1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

LUẬN văn LUẬT HÀNH CHÍNH NHỮNG BIỂU HIỆN của THAM NHŨNG THỰC TIỄN và HƯỚNG KHẮC PHỤC

82 189 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 82
Dung lượng 915,4 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Qua định nghĩa trên, tham nhũng bao gồm cả hối lộ, lợi lộc cá nhân do chức vụ đem đến, chọn người quen, người thân vào những chức vụ mà lẽ ra nhiều người khác có thể làm nhiệm vụ đó tốt

Trang 2

LỜI NÓI ĐẦU   1 

Chương 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ THAM NHŨNG  1. KHÁI NIỆM    4 

1.1. Khái niệm về tham nhũng   4 

1.2. Khái niệm về phòng và chống tham nhũng    6 

2. LỊCH SỬ HÌNH THÀNH VÀ MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM CỦA   8 

2.1. Lịch sử hình thành    8 

2.2. Đặc điểm của tham nhũng    9 

3. NGUYÊN NHÂN VÀ HẬU QUẢ CỦA THAM NHŨNG   10 

3.1. Nguyên nhân   10 

3.2. Hậu quả của hành vi tham nhũng   14 

Chương 2: CƠ SỞ PHÁP LÝ VỀ NHỮNG BIỂU HIỆN CỦA  THAM NHŨNG  1. QUI ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ CÁC HÀNH VI THAM NHŨNG   20 

1.1.Theo Bộ luật Hình Sự 1999   20 

1.2.Theo Luật phòng chống tham nhũng 2005   26 

2. CÁC BIỆN PHÁP PHÁT HIỆN HÀNH VI THAM NHŨNG   29 

2.1. Phát hiện tham nhũng thông qua   30 

2.2. Phát hiện tham nhũng thông qua công tác kiểm tra   35 

2.3. Phát hiện tham nhũng thông qua tố cáo   36 

3. CÁC BIỆN PHÁP XỬ LÝ HÀNH VI THAM NHŨNG   37 

3.1. Các nguyên tắc xử lý    37 

3.2. Các biện pháp xử lý    39 

Chương 3: THỰC TRẠNG THAM NHŨNG HIỆN NAY;  HƯỚNG NÂNG CAO VÀ KHẮC PHỤC  1. NHỮNG BIỂU HIỆN THAM NHŨNG HIỆN NAY   41 

1.1. Quy mô và mức độ tham nhũng hiện nay   41 

1.2. Những biểu hiện tham nhũng hiện nay   47 

1.3. Dự báo tình hình tham nhũng sắp tới   50 

2. HƯỚNG NÂNG CAO VÀ MỘT SỐ KIẾN NGHỊ   50

Trang 3

2.2. Những kiến nghị   57 

2.2.1. Những phương hướng chung   57 

2.2.2. Những kiến nghị cụ thể   59 

KẾT LUẬN    63  TÀI LIỆU THAM KHẢO 

PHỤ LỤC

Trang 6

Tham  nhũng  là  một  hiện  tượng  tiêu  cực  của  xã  hội,  là  hành  vi  lợi  dụng quyền  lực  của  những  người  có  chức,  có  quyền  nhằm  mục  đích  trục  lợi  cho  bản thân. Tham nhũng đã xuất hiện gắn liền với xã hội có giai cấp, chúng tồn tại cùng lịch sử từ khi hình thành nhà nước đầu tiên thời các vua Hùng . 

Tham nhũng diễn ra hết sức phổ biến trong cuộc sống, nó như một loài vật sống ký sinh sống trên vật chủ là Quốc gia, nó cùng sống và không ngừng gây tác hại cho vật chủ, không phân biệt vật chủ đó to hay nhỏ, béo hay gầy…Tham nhũng cũng vậy, chúng diễn ra ở tất cả các Quốc gia, không phân biệt chế độ chính trị xã hội, quốc  gia đó  giàu hay  nghèo  và trình  độ  phát triển ra sao? Chúng  gây ra hậu qủa hết sức tai hại cho nền kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội; Làm giảm hiệu qủa hoạt động của bộ  máy nhà nước, làm  giảm lòng tin của nhân dân đối  với  vai trò lãnh đạo của Đảng và nhà nước, làm xói mòn đạo đức, nhân phẫm con người, làm cản trở sự phát triển của đất nước. 

Nhận thức được tác hại và nguy cơ của tệ nạn tham nhũng, nên ngay từ khi giành được chính quyền về tay nhân dân, Đảng và nhà nước ta không ngừng nâng cao kinh nghiệm lãnh đạo và phát triển đất nước, trong đó có một mục tiêu là xây dựng  bộ  máy  nhà  nước  trong  sạch  nhằm  cũng  cố  lòng  tin  của  nhân  dân  đối  với Đảng và nhà nước. Với quyết tâm chính trị cao nhằm xây dựng bộ máy nhà nước trong sạch, vững mạnh nên tại kỳ họp thứ 8, Quốc hội khóa XI đã thông qua luật phòng chống tham nhũng, Sự ra đời của Luật phòng, chống tham nhũng đánh dấu 

sự quyết tâm đấu tranh quyết liệt với tệ nạn tham nhũng của Đảng ta. Mặc dù đã ban hành nhiều văn bản pháp luật, nhiều biện pháp đấu tranh cũng như nhiều biện pháp tuyên truyền. Nhưng qua thực tiễn cho thấy tham nhũng  vẫn còn tồn tại, có khuynh  hướng  diễn  biến  phức  tạp,  chúng  được  ngụy  trang  dưới  nhiều  hình  thức khác nhau, không cố định, bất biến mà thay đổi một cách uyển chuyển tùy vào bối cảnh kinh tế, chính trị, xã hội và trình độ dân trí. 

Hiện nay, ở nước ta cũng như trên thế giới đã có rất nhiều công trình nghiên cứu lớn của các tổ chức, học giả về vấn đề này. Để góp phần làm rõ hơn về tham 

nhũng nên tác giả đã chọn đề tài: “Những biểu hiện của tham nhũng thực tiễn 

và hướng khắc phục”. Trong khuôn khổ đề tài luận văn tốt nghiệp người viết với 

mục  đích  nghiên  cứu  làm  rõ  vấn  đề  lý  luận  và  thực  tiễn  của  hiện  tượng  tham nhũng;  những  biểu  hiện  của  tham  tham  nhũng  theo  quy  định  của  pháp  luật  về phòng, chống tham nhũng

Trang 7

Nhiệm  vụ  trọng  tâm  của  đề  tài:  hệ  thống  cơ  sở  lý  luận,  phân  tích  nguyên nhân, hậu qủa, những biểu hiện của hành vi tham nhũng, trên cơ sở đó đưa ra dự báo tình hình tham nhũng sắp tới đồng thời đề ra một số giải pháp góp phần nâng cao hiệu qủa của cuộc đấu tranh phòng và chống tham nhũng. 

Để đạt được mục đích nghiên cứu đề tài sẽ: 

­  Phân tích làm rõ khái niệm tham nhũng, nguyên nhân và hậu qủa của hành vi tham nhũng; cơ sở pháp lý về những biểu hiện cũng như biện pháp phát hiện tham nhũng. 

sự, luật phòng, chống tham nhũng và một số văn bản pháp luật có liên quan; Phân tích các biện pháp phát hiện và các biện pháp xử lý hành vi tham nhũng

Trang 8

Chương 3: THỰC TRẠNG THAM NHŨNG HIỆN NAY; 

HƯỚNG NÂNG CAO VÀ KHẮC PHỤC; 

Chương này gồm có 2 phần lớn: Phân tích những biểu hiện của tham nhũng trong giai đoạn hiện nay; Đề xuất một số giải pháp nhằm hạn chế tình trạng tham nhũng. 

Vấn  đề  phòng,  chống  tham  nhũng  là  vấn  đề  nóng  bỏng,  phức  tạp  có  nội dung  rộng  lớn  liên  quan  đếu  rất  nhiều  nghành,  nhiều  lĩnh  vực  đời  sống  xã  hội. Người  viết  đã  cố  gắng  xem  xét  khách  quan  trong  vấn  đề  nghiên  cứu  tuy  nhiên trong quá trình nghiên cứu đề tài chắc chắn còn nhiều thiếu xót mong được sự cảm thông và sự đóng góp của quý thầy cô và các bạn

Trang 9

1 KHÁI NIỆM: 

Tham nhũng là  một phạm trù lịch sử xuất hiện cùng  với sự ra đời của nhà nước và ra đời tồn tại song song cùng với sự phát triển của nhà nước. Lịch sử nhà nước từ khi xuất hiện đến nay cho thấy, tham nhũng như một khuyết tật bẩm sinh của quyền lực, là một loại tội phạm cực kỳ nguy hiểm bởi tính chất và hậu qủa do 

nó gây ra. Việt Nam cũng như nhiều quốc gia trên thế giới coi tham nhũng là một 

“quốc  nạn”  cần  phải  phòng  ngừa  và  kiên  quyết  trừng  trị  bằng  những  biện  pháp mạnh mẽ. Vì vậy, để phòng ngừa và đấu tranh có hiệu qủa với tham nhũng đòi hỏi chúng ta phải hiểu rỏ tham nhũng là  gì?  Thuật ngữ tham nhũng xuất hiện từ bao 

giờ? Hiện nay có rất nhiều quan điểm về vấn đề này. 

1.1. Khái niệm về tham nhũng: 

Do  xuất  phát  từ  những  điều  kiện,  đặc  thù  riêng,  các  quốc  gia  có  sự  khác nhau về truyền thống lịch sử, đặc điểm văn hóa, điều kiện kinh tế xã hội, tình hình tham nhũng…nên quan niệm về tham nhũng có khác nhau. Tham nhũng tiếng Anh 

gọi là corruption, xuất phát từ tiếng  La­Tinh  corrumpere, có nghĩa là hư hỏng, 

bại  hoại,  tiêu  hủy.  Theo  tổ  chức  minh  bạch  quốc  tế  (Transparency  International) định  nghĩa  tham  nhũng  là  lạm  dụng  chức  vụ  hay  quyền  hành  của  cơ  quan  chính 

vụ  nào  của  người  nhận  hối  lộ,  lợi  ích  khác  hoặc  hứa  hẹn  hối  lộ  và  lợi  ích  khác đó” 1 . 

Theo Luật phòng, chống tham nhũng Xingapo (Điều 2), quy định: Tham 

nhũng  “tiền  hay  mọi  hình  thức  quà  biếu,  tiền  vay  mượn,  tiền  thưởng,  tiền  hoa hồng,  các  bảo  đảm  có  giá  trị  tài  sản,  lợi  tức của  tài  sản  dưới  hình  thức  động  sản hay bất động sản, chức  vụ công việc hay hơp đồng, mọi hình thức trả tiền, thanh toán hay trả nợ, miễn thực hiện nghĩa vụ hay các khoản thanh toán khác; Mọi hình thức dịch  vụ,  giúp đỡ  hay tạo điều  kiện,  kể cả  việc bảo đảm  không bị hình phạt, 

Ngô Tự Lập – Những bộ mặt của tham nhũng – Tạp chí khoa học và & Tổ quốc, số  tháng 8/2004

Trang 10

không bị  kỷ luật  hoặc  không chịu trách nhiệm hình sự hay  không phải thực hiện nghĩa vụ khác; Mọi hình thức cung phụng, thực hiện hay hứa sẽ cung cấp sẽ cung 

cấp một khoản tiền nào đó như quy định trên. Theo Rick Stapenhurst chuyên gia  quản lý khu vực công cộng và Shahrzad Sedight, nhà tư vấn Viện phát triển Kinh 

tế, Ngân  hàng thế giới thì “tham nhũng theo ý nghĩa đơn giản nhất là sự lạm dụng quyền lực, đa phần để đạt được những lợi ích cá nhân hoặc lợi ích của một nhóm người mà người ta phải trung thành với nó. Tham nhũng có thể do lòng tham thúc đẩy, do ước muốn duy trì hoặc tăng quyền lực, hay một cách khác khá vô lý là do 

niềm tin  vào  một cơ  may  mà người ta cho rằng  là lớn lao hơn. Thuật ngữ  “tham 

Tham nhũng, lãng phí gắn liền với quan liêu, quan liêu thể hiện ở rất nhiều 

khía cạnh khác nhau. Lênnin đã chỉ rõ quan liêu biểu hiện ở: “Những nhân vật có 

đặc  quyền  thoát  ly  quần  chúng  và  đứng  trên  quần  chúng…,  đem  lợi  ích  của  sự  nghiệp  phục  tùng  lợi  ích  của  tư  tưởng  thăng  quan  tiến  chức,  tức  là  hết  sức  chú  trọng  vào  địa  vị  “an  nhàn”  hưởng  lợi  mà  không  biết  đến  công  tác,  tức  là  tranh  giành  nhau  để  bổ  tuyển”   Chủ  Tịch  Hồ  Chí  Minh  gọi  tham  nhũng  là  tham  ô, 

người gọi bọn họ là kẻ ăn cắp, ăn trộm. Người viết “tham ô là hành động xấu xa nhất  của  con  người  …Tham  ô  là  lấy  trộm  của  công,  chiếm  của  công  làm  của tư…” 2 . 

Trang 11

bộ phận chính thống của một vai trò vì tiền hoặc tài sản trục lợi cho cá nhân (hoặc cho  người  thân),  Xâm  phạm  các  quy  tắc,  ngược  lại  với  hành  xử  chuẩn  mực,  liên quan đến quyền lợi cá nhân” 3 . 

Qua định nghĩa trên, tham nhũng bao gồm cả hối lộ, lợi lộc cá nhân do chức 

vụ đem đến, chọn người quen, người thân vào những chức vụ mà lẽ ra nhiều người khác có thể làm nhiệm vụ đó tốt hơn, quyết định không dựa trên nền tảng ích lợi của  đơn  vị  (công  ty,  xí  nghiệp,  thành  phố,  quốc  gia  vv…)  mà  người  có  quyền quyết định, như chọn công ty, thực hiện dự  án không qua tiêu chuẩn  giá cả, chất lượng hay những tiêu chuẩn đặc biệt đã được qui định (ưu tiên cho những công ty trong  vùng để yểm trợ phát triển địa phương  hay giảm tình trạng thất nghiệp của địa phương vv…) mà theo tiêu chuẩn bè phái cá nhân hay đổi chác vv… 

Tóm  lại,  mặt  dù  có  rất  nhiều  cách  định  nghĩa  khác  nhau  về  tham  nhũng nhưng  nhìn  chung  tham  nhũng  điều  có  quan  niệm  tương  đối  thống  nhất:  tham nhũng là hành vi lợi dụng chức vụ, quyền hạn để vụ lợi. Tuy nhiên, trong một số trường  hợp,  kẻ  tham  nhũng  không  chỉ  có  chức  vụ,  quyền  hạn.  Tham  nhũng  gây thiệt hại tài sản, lợi ích của Nhà nước, tập thể và của người dân, nó làm  biến dạng 

và cản trở quá trình hoạt động của các cơ quan Nhà nước, tổ chức xã hội. 

1.2. Khái niệm về phòng, chống tham nhũng: 

Hiện nay, chưa có một  khái niệm chính thức  nào được đưa ra nhưng cũng 

có một số quan điểm khác nhau về hoạt động phòng, chống tham nhũng. Có ý kiến cho  rằng  hoạt  động  phòng,  chống  tham  nhũng  là  cuộc  đấu  tranh  chính  trị  quan trọng liên quan đến sự sống còn của thể chế chính trị Nhà nước. Có quan điểm lại cho rằng phòng, chống tham nhũng dù ở quy mô  gia đình, công ty, quốc gia  hay quốc tế, đều  đồng nghĩa  với  việc đảm  bảo để  mọi thành  viên  gia đình,  xã hội  và đời sống quốc tế đều có quyền phát biểu và quyền được lắng nghe. Phòng, chống tham nhũng vì thế không thể chỉ là hoạt động riêng lẻ mang tính chất đối phó. Nó phải bắt đầu từ một thay đổi sâu sắc về quan niệm bình đẳng xã hội, về vai trò của nhà nước và về quan hệ quốc tế. Chống tham nhũng, dù trong một công ty, trong một quốc gia hay trên thế giới, suy cho cùng chính là dân chủ hóa. 

Qua  nghiên  cứu  các  quan  điểm  chúng  ta  có  thể  đưa  ra  khái  niệm  phòng, chống  tham  nhũng  như  sau:  Hoạt  động  phòng,  chống  tham  nhũng  là  việc  các  cơ quan Nhà nước, các tổ chức và công dân sử dụng, tổng hợp các biện pháp và cách thức mà pháp luật cho phép nhằm phòng ngừa, phát hiện, ngăn chặn và xử lý các 

Tạp chí nghiên cứu Lập pháp, số 2 (9/2005), tr.1.

Trang 12

hành vi tham nhũng, loại trừ những phần tử tham nhũng ra khỏi bộ máy Nhà nước. Theo  đó  thì  khái  niệm  có  hai  bộ  phận  đó  là hoạt  động  phòng  ngừa  và  hoạt  động 

chống tham nhũng. 

Hoạt động phòng ngừa tham nhũng là tổng thể các hoạt động với sự tham 

gia của tất cả mọi người dân và tất cả các cơ quan trong bộ máy Nhà nước sử dụng tất cả mọi biện pháp theo đúng quy định của pháp luật nhằm ngăn ngừa không để tình trạng tham nhũng xảy ra. Là một hoạt động thường xuyên, liên tục được thực hiện trước khi tham nhũng xảy ra. Phòng ngừa tham nhũng là một công tác mang tính chất tổng hợp, và điều này tạo cơ sở xác lập một mặt trận rộng rãi đấu tranh chống tham nhũng, để sử dụng một cách hiệu qủa không chỉ bằng các phương tiện pháp luật mà cả các phương tiện kinh tế, tư tưởng, tổ chức, kỹ thuật… Đây có thể xem  là  biện  pháp  chính  và  có  tác  dụng  hơn  cả  trong  cuộc  đấu  tranh  chống  tham nhũng. 

Phòng ngừa tham nhũng là nhằm xóa bỏ bản thân nguồn gốc của tình trạng tham  nhũng,  cụ  thể  là  khắc  phục  những  nguyên  nhân  và  điều  kiện  của  tình  hình tham  nhũng.  Nói  cách  khác  việc  phòng  ngừa  tham  nhũng  là  hình  thức  can  thiệp ngay từ đầu chuỗi mắc xích những sự kiện và hiện tượng có thể dẫn đến việc gây 

ra  những  thiệt  hại  cho  lợi  ích  của  Nhà  nước  và  xã  hội.  Tóm  lại,  công  tác  phòng ngừa tham nhũng cho phép chúng ta giải quyết các nhiệm vụ đấu tranh chống tình 

trạng phạm tội mà phí tổn đối với xã hội là thấp nhất. 

Hoạt động chống tham nhũng, là tổng thể các hoạt động với sự tham gia 

của tất cả mọi người dân và tất cả các cơ quan trong bộ máy Nhà nước (Trong đó các  cơ  quan  bảo  vệ  pháp  luật:  Công  an,  thanh  tra,  Viện  kiểm  sát,  tòa  án  là  lực lượng chủ lực và nồng cốt). Sử dụng hệ thống các biện pháp do pháp luật quy định nhằm  phát  hiện,  đấu  tranh  ngăn  chặn  tệ  nạn  tham  nhũng.  Đây  cũng  là  hoạt  động thường xuyên liên tục một khi còn hiện tượng tham nhũng. Hoạt động này thường được tiến hành khi tham nhũng xảy ra. Việc phát hiện tham nhũng là trách nhiệm của  mọi chủ thể đã nêu trên nhưng  khác  với  hoạt động phòng  ngừa, trách nhiệm chính  của  việc  đấu  tranh  chống  tham  nhũng  được  giao  cho  các  cơ  quan  thực  thi pháp luật với nhiệm  vụ là đấu tranh, ngăn chặn và xử lý các hành vi tham nhũng theo pháp luật, người dân  và các cơ quan tổ  chức  khác chỉ tham  gia hổ trợ đồng thời giám sát các cơ quan thực thi pháp luật nhằm đảm bảo xử lý đúng đối tượng, đúng người, đúng tội

Trang 13

2.1. Lịch sử hình thành: 

Hiện tượng tham nhũng bắt đầu khi những người đứng đầu bộ lạc, thị tộc do lòng tham đã lợi dụng uy tín chiếm đoạt của cải dư thừa làm của riêng đây chính là hình thức sơ khai của tham nhũng. Nhưng tham nhũng chỉ trở thành vấn đề của xã hội  và  phát  triển  mạnh  khi  xã  hội  bắt  đầu  có  giai  cấp,  nhà  nước.  Như  vậy,  trong chế độ cộng xã nguyên thủy không có tham nhũng. 

Có  nhiều  cách  giải  thích  khác  nhau  để  giải  thích  về  nguồn  gốc  của  tham nhũng. Có thể khẳng định rằng tham nhũng xuất hiện từ rất lâu trong lịch sử loài người, từ  khi  có sự phân  chia quyền lực  và hình thành Nhà nước. Có ý  kiến  cho rằng tham nhũng bắt nguồn và phát triển từ nền văn hóa độc tài, đề cao cá nhân và coi trọng biếu xén. Ý kiến khác lại cho rằng, xã hội thay đổi các chuẩn mực về đạo đức và xã hội biến đổi liên tục, nền kinh tế biến đổi mạnh mẽ làm nảy sinh tham 

nhũng. 

Lịch sử loài người đã trải qua ba lần phân công lao động xã hội lớn, mà mỗi lần xã hội lại có những bước tiến mới. Sau lần phân công lao động xã hội đầu tiên – chăn nuôi tách ra  khỏi trồng trọt thành  một nền  kinh tế độc lập thì những  mần mống  đầu  tiên  của  chế  độ  tư  hữu  xuất  hiện,  xã  hội  phân  chia  thành  người  giàu, người nghèo. Đến lần phân công lao động lần hai – thủ công nghiệp tách ra  khỏi nông nghiệp, nô lệ đã trở thành bộ phận cấu thành chủ yếu của hệ thống xã hội và lần phân công lao động lần thứ ba –  Nghành  thương nghiệp phát triển, xuất hiện tầng  lớp  nhân  dân.  Những  thay  đổi  trên  đã  làm  thay  đổi  đời  sống  thị  tộc,  những xung đột về lợi ích giữa các giai cấp, giữa người giàu và người nghèo diễn ra gay gắt. Xã hội đòi hỏi cần phải có một tổ chức đứng ra giải quyết mâu thuẫn, xung đột 

đó, tồ chức đó chính là Nhà nước. Nhà nước ra đời kịp thời giải quyết những mâu thuẫn xung đột đồng thời cũng kế thừa những mầm mống tham nhũng sơ khai. Do 

đó căn bệnh tham nhũng tồn tại song song và gắn liền với bộ máy Nhà nước. 

Tham tức là tham lam, vơ vét của cải cho mình, còn nhũng là nhũng nhiễu, cũng  cùng  là  mục  đích  vơ  vét  của  cải.  Vơ  vét  của  công  và  vơ  vét  của  dân,  của doanh  nghiệp.  Tham  nhũng  đi  đôi  với  Nhà  nước,  Nhà  nước  nào  cũng  có  tham nhũng, nhưng chỉ khác nhau ở mức độ và hình thức biểu hiện. Nhưng tại sao nhà nước  và  công  chức  lại  tham  nhũng,  đó  là  vì  Nhà  nước  có  quyền  lực,  và  chỉ  có những người có chức  vụ, quyền hạn  mới có thể tham nhũng được. Do đó, quyền lực cũng là một yếu tố hình thành nên tham nhũng. 

Về lý thuyết, người ta chia ra ba loại quyền lực: Quyền lực chính trị (tức là của giai cấp cai trị), họ có đủ các hệ thống bảo đảm cho quyền lực của mình, như

Trang 14

pháp  luật,  quân  đội,  công  an,  tòa  án…;  Quyền  lực  tài  chính  (các  chính  phủ  nắm tiền trong tay hoặc các tập đoàn tài chính); Quyền lực trí tuệ (quyền lực này có giá trị  nhất,  cơ  bản  nhất  và  lâu  bền  nhất).  Các  tập  đoàn  thống  trị  dựa  vào  quyền  lực chính trị để thực hiện sự cai trị của mình. Người nắm quyền lục thường nắm luôn nguồn tài chính công, để có thể chi phối việc chi tiêu nguồn tài chính đó (qua đó, 

có thể vơ vét). Đồng thời vì quyền lực trí tuệ là cái cao sang nhất, được người đời kính nể nhất, cho nên người nắm quyền lực chính trị thường  muốn thể hiện luôn quyền lực của mình trong lĩnh vực trí tuệ, buộc mọi người coi trí tuệ của mình là cao hơn người, khai sáng nhất, buộc mọi người phải nghĩ như mình, nói như mình, không được nói khác, nghĩ khác. Người ta thường nói đến  “bệnh quyền lực” như một thứ ma túy có sức cám dỗ rất mạnh không dễ từ bỏ. 

Theo lý thuyết, mọi quyền lực đều phải được giám sát, nếu không quyền lực trở  thành  tuyệt  đối,  ngày  một  bành  trướng,  ảnh  hưởng  xấu  đến  sự  phát  triển  của 

một xã hội. Từ thế kỷ XVII, Montesqieu đã viết “bất cứ ai có quyền điều có xưu 

hướng lạm quyền, họ  sử dụng quyền đến khi nào gặp phải giới hạn”. Quyền lực 

không bị giám sát thì dễ xảy ra các tệ nạn như độc quyền, cửa quyền, đặc quyền, lạm  quyền,  tiến  quyền  (tức  là  cướp  quyền)…Và  khi  quyền  lực  đã  trở  thành  một loại  hàng  hóa,  có  “thị  trường  quyền  lực”,  nơi  có  thể  mua,  bán  quyền  lực,  thì  thị trường diễn biến rất phức tạp, sôi động, ở nhiều lĩnh vực, nhiều cấp, vì quyền lực đem lại lợi nhuận béo bở (siêu lợi nhuận) như thế, cho nên người ta tranh nhau bỏ tiền ra để mua  một chức  vụ hoặc  một chổ ngồi nào đó (có thể  kiếm ra tiền).  Sau khi họ đã mua được một vị trí kiếm ra tiền, thì họ lại phải tìm cách “hoàn vốn” và nhất định phải “có lãi” so với số vốn bỏ ra. Như thế, cái  “vòng xoáy quyền lực” đó 

thường không có điểm dừng. 

2.2. Đặc điểm của tham nhũng: Dựa trên khái niệm về tham nhũng chúng ta có  thể rút ra 3 đặc điểm chính của tham nhũng như sau: 

* Về chủ thể: Chủ thể tham nhũng phải là những người có chức vụ, quyền 

hạn hay có trách nhiệm trong việc quản lý một số công việc cụ thể làm việc trong 

bộ máy Nhà nước, bộ máy của Đảng  chính trị hay trong bộ  máy của các tổ chức 

kinh tế tư nhân (nếu hiểu tham nhũng theo nghĩa rộng). 

*  Đặc  điểm  về  mặt  hành  vi:  tham  nhũng  được  thể  hiện  bằng  cách  người 

thực  hiện  hành  vi  lợi  dụng  chức  vụ,  quyền  hạn,  lợi  dụng  nhiệm  vụ,  trọng  trách cũng như vị trí, địa vị công tác mà mình được giao phó để không làm hoặc làm trái những nguyên tắc  quản lý Nhà  nước, trái  với nội dung công  việc được  giao,  gây thiệt hại đến lợi ích chung của Nhà nước, xã hội, các tổ chức và công dân

Trang 15

*  Đặc  điểm  động  cơ,  mục  đích:  Thể  hiện  ở  chỗ  vụ  lợi  cá  nhân  cho  bản 

thân, cho người thân nhằm mang tính tập thể hoặc cho những người khác, sự vụ lợi 

cá  nhân  về  vật  chất  có  thể  được  hưởng  ngay  nhưng  cũng  có  thể  phải  qua  khâu trung gian, hoặc chuyển vụ lợi cá nhân cho người thân. Những đặc điểm trên ngoài tác dụng  giúp chúng ta nhận diện những hành vi tham nhũng còn là yếu tố trong 

cần thiết giúp cho công tác đấu tranh phòng và chống tham nhũng có hiệu qủa hơn.  3.1. Nguyên nhân: 

Qua thực tiễn công tác đấu tranh phòng và chống tham nhũng của các nước 

và trên thế giới, có thể thấy có nhiều nguyên nhân cũng như ý kiến khác nhau dẫn đến tham nhũng. Nguyên nhân thì có nhiều nguyên nhân như: Nguyên nhân khách quan và  nguyên nhân chủ quan, nguyên nhân trực tiếp  và nguyên  nhân  gián tiếp, nguyên nhân phổ biến và nguyên nhân đặc thù. Về ý kiến cũng vậy, có rất nhiều ý kiến nhấn mạnh đến nguyên nhân kinh tế ­ xã hội, Có ý kiến cho rằng do việc quản 

lý xã hội còn nhiều nhược điểm,…Sự phân định của tất cả các nguyên nhân và ý kiến trên điều chỉ mang tính chất tương đối chưa phân biệt đầy đủ những  nguyên nhân phát sinh. Qua nghiên cứu tổng các ý kiến và xe xét toàn diện vấn chúng ta 

thấy có những nguyên nhân cơ bản sau: 

Thứ  nhất,  Tham  nhũng  nảy  sinh  do  sự  biến  động  mạnh  mẽ  về  chính  trị, 

kinh tế và xã hội. Về kinh tế, ở các nước đang phát triển, các quốc gia công nghiệp mới, có nơi tham nhũng tràn lan cùng với sự tăng trưởng và bùng nổ của nền kinh

Trang 16

và  các  giấy  tờ  tương  tự.  Tham  nhũng  trong  bộ  máy  chính  trị  trở  thành  tục  quen thuộc  khi  chính  khách  mời  chào  các  tập  đoàn  kinh  tế  lớn  góp  quỹ  phục  vụ  cuộc vận động tranh cử chính trị, để đổi lấy các cơ hội kinh doanh ưu đãi. Về khía cạnh hành chính có quá nhiều những quy định thực tế và không cần thiết định nghĩa và tiêu chuẫn áp dụng không rõ ràng đối với nội dung các quy định, quy tắc, luật lệ, thủ tục hành chính phức tạp, rườm rà, nhu cầu kiếm thêm tiền để bù đắp thu nhập thấp  của  cán  bộ  công  chức.  Hàng  loạt  các  yếu  tố  về  văn  hóa  cũng  góp  phần  vào tình trạng tham nhũng tràn lan khắp xã hội, trong đó đáng kể là chế độ độc tài, phe cánh, cục bộ và chế độ ủng hộ thiên vị bắt nguồn từ quan hệ cá nhân hay quan hệ nhân thân. Quan hệ thông đồng, cấu kết giữa chính trị gia, quan chức chính phủ và doanh nhân để vụ lợi; kế toán kinh doanh hoặc chi tiêu không rõ ràng, thiếu minh bạch về tài chính. Cơ chế tham nhũng của chế độ Tư Bản điều tiết theo chính phủ hoặc trực tiếp tham gia, hoặc gián tiếp chỉ đạo, hướng dẫn các doanh nghiệp  vào các nghành sản xuất. Sự can thiệp của chính phủ vào thị trường, nhất là trong lĩnh vực tài chính, tiền tệ; kết qủa là môi trường điều tiết trở thành mảnh đất màu mỡ cho tham nhũng, có rất nhiều cơ hội mờ ám, sự gia tăng các khoản lợi bất chính và rủi ro, khi phát hiện tham nhũng thì chế tài trừng trị bởi tội tham nhũng còn thấp. 

Do đó, khu vực kinh doanh dể phát sinh tham nhũng có thể được xem là sự liên kết giữa Nhà nước và trùm Tư Bản. 

Ở những nước chậm phát triển hoặc đang phát triển, những biến động thay đổi  lớn  về  chính  trị  đã  làm  đảo  lộn  trật  tự  xã  hội,  kinh  tế  bị  đình  đốn  kém  phát triển, kỹ cương xã hội bị buông lỏng đã tạo cơ sở để nảy sinh tham nhũng. Sự tăng trưởng  không  đồng  điều  về  mặt  kinh  tế,  sự  quản  lý  thiếu  chặt  chẽ  trong  các  lĩnh vực  xã  hội  làm  cho  tệ  nạn  tham  nhũng  phát  triển  mạnh  mẽ.  Những  nước  khi  bắt đầu  công  cuộc  cải  cách  kinh  tế,  chuyển  đổi  cơ  cấu  kinh  tế  và  cơ  chế  quản  lý  bộ máy, quản lý hành chính củ kỹ, quan liêu, mệnh lệnh không thỏa mản yêu cầu phát triển  của  các  thành  phần  kinh  tế  và  các  nhân  tố  mới  càng  tạo  tiền  đề  cho  tham nhũng phát triển. 

Xu thế toàn cầu hóa về kinh tế, trao đổi thương mại và sự luân chuyển các nguồn  tài  chính  và  “rửa  tiền”  cũng  là  yếu  tố  làm  nghiêm  trọng  thêm  tình  trạng tham nhũng. Những nước nghèo, lạc hậu, đời sống nhân dân thấp kém, chiến tranh sắc  tộc,  tôn  giáo  xảy  ra  triền  miên,  bộ  máy  Nhà  nước  bị  quân  sự  hóa ,  độc  đoán chuyên quyền cũng là mảnh đất màu mỡ để tham nhũng có cơ hội phát triển

Trang 17

Thứ hai, Do cơ chế 4 quản lý nhà nước trên các lĩnh vực của đời sống xã hội còn yếu kém đây là những lĩnh vực rất quan trọng và có rất nhiều ý kiến khác nhau 

về nguyên nhân dẫn đến tham nhũng, có ý kiến cho rằng nguyên nhân chủ yếu nhất sinh ra tệ nạn tham nhũng đó là: cơ chế quản lý kinh tế, quản lý xã hội; cơ chế tiền lương;  cơ  chế  chi  tiêu  thanh  toán;  cơ  chế  đào  tạo  và  tuyển  chọn  cán  bộ;  cơ  chế thanh  tra,  kiểm  tra…Cụ  thể  như:  cơ  chế  “xin  ­  cho”,  các  chương  trình,  dự  án, nguồn vốn đầu tư, nguồn vốn tín dụng ưu đãi, vốn ODA,…còn tồn tại ở không ít nơi. Cơ chế đầu tư xây dựng cơ bản, quản lý đất đai, vốn, tài sản Nhà nước, tài sản doanh  nghiệp,  hoạt  động  xuất,  nhập  khẩu  chưa  chặt  chẽ.  Việc  thực  hiện  chế  độ, chính sách thiếu công  khai, minh bạch. Hoạt động thu, chi tài chính, tuyển dụng, 

đề bạt, tuyển dụng cán bộ chưa nghiêm. 

Từ cơ chế kế hoạch hóa tập trung chuyển sang cơ chế thị trường định hướng 

xã  hội  chủ  nghĩa.  Nhà  nước  ta  đang  đổi  mới  cơ  chế,  phương  pháp  quản  lý  bằng những  công  cụ  chính  sách  và  pháp  luật  nhằm  giữ  vững  mục  tiêu:  dân  giàu  nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Tuy nhiên do mới xây dựng nền kinh 

tế  thị  trường  định  hướng  xã  hội  chủ  nghĩa,  cơ  chế  quản  lý  kinh  tế­  xã  hội  chưa hoàn  thiện,  còn  không  ít  sơ  hở.  Những  cơ  chế  này  thiếu  đồng  bộ,  thiếu  chặt  chẽ không thống nhất, thậm chí còn chồng chéo lên nhau. Cơ chế hiện nay chưa phù hợp và dẫn đến phát sinh tiêu cực nhất là cơ chế tiền lương và thu nhập của cán bộ, công chức. Tiếp theo là cơ chế chi tiêu thanh toán phổ biến dùng tiền  mặt, khiến cho việc ăn cắp công qũy khá dễ, và dù sau nữa nhưng cũng quan trọng không kém 

là cơ chế đề bạt cất nhắc cán bộ thiếu công khai, minh bạch dễ dẫn đến tệ mua bán tước, chạy quyền chạy chức. 

Cơ chế là một nguyên nhân rất quan trọng  vì mỗi cơ chế hình  thành là do một điều kiện kinh tế xã hội quy định. Khi điều kiện kinh tế xã hội thay đổi thì cơ chế cũng phải thay đổi theo để thích ứng. Ở nước ta khi điều kiện kinh tế xã hội có những khủng hoảng, biến động, kinh tế khó khăn xã hội mất ổn định buộc chúng ta phải tiến hành cải cách  mở cửa chuyển đổi cơ chế, từ cơ chế quản lý hành chính quan liêu 5 sang cơ chế quản lý  thị trường. Chính trong  giai đọan chuyển đổi này khi cơ chế cũ chưa  mất đi, cơ chế  mới đang  được xây dựng chưa hoàn thiện (cơ chế quản lý kinh tế, xã hội còn nhiều sơ hở, lỏng lẻo do đang trong giai đoạn đầu chuyển đổi nền kinh tế ­ xã hội) dẫn tới tình trạng rất nhiều người, rất nhiều vị trí 

Cơ chế là một cách thức theo đó một quá trình thực hiện – Từ điển tiếng việt, NXB Đà  Nẵng 1998 tr207. 

Theo từ điển tiếng việt, tr.771 thì quan liêu là cách thức lãnh đạo, chỉ đạo thiên về dùng  mệnh lệnh, giấy tờ, xa rời thật tế, xa quần chúng. Theo Chù tịch Hồ Chí Minh tệ quan liêu là 

nguồng góc của tham nhũng, lãng phí. Bác nói:“ có nạn tham ô, lãng phí là vì bệnh quan liêu”

Trang 18

công  việc  người  ta  có  thể  dễ  dàng  chiếm  đoạt  tiền  bạc,  của  cải,  tài  sản  của  Nhà nước, của nhân dân làm của riêng. Điều đó tạo môi trường thuận lợi cho tệ tham 

nhũng phát triển. 

Thứ  ba, Tham nhũng nảy  sinh do sự độc quyền  và lũng đoạn  của các tập 

đoàn kinh tế, chính trị, nó là hệ qủa của sự độc đoán chuyên quyền, sự tham lam của sự cầm quyền. Ở những nước kinh tế phát triển, thường xảy ra những vụ tham nhũng lớn với sự cấu kết của một số nhà chính trị và giới tài phiệt. Thậm chí còn 

có sự tham  gia của băng nhóm tội phạm. Đó là sự tham lam của những người có thế lực, sự lũng đoạn của các tập đoàn kinh tế, chính trị. Ở những nước đang phát triển, do nhu cầu cần vốn đầu tư nước ngoài và đổi mới thiết bị công nghệ để công nghiệp hóa đất nước, nhưng hệ thống pháp luật không đủ, năng lực quản lý kinh tế yếu kém dẫn đến làm tăng nguy cơ tham nhũng, gây nên thất thoát vô cùng to lớn 

cho sự phát triển của đất nước. 

Thứ tư, Tham nhũng nẩy sinh do sự yếu kém của cơ quan bảo vệ pháp luật 

trong việc phát hiện và xử lý hành vi tham nhũng. Sự yếu kém và hạn chế này một mặt  là  do:  Lãnh  đạo  của  các  cơ  quan  bảo  vệ  pháp  luật  (Công  an,  kiểm  sát,  tòa án,…) Chưa quan tâm đúng mức đến việc chỉ đạo xây dựng hoàn thiện cơ cấu tổ chức, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, quy chế của đơn vị và ngành  mình; chưa tăng cường đúng mức cán bộ có bản lĩnh vững vàng, phẩm chất đạo đức tốt, tinh thần trách nhiệm cao  vào các  vị trí  chủ chốt  của đơn  vị, ngành. Nhận thức, quan điểm đối  với  việc phát hiện, xử lý hành  vi tham nhũng chưa  kiên quyết  và thống nhất; cơ chế phối hợp giữa các cơ quan bảo vệ pháp luật chưa hoàn thiện, rõ ràng; lực lượng cán bộ mỏng, có nhiều hạn chế về trình độ chuyên môn, nghiệp vụ. 

Một  mặt,  do  điều  kiện  kinh  tế  của  đất  nước  còn  khó  khăn  nên  điều  kiện trang bị  kỹ thuật  phục  vụ công tác đấu tranh  phòng chống tham nhũng còn thiếu thốn và lạc hậu. Một lý do nữa rất quan trọng đó là cơ chế hoạt động của các cơ quan bảo vệ pháp luật: Cơ chế “ Song trùng” trực thuộc tức là các cơ quan này (trừ nghành  kiểm  sát)  ngoài  việc  chịu  sự  lãnh  đạo  dọc  theo  nghành  của  Bộ  chủ  quản (Cơ  quan  cấp  trên  trực  tiếp  chỉ  đạo)  vì  chịu  sự  lãnh  đạo  của  chính  quyền  địa phương cùng cấp. Chẳng hạn như ngành công an là lực lượng chủ lực trong cuộc đấu  tranh  phòng,  chống  tham  nhũng  (Bộ  công  an  giao  nhiệm  vụ  phòng  ngừa  và đấu tranh chống tham nhũng cho lực lượng cảnh sát điều tra tội phạm  kinh tế  và chức vụ) vừa chịu sự lãnh đạo của Bộ công an vừa phải chịu sự chỉ đạo của chính quyền  địa  phương  cùng  cấp  mà  các  vụ  tham  nhũng  thường  do  quan  chức  chính quyền  hay  những  kẻ  tham  nhũng  có  mối  quan  hệ  với  các  quan  chức  trong  chính quyền địa phương từ huyện đến tỉnh. Và chính những quan chức tỉnh, huyện này là

Trang 19

Đó chính là những “Lực cản vô hình” rất mạnh (nhưng rất ít có dấu vết) làm cho lãnh  đạo  công  an  tỉnh,  huyện  “  không  giám  điều  tra”  hoặc  không  điều  tra  được tham nhũng. Vì  vậy,  mà  khả năng phát hiện  và xử lý những hành  vi tham nhũng của các cơ quan bảo vệ pháp luật bị hạn chế, bọn tội phạm tham nhũng không bị 

phát hiện sẽ ngày càng lộng hành. 

Thứ năm, Tham nhũng do công tác tuyên truyền pháp luật chưa nhiều, chủ 

yếu mang tính hình thức, mang lại kết qủa thiết thực chưa cao, vẫn nặng về khâu thành tích. Do công tác tuyên truyền pháp luật cho các tầng lớp nhân dân còn yếu kém,  mang  nặng  tính  hình  thức.  Điều  này  dẫn  tới  việc  hiểu  biết  về  pháp  luật,  về quyền và nghĩa vụ công dân của người dân còn kém, nhiều người dân không biết, không hiểu rõ mình có những quyền và nghĩa vụ gì. Đa số người dân chưa hiểu rõ, thậm chí không hiểu một điều là việc thực hiện những công việc hành chính theo yêu cầu của nhân dân là nhiệm  vụ của cán bộ, công chức Nhà nước. Không hiểu rằng phục vụ nhân dân là nghĩa vụ của cán bộ, công chức. Không biết rằng trong 

chế độ ta “Cán bộ, công chức là công bộc của nhân dân” . 

Cụ thể công tác tuyên truyền, giáo dục về đấu tranh chống tham nhũng chưa được chỉ đạo thường xuyên, chưa huy động được sức mạnh của toàn xã hội tố giác các hành vi tham nhũng, chưa tạo được dư luận xã hội phê phán, lên án mạnh mẽ những cán bộ có chức, có quyền tham nhũng. Việc biểu dương người tốt, việc tốt, người có công trong cuộc đấu tranh chống tham nhũng làm chưa tốt. Chính những 

điều này là nguyên nhân, cũng là điều kiện thuận lợi cho nạn tham nhũng tồn tại.  3.2. Hậu qủa của hành vi tham nhũng: 

Tham  nhũng  hiện  nay  đang  là  vấn  đề  nhức  nhối  của  hầu  hết  các  quốc  gia trên thế giới, không phân biệt nước giàu hay nghèo, theo chế độ chính trị nào. Nó 

là căn bệnh ác tính của cả loài người, là tệ nạn của mọi tệ nạn ở khắp các quốc gia, 

có sức tàn phá và lực cản lớn đối với sự phát triển của mỗi quốc gia. 

Tham nhũng làm chậm sự phát triển về kinh tế của đất nước, là nguy cơ làm cho  nước  ta  bị  tuộc  hậu  xa  hơn  về  kinh  tế.  Tham  nhũng  làm  thất  thoát  đáng  kể ngân  sách  Nhà  nước,  tiền  đóng  góp  từ  mồ  hôi,  nước  mắt  của  nhân  dân.  Theo  số liệu thống  kê thì tổng số tiền thiệt hại do tham nhũng  gây ra trên cả nước tính từ 1/10/2006 đến 1/10/2007 là 286 tỷ đồng, tổng số vụ án bị khởi tố là 406 với 826 bị can về các hành vi tham nhũng. Hiện các cơ quan chức năng mới thu hồi được 70 

tỷ  đồng.  Trong  số  các  vụ  án  khởi  tố,  tội  tham  ô  chiếm  tới  56,1%.  Vụ  Bùi  Tiến Dũng, nguyên Tổng giám đốc PMU18, cơ quan điều tra xác định tham ô hết hơn 3

Trang 20

112, các đối tượng cũng tham ô nhiều tỷ đồng. Trong khi đó, số vụ việc sai phạm 

về kinh tế (trong đó có tham nhũng) do hệ thống thanh tra phát hiện lớn hơn nhiều. Trong thời gian trên, ngành thanh tra phát hiện sai phạm 2.870 tỷ đồng, 1,24 triệu USD và 880 ha đất. Cơ quan thanh tra đã kiến nghị thu hồi 1.200 tỷ đồng và 880 

ha đất, xử lý kỷ luật 1.464 cán bộ sai phạm; chuyển hồ sơ sang cơ quan điều tra xử 

lý  52  vụ  với  89  đối  tượng 6 ;  Còn  theo  báo  cáo  kết  qủa  phòng,  chống  tham  nhũng của  ban  phòng,  chống  tham  nhũng  tỉnh  Cà  Mau 7 ,  từ  ngày  01/6/2006  đến  ngày 01/6/2008, Ngành Thanh tra tỉnh Cà Mau đã  triển  khai thanh tra  kinh tế ­  xã hội 

122  cuộc,  đã  kết  thúc  115  cuộc,  hiện  còn  07  cuộc  đang  tiến  hành  thanh  tra.  Qua thanh tra, phát hiện sai phạm về tài chính  với số tiền 57.525.843.912 đồng; trong đó:  số  tiền  liên  quan  đến  tham  ô  là  1.878.295.883  đồng.  Đã  tiến  hành  thu  hồi  số tiền 937.305.932 đồng. Cơ quan Công an đã  khởi tố điều tra 10  vụ, có  27 bị can (tội  danh  tham  ô  tài  sản),  tài  sản  thiệt  hại  2.318.424.400  đồng;  đã  thu  hồi  được 618.000.000 đồng. 

Qua các số liệu trên cho thấy tham nhũng gây thiệt hại vô cùng lớn cho nền kinh  tế,  nó  làm  thay  đổi  mọi  lĩnh  vực  trong  trong  xã  hội  như  kinh  tế,  luật  pháp quốc gia, dân chủ, luân lý,  giáo dục  vv…Những tổn thất do tham nhũng  gây nên thật  khó  đo  lường  cho  hết,  những  tổn  thất  thuộc  về  vật  chất  như:  Cản  trở  đầu  tư nước ngoài; Thất thoát vốn đầu tư trong nước; Giảm tốc độ làm việc, sản xuất; Giá sản phẩm đắt hơn thực tế, lương tăng theo nhịp độ giá hàng hóa, sức cạnh tranh với nước ngoài yếu hơn; Phá hủy chỗ làm, thất nghiệp cao; Nợ quốc gia tăng qúa mức thực tế; Hạn chế phát triển kinh tế. 

Tham  nhũng  không  những  lũng  đoạn  xã  hội  về  mặt  vật  chất  mà  còn  phá hoại  xã  hội  về  mặt  tinh  thần  như:  Nhân  tài  không  được  trọng  dụng  dẫn  đến  tình trạng thất thoát ra nước ngoài (chảy  máu chất xám); Gia tăng tệ nạn xã hội; Luật pháp quốc gia bị lũng đoạn; Nền tảng xã hội bị hủy hoại, đạo đức bị suy đồi; Phản giáo dục, làm gương xấu cho những thế hệ sau. Những tác hại về mặt tinh thần nêu trên  là  điều  kiện  cơ  bản  cho  sự  phát  triển  một  xã  hội  lành  mạnh  và  cũng  là  điều 

Trang 21

tư. Trong quá khứ, xác xuất thất thoát tài sản đầu tư ở những nước do tham nhũng gây nên không phải là những con số khiêm tốn. Kết qủa của nhiều cuộc tham khảo 

đã khẳng định sự tương quan, đồng thuận giữa tham nhũng và đầu tư nước ngoài ­ 

những nơi có mức tham nhũng cao thì đầu tư nước ngoài thấp. 

* Tham nhũng làm thất thoát vốn đầu tư trong nước: 

Để có thể che dấu hành động tham nhũng và cũng nhằm bảo đảm tài khoản tham  nhũng  được,  những  nhân  vật  tham  nhũng  thường  chuyển  tài  khoản  này  ra nước ngoài. Có người lập những tài khoản bí mật tại Thụy sĩ, Luxembourg v.v Có người dùng tiền tham nhũng lập những thương nghiệp, xí nghiệp ở nước ngoài với chủ  nhân  là  những  người  thân  tín.  Nếu  tài  khoản  này  không  bị  chuyển  ra  nước ngoài sẽ được dùng chi phí cho các dự án, đầu tư ở trong nước để phát triển kinh 

tế, tạo công ăn việc làm cho người dân. 

* Tham nhũng làm giảm tốc độ làm việc, sản xuất: 

Để có thể nhận được tiền hối lộ, những người có chức, có quyền phải kéo dài thời gian giải quyết công việc, đòi hỏi phải có thủ tục (nhưng thật chất không cần  thiết),…  để  người  “trong  cuộc”  phải  trả  tiền.  Những  dự  án  không  có  tham nhũng, mọi thành viên của dự án gắn sức đạt kết qủa cao về số lượng cũng như về phẩm chất, trong  khi những dự án có tham  nhũng ỷ lại, làm qua loa cho  có lệ  vì 

“đút tiền là xong!”. Mối tương quan giữa sản xuất và tham nhũng là: “Những nơi 

có tham nhũng cao ­ mức độ sản xuất thấp”, ngược lại “những nơi có tham nhũng  thấp ở đó mức độ sản xuất cao”. Giá sản phẩm sẽ đắt hơn, lương tăng theo nhịp độ 

giá hàng hóa, sức cạnh tranh với nước ngoài yếu hơn. 

Tốc độ làm việc giảm ảnh hưởng đến số lượng và chất lượng sản phẩm sản xuất  cũng  như  dịch  vụ,  mặt  khác  tiền  trả  cho  tham  nhũng  làm  tăng  thêm  phí  tổn sản xuất. Số luợng sản xuất giảm, chất lượng kém hơn trước, tổn phí sản xuất tăng, những  sự  kiện  này  làm  tăng  gía  sản  phẩm  nhưng  với  chất  lượng  kém  hơn  trước đây, sức cạnh tranh với những quốc gia khác do đó cũng yếu hơn trước. Vật giá gia tăng nhanh, lạm phát ngày càng cao hơn, lưong nhân công cũng phải tăng phù hợp với vật giá. Nếu lương không tăng kịp với vật gía, đời sống của công, nhân viên bị giảm xuống, đến một mức độ nào đó sẽ xảy ra những cuộc đấu tranh gay gắt. Một khi có những cuộc đấu tranh gay gắt xảy ra, lương trả cho công nhân viên sẽ tăng nhảy vọt vì không những điều chỉnh những khác biệt của hiện tại mà còn trong quá khứ. Lương tăng, sản phẩm cũng phải tăng cho phù hợp, người tham nhũng đòi hỏi

Trang 22

* Tham nhũng làm hạn chế phát triển kinh tế: 

Khi  những  điều  kiện  cho  sự  phát  triển  kinh  tế  bị  hủy  diệt  như:  Vốn  trong nước bị thất thoát ra nước ngoài, thu hút vốn từ nước ngoài đầu tư nhỏ giọt, lương nhân công cao, giá sản phẩm cao, sức cạnh tranh với nước ngoài yếu vv… kinh tế trong nước sẽ chậm phát triển hay có thể gây khủng hoảng kinh tế như trường hợp nhiều nước trên thế giới

Trang 23

* Nhân tài không được trọng dụng dẫn đến tình trạng thất thoát nhân  tài ra nước ngoài, cản trở phát triển khoa học kỹ thuật: 

Khi tốt nghiệp ra trường, ngoài tiền “bồi dưỡng” phải quen biết lớn mới có chỗ làm tốt, phù hợp sở thích. Trong hoàn cảnh như vậy, nhân tài khó có thể phát triển,  nếu  có  phát  triển  được  nhưng  không  quen  biết  và  không  có  tiền  để  hối  lộ cũng  không được trọng dụng nên họ thường làm  việc  không đúng ngành. Những người khá hơn, may mắn hơn sẽ kiếm được việc trong các công ty nước ngoài. Sự thất  thoát  nhân  tài  không  chỉ  thất  thoát  thông  thường  mà  qua  đó  nó  làm  cản  trở phát triển khoa học kỹ thuật ­ phát triển kinh tế mà còn làm tăng thất nghiệp trong nước. Vì chuyên gia rất cần thiết cho một công việc (họ được ví như thuyền trưởng trên  một  con  tàu)  số  lượng  chuyên  gia  cần  sử  dụng tùy  thuộc  vào  dự  án  lớn  hay nhỏ, có nhiều dự án lớn cần thiết nhiều nghìn người. 

Mặt  khác,  các  công  ty  nước  ngoài  mạnh  về  năng  lực  tài  chính,  do  “kinh nghiệm” trong lĩnh vực hối lộ nên những công ty này thường thắng thầu trong các 

dự  án.  Các  công  ty  trong  nước  do  không  có  nhiều  hợp  đồng  nên  không  có  điều kiện, tài chính cho những công trình nghiên cứu rộng lớn và thu thập kinh nghiệm 

nghề nghiệp. 

* Tăng trưởng tệ nạn xã hội: 

Để  công  việc  không  bị  cản  trở  những  kẻ  phạm  pháp  tìm  cách  mua  chuộc cán bộ, công chức (những người có nhiệm vụ, quyền hạn). Nếu những cán bộ, viên chức  này  tham  nhũng  thì  hành  vi  của  những  kẻ  phạm  pháp  được  che  chở  và  trở thành “hợp pháp hoá”. Người dân hàng ngày chứng kiến những hành vi phạm pháp nhưng không bị trừng phạt, dần dần mọi người quen thuộc với những hành vi này 

và cuối cùng hành  vi hối lộ được công nhận  trong xã hội. Kết qủa  của nhiều bài tham  khảo  đưa  đến  kết  luận  rằng,  tham  nhũng  là  một  trong  những  nguyên  nhân 

chính làm tăng trưởng tệ nạn xã hội. 

* Tham nhũng làm luật pháp quốc gia bị lũng đoạn: 

Khi những người có chức  vụ, quyền hạn có hành vi nhận hối lộ thì những cán  bộ,  viên  chức  đã  vi  phạm pháp  luật,  sau  khi  nhận  hối  lộ  thì  những  người  có nhiệm vụ quyền hạn này sẽ không vô tư trong khi thi hành công vụ, họ sẵn sàng ra những quyết định, ban hành những văn bản không thuộc thẩm quyền trái với pháp luật.  Do  đó,  họ  tự  lập  ra  pháp  luật  và  áp  dụng  chúng  thay  vì  luật  pháp  quốc  gia hiện  hành.  Nếu  trong  một  quốc  gia  có  1  triệu  viên  chức  tham  nhũng,  trong  quốc gia đó sẽ có 1 triệu cơ quan lập pháp và hành pháp tư nhân được thực dụng, trong lúc cơ quan lập pháp và hành pháp chính thức của quốc gia chỉ là bù nhìn

Trang 24

* Tham nhũng làm  xã hội bị hủy hoại, đạo đức bị tàn phá: 

Tham nhũng làm mất lòng tin của nhân dân vào cơ cấu, thể chế của xã hội, thậm chí dẫn đến đổ  vỡ hoàn toàn  một cơ cấu xã hội nhất định hoặc dẫn tới tình trạng  vô chính phủ. Có nhà nghiên cứu cho rằng đây là  hình ảnh của sự phá hủy dần dần. Tham nhũng làm xói mòn phẩm chất, đạo đức cách mạng, tha hóa và làm hỏng bộ phận không nhỏ cán bộ, Đảng viên, gây nên sự bất bình từ phía nhân dân, làm giảm sút lòng tin của nhân dân đối với Đảng và Nhà nước. Theo báo cáo cáo của Bộ Công an từ năm 1993 đến 2005, đối tượng tham nhũng lại là những người đang giữ chức vụ rất cao trong các cơ quan quản lý Nhà nước. Đã có 1 bộ trưởng, 

5 thứ trưởng, 14 chủ tịch và phó chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh cùng hàng trăm vụ trưởng,  tổng  giám  đốc  đã  bị  xử  lý  hình  sự,  hàng  trăm  cán  bộ  trung,  cao  cấp  liên quan đến tham nhũng, buôn lậu bị xử lý hành chính 8 

*  Tham  nhũng  làm  phản  giáo  dục,  làm  gương  xấu  cho  những  thế  hệ  sau: 

Từ khi còn nhỏ các em đã chứng kiến những hành vi biếu xén quà cáp, hối lộ nhằm  “biến”  hành  vi  bất  hợp  pháp  trở  thành  hành  vi  hợp  pháp  của  cha  mẹ, người thân,… Khi đến trường phải tặng quà, phải đi học thêm ở nhà thầy, cô mới được điểm cao… Những tục lệ này được làm quen với các em từ tuổi thơ nên đối với  các  em  là  chuyện  bình  thường,  dẫn  đến  quan  niệm  lệch  lạc  trong cuộc  sống: 

“có tiền mua Tiên cũng được”, học sinh đương nhiên trở thành “khách hàng” của 

giáo  viên vì  “khách hàng là vua” nên học sinh không nhất thiết phải cố gắng học hành nhưng vẫn được điểm cao. Khi lớn lên các em sẽ bắt chước người lớn phạm pháp vì “cha mẹ chúng sẽ dùng tiền biến mọi việc không thành có”. 

Báo An ninh thế giới, số 487 (17/09/2005)

Trang 25

Chương 2: CƠ SỞ PHÁP LÝ VỀ NHỮNG BIỂU HIỆN 

CỦA THAM NHŨNG 

1. QUI ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ CÁC HÀNH VI THAM NHŨNG: 

Nhận thức được tính chất đặc biệt nghiêm trọng của nạn tham nhũng, do đó Đảng và Nhà nước ta đã đề ra nhiều chủ trương, biện pháp nhằm ngăn chặn và bài trừ tham nhũng. Theo luật pháp hiện hành của nước ta hiện nay tham nhũng chủ yếu được qui định cụ thể trong hai đạo luật quan trọng là Bộ luật hình sự 1999 và Luật phòng, chống  tham nhũng 2005. Bên cạnh đó những biện pháp phòng ngừa hành vi tham nhũng cũng được quy định trong các văn bản khác như:  Luật khiếu 

nại tố cáo; Luật hoạt động giám sát của Quốc hội; pháp lệnh cán bộ, công chức…  1.1. Theo Bộ luật Hình Sự 1999: 

Các hành vi tham nhũng được ghi nhận trong chương XXI  các tội phạm về chức vụ tại mục A các tội phạm về tham nhũng. Mục A có 7 Điều luật ứng với 7 hành vi tham nhũng: Tham ô tài sản; Nhận hối lộ; Lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản; Lợi dụng chức vụ quyền hạn khi thi hành công vụ; Lạm quyền trong  khi thi hành công  vụ;  Lợi dụng chức vụ, quyền hạn gây ảnh hưởng đối  với người khác để trục lợi; Giả mạo trong công tác. Đây là những hành vi phạm tội bị 

xử lý rất nghiêm khắc với khung hình phạt được áp dụng cao nhất là tử hình. 

Nói đến tham nhũng là nói  đến  việc lạm dụng chức  vụ, quyền hạn. Người lạm  dụng  chức  vụ,  quyền  hạn  được  nói  đến  trong  phần  các  tội  phạm  về  tham nhũng này là những người đã qua quyết định bổ nhiệm của lãnh đạo cơ quan Nhà nước, do bầu cử, do hợp đồng hoặc do hình thức khác, có hưởng lương hoặc không hưởng lương, được giao thực hiện những công vụ nhất định và có quyền hạn nhất định  khi  thực  hiện  công  vụ.  Những  người  được  giao  thực  hiện  công  vụ  thường xuyên, lâu dài, hoặc chỉ được giao trong một thời gian nhất định và có quyền hạn nhất định trong khi thực hiện công vụ. 

Các hành vi tham nhũng đã được quy định rõ trong từng điều luật với những dấu hiệu đặc trưng được mô tả đầy đủ để chúng ta nhận biết rõ ràng từng hành vi 

Trang 26

Trách nhiệm quản lí tài sản cần được phân biệt với trách nhiệm bảo vệ đơn thuần của những người làm công việc bảo vệ ở cơ quan Nhà nước, doanh nghiệp Nhà nước hay hợp tác xã. Những người này hoàn toàn không liên quan đến tài sản 

+ Dấu hiệu: Hành vi lợi dụng chức vụ quyền hạn, quyền hạn chiếm đoạt tài 

sản mà mình có trách nhiệm quản lí cấu thành tội tham ô khi có một trong các dấu hiệu sau: Gía trị tài sản chiếm đoạt từ năm trăm nghìn đồng trở lên; Gây hậu qủa nghiêm trọng; Đã bị xử lí kỷ luật về hành vi này mà còn vi phạm; đã bị kết án về một trong các tội được quy định từ Điều 278 đến Điều 284, chưa được xóa án tích 

mà còn vi phạm. 

Trường hợp tuy chỉ là bảo vệ nhưng do đặc điểm của tài sản được bảo vệ, họ có khả  năng tiếp cận trực tiếp với tài sản nên họ được coi như người tạm thời qủan lí tài sản khi người  qủan lí chính thức vắng mặt. Ví dụ: Bảo vệ nông sản, thủy sản đang phơi…. Trong trường hợp  này họ có thể trở thành chủ thể của tội tham ô.

Trang 27

Có  một  số  trường  hợp  tài  sản  bị  chiếm  đoạt  dưới  năm  trăm  nghìn  đồng nhưng vẫn cấu thành tội tham ô như: Người chiếm đoạt đã bị xử lí kỷ luật về hành 

vi này mà còn tái phạm; Chiếm đoạt tài sản dưới năm trăm nghìn nhưng gây hậu qủa nghiêm trọng … 

­ Mặt chủ quan của tội phạm: Lỗi của người phạm tội là lỗi cố ý trực tiếp, 

tức là hành vi này được thực hiện khi người phạm tội nhận thức được hành vi của mình, thấy trước hậu qủa và mong muốn hậu qủa đó xảy ra. Mục đích là dấu hiệu 

­ Mặt chủ quan của tội  phạm: Động cơ của  người phạm tội là động cơ tư 

lợi. Người phạm tội mong muốn lợi ích vật chất cho mình hoặc cho người khác mà mình quan tâm. Lỗi của người phạm tội là lỗi cố ý trực tiếp. Người phạm tội ý thức được việc mình làm là trái pháp luật nhưng vì động cơ tư lợi nên vẫn làm và qua 

đó gây thiệt hại cho xã hội. 

1.1.3. Điều 280. Tội lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản: 

* Khái niệm: 

Tội lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản là hành vi của người có chức vụ, quyền hạn đã vượt ra ngoài phạm vi quyền hạn của mình chiếm đoạt tài 

sản của người khác. 

* Dấu hiệu pháp lí:

Trang 28

­  Chủ thể của tội phạm:  Chủ thể của tội này là chủ thể đặc biệt – người có  chức vụ, quyền hạn. 

­ Mặt khách quan của tội phạm: Người phạm tội lạm dụng chức vụ, quyền 

hạn  chiếm  đoạt  tài  sản  của  người  khác,  trước  hết  phải  là  người  có  hành  vi  lạm dụng chức vụ, quyền hạn của mình. Lạm dụng chức vụ,quyền hạn là hành vi vượt quá quyền hạn của mình, làm trái công  vụ để chiếm đoạt tài sản của người  khác. Theo đó người có chức vụ, quyền hạn chỉ là chủ thể của tội phạm này khi họ lạm dụng chức vụ quyền hạn mà họ có. Nếu họ không lạm dụng mà chỉ lợi dụng chức 

vụ, quyền hạn để chiếm đoạt tài sản thì nếu chiếm đoạt tài sản thuộc sở hữu nhà nước thì sẽ cấu thành tội tham ô, nếu chiếm đoạt tài sản thuộc sở hữu cá nhân, tổ chức thì có thể cấu thành tội cưỡng đoạt tài sản hay các tội xâm phạm sở hữu khác. 

xã  hội,  quyền,  lợi  ích  hợp  pháp  của  công  dân,  do  vụ  lợi  hoặc  động  cơ  cá  nhân 

có những quyền gì. Nếu trong khi thi hành công vụ họ đã thực hiện vượt quá giới hạn  cho  phép  là  lạm  dụng  chức  vụ  quyền  hạn  mà  không  phải  lợi  dụng  chức  vụ quyền hạn là dựa vào điều kiện thuận lợi do chức vụ, quyền hạn đem lại làm trái công vụ để trục lợi cá nhân đây là điểm phân biệt giữa lợi dụng và lạm dụng. Tội phạm hoàn thành khi chủ thể có hành vi làm trái công vụ gây thiệt hại. Về hậu qủa, người có chức vụ, quyền hạn, lợi dụng chức vụ, quyền hạn phải gây thiệt hại cho lợi ích của Nhà nước, tổ chức xã hội, quyền lợi ích hợp pháp của công dân. Khác

Trang 29

với  tội  phạm  khác,  hậu  qủa  của  lợi  dụng  chức  vụ,  quyền  hạn  trong  khi  thi  hành công  vụ  gây thiệt hại cho lợi ích Nhà nước, tổ chức xã hội, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân là dấu hiệu bắt buộc. Ngoài thiệt hại cho lợi ích Nhà nước, tổ chức xã hội, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, là dấu hiệu bắt buộc, thì còn 

có những hậu qủa khác không phải là dấu hiệu bắt buộc nhưng trong một số trường hợp  nó  là  yếu  tố  định  khung  hình  phạt  như:  Hậu  qủa  nghiêm  trọng,  rất  nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng. Trong đó, có những thiệt hại vật chất và phi vật chất. 

­ Mặt chủ quan của tội phạm: Lỗi của người phạm tội là lỗi cố ý trực tiếp. 

Động cơ phạm tội là động cơ vụ lợi hoặc động cơ cá nhân khác. Động cơ vụ lợi là động  cơ  mưu  cầu  lợi  ích  vật  chất  cho  mình  hoặc  cho  người  khác  mà  mình  quan tâm. Động cơ cá nhân khác có thể là động cơ cũng cố địa vị, uy tín cá nhân hoặc 

quyền lực cá nhân mà không mưu cầu lợi ích vật chất. 

1.1.5. Điều 282. Tội lạm quyền trong khi thi hành công vụ: 

* Khái niệm: 

Tội lạm quyền trong khi thi hành công vụ là hành vi của người có chức vụ, quyền hạn vì vụ lợi hoặc động cơ cá nhân khác đã vượt quá quyền hạn của mình làm trái công vụ gây thiệt hại cho lợi ích của Nhà nước, của xã hội, quyền, lợi ích 

ích vật chất khác. 

* Dấu hiệu pháp lí:

Trang 30

­  Chủ thể của tội phạm:  Chủ thể của tội này là chủ thể đặc biệt – Người có chức vụ, quyền hạn. 

­ Mặt khách quan của tội phạm: Hành vi của người có chức vụ, quyền hạn dùng ảnh hưởng của  mình thúc đẩy người có chức  vụ, quyền hạn  khác làm hoặc không làm một việc thuộc trách nhiệm hoặc liên quan trực tiếp đến công việc của 

họ  hoặc  làm  một  việc  không được  phép  làm.  Đây  cũng  là  dấu  hiệu  phân  biệt  tội này  với tội nhận hối lộ. Nếu như trong tội nhận hối lộ, người có chức  vụ, quyền hạn làm hoặc không làm một việc theo yêu cầu của người đưa hối lộ thì trong tội này người có chức vụ, quyền hạn lại dùng ảnh hưởng của mình thúc đẩy, tác động người có chức vụ, quyền hạn khác để người này làm theo yêu cầu của người đưa hối  lộ.  Trong  thực  tế,  người  có  ảnh  hưởng  đối  với  ngưuời  có  chức  vụ  thường  là người có chức vụ cao hơn. Tuy nhiên cũng có trường hợp người có ảnh hưởng chỉ 

Trang 31

vụ,  quyền  hạn  vào  giấy  tờ,  tài  liệu.  Đối  tượng của  tội  giả  mạo  trong công  tác  là giấy tờ, tài liệu của cơ quan Nhà nước, tổ chức xã hội… 

­ Mặt chủ quan của tội phạm: Lỗi của người phạm tội là lỗi cố ý trực tiếp (Người phạm tội nhận thức được hành vi của mình và mong muốn hậu qủa đó xảy 

ra). 

1.2. Theo Luật phòng chống tham nhũng 2005: 

Theo quy  định của luật phòng, chống tham nhũng 2005 có tất cả 12 hành vi tham nhũng được quy định tại Điều 3 với 12 khoản theo thứ tự sau: 

9.  Lợi  dụng  chức  vụ,  quyền  hạn  sử  dụng  trái  phép  tài  sản  của  Nhà nước vì vụ lợi. 

10. Nhũng nhiễu vì vụ lợi. 

11. Không thực hiện nhiệm vụ, công vụ vì vụ lợi. 

12. Lợi dụng chức vụ, quyền hạn để bao che cho người có hành vi vi phạm pháp luật vì vụ lợi; cản trở, can thiệp trái pháp luật vào việc kiểm tra, thanh tra, kiểm toán, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án vì vụ lợi. 

Trong  12  loại  hành  vi  tham  nhũng  nêu  trên,  thì  có  7  loại  hành  vi  đầu  (Từ khoản  1  đến  khoản  7)  đã  được  quy  định  cụ  thể,  chi  tiết  trong  Bộ  Luật  Hình  Sự 

1999 (Từ Điều 278 đến Điều 284), 5 loại hành vi sau (Từ khoản 8 đến khoản 12) là

Trang 32

những hành  vi đã phát sinh trong xã hội  và đang trở nên phổ biến, cần được quy định cụ thể làm cơ sở pháp lý cho  việc xử lý. Bảy loại hành  vi đầu tiên  đã được phân  tích  làm  rõ  ở  phần  các  quy  định  của  Bộ  Luật  Hình  Sự  1999,  vì  vậy  trong phần  này  người  viết  chỉ  phân  tích  và  làm  rõ  5  loại  hành  vi  sau  (Từ  khoản  8  đến 

khoản 12). 

Chủ  thể  chung  của  các  hành  vi  này:  Là  người  có  chức  vụ,  quyền  hạn 

gồm: Cán bộ, công chức, viên chức; Sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc  phòng  trong  cơ  quan,  đơn  vị  thuộc  Quân  đội  nhân  dân;  sĩ  quan,  hạ  sĩ  quan nghiệp vụ, sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên môn ­ kỹ thuật trong cơ quan, đơn vị thuộc Công  an  nhân  dân; Cán  bộ  lãnh  đạo,  quản  lý  trong  doanh  nghiệp  của  Nhà  nước; cán bộ lãnh đạo, quản lý là người đại diện phần vốn góp của Nhà nước tại doanh nghiệp; Người được giao thực hiện nhiệm vụ, công vụ có quyền hạn trong khi thực hiện nhiệm vụ, công vụ đó 10 

1.2.1. Hành vi đưa hối lộ, môi giới hối lộ được thực hiện bởi người có chức vụ,  quyền  hạn  để  giải  quyết  công  việc  của  cơ  quan,  tổ  chức,  đơn  vị  hoặc  địa 

phương vì vụ lợi: 

* Chủ thể thực hiện hành vi: Như vậy chỉ những đối tượng nêu trên khi thực 

hiện hành  vi đưa hối lộ  và  môi  giới hối lộ  mới bị coi là tham nhũng còn các  đối tượng khác khi thực hiện hành vi này thì tùy mức độ mà có thể bị xử lý hành chính hay xử lý hình sự về tội đưa hối lộ (Theo Điều 289 Bộ Luật Hình Sự 1999)  hay tội 

làm môi giới hối lộ ( Điều 290 Bộ Luật Hình Sự 1999). 

* Về mặt khách quan: có hai hành  vi đó là  hành vi đưa hối lộ  và hành  vi 

môi giới hối lộ. Đưa hối lộ là hành vi dùng tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác 

để đưa cho người có chức vụ, quyền hạn, để người này giải quyết công việc của cơ quan, tổ chức, đơn vị hoặc địa phương theo yêu cầu của mình. Còn môi giới hối lộ 

là hành vi làm trung gian giữa người đưa hối lộ với người nhận hối lộ để cho hai 

người này thực hiện hành vi đưa và nhận hối lộ. 

*  Về  mặt  chủ  quan:  Người  thực  hiện  hành  vi  này  nhằm  mục  đích  để  giải 

quyết công  việc cơ quan, tổ chức, đơn vị hoặc địa phương. Động cơ là  vì  vụ lợi. Lỗi là lỗi cố ý trực tiếp, tức là người thực hiện hành vi này nhận thức rõ về hành vi 

của mình thấy trước được hậu qủa của hành vi và mong muốn nó xảy ra. 

1.2.2. Hành vi lợi dụng chức vụ, quyền hạn sử dụng trái phép tài sản của Nhà  nước vì vụ lợi: 

10 

Điều 1, khoản 3 Luật phòng, chống tham nhũng 2005.

Trang 33

* Chủ thể thực hiện hành vi:  Là người có chức vụ, quyền hạn  gồm những 

người được quy định tại Điều 1 khoản 3 Luật phòng, chống tham nhũng 2005. Nếu người  thực  hiện  hành  vi  này  không  phải  là  người  có  chức  vụ,  quyền  hạn  thì  tùy mức độ có thể xử phạt vi phạm hành chính hoặc truy tố về tội sử dụng trái phép tài sản theo Điều 142, Bộ Luật Hình Sự 1999 và hành vi đó không bị xem là hành vi 

tham nhũng. 

*  Về  mặt  khách  quan:  đây  là  hành  vi  sử  dụng  tài  sản  của  Nhà  nước  một 

cách trái phép vì vụ lợi. Tức là hành vi của người có chức vụ, quyền hạn vì vụ lợi 

đã khai thác một cách trái phép giá trị sử dụng của tài sản (Nhà nước) mà họ đang quản  lý,  sử  dụng  hay  nói  cách  khác  là  dùng  tài  sản  để  làm  công  việc  riêng.  Đặc trưng cơ bản của hành vi này là người thực hiện hành vi chỉ có ý định khai thác lợi ích do tài sản đem lại chứ không có ý định chiếm đoạt tài sản, sau khi đã khai thác lợi ích của tài sản họ sẽ trả lại tài sản cho Nhà nước, cơ quan, tổ chức. Chẳng hạn như: Dùng xe ô tô của cơ quan để sử dụng vào công việc riêng của gia đình, đi du lịch, đi nghỉ  mát, tham quan; Dùng  tiền của cơ quan đem  gởi tiết  kiệm hoặc cho người khác vay để lấy lãi suất…Như vậy là chỉ cần người có chức vụ, quyền hạn 

có hành vi lợi dụng chức vụ, quyền hạn của mình sử dụng trái phép tài sản của Nhà nước, cơ quan, tổ chức vì vụ lợi thì hành vi đó được xem là hành vi tham nhũng. 

* Về mặt chủ quan: người vi phạm thực hiện hành vi này một cách cố ý vì 

động cơ vụ lợi. 

11 

Theo từ điển tiếng việt – NXB Đà Nẵng 1998, tr.704 thì “nhũng nhiễu là quấy rầy, đòi  hỏi cái này, cái khác”. 

12 

Điều 2, khỏan 5 Luật phòng, chống tham nhũng 2005.

Trang 34

1.2.4. Hành vi lợi dụng chức vụ, quyền hạn để bao che cho người có hành vi vi  phạm pháp luật vì vụ lợi; cản trở, can thiệp trái pháp luật vào việc kiểm tra, 

Các hành vi trên thể hiện dưới nhiều hình thức chẳng hạn như: Cán bộ cấp trên biết cán bộ cấp dưới làm trái pháp luật nhưng vẫn bao che không báo cho cấp 

có thẩm quyền hay các cơ quan pháp luật biết; Cán bộ lãnh đạo các đơn vị cố tình cản trở gây khó khăn cho hoạt động thanh tra, điều tra viên; hay dùng ảnh hưởng của mình tác động đến các cán bộ điều tra, thanh tra, can thiệp vào quá trình thanh 

và giải quyết tố cáo về hành vi tham nhũng

Trang 35

2.1.  Phát  hiện  tham  nhũng  thông  qua  hoạt  động  thanh  tra,  kiểm  toán,  điều 

quan, trung thực, công khai, dân chủ, kịp thời; không làm cản trở hoạt động bình 

thường  của  cơ  quan,  tổ  chức,  cá  nhân  là  đối  tượng  thanh  tra”.  Như  vậy,  có  thể 

thấy hoạt động thanh tra phải thực hiện trên cơ sở đảm bảo về nguyên tắc và nội dung mà Luật đã xác định. 

+ Hoạt động thanh tra phải tuân theo pháp luật: Hoạt động thanh tra cũng 

như bất kỳ hoạt động nào  khác của Nhà nước cũng phải dựa trên cơ sở của pháp luật.  Có  thể  nguyên  tắc  hoạt  động  thanh  tra  phải  tuân  theo  pháp  luật  là  bao  gồm việc ra quyết định thanh tra, tiến hành thanh tra, ra kết luật thanh tra đến việc xử lý kết luận thanh tra,… Điều này phải thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục do pháp  luật  quy  định,  không  tùy  tiện,  không  xuất  phát  từ  ý  kiến  chủ  quan  của  cơ quan và người quản lý. 

+ Hoạt động thanh tra phải bảo đảm tính chính xác, khách quan, công khai, 

dân  chủ,  kịp  thời:  Nguyên  tắc  này  đặc  ra  những  yêu  cầu  cao  đối  với  hoạt  động 

thanh tra, kiểm tra đối với các tổ chức, cơ quan, doanh nghiệp. Hoạt động thanh tra 

và nhất là những kết luận thanh tra thể hiện sự đánh giá của cơ quan nhà nước đối

Trang 36

+  Hoạt  động  thanh  tra  cần  phải  bảo  đảm  nguyên  tắc  công  khai,  dân  chủ, 

kịp thời. Quyết định thanh tra phải được công bố công khai, quá trình làm việc với 

đối tượng bị thanh tra cũng phải diễn ra công khai, dân chủ. Tạo điều kiện cho kết qủa thanh tra được công bằng và chính xác. 

+  Nguyên  tắc  không  làm  cản  trở  hoạt  động  bình  thường  của  cơ  quan,  tổ chức, cá nhân là đối tượng của thanh tra: Hoạt động thanh tra với tư cách là công 

cụ, một phương thức quản lý phải thể hiện tinh thần đó như một nguyên tắc hoạt động của mình. Dù đối tượng thanh tra là một cơ quan, một tổ chức, cá nhân, công dân nào thì họ cũng có những hoạt động thể hiện sự tồn tại và phát triển của mình thông qua việc thực hiện các quyền và nghĩa vụ, đồng thời tôn trọng quyền lợi của các thành viên khác trong xã hội. 

Hoạt động thanh tra bằng việc loại trừ, ngăn chặn, xử lý hành vi vi phạm là góp phần tạo  môi trường lành  mạnh. Những  hành vi hay biểu hiện  vi phạm pháp luật, những hiện tượng tham nhũng mà thanh tra phát hiện phải được ngăn chặn và 

xử lý kịp thời. 

Theo  Báo  cáo,  trong  năm  2008,  Thanh  tra  Chính  phủ  và  thanh  tra  các  bộ, ngành, địa phương đã tiến hành 14.435 cuộc thanh tra kinh tế ­ xã hội và chuyên ngành, đã kết thúc 12.039 cuộc; Qua thanh tra đã phát hiện sai phạm với tổng giá trị  là  7.160,7  tỷ  đồng,  8.052ha  đất;  kiến  nghị  thu  hồi  về  ngân  sách  nhà  nước 5.769,1 tỷ đồng, 3.790,4ha đất; đã thu hồi được 3.320,9 tỷ đồng, 361,9 ha đất; kiến nghị xử lý kỷ luật 328 tập thể và 1.716 cá nhân có sai phạm, kiến nghị chuyển cơ quan điều tra xem xét, xử lý 119 vụ với 134 đối tượng 13 

b)  Phát hiện tham nhũng thông qua hoạt động kiểm toán: 

*  Khái  niệm:  Theo  Điều  4  Luật  kiểm  toán  Nhà  nước  2005  Hoạt  động 

kiểm  toán  của  kiểm  toán  Nhà  nước  là  việc  kiểm  tra,  đánh  giá  và  xác  nhận  tính đúng đắn, trung thực của báo cáo tài chính; Việc tuân thủ pháp luật; tính kinh tế, hiệu lực và hiệu qủa trong quản lý, sử dụng ngân sách tiền và tài sản Nhà nước 

Mục đích của hoạt động  kiểm toán Nhà nước  phục vụ  việc  kiểm tra,  giám sát của Nhà nước trong quản lý, sử dụng ngân sách, tiền và tài sản Nhà nước; góp phần thực hành tiết kiệm, chống tham nhũng, thất thoát, lãng phí và phát hiện ngăn 

13 

Báo cáo thẩm tra báo cáo Chính phủ về công tác phòng, chống tham nhũng 2008

Trang 37

+  Kiểm  tra  tuân  thủ  là  tập  trung  vào  tình  hình  chấp  hành  luật  Ngân  sách Nhà nước, luật kế toán, các luật thuế và văn bản quy phạm pháp luật khác có liên quan; tình hình chấp hành nội quy, quy chế của đơn vị được kiểm toán. 

+ Kiểm tra hoạt động là tập trung vào tình hình thực hiện mục tiêu, nhiệm 

vụ hoạt động; việc bảo đảm, quản lý và sử dụng các nguồn lực; hệ thống kiểm soát nội  bộ;  các  chương  trình,  dự  án;  các  hoạt  động  của  đơn  vị  được  kiểm  toán;  tác động của môi trường bên ngoài đối với tính kinh tế, hiệu lực và hiệu qủa hoạt động của đơn vị được kiểm toán. 

Tháng 7 năm 2008, Kiểm toán Nhà nước công bố báo cáo  kiểm toán năm 2007;  qua  107  cuộc  kiểm  toán,  phát  hiện,  kiến  nghị  tăng  thu  ngân  sách  2.764  tỷ đồng; giảm chi ngân sách 1.244 tỷ đồng; phát hiện thêm các khoản nợ đọng là 413 

tỷ đồng; các khoản phải nộp, hoàn trả ngân sách là 6.095 tỷ đồng ; chuyển hồ sơ sang  cơ  quan  điều  tra  02  vụ  việc.  Năm  2008,  Kiểm  toán  Nhà  nước  triển  khai 83/135 cuộc kiểm toán; có 35 cuộc đã phát hành báo cáo kiểm toán, trong đó phát hiện, kiến nghị tăng thu ngân sách, thu khác, giảm chi ngân sách, ghi thu, ghi chi, đưa vào quản lý qua ngân sách… trên 943 tỷ đồng; Việc thực hiện các  kiến nghị của  Kiểm  toán  Nhà  nước  qua  công  tác  kiểm  toán  năm  2006  đạt  tỷ  lệ  bình  quân 89,3%.  Có  những  kiến  nghị  được  thực  hiện  đạt  tỷ  lệ  cao  như  quyết  toán  chuyển năm sau đạt 100%; các khoản tăng thu đã đạt 96,1 %; kiến nghị ghi thu, ghi chi đạt 94,4%; các khoản xuất toán, giảm cấp phát đạt 65,3%; các điều chỉnh và giảm trừ khác đạt 76,9% 14 . 

14 

Báo cáo Chính phủ về công tác phòng, chống tham nhũng 2008.

Trang 38

c)  Phát hiện tham nhũng thông qua hoạt động điều tra: 

* Khái niệm: 

Điều  tra  là  hoạt  động  tố  tụng  của  cơ  quan  điều  tra  và  cơ  quan  khác  được giao  nhiệm  vụ  tiến  hành  một  số  hoạt  động  điều  tra  nhằm  xác  định  tội  phạm  của người có hành vi phạm tội, lập hồ sơ đề nghị truy tố, tìm ra nguyên nhân và điều kiện phạm tội, yêu cầu các cơ quan, tổ chức hữu quan áp dụng các biện pháp khắc phục và ngăn ngừa 15 . 

* Chức năng của điều tra: Hoạt động điều tra nhằm xác định tội phạm của 

người có hành vi phạm tội, lập hồ sơ đề nghị truy tố, tìm ra nguyên nhân và điều kiện phạm tội, yêu cầu các cơ quan, tổ chức hữu quan áp dụng các biện pháp khắc phục và ngăn ngừa. 

Hoạt động điều tra phải tôn trọng sự thật, tiến hành  một cách  khách  quan, toàn  diện  và  đầy  đủ,  làm  rõ  những  chứng  cứ  xác  định  có  tội  hoặc  vô  tội,  những tình  tiết  tăng  nặng  và  tình  tiết  giảm  nhẹ  trách  nhiệm  của  bị  can.  Mọi  hoạt  động điều tra phải tuân theo pháp luật, chấp hành các nguyên tắc và thủ tục do Bộ luật tố tụng hình sự quy định. 

Theo Báo cáo, trong năm 2008 cơ quan điều tra các cấp đã khởi tố 284 vụ 

án với 622 bị can về các tội tham nhũng, chủ yếu là các tội tham ô tài sản (chiếm 52,4%  số  vụ  án  tham  nhũng),  trong  đó  có  một  số  vụ  tham  ô  nghiêm  trọng  mới được phát hiện mà dư luận xã hội quan tâm như vụ Tổng công ty Mía đường II, vụ Tổng công ty Xây dựng Miền trung, vụ Nông trường Sông Hậu  Toà án đã xét xử 

sơ thẩm 286 vụ với 692 bị cáo về các tội tham nhũng 16 

d)  Phát hiện tham nhũng thông qua hoạt động kiểm sát: 

* Khái niệm: 

Kiểm sát là hoạt động của viện kiểm sát nhân dân nhằm kiểm tra, giám sát việc tuân thủ pháp luật của tất cả các cơ quan nhà nước từ cấp bộ trở xuống, các cơ quan hành chính, sự nghiệp, các tổ chức xã hội và của công dân 17 . 

Khác với cơ quan kiểm tra và thanh tra, cơ quan kiểm sát tiến hành kiểm tra 

và giám sát việc chấp hành pháp luật trong các đối tượng khác như: Trong các văn bản pháp quy, các biện pháp và các hoạt động thực hiện các văn bản đó của các cơ 

15  http://dictionary.bachkhoatoanthu.gov.vn/default.aspx?param=1F06aWQ9MzM4NTEm  Z3JvdXBpZD0ma2luZD1leGFjdCZrZXl3b3JkPSVjNCU5MWklZTElYmIlODF1K3RyYQ==&p  age=1. 

16 

Báo cáo thẩm tra báo cáo Chính phủ về công tác phòng, chống tham nhũng 2008. 

17 

http://dictionary.bachkhoatoanthu.gov.vn/default.aspx?param=2051aWQ9MTIzMzEmZ  3JvdXBpZD0ma2luZD1leGFjdCZrZXl3b3JkPWtpJWUxJWJiJTgzbStzJWMzJWExdA==&page 

=1

Trang 39

quan Nhà nước, tổ chức xã hội, nhân viên Nhà nước và công dân; Trong các hoạt động điều tra và truy tố; Trong công tác xét xử; Trong công tác thi hành án; Trong việc giam, giữ và cải tạo. Chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của viện kiểm sát do hiến pháp, luật tổ chức  viện  kiểm  sát  và các luật khác quy định (từ điều 137 đến 

140 Hiến pháp 1992). 

* Chức năng của kiểm sát: 

+ Thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc điều tra các vụ án hình sự của các cơ quan điều tra và các cơ quan khác được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra; 

+ Điều tra một số loại tội phạm hoạt động tư pháp mà người phạm tội là cán 

bộ thuộc các cơ quan tư pháp; 

+ Thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc xét xử các vụ án hình sự;. 

+  Kiểm  sát  việc  giải  quyết  các  vụ  án  dân  sự,  hôn  nhân  và  gia  đình,  hành chính, kinh tế, lao động và những việc khác theo quy định của pháp luật; 

+ Kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc thi hành bản án, quyết định của tòa án nhân dân; 

19 

Hiến pháp Nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam 1992, được sửa đổi bổ sung ngày  25­12­2001 của Quốc hội Khóa X, kỳ họp thứ 10.

Trang 40

Về công tác xét xử tội phạm tham nhũng, theo Báo cáo của Chính phủ đã phát  hiện  379  vụ  việc  tham  nhũng  (giảm  14%  số  vụ  việc  so  với  cùng  kỳ  năm trước); trong đó cơ quan điều tra các cấp đã khởi tố điều tra 284 vụ án với 622 bị can (giảm 30% số  vụ án  và 25% số bị can  so với cùng  kỳ năm  trước). Theo Báo cáo, trong tổng số 375 bị cáo bị xét xử về tội tham ô tài sản, có 17 trường hợp Tòa án tuyên không phạm tội, 139 bị cáo được Tòa án cho hưởng án treo (chiếm 37%); trong 

số 692 bị cáo xét xử về các tội tham nhũng có 05 trường hợp được miễn trách nhiệm hình sự và miễn hình phạt 20 . 

Với  những  hình  thức  hoạt  động  cụ  thể  để  phát  hiện  hành  vi  tham  nhũng Luật quy định các cơ quan thanh tra, kiểm toán Nhà nước,điều tra, viện kiểm sát, tòa án thông qua hoạt động thanh tra, kiểm toán điều tra, kiểm sát xét xử theo quy định  của  pháp  luật  và  chịu  trách  nhiệm  trước  pháp  luật  về  quyết  định  của  mình; Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội, Đoàn đại biểu Quốc hội, Hội đồng nhân dân, đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân thông qua hoạt động  giám sát có trách nhiệm phát hiện hành vi tham nhũng, yêu cầu hoặc kiến nghị xử lý theo quy 

định của pháp luật. 

2.2. Phát hiện tham nhũng thông qua công tác kiểm tra của cơ quan, tổ chức,  đơn vị: 

Kiểm  tra  là  một  biện  pháp  phát  hiện  đồng  thời  cũng  là  biện  pháp  phòng, chống tham nhũng hiệu qủa  tại cơ quan, tổ chức, đơn vị. Công tác kiểm tra gồm: Công  tác  kiểm  tra  của  cơ  quan  Nhà  nước  quản  lý  và  công  tác  tự  kiểm  tra.  Với những hình thức hoạt động cụ thể để phát hiện hành vi tham nhũng Luật quy định: Thủ trưởng cơ quan quản lý Nhà nước có trách nhiệm thường xuyên hoặc đột xuất kiểm  tra  việc  chấp  hành  pháp  luật  của  cơ  quan,  tổ  chức,  đơn  vị,  cá  nhân  thuộc phạm  vi  quản  lý  của  mình  nhằm  kịp  thời  phát  hiện  hành  vi  tham  nhũng;    Người đứng  đầu  cơ  quan,  tổ  chức,  đơn  vị  có  trách  nhiệm  chủ  động  tổ  chức  kiểm  tra thường xuyên, kiểm tra đột xuất việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ của cán bộ công chức,  viên  chức  thường  xuyên,  trực  tiếp  giải  quyết  công  việc  của  cơ  quan,  tổ chức…do  mình  quản  lý  nhằm  kịp  thời  phát  hiện,  ngăn  chặn,  xử  lý  hành  vi  tham nhũng. 

20 

Báo cáo thẩm tra báo cáo Chính phủ về công tác phòng, chống tham nhũng 2008.

Ngày đăng: 05/04/2018, 22:38

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm