Do ñó, ñể hoạt ñộng xét xử có hiệu quả, có chất lượng, mang tính khách quan và tính công bằng cao và phù hợp với việc xây dựng nhà nước pháp quyền hiện nay, thì trước hết và cần thiết nh
Trang 1TRƯỜNG ðẠI HỌC CẦN THƠ
TRƯƠNG THANH HÙNG NGUYỄN THỊ NHŨ
Bộ môn Tư pháp Lớp: Luật hành chính K32
MSSV: 5062272
CẦN THƠ Tháng 4/2010
Trang 2MỤC LỤC
LỜI NÓI ðẦU 1
CHƯƠNG 1 TÌM HIỂU CHUNG VỀ TÒA ÁN VÀ CÁC NGUYÊN TẮC XÉT XỬ ðỘC LẬP CỦA TÒA ÁN 1.1 Sự hình thành và phát triển của Tòa án nhân dân 4
1.1.1 Lịch sử hình thành 4
1.1.2 Sự phát triển cùng với nguyên tắc hiến ñịnh về tính ñộc lập của Tòa án nhân dân qua các giai ñoạn 5
1.1.2.1 Giai ñoạn 1945 ñến 1959 5
1.1.2.2 Giai ñoạn 1959 ñến 1980 6
1.1.2.3 Giai ñoạn 1980 ñến 1992 6
1.1.2.4 Giai ñoạn 1992 ñến nay 7
1.2 Chức năng của Tòa án nhân dân trong việc giải quyết vụ án 7
1.2.1 Khái niệm và bản chất xét xử của Tòa án nhân dân 7
1.2.2 Nhiệm vụ của Tòa án nhân dân 8
1.3 Các nguyên tắc xét xử ñộc lập của Tòa án 10
1.3.1 Nguyên tắc khi xét xử Thẩm phán và hội thẩm ñộc lập và chỉ tuân theo pháp luật 10
1.3.2 Thẩm phán các Tòa án theo chế ñộ bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức… 14
1.3.3 Quy ñịnh về tính ñộc lập của hệ thống tư pháp của một số nước trên thế giới 16
1.3.3.1 Pháp luật của Cộng hòa Pháp 16
1.3.3.2 Pháp luật của Hiệp chủng quốc Hoa Kỳ 17
1.3.3.3 Một số quy ñịnh về nguyên tắc xét xử mang tính ñộc lập của Tòa án trong pháp luật của Liên hiệp vương quốc Anh 19
1.3.3.4 Một số quy ñịnh về nguyên tắc xét xử mang tính ñộc lập của Tòa án trong pháp luật Việt Nam 23
CHƯƠNG 2 TÍNH ðỘC LẬP CỦA TÒA ÁN TRONG GIẢI QUYẾT VỤ ÁN DÂN SỰ 2.1 Tính ñộc lập giữa các thành viên trong Tòa án nhân dân khi giải quyết vụ án 30
Trang 32.1.1 Tính ñộc lập giữa Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân
khi giải quyết vụ án dân sự 30
2.1.2 Tính ñộc lập giữa Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa với Chánh án tòa án… 33
2.1.3 Tính ñộc lập giữa Hội thẩm nhân dân với Chánh án Tòa án nơi Hội thẩm nhân dân ñược phân công giải quyết vụ án 37
2.2 Tính ñộc lập của Tòa án với các cơ quan cấp trên 40
2.2.1 Tính ñộc lập của Tòa án nhân dân cấp dưới với Tòa án nhân dân cấp trên trực tiếp 40
2.2.2 ðộc lập với Tòa án nhân dân tối cao và Viện kiểm sát nhân dân tối cao
2.3 Tính ñộc lập của Tòa án với các cơ quan cùng cấp khác và tổ chức chính trị 46
2.3.1 ðộc lập với Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp 46
2.3.2 Tính ñộc lập của Tòa án với Hội ñồng nhân dân và Ủy ban nhân dân cùng cấp 49
2.3.3 Tính ñộc lập của Tòa án với các tổ chức chính trị xã hội……… 53
CHƯƠNG 3 THỰC TRẠNG, KHÓ KHĂN VÀ NHỮNG ƯU, KHUYẾT ðIỂM CỦA HOẠT ðỘNG ðỘC LẬP CỦA TÒA ÁN TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ 3.1 Một số thực trạng về cơ cấu tổ chức và hoạt ñộng cùng ñội ngũ Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân ở ñịa phương và Trung ương hiện nay 60
3.2 Tình hình thực tế và tính tất yếu khách quan và tính ñặc thù của cải cách hệ thống Tòa án nhất là ñội ngũ Thẩm phán ở Việt Nam 65
3.3 Các nguyên nhân của thực trạng trên 68
3.4 Một số giải pháp và kiến nghị 71
3.4 1 Một số giải pháp cho thực trạng trên 72
3.4 2 Một số kiến nghị của thực trạng trên 81
KẾT LUẬN 83
TÀI LIỆU THAM KHẢO 86
Trang 4LỜI MỞ ðẦU
Ngay từ buổi ñầu ñược thành lập và trong suốt quá trình xây dựng, phát triển ñất nước, Nhà nước ta ñã mang những yếu tố là một nhà nước pháp quyền, một nhà nước của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân, gắn bó chặt chẽ và phục vụ lợi ích của nhân dân, của dân tộc là mục tiêu ñược ñặt lên hàng ñầu Nhà nước ñã từng bước thực hiện việc quản lý xã hội bằng pháp luật, không ngừng phát huy tính làm chủ của nhân dân và tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa
Thêm vào ñó, trong Văn kiện Hội nghị ñại biểu toàn quốc giữa nhiệm
kỳ (khóa VII) ở nội dung phần thứ hai về những nhiệm vụ chủ yếu trong thời gian tới” ñã nêu nhiệm vụ thứ 7 là: “Xây dựng nhà nước pháp quyền Việt Nam của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân” Bên cạnh ñó, Nghị quyết ñại hội
IX của ðảng ñã khẳng ñịnh nhiệm vụ “Xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân dưới sự lãnh ñạo của ðảng Thêm vào ñó ñại hội ñại biểu toàn quốc lần thứ X của ðảng cũng ñã tiếp tục khẳng ñịnh: “Xây dựng cơ chế vận hành của nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, ñảm bảo nguyên tắc tất cả quyền lực nhà nước ñều thuộc về nhân dân” và ñó chính là sự tiếp tục phát triển tư tưởng của Hồ Chí Minh về nhà một nhà nước pháp quyền trong ñiều kiện ñổi mới của ñất nước
ðể cho ñường lối ñổi mới của ðảng và nhà nước phát huy ñược sức mạnh to lớn, ñạt ñược mục ñích ñã ñề ra một cách toàn diện hơn trong việc xây dựng một Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa thật sự là của nhân dân,
do nhân dân và vì lợi ích của nhân dân mà phục vụ Và ñể ñạt ñược ñiều ñó, ñể phù hợp tình hình của ñất nước ngày càng phát triển ñi lên cùng với xu thế toàn cầu hóa, thì nước ta phải tiến hành ñẩy mạnh hơn nữa các hoạt ñộng cải cách bộ máy nhà nước trên tất cả các lĩnh vực mà trong ñó ñặc biệt là cải cách
hệ thống Tòa án, từ cơ cấu tổ chức cho ñến ñội ngũ cán bộ ngành ñể phát huy tính ñộc lập của Tòa án góp phần vào việc xét xử một cách công bằng của Tòa
án là một nhiệm vụ quan trọng
Quán triệt về tư tưởng cũng như quan ñiểm của ðảng về ñổi mới tổ chức và hoạt ñộng của các cơ quan nhà nước nói chung, hệ thống Tòa án nhân dân nói riêng mà ñặc biệt là ñối với nguyên tắc xét xử ñộc lập của Tòa án, nhà nước ta ñã tiến hành sửa ñổi bổ sung và ban hành nhiều văn bản pháp luật trên
cơ sở thể chế hóa ñường lối chủ trương của ðảng ñể nhằm nâng cao hoạt ñộng
Trang 5của tất cả các cơ quan nhà nước, phục vụ tốt nhất cho nhân dân những người làm chủ ñất nước
ðặc biệt là sự ra ñời của Hiến pháp 1992 ñã ñánh một bước ngoặc quan trọng trong quá trình lập hiến của nước ta từ trước ñến nay ðể cụ thể hóa Hiến pháp
1992, Quốc hội ñã tiến hành ban hành luật tổ chức Tòa án nhân dân 1992 và
ñã ñược thay thế bằng Luật tổ chức Tòa án nhân dân 2002, Pháp lệnh Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân 1993 ñược thay thế bằng Pháp lệnh Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân 2002 ðây có thể khẳng ñịnh là những cơ sở pháp lý ñã ñánh dấu một bước tiến quan trọng trong quá trình nghiên cứu và lập pháp cũng như trong công cuộc cải cách tư pháp nói chung và Tòa án nhân dân nói riêng
Theo quy ñịnh tại tại ðiều 130 Hiến pháp 1992 (sửa ñổi, bổ sung năm 2001) cũng như Luật tổ chức Tòa án nhân dân năm 2002 của nước cộng hòa
xã hội chủ nghĩa Việt Nam thì “Khi xét xử Thẩm phán và Hội thẩn nhân dân ñộc lập và chỉ tuân theo pháp luật” Với chứng năng chính là xét xử, là nơi ñược nhà nước giao cho nhiệm vụ “cầm cân công lý”, là nơi ñược nhân dân tin tưởng ñể giải quyết những tranh chấp về tài sản, những ảnh hưởng về tính mạng, sức khỏe của mình của hệ thống Tòa án Với chức năng chính này thì hoạt ñộng xét xử ñược xem ñược nhìn nhận là trọng tâm của cải cách tư pháp
mà quan trọng hơn là ñẩy mạnh việc ñộc lập xét xử của Tòa án trong quá trình
ra các phán quyết của mình (bản án hoặc quyết ñịnh) Do ñó, ñể hoạt ñộng xét
xử có hiệu quả, có chất lượng, mang tính khách quan và tính công bằng cao và phù hợp với việc xây dựng nhà nước pháp quyền hiện nay, thì trước hết và cần thiết nhất là làm sao “tăng khả năng ñộc lập của Tòa án khi xét xử”, mà hiện thân của Tòa án là Thẩm phán và Hội thẩm những người trực tiếp xét xử và ñưa ra các phán quyết có ảnh hưởng trực tiếp ñến tính mạng, tài sản, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm của nhân dân và nhà nước Chính vì vậy , việc nghiên cứu những quy ñịnh của pháp luật và thực tiễn thực hiện nguyên tắc xét xử ñộc lập của Tòa án trong tố tụng dân sự là việc hết sức cần thiết ñể tiến hành hoàn thiện hơn quá trình xét xử của Tòa án khi ñưa ra các phán quyết của mình, cùng với quá trình cải cách bộ máy nhà nước nói chung cải cách hệ thống Tòa
án nói riêng ñể ñạt ñược hiệu quả và mục tiêu ñã ñề ra là “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ và văn minh”
Chính vì lý do ñó mà Sinh viên thực hiện Luận văn ñã chọn ñề tài
“nguyên tắc xét xử ñộc lập của Tòa án trong tố tụng dân sự” với niềm tin ñánh giá ñược những ưu ñiểm cũng như những hạn chế của quy ñịnh này trên
Trang 6cơ sở dựa vào nhiều phương pháp phân tích luật viết như suy lý, ñối chiếu, so sánh, thực tiễn, Từ ñó ñưa ra một số ít ñề suất ñể góp phần vào việc hoàn thiện nguyen tắc xét xử ñộc lập của Tòa án nhằm nâng cao hiệu quả, chất lượng xét xử và quan trọng hơn là trong quá trình ñưa ra bản án và quyết ñịnh của Tòa án, tăng lòng tin của nhân dân vào Tòa án là nơi “cầm cân công lý” với những người “cầm cân nảy mực” một cách công bằng và ñộc lập Cùng với mục ñích nghiên cứu ñề tài này, thì không gì khác hơn, Người viết cung muốn cũng cố lại phần nào kiến thức ñã học, báo cáo kết thúc khóa học
Trong khuôn khổ của một Luận văn chỉ gồm ba chương (Chương1: Tìm hiểu chung về Tòa án và các nguyên tắc xét xử ñộc lập của Tòa án; Chương 2: Tính ñộc lập của Tòa án trong giải quyết vụ án dân sự; Chương 3: Thực trạng, khó khăn và những ưu khuyết ñiểm của hoạt ñộng ñộc lập của Tòa
án trong tố tụng Dân sự), Người viết không thể ñi sâu vào nghiên cứu, tìm hiểu cũng như tất cả những vấn ñề thuộc về nguyên tắc hiến ñịnh này mà chủ yếu chỉ tập trung vào việc tìm hiểu các vấn ñề lý luận, những quy ñịnh của pháp luật cũng như thực tiễn về nguyên tắc xét xử ñộc lập của Tòa án và hoạt ñộng xét xử của các Thẩm phán và Hội thẩm với nguyên tắc ñộc lập ñã ñược quy ñịnh so với thực tiễn hiện nay Trong quá trình nghiên cứu, do trình ñộ hiểu biết còn hạn chế, là một sinh viên ngành luật năm cuối, còn ít tiếp xúc với thực tế, kiến thức còn hạn hẹp, trải nghiệm thực tế chưa nhiều, mặc dù ñã ñặc nhiều tâm quyết và có nhiều cố gắng của bản thân nên chắc chắn có không ít những hạn chế, thiếu sót nhất ñịnh Vì vậy, rất mong nhận ñược sự thông cảm, ñóng góp ý kiến của quý Thầy, Cô cũng như các bạn sinh viên ñể tài ñược hoàn thiện hơn
Cũng qua ñây, em xin chân thành cảm ơn quý Thầy, Cô Khoa luật trường ðại Học Cần Thơ ñã tận tình chỉ bảo và hơn thế là truyền ñạt những kiến thức vô cùng quý báo cho em trong suốt thời gian qua Và ñặc biệt hơn,
em xin chân thành cảm ơn Thầy Trương Thanh Hùng ñã tận tình chỉ bảo và hướng dẫn cho em ñể em hoàn thành Luận văn này ñể kết thúc khóa học
Xin chân thành cảm ơn!
SVTH: Nguyễn Thị Nhũ
Trang 7CHƯƠNG 1 TÌM HIỂU CHUNG VỀ TÒA ÁN VÀ CÁC NGUYÊN TẮC XÉT XỬ đỘC LẬP CỦA TÒA ÁN
1.1 SỰ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN
1.1.1 Lịch sử hình thành
Tòa án xuất hiện ở Việt Nam lần ựầu tiên từ thời pháp thuộc, do ảnh hưởng của nền tư pháp của chắnh quốc Do ựó loại hình Tòa án ở thời Pháp thuộc rất phức tạp nên ở Việt Nam ở thời kỳ ựó vừa có hệ thống chắnh quyền pháp vừa có hệ thống chắnh quyền bản xứ Vì thế ở Việt Nam lúc bấy giờ có hai hệ thống Tòa án tồn tại song song là các Tòa án Pháp và các Tòa án chắnh quyền phong kiến Triều Nguyễn
Với bản chất khai thác và bóc lộc nhân dân thuộc ựịa thì các Tòa án của Pháp chỉ nhằm mục ựắch phục vụ cho công cuộc khai thác thuộc ựịa nên không có việc Tòa án xét xử theo sự công bằng, ựộc lập bảo vệ lợi ắch cho người dân không ựược ựặt ra Bên cạnh ựó thì chắnh quyền Triều Nguyễn cũng với bản chất bóc lột nhân dân nên mặc dù hệ thống Tòa án có hoạt ựộng lại cũng vì lợi ắch của giai cấp phong kiến nên việc xét xử vì quyền lợi của người dân và sự ựộc lập của Tòa án có thể nói là chưa có
đến năm 1930 dưới sự lãnh ựạo của đảng cộng sản Việt Nam do Chủ tịch Hồ Chắ Minh sáng lập ựã tiến hành cuộc ựấu tranh cách mạng lâu dài, ựầy gian khổ và hy sinh làm cuộc cách mạng tháng tám thành công Chủ tịch Hồ Chắ Minh ựọc Tuyên ngôn ựộc lập khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa vào ngày 2-9-1945 Với sự kiện vô cùng quan trọng này ựã ựặt nền móng cho sự ra ựời của nhà nước công nông vì nhân dân ựầu tiên ở đông Nam Á nói chung và một hệ thống Tòa án xét xử công bằng, nghiêm minh và ựộc lập nói riêng
đảng ta ngay từ ựầu ựã xác ựịnh Tòa án nhân dân là một trong những
bộ phận quan trọng không thể thiếu của bộ máy nhà nước, là một trong những công cụ ựắc lực của chuyên chắnh vô sản nên ngày 13-9-1945 Chủ tịch Chắnh phủ lâm thời nước Việt Nam Dân chủ Cộng Hòa ựã ra sắc lệnh thuyết lập các Tòa án quân sự ựánh dấu sự ra ựời của Tòa án nhân dân ở nước ta
Hệ thống Tòa Án nhân dân của Việt Nam hình thành và phát triển gắn liền với những giai ựoạn phát triển của cách mạng Việt Nam Từ khi ựược thành lập và trải qua nhiều giai ựoạn của lịch sử qua bốn bản Hiến pháp, ngày càng ựược hoàn thiện ựúng với bản chất của mình cùng với các cơ quan nhà
Trang 8nước khác, các Tòa án nhân dân ñã và ñang góp phần không nhỏ vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa với chức năng chính là xét xử một cách ñộc lập và công minh, ñem lại công bằng cho xã hội bảo vệ quyền lợi cho người dân và góp phần phòng ngừa tội phạm mang lại phồn thịnh cho ñất nước
1.1.2 Sự phát triển cùng với nguyên tắc Hiến ñịnh về tính ñộc lập của Tòa án nhân dân qua các giai ñoạn
Như ñã nói Tòa án nước ta hình thành và phát triển cùng với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc xã hội Chủ nghĩa nên hệ thống Tòa án nước ta cũng từng bước ñược cải thiện ñáp ứng cho sự nghiệp phát triển ñất nước, và
hệ thống Tòa án ñã từng bước nâng cao và phát triển toàn diện qua các giai ñoạn
Chức năng chính là xét xử công bằng, ñộc lập ngày càng ñược ñảm bảo
và phát huy ñược hiệu quả và các nguyên tắc về tính ñộc lập của Tòa án ñều ñược Quốc hội nước ta quy ñịnh là một nguyên tắc Hiến ñịnh trong bốn bản Hiến pháp, tương ứng với các giai ñoạn hình thành các bản Hiến pháp
hệ thống Tòa án nước ta ở giai ñoạn này cùng với bản Hiến Pháp 1946 với nhiệm vụ chính tuyệt ñối không phải là cải cách chế ñịnh tư pháp mà là hủy bỏ hoàn toàn, phá hủy ñến tận gốc rễ nền tư pháp cũ và bộ máy của nó
Thêm vào ñó, trong ñiều kiện nhà nước ra ñời còn non trẻ, gặp rất nhiều khó khăn, ñặc biệt là các thế lực thù ñịch ráo riết các hoạt ñộng chống phá cách mạng với nhiệm vụ quan trọng hàng ñầu là kịp thời trừng trị những kẻ xâm phạm ñến ñộc lập của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, xâm phạm ñến sức mạnh chiến ñấu của quân ñội nên chủ yếu là các Tòa án quân sự và các Tòa án binh ñược thành lập và hoạt ñộng Cùng với nhiệm vụ cấp thiết ñó ñể phù hợp với tình hình ñất nước thì hệ thống Tòa án ở nước ta trong giai ñoạn
2
C.Mác – Ph.Ăngghen: Toàn tập, Tập 1, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995
Vị trí, vai trò của thể chế tư pháp trong nhà nước pháp quyền
Trang 9này chủ yếu là bảo vệ nhà nước mới ra ñời và sức chiến ñấu nên các nguyên tắc về tính xét xử ñộc lập của Tòa án chưa ñược quy ñịnh một cách cụ thể mà chỉ mới ñược ñề cập
1.1.2.2 Giai ñoạn 1959 ñến 1980
Tiếp tục với vai trò là công cụ ñấu tranh, phòng chống tội phạm hệ thống Tòa án ở nước ta giai ñoạn này tiếp tục nhiệm vụ bảo vệ nhà nước tránh khỏi các hoạt ñộng chống phá của các thế lực thù ñịch và nâng cao sức chiến ñấu của quân ñội, cùng toàn quân, toàn dân bảo vệ vững chắc Miền Bắc xã hội chủ nghĩa và ñấu tranh giải phóng miền nam Với nhiệm vụ trọng tâm này tại Hội nghị lần thứ 14 (tháng 11 năm 1958) Ban chấp hành Trung ương ðảng ñã chủ trương tăng cường nhà nước dân chủ nhân dân và tăng cường sự lãnh ñạo của ðảng ñối với chính quyền các cấp từ Trung ương ñến cơ sở Trong tình hình chung ñó bộ máy nhà nước nói chung, Tòa án nhân dân nói riêng ñược tăng cường và cải cách thêm một bước, cùng với sự tăng cường và cải cách ñó
hệ thống Tòa án ở nước ta trong giai ñoạn này cùng với sự ra ñời của Hiến Pháp 1959 thì các nguyên tắc hoạt ñộng của Tòa án nói chung và nguyên tắc
về xét xét ñộc lập của Tòa án nói riêng cũng ñược cải cách Tuy, ñược quy ñịnh nhưng vẫn chưa thật rõ ràng và cụ thể, vẫn chưa có các văn bản dưới luật hướng dẫn thi hành, nó chỉ là một quy ñịnh trong Hiến pháp
Ở giai ñoạn này cùng với sự ra ñời của Hiến Pháp 1959, thì những quy ñịnh về Tòa án nhân dân tiếp tục ñược củng cố Hiếp Pháp 1959 ñã quy ñịnh lại vị trí, vai trò cũng như chức năng và nhiệm vụ của hệ thống Tòa án nhân dân
Từ Hiến pháp 1959, Luật tổ chức Tòa án nhân dân ñược ban hành vào ngày 14/7/1960, cùng với các nguyên tắc khác thì lần ñầu tiên nguyên tắc “Thẩm Phán và Hội Thẩm xét xử ñộc lập và tuân theo pháp luật” ñược khẳng ñịnh
1.1.2.3 Giai ñoạn từ 1980 ñến 1992
Tiếp tục kế thừa và phát triển các Hiến Pháp trước nhằm phù hợp với tình hình ñất nước cũng như trong công cuộc xây dựng ñất nước sau khi hoàn toàn ñộc lập thống nhất ñất nước Thì các nguyên tắc của Tòa án nói chung và nguyên tắc xét xử ñộc lập của Tòa án nói riêng ñã ñược chú trọng hơn, ñã ñược cụ thể hóa bằng sự ra ñời của nhiều quy ñịnh như: Luật tổ chức Tòa án nhân dân ( ñược quy ñịnh tại ðiều 5) ñược Quốc hội thông qua ngày 3-7-1981
và ñược sửa ñổi bổ sung, bổ sung theo luật sửa ñổi, bổ sung luật tổ chức Tòa
án nhân dân ñược Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua ngày 22-12-1988, cùng các quy ñịnh về thực hiện chế ñộ bổ nhiệm Thẩm
Trang 10phán theo nhiệm kỳ thay cho chế độ bầu Thẩm phán nhằm tăng tính độc lập của Thẩm phán khi xét xử hay quy định về tiêu chuẩn cũng như tiền lương đối với Thẩm phán nhằm tránh sự ảnh hưởng từ bên ngồi đối với cơng tác xét xử độc lập của Thẩm phán Và hơn hết là tiếp tục hồn thiện những quy định về
hệ thống Tịa án ở nước ta đồng thời củng cố nguyên tắc xét xử độc lập của Tịa án
1.1.2.4 Giai đoạn từ 1992 đến nay
Ở giai đồn này cĩ thể nĩi hệ thống Tịa án của nước ta đã phát triển một cách mạnh mẽ Các nguyên tắc Hiến định hầu như đã được cụ thể hĩa với
sự ra đời của hàng loạt các văn bản Luật, các văn bản hướng dẫn và đặc biệt là
Bộ luật tố tụng dân sự (BLTTDS) Nguyên tắc xét xử độc lập của Tịa án đã được quy định rõ ràng và cụ thể hơn, là một nguyên tắc quan trọng, ảnh hưởng rất lớn đến quyền và lợi ích của người dân, cũng như trong hoạt động của mình với chức năng chính là xét xử đem lại sự cơng bằng xã hội thì nguyên tắc này đã được quy định chặt chẽ hơn và phần nào đã phát huy được tính độc lập trong khi xét xử mặc dù cịn nhiều vướng mắt trong thực tiễn, và cịn nhiều vấn đề tranh cãi Và trong giai đoạn hiện nay trong thời kỳ cơng nghiệp hĩa, hiện đại hĩa, quan trọng hơn là nước ta đã gia nhập tổ chức thương mại quốc
tế WTO thì địi hỏi hệ thống pháp luật của nước ta phải hồn thiện ở bước cao hơn nhằm giải quyết kịp thời những tranh chấp ngày càng phức tạp trong giao lưu, mua bán với các quốc gia trên thế giới ðể làm được điều đĩ thì hệ thống Tịa án nước ta phải thật sự nghiêm minh, thật sự đơc lập cũng như đội ngũ cán bộ trong cơng tác xét xử cũng phải độc lập để từ đĩ đưa ra những phán quyết chính xác và cơng bằng Bên cạnh đĩ nguyên tắc xét xử độc lập của Tịa
án ngày càng được đẩy mạnh và hồn thiện tăng khả năng bảo vệ quyền lợi của nhân dân trong cơng tác xét xử trong thời kỳ mới của đất nước
1.2 CHỨC NĂNG CỦA TỊA ÁN NHÂN DÂN TRONG VIỆC GIẢI QUYẾT VỤ ÁN
1.2.1 Khái niệm và bản chất xét xử của Tịa án nhân dân
Nĩi đến chức năng của nhà nước là đề cập đến phương diện, hoạt động chủ yếu của nhà nước mà mỗi cơ quan nhà nước đều phải tham gia thực hiện ở những mức độ khác nhau Cịn chức năng của các cơ quan nhà nước là những phương diện hoạt động chủ yếu của các cơ quan đĩ nhằm gĩp phần thực hiện chức năng của nhà nước ðối với Tịa án nhân dân cĩ nhiều hoạt động khác nhau, nhưng xét xử đĩ là chức năng chính, chủ yếu của Tịa án nhân dân
Trang 11Khi xét xử là hoạt ñộng chủ yếu của Tòa án nhân ñược quyền căn cứ vào pháp luật ñể giải quyết những tranh chấp hoặc vi phạm pháp luật và ra những bản án hay quyết ñịnh khi có hiệu lực pháp luật có tính chất bắt buộc các cơ quan, tổ chức và người có liên quan phải chấp hành
ðiều 127 Hiến Pháp 1992, ðiều 1 luật tổ chức Tòa án nhân dân 2002
ñã quy ñịnh “Tòa án nhân dân tối cao, các tòa án nhân dân ñịa phương, các tòa
án quân sự và các tòa án khác do pháp luật quy ñịnh là các cơ quan xét xử của Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam” Chỉ có Tòa án mới có thẩm quyền xét xử những vụ án hình sự, dân sự, hôn nhân và gia ñình, lao ñộng, kinh tế, hành chính và giải quyết những việc khác theo quy ñịnh của pháp luật
Xét xử là hoạt ñộng thực hiện quyền lực nhà nước, thể hiện ý chí của giai cấp công nhân và nhân dân lao ñộng nói chung Hoạt ñộng xét xử của Tòa
án nhân dân là phương pháp cơ bản ñảm bảo cho pháp luật ñược thực hiện nghiêm chỉnh và thống nhất, pháp chế xã hội chủ nghĩa ñược giữ vững Hoạt ñộng xét xử nhằm bảo vệ chế ñộ xã hội chủ nghĩa, chế ñộ kinh tế, chính trị xã hội, bảo vệ trật tự xã hội chủ nghĩa, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân
Hoạt ñộng xét xử của Tòa án nhân dân không phải là hoạt ñộng xây dựng pháp luật mà là quá trình áp dụng luật vào việc giải quyết các tranh chấp, xét xử các quy phạm pháp luật cụ thể
Do kết quả của hoạt ñộng xét xử có thể dẫn ñến chổ công dân, pháp nhân các tổ chức ñược hưởng các quyền và lợi ích hoặc gánh chịu những nghĩa vụ nhất ñịnh ðặc biệt là việc xét xử trên các lĩnh vực hình sự thì kết quả của hoạt ñộng xét xử hình sự dẫn ñến những hậu quả pháp lý rất nghiêm trọng ñối với người bị kết án (như tước của người bị kết án một số quyền lợi thiết thân về vật chất về tinh thần, tự do và thậm chí là tính mạng của họ nữa) Cho nên hoạt ñộng xét xử của Tòa án có tính tổ chức rất chặt chẽ Tòa án khi xét
xử một vụ việc cụ thể phải tuân theo những trình tự, thủ tục luật ñịnh một cách nghiêm ngặt, không ñược tùy tiện bỏ qua một thủ tục nào Luật tố tụng hình sự, luật tố tụng dân sự, luật tố tụng kinh tế, lao ñộng, hành chính ñã quy ñịnh chi tiết trình tự tố tụng trong việc giải quyết các vụ án hình sự, vụ án dân sự… Nếu vi phạm nghiêm trọng những quy ñịnh của pháp luật tố tụng thì quyết ñịnh của Tòa án sẽ bị kháng cáo hoặc bị kháng nghị và sẽ bị Tòa án cấp trên xem xét lại theo các thủ tục phúc thẩm, giám ñốc thẩm ñể sửa hoặc hủy
Việc xét xử của Tòa án có ñặc trưng ở tính “dứt ñiểm của nó” tức là chính tòa án ñược giao quyền nói tiếng cuối cùng trong khi giải quyết các vụ
Trang 12việc pháp lý Những phán quyết của Tòa án là những phán quyết có tính chất quyền lực Nhà nước, khi các phán quyết này có hiệu lực pháp luật thì nó có sức mạnh bắt buộc các ñương sự hoặc các người bị kết án phải chấp hành nghiêm chỉnh dù nó chỉ liên quan ñến một vụ việc cụ thể Cũng tiếp sau những quyết ñịnh của cơ quan xét xử bắt ñầu có hiệu lực pháp luật, thì các cơ quan chấp hành của Nhà nước bắt ñầu hoạt ñộng thật sự, có thẩm quyền áp dụng những biện pháp cưỡng chế nhà nước do pháp luật quy ñịnh
Hoạt ñộng xét xử còn là một hoạt ñộng sáng tạo của Tòa án nhân dân Thường khi xây dựng pháp luật những nhà làm luật không thể dự kiến ñược hết các tình tiết, hoàn cảnh sự việc, hành vi diễn ra trong hiện thực cuộc sống
xã hội Do ñó Thẩm phán và Hội thẩm phải nghiên cứu kỹ, toàn diện mọi tình tiết, hoàn cảnh ñiều kiện liên quan ñến vụ án ñó, ñể từ ñó tìm ra cách thức giải quyết tốt nhất, hợp lý nhất phù hợp với quy ñịnh nêu ra trong quy phạm pháp luật ðể làm ñược như vậy ñòi hỏi việc xét xử của Tòa án nói chung mà ñặc biệt là Thẩm phán và Hội thẩm nói riêng phải có phương thức, trí thức tổng hợp về cuộc sống, về pháp luật, có kinh nghiệm sống phong phú và sâu sắc trên các lĩnh vực xã hội
2.2.2 Nhiệm vụ của Tòa án nhân dân
Bản chất và vai trò của Tòa án nhân dân ñược thể hiện trực tiếp trong nhiệm vụ và chức năng của Tòa án nhân dân Do ñó xem xét bản chất, vị trí, vai trò xã hội của Tòa án nhân dân không thể không tìm hiểu nhiệm vụ và chức năng của nó
Nhiệm vụ của Tòa án nhân dân là mục tiêu mà Tòa án cần ñạt tới, là những vấn ñề mà các Tòa án nhân dân cần giải quyết Trong những nhiệm vụ của Tòa án nhân dân có nhiệm vụ chung, cơ bản và lâu dài ðể thực hiện những nhiệm vụ ấy, Tòa án nhân dân cần thực hiện những nhiệm vụ cụ thể trong từng giai ñoạn phát triển của ñất nước
Theo ðiều 196 Hiến Pháp 1992, ðiều 1 Luật tổ chức Tòa án nhân dân
2002 ñã quy ñịnh rõ những nhiệm vụ chung của các Tòa án nhân dân, ñó là
“Trong phạm vi chức năng của mình, Tòa án có nhiệm vụ bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa, bảo vệ chế ñộ Xã hội Chủ nghĩa và quyền làm chủ của nhân dân, bảo vệ tài sản của nhà nước, của tập thể, bảo vệ tính mạng, tài sản, tự do, danh dự và nhân phẩm của công dân Bằng hoạt ñộng của mình, Tòa án góp phần giáo dục công dân trung thành với Tổ quốc, chấp hành nghiêm chỉnh pháp luật, tôn trọng những quy tắc của cuộc sống xã hội, ý thức ñấu tranh chống và phòng ngừa tội phạm, các quy phạm pháp luật khác”
Trang 13Nhiệm vụ bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa, chế ñộ xã hội Chủ nghĩa
và bảo vệ các quyền tự do, dân chủ và lợi ích hợp pháp của công dân là nhiệm
vụ cơ bản, lâu dài của Tòa án nhân dân Nó thể hiện rõ nét bản chất dân chủ và nhân ñạo của Tòa án nhân dân của Nhà nước xã hội Chủ nghĩa Việt Nam
Tòa án nhân dân thực hiện chức năng xét xử nhằm bảo ñảm việc nghiêm chỉnh chấp hành pháp luật, tôn trọng pháp chế xã hội chủ nghĩa Mọi hành vi xâm phạm ñến lợi ích của nhà nước, của tập thể, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân phải ñược phát hiện kịp thời xử lý nghiêm minh, ñúng pháp luật Không làm oan người ngay, nhưng cũng không ñể lọt tội phạm và người phạm tội
1.3 CÁC NGUYÊN TẮC XÉT XỬ ðỘC LẬP CỦA TÒA ÁN
Một trong những nguyên tắc và ñòi hỏi quan trọng của nhà nước pháp quyền là quyền tư pháp phải ñược coi trọng, tính ñộc lập của tư pháp phải ñược bảo ñảm, Tòa án phải dễ tiếp cận Tuy nhiên một nền tư pháp mạnh chỉ
có ñược trên thực tế khi tạo lập ñược một cơ chế tổ chức và hoạt ñộng thích hợp có thể ñảm bảo ñược sự ñộc lập, vô tư của chúng Nếu không thì dù luật
có quy ñịnh tư pháp ñộc lập trên thực tế nó cũng khó có thể ñộc lập ñược và khi ñã không ñộc lập thì khó lòng vô tư và khách quan ñược Nghĩa là sự ñộc lập của các cơ quan tư pháp cần về mặt pháp lý và mặt thực tế, cả về tổ chức lẫn trong hoạt ñộng, phải làm sao ñể mọi tổ chức, cơ quan, cá nhân không thể can thiệp ñược vào quá trình xét xử cũng như trong quá trình ra bản án của Tòa án Một trong những nguyên tắc và ñòi hỏi quan trọng của nhà nước pháp quyền là quyền tư pháp phải ñược coi trọng, tính ñộc lập của tư pháp phải ñược bảo ñảm, Tòa án phải dễ tiếp cận Tuy nhiên một nền tư pháp mạnh chỉ
có ñược trên thực tế khi tạo lập ñược một cơ chế tổ chức và hoạt ñộng thích hợp có thể ñảm bảo ñược sự ñộc lập, vô tư của chúng Nếu không thì dù luật
có quy ñịnh tư pháp ñộc lập trên thực tế nó cũng khó có thể ñộc lập ñược và khi ñã không ñộc lập thì khó lòng vô tư và khách quan ñược Nghĩa là sự ñộc lập của các cơ quan tư pháp cần về mặt pháp lý và mặt thực tế, cả về tổ chức lẫn trong hoạt ñộng, phải làm sao ñể mọi tổ chức, cơ quan, cá nhân không thể can thiệp ñược vào quá trình xét xử cũng như trong quá trình ra bản án của Tòa án
Và ñể thấy ñược tầm quan trọng cũng như sự cần thiết của nguyên tắc ñộc lập của Tòa án trong xét xử, cần tìm hiểu sơ lược các nguyên tắc ñặc thù riêng của Tòa án ðây là những nguyên tắc tuy có những ñặc thù riêng nhưng lại có mối quan hệ mật thiết với tính ñộc lập khi xét xử của Tòa án Những
Trang 14nguyên tắc này ñược quy ñịnh trong Hiến pháp 1992 (Chương X) và nó ñã ñược cụ thể hóa trong Luật tổ chức Tòa án nhân dân 2002 (Chương I) Những nguyên tắc ñó là:
1.3.1 Nguyên tắc khi xét xử Thẩm Phán và Hội Thẩm ñộc lập và chỉ tuân theo pháp luật
Tòa án là bộ phận hợp thành bộ máy nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam nên cũng ñược tổ chức theo những nguyên tắc chung của việc
tổ chức và hoạt ñộng của bộ máy nhà nước như các nguyên tắc: ðảng lãnh ñạo, nguyên tắc tập trung dân chủ, nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa… Tuy nhiên Tòa án là một cơ quan nhà nước ñặc biệt, là cơ quan tài phán với chức năng xét xử là chính nên nó có một vị trí hết sức ñặc biệt trong hệ thống các cơ quan nhà nước Do ñó cùng với vị trí ñặc biệt ñó mà Tòa án trong công tác xét xử của mình ñược tổ chức và hoạt ñộng theo những nguyên tắc riêng ñặc thù dựa trên nền tảng các nguyên tắc chung nói trên
Nguyên tắc: “Thẩm phán ñộc lập và chỉ tuân theo pháp luật” ñã ñược
ñề cập một cách manh nha trong Bộ luật Hồng ðức ðiều 672 Bộ luật này quy ñịnh: “Các quan kể trên phải xét xử cho công bằng và ñúng pháp luật” ðiều
720 cũng qui ñịnh: “Không ai ñược cố chấp ý riêng mình, bắt mọi người phải tuân theo” Tuy nhiên, ñấy chỉ mới là những manh nha của nguyên tắc xét xử ñộc lập
Nguyên tắc khi xét xử: Thẩm phán ñộc lập và chỉ tuân theo pháp luật ñược qui ñịnh trong các bản Hiến pháp của Việt Nam kể từ Hiến pháp 1946 ra ñời Lịch sử phát triển của Nhà nước Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam ñã trải qua nhiều giai ñoạn với 04 bản Hiến pháp ñược ban hành tại những thời ñiểm lịch
sử khác nhau Tuy có sự thay ñổi rất nhiều thể chế, hệ thống tổ chức bộ máy song nguyên tắc ñộc lập của các thẩm phán trong hoạt ñộng xét xử ñều ñược qui ñịnh trong các bản hiến pháp và các ñạo luật khác ñược ban hành như Bộ luật Tố tụng Hình sự (BLTTHS), Bộ luật Tố tụng Dân sự Nguyên tắc này khẳng ñịnh trong hoạt ñộng xét xử, Thẩm phán không phụ thuộc vào bất kỳ cá nhân hay tổ chức nào khi ñưa ra các nhận ñịnh ñánh giá và phán quyết của mình về vụ án Mọi cá nhân, tổ chức không ñược can thiệp vào các hoạt ñộng xét xử của tòa án
“Quan tòa ñộc lập không thuộc về tôi cũng không thuộc về nhà nước”
“Quan tòa xem xét hoạt ñộng của tôi trên cơ sở một ñạo luật nhất ñịnh”3
3
C.Mác – Ph.Ăngghen: Toàn tập, Tập 1, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội 1995
Trang 15Chính vì Tòa án là một cơ quan thực hiện quyền tư pháp - hoạt ñộng nhân danh công lý và bảo vệ công lý nên phải ñộc lập Một khi ñã nhân danh công lý và bảo vệ công lý thì Tòa án phải xét xử như một người ñứng ở giữa, phải trung lập, không phụ thuộc vào bên nào Chỉ xét xử ñộc lập thì Tòa án mới thật sự tồn tại ñúng nghĩa với bản chất của mình ñó là một cơ quan bảo vệ công lý, bảo vệ sự công bằng của xã hội Pháp luật là cơ sở trước tiên mà Tòa
án dựa vào ñể Tòa án ñưa ra phán quyết ñộc lập, và thật sự công minh Chỉ tuân theo pháp luật là cơ sở cho sự ñộc lập xét xử của Tòa án
Từ khi Hiến pháp ñầu tiên của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ra ñời năm 1946, thì nguyên tắc Tòa án xét xử ñộc lập ñã ñược thừa nhận
là một nguyên tắc Hiến ñịnh: “Trong khi xét xử, các viên Thẩm phán chỉ tuân theo pháp luật, các cơ quan khác không ñược can thiệp” (Hiến pháp 1946 quy ñịnh tại ðiều 67) Và từ Hiến pháp ñầu tiên cho ñến nay, Tòa án Việt Nam luôn luôn ñược ghi nhận là hệ thống cơ quan ñộc lập với cơ quan chấp hành và ñiều hành; nguyên tắc ñộc lập xét xử của Tòa án liên tục ñược khẳng ñịnh trong các bản Hiến pháp và ngày càng ñược quy ñịnh một cách rõ ràng hơn và
cụ thể hơn Theo quy ñịnh tại ðiều 100 của Hiến pháp 1959: “Khi xét xử, Tòa
án nhân dân có quyền ñộc lập và chỉ tuân theo pháp luật” Nhận thức rằng Thẩm phán và Hội thẩm là những người trực tiếp xét xử, chịu trách nhiệm về quyết ñịnh của mình, theo Hiến pháp năm 1980 và Hiến pháp năm 1992 (ðiều
130 ñã quy ñịnh rõ ràng, cụ thể: “Khi xét xử Thẩm phán và Hội thẩm ñộc lập
và chỉ tuân theo pháp luật” Nguyên tắc Hiến ñịnh này cũng ñược quy ñịnh một cách rõ ràng tại ðiều 5 Luật tổ chức Tòa án nhân dân năm 2002 và các quy ñịnh về tố tụng ở nước ta ðây là nguyên tắc bắt nguồn từ nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa nhằm bảo ñảm tính công bằng và tính khách quan trong quá trình xét xử ñể áp dụng pháp luật thống nhất trong cả nước
Với quy tắc Hiến ñịnh “Khi xét xử Thẩm phán và Hội thẩm ñộc lập và chỉ tuân theo pháp luật” mà cả bốn bản Hiến pháp ñều có quy ñịnh, tuy tên gọi của nguyên tắc Hiến này có khác một ít so với các bản Hiến pháp chẳng hạn như: trong Hiến pháp 1946 thì “Trong khi xét xử, các viên Thẩm phán chỉ tuân theo pháp luật, các cơ quan khác không ñược can thiệp”, còn trong Hiến pháp
1959 lại gọi “Khi xét xử, Tòa án nhân dân có quyền ñộc lập và chỉ tuân theo pháp luật” ðối với Hiến pháp năm 1980 và Hiến pháp năm 1992 lại quy ñịnh
“Khi xét xử Thẩm phán và Hội Thẩm ñộc lập và chỉ tuân theo pháp luật”, nhưng không vì thế mà nội dung của nguyên tắc ñộc lập của Tòa án không khác ñi mà nó ngày càng ñược quy ñịnh một cách hoàn thiện và rõ ràng và
Trang 16chặt chẽ hơn và quan trọng hơn những quy ñịnh này ñã thật sự phát huy mạnh
mẽ về tính ñộc lập của Tòa án trong quá trình xét xử và ra bản án Thêm vào
ñó quy tắc Hiến ñịnh này qua bốn bản Hiến pháp ñều có một số nội dung cơ bản như sau:
Một là, với các cơ quan nhà nước khác và các cấp ủy ðảng: khi xét xử, các Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân trên cơ sở xem xét, nghiên cứu hồ sơ vụ
án ñể xác minh chứng cứ và sự thật của vụ án, xem xét những quy phạm pháp luật cần thiết ñể áp dụng một cách chính xác ñể có quyết ñịnh cụ thể cho phù hợp với tình tiết của từng vụ án, không bị tác ñộng từ phía các cơ quan hoặc của bất kỳ cá nhân, tổ chức nào Thực hiện thật nghiêm chỉnh nguyên tắc
“ðảng lãnh ñạo nhưng không làm thay nhà nước”
Hai là, với Tòa án cấp trên khi xét xử, Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân trên những hiểu biết pháp luật cũng như ñời sống chính trị xã hội cùng với năng lực của mình mà tự tư duy và ñưa ra quyết ñịnh dựa vào các sự kiện pháp
lý và quy ñịnh của pháp luật chứ không chịu sự can thiệp trực tiếp từ hệ thống Tòa án, tuyệt ñối không xin ý kiến về vụ án ñang giải quyết Tòa án cấp trên cũng không thể ra lệnh cho Tòa án cấp dưới xét xử theo ý của mình.Với việc tổng kết kinh nghiệm xét xử, sự hướng dẫn của Tòa án cấp trên ñối với Tòa án cấp dưới không có nghĩa là can thiệp, chỉ ñạo việc xét xử các vụ án cụ thể của Tòa án cấp dưới mà chỉ ñược ñưa ra ñường lối xét xử chung và những kinh nghiệm xét xử ñể tạo ñiều kiện thuận lợi trong công tác xét xử của Tòa án các cấp, bảo ñảm thống nhất trong quá trình áp dụng pháp luật4
Ba là, các thành viên trong Hội ñồng xét xử, các thành viên trong hội ñồng xét xử cũng phải ñộc lập với nhau trong quá trình giải quyết vụ án từ khi bắt ñầu cho ñến khi ra bản án Phải ñộc lập trong việc xác ñịnh chứng cứ, phân tích tình tiết của vụ án cũng như phân tích và lựa chọn các quy phạm pháp luật phù hợp ñể áp dụng Do ñó, trước khi phiên tòa diễn ra ñòi hỏi các thành viên trong Hội ñồng xét xử phải tự mình nghiên cứu thật kỹ hồ sơ của vụ án ñồng thời phải có những ý kiến nhất ñịnh ñể chủ ñộng trong việc thẩm vấn, xác minh chứng cứ, xác minh quy phạm pháp luật cần phải áp dụng cho tình huống cụ thể ñể từ ñó có quyết ñịnh cụ thể thật chính xác Hơn thế nữa, ngay
cả trong phòng nghị án, các thành viên trong Hội ñồng xét xử cũng phải thật
sự ñộc lập về quan ñiểm ñể tranh luận ñối với các chứng cứ và các quy phạm pháp luật trước khi biểu quyết ðể ñảm bảo nguyên tắc này cũng như tránh sự
4
Khoản 1 ðiều 19 Luật tổ chức Tòa án nhân dân năm 2002
Trang 17ỷ lại vào Thẩm phán, Bộ luật tố tụng dân sự ngay từ khi mới ra đời đã kịp thời quy định tại ðiều 236 Khoản 2 cụ thể: “Hội thẩm nhân dân biểu quyết trước, Thẩm phán biểu quyết sau cùng”
Tuy nhiên, trong quá trình xét xử, thì Tịa án vẫn phải tham khảo, lắng nghe ý kiến của các cơ quan Nhà nước (chẳng hạn như bản cáo trạng của Viện kiểm sát), các đồn thể và nhân dân để cĩ thể tiếp cận một cách dễ dàng vấn
đề từ nhiều gĩc độ khác nhau và tất cả các khía cạnh, để từ đĩ xét xử luơn thấu tình, đạt lý Do đĩ mặc dù độc lập nhưng ở đây được hiểu là độc lập trong sự thống nhất chứ khơng phải độc lập theo lý thuyết phân quyền như ở các nước
Quyết định của Thẩm phán cĩ ảnh hưởng rất lớn và trực tiếp đến quyền
và lợi ích của cơng dân, ảnh hưởng đến lịng tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của ðảng, ảnh hưởng đến việc thực thi dân chủ, bảo vệ cơng lý Do vai trị quan trọng đĩ của Thẩm phán, các Thẩm phán phải là những người cĩ chuyên mơn, nghiệp vụ, đạo đức tốt ðể đạt được mục đích đĩ hệ thống Tịa án được
tổ chức theo nguyên tắc “bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức” các Thẩm phán Nguyên tắc này cĩ ý nghĩa vơ cùng quan trọng trong việc bảo đảm sự độc lập của Tịa án So sánh hai chế độ, chế độ bầu Thẩm phán với chế độ bổ nhiệm Thẩm phán, thì chế độ bổ nhiệm Thẩm phán thì lại cĩ nhiều ưu điểm hơn nĩ bảo đảm cho tính độc lập trong khi xét xử của Tịa án mà đại diện là các Thẩm phán Các Thẩm phán được bổ nhiệm sẽ yên tâm cơng tác, khơng chịu áp lực
từ phía các cơ quan nhà nước khác, bảo đảm cho phán quyết của Thẩm phán thật sự độc lập, khách quan, thực sự là đại diện cho cơng lý Ngồi ra việc bổ nhiệm cịn tạo cho họ một tâm lý ổn định nghề nghiệp, làm việc liên tục khơng
bị gián đoạn, khơng phải lo lắng về sự thay đổi thường xuyên do chế độ bầu Thẩm phán
Chính từ ý nghĩa đĩ, ngay từ khi hệ thống Tịa án của nước ta cịn non trẻ khi mới được thành lập thì nguyên tắc này đã được khẳng định trong Hiến pháp 1946 “các viên Thẩm phán đều do chính phủ bổ nhiệm” (Hiến pháp nước
Trang 18Việt Nam dân chủ cộng hòa ðiều 64) Tuy nhiên, ñể phù hợp với tình hình mới sau khi hòa bình ñược lập lại ở mền Bắc, cùng với việc khẳng ñịnh nhà nước ta là một nhà nước “của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân” theo ñó quyền lực của nhân dân mà ñại diện là các cơ quan dân cử cũng ñược mở rộng Do ñó từ Hiến pháp 1959 ñến Hiến pháp 1980 và kéo dài ñến trước khi Hiến pháp 1992 ra ñời, Thẩm phán Tòa án nhân dân cấp tỉnh và tương ñương, Thẩm phán Tòa án nhân cân cấp huyện và tương ñương ñều do hội ñồng nhân dân cùng cấp bầu ra Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao do Ủy ban thường vụ quốc hội bổ nhiệm
Qua thực tiễn nhiều năm với việc xây dựng và phát triển nhà nước cho thấy, chế ñộ bầu cử là cần thiết, thích hợp với các loại cán bộ dân cử như ðại biểu quốc hội, ðại biểu Hội ñồng nhân dân nhưng lại không phù hợp với công chức nói chung và ñặc biệt là Thẩm phán nói riêng, một người phải làm việc liên tục, ñòi hỏi nhiều kinh nghiệm và hiểu biết sâu sắc cuộc sống chính trị và
xã hội, một người phải làm việc suốt ñời trong nghề nghiệp chuyên môn của mình Với quy ñịnh mới này nó ñã ảnh hưởng không nhỏ ñến tính ñộc lập khi xét xử của các Thẩm phán ñối với các cơ quan cũng như những người ñã bầu
ra
Một trong những nguyên tắc và ñòi hỏi quan trọng của nhà nước pháp quyền là quyền tư pháp phải ñược coi trọng, tính ñộc lập của tư pháp phải ñược bảo ñảm, Tòa án phải dễ tiếp cận Tuy nhiên một nền tư pháp mạnh chỉ
có ñược trên thực tế khi tạo lập ñược một cơ chế tổ chức và hoạt ñộng thích hợp có thể ñảm bảo ñược sự ñộc lập, vô tư của chúng Nếu không thì dù luật
có quy ñịnh tư pháp ñộc lập trên thực tế nó cũng khó có thể ñộc lập ñược và khi ñã không ñộc lập thì khó lòng vô tư và khách quan ñược Nghĩa là sự ñộc lập của các cơ quan tư pháp cần về mặt pháp lý và mặt thực tế, cả về tổ chức lẫn trong hoạt ñộng, phải làm sao ñể mọi tổ chức, cơ quan, cá nhân không thể can thiệp ñược vào quá trình xét xử cũng như trong quá trình ra bản án của Tòa án Một trong những nguyên tắc và ñòi hỏi quan trọng của nhà nước pháp quyền là quyền tư pháp phải ñược coi trọng, tính ñộc lập của tư pháp phải ñược bảo ñảm, Tòa án phải dễ tiếp cận Tuy nhiên một nền tư pháp mạnh chỉ
có ñược trên thực tế khi tạo lập ñược một cơ chế tổ chức và hoạt ñộng thích hợp có thể ñảm bảo ñược sự ñộc lập, vô tư của chúng Nếu không thì dù luật
có quy ñịnh tư pháp ñộc lập trên thực tế nó cũng khó có thể ñộc lập ñược và khi ñã không ñộc lập thì khó lòng vô tư và khách quan ñược Nghĩa là sự ñộc lập của các cơ quan tư pháp cần về mặt pháp lý và mặt thực tế, cả về tổ chức
Trang 19lẫn trong hoạt ñộng, phải làm sao ñể mọi tổ chức, cơ quan, cá nhân không thể can thiệp ñược vào quá trình xét xử cũng như trong quá trình ra bản án của Tòa án
1.3.4 Quy ñịnh về tính ñộc lập của hệ thống tư pháp của một số nước
1.3.4.1 Pháp luật của Pháp
Chính thể của nước Pháp là chính thể cộng hòa lưỡng tính Chính thể này vừa có những ñặc ñiểm của chính thể cộng hòa Tổng thống vừa có ñặc ñiểm của chính thể cộng hòa ðại nghị, chính ñặc ñiểm này mà nó có ảnh hưởng không nhỏ ñến hệ thống cơ quan xét xử ở Pháp ñó là Tòa án ðiều này
ñã ñược nói ñến nhiều trong mối tương quan giữa lập pháp và hành pháp Tuy nhiên tính chất lưỡng tính của chính thể này biểu hiện trong quan hệ giữa lập pháp, hành pháp và tư pháp thì chưa ñược nói tới Có thể thấy rằng mô hình thể chế tư pháp ở Pháp là một mô hình lưỡng tính, không giống mô hình của các nước khác ở Châu Âu và cũng không giống mô hình của Mỹ Từ góc ñộ chính thể có thể thấy quyền tư pháp trong chính thể cộng hòa lưỡng tính của Pháp vừa có ñặc ñiểm của chính thể cộng hòa ñại nghị
Chính thể của Pháp áp dụng nguyên tắc phân quyền một cách mềm dẻo, nên quyền tư pháp ở Pháp không ñược ñộc lập một cách tuyệt ñối như trong chính thể cộng hòa tổng thống của Mỹ, ñiều này thể hiện trong quan hệ của tư pháp với lập pháp, hành pháp ðây là ñặc ñiểm của chính thể cộng hòa ñại nghị Sự hiện diện của hệ thống Tòa án hành chính ở Pháp cho thấy rằng tư pháp vẫn chưa ñộc lập hoàn toàn với hành pháp Một mặc nó can thiệp vào hoạt ñộng của hành pháp, mặt khác nó chịu sự tác ñộng từ phía hành pháp
Tuy nhiên,ở Pháp không vì sự ñộc lập không tuyệt ñối ñó mà làm mất
ñi tính ñộc lập của các Thẩm phán khi xét xử mà nó có một quy ñịnh ñặc biệt nhằm bảo ñảm tính ñộc lập trong hoạt ñộng xét xử của Thẩm phán ñó là quyền bất khả bãi miễn Thẩm phán là một trong những nguyên tắc cơ bản ñược pháp luật ghi nhận nhằm bảo ñảm cho Thẩm phán thật sự vô tư và ñộc lập khi xét
xử Quyền bất khả bãi miễn của Thẩm phán ñược quy ñịnh trong Hiến pháp và ñược khẳng ñịnh trong quy chế Thẩm phán5
Tóm lại, cũng như một số nước như Anh, Mỹ và một số nước khác tuy
là hệ thống Tòa án của nước Pháp không hoàn toàn ñộc lập trong hoạt ñộng xét xử của mình ñối với các cơ quan hành pháp và lập pháp, nhưng qua những phân tích sơ lược trên thêm vào ñó tất cả các Thẩm phán của nước Pháp ñều
5
Vị trí vai trò của thể chế tư pháp trong nhà nước pháp quyền, tr.108 Nxb Chính trị Quốc Gia, Hà
Nội
Trang 20do tổng thống bổ nhiệm theo ñề nghị của Hội ñồng tối cao các Thẩm phán Trong ñó Hội ñồng Thẩm phán tối cao gồm 9 người do Tổng thống bổ nhiệm, nếu như ở Pháp các Thẩm phán ñều do Tổng thống bổ nhiệm thì ở Việt Nam thì khác tất cả các Thẩm phán ñều do Chánh án Tòa án nhân dân tối cao bổ nhiệm, tuy nhiên dù cho Thẩm phán ñược ai bổ nhiệm ñi chăng nữa thì mục tiêu chung của các nước Pháp và Việt Nam ñều hướng ñến là sự ñộc lập của các Thẩm phán khi xét xử, họ ñều có những cơ chế chính sách riêng theo chế
ñộ chính trị mà ñất nước ñang thực hiện, nhưng mỗi nước sẽ ñạt ñược những kết quả nhất ñịnh Chẳng hạn như ở Việt Nam với quy ñịnh là tất cả các Thẩm phán sẽ do Chánh án Tòa án nhân dân tối cao bổ nhiệm, nhưng bên cạnh ñó luật cũng quy ñịnh Chánh án phải chịu trách nhiệm cũng như báo cáo trước Quốc Hội là cơ quan quyền lực cao nhất của ñất nước Còn ở Pháp với chính thể cộng hòa lưỡng tính thì lại ñược quy ñịnh tất cả các Thẩm phán ñều do Tổng thống bổ nhiệm theo sự giới thiệu của Hội ñồng tối cao các Thẩm phán nhưng Chủ tịch của hội ñồng này là Tổng thống, còn phó chủ tịch hội ñồng là
bộ trưởng bộ tư pháp, nhưng trên thực tế thì hoạt ñộng của hội ñồng do bộ trưởng bộ tư pháp lãnh ñạo Ngoài ra, hội ñồng tối cao các Thẩm phán còn ñề nghị Tổng thống bổ nhiệm Thẩm phán tòa phá án và Chánh án tòa thượng thẩm Phê chuẩn ñề nghị bổ nhiệm các Thẩm phán khác của các Tòa án Hội ñồng này có quyền ñề nghị thuyên chuyển các Thẩm phán, xem xét và quyết ñịnh kỷ luật các Thẩm phán Như vậy, ở pháp việc bổ nhiệm, thuyên chuyển,
kỷ luật các Thẩm phán ñều do tổng thống quyết ñịnh, nhưng hoạt ñộng chủ yếu lại là Hội ñồng tối cao các Thẩm phán, ñặt trường hợp nếu như hội ñồng này không ñộc lập với nhau, không nghiêm minh thì việc tuyển chọn các Thẩm phán sẽ khó tránh khỏi sự lạm dụng quyền và sẽ không ñộc lập khi xét
xử của các Thẩm phán Có thể thấy trong quy ñịnh cụ thể thì hầu hết các nước nói chung và Pháp nói riêng ñều có quy ñịnh về sự ñộc lập trong hoạt ñộng xét
xử của các Thẩm phán trong quá trình tố tụng cũng như ñưa ra những bản án
Và sự ñộc lập này chỉ là tương ñối, cũng như các nước Pháp cũng tìm mọi cách cải thiện nâng cao tính ñộc lập của Tòa án cũng như những người ñại diện cho Tòa án (Thẩm phán) trong hoạt ñộng xét xử Nhưng những quy ñịnh cũng như chế ñịnh về tính ñộc lập của Tòa án chưa thật sự rõ ràng và phát huy tác dụng của nó trong hoạt ñộng xét xử chính của Tòa án ở Pháp
1.3.4.2 Pháp luật của Hiệp chủng quốc Hoa Kỳ
Như chúng ta ñã biết khác với Việt Nam, Mỹ là một nhà nước liên bang nên tổ chức nhà nước cũng như hệ thống Tòa án rất khác với Việt Nam Song
Trang 21cho dù khác nhau khá xa về tổ chức và hoạt ñộng xét xử cũng như hiệu quả của hoạt ñộng trong hệ thống Tòa án của hệ thống Tòa án nhưng cả Mỹ và ñặc biệt là Việt Nam cũng ñều hướng tới sự ñộc lập hoàn toàn trong quá trình xét
xử của Tòa án
Trong tổ chức hệ thống Tòa án trên thế giới, thì Mỹ ñược xem là một nước có sự ñộc lập cao trong hoạt ñộng xét xử của Tòa án Cùng với chế ñộ tư bản nhất là trong thời kỳ cách mạng của nó thì Mỹ là một trong những nước tích cực và bỏ rất nhiều công sức vào việc ñấu tranh giành ñộc lập cho hoạt ñộng của Tòa án Bởi vì sự ñộc lập của Tòa án khỏi lập pháp và hành pháp là một trong những yếu tố quan trọng trong việc bảo vệ quyền bình ñẳng, quyền
tự nhiên của con người, và nhất là trong việc chống lại tình trạng chuyên chế, tham nhũng lợi dụng quyền lực của những nhà cầm quyền Vì ñam mê quyền lực, vì vụ lợi mà nhờ chuyên chế xâm phạm ñến quyền tự do, bình ñẳng, quyền tự nhiên của người dân
Tuy vậy, ở Mỹ vị trí, vai trò của Tòa án cũng rất phụ thuộc vào quan ñiểm tư tưởng chỉ ñạo của các giai cấp cầm quyền Nếu như ở Anh và Pháp, vì
lý do lịch sử và hệ tư tưởng, nguyên tắc phân quyền trong bộ máy nhà nước không rõ rệt, trong ñó ưu thế của Nghị viện là lấn át so với ngành tư pháp, thì vai trò của bộ máy tư pháp ở Mỹ lại hoàn toàn khác Sự tiến hóa và ñặc trưng của bộ máy tư pháp của Mỹ ñã làm cho bản ñồ quyền lực ở Mỹ ñược phân biệt một cách rõ rệt hơn, gần ñúng với học thuyết của Mông-tex-ki-ơ Ngay từ thời mới thành lập ra nhà nước Hợp chủng Mỹ châu (hơn 200 năm về trước) cùng với quan niệm về tính tối cao của Hiến pháp, người Mỹ ñã ñề cao vai trò siêu phàm của Tòa án trong tổ chức và hoạt ñộng bộ máy nhà nước của mình
Cho ñến nay, cuộc ñấu tranh ñể cho hoạt ñộng của Tòa án hoàn toàn ñộc lập trước hoạt ñộng hành pháp và lập pháp vẫn còn ñang tiếp diễn mạnh mẽ ở tất
cả các nước cũng như không riêng gì ở nước Mỹ, mặc dù vấn ñề này ñã ñược ñặt ra trong thời kỳ cách mạng tư sản Giải quyết vấn ñề này thế giới tư sản ñã vấp phải không ít những khó khăn Ví dụ như trong việc nêu cao vai trò ñộc lập xét xử của Tòa án sẽ gặp phải mâu thuẫn với chủ quyền của nhân dân Nhà nước sẽ trở thành Chính phủ của những quan tòa
Ở Mỹ, ñể ñảm bảo nguyên tắc Tòa án ñộc lập khi xét xử, pháp luật Mỹ quy ñịnh tất cả các Thẩm phán ñều do Tổng thống liên bang hoặc do thống ñốc các bang bổ nhiệm, với nhiệm kỳ suốt ñời Sau khi ñã bổ nhiệm, với nhiệm kỳ lâu dài sẽ tạo ñiều kiện bảo ñảm cho các Thẩm phán ñộc lập khi xét
xử, chỉ phụ thuộc vào pháp luật Ngoài ñiều kiện ñảm bảo nêu trên, thì các
Trang 22Thẩm phán ở Mỹ cịn được hưởng một khoản lương tương đối cao so với các quan chức nhà nước khác
Chính hoạt động độc lập, chỉ tuân theo pháp luật của các Thẩm phán nhằm mục đích bảo đảm quyền con người của mọi cơng dân, quyền bình đẳng của con người trước pháp luật, tránh mọi sự lợi dụng chức quyền mà đàn áp dân chúng Trong hoạt động xét xử của mình, các Thẩm phán phải tuân thủ nghiêm ngặt các quy tắc xét xử Chính sự tuân thủ các quy tắc xét xử được quy đinh rõ ràng và chặt chẽ trong luật tố tụng của mỗi quốc gia cũng là để nhằm mục đích bảo vệ quyền con người của cơng dân, nhất là việc bảo vệ cơng lý cho xã hội trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, tránh mọi sự lợi dụng quyền lực của chính các Thẩm phán, cũng như để cho chính Thẩm phán tránh được mọi áp lực từ phía các quan chức nhà nước khác và nhà nước Mỹ xem điều này rất quan trọng trong hệ thống cơ quan xét xử của mình
Tĩm lại, các nhà lập hiến của Mỹ đã cĩ rất nhiều nổ lực xây dựng những cơ sở hiến pháp cho sự độc lập của hệ thống tư pháp trong hoạt động xét xử Với một chế độ phân quyền cứng rắn, hệ thống Tịa án trong hoạt động xét cử của mình ở Mỹ được tăng cường khả năng độc lập đến cao độ mà trong các chính thể đại nghị phân quyền mềm dẻo khơng cĩ được chẳng hạn như ở Anh hoặc ở ðức Trong việc phân bổ quyền lực, thì Hiến pháp của Mỹ đã thiết
kế cho tư pháp một vị thế độc lập rất cao Sự độc lập đĩ của hệ thống tư pháp được bảo đảm bằng một số các cơ chế như: Chế độ bổ nhiệm Thẩm phán, nhiệm kỳ suốt đời của Thẩm phán, chế độ lương bổng bảo đảm cuộc sống của Thẩm phán, thi hành án, kỷ luật tư pháp…Với một cơ chế hiến định như thế, thể chế tư pháp ở Mỹ đã phát huy được khả năng độc lập của mình Và Mỹ được coi là một nước cĩ một hệ thống cơ quan Tịa án thực hiện xét xử độc lập khá hồn chỉnh so với các nước trên thế giới kể cả Việt Nam
1.3.4.3 Một số quy định về nguyên tắc xét xử mang tính độc lập của tịa
án trong pháp luật của Liên hiệp Vương quốc Anh
Như chúng ta đã biết Anh là một nước theo pháp luật Châu Âu lục địa, nhìn vào hệ thống pháp luật của Anh, việc xét xử của nước này cĩ thể nĩi rất
dễ dàng khơng mang tính chất của một cơ quan tài phán là đại diện nhà nước
và nhân dân đứng ra xét xử một cách nghiêm minh nhằm bảo vệ cơng lý, và khơng cĩ một cơ chế nào thấy được sự độc lập trong xét xử của Tịa án cũng như những Thẩm phán và bồi thẩm đồn bởi ở Anh Tịa án cấp sơ thẩm hay cịn gọi là Tịa án vi cảnh là cấp thấp nhất trong hệ thống xét xử, ở đĩ các Thẩm phán vi cảnh là những người khơng chuyên và tham gia xét xử mà
Trang 23khơng hưởng lương (họ được gọi là các Thẩm phán hịa bình), và tuyệt đại đa
số các vụ án ở Anh được khởi đầu và kết thúc ở các Tịa án vi cảnh này vậy
mà việc xét xử tại các Tịa án vi cảnh lại khơng cĩ sự tham gia của Bồi thẩm đồn và mỗi vụ xét xử thường cĩ hai hoặc ba Thẩm phán hịa bình cùng tham gia (Thẩm phán cĩ hưởng lương cĩ thể xét xử một mình)
Thêm vào đĩ khi xét xử thường khơng cĩ luật sư bào chữa nhưng việc xét xử lại diễn ra với một tốc độ đáng kinh ngạc Tốc độ xét xử diễn ra nhanh chĩng là vì các Thẩm phán hịa bình là những Thẩm phán khơng chuyên, kể cả theo khía cạnh pháp luật và khía cạnh làm việc khơng hưởng lương
Nhưng khi tìm hiểu cụ thể hơn về hệ thống pháp luật của Anh thì mới thấy rõ
cơ chế độc lập trong xét xử của các Thẩm phán
Một điều đặt thù ở nước Anh là Thượng Nghị viện là cấp xét xử cuối cùng Tuy nhiên, khơng phải là tồn viện xét xử mà chỉ riêng cĩ các Thẩm phán quý tộc xét xử thay Viện Dưới gĩc độ chính thể cĩ thể nhận thấy tính chất mềm dẻo của việc áp dụng nguyên tắc phân quyền trong chính thể quân chủ đại nghị của Anh Do ảnh hưởng những tàn dư của chế độc quân chủ phong kiến, quyền tư pháp ở Anh vẫn khơng thể độc lập hồn tồn với hành pháp mà cụ thể là các thế lực vương triều ðiều này thể hiện ở chổ quyền bổ nhiệm các Thẩm phán thuộc về hành pháp Chính điều này đã làm cho tư pháp cịn lệ thuộc ở mức độ nhất định đối với hành pháp ðiều đáng nĩi hơn là cơ quan lập pháp vẫn cĩ phần của mình đối với quyền tư pháp Quyền tư pháp khơng hồn tồn thuộc về Tịa án mà cịn thuộc về cơ quan lập pháp là Thượng Nghị viện Chính quyết định của Thượng Nghị viện chứ khơng phải là quyết định của Tịa án là quyết định cuối cùng Việc khơng phải là tồn viện xét xử mà chỉ riêng cĩ các Thẩm phán quý tộc xét xử thay Viện cho thấy quyền tư pháp vẫn cịn bị ảnh hưởng bởi các thế lực tiêu biểu cho chế độ phong kiến trước đây ðiều này là do sự đè nặng của chế độ phong kiến lên chính thể Anh ðây chính là những đặc thù của quyền tư pháp trong chính thể quân chủ đại nghị ở Anh quốc
Tuy nhiên, với đặc thù này nĩ vẫn khơng làm mất đi tính độc lập trong xét xử của các Thẩm phán ở Anh Một số Thẩm phán ở Anh được bổ nhiệm theo đề nghị của Bộ trưởng phụ trách tư pháp Một số Thẩm phán khác do Thủ tướng bổ nhiệm, sau khi tham khảo ý kiến của Bộ trưởng phụ trách tư pháp Các Thẩm phán được bổ nhiệm là những người thơng thạo pháp luật, các luật
sư đã cĩ kinh nghiệm tại các Tịa án Trước khi được bổ nhiệm, đương sự phải
là luật sư trong thời hạn bảy năm Một đặc tính đặc biệt của các vị Thẩm phán
Trang 24là sự độc lập Theo câu nĩi của Jennings: “Người ta khơng bao giờ chỉ trích các vị Thẩm phán Anh thiên vị, ăn hối lộ hay chịu ảnh hưởng chính trị”6 Lý
do là nghề luật sư ở Anh địi hỏi nhiều khĩ khăn Trước khi hành nghề luật sư, đương sự phải trình diện trước một trong bốn ðồn luật sư là những nghiệp đồn tư nhân khơng chịu sự kiểm sốt của Chính phủ Nghiệp đồn đĩ chỉ cơng nhận những đương sự nào cĩ học thức, cĩ hành kiểm tốt để bảo vệ tinh thần độc lập mà các nghiệp đồn đã xây dựng Nghiệp đồn sẽ trừng phạt luật
sư nào chịu áp lực chính trị hay cơng luận Tuy nhiên các vị Thẩm phán vì khơng được sử dụng sự kiểm sốt tư pháp nghĩa là hủy bởi các đạo luật, nên khơng chịu các loại áp lực mà các vị thẩm phán thường chịu ảnh hưởng
Về việc tham gia xét xử, pháp luật Anh cho phép Thẩm phán được hoạt động hồn tồn độc lập một cách tích cực so với Thẩm phán của Mỹ trong phịng xử án Theo truyền thống của Anh Thẩm phán thường xét hỏi các nhân chứng và đĩng vai trị tích cực trong các hoạt động tố tụng Khi kết luận về lời buộc tội, lời bào chữa hay bản án thì Thẩm phán cĩ thể đưa ra kết luận hay định hướng cho Bồi Thẩm đồn Khác với Việt Nam trong trường hợp này, trong hoạt động xét hỏi thì Thẩm phán hỏi xong lần lượt đến các Thẩm phán cịn lại và cuối cùng là Hội thẩm nhân dân (Bồi thẩm đồn) và khi ra kết luận bản án thì phải theo đa số tức là nếu các Hội thẩm khơng đồng ý thì quyết định của Thẩm phán cũng khơng được chấp nhận Và việc xem xét hồ sơ vụ án thì
cả Hội thẩm nhân dân và Thẩm phán đều phải rõ và nắm rất kỹ tình tiết của vụ
án Trong khi đĩ ở Anh thì việc nắm được rất rõ lý lịch cũng như hồ sơ vụ án đều thuộc về Thẩm phán Tĩm lại, tuy tổ chức hệ thống tư pháp ở Anh khơng thể độc lập hồn tồn với hành pháp, nhưng trong các quy định của pháp luật vẫn đảm bảo được phần nào cơ chế độc lập của Thẩm phán trong hoạt động xét xử
Từ những phân tích sơ lược về pháp luật, cách thức bổ nhiệm Thẩm phán cũng như quá trình xét xử mang tính chất độc lập của các nước, cĩ một
số ý từ các nước mà đã rút ra được từ các quy định và thực tiễn xét xử ở các nước: qua những phân tích trên cĩ thể thấy hầu hết các nước phát triển đã tìm hiểu như Anh, Mỹ, Pháp để bảo vệ cơng dân của mình cũng như thể chế nhà nước được ổn định và phát triển một cách tốt nhất thì các nước đều quy định trong khi xét xử thì các Tịa án phải tiến hành xét xử một cách độc lập và nghiêm minh phối hợp chặt chẽ với các biện pháp và nhiều quy định, chẳng
6
Thể chế tư pháp trong nhà nước pháp quyền, Nxb Tư pháp, Năm 2004, tr 89
Trang 25hạn cơ chế bổ nhiệm Thẩm phán với nhiệm kỳ suốt ñời ở Mỹ, còn ở nước Anh tuy cũng có quy ñịnh về tính ñộc lập của Tòa án khi xét xử nhưng nó lại ít ñược quan tâm cũng như thực hiện như ở Mỹ, còn thiếu khả thi trên thực tế Tuy có nhiều quy ñịnh nhằm tăng tính ñộc lập trong xét xử của hệ thống Tòa
án ñể có những bản án và những quyết ñịnh thật chính xác và thật khách quan nhưng hầu hết các nước vẫn còn phải nhọc nhằng vì chuyện ñộc lập của cơ quan Tòa án hiện nay và Việt Nam chúng ta cũng không nằm ngoài những nhọc nhằng ñó Là một trong những nước ñang phát triển, bị chiến tranh tàn phá hàng thập kỷ, kinh tế ñi lên từ nông nghiệp lạc hậu dẫn tới việc nghiên cứu và ban hành các luật bảo vệ tài sản, tính mạng, sức khỏe, danh dự của nhân dân còn yếu kém Cùng với sự phát triển về mọi mặc của toàn thế giới ñặc biệt là quá trình gia nhập tổ chức thương mại thế giới (WTO) của Việt Nam ñòi hỏi chúng ta phải có một nền tư pháp ñủ sức ñáp ứng nhu cầu ñó cùng với quá trình công nghiệp hóa, hiện ñại hóa ñất nước tiến hành cải tổ và hoàn thiện tất cả các lĩnh vực của ñời sống xã hội ñưa nước ta trở thành một nước phát triển ðặc biệt là việc sửa ñổi, bổ sung Hiến pháp, Bộ luật và luật ñể
có ñược những quy ñịnh một cách rành mạch, chặt chẽ và khả thi ñể ñáp ứng ñược yêu cầu của công cuộc cải cách ñất nước ñặc biệt là ñáp ứng cho việc gia nhập kinh tế quốc tế của nước ta ðiều ñáng quan tâm là cùng với những khó khăn ñó thì chúng ta cũng có những thuận lợi nhất ñịnh chẳng hạn như là nước ñi sau cho phép chúng ta học hỏi kinh nghiệm, tránh ñược những cái sai của các nước ñi trước ñặc biệt là trong lĩnh vực tư pháp, nhất là của Mỹ Chúng ta nên xem xét chẳng hạn như việc bổ nhiệm Thẩm phán cũng như nhiệm kỳ của các Thẩm phán là suốt ñời Bởi nước ta là một nước ñi lên chế
ñộ xã hội chủ nghĩa bỏ qua chế ñộ tư bản chủ nghĩa, chúng ta ñã ñi tắc bởi qua một giai ñoạn phát triển của nhân loại, một giai ñoạn cần thiết cho một ñất nước về cơ sở vật chất cũng như một nền chính trị vững mạnh Với việc phát triển ñất nước theo con ñường này ñã cho chúng ta cả cái hại và cái lợi, và ñương nhiên cái hại chúng ta sẽ không nói ở ñây Còn ñối với mặc lợi là nó cho phép chúng ta kế thừa một cách có chọn lọc những thành tựu ñạt ñược của chế ñộ tư bản ñể lại, chúng ta ñược quyền xem xét những phần nào phù hợp với thực tiễn của ñất nước ñể áp dụng một cách tốt nhất mà không “gập khuôn” và việc học hỏi, tiếp thu ở ñây là trong lĩnh tư pháp ở các nước tư bản ñặc biệt là Mỹ
Ở Pháp tuy là hệ thống Tòa án còn nhọc nhằng, chưa có một cơ chế ñộc lập tuyệt ñối với cơ quan lập pháp và hành pháp Nhưng Pháp lại rất linh hoạt
Trang 26trong việc tạo ra một cơ chế đảm bảo cho tính độc lập của các Thẩm phán khi xét xử bằng quy định thật rõ ràng cụ thể khơng thể chối cải được “quyền bất khả bãi miễn các Thẩm phán”, với quy định này của Pháp sẽ tạo tâm lý ổn định khi cơng tác của các Thẩm phán, từ đĩ sẽ làm tăng tính độc lập cho các Thẩm phán khi xét xử Với quy định này thì tại sao Việt Nam chúng ta khơng thử xem xét để áp dụng trong quá trình cải cách tư pháp hiện nay
Tương tự như Pháp, ở Anh thì hệ thống tư pháp cũng cịn chịu sự chi phối của Nghị Viện, thậm chí quyết định cuối cùng đối với những vụ án phức tạp lại thuộc về Thượng nghị viện chứ khơng phải là Tịa án, chính đều này đã làm cho nền tư pháp ở Anh cịn phụ thuộc ít nhiều và hành pháp, mặc dù Anh vẫn quy định hệ thống Tịa án của nước này phải độc lập khi xét xử Tuy nhiên cũng như các nước tuy hệ thống Tịa án chưa hồn tồn độc lập trước lập pháp
và hành pháp nhưng ở Anh cũng cĩ một số đặc thù nhằm đảm bảo tính độc lập của các Thẩm phán khi xét xử, khi các Thẩm phán được bổ nhiệm là những người thơng thạo pháp luật, là các luật sư đã cĩ kinh nghiệm tại các Tịa án Quy định về tiêu chuẩn của Thẩm phán ở Anh thì lại rất cao, tính chất nghề nghiệp của họ rất khĩ khăn, là những người cĩ học thức cao, cĩ hạnh kiểm tốt
để bảo vệ tinh thần độc lập khi xét xử mà các nghiệp đồn luật ở Anh đã xây dựng Khả năng độc lập của các Thẩm phán ở Anh là rất cao nĩ được chứng minh bởi câu nĩi của Jenings:“Người ta khơng bao giờ chỉ trích các vị Thẩm phán Anh thiên vị, ăn hối lộ hay chịu ảnh hưởng chính trị” Một đặc thù mà làm cho các Thẩm phán độc lập trong khi xét xử trong khi đĩ thì nền tư pháp lại chưa hồn tồn độc lập như thế thì tại sao chúng ta khơng học hỏi, tiếp thu
để hồn thiện việc cải cách hiện nay ở nước trong ngành tư pháp để cĩ được những người tài giỏi và đạo đức tốt khi xét xử trong ngành mà xã hội đang cần
1.3.2.5 Một số quy định về tính độc lập của của Tịa án trong pháp luật Việt Nam
Việt Nam là một nước theo chế độ xã hội chủ nghĩa, là một nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và tư pháp là một bộ phận của quyền lực nhà nước bao gồm hoạt động xét xử của Tịa án, cơ quan điều tra, kiểm sát, thi hành án Trong đĩ Tịa án là biểu hiện tập trung của quyền tư pháp Với phương thức tổ chức theo nguyên tắc tập quyền tất cả quyền lực nhà nước đều tập trung thống nhất vào tay nhân dân, thực hiện quyền lực của mình thơng qua các cơ quan do mình trực tiếp hoặc gián tiếp bầu ra, đĩ là hệ thống các cơ quan đại diện mà cao nhất là Quốc Hội
Trang 27Tuy được tổ chức theo nguyên tắc tập quyền, quyền lực nhà nước thống nhất, khơng phân chia, nhưng trong tổ chức bộ máy nhà nước ta cĩ sự phân cơng rành mạch, chức năng nhiệm vụ của các chức năng lập pháp, hành pháp
và tư pháp ðây là sự phân cơng lao động hợp lý giữa các phân hệ trong bộ máy nhà nước và giữa các cơ quan nhà nước trong từng phân hệ đĩ, nhằm tránh sự chồng chéo, mâu thuẫn, khơng độc lập, lẫn lộn giữa ba quyền cũng như trong nhiệm vụ và chức năng của từng cơ quan, đảm bảo sự hoạt động nhịp nhàng, sự phối hợp đồng bộ của bộ máy nhà nước thực hiện quyền lực tập trung của nhà nước
Cũng như các nước để bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa, đảm bảo quyền làm chủ của nhân dân, bảo vệ tài sản của nhà nước, của tập thể, bảo vệ tính mạng, sức khỏe, tự do, danh dự, nhân phẩm của cơng dân thì Tịa án mới
cĩ quyền xét xử và giải quyết các vụ án hình sự, dân sự, hơn nhân và gia đình, lao động, kinh tế, tế hành chính và các vụ việc pháp lý khác theo quy định của pháp luật thuộc thẩm quyền xét xử của Tịa án
Sớm thấy được tầm quan trọng trong việc xét xử của Tịa án, sớm thấy được tầm quan trọng trong khi ra một bản án hay một quyết định nào đĩ nĩ sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến nhân dân và nhà nước, nên ngay từ khi Hiến pháp
1946 ra đời thì ðảng và nhà nước Việt Nam đã đặc biệt quan tâm và chú trọng đến việc xét xử phải độc lập của hệ thống Tịa án mà đặc biệt hơn là đội ngũ trực tiếp xét xử và đưa ra bản án và quyết định (Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân, ở các nước khác gọi là Bồi thẩm đồn)
Qua bốn bản Hiến Pháp cùng với nhiều lần được sửa đổi bổ sung nhằm ngày càng đáp ứng được sự phát triển của đất nước, tuy cĩ những biến đổi nhất định nhưng về cơ bản nguyên tắc về sự xét xử độc lập của Tịa án vẫn khơng thay đổi mà ngày càng được đổi mới và hồn thiện hơn nhằm tăng khả năng độc lập của các Thẩm phán khi xét xử Từ quy định tại ðiều 67 “Trong khi xét xử, các viên Thẩm phán chỉ tuân theo pháp luật, các cơ quan khác khơng được can thiệp” (Hiến pháp 1946 quy định tại ðiều 67) Và từ Hiến pháp đầu tiên cho đến nay, Tịa án Việt Nam luơn luơn được ghi nhận là hệ thống cơ quan độc lập với cơ quan chấp hành và điều hành; nguyên tắc độc lập xét xử của Tịa án liên tục được khẳng định trong các bản Hiến pháp và ngày càng được quy định một cách rõ ràng hơn và cụ thể hơn Theo quy định tại ðiều 100 của Hiến pháp 1959: “Khi xét xử, Tịa án nhân dân cĩ quyền độc lập
và chỉ tuân theo pháp luật” Nhận thức rằng Thẩm phán và Hội thẩm là những người trực tiếp xét xử, chịu trách nhiệm về quyết định của mình, theo Hiến
Trang 28pháp năm 1980 và Hiến pháp năm 1992 (điều 130 ựã quy ựịnh rõ ràng, cụ thể:
ỘKhi xét xử Thẩm phán và Hội thẩm ựộc lập và chỉ tuân theo pháp luậtỢ Nguyên tắc Hiến ựịnh này cũng ựược quy ựịnh một cách rõ ràng tại điều 5 Luật tổ chức Tòa án nhân dân năm 2002 và các quy ựịnh về tố tụng ở nước ta đây là nguyên tắc bắt nguồn từ nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa nhằm bảo ựảm tắnh công bằng và tắnh khách quan trong quá trình xét xử ựể áp dụng pháp luật thống nhất trong cả nước
Và ở Việt Nam ựã ựược nhà nước ta quan tâm một cách sâu sắc từ tuyển chọn các Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân cho ựến các hoạt ựộng của
họ ựể tăng tắnh ựộc lập khi xét xử Quy ựịnh về tắnh ựộc lập của hệ thống Tòa
án mà ựặc biệt là những người ựại diện cho Tòa án ựể xét xử chắnh là Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân (ở các nước tư bản gọi là Bồi thẩm ựoàn) Cũng như các nước Việt Nam tuy là một nước còn non trẻ trong việc nghiên cứu cũng như ban hành các luật, nhưng với những nổ lực cùng với việc xây dựng
và phát triển ựất nước thì chúng ta ựã có không ắt những quy ựịnh ựáp ứng cho cuộc sống trong công tác xét xử bảo vệ tắnh mạng, tài sản, sức khỏe của nhân dân nói chung và trong hệ thống tư pháp nói riêng Nhằm xây dựng một ựất nước ổn ựịnh về chắnh trị, mạnh về kinh tế, pháp luật ựi vào cuộc sống tạo ra
sự công bằng, ổn ựịnh trong xã hội, tạo niềm tin trong nhân dân nước ta ựã ban hành nhiều bộ luật nhằm tạo tắnh ựộc lập của các cơ quan tư pháp ựặc biệt là Tòa án như ựã nêu ở trên đã có nhiều quy ựịnh về tắnh ựộc lập của Tòa án khi xét xử, nằm trong các văn bản luật của chúng ta từ Hiến pháp, ựến Bộ luật tố tụng Dân sự, rồi pháp lệnh Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân Tất cả ựều dành cho nguyên tắc xét xử ựộc lập của Tòa án mà cụ thể là các Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân
Theo quy ựịnh của pháp luật nước ta Tòa án ựược phân làm hai cấp xét
xử, cấp xét xử ựi gọi là sơ thẩm, cấp xét xử lại nếu bản án hay quyết ựịnh bị kháng cáo, kháng nghị gọi là sơ thẩm Tái thẩm và phúc thẩm là thủ tục ựặc biệt khi bản án ựã có hiệu lực pháp luật mà phát hiện có tình tiết làm thay ựổi
cơ bản nội dung vụ án Từ khi Hiến Pháp 1946 ra ựời nước ta ựã quan tâm chú trọng ựến sự xét xử một cách công bằng và ựộc lập của các Thẩm phán Với những quy ựịnh của pháp luật qua bốn bảng Hiến pháp tuy hình thức chủ trương không trùng khớp với nhau nhưng tinh thần xét xử ựộc lập của các Thẩm phán vẫn không thay ựổi và chẳng những như vậy mà nó ngày càng ựược nâng cao và hoàn thiện hơn nhằm tạo mọi ựiều kiện cho các Thẩm phán xét xử một cách ựộc lập Các Thẩm phán ựược bổ nhiệm theo nhiệm kỳ của
Trang 29Hội ñồng nhân dân cùng cấp, và trong khi xét xử thì các thẩm phán phải tuyệt ñối ñộc lập và tuân theo pháp luật ñược quy ñịnh tại ðiều 130 Hiến pháp Việt Nam năm 1992 sửa ñổi năm 2001: “khi xét xử, Thẩm phán và Hội thẩm ñộc lập và chỉ tuân theo pháp luật”, nội dung, tinh thần của quy ñịnh này cũng giống như Hiến pháp và pháp luật của nhiều nhà nước khác trên thế giới, chỉ
có ñiều là, quy ñịnh ñó ñược thực hiện ở các nước khác có phần tốt hơn ở Việt Nam Khi xét xử các Thẩm phán cũng như các Hội thẩm phải xem xét vấn ñề
ở mọi khía cạnh, dựa vào thực tế và những kinh nghiệm cũng như kiến thức pháp luật của mình ñể ñưa phán quyết một cách chính xác chứ không phải lệ thuộc hay bị ảnh hưởng từ các cá nhân hay một cơ quan tổ chức nào Các Thẩm phán ở ñịa phương do Chánh án Tòa án nhân dân tối cao quyết ñịnh theo ñề nghị của Chủ tịch Hội ñồng nhân dân cấp tỉnh Hội ñồng này có trách nhiệm và quyền hạn tuyển chọn người có ñủ tiêu chuẩn làm Thẩm phán Tòa
án nhân dân cấp tỉnh, Thẩm phán Tòa án nhân dân cấp huyện theo ñề nghị của của Chánh án Tòa án nhân dân cấp tỉnh và ñề nghị Chánh án Tòa án nhân dân tối cao bổ nhiệm Còn ñối với Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thì Hội ñồng tuyển chọn Thẩm phán gồm có Chánh án tòa án nhân dân tối cao làm chủ tịch, có ñại diện của lãnh ñạo Bộ quốc phòng, Bộ nội vụ, Ủy ban trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Ban chấp hành luật gia trung ương làm ủy viên (quy ñịnh tại Khoản 1 ðiều 26 của pháp lệnh Thẩm phán và Hội thẩm năm 2002) Như vậy việc tuyển chọn Thẩm phán ở Việt Nam phải trải qua một ñội ngũ tuyển chọn ñông ñúc, có sự tham gia phối hợp của nhiều ngành, nhiều lĩnh vực nhằm tăng tính công minh khi tuyển chọn các Thẩm phán ñể trong nhiệm kỳ của mình các Thẩm phán sẽ xét xử một cách ñộc lập Việt Nam cũng như các nước cũng luôn tìm cách nâng cao tính ñộc lập của cơ quan Tòa án trong việc bảo vệ công lý trong xã hội mà ñặc biệt là các Thẩm phán khi xét
xử, tuy nhiên việc xét xử của các Thẩm phán còn chịu nhiều tác ñộng ảnh hưởng ñến khả năng xét xử của các Thẩm phán ở nước ta
ðều khác biệt ở Việt Nam và một số nước khác là Chánh án Tòa án nhân dân tối cao phải chịu trách nhiệm báo cáo công tác trước Quốc Hội nếu Quốc Hội không hợp thì sẽ báo cáo trước Ủy ban thường vụ Quốc Hội, còn ñối với Chánh án các Tòa án ở ñịa phương phải chịu trách nhiệm báo cáo công tác cũng như hoạt ñộng của ngành trước Hội ñồng nhân dân cùng cấp Việc báo cáo này chỉ nhằm ñể cho các cơ quan quản lý nhà nước thực hiện tốt chức năng quản lý của mình
Trang 30Sự ñộc lập của Tòa án còn có nghĩa là ñộc lập giữa cơ quan Tòa án với tất cả các cơ quan khác cùng cấp lẫn cấp trên, ñộc lập giữa các thành viên trong nội bộ Tòa án trong quá trình giải quyết vụ án Sự ñộc lập xét xử của Tòa án cũng có nghĩa là trong những phán quyết cụ thể , quan tòa không chịu
sự can thiệp trực tiếp từ hệ thống Tòa án Quan hệ giữa các cấp Tòa án không phải là quan hệ hành chính nên Tòa án cấp trên không thể ra lệnh cho Tòa án cấp dưới xét xử theo ý của mình Tòa án tối cao chỉ ñược tổng kết kinh nghiệm xét xử, hướng dẫn các Tòa án cấp dưới áp dụng pháp luật một cách thống nhất chứ không phải là can thiệp vào việc xét xử các vụ án cụ thể của Tòa án cấp dưới, chỉ ñược ñưa ra dường lối xét xử chung, những kinh nghiệm xét xử ñể tạo ñiều kiện thuận lợi trong công tác của Tòa án các cấp, ñảm bảo sự thống nhất trong quá trình áp dụng pháp luật Tuy nhiên, sự ñộc lập của cơ quan Tòa
án trong quá trình xét xử còn gặp nhiều khó khăn do sự can thiệp của các cá nhân cơ quan và tổ chức ðây là vấn ñề mà các nước nói chung và Việt nam nói riêng ñã và ñang tìm giải pháp tối ưu ñể ñảm bảo tính ñộc lập của cơ quan này ñể có những phán quyết thật chính xác, và khách quan tạo sự ổn ñịnh trong xã hội
Và ñể hiểu hơn về khả năng ñộc lập của hệ thống Tòa án ñối với các cá nhân, cơ quan, tổ chức có khả năng ảnh hưởng ñến nguyên tắc ñộc lập của Tòa
án mà trực tiếp là ảnh hưởng ñến những hiện thân của Tòa án Thẩm phán Cũng như những ảnh hưởng ñến cách thức và trình tự tuyển chọn, bổ nhiệm cho ñến các hoạt ñộng của các Thẩm phán và hơn hết là sự ảnh hưởng của các
cá nhân, cơ quan cũng như tổ chức ñến nguyên tắc xét xử ñộc lập của Tòa án
mà cụ thể là Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân Và hiểu rõ hơn tầm quan trọng của việc ñộc lập khi xét xử cũng như ra các bản án hay các quyết ñịnh của Tòa
án mà ñại diện cụ thể là những người trực tiếp xét xử (các Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân) xin ñi vào phần tiếp theo, phần 2 sẽ tiến hành nghiên cứu và phân tích cụ thể về tính ñộc lập của Tòa án trong khi giải quyết vụ án ñặc biệt
là trong tố tụng dân sự
Và cụ thể là ñi vào phân tích những quy ñịnh về tính ñộc lập của của Tòa án mà ñại diện là Thẩm phán với các thành viên trong khi giải quyết các
vụ án, ñó là ñộc lập giữa Thẩm phán với Hội thẩm nhân dân, với Chánh án tòa
án, ñộc lập giữa Hội thẩm và Chánh án Tính ñộc lập của Tòa án với các cơ quan cùng cấp và cấp trên của Tòa án như Viện kiểm sát, Tòa án cấp trên Tính ñộc lập của Tòa án với các tổ chức khác mà ảnh hưởng trực tiếp ñến Tòa
án là Ủy ban mặt trận tổ quốc Việt Nam Từ ñó sẽ thấy ñược những ảnh hưởng
Trang 31như thế nào ñến lòng tin của nhân dân vào sự lãnh ñạo của ðảng và nhà nước
ta ðặc biệt là uy tín của cơ quan Tòa án trong quá trình bảo vệ công lí mà nhà nước giao cho, ảnh hưởng như thế nào ñến ñời sống vật chất, cũng như tinh thần của người dân mà ñặc biệt là trong lĩnh vực dân sự
Trang 32
CHƯƠNG 2 TÍNH ðỘC LẬP CỦA TOÀ ÁN TRONG GIẢI QUYẾT VỤ ÁN DÂN SỰ
Như chúng ta ñã biết Tòa án có một thể chế hết sức ñặc biệt trong hệ thống các cơ quan nhà nước chẳng hạn như có quyền xét xử và ñóng một vai trò hết sức quan trọng trong việc bảo vệ quyền và lợi ích của người dân, giữ gìn trật tự, kĩ cương và phồn thịnh trong xã hội Không những nó ñược hưởng quy chế phân quyền ñộc lập như các cơ quan lập pháp và hành pháp, mà nó còn ñòi hỏi phải ñộc lập hoàn toàn trước hai cơ quan này Nhà nước ta là một nhà nước pháp quyền mà sức mạnh của nhà nước pháp quyền tùy thuộc nhiều vào niềm tin của người dân vào hệ thống tư pháp Sự không thể thiếu ñược hoạt ñộng xét xử trong hoạt ñộng của nhà nước
Với thẩm quyền xét xử mà nhà nước ñã giao cho, Tòa án luôn ñược mệnh danh là thành trì của tự do Khi người ta tìm ñến Tòa án là tìm ñến sự công lý, nơi bảo vệ mọi quyền lợi chính ñáng của con người, là nơi bảo vệ nhân quyền và quyền tự do
Thể chế Tòa án xét xử ñộc lập ñã cung cấp cho xã hội một phương pháp xác ñịnh sự thật và sự công bằng trong các hoạt ñộng của xã hội bao gồm các hoạt ñộng của tư nhân và nhà nước bằng các lĩnh vực cơ bản:
Thứ nhất, trách nhiệm của hệ thống thể chế này có tác dụng bảo ñảm sự bình ổn cho xã hội, thiết lập nên một trật tự xã hội, làm tránh các cuộc trả thù một cách dã man trong quan hệ giữa con người với con người;
Thứ hai là sự phát triển kinh tế với mục ñích làm cho xã hội trở nên phồn thịnh cũng cần có những thể chế ñể giải quyết những tranh chấp luôn luôn tiềm ẩn trong các mối quan hệ giữa các doanh nghiệp, các công dân với nhau và cả các cơ quan của Chính phủ, ñể làm sáng tỏ những ñiều còn mơ hồ của luật pháp và những quy ñịnh buộc phải phục tùng (ñóng thuế là quyền và nghĩa vụ của mỗi người dân);
Thứ ba, chỉ có riêng Tòa án mới có quyền chính thức phán quyết sự hợp pháp của các hoạt ñộng của các ngành hành pháp và lập pháp Như vậy, nhà nước ngày càng giao cho Tòa án ngày càng nhiều trọng trách quan trọng, những trọng trách xét xử, giải thích luật, áp dụng luật vào cuộc sống ðây là những hoạt ñộng hết sức quan trọng nó ảnh hưởng trực tiếp ñến ñời sống, tinh thần, những quyền lợi cả nghĩa vụ của người dân Với thể chế ñặc biệt này nếu
Trang 33như không có sự ựộc lập trong tất cả các hoạt ựộng của mình ựặc biệt là trong hoạt ựộng xét xử thì chắc hẵn người dân sẽ phải chịu những bất công kéo theo
ựó là lòng tin của họ ựối với ựường lối của đảng và nhà nước cũng sẽ dần mất
ựi Với một xã hội ngày càng phát triển, với cuộc sống luôn luôn vận ựộng thì những quan hệ xã hội luôn tiềm ẩn những mâu thuẫn mà nó lúc nào cũng có thể phát sinh trong cuộc sống hằng ngày thì nó luôn ựòi hỏi phải có một cơ chế giải quyết thật kịp thời và thỏa ựáng ựặc biệt là trong lĩnh vực dân sự Tòa án
là một cơ quan thực hiện hoạt ựộng tư pháp Ờ hoạt ựộng nhân danh công lý và bảo vệ công lý nên phải xét xử ựộc lập
đã nhân danh công lý và dựa vào công lý thì Tòa án phải xét xử như là một người ựứng giữa, trung lập, không phụ thuộc vào bên nào Chỉ xét xử ựộc lập Tòa án mới có thể tồn tại ựúng với bản chất của mình là một cơ quan bảo
vệ công lý, bảo vệ cuộc sống của người dân trong khuôn khổ trật tự Do ựó ựể hiểu hơn về những quy ựịnh cũng như quá trình áp dụng chúng vào cuộc sống, cùng những kết quả ựạt ựược khi nó ựược ựưa vào cuộc sống thì ta hãy ựi sâu vào phần tiếp theo sau ựây
2.1 TÍNH đỘC LẬP GIỮA CÁC THÀNH VIÊN TRONG TÒA ÁN NHÂN DÂN KHI GIẢI QUYẾT VỤ ÁN
2.1.1 Tắnh ựộc lập giữa Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân khi giải quyết
vụ án dân sự
Như chúng ta ựã nói, khi ra một bản án hay một quyết ựịnh thì tuyệt ựối phải chắnh xác và khách quan, muốn ựược như vậy thì trong quá trình giải quyết vụ án giữa các thành viên trong Hội ựồng xét xử phải thật sự ựộc lập với nhau Với tư tưởng chủ ựạo ựó mà nguyên tắc: ỘKhi xét xử, Thẩm phán và Hội thẩm ựộc lập và chỉ tuân theo pháp luậtỢ ựã ra ựời và là một quy tắc Hiến ựịnh của nhà nước ta nhằm bảo vệ quyền lợi của nhân dân trong quá trình nhân danh công lý
Nói ựến Hội ựồng xét xử là nói ựến Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân,
là những người ựại diện cho công lý, là những trọng tài phân xử công bằng trong xã hội Với nguyên tắc Thẩm phán ựộc lập trong quá trình xét xử và chỉ tuân theo quy ựịnh của pháp luật ựã ựược ựề cập một cách manh nha trong bộ luật Hồng đức điều 672 Bộ luật có quy ựịnh: ỘCác quan kể trên phải xét xử cho công bằng và ựúng pháp luậtỢ điều 720 cũng có quy ựịnh ỘKhông ai ựược cố chấp ý riêng mình, bắt mọi người phải tuân theoỢ Tuy nhiên ựấy chỉ mới là những manh nha của nguyên tắc xét xử ựộc lập Nguyên tắc này ựã
Trang 34ñược quy ñịnh trong các bản Hiến pháp của Việt Nam kể từ Hiến pháp 1946 Lịch sử phát triển của Nhà nước xã hội chủ nghĩa Việt Nam ñã trải qua nhiều giai ñoạn với bốn bản Hiến pháp ñược ban hành tại những thời ñiểm lịch sử khác nhau Tuy có sự thay ñổi rất nhiều thể chế, hệ thống tổ chức bộ máy song nguyên tắc ñộc lập của các Thẩm phán và Hội thẩm trong hoạt ñộng xét xử ñều ñược quy ñịnh trong các bản Hiến pháp và các ñạo luật khác ñược ban hành như Bộ luật tố tụng Hình sự (BLTTHS), Bộ luật tố tụng Dân sự (BLTTDS) Nguyên tắc này ñã khẳng ñịnh rất rõ ràng trong hoạt ñộng xét xử, Thẩm phán và Hội thẩm không phụ thuộc vào bất kỳ cá nhân hay tổ chức nào khi ñưa ra các nhận ñịnh ñánh giá và phán quyết của mình về vụ án Trong quá trình xét xử cá nhân Thẩm phán và Hội thẩm trong cùng một Hội ñồng xét xử phải ñộc lập với nhau , trong suốt cả phiên tòa Hội thẩm ñược hoàn toàn chủ ñộng thực hiện quyền của thành viên Hội ñồng xét xử theo pháp luật quy ñịnh, Thẩm phán và Hội thẩm phải tự tư duy, dựa vào tình tiết vụ án và lựa chọn những hiểu biết thực tế và kiến thức pháp luật ñể ñưa ra những ý kiến chính xác và trung thực về vụ án, không ñược có thái ñộ ỷ lại hay vị nể nhau Khi nghị án các ý kiến của từng thành viên trong Hội ñồng xét xử phải ñược phản ảnh trung thực, khách quan trong biên bản nghị án Ý kiến ña số ñược thi hành, thành viên có ý kiến thiểu số ñược bảo lưu ý kiến của mình bằng văn bản lưu trong hồ sơ vụ án Thẩm phán và Hội thẩm tuyệt ñối phải căn cứ vào quy ñịnh của pháp luật , không ñược vị nể, tùy tiện quyết ñịnh theo tình cảm riêng, ñịnh kiến cá nhân hoặc bị tác ñộng bởi những yếu tố khách quan khác
Nguyên tắc ñộc lập và chỉ tuân theo pháp luật ñã nâng cao trách nhiệm của Thẩm phán và Hội thẩm, buộc họ nghiêm chỉnh tuân thủ pháp luật, chủ ñộng nghiên cứu mọi tình tiết của vụ án, không bị lệ thuộc vào những lý do của những người tham gia tố tụng hay những kết luận của Viện kiểm sát ñưa
ra Tính ñộc lập của Thẩm phán và Hội thẩm là một trong những biểu hiện rõ nét của cơ chế phân chia quyền lực ở Việt Nam Về lý luận cũng như thực tiễn cho thấy, hoạt ñộng của bộ máy nhà nước sẽ mất ñi những giá trị xã hội to lớn của nó nếu tính ñộc lập của Thẩm phán và Hội thẩm không ñược ñảm bảo Sự
vi phạm nguyên tắc này dẫn ñến sự lạm dụng quyền lực, sự thoái hóa của quyền lực và xã hội dĩ nhiên sẽ gánh chịu những hậu quả to lớn của tình trạng này
Tính ñộc lập của Thẩm phán và Hội thẩm chính là sự gắn kết tuyệt ñối các thành viên trong Hội ñồng xét xử với pháp luật Tính ñộc lập của Thẩm phán
Trang 35và Hội thẩm bảo vệ quyền lực tư pháp trước sự can thiệp từ phía lập pháp và hành pháp
Ở nước ta, việc xét xử của Tòa án phải có Hội thẩm nhân dân tham gia
Vì vậy, nguyên tắc xét xử ñộc lập là nói ñến cả Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân “Khi xét xử Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân ñộc lập và chỉ tuân theo pháp luật” ðộc lập xét xử ñược xem xét từ các khía cạnh và các yếu tố bên trong lẫn yếu tố bên ngoài Thông thường ñộc lập với các yếu tố bên ngoài ñược hiểu là khi xét xử, Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân không bị phụ thuộc vào kết luận của cơ quan ñiều tra, bản cáo trạng và quyết ñịnh truy tố của Viện kiểm sát Tại phiên tòa, Thẩm phán và Hội thẩm phải trực tiếp xem xét những chứng cứ của vụ án chứ không căn cứ vào các kết luận trong hồ sơ của vụ án Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân chỉ ñược căn cứ vào những chứng cứ ñược xem xét tại phiên tòa ñể ñưa ra bản án
Ngoài mối quan hệ với cơ quan ñiều tra, Viện kiểm sát, Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân còn có mối quan hệ với các luật sư, các cơ quan và tổ chức
xã hội Thực tế trong rất nhiều trường hợp tại phiên tòa xét xử, Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân bị ảnh hưởng, tác ñộng từ phía luật sư, các tổ chức, cá nhân, các cơ quan nhà nước, làm sai lệch quá trình tố tụng, ảnh hưởng không
ít tới hoạt ñộng tố tụng nhằm hướng tới việc xét xử có lợi cho mình Do ñó Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân phải luôn ý thức ñược rằng mình là người phải chịu trách nhiệm trách nhiệm về nội dung, về tính công minh của bản án
Vì thế, Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân phải có bản lĩnh và phải ñứng vững trước những tác ñộng từ các yếu tố bên ngoài
Nguyên tắc Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân ñộc lập khi xét xử không chỉ ñược thực hiện trong việc ñánh giá chứng cứ mà cả trong thẩm vấn, tranh luận trước phiên tòa và việc ra bản án, quyết ñịnh Hiện tại, còn rất nhiều hạn chế và bất cập trong việc ñảm bảo tính ñộc lập của Thẩm phán ðây là một trong những nguyên nhân làm cho hoạt ñộng xét xử của các Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân thiếu khách quan Những hạn chế bất cập này tồn tại trong
cả nhận thức lẫn trong thực tiễn tổ chức thực hiện hoạt ñộng xét xử Có khá nhiều sự lẫn lộn giữa các cơ quan tiến hành tố tụng làm ảnh hưởng ñến tính ñộc lập của Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân ðiều này liên quan trước hết ñến chức năng ñiều tra, truy tố và xét xử Một số các nhà nghiên cứu có quan ñiểm rằng hiện nay ở nước ta mặc dù nguyên tắc ñộc lập trong hoạt ñộng xét
xử của Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân ñược ñề cao nhưng ñịa vị pháp lý
Trang 36của các chủ thể tham gia hoạt ñộng tố tụng nhìn chung chưa ñược xác ñịnh một cách thỏa ñáng
Trong tố tụng, nhất là tố tụng hình sự lẫn dân sự có sự tham gia của hai chủ thể gần như ñối lập nhau là bên bị buộc tội và bên buộc tội, một bên nguyên ñơn và một bên là bị ñơn Trong quan hệ tố tụng Thẩm phán là hành ñộng như một người ñứng ở giữa ñể phân xử ñúng sai nhân danh nhà nước ðịa vị của Thẩm phán phải khác với bên buộc tội hay bên gỡ tội Cách tiếp cận phổ biến của các cơ quan tiến hành tố tụng hiện nay là bên bị buộc tội bị coi như là bên
ñã có tội rồi Cách ăn mặc, cách xưng hô, sự ñối xử với bên bị buộc tội gần như tạo ra tâm lý là ñã ra công ñường thì ñương nhiên có tội trong khi ñó pháp luật quy ñịnh rất rõ rằng mọi công dân chỉ coi là có tội khi có một bản án của Tòa án có thẩm quyền và có hiệu lực, nó ñã tạo ra tâm lý không những cho Hội ñồng xét xử mà cụ thể là Thẩm phán và Hội thẩm và cả những người tham
dự phiên tòa rằng bên bị buộc tội (bị cáo hoặc bị ñơn) ñã có tội rồi Như vậy,
sự ñộc lập của Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân trong hoạt ñộng xét xử ñòi hỏi trong xét xử phải ñúng pháp luật, phải ngăn chặn ñược sự lạm dụng ñịa vị pháp lý trong quan hệ tố tụng Do vậy, pháp luật về tố tụng cần có những quy ñịnh cụ thể hơn về ñịa vị pháp lý của các cơ quan tham gia tố tụng trong ñó có
sự quán triệt giả ñịnh vô tội trong thiết kế các quy trình tố tụng
21.2 Tính ñộc lập giữa Thẩm phán - chủ Tọa phiên tòa với Chánh án Tòa
án
Theo quy ñịnh của pháp luật ñể một vụ án ñược ñưa ra xét xử thì phải
có ñầy ñủ các ñiều kiện như: ñóng án phí, thời hạn nộp ñơn, thuộc thẩm quyền giải quyết của mình hay không thì trong thời hạn 3 ngày Chánh án Tòa án sẽ tiến hành phân công một Thẩm phán ñể xem xét, giải quyết vụ án ñó
ðối với Tòa án nhân dân cấp tỉnh, Chánh án tòa án có thể ủy nhiệm cho một Phó Chánh án hoặc ủy quyền cho Chánh tòa hoặc Phó Chánh tòa thành lập Hội ñồng xét xử phúc thẩm và phân công một Thẩm phán làm chủ tọa phiên tòa (Quy ñịnh tại Khoản 2 ðiều 257 Bộ luật tố tụng dân sự
ðối với tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao, Chánh tòa có thể ủy nhiệm cho một Phó Chánh tòa thành lập Hội ñồng xét xử phúc thẩm và phân công một Thẩm phán làm chủ tọa phiên tòa
Khi phân công Thẩm phán tham gia Hội ñồng xét xử phúc thẩm, thì cần tiếp tục phân công các Thẩm phán ñã tham gia Hội ñồng xét xử kháng cáo quá
Trang 37hạn Việc phân công này thì cần phải ra quyết ựịnh7 Với những quy ựịnh này thì ngay từ ựầu khi ựủ ựiều kiện ựể Tòa án thụ lý và giải quyết vụ án thì Chánh
án Tòa án ựã tiến hành phân công một Thẩm phán xem xét vụ án Như vậy, ựể
có ựược một bản án hay một quyết ựịnh chắnh xác và thật sự khách quan có thể nói bắt ựầu từ ựây Luật không nói nhiều ở khắa cạnh này nhưng chúng ta thử nghĩ xem trong trình trạng cấp trên phân công cấp dưới của mình thực hiện công việc nếu vụ án ựó có quan hệ với ông Chánh án thì Thẩm phán người mà ựược Chánh án phân công khó lòng giải quyết theo pháp luật bởi Chánh án ựã phân công mình xem xét vụ án có liên quan ựến cấp trên của mình thì làm sao dám làm trái ý ựược, vả lại ựến khi chuẩn bị xét xử thì theo nguyên tắc Chánh án phải phân công người Thẩm phán ựã phân công trước kia xem xét hồ sơ vụ án sẽ làm chủ tọa phiên tòa trong Hội ựồng xét xử giải quyết
vụ án, phân công như vậy là vì ựể cho người Thẩm phán là chủ tọa phiên tòa
ựó hiểu ựược chắnh xác và rõ ràng nhất vì ngay từ ựầu người Thẩm phán này
ựã xem xét hồ sơ và hiểu rõ tình tiết của vụ án Nhiều Tòa án còn cố tình nhập nhằng giữ chuyện báo án, trao ựổi án trong nội bộ tòa cùng với việc duyệt trước kết quả nên sự ựộc lập giữa Thẩm phán là chủ tọa phiên tòa và Chánh án Tòa án ựó thật khó nói
Về chuyện này, ựã có không ắt các ựại biểu Quốc hội tại các cuộc hợp
ựã lên tiếng chất vấn tại các kỳ hợp Quốc hội Có nhiều vụ án có dấu hiệu cho thấy kết quả ựã ựược ỘduyệtỢ trước khi xử Chẳng hạn như vụ án gần ựây nhất vừa ựược pháp luật Thành phố Hồ Chắ Minh phản ánh đó là trong một vụ án tranh chấp dù ựã bị Tòa án nhân dân tối cao hủy án vì xử sai luật nhưng Tòa
án nhân dân Huyện Cái Bè (Tiền Giang)8 vẫn xử lại như cũ Sau ựó, Thẩm phán là chủ tọa phiên tòa ựã thú thật với ựương sự là phải xử như vậy vì Ộáp lực của lãnh ựạo tòaỢ, xử xong về Ộngủ không ựượcỢ, chỉ mong bản án của mình sẽ bị hủy ựể lương tâm ựỡ day dứt và Thẩm phán này ựã phân tắch những ựiểm sai trong bản án này ựể ựương sự kháng cáo Theo thực tế hiện nay, chuyện chỉ ựạo xét xử của Chánh án ựối với Thẩm phán là chủ tọa phiên tòa không hiếm nhưng ựể Ộbắt tận tay, day tận mặtỢ thì thật là không dễ chút nào bởi chẳng có tòa nào lại Ộvạch áo cho người xem lưngỢ như trên Nếu có xảy
ra thì nó cũng thể hiện ở nhiều hình thức và phiên xử cũng sẽ ựược ựiều khiển
7
htt// thongtinphapluatdansu Wordpress Com Nghiên cứu hướng dẫn mới về ỘThủ tục giải quyết
vụ án tại Tòa án cấp phúc thẩmỢ ngày 30 tháng 8 năm 2006
8
Báo pháp luật Thành phố Hồ Chắ Minh số ra ngày 6 tháng 4 năm 2007
Trang 38một cách khéo léo ựể Ộhợp thức hóaỢ các bản án còn chưa thật sự khách quan (án bỏ túi)
Theo một Thẩm phán tỉnh kia, lãnh ựạo của ông quy ựịnh những vụ ựơn giản thì thôi, còn ựối với những vụ phức tạp, nhất là tranh chấp ựất ựai là phải trình lên lãnh ựạo Ộxem xétỢ9
Còn một luật sư kể: ông bảo vệ nguyên ựơn trong một vụ tranh chấp hợp ựồng mua bán nhà tại một tỉnh Ở phiên sơ thẩm, ông ựưa chứng cứ chứng minh bị ựơn vi phạm hợp ựồng nhưng tòa không hề xem xét, ựá ựộng gì tới và tuyên bị ựơn thắng Bên lề, Thẩm phán là chủ tọa phiên tòa bóng gió rằng vụ này Ộkhông thể xử khácỢ vì lãnh ựạo quyết rồi Không bằng lòng, luật sư bảo nguyên ựơn kháng cáo Kết quả là tòa phúc thẩm ựã sửa bản án, cho nguyên ựơn thắng vì luật sư xuất trình ựược Ộchứng cứ mớiỢ quan trọng Thật ra
Ộchứng cứ mớiỢ này là chứng cứ mà tại phiên tòa sơ thẩm cố tình không xem xét Trong thực tế, nhiều luật sư cũng ựã khẳng ựịnh dù tòa không nói ra thì việc nhận biết việc lãnh ựạo Ộquyết ựịnhỢ án cũng không khó đó là Hội ựồng xét xử không quan tâm ựến diễn biến tại phiên tòa, việc nghị án chỉ là hình thức diễn ra cho có theo thủ tục, nên ựã có không ắt bản án tréo ngoe với biên bản phiên tòa, không ăn nhập liên quan gì với nhau10 Trên thực tế cũng một phần nào thấy rõ, án bị kháng cáo, kháng nghị là rất nhiều mà nguyên nhân là
do tòa sơ thẩm không giải quyết vụ án hợp tình, hợp lý và ựúng pháp luật, khi
có kiện cáo thì chỉ cần nhờ ựến lãnh ựạo tòa là xong ngay, xét xử chỉ là hình thức mà thôi bởi chỉ là nghe chỉ ựạo của cấp trên Thêm vào ựó, theo Luật Tổ chức tòa án nhân dân, Hội ựồng Thẩm phán, Ủy ban Thẩm phán, Chánh án có trách nhiệm hướng dẫn Thẩm phán áp dụng pháp luật cho thống nhất Trong
ựó, Chánh án là người phân công Thẩm phán xét xử nên phải biết nội dung vụ
án ựể chỉ ựạo Việc chỉ ựạo này không phải là duyệt án mà là ựịnh hướng, hướng dẫn áp dụng pháp luật cho ựúng Quyền quyết ựịnh cuối cùng là của Hội ựồng xét xử Nếu quyết ựịnh sai, Hội ựồng xét xử phải chịu trách nhiệm
về phán quyết của mình Nhưng trên thực tế lợi dụng việc hướng dẫn, chỉ ựạo này họ ựã biến thành quyết ựịnh án, duyệt án Quyết ựịnh cuối cùng là của Chánh án chứ không còn là của Hội ựồng xét xử nữa Do ựó, sự ựộc lập giữa Chánh án tòa án và Thẩm phán là chủ tọa phiên tòa ựã ựược phân công có thể nói là bị xâm phạm
9
Thông tin trao ựổi pháp luật, Báo pháp luật Thành phố Hồ Chắ Minh số ra tháng 8 năm 2003
10
htt// thong tin phap luat dân sự Wordpress Com
Trao ựổi về Ộtắnh ựộc lập của của Hội ựồng xét xửỢ
Trang 39ðây chính là ñiều mà Chánh án Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh Bùi Hoàng Danh ñã khẳng ñịnh cùng ông Phạm Thao, Chánh án Tòa án nhân dân quận 2 (Thành phố Hồ Chí Minh), cũng cho rằng duyệt án là áp ñặt, còn trao ñổi án thuộc về nghiệp vụ Trao ñổi án trước khi xét xử là hợp lí vì Chánh án là người phân công Thẩm phán mà không biết gì về vụ án thì làm sao quán xuyến tình hình
Theo ý kiến của người viết cho rằng, việc trao ñổi án là một hình thức phân trách nhiệm xét xử ñể Thẩm phán có trách nhiệm hơn chứ không phải là lãnh ñạo tòa không biết thì Thẩm phán muốn xử sao cũng ñược Vả lại một người Thẩm phán ñã giữ chức vụ Chánh án rồi thì chắc hẵn kinh nghiệm về cuộc sống, kiến thức pháp luật cũng như kinh nghiệm giải quyết các vụ án là rất cao rất ñáng ñể các Thẩm phán trao ñổi vụ án Và sở dĩ phải trao ñổi án trước khi phiên tòa xét xử diễn ra là do trình ñộ của các Thẩm phán không ñồng ñều Vì thế ñưa ra bàn bạc trước tập thể có sự giám sát của lãnh ñạo là một việc nên làm bởi các lãnh ñạo dù sao cũng là những người ñã có rất nhiều kinh nghiệm thực tế trong xét xử các vụ án, việc ñưa ra bàn bạc tập thể sẽ rất
có lợi cho việc tìm ra một quyết ñịnh ñúng ñắn và chính xác nhất
Vấn ñề ở ñây là trao ñổi án ñến mức nào là hợp lí ñể không bị coi là duyệt án, không bị xem là biến những việc trao ñổi án thành duyệt án của cấp trên Bởi vì theo nguyên tắc trao ñổi án chỉ là giúp Thẩm phán xem xét vụ án ở nhiều khía cạnh, chi li từng chi tiết, không bỏ sót một tình tiết nào, hạn chế những sai sót chứ không bắt buộc Hội ñồng xét xử phải tuân theo Thêm vào
ñó, trao ñổi ở ñây là trước một vụ việc, Thẩm phán còn vướng mắt gì, thiếu kiến thức ở lĩnh vực nào thì báo cáo lãnh ñạo ñể ñưa ra hướng giải quyết chứ tuyệt nhiên không vạch ra kế hoạch sẵn Như vậy, về lý thuyết có thể thấy rõ
sự khác nhau giữa chuyện trao ñổi án và duyệt án Tuy luật không quy ñịnh chi tiết cụ thể về việc Chánh án và Thẩm phán ñược phân công làm chủ tọa phiên tòa phải hoàn toàn ñộc lập nhưng chúng ta phải hiểu sự ñộc lập là việc thông qua trao ñổi lãnh ñạo Tòa án có thể ñịnh hướng ñường lối áp dụng pháp luật cho ñúng ñắn, còn kết quả phiên xử như thế nào thì do Hội ñồng xét xử quyết ñịnh dựa trên thực tế tại phiên xử và các tình tiết vụ án Tuy nhiên trên thực tế, một số tòa lại cố tình ñồng nhất giữa hai việc trao ñổi án và duyệt án, kết quả là những bản án ñã ñịnh sẵn ra ñời mà không cần dựa vào phiên xét xử tại phiên toàn kết quả tiếp theo là oan sai xảy ra kháng cáo, kháng nghị kéo dài, làm giảm lòng tin của nhân dân ñối với nhà nước ñặc biệt là ñối với cơ quan bảo vệ công lý là Tòa án
Trang 40Thêm vào ựó với cơ chế hiện nay, người Thẩm phán khó có thể có ựủ bản lĩnh ựể ựộc lập với Chánh án tòa án tức là cấp trên của mình Bởi vì, lãnh ựạo Tòa án vẫn ựược coi là thủ trưởng của họ trong khá nhiều mối quan hệ
Ộngoài tố tụngỢ Vẫn còn phổ biến việc áp dụng những quy tắc Ộbất thành vănỢ như báo án, thỉnh thị án, duyệt án cho dù việc ựó ựược núp sau sự biện hộ chỉ
là sự Ộtham khảoỢ về chuyên môn nhưng người Thẩm phán khó mà không tuân thủ vì Ộsố phậnỢ của họ phụ thuộc rất lớn vào những người cho ý kiến ựó
đó là chưa nói ựến việc nếu vị Chánh án của tòa không vô tư và khách quan? Ngay việc phân công xét xử cũng do lãnh ựạo Tòa án quyết ựịnh cũng là một việc cần xem xét lại khi ựại ựa số các nền tư pháp khác áp dụng chế ựộ phân công án một cách ngẫu nhiên ựể tránh những ựường dây chạy án
điều quan trọng hơn cả là phải có ựược một cơ chế ựể bảo ựảm sự ựộc lập của từng cá nhân Thẩm phán là chủ tọa phiên tòa trước sự tác ựộng trong nội bộ ựặc biệt là trước Chánh án tòa án người ựã trực tiếp phân công mình làm chủ tọa phiên tòa là cấp trên trực tiếp nơi làm việc của mình cũng như ngoài cơ quan Tòa án Phải thừa nhận rằng hiện nay chúng ta vẫn coi Tòa án như một cơ quan hành chắnh và Chánh án cũng như người Thẩm phán là một công chức trong hệ thống hành chắnh
Chúng ta phải thay ựổi nhận thức ựiều này theo hướng thừa nhận vị trắ ựặc biệt của Tòa án và của người Thẩm phán, chẳng hạn như thay ựổi vị trắ của Thẩm phán như một người làm việc ựặc biệt ựể Thẩm phán không phải bị
lệ thuộc vào ai, làm cho Thẩm phán thấy ựược vị trắ ựộc lập của mình mà phát huy hết khả năng xét xử của mình mà không cần kiêng nể ai, hay chú ý ựến chỉ ựạo của cấp trên mình Từ ựó mới có thể thay thế ựược một loạt các yếu tố bảo ựảm sự ựộc lập của cá nhân Thẩm phán ựối với Chánh án tức cấp trên của mình, vắ dụ như quan niệm về mối quan hệ Ộtrên Ờ dướiỢ giữa lãnh ựạo tòa với người Thẩm phán, giữa Tòa án cấp dưới và Tòa án cấp trên và giữa những người Thẩm phán ựồng nghiệp cũng như việc áp dụng chế ựộ ựãi ngộ lương và các ựiều kiện vật chất khác ựối với Thẩm phán
2.1.3.Tắnh ựộc lập giữa Hội thẩm nhân dân với Chánh án Tòa án nơi Hội thẩm ựược phân công giải quyết vụ án
Hội thẩm Tòa án nhân dân là một chế ựịnh pháp lý quan trọng trong quy ựịnh về tổ chức và hoạt ựộng của hệ thống Tòa án nhân dân ở nước ta, ựã ựược quy ựịnh trong Hiến pháp Sự hình thành và phát triển về tổ chức và hoạt ựộng cũng như quá trình tham gia giải quyết các vụ án dân sự của Hội thẩm ựã góp phần to lớn vào công tác xét xử của Tòa án ở nước ta, nhằm bảo ựảm tắnh