lãnh đạo, quản lý trong doanh nghiệp của Nhà nước; cán bộ lãnh đạo, quản lý là người đại diện phần vốn góp của Nhà nước tại doanh nghiệp; Người được giao thực hiện nhiệm vụ, công vụ có quyền hạn trong khi thực hiện nhiệm vụ, công vụ đó 10 .
1.2.1. Hành vi đưa hối lộ, môi giới hối lộ được thực hiện bởi người có chức vụ, quyền hạn để giải quyết công việc của cơ quan, tổ chức, đơn vị hoặc địa
phương vì vụ lợi:
* Chủ thể thực hiện hành vi: Như vậy chỉ những đối tượng nêu trên khi thực
hiện hành vi đưa hối lộ và môi giới hối lộ mới bị coi là tham nhũng còn các đối tượng khác khi thực hiện hành vi này thì tùy mức độ mà có thể bị xử lý hành chính hay xử lý hình sự về tội đưa hối lộ (Theo Điều 289 Bộ Luật Hình Sự 1999) hay tội
làm môi giới hối lộ ( Điều 290 Bộ Luật Hình Sự 1999).
* Về mặt khách quan: có hai hành vi đó là hành vi đưa hối lộ và hành vi
môi giới hối lộ. Đưa hối lộ là hành vi dùng tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác
để đưa cho người có chức vụ, quyền hạn, để người này giải quyết công việc của cơ quan, tổ chức, đơn vị hoặc địa phương theo yêu cầu của mình. Còn môi giới hối lộ
là hành vi làm trung gian giữa người đưa hối lộ với người nhận hối lộ để cho hai
người này thực hiện hành vi đưa và nhận hối lộ.
* Về mặt chủ quan: Người thực hiện hành vi này nhằm mục đích để giải
quyết công việc cơ quan, tổ chức, đơn vị hoặc địa phương. Động cơ là vì vụ lợi. Lỗi là lỗi cố ý trực tiếp, tức là người thực hiện hành vi này nhận thức rõ về hành vi
của mình thấy trước được hậu qủa của hành vi và mong muốn nó xảy ra.
1.2.2. Hành vi lợi dụng chức vụ, quyền hạn sử dụng trái phép tài sản của Nhà nước vì vụ lợi:
10
Điều 1, khoản 3 Luật phòng, chống tham nhũng 2005.
Trang 33* Chủ thể thực hiện hành vi: Là người có chức vụ, quyền hạn gồm những
người được quy định tại Điều 1 khoản 3 Luật phòng, chống tham nhũng 2005. Nếu người thực hiện hành vi này không phải là người có chức vụ, quyền hạn thì tùy mức độ có thể xử phạt vi phạm hành chính hoặc truy tố về tội sử dụng trái phép tài sản theo Điều 142, Bộ Luật Hình Sự 1999 và hành vi đó không bị xem là hành vi
tham nhũng.
* Về mặt khách quan: đây là hành vi sử dụng tài sản của Nhà nước một
cách trái phép vì vụ lợi. Tức là hành vi của người có chức vụ, quyền hạn vì vụ lợi
đã khai thác một cách trái phép giá trị sử dụng của tài sản (Nhà nước) mà họ đang quản lý, sử dụng hay nói cách khác là dùng tài sản để làm công việc riêng. Đặc trưng cơ bản của hành vi này là người thực hiện hành vi chỉ có ý định khai thác lợi ích do tài sản đem lại chứ không có ý định chiếm đoạt tài sản, sau khi đã khai thác lợi ích của tài sản họ sẽ trả lại tài sản cho Nhà nước, cơ quan, tổ chức. Chẳng hạn như: Dùng xe ô tô của cơ quan để sử dụng vào công việc riêng của gia đình, đi du lịch, đi nghỉ mát, tham quan; Dùng tiền của cơ quan đem gởi tiết kiệm hoặc cho người khác vay để lấy lãi suất…Như vậy là chỉ cần người có chức vụ, quyền hạn
có hành vi lợi dụng chức vụ, quyền hạn của mình sử dụng trái phép tài sản của Nhà nước, cơ quan, tổ chức vì vụ lợi thì hành vi đó được xem là hành vi tham nhũng.
* Về mặt chủ quan: người vi phạm thực hiện hành vi này một cách cố ý vì
động cơ vụ lợi.
11
Theo từ điển tiếng việt – NXB Đà Nẵng 1998, tr.704 thì “nhũng nhiễu là quấy rầy, đòi hỏi cái này, cái khác”.
12
Điều 2, khỏan 5 Luật phòng, chống tham nhũng 2005.
Trang 341.2.4. Hành vi lợi dụng chức vụ, quyền hạn để bao che cho người có hành vi vi phạm pháp luật vì vụ lợi; cản trở, can thiệp trái pháp luật vào việc kiểm tra,
Các hành vi trên thể hiện dưới nhiều hình thức chẳng hạn như: Cán bộ cấp trên biết cán bộ cấp dưới làm trái pháp luật nhưng vẫn bao che không báo cho cấp
có thẩm quyền hay các cơ quan pháp luật biết; Cán bộ lãnh đạo các đơn vị cố tình cản trở gây khó khăn cho hoạt động thanh tra, điều tra viên; hay dùng ảnh hưởng của mình tác động đến các cán bộ điều tra, thanh tra, can thiệp vào quá trình thanh
và giải quyết tố cáo về hành vi tham nhũng
Trang 352.1. Phát hiện tham nhũng thông qua hoạt động thanh tra, kiểm toán, điều
quan, trung thực, công khai, dân chủ, kịp thời; không làm cản trở hoạt động bình
thường của cơ quan, tổ chức, cá nhân là đối tượng thanh tra”. Như vậy, có thể
thấy hoạt động thanh tra phải thực hiện trên cơ sở đảm bảo về nguyên tắc và nội dung mà Luật đã xác định.
+ Hoạt động thanh tra phải tuân theo pháp luật: Hoạt động thanh tra cũng
như bất kỳ hoạt động nào khác của Nhà nước cũng phải dựa trên cơ sở của pháp luật. Có thể nguyên tắc hoạt động thanh tra phải tuân theo pháp luật là bao gồm việc ra quyết định thanh tra, tiến hành thanh tra, ra kết luật thanh tra đến việc xử lý kết luận thanh tra,… Điều này phải thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục do pháp luật quy định, không tùy tiện, không xuất phát từ ý kiến chủ quan của cơ quan và người quản lý.
+ Hoạt động thanh tra phải bảo đảm tính chính xác, khách quan, công khai,
dân chủ, kịp thời: Nguyên tắc này đặc ra những yêu cầu cao đối với hoạt động
thanh tra, kiểm tra đối với các tổ chức, cơ quan, doanh nghiệp. Hoạt động thanh tra
và nhất là những kết luận thanh tra thể hiện sự đánh giá của cơ quan nhà nước đối
Trang 36+ Hoạt động thanh tra cần phải bảo đảm nguyên tắc công khai, dân chủ,
kịp thời. Quyết định thanh tra phải được công bố công khai, quá trình làm việc với
đối tượng bị thanh tra cũng phải diễn ra công khai, dân chủ. Tạo điều kiện cho kết qủa thanh tra được công bằng và chính xác.
+ Nguyên tắc không làm cản trở hoạt động bình thường của cơ quan, tổ chức, cá nhân là đối tượng của thanh tra: Hoạt động thanh tra với tư cách là công
cụ, một phương thức quản lý phải thể hiện tinh thần đó như một nguyên tắc hoạt động của mình. Dù đối tượng thanh tra là một cơ quan, một tổ chức, cá nhân, công dân nào thì họ cũng có những hoạt động thể hiện sự tồn tại và phát triển của mình thông qua việc thực hiện các quyền và nghĩa vụ, đồng thời tôn trọng quyền lợi của các thành viên khác trong xã hội.
Hoạt động thanh tra bằng việc loại trừ, ngăn chặn, xử lý hành vi vi phạm là góp phần tạo môi trường lành mạnh. Những hành vi hay biểu hiện vi phạm pháp luật, những hiện tượng tham nhũng mà thanh tra phát hiện phải được ngăn chặn và
xử lý kịp thời.
Theo Báo cáo, trong năm 2008, Thanh tra Chính phủ và thanh tra các bộ, ngành, địa phương đã tiến hành 14.435 cuộc thanh tra kinh tế xã hội và chuyên ngành, đã kết thúc 12.039 cuộc; Qua thanh tra đã phát hiện sai phạm với tổng giá trị là 7.160,7 tỷ đồng, 8.052ha đất; kiến nghị thu hồi về ngân sách nhà nước 5.769,1 tỷ đồng, 3.790,4ha đất; đã thu hồi được 3.320,9 tỷ đồng, 361,9 ha đất; kiến nghị xử lý kỷ luật 328 tập thể và 1.716 cá nhân có sai phạm, kiến nghị chuyển cơ quan điều tra xem xét, xử lý 119 vụ với 134 đối tượng 13 .
b) Phát hiện tham nhũng thông qua hoạt động kiểm toán:
* Khái niệm: Theo Điều 4 Luật kiểm toán Nhà nước 2005 Hoạt động
kiểm toán của kiểm toán Nhà nước là việc kiểm tra, đánh giá và xác nhận tính đúng đắn, trung thực của báo cáo tài chính; Việc tuân thủ pháp luật; tính kinh tế, hiệu lực và hiệu qủa trong quản lý, sử dụng ngân sách tiền và tài sản Nhà nước
Mục đích của hoạt động kiểm toán Nhà nước phục vụ việc kiểm tra, giám sát của Nhà nước trong quản lý, sử dụng ngân sách, tiền và tài sản Nhà nước; góp phần thực hành tiết kiệm, chống tham nhũng, thất thoát, lãng phí và phát hiện ngăn
13
Báo cáo thẩm tra báo cáo Chính phủ về công tác phòng, chống tham nhũng 2008
Trang 37+ Kiểm tra tuân thủ là tập trung vào tình hình chấp hành luật Ngân sách Nhà nước, luật kế toán, các luật thuế và văn bản quy phạm pháp luật khác có liên quan; tình hình chấp hành nội quy, quy chế của đơn vị được kiểm toán.
+ Kiểm tra hoạt động là tập trung vào tình hình thực hiện mục tiêu, nhiệm
vụ hoạt động; việc bảo đảm, quản lý và sử dụng các nguồn lực; hệ thống kiểm soát nội bộ; các chương trình, dự án; các hoạt động của đơn vị được kiểm toán; tác động của môi trường bên ngoài đối với tính kinh tế, hiệu lực và hiệu qủa hoạt động của đơn vị được kiểm toán.
Tháng 7 năm 2008, Kiểm toán Nhà nước công bố báo cáo kiểm toán năm 2007; qua 107 cuộc kiểm toán, phát hiện, kiến nghị tăng thu ngân sách 2.764 tỷ đồng; giảm chi ngân sách 1.244 tỷ đồng; phát hiện thêm các khoản nợ đọng là 413
tỷ đồng; các khoản phải nộp, hoàn trả ngân sách là 6.095 tỷ đồng ; chuyển hồ sơ sang cơ quan điều tra 02 vụ việc. Năm 2008, Kiểm toán Nhà nước triển khai 83/135 cuộc kiểm toán; có 35 cuộc đã phát hành báo cáo kiểm toán, trong đó phát hiện, kiến nghị tăng thu ngân sách, thu khác, giảm chi ngân sách, ghi thu, ghi chi, đưa vào quản lý qua ngân sách… trên 943 tỷ đồng; Việc thực hiện các kiến nghị của Kiểm toán Nhà nước qua công tác kiểm toán năm 2006 đạt tỷ lệ bình quân 89,3%. Có những kiến nghị được thực hiện đạt tỷ lệ cao như quyết toán chuyển năm sau đạt 100%; các khoản tăng thu đã đạt 96,1 %; kiến nghị ghi thu, ghi chi đạt 94,4%; các khoản xuất toán, giảm cấp phát đạt 65,3%; các điều chỉnh và giảm trừ khác đạt 76,9% 14 .
14
Báo cáo Chính phủ về công tác phòng, chống tham nhũng 2008.
Trang 38c) Phát hiện tham nhũng thông qua hoạt động điều tra:
* Khái niệm:
Điều tra là hoạt động tố tụng của cơ quan điều tra và cơ quan khác được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra nhằm xác định tội phạm của người có hành vi phạm tội, lập hồ sơ đề nghị truy tố, tìm ra nguyên nhân và điều kiện phạm tội, yêu cầu các cơ quan, tổ chức hữu quan áp dụng các biện pháp khắc phục và ngăn ngừa 15 .
* Chức năng của điều tra: Hoạt động điều tra nhằm xác định tội phạm của
người có hành vi phạm tội, lập hồ sơ đề nghị truy tố, tìm ra nguyên nhân và điều kiện phạm tội, yêu cầu các cơ quan, tổ chức hữu quan áp dụng các biện pháp khắc phục và ngăn ngừa.
Hoạt động điều tra phải tôn trọng sự thật, tiến hành một cách khách quan, toàn diện và đầy đủ, làm rõ những chứng cứ xác định có tội hoặc vô tội, những tình tiết tăng nặng và tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm của bị can. Mọi hoạt động điều tra phải tuân theo pháp luật, chấp hành các nguyên tắc và thủ tục do Bộ luật tố tụng hình sự quy định.
Theo Báo cáo, trong năm 2008 cơ quan điều tra các cấp đã khởi tố 284 vụ
án với 622 bị can về các tội tham nhũng, chủ yếu là các tội tham ô tài sản (chiếm 52,4% số vụ án tham nhũng), trong đó có một số vụ tham ô nghiêm trọng mới được phát hiện mà dư luận xã hội quan tâm như vụ Tổng công ty Mía đường II, vụ Tổng công ty Xây dựng Miền trung, vụ Nông trường Sông Hậu Toà án đã xét xử
sơ thẩm 286 vụ với 692 bị cáo về các tội tham nhũng 16 .
d) Phát hiện tham nhũng thông qua hoạt động kiểm sát:
* Khái niệm:
Kiểm sát là hoạt động của viện kiểm sát nhân dân nhằm kiểm tra, giám sát việc tuân thủ pháp luật của tất cả các cơ quan nhà nước từ cấp bộ trở xuống, các cơ quan hành chính, sự nghiệp, các tổ chức xã hội và của công dân 17 .
Khác với cơ quan kiểm tra và thanh tra, cơ quan kiểm sát tiến hành kiểm tra
và giám sát việc chấp hành pháp luật trong các đối tượng khác như: Trong các văn bản pháp quy, các biện pháp và các hoạt động thực hiện các văn bản đó của các cơ
15 http://dictionary.bachkhoatoanthu.gov.vn/default.aspx?param=1F06aWQ9MzM4NTEm Z3JvdXBpZD0ma2luZD1leGFjdCZrZXl3b3JkPSVjNCU5MWklZTElYmIlODF1K3RyYQ==&p age=1.
16
Báo cáo thẩm tra báo cáo Chính phủ về công tác phòng, chống tham nhũng 2008.
17
http://dictionary.bachkhoatoanthu.gov.vn/default.aspx?param=2051aWQ9MTIzMzEmZ 3JvdXBpZD0ma2luZD1leGFjdCZrZXl3b3JkPWtpJWUxJWJiJTgzbStzJWMzJWExdA==&page
=1
Trang 39quan Nhà nước, tổ chức xã hội, nhân viên Nhà nước và công dân; Trong các hoạt động điều tra và truy tố; Trong công tác xét xử; Trong công tác thi hành án; Trong việc giam, giữ và cải tạo. Chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của viện kiểm sát do hiến pháp, luật tổ chức viện kiểm sát và các luật khác quy định (từ điều 137 đến
140 Hiến pháp 1992).
* Chức năng của kiểm sát:
+ Thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc điều tra các vụ án hình sự của các cơ quan điều tra và các cơ quan khác được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra;
+ Điều tra một số loại tội phạm hoạt động tư pháp mà người phạm tội là cán
bộ thuộc các cơ quan tư pháp;
+ Thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc xét xử các vụ án hình sự;.
+ Kiểm sát việc giải quyết các vụ án dân sự, hôn nhân và gia đình, hành chính, kinh tế, lao động và những việc khác theo quy định của pháp luật;
+ Kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc thi hành bản án, quyết định của tòa án nhân dân;
19
Hiến pháp Nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam 1992, được sửa đổi bổ sung ngày 25122001 của Quốc hội Khóa X, kỳ họp thứ 10.
Trang 40Về công tác xét xử tội phạm tham nhũng, theo Báo cáo của Chính phủ đã phát hiện 379 vụ việc tham nhũng (giảm 14% số vụ việc so với cùng kỳ năm trước); trong đó cơ quan điều tra các cấp đã khởi tố điều tra 284 vụ án với 622 bị can (giảm 30% số vụ án và 25% số bị can so với cùng kỳ năm trước). Theo Báo cáo, trong tổng số 375 bị cáo bị xét xử về tội tham ô tài sản, có 17 trường hợp Tòa án tuyên không phạm tội, 139 bị cáo được Tòa án cho hưởng án treo (chiếm 37%); trong
số 692 bị cáo xét xử về các tội tham nhũng có 05 trường hợp được miễn trách nhiệm hình sự và miễn hình phạt 20 .
Với những hình thức hoạt động cụ thể để phát hiện hành vi tham nhũng Luật quy định các cơ quan thanh tra, kiểm toán Nhà nước,điều tra, viện kiểm sát, tòa án thông qua hoạt động thanh tra, kiểm toán điều tra, kiểm sát xét xử theo quy định của pháp luật và chịu trách nhiệm trước pháp luật về quyết định của mình; Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội, Đoàn đại biểu Quốc hội, Hội đồng nhân dân, đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân thông qua hoạt động giám sát có trách nhiệm phát hiện hành vi tham nhũng, yêu cầu hoặc kiến nghị xử lý theo quy
định của pháp luật.
2.2. Phát hiện tham nhũng thông qua công tác kiểm tra của cơ quan, tổ chức, đơn vị:
Kiểm tra là một biện pháp phát hiện đồng thời cũng là biện pháp phòng, chống tham nhũng hiệu qủa tại cơ quan, tổ chức, đơn vị. Công tác kiểm tra gồm: Công tác kiểm tra của cơ quan Nhà nước quản lý và công tác tự kiểm tra. Với những hình thức hoạt động cụ thể để phát hiện hành vi tham nhũng Luật quy định: Thủ trưởng cơ quan quản lý Nhà nước có trách nhiệm thường xuyên hoặc đột xuất kiểm tra việc chấp hành pháp luật của cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân thuộc phạm vi quản lý của mình nhằm kịp thời phát hiện hành vi tham nhũng; Người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị có trách nhiệm chủ động tổ chức kiểm tra thường xuyên, kiểm tra đột xuất việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ của cán bộ công chức, viên chức thường xuyên, trực tiếp giải quyết công việc của cơ quan, tổ chức…do mình quản lý nhằm kịp thời phát hiện, ngăn chặn, xử lý hành vi tham nhũng.
20
Báo cáo thẩm tra báo cáo Chính phủ về công tác phòng, chống tham nhũng 2008.