1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

LUẬN văn LUẬT HÀNH CHÍNH NGHIÊN cứu về THUẾ sử DỤNG đất NÔNG NGHIỆP

112 221 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 112
Dung lượng 1,13 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Luật Thuế SDðNN ñược xây dựng theo tinh thần khoan sức dân, thực hiện ñiều chỉnh giảm thuế cho nông dân, cụ thể là giảm khoảng 30% so với mức thu thuế nông 1 Vì ñất ñai là tư liệu sản xu

Trang 1

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Giáo viên hướng dẫn: Sinh viên thực hiện:

Ts Lê Thị Nguyệt Châu Huỳnh Văn Minh

MSSV: 5032011 Lớp: Luật Hành chính-K29

Cần Thơ, 7/2007

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP

NGHIÊN CỨU VỀ THUẾ SDðNN

Trang 2

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Sau bốn năm học tập, rèn luyện tại trường ðại học Cần Thơ với sự dìu dắt nhiệt tình của các thầy, cô khoa Luật hết lòng vì sự nghiệp trồng người, ñã giúp cho em có ñược một khối lượng kiến thức cơ bản, vững chắc về chuyên môn của hệ thống pháp luật nước ta, là hành trang quý giá giúp em bước vào ñời Với những

gì ñã tiếp thu ñược sau gần bốn năm dẫn dắt của thầy, cô khoa luật là một ñiều kiện quan trọng giúp em hoàn thành bài luận văn tốt nghiệp cử nhân luật của mình

ðặc biệt với sự hướng dẫn, giúp ñỡ tận tình của cô Lê Thị Nguyệt Châu là một trong những nhân tố quan trọng giúp em hoàn thành bài luận văn tốt nghiệp này

Với lòng chân thành của mình em rất biết

ơn tất cả thầy, cô khoa luật trường ðại học Cần Thơ, và em xin chúc thầy, cô ngày càng có nhiều sức khỏe, ñào tạo ngày càng nhiều nguồn nhân lực mới có chất lượng cao, ñáp ứng nhu cầu ngày càng cao của thị trường lao ñộng, góp phần vào sự nghiệp xây dựng và phát triển của nước nhà trong giai ñoạn hội nhập ngày nay

Xin chân thành cảm ơn!

LỜI CẢM ƠN

Cần Thơ, ngày 02 tháng 7 năm 2007

Người viết Huỳnh Văn Minh

Trang 3

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN





Trang 4

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN PHẢN BIỆN





Trang 5

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

MỤC LỤC





Trang

LỜI NÓI ðẦU 1

CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ðỀ CƠ BẢN VỀ PHÁP LUẬT THUẾ 5

1 Khái niệm, vai trò, chức năng, của thuế trong quản lý Nhà nước 5

1.1 Khái niệm, ñặc ñiểm, phân biệt thuế với lệ phí, phí 5

1.1.1 Khái niệm 5

1.1.2 ðặc ñiểm của thuế 6

1.1.3 Phân biệt thuế với lệ phí, phí 8

1.2 Chức năng, vai trò của thuế 10

1.2.1 Chức năng của thuế 10

1.2.2 Vai trò của thuế trong nền kinh tế thị trường 12

2 Sự phát triển của chế ñịnh thuế trong lịch sử Nhà nước và Pháp luật Việt Nam 15

2.1 Chế ñịnh thuế dưới thời phong kiến 15

2.2 Chế ñịnh thuế dưới thời Pháp thuộc 17

2.3 Chế ñịnh thuế thời kỳ sau Cách mạng tháng Tám năm 1945 ñến hiện nay 17

3 Phân loại thuế và các yếu tố cấu thành một luật thuế 30

3.1 Căn cứ ñể phân loại thuế 30

3.2 Các yếu tố cấu thành một luật thuế 31

CHƯƠNG 2 THUẾ SỬ DỤNG ðẤT NÔNG NGHIỆP DƯỚI GÓC NHÌN THỰC TIỄN VÀ HƯỚNG PHÁT TRIỂN 35

1 Khái niệm Thuế SDðNN 36

2 ðối tượng chịu thuế và nộp Thuế SDðNN 37

2.1 ðối tượng nộp thuế 37

2.2 Ðối tượng chịu thuế 39

2.3 Ðối tượng không thuộc diện chịu thuế 40

3 Căn cứ tính Thuế SDðNN 40

3.1 Hạn mức ñất sản xuất nông nghiệp 41

3.2 Căn cứ tính Thuế SDðNN áp dụng ñối với phần diện tích ñất trong hạn mức 41

3.2.1 Diện tích tính Thuế SDðNN 41

3.2.2 Hạng ñất tính Thuế SDðNN 43

3.2.3 Ðịnh suất Thuế SDðNN 45

3.3 Căn cứ tính Thuế SDðNN bổ sung trên phần diện tích ñất nông nghiệp sử dụng vượt hạn mức 46

3.4 Một số ví dụ minh họa về cách tính Thuế SDðNN 48

4 Miễn, giảm Thuế SDðNN 50

4.1 Miễn, giảm Thuế SDðNN quy ñịnh trong Luật Thuế SDðNN hiện hành 50

4.1.1 Miễn Thuế SDðNN 50

4.1.2 Giảm Thuế SDðNN 52

4.2 Miễn, giảm Thuế SDðNN theo Nghị quyết 15 54

Trang 6

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

4.2.1 Miễn Thuế SDđNN 56

4.2.2 đối tượng ựược giảm 50% Thuế SDđNN 57

4.3 Một số trường hợp cụ thể về cách xác ựịnh việc miễn, giảm Thuế SDđNN 58

4.4 đánh giá về việc miễn, giảm thuế theo Nghị quyết 15 62

5 Hướng phát triển của Thuế SDđNN trong tương lai 64

5.1 Quỹ ựất ựai và hiện trạng sử dụng ựất chịu Thuế SDđNN 65

5.2 Hướng xây dựng chắnh sách thuế mới 74

5.2.1 Bản chất của Thuế SDđNN hiện hành 74

5.2.2 Quá trình xây dụng chắnh sách thuế mới và hướng ựề xuất 77

KẾT LUẬN 87 TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 7

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

LỜI NÓI ðẦU





Khi nhắc ñến Việt Nam bạn bè thế giới thường biết ñến dân tộc ta với một lịch sử hào hùng, chiến ñấu, hy sinh oanh liệt vì sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc, ñã ñánh bại hai quốc gia hùng mạnh ñã từng tiến hành xâm lược biết bao dân tộc trên thế giới ñó là thực dân Pháp và ñế quốc Mỹ Ngoài bề dầy lịch sử ñó ra bạn bè năm châu còn biết ñến ta là một nước có số lượng gạo xuất khẩu hàng năm lớn nhất nhì trên thế giới

Sau cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước thắng lợi năm 1975, từ một nước nông nghiệp nghèo nàn, lạc hậu, với khoảng 80% dân số hoạt ñộng trong lĩnh vực nông nghiệp nhưng ñã có thời gian chúng ta lâm vào tình cảnh thiếu lương thực, thực phẩm trầm trọng, phải nhập khẩu gạo của nước ngoài Nhưng nguyên nhân, ñộng cơ, ñiều kiện nào ñã giúp nước ta vươn lên làm chủ vấn ñề an ninh lương thực quốc gia, mà còn có số lượng dư ra ñể xuất khẩu hàng năm thu về cho Ngân sách Nhà nước (NSNN) một số ngoại tệ ñáng kể

Có thể nói với thành công như trên là do chúng ta có những biện pháp quản lý việc sử dụng ñất ñai nhằm phát huy tốt nhất vai trò của nó 1 ðể có ñược thành quả

ñó, phải nói ñến một biện pháp quan trọng giúp Nhà nước quản lý việc sử dụng ñất ñai có hiệu quả ở tầm vĩ mô, ñó là việc sử dụng thuế như một công cụ ñiều tiết vĩ mô nền kinh tế, hướng tất cả các chủ thể trong xã hội ñi theo ñường lối, chủ trương, chính sách ñúng ñắn mà Nhà nước ñã ñưa ra Trong ñó có việc sử dụng chính sách thuế liên quan ñến ñất ñai, một mặt chính sách thuế này sẽ tạo một nguồn thu ñáng kể cho ngân sách của ñịa phương, mặt khác góp phần giúp nhà quản lý, sử dụng ñất ñai hợp lý, tiết kiệm, có hiệu quả Trong số các sắc thuế liên quan ñến ñất ñai ở nước ta hiện tại 2 có Thuế sử dụng ñất nông nghiệp (Thuế SDðNN) trực tiếp ñiều chỉnh các ñối tượng nộp thuế là việc sử dụng ñất vào sản xuất nông nghiệp

Luật Thuế SDðNN ñược xây dựng theo tinh thần khoan sức dân, thực hiện ñiều chỉnh giảm thuế cho nông dân, cụ thể là giảm khoảng 30% so với mức thu thuế nông

1

Vì ñất ñai là tư liệu sản xuất quan trọng tạo ra nguồn lương thực, thực phẩm cung cấp cho con người nhưng bản thân ñất ñai không thể phát huy ñược các giá trị của mình nếu không có sức lao ñộng của con người tác ñộng vào nó và trong quá trình con người tác ñộng vào ñất ñai ñể tạo ra của cải vật chất

sẽ nảy sinh các mối quan hệ xã hội về ñất và các mối quan hệ kinh tế phát sinh trong quá trình sử dụng ñất, hình thành cơ chế, chính sách kinh tế nói chung và cơ chế chính sách tài chính nói riêng phục vụ việc quản lý, cũng như sử dụng ñất một cách có hiệu quả nhất.

2

Ở nước ta, trong hệ thống thuế hiện hành, thuế thu từ ñất ñai: có thuế nhà, ñất (hiện nay mới áp dụng ñối với ñất ở, ñất xây dựng công trình) và thuế chuyển quyền sử dụng ñất Ngoài ra, liên quan ñến ñất còn có các khoản thu tiền sử dụng ñất, thu tiền cho thuê ñất, lệ phí trước bạ ñối với ñất và lệ phí ñịa chính.

Trang 8

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

nghiệp cũ, và khoản thu từ thuế này ñược dành hầu hết ñể ñầu tư trở lại cho sản xuất nông nghiệp và xây dựng nông thôn Thuế này còn bảo ñảm công bằng về nghĩa vụ nộp thuế giữa những người sử dụng ñất với nhau, giữa các tầng lớp dân cư phải ñóng góp khác nhau cho NSNN Thuế SDðNN ra ñời với mục tiêu nhằm khuyến khích nông dân ra sức phát triển sản xuất nông nghiệp theo hướng ñẩy mạnh thâm canh, tăng năng suất, tăng vụ, chuyển cây trồng có hiệu quả; tận dụng ñất ñai, khai thác ñất ñồi núi trọc, ñầm lầy; bãi bồi, ñất ở vùng cao miền núi,… vào sản xuất, tạo ra ngày càng nhiều nông sản hàng hóa, ñặc biệt là lương thực cho xã hội, nguyên liệu cho công nghiệp, tăng nguồn hàng cho xuất khẩu, tạo việc làm và từng bước nâng cao ñời sống nông dân; tạo khả năng ñầu tư, mở rộng thị trường nông thôn, thúc ñẩy phát triển nông nghiệp và dịch vụ

Với những ưu ñiểm trong chính sách Thuế SDðNN ñã giúp người nông dân hăng hái tăng gia sản xuất tạo ra một lượng nông sản hàng hóa dồi dào góp phần cải thiện ñáng kể ñời sống của người dân Tuy nhiên trong những năm gần ñây hạn hán, thiên tai thường xuyên xảy ra làm mùa màng thất bát, ñời sống người dân ñã vốn khó khăn nếu chịu thêm thuế thì khó khăn lại càng thêm khó khăn Như chúng ta ñã biết, Thuế SDðNN là loại thuế mang tính xã hội cao vì phần lớn dân số nước ta hoạt ñộng trong nông nghiệp, ñây là loại thuế rất quen thuộc, gần gũi với người nông dân Chính vì vậy những hạn chế tồn tại trong Luật Thuế SDðNN sẽ ảnh hưởng rất nhiều ñến người nông dân Thuế SDðNN ñược ban hành vào năm 1993 ñã trải qua gần 14 năm thực hiện, nó ñã bắt ñầu phát sinh nhiều nhược ñiểm, hạn chế, Thuế SDðNN không còn ñảm bảo ñược mục tiêu như ban ñầu ñã ñề ra Mặt khác trong quá trình thu, bộc lộ một số ñiểm bất cập “ðặc biệt là sự thiếu thống nhất giữa các ñịa phương trong hình thức thu (thu bằng thóc hay thu tiền theo giá thóc, trong khi giá lúa thay ñổi luôn) Tình trạng này còn tạo dư luận về sự thiếu công bằng khi thực thi Luật Thuế SDðNN”3 Ngoài ra, với xu hướng toàn cầu hóa như hiện nay các nước trên thế giới

có xu hướng liên kết lại với nhau, nước ta cũng không nằm ngoài xu thế ñó, chúng ta

ñã tham gia vào nhiều tổ chức mang tính khu vực và toàn cầu, bằng việc tham gia ký kết, gia nhập, thực hiện nhiều ñiều ước quốc tế ðặc biệt vừa qua chúng ta vừa mới gia nhập vào Tổ chức thương mại thế giới (WTO) và tổ chức này ñang kêu gọi 145 nước thành viên trong 5 năm tới phải cắt giảm khoảng 45% thuế nông nghiệp Vào cuối năm 2003, Trung Quốc sẽ cải cách thuế nông nghiệp nhằm giảm nhẹ khó khăn cho nông dân, và cùng với việc Việt Nam tham gia WTO, thuế nông nghiệp nói chung

sẽ phải giảm ðây là xu hướng hội nhập quốc tế và thương mai hóa toàn cầu của WTO4

Trang 9

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Chính những lý do trên thôi thúc người viết ñi ñến chọn ñề tài “Nghiên cứu về thuế sử dụng ñất nông nghiệp” làm bài viết luận văn tốt nghiệp hoàn thành khóa học

cử nhân luật của mình

Với ñề tài này, người viết sẽ ñi vào trình bày, phân tích một cách có hệ thống những quy ñịnh của pháp luật về Thuế SDðNN nhằm tạo cho người ñọc có cái nhìn khách quan về chính sách Thuế SDðNN của Nhà nước ta Từ ñó, người viết có sự phân tích ñánh giá về những ưu nhược ñiểm trong chính sách Thuế SDðNN hiện hành Trên cơ sở ñó, người viết xin ñóng góp ý kiến ñề xuất của mình trong việc hoàn thiện chính sách Thuế SDðNN hiện hành, hy vọng sẽ góp một phần nhỏ vào việc hoàn thiện hệ thống chính sách thuế của Nhà nước ta theo chương trình cải cách hệ thống thuế ñến năm 2010 ñã ñược Thủ tướng Chính phủ phê duyệt theo Quyết ñịnh số 201/2004/Qð-TTg ngày 06 tháng 12 năm 2004

Mặc dù cho ñến thời ñiểm hiện tại có rất nhiều bài viết, bài nghiên cứu liên quan ñến Thuế SDðNN nhưng ña phần những bài viết này chỉ tập trung nghiên cứu riêng lẻ

về những vấn ñề cơ bản của Thuế SDðNN mà chưa có một bài viết nào nghiên cứu một cách có hệ thống và ñầy ñủ về Thuế SDðNN ðây là một khó khăn ñối với người viết nhưng với những bài viết có liên quan ñến Thuế SDðNN là những tài liệu quý giá giúp người viết rất nhiều trong việc hoàn thành bài viết của mình

Trong ñề tài này, người viết sử dụng nhiều phương pháp nghiên cứu khác nhau

ñể tiếp cận vấn ñề cần nghiên cứu, nhưng chủ yếu sử dụng phương pháp nghiên cứu phân tích, tổng hợp chia cái toàn thể hay vấn ñề phức tạp ra thành những bộ phận nhỏ hơn ñể nghiên cứu và làm sáng tỏ từng vấn ñề, sau ñó liên kết, thống nhất lại các bộ phận, các mặt ñã ñược phân tích, vạch ra mối liên hệ giữa chúng nhằm khái quát hóa các vấn ñề nghiên cứu Bên cạnh ñó người viết cũng sử dụng phương pháp so sánh nhưng ñiểm giống và khác nhau trong chính sách Thuế SDðNN ñã và ñang áp dụng nhằm ñạt ñược tính khách quan và khoa học Ngoài ra, do tính chất ñặc thù của vấn

ñề nên các phương pháp nghiên cứu và phân tích luật viết ñược vận dụng linh hoạt trong các trường hợp cụ thể, ñồng thời kết hợp với phương pháp viện dẫn, liệt kê, tra cứu tài liệu qua sách báo, internet,… hỗ trợ rất hiệu quả ñối với việc nghiên cứu của

ñề tài

Thông qua việc sử dụng các phương pháp trên, về cơ bản ñề tài nghiên cứu này ñược chia làm hai chương

Chương 1: Những vấn ñề cơ bản về pháp luật thuế

Trong chương 1 này người viết sẽ trình bày một cách khái quát về những vấn ñề chung của thuế như khái niệm thuế là gì, vai trò, chức năng của thuế trong quan lý Nhà nước như thế nào Sau ñó tìm hiểu sự phát triển của chế ñịnh thuế trong lịch sử Nhà nước và Pháp luật Việt Nam, từ ñó vẽ lên một bức tranh toàn cảnh về quá trình ra ñời và phát triển của chế ñịnh thuế ở nước ta Tiếp sau ñó là trình bày những căn cứ

ñể phân loại thuế cũng như những yếu tố cơ bản ñể cấu thành nên một sắc thuế Tất cả

Trang 10

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

những gì trình bày, nghiên cứu ở chương 1 này sẽ làm cơ sở, nền tảng ñể người viết ñi ñến nghiên cứu về Thuế SDðNN một cách liền mạch, tạo cho người ñọc có ñược một cái nhìn toàn cảnh về những chính sách ñược thể hiện trong Luật Thuế SDðNN của Nhà nước ta

Chương 2: Thuế sử dụng ñất nông nghiệp dưới góc nhìn thực tiễn và hướng phát triển

Trên cơ sở, nền tảng ñược trình bày ở chương 1ở trên người viết sẽ ñi sâu vào tìm hiểu những quy ñịnh của pháp luật về Thuế SDðNN như: ñối tượng nộp thuế, chịu thuế, không chịu Thuế SDðNN Căn cứ tính Thuế SDðNN dựa trên những căn cứ nào? Từ ñó, người viết có những phân tích liên quan ñến những căn cứ tính thuế như vậy có hợp chưa? Và chỉ ra những ưu, nhược ñiểm trong cách sử dụng căn cứ tính thuế như hiện tại sử dụng Tiếp theo người viết trình bày phần miễn, giảm thuế trên cơ

sở những quy ñịnh trong Luật Thuế SDðNN và phần miễn, giảm thuế theo Nghị quyết 15/2003/NQ-QH 11 về việc miễn, giảm Thuế SDðNN từ năm 2003 ñến năm 2010 Trong phần trình bày hai chính sách miễn, giảm thuế này, người viết có sự tổng hợp những ý kiến ñồng tình cũng như phản ñối về chính sách miễn, giảm thuế của các học giả ñối với chính sách miễn, giảm Thuế SDðNN của Nhà nước ðồng thời người viết cũng có nêu những nhận xét riêng của mình về những vấn ñề trên Trong quá trình tìm hiểu về Thuế SDðNN ñể thuận tiện, dễ dàng cho việc nắm bắt người viết cũng không quên ñưa ra những công thức và bài tập về cách tính thuế và những ví dụ minh họa Tóm lại, với tất cả những gì ñã trình bày và phân tích về những quy ñịnh của pháp luật liên quan ñến thuế sử ñất nông nghiệp, người viết ñã ñưa ra nhận ñịnh cuối cùng có nên xóa bỏ Thuế SDðNN? Và ñề xuất hướng xây dựng thuế mới thay thế cho Luật Thuế SDðNN hiện hành như thế nào? Phần cuối cùng là kết luận

Trang 11

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ðỀ CƠ BẢN VỀ PHÁP LUẬT THUẾ

1 Khái niệm, vai trò, chức năng, của thuế trong quản lý Nhà nước

1.1 Khái niệm, ñặc ñiểm, phân biệt thuế với lệ phí, phí

1.1.1 Khái niệm

Sau công xã nguyên thủy, xã hội loài người ñã trải qua các chế ñộ xã hội có giai cấp, trong mỗi xã hội ñó ñều hình thành và tồn tại bộ máy Nhà nước, là tổ chức ñại diện cho lợi ích của giai cấp thống trị ñể cai trị xã hội Cơ sở vật chất ñể bộ máy Nhà nước tồn tại là NSNN, ñó là quỹ tiền tệ tập trung của Nhà nước, hình thành từ nhiều nguồn lực tài chính khác nhau, trong ñó nguồn thu chủ yếu là từ Thuế Vậy thuế là gì?

ðể có ñược một khái niệm về thuế tương ñối ñầy ñủ-ñó không chỉ là một vấn ñề học thuật hay từ ngữ ñơn thuần, mà nó có ý nghĩa sâu sắc cả về lý luận và thực tiễn, giúp cho việc hiểu rõ và làm ñúng, một sự cần thiết cho cả công việc lập pháp và hành pháp trong lĩnh vực thuế

Vì “Thuế vừa là phạm trù kinh tế, vừa là phạm trù lịch sử”5 nên ñể ñưa ra một khái niệm về thuế hoàn toàn không ñơn giản, tùy thuộc vào từng lĩnh vực nghiên cứu

mà ta có những khái niệm khác nhau về thuế Trong lĩnh vực kinh tế, với quá trình nghiên cứu sâu sắc của mình ở nhiều khía cạnh khác nhau Các Mác ñã ñưa ra khái niệm như sau: “Thuế là cơ sở kinh tế của bộ máy Nhà nước, là thủ ñoạn ñơn giản ñể kho bạc thu ñược tiền hay tài sản của người dân ñể dùng vào việc chi tiêu của Nhà nước”6 Nghiên cứu thuế với tư cách một nội dung ñiều chỉnh của pháp luật, các chuyên gia về luật thuế ñã ñưa ra nhận ñịnh: “Thuế là một trật tự ñã ñược thiết lập hòa bình giữa Chính phủ với cộng ñồng trong sự tôn trọng thực hiện nghĩa vụ thu nộp vào ngân sách Thuế không có bất kỳ sự phân biệt ñối xử nào giữa các bang hay vùng lãnh thổ”7

Những khái niệm về thuế như nói trên không sai nhưng rõ ràng là mới nhấn mạnh một chiều theo quan niệm ở từng góc ñộ khác nhau, cho nên chưa thật ñầy ñủ và chưa thật chính xác Từ những hiểu biết về thuế của người viết cũng như thực tiễn về thuế ở nước ta, có thể khái quát thành khái niệm chung về thuế như sau:

Thuế là một khoản nộp bắt buộc mà các tổ chức và cá nhân có nghĩa vụ phải thực hiện ñối với Nhà nước khi có ñủ những ñiều kiện nhất ñịnh, phát sinh trên cơ sở các văn bản pháp luật do Nhà nước ban hành, ñể ñáp ứng yêu cầu chi tiêu theo chức năng của Nhà nước, không mang tính chất ñối giá và hoàn trả trực tiếp cho ñối tượng nộp thuế

Trang 12

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Mặc dù có nhiều cách tiếp cận khác nhau, các nhà nghiên cứu có thể ñưa ra khái niệm riêng phục vụ cho mục ñích nghiên cứu về thuế của mình Tuy nhiên, thuế bao giờ cũng mang những ñặc tính nhất ñịnh Vậy thuế mang những ñặc tính chung nào? Với việc tìm hiểu ñặc ñiểm của thuế có lợi ích gì?

1.1.2 ðặc ñiểm của thuế

Trong phạm vi của ñề tài này, người viết xin trình bày và luận giải về những ñặc ñiểm cơ bản của thuế Việc làm này giúp chúng ta hiểu rõ ñược bản chất của thuế và là

cơ sở, chuẩn mực ñể chúng ta phân biệt giữa thuế và các khoản thu khác của Nhà nước

 Sự ra ñời và tồn tại của thuế gắn liền với sự phân chia xã hội thành các giai cấp ñối kháng và sự xuất hiện của Nhà nước-Pháp luật

Mặc dù thuế là một thực thể pháp lý nhân ñịnh nhưng sự ra ñời và tồn tại của nó không chỉ phụ thuộc vào ý chí con người mà còn phụ thuộc vào các ñiều kiện kinh tế-

xã hội của từng thời kỳ lịch sử nhất ñịnh

Sự xuất hiện Nhà nước ñòi hỏi cần phải có của cải vật chất cần thiết chi cho hoạt ñộng thường xuyên của bộ máy Nhà nước nhằm ñảm bảo cho Nhà nước tồn tại, duy trì quyền lực và thực hiện chức năng quản lý xã hội của mình Trong ñiều kiện có các giai cấp, tồn tại chế ñộ tư hữu cùng với phạm vi hoạt ñộng của Nhà nước ngày càng mở rộng thì chế ñộ ñóng góp theo phương thức tự nguyện của dân cư trong chế ñộ cộng sản nguyên thủy không còn phù hợp nữa Ðể có ñược lượng của cải cần thiết, Nhà nước ñã sử dụng quyền lực của mình ban hành pháp luật, ấn ñịnh bắt buộc các cá nhân

và tổ chức phải ñóng góp cho Nhà nước một phần của cải mà họ làm ra và hình thành quỹ tiền tệ tập trung của Nhà nước Ban ñầu những của cải vật chất này ñược thu nộp dưới hình thức hiện vật, dần dần thuế ñược chuyển sang hình thức tiền tệ Ðồng thời với việc ấn ñịnh nghĩa vụ thu nộp của cải vật chất ñối với dân cư, Nhà nước ñảm bảo việc thực hiện các nghĩa vụ ñó bằng bộ máy cuỡng chế của Nhà nước

Sự xuất hiện sản phẩm thặng dư trong xã hội là cơ sở chủ yếu ñể thuế tồn tại và phát triển Như vậy, thuế là phạm trù có tính lịch sử và là một tất yếu khách quan8, thuế ra ñời xuất phát từ nhu cầu ñáp ứng chức năng của Nhà nước và sự tồn tại của thuế không tách rời quyền lực Nhà nước

 Thuế do cơ quan quyền lực Nhà nước cao nhất ban hành

Ở các quốc gia, do vai trò quan trọng của thuế ñối với việc hình thành quỹ NSNN

và những ảnh hưởng của nó ñối với ñời sống kinh tế-xã hội nên thẩm quyền quy ñịnh, sửa ñổi, bãi bỏ các Luật thuế ñều thuộc cơ quan lập pháp Ðây là nguyên tắc sớm ñược ghi nhận trong pháp luật của các nước Chẳng hạn ở nước Anh ñạo Luật về dân quyền năm 1688 quy ñịnh: cấm mọi sự thu thuế ñể dùng vào việc chi tiêu của Nhà nước nếu

8 Nhận ñịnh về ñiều này, B.Franklin (1706-1990), một trong những người thông qua bản Tuyên ngôn ñộc lập của nước Mỹ ñã ñưa ra lời tuyên bố: “Trong cuộc sống không có gì tất yếu, ngoài cái chết và thuế”

Trang 13

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

không ñược Quốc hội chấp thuận Ở Pháp, Quốc hội Pháp quy ñịnh: bất cứ một khoản thuế nào nếu không ñược Quốc hội chấp thuận thì không ñược áp dụng Hiến pháp của nước Cộng hòa Pháp năm 1791 quy ñịnh Quốc hội Pháp có quyền biểu quyết và ñịnh ñoạt các Luật thuế

Việc quy ñịnh nghĩa vụ ñóng góp của nhân dân là một vấn ñề lớn của mỗi một quốc gia, cho nên phải do cơ quan quyền lực cao nhất của Nhà nước là Quốc hội ban hành thành văn bản pháp quy ðiều 84 Hiến pháp 1992 của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam ñã ghi: “Quốc hội có những nhiệm vụ và quyền hạn: làm luật và sửa ñổi luật, quyết ñịnh chương trình xây dựng luật, pháp lệnh thuế; Quốc hội quy ñịnh, sửa ñổi hoặc bãi bỏ các thứ thuế” Ở nước ta, theo quy ñịnh hiện hành, Quốc hội có thể giao cho cơ quan thường trực của mình là Ủy ban Thường vụ Quốc hội ban hành một số loại thuế dưới hình thức Pháp lệnh, sau một thời gian thực hiện sẽ trình Quốc hội xem xét, quyết ñịnh ban hành thành Luật

 Thuế là khoản nộp mang tính nghĩa vụ bắt buộc của các cá nhân và tổ chức ñối với Nhà nước không mang tính ñối giá và không hoàn trả trực tiếp Tính bắt buộc thể hiện ở chỗ, ñối với người nộp thuế, ñây là nghĩa vụ chuyển giao tài sản của họ cho Nhà nước khi có ñủ ñiều kiện mà không phải là quan hệ thanh toán dù trong hay ngoài hợp ñồng ðối với các cơ quan thu thuế, khi thay mặt Nhà nước thực hiện các hành vi nhất ñịnh cũng không ñược phép lựa chọn thực hiện hay không thực hiện hành vi thu thuế hoặc có sự phân biệt ñối xử ñối với người nộp thuế Tính bắt buộc của thuế thể hiện nghĩa vụ ñóng góp của mọi công dân ñối với lợi ích công cộng của toàn xã hội Tính bắt buộc này thường ñược ghi nhận trong các Hiến pháp của các quốc gia Hiến pháp năm 1992 của nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam có quy ñịnh tại ñiều 80 rằng: “Công dân có nghĩa vụ ñóng thuế và lao ñộng công ích theo quy ñịnh của pháp luật”

Tính bắt buộc của thuế có mối quan hệ mật thiết với tính không hoàn trả do thuế không phải là khoản phải trả khi các ñối tượng nộp thuế nhận ñược một lợi ích hay quyền lợi cụ thể nào từ phía Nhà nước Bất kỳ “ai” khi có ñủ ñiều kiện nhất ñịnh ñều phải thực hiện nghĩa vụ nộp thuế ñối với Nhà nước, không phân biệt họ ñã nhận ñược những lợi ích công cộng nào Chính vì thuế không có tính hoàn trả trực tiếp nên khó tìm thấy sự tự nguyện khi nộp thuế Vì vậy, ñể việc thu thuế ổn ñịnh, sử dụng biện pháp bắt buộc như là một thuộc tính cơ bản của thuế

ðể lý giải vì sao thuế lại là các khoản thu không có tính hoàn trả trực tiếp? Nguyên do là thuế xuất hiện do nhu cầu chi tiêu của Nhà nước, của các chủ thể quản lý

xã hội, kết quả của việc sử dụng các khoản thu từ thuế chủ yếu là cho các hàng hóa công cộng như: quốc phòng, môi trường, pháp luật, vệ sinh phòng dịch,… (những lợi ích không thể xác ñịnh chính xác ñược theo giá trị vật chất) Tuy nhiên, kết quả những sản phẩm do Nhà nước sử dụng từ các khoản thu từ thuế lại ñược thụ hưởng bởi chính các ñối tượng nộp thuế, ñó là sự yên bình của xã hội, sự phát triển và sự thịnh vượng,

Trang 14

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

chế ñộ phúc lợi công cộng,… Nói cách khác, người nộp thuế ñược hoàn trả một cách gián tiếp những khoản tiền thuế nộp cho Nhà nước

 Thuế là công cụ phản ánh quan hệ phân phối lại của cải vật chất dưới hình thức giá trị giữa Nhà nước với các chủ thể khác trong xã hội

Nhà nước thu thuế làm phát sinh quan hệ phân phối giữa Nhà nước với các thể nhân và pháp nhân trong xã hội Ðối tượng của quan hệ phân phối này là của cải vật chất ñược biểu hiện dưới hình thức giá trị

Sự tồn tại và phát triển của Nhà nước trong từng giai ñoạn lịch sử, ñặc ñiểm của phương thức sản xuất, kết cấu giai cấp là những nhân tố chủ yếu ảnh hưởng ñến vai trò, nội dung, ñặc ñiểm của thuế Do ñó, cơ cấu và nội dung của cả hệ thống pháp luật thuế và từng Luật thuế phải ñược nghiên cứu, sửa ñổi bổ sung, cải tiến và ñổi mới kịp thời nhằm thích hợp với tình hình, nhiệm vụ của từng giai ñoạn Ðồng thời phải tổ chức bộ máy phù hợp, ñủ sức ñảm bảo thực hiện các quy ñịnh pháp luật về thuế ñã ñược Nhà nước ban hành trong từng thời kỳ

Hệ thống pháp luật thuế ñược coi là phù hợp không chỉ nhìn một cách phiến diện vào số lượng các Luật thuế nhiều hay ít, vào mục tiêu ñơn thuần là ñộng viên tài chính vào NSNN mà phải ñược phân tích một cách toàn diện, chặt chẽ với yêu cầu phát triển kinh tế, với ñời sống xã hội, không ñối lập với quyền lợi và khả năng ñóng góp của nhân dân

Ở nước ta trước cải cách chế ñộ thu NSNN, Luật thuế chỉ áp dụng ñối với các cơ

sở sản xuất, kinh doanh thuộc thành phần kinh tế tập thể và cá thể Ðể thực hiện chế ñộ thu NSNN phù hợp với cơ chế thị trường, phát huy vai trò của các hình thức thu NSNN, cuộc cải cách chế ñộ thu NSNN ñược thực hiện trên cơ sở Nghị quyết Quốc hội khóa VIII kỳ họp thứ VI năm 1989 Kết quả của cuộc cải cách này ñưa ñến việc áp dụng thống nhất chế ñộ thu thuế ñối với tất cả các thành phần kinh tế, không phân biệt hình thức sở hữu, hình thức kinh doanh Từ ñây thuế thực sự trở thành nguồn thu chủ yếu của NSNN và thuế chiếm tỷ trọng cao trong cơ cấu nguồn thu NSNN

Mục ñích của việc tìm ra ñặc ñiểm chung của thuế có ý nghĩa quan trọng trong việc giúp chúng ta nhận diện thuế trong các hình thức thu nhập tài chính Còn trên phương diện ñiều chỉnh pháp luật, việc nghiên cứu ñặc tính của thuế một mặt giúp nhà làm luật lựa chọn sự ñiều chỉnh pháp luật một cách phù hợp ñối với thuế; mặt khác giúp cho các ñối tượng có liên quan thực hiện ñầy ñủ chức trách và nhiệm vụ của mình Bên cạnh việc chỉ ra các ñặc ñiểm của thuế, cũng cần phân biệt thuế với phí, lệ phí Mặc dù thuế, phí, lệ phí ñều là các khoản thu mang tính bắt buộc, hình thành nguồn thu cho quỹ NSNN nhưng giữa chúng có một số ñiểm khác biệt

1.1.3 Phân biệt thuế với lệ phí, phí

Thuế là khoản ñóng góp bắt buộc theo quy ñịnh của pháp luật của các cá nhân và

tổ chức ñối với Nhà nước không mang tính ñối giá và hoàn trả trực tiếp

Trang 15

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Lệ phí là khoản thu vừa mang tính chất phục vụ cho ñối tượng nộp lệ phí về việc thực hiện một số thủ tục hành chính vừa mang tính chất ñộng viên sự ñóng góp cho NSNN

Phí là khoản tiền mà tổ chức, cá nhân phải trả khi ñược một tổ chức, cá nhân khác cung cấp dịch vụ ñược quy ñịnh trong Danh mục phí ban hành kèm theo Pháp lệnh về phí và lệ phí năm 2001

Thuế và lệ phí, phí ñều là nguồn thu cho NSNN và ñều mang tính pháp lý nhưng giữa chúng có sự khác biệt như sau:

Trong khi ñó phí, lệ phí ñược ban hành dưới dạng văn bản pháp quy có giá trị pháp lý thấp hơn thuế Thủ tục và trình tự ban hành phí, lệ phí không phức tạp và tốn nhiều thời gian như thuế

Xét về mục ñích và mức ñộ ảnh hưởng ñối với nền kinh tế-xã hội thì thuế có 3 tác dụng lớn:

• Tạo nguồn thu lớn cho NSNN

• Ðiều chỉnh các hoạt ñộng sản xuất, kinh doanh, quản lý và ñịnh hướng phát triển kinh tế

• Ðảm bảo sự bình ñẳng giữa những chủ thể kinh doanh và công bằng xã hội Qua ñó chúng ta thấy thuế có tác ñộng lớn ñến toàn bộ quá trình phát triển kinh tế-xã hội của một quốc gia, ñồng thời thuế là một bộ phận rất quan trọng cấu thành chính sách tài chính quốc gia

Trong khi ñó lệ phí, phí không có những tác dụng nói trên, nó chỉ có tác dụng tạo nguồn thu cho NSNN Hơn nữa, việc tạo nguồn này không phải dùng ñáp ứng nhu cầu chi tiêu mọi mặt của Nhà nước, mà trước hết dùng ñể bù ñắp các chi phí hoạt ñộng của các cơ quan cung cấp cho xã hội một số dịch vụ công cộng như: dịch vụ công chứng, dịch vụ ñăng ký quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng tài sản, dịch vụ hải quan,

Ngoài dấu hiệu là thuế ñược ñảm bảo thực hiện bằng sự cưỡng chế của Nhà nước, thuế còn ñược phân biệt với lệ phí, phí ở chỗ các cá nhân và pháp nhân có nghĩa

vụ nộp thuế cho Nhà nước nhưng không trên cơ sở ñược hưởng những lợi ích vật chất tương ứng mang tính chất ñối giá Trong khi ñó hình thức lệ phí, phí và công trái nói chung mang tính tự nguyện và có tính chất ñối giá Tính bắt buộc của lệ phí và phí chỉ xảy ra khi chủ thể nộp lệ phí, phí thừa hưởng trực tiếp những dịch vụ do Nhà nước cung cấp

Trang 16

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Bên cạnh ñó, thuế không mang tính hoàn trả trực tiếp cho ñối tượng nộp thuế Tính chất không hoàn trả trực tiếp của thuế thể hiện ở chỗ Nhà nước thu thuế từ các cá nhân và pháp nhân trong xã hội nhưng không bị ràng buộc bởi trách nhiệm phải hoàn trả lại cho người nộp Người nộp thuế suy cho cùng sẽ nhận ñược các lợi ích vật chất

từ việc sử dụng các dịch vụ công cộng do Nhà nước sử dụng các khoản chi của NSNN

ñể thực hiện các chính sách kinh tế xã hội chung cho cả cộng ñồng Tuy nhiên, giá trị phần dịch vụ ñó không nhất thiết tương ñồng với khoản tiền thuế mà họ ñã nộp cho Nhà nước Tính chất này của thuế cho phép chúng ta phân biệt thuế với lệ phí, phí và các khoản thu mà Nhà nước tập trung vào NSNN nhưng ràng buộc trách nhiệm hoàn trả cho ñối tượng nộp dưới các hình thức như vay nợ, tạm ứng cho NSNN

 Xét về tên gọi và mục ñích

Mục ñích của từng loại lệ phí rất rõ ràng, thường phù hợp với tên gọi của nó Nói một cách chính xác hơn, tên gọi của loại lệ phí nào phản ánh khá ñầy ñủ mục ñích sử dụng loại lệ phí ñó

Mỗi một Luật thuế ñều có mục ñích riêng Tuy nhiên, ña số các sắc thuế có tên gọi không phản ánh ñúng mục ñích sử dụng, mà thường phản ánh ñối tượng tính thuế Nói chung mục ñích của việc sử dụng của các loại thuế thường là tạo nguồn quỹ NSNN nhằm ñáp ứng nhu cầu chi NSNN, thực hiện chức năng quản lý xã hội của Nhà nước

1.2 Chức năng, vai trò của thuế

1.2.1 Chức năng của thuế

Chức năng của một sự vật hay một hiện tượng là sự thể hiện công dụng vốn có của nó Ðối với một phạm trù kinh tế-xã hội thì chức năng phản ánh sự tác ñộng của nó-là một phương thức ñặc biệt biểu hiện những thuộc tính vốn có của phạm trù Cũng như bản chất, chức năng cũng có tính ổn ñịnh tương ñối của nó trong suốt thời gian tồn tại của sự vật hay ñối tượng

Thuế là một phạm trù tài chính, nó biểu hiện những thuộc tính chung vốn có của các quan hệ tài chính Tuy nhiên thuế cũng có những ñặc trưng, hình thức vận ñộng và các chức năng riêng bắt nguồn từ tổng thể các mối quan hệ tài chính

Căn cứ vào nội dung cùng với quá trình ra ñời, tồn tại và phát triển của thuế, chúng ta thấy rằng thuế thực hiện các chức năng sau ñây:

 Chức năng phân phối và phân phối lại: là chức năng cơ bản, ñặc thù của thuế

Ngay từ lúc ra ñời thuế là phương tiện dùng ñể ñộng viên nguồn tài chính vào NSNN (có ở tất cả các kiểu Nhà nước).Về mặt lịch sử, chức năng huy ñộng nguồn tài chính là chức năng ñầu tiên, phản ánh nguyên nhân nảy sinh ra thuế Thông qua chức năng này, các quỹ tiền tệ tập trung của Nhà nước ñược hình thành ñể ñảm bảo cơ sở vật chất cho sự hoạt ñộng thường xuyên và tồn tại của Nhà nước Bằng chính chức năng này, Nhà nước tiến hành tham gia phân phối và phân phối lại tổng sản phẩm xã

Trang 17

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

hội và thu nhập quốc dân trong xã hội Chức năng phân phối và phân phối lại thu nhập của thuế là sự huy ñộng một bộ phận thu nhập quốc dân dưới hình thức tiền tệ vào NSNN Phần lớn thuế ñánh trên hàng hóa và thu nhập Người có thu nhập cao và sử dụng nhiều hàng hóa, dịch vụ là người nộp thuế nhiều hơn Số tiền này sau ñó lại ñược Nhà nước chi nhằm thực hiện chính sách kinh tế-xã hội, tạo ra tính công bằng tương ñối cho xã hội Trong một chừng mực nhất ñịnh, chức năng phân phối và phân phối lại

ñã tạo ñiều kiện cho sự ra ñời và phát huy tác dụng chức năng ñiều tiết của thuế Chức năng phân phối và phân phối lại có vị trí ngày càng quan trọng Ðiều này ñược giải thích bởi sự phát triển, mở rộng các chức năng của Nhà nước và việc thực hiện nhiều chính sách khác nhau, trong ñó có việc can thiệp của Nhà nước vào các quá trình kinh tế

 Chức năng ñiều tiết ñối với nền kinh tế

Chức năng ñiều tiết của thuế ñược nhận thức và sử dụng rộng rãi từ những năm ñầu của thế kỷ XX và gắn liền với vai trò ñiều chỉnh của Nhà nước ñối với nền kinh tế Việc tăng cường vai trò kinh tế-xã hội của Nhà nước dẫn ñến tốc ñộ chi tiêu của Nhà nước ngày càng tăng lên và hậu quả tất yếu là ñòi hỏi Nhà nước phải mở rộng quỹ tài chính Nhà nước, hình thành chủ yếu từ việc thu thuế Nhu cầu về nguồn tài chính càng lớn thì Nhà nước cần phải tăng cường các chức năng của thuế ñể tác ñộng một cách có hiệu quả ñến nền kinh tế quốc dân Chính trong quá trình ñó chức năng phân phối và phân phối lại và chức năng ñiều chỉnh của thuế ñã ñược sử dụng một cách hiện thực Ðiều ñó có nghĩa là nội dung ñiều tiết theo một mục tiêu nào ñó ñã ñược dự liệu trước vào trong quá trình huy ñộng tập trung nguồn tài chính Bằng cách sử dụng nó ñể kích thích hoặc kìm hãm tốc ñộ tăng trưởng, tăng cường hoặc làm yếu ñi sự tích lũy tiết kiệm, mở rộng hoặc thu hẹp nhu cầu có khả năng thanh toán của dân cư, ñẩy nhanh hoặc làm chậm lại chu kỳ khủng hoảng kinh tế, Nhà nước ñã thực hiện ñiều tiết các hoạt ñộng kinh tế-xã hội trong phạm vi quốc gia

Thực hiện chức năng ñiều chỉnh của thuế thông qua việc quy ñịnh các hình thức thu thuế khác nhau, xác ñịnh ñúng ñắn ñối tượng chịu thuế và ñối tượng nộp thuế; xây dựng chính xác, hợp lý các mức thuế phải nộp có tính ñến khả năng của người nộp thuế Trên cơ sở ñó Nhà nước kích thích các hoạt ñộng kinh tế ñi vào quỹ ñạo chung của nền kinh tế quốc dân, phù hợp với lợi ích của toàn xã hội Trong ñiều kiện chuyển sang cơ chế thị trường, vai trò kích thích kinh tế thông qua thuế ngày càng ñược nâng cao Nhà nước sử dụng thuế ñể tác ñộng lên lợi ích kinh tế của các chủ thể vì lợi ích của nền kinh tế quốc dân Với công cụ thuế, sự can thiệp của Nhà nước không mang tính chất mệnh lệnh, bắt buộc các chủ thể phải kinh doanh hay không kinh doanh mà chủ yếu tạo ra sự lựa chọn ñối với các chủ thể kinh doanh

Giữa hai chức năng trên của thuế có mối quan hệ gắn bó mật thiết với nhau Chức năng phân phối và phân phối lại của thuế là nguyên nhân ảnh hưởng ñến sự vận ñộng và phát triển của chức năng ñiều tiết Nhưng chức năng ñiều tiết của thuế cũng có

Trang 18

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

tác ñộng ngược lại ñến chức năng phân phối và phân phối lại thu nhập Nguồn tài chính mà Nhà nước tập trung ñược dưới dạng thuế là tiền ñề của sự can thiệp của Nhà nước trên diện rộng và theo chiều sâu tới quá trình sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp Ngược lại, việc ñiều tiết, sắp xếp sản xuất của Nhà nước nhằm vào việc thúc ñẩy nhanh tốc ñộ tăng trưởng kinh tế lại tạo ñiều kiện ñể tăng thu nhập của các tầng lớp nhân dân và ñây chính là cơ sở quan trọng ñể mở rộng phạm vi tác ñộng của chức năng phân phối và phân phối lại

Sự thống nhất nội tại của các chức năng hoàn toàn không loại trừ các mâu thuẫn nội tại trong mỗi chức năng và giữa hai chức năng Sự tăng cường chức năng phân phối và phân phối lại làm cho nguồn thu của Nhà nước tăng lên Ðiều ñó có nghĩa là

mở rộng khả năng của Nhà nước trong việc thực hiện các chương trình kinh tế xã hội Mặt khác, việc tăng cường chức năng phân phối và phân phối lại một cách quá mức làm tăng gánh nặng thuế và hậu quả là làm giảm ñộng lực phát triển kinh tế, trong nhiều trường hợp làm hạn chế vai trò của chức năng ñiều tiết Ðó là tính hai mặt của thuế, nó có khả năng làm ảnh hưởng ñến nền kinh tế một cách tích cực, nhưng cũng có thể ảnh hưởng một cách tiêu cực Tính hai mặt của sự tác ñộng ñó cần phải ñược xem xét nghiêm túc kỹ lưỡng trong tiến trình hoạch ñịnh, xây dựng, ban hành các chính sách pháp luật về thuế của Nhà nước trong từng giai ñoạn phát triển kinh tế-xã hội nhất ñịnh

1.2.2 Vai trò của thuế trong nền kinh tế thị trường

Các nhà kinh tế học thường ñề cập vai trò của thuế ñối với NSNN và ñời sống xã hội Bởi vì trên thực tế, thông qua hoạt ñộng thu thuế, Nhà nước tập trung ñược một bộ phận của cải của xã hội từ ñó hình thành nên quỹ NSNN và thực hiện các chính sách kinh tế-xã hội

Về phương diện Luật học, thuế là một thực thể do Nhà nước ñặt ra thông qua việc ban hành các văn bản pháp luật Các văn bản quy phạm pháp luật không chỉ quy ñịnh nội dung các loại thuế mà còn xác lập các quyền, nghĩa vụ của các chủ thể, các biện pháp ñảm bảo thực hiện thu, nộp thuế Pháp luật thuế là sự thể chế hóa các chính sách kinh tế-xã hội của Nhà nước Chính vì vậy pháp luật thuế là nhân tố quyết ñịnh ý nghĩa kinh tế-xã hội của thuế và có vai trò quan trọng ñối với nền kinh tế và ñời sống

xã hội

Vai trò của thuế là sự biểu hiện cụ thể các chức năng của thuế trong những ñiều kiện kinh tế, xã hội nhất ñịnh Trong ñiều kiện nền kinh tế thị trường, với sự thay ñổi phương thức can thiệp của Nhà nước vào hoạt ñộng kinh tế, thuế ñóng vai trò hết sức quan trọng ñối với quá trình phát triển kinh tế-xã hội Vai trò của thuế ñược thể hiện trên các khía cạnh sau ñây:

 Pháp luật thuế là công cụ chủ yếu của Nhà nước nhằm huy ñộng tập trung một phần của cải vật chất trong xã hội vào NSNN

Trang 19

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Nhà nước ban hành pháp luật thuế và ấn ñịnh các loại thuế áp dụng ñối với các pháp nhân và thể nhân trong xã hội Việc các chủ thể nộp thuế-thực hiện nghĩa vụ nộp thuế theo quy ñịnh của pháp luật thuế ñã tạo ra nguồn tài chính quan trọng, chiếm tỷ trọng lớn trong cơ cấu nguồn thu NSNN

Cũng như pháp luật nói chung, Pháp luật thuế có chức năng ñiều chỉnh các quan

hệ xã hội Mục ñích chủ yếu và quan trọng nhất của sự ñiều chỉnh quan hệ pháp luật thu-nộp thuế là nhằm tạo lập quỹ NSNN Hầu hết ở các quốc gia, thuế là hình thức chủ yếu mà pháp luật quy ñịnh ñể thu vào NSNN

Một nền tài chính quốc gia lành mạnh phải dựa chủ yếu vào nguồn thu nội bộ của nền kinh tế quốc dân Trong ñiều kiện nền kinh tế thị trường, xuất phát từ phạm vi hoạt ñộng mà ñòi hỏi Nhà nước phải ban hành và tổ chức thực hiện pháp luật thuế ñể tập trung nguồn tài chính vào NSNN từ ñó mới ñáp ứng ñược nhu cầu chi ngày càng tăng Thuế là công cụ quan trọng nhất ñể phân phối lại tổng sản phẩm xã hội và thu nhập quốc dân theo ñường lối xây dựng chủ nghĩa xã hội (CNXH) ở nước ta Hiện nay nguồn thu nước ngoài ñã giảm nhiều, kinh tế ñối ngoại chuyển thành có vay có trả Trước tiên, thuế là một công cụ quan trọng ñể góp phần ổn ñịnh trật tự xã hội, chuẩn bị ñiều kiện và tiền ñề cho việc phát triển lâu dài

Với cơ cấu kinh tế nhiều thành phần, hệ thống pháp luật thuế mới ñược áp dụng thống nhất giữa các thành phần kinh tế Thuế ñã ñiều chỉnh ñược hầu hết các hoạt ñộng sản xuất, kinh doanh, các nguồn thu nhập, mọi tiêu dùng xã hội Ðây là nguồn thu chính của NSNN

 Pháp luật thuế là công cụ ñiều tiết vĩ mô của Nhà nước ñối với nền kinh tế

Ðiều tiết ñối với nền kinh tế là yêu cầu khách quan, thường xuyên của Nhà nước trong ñiều kiện nền kinh tế thị trường Thông qua các quy ñịnh của pháp luật thuế về

cơ cấu các loại thuế, phạm vi ñối tượng nộp thuế, thuế suất, miễn giảm thuế, Nhà nước chủ ñộng phát huy vai trò ñiều tiết ñối với nền kinh tế Vai trò này của pháp luật thuế ñược thể hiện ở chỗ pháp luật thuế là công cụ tác ñộng ñến tư duy ñầu tư, hành vi ñầu tư của các chủ thể kinh doanh, hành vi tiêu dùng của các thành viên trong xã hội Dựa vào công cụ thuế, Nhà nước có thể thúc ñẩy hoặc hạn chế việc ñầu tư, tiêu dùng

9

Xem thêm Hiến pháp 1992 kỳ họp thứ 11 Quốc hội khóa VIII của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam

Trang 20

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Thông qua các quy ñịnh của pháp luật thuế, Nhà nước chủ ñộng can thiệp ñến cung-cầu của nền kinh tế Sự tác ñộng của Nhà nước ñể ñiều chỉnh cung-cầu của nền kinh tế một cách hợp lý sẽ có tác ñộng lớn ñến sự ổn ñịnh và tăng trưởng kinh tế Bằng các quy ñịnh của pháp luật thuế, Nhà nước tác ñộng tích cực ñến cung-cầu của nền kinh tế trong tất cả các giai ñoạn từ sản xuất, lưu thông ñến tiêu dùng

Ðiều tiết tiêu dùng là hoạt ñộng quan trọng của Nhà nước ñối với nền kinh tế thị trường Thông qua các quy ñịnh của pháp luật thuế Nhà nước tác ñộng ñến các quan

hệ tiêu dùng của xã hội Nhằm hạn chế việc tiêu dùng ñối với một số hàng hóa, dịch

vụ, Nhà nước tăng thuế suất thuế giá trị gia tăng, thuế xuất nhập khẩu, ñối với việc sản xuất kinh doanh, tiêu dùng các loại hàng hóa ñó

Ðể thực hiện chính sách bảo hộ, khuyến khích sản xuất trong nước và khuyến khích xuất khẩu, pháp luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu có các quy ñịnh khuyến khích hoặc hạn chế việc xuất, nhập khẩu ñối với một số hàng hóa Sự khuyến khích hoặc hạn chế này thể hiện tập trung ở biểu thuế áp dụng có tính chất phân biệt ñối với các loại hàng hóa xuất nhập khẩu

Trong ñiều kiện cạnh tranh của nền kinh tế vận hành theo cơ chế thị trường tất yếu dẫn ñến tình trạng suy thoái về tài chính ở một số doanh nghiệp Ðối với những ngành nghề, lĩnh vực sản xuất, kinh doanh cần khuyến khích, ngoài các quy ñịnh chung, pháp luật thuế còn có các quy ñịnh ưu ñãi, miễn, giảm thuế nhằm khắc phục sự suy thoái về tài chính, tạo sự ổn ñịnh và phát triển của các doanh nghiệp

Thuế góp phần khuyến khích khai thác nguyên liệu, vật tư trong nước ñể ñáp ứng nhu cầu tiêu dùng và xuất khẩu Thông qua pháp luật thuế, Nhà nước có tác ñộng tích cực trong việc thúc ñẩy sản xuất phát triển trên cơ sở tận dụng và sử dụng hợp lý và có hiệu quả các nguồn lực của ñất nước trong việc ñiều chỉnh cung-cầu và cơ cấu kinh tế

 Pháp luật thuế là công cụ góp phần ñảm bảo sự bình ñẳng giữa các thành phần kinh tế và công bằng xã hội

Hệ thống pháp luật thuế mới ñược áp dụng thống nhất chung cho các ngành nghề, các thành phần kinh tế, các tầng lớp dân cư nhằm ñảm bảo sự bình ñẳng và công bằng xã hội về quyền lợi và nghĩa vụ ñối với mọi thể nhân và pháp nhân

Sự bình ñẳng và công bằng ñược thể hiện thông qua chính sách ñộng viên giống nhau giữa các ñơn vị, cá nhân thuộc mọi thành phần kinh tế có những ñiều kiện hoạt ñộng giống nhau, ñảm bảo sự bình ñẳng và công bằng

Vai trò ñiều tiết thu nhập của pháp luật thuế thể hiện ở sự tác ñộng của pháp luật thuế ñối với các quan hệ phân phối và sử dụng thu nhập trong xã hội

Sự vận ñộng của nền kinh tế theo cơ chế thị trường ñòi hỏi Nhà nước phải sử dụng ñồng bộ nhiều công cụ khác nhau ñể khắc phục những sự mất cân ñối về mặt xã hội trong ñó có mất cân ñối về thu nhập Nhà nước sử dụng pháp luật thuế làm công cụ

ñể ñiều hòa vĩ mô thu nhập trong xã hội Sự ñiều tiết này thể hiện ở chỗ thông qua các quy ñịnh của pháp luật thuế, Nhà nước thực hiện việc ñiều tiết thu nhập của các ñối

Trang 21

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

tượng nộp thuế và các thành viên trong xã hội Sự thay ñổi của pháp luật thuế về cơ cấu các loại thuế trong hệ thống thuế, về thuế suất, ñều có tác ñộng ñến thu nhập và

sử dụng thu nhập trong xã hội

Hiện nay, xu hướng chung của các quốc gia là xây dựng các quy phạm pháp luật thuế theo hướng hội nhập quốc tế, ñơn giản hóa cơ cấu hệ thống thuế và thuế suất, Tuy vậy, việc thực hiện xu hướng chung ñó không làm triệt tiêu vai trò của pháp luật thuế là công cụ ñiều tiết vĩ mô của Nhà nước trong ñiều kiện nền kinh tế thị trường

2 Sự phát triển của chế ñịnh thuế trong lịch sử Nhà nước và Pháp luật Việt Nam

Nước ta mặc dù ñã hình thành từ rất lâu nhưng cho ñến tận thế kỷ XI, ñời vua Trần Thái Tông (1225-1237) thì việc ñánh thuế mới ñược hình thành một cách có tổ chức và có hệ thống Ngược dòng lịch sử, chúng ta tìm hiểu khái quát về chế ñịnh thuế hình thành và phát triển trong lịch sử Nhà nước và Pháp luật Việt Nam

2.1 Chế ñịnh thuế dưới thời phong kiến

Ngay từ thời phong kiến, các cấp lãnh ñạo dưới chế ñộ quân chủ ñã biết tổ chức

hệ thống thu thuế ñể làm nguồn thu cho công quỹ của nhà Vua Tuy vậy từ các triều ñại nhà Trần trở về sau này, sự tổ chức, cách ñánh thuế và thu thuế mới ñược ghi chép

và có hệ thống

 Chế ñịnh thuế dưới triều ñại nhà Trần

Thuế ở nước ta ñược hình thành từ ñời nhà Trần, rõ rệt nhất là vào thời vua Trần Thái Tông Theo sử sách ghi nhận vào thời nhà Trần có 2 loại thuế chính ñược áp dụng

ñó là thuế thân và thuế ñiền:

• Thuế thân: căn cứ vào diện tích ruộng mà ñánh thuế Ai có một, hai mẫu ruộng thì phải ñóng 1 quan tiền/ 1 năm; ai có 4 mẫu thì ñóng 2 quan; ai có 5 mẫu trở lên thì ñóng 3 quan; ai không có mẫu nào thì không phải ñóng thuế

• Thuế ñiền (thuế ruộng): ñóng bằng thóc Một mẫu ruộng tư thì chủ ñiền phải ñóng 100 thăng thóc Còn ruộng công thì: ñối với ruộng quốc khố thì hạng nhất mỗi mẫu ñánh thuế 6 thạch, hạng nhì mỗi mẫu 4 thạch, hạng ba mỗi mẫu 3 thạch; ñối với thác ñiền (ruộng thưởng cho quan lại có công): hạng nhất mỗi mẫu ñánh thuế 1 thạch thóc; hạng nhì 3 mẫu lấy 1 thạch; hạng ba 4 mẫu lấy 1 thạch Với ruộng ao thì mỗi mẫu lấy 3 thăng thóc thuế Ruộng muối thì phải ñóng bằng tiền

 Chế ñịnh thuế dưới triều ñại nhà Hồ

Từ thời nhà Trần việc ñóng thuế ñã trở thành lệ và hầu như không thay ñổi ñáng

kể vào thời nhà Hồ Chỉ có quy ñịnh tăng hạn ngạch thuế thân: cứ 2 mẫu 6 sào trở lên thì ñóng 3 quan tài tiền mặt một năm

 Chế ñịnh thuế dưới triều ñại nhà Lê

Ngoài thuế ruộng (thuế ñiền), còn ñặt thêm thuế ñất (thổ), thuế ñất bãi trồng dâu nuôi tằm

Trang 22

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

 Chế ñịnh thuế dưới thời chúa Trịnh

Ngoài việc duy trì các loại thuế như trước, Chúa Trịnh ở miền Bắc còn ñặt ra thêm các loại thuế khác như:

• Thuế mỏ (khai thác hầm mỏ), thuế ñò (lệ phí giao thông), thuế chợ, thuế thổ sản có thể xem như thuế tài nguyên bây giờ

• Thuế tuần tuy: ñánh vào các thuyền buôn

• Thuế muối: tăng thuế muối cao hơn thời nhà Trần

• Thuế thổ sản: như vàng, bạc, ñồng, kẽm, tre, gỗ, tơ, lụa

 Chế ñịnh thuế dưới thời Chúa Nguyễn

Ở miền Nam, ngoài thuế ñiền, thuế mỏ, chúa Nguyễn ñặt ra thêm thuế xuất cảng, nhập cảng ñánh vào các tàu buôn ngoại quốc cập bến và dời bến

 Chế ñịnh thuế dưới thời nhà Nguyễn

• Thời Vua gia Long: Bên cạnh việc quy ñịnh lại các loại thuế như thuế thân, thuế ñiền, vua Gia Long còn ñặt ra các loại thuế mới như:

 Thuế sản vật: ñánh vào cây quế (ñánh vào việc khai thác cây quế ở rừng), ai ñóng thuế sản vật cây quế thì ñược miễn trừ thuế thân

 Thuế yến: ñánh vào khai thác yến sào, ai nộp thuế yến thì ñược tha việc binh lính

 Thuế hương liệu, thuế sâm, thuế gỗ, tất cả nộp bằng tiền hoặc sản vật

 Ðịnh lại thuế ñánh vào các tàu bè ngoại quốc ra vào buôn bán

 Thuế mỏ

• Thời Vua Minh Mạng: chế ñộ thuế vẫn duy trì như thời vua Gia Long

• Thời Vua Thiệu Trị: chính sách thuế vẫn như thời vua Minh Mạng

• Thời Vua Tự Ðức: có thêm thuế nha phiến ñánh vào việc bán thuốc phiện

Sử sách ñã ghi nhận một số triều ñại ñược coi là tiến bộ (Trần, Lê Sơ): ngoài việc giữ nước, mở mang kinh tế, phát triển dân trí và xây dựng một nền văn hóa có bản sắc dân tộc còn theo ñuổi một số chính sách thuế hợp lòng dân, nêu ñược các mẫu mực về việc sử dụng chi tiêu công theo quan ñiểm phục vụ quốc kế dân sinh, lợi ích nước nhà

Có thể nhận xét rằng, hệ thống thuế trong các triều ñại phong kiến ở nước ta có ñặc ñiểm chung là thiếu những chuẩn mực về ñạo lý và pháp lý cần thiết, ñáp ứng về

cơ bản và lâu dài ý chí và lợi ích của nhân dân Việc thu thuế và sử dụng công quỹ trong rất nhiều trường hợp lại do các bậc vua chúa toàn quyền quyết ñịnh, không phải dựa trên các các suy nghĩ chín chắn mà xuất phát từ ý thích hoặc tính khí thay ñổi rất thất thường của mình Bên cạnh chế ñộ trung ương tập quyền rất gò bó, lịch sử còn ghi nhận tình trạng “phép vua thua lệ làng” ñã hình thành từ rất lâu ở các ñịa phương mà hậu quả tất yếu là ñẻ ra một chế ñộ thuế hà khắc, một tầng lớp quan lại nhũng nhiễu với nhân dân trong hàng ngàn năm qua Kết cục bi thảm nhưng ñầy lôgic ñã xảy ra

Trang 23

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

như là một tất yếu lịch sử không thể ñảo ngược: chế ñộ phong kiến suy tàn vào cuối thế kỷ XIX, ñể lại một ñất nước kém mở mang rơi vào sự thống trị của chủ nghĩa thực dân Pháp

2.2 Chế ñịnh thuế dưới thời Pháp thuộc

Cơ chế tài chính do Pháp thiết lập ở Ðông Dương ñầu thế kỷ XX không nằm ngoài mục ñích là vơ vét của cải của thuộc ñịa Dưới thời Pháp thuộc, thuế ñược huy ñộng vào hệ thống ngân sách thuộc ñịa gồm nhiều tầng nấc, nhưng chúng lại không ñược chuyển thành nguồn tài trợ cho sự phát triển của xã hội mà lại ñược chuyển về chính quốc, theo ñúng mục tiêu của chủ nghĩa thực dân Chính phủ thuộc ñịa Pháp ñặt

ra các thuế ngoại ngạch tức là loại thuế gián thu như thuế tiêu thụ thuốc lá, thuế rượu, thuế muối, thuế ñoan (thuế quan); thuế trực thu thì có thuế môn bài, thuế thổ trạch Hệ thống ngân sách của Nhà nước thuộc ñịa bao gồm:

 Ngân sách Ðông Dương và các ngân sách phụ thuộc của nó là: ngân sách ñặc biệt về tiền vay nợ và ngân sách riêng của sở hỏa xa

 Ngân sách các xứ bên trong liên bang: Bắc kỳ, Trung kỳ, Nam kỳ, Cao Miên,

Ai Lao và Quảng Châu Văn

 Ngân sách các tỉnh và thành phố

 Ngân sách xã ở các làng

Trên thực tế, một hệ thống ngân sách như vậy ñã thể hiện như một hệ thống cực

kỳ phản ñộng, mang tính chất bóc lột và vơ vét Nhưng chính nó ñã tạo tiền ñề quan trọng dẫn ñến cuộc tổng khởi nghĩa tháng 8-1945, chấm dứt ách ñô hộ của chế ñộ thực dân Pháp tồn tại gần 100 năm

2.3 Chế ñịnh thuế thời kỳ sau Cách mạng tháng Tám năm 1945 ñến hiện nay

 Giai ñoạn từ sau Cách mạng tháng 8 ñến năm 1954

Sau khi cách mạng tháng 8 thành công, Chính phủ ta chủ trương bãi bỏ hẳn sắc thuế mang tính chất phi nhân ñạo như: thuế thân, thuế thổ trạch ở thôn quê và một số tạp thuế vô lý; miễn thuế ñiền thổ cho vùng bị lụt và giảm thuế ñiền 20% trong toàn quốc; ñình chỉ thu thuế ở miền Nam

Sau năm 1946, Nhà nước một mặt bắt ñầu cải tiến chế ñộ thuế, tăng thuế suất nhiều loại thuế; mặt khác, vẫn tiếp tục dựa vào những ñóng góp mới như: Quỹ “tham gia kháng chiến” năm 1949, Quỹ “Công lương” và thuế ñiền thổ Mặt khác, Chính phủ cũng vận ñộng trong nhân dân vay dưới hình thức công trái, ñồng thời còn dựa vào nguồn phát hành tiền tệ

Ðến năm 1951, bên cạnh việc thống nhất quản lý tài chính Nhà nước, Chính phủ còn ban hành chính sách pháp luật thuế mới ñược xây dựng trên nguyên tắc: công bằng, thích hợp với hoàn cảnh kinh tế-xã hội và ñiều kiện chiến tranh Chính sách pháp luật thuế thống nhất bao gồm 7 loại thuế Ngoài 7 thứ thuế ñược trình bày công khai dưới ñây, các ñịa phương bị cấm tùy tiện ñặt ra những khoản bắt nhân dân ñóng

Trang 24

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

góp Mọi hình thức quyên góp ở nông thôn ñều bị cấm chỉ, trừ trường hợp nhân dân thật sự ñóng góp tự nguyện ñể ủng hộ bộ ñội, góp quỹ nghĩa thương cứu tế xã hội Việc tăng giảm mức thu, loại thuế, thuế suất,…ñều phải do Chính phủ Trung ương quyết ñịnh

• Thuế nông nghiệp

 Theo Sắc lệnh số 13/SL ngày 1/5/1951, thuế nông nghiệp là hình thức thuế thu bằng hiện vật (thóc hoặc sản vật nông nghiệp) ñược ban hành ñể thay thế các khoản ñóng góp về nông nghiệp cho NSNN và quỹ ñịa phương như thuế ñiền thổ, thóc công lương, sương túc, thóc bình dân học vụ, thóc nuôi bộ ñội ñịa phương, thóc nộp cho quỹ xã, thóc ñắp ñường,…ñồng thời bãi bỏ việc mua thóc theo giá qui ñịnh

Nguyên tắc xây dựng thuế nông nghiệp là không căn cứ vào quyền sở hữu ruộng ñất như thuế ñiền thổ mà căn cứ vào thu hoạch hoa lợi nông nghiệp Những người trực tiếp canh tác, những chủ ruộng cho thuê ñất lấy tô, những người lính canh ruộng ñất ñều phải nộp thuế theo khả năng của mình có tác dụng khuyến khích tăng năng suất Ở mỗi xã thành lập một Ban thuế nông nghiệp phụ trách việc tổ chức thực hiện các nguyên tắc, thủ tục về thuế nông nghiệp Mọi công việc ước lượng hoa lợi, kiểm soát thu thuế ñều do nhân dân trực tiếp thực hiện theo hình thức dân chủ bình nghị công khai

Việc thi hành thuế nông nghiệp ñòi hỏi một thời gian chuẩn bị kỹ càng về xây dựng văn bản, tuyên truyền giáo dục, kê khai, lập sổ thuế, thu nộp thuế v.v… nhưng nhu cầu cung cấp lương thực của Nhà nước lại rất lớn lao, cấp bách Do ñó, ngay trong

vụ chiêm 1951, Chính phủ ñã vay trước của dân một số thóc tính vào thuế nông nghiệp theo thể lệ ban hành và thanh toán sau, nếu quá mức thì trả lại số thừa; còn thiếu người nộp thuế phải nộp thêm

 ðiều lệ tạm thời thuế nông nghiệp ban hành kèm theo Sắc lệnh số 13/SL ngày 01/5/1951 ñược quy ñịnh căn cứ theo 3 phương châm chính là:

+ Tổng ñộng viên tài lực ñể bảo ñảm cung cấp cho nhu cầu kháng chiến: Chế ñộ ñóng góp năm 1950 chỉ ñộng viên từ 10% ñến 13% tổng số hoa lợi nông nghiệp toàn quốc Thuế nông nghiệp quy ñịnh trong ñiều lệ tạm thời nâng mức ñộng viên lên tới 20% Có như thế mới cung cấp ñược ñầy ñủ cho nhu cầu kháng chiến trong nhiệm vụ chuyển mạnh sang tổng phản công Qua tài liệu tính toán, tuy tỷ lệ ñộng viên cao hơn trước nhưng vẫn không quá khả năng ñóng góp của nhân dân + Góp phần thúc ñẩy phát triển sản xuất nông nghiệp, cải thiện dân sinh: Thuế chỉ ñánh theo mức hoa lợi, bình thường hàng năm Người có thu hoạch cao hơn do làm ăn chăm chỉ, có cải tiến kỹ thuật, có biện pháp thâm canh tăng năng suất, khai khẩn, mở mang diện tích hàng hóa không phải nộp thuế cao hơn

Những người không quan tâm ñến canh tác, bỏ ñất hoang, không chú ý chăm bón ruộng ñất, thu hoạch dưới mức bình thường vẫn phải chịu thuế theo mức bình thường

Trang 25

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

+ Thực hiện ñóng góp công bằng, dân chủ, công khai :

Thuế nông nghiệp áp dụng ñối với mọi người có thu hoạch hoa lợi nông nghiệp Người có thu nhập cao nộp thuế nhiều; có thu hoạch thấp nộp thuế ít, có thu hoạch quá

ít ñược miễn thuế Biểu thuế gồm có 40 mức từ 6% ñến 45% Một nhân khẩu nông nghiệp có thu hoạch từ 60 kg/ năm trở xuống ñược miễn thuế; từ 61 kg ñến 75 kg chịu thuế suất 6%, có 1796 kg trở lên nộp 45% Nông hộ có cùng thu hoạch nhưng gia ñình

có ñông nhân khẩu, thu hoạch bình quân nhân khẩu thấp ñược nộp thuế ít hơn hộ có ít nhân khẩu

ðể phù hợp với hoàn cảnh kháng chiến, thuế nông nghiệp thu ở vùng du kích nhẹ hơn vùng căn cứ; thuế vùng căn cứ lại nhẹ hơn vùng tự do ðể thể hiện chính sách dân tộc, thuế nông nghiệp ở miền núi nhẹ hơn miền xuôi, thuế nương rẫy nhẹ hơn thuế ñánh vào ruộng nước

Thuế còn phục vụ chính sách ruộng ñất của ðảng và Nhà nước là ñối với ñịa chủ ngồi không thu tô, thuế ñánh nặng hơn nông dân trực tiếp canh tác (thu hoạch 100 kg tính thành 125 kg ñể chịu thuế Tá ñiền bị bóc lột tô nên thu hoạch 100 kg, chỉ tính thuế trên 75 kg)

Thuế nông nghiệp còn ñược miễn giảm cho trường hợp bị thiên tai; thương binh, liệt sĩ, bộ ñội,… ñều ñược tính là nhân khẩu nông nghiệp ñể giảm thuế cho gia ñình ðến năm 1952, mức khởi ñiểm tính thuế nông nghiệp ñược ñiều chỉnh lên 71 kg

và hạ thuế suất xuống còn 5%; năm 1953 khởi ñiểm lại ñược ñiều chỉnh lên 81 kg Những thay ñổi ñó ñều nhằm giảm nhẹ ñóng góp cho nông dân nghèo

Từ chính sách ñộng viên theo tự nguyện chuyển sang hình thức ñóng thuế nông nghiệp bắt buộc theo mức nhất ñịnh, một số trường hợp phải nộp thuế cao hơn Do vậy, việc bồi dưỡng ñể cán bộ, ñảng viên thông suốt với chính sách của ðảng, Chính phủ rất khó khăn,…Việc làm cho các hộ nông dân hiểu ñược ý nghĩa cả chính sách và nghĩa vụ của mỗi người ñể nghiêm chỉnh chấp hành chính sách, làm ñầy ñủ nghĩa vụ nộp thuế lại càng khó khăn hơn

ðể khắc phục tình trạng trên, ðảng và Chính phủ ñã tập trung lực lượng cán bộ, ñảng viên tham gia nhiều ñợt tập huấn, bồi dưỡng quan ñiểm, quán triệt chủ trương chính sách về thuế nông nghiệp và coi ñây là một công việc trọng tâm mà mỗi tổ chức ðảng, chính quyền từng cấp phải tăng cường lãnh ñạo, chỉ ñạo ñảm bảo việc thu thuế ñúng chính sách, thực hiện ñầy ñủ nhiệm vụ kế hoạch ñược giao và từng bước phát huy tác dụng của chính sách khuyến khích, thúc ñẩy tăng gia sản xuất, thực hành tiết kiệm, Nhờ phát ñộng ñược tinh thần yêu nước của các từng lớp nhân dân, ñặc biệt là nông dân, trước sự mất còn của chính quyền cách mạng, của ñất nước, cán bộ, nhân dân ta ñã nhận lấy sự khó khăn, gian khổ ñể góp phần cứu nước, bảo ñảm hiệu quả cao của việc triển khai chính sách thuế nông nghiệp, giữ vai trò quan trọng nhất trong toàn

bộ chính sách tài chính lúc bấy giờ Trong số 7 loại thuế ñã ñược Nhà nước ban hành

Trang 26

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

trong giai ñoạn này thì thuế nông nghiệp giữ vai trò quan trọng Ngoài thuế nông nghiệp ra hệ thống thuế Nhà nước ta lúc bấy giờ còn có:

• Thuế công thương nghiệp

 Giai ñoạn từ năm 1954 ñến năm 1975

Sau chiến thắng ðiện biên phủ, Hiệp ñịnh Giơnevơ năm 1954 ñã kết thúc thắng lợi 9 năm kháng chiến của nhân dân ta chống thực dân xâm lược Pháp Nhưng ñất nước ta còn bị chia cắt: miền Bắc ñược giải phóng vẫn mang hậu quả nặng nề của chiến tranh tàn phá; miền Nam còn phải sống dưới ách ñô hộ tàn bạo của ñế quốc Mỹ xâm lược và bè lũ tay sai Nhân dân ta bước vào thời kỳ phải thực hiện ñồng thời hai nhiệm vụ chiến lược: vừa xây dựng CNXH ở miền Bắc, vừa ñấu tranh giải phóng miền Nam, thống nhất tổ quốc

• Hệ thống chính sách thuế ở miền Bắc Ðây là giai ñoạn mà nền tài chính ñứng trước nhiều thuận lợi và thử thách mới Một mặt, Việt Nam ñã ñánh ñuổi thực dân Pháp ra khỏi bờ cõi một cách vĩnh viễn, nhưng mặt khác, ñất nước lại bị chia cắt Sau hiệp ñịnh Giơnevơ Nhà nước ñã công bố

hệ thống thuế mới hoàn chỉnh và lần lượt ban hành áp dụng thống nhất trên toàn miền Bắc trên cơ sở sửa ñổi, bổ sung các chế ñộ thuế ñã ban hành từ năm 1951 ở vùng tự do

cũ ñể áp dụng thống nhất, hệ thống thuế mới gồm có thuế nông nghiệp thu bằng hiện vật ñược ban hành năm 1951

Trang 27

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

đến cuối năm 1955, Nhà nước ta thực hiện chủ trương cải cách ruộng ựất ựược triển khai rộng rãi và ựã hoàn thành ở một số nơi Tháng 3/1956, Nhà nước ựã sửa ựổi chắnh sách, xây dựng 2 biểu thuế nông nghiệp khác nhau cho vùng ựã cải cách ruộng ựất và chưa cải cách ruộng ựất theo hướng chiếu cố ựối với vùng ựã thực hiện cải cách ruộng ựất Nhà nước ựã sửa lại chắnh sách thuế nông nghiệp Biểu thuế mới chỉ gồm

27 bậc, với mức tắnh trừ cho mỗi nhân khẩu nông nghiệp là 60kg thóc và nộp từ 7% ựến 37% hoa lợi bình quân nhân khẩu (điều lệ số 715/TTg ngày 24/3/1956) đối với miền núi, biểu thuế gồm 10 bậc từ 15% ựến 35% hoa lợi ruộng ựất Riêng ựối với hoa lợi nương rẫy, áp dụng thuế suất 10% thu hoạch thực tế từng năm của nương rẫy, sau khi trừ cho mỗi nhân khẩu nông nghiệp 100kg thóc để khuyến khắch canh tác lâu năm trên một ựám nương rẫy, nếu canh tác năm thứ hai trên cùng nương rẫy, hoa lợi tắnh thuế là 80% hoa lợi thực tế; từ năm thứ ba trở ựi, chỉ tắnh trên 50% tổng hoa lợi thực tế (Nghị ựịnh số 1056/TTg ngày 22/9/1956)

Với ựặc ựiểm của một loại thuế thu bằng hiện vật, thuế nông nghiệp ựã phục vụ Nhà nước có một lượng lương thực quan trọng, góp phần ổn ựịnh lương thực, giá cả và ựời sống của nhân dân

để góp phần thúc ựẩy cải tạo xã hội chủ nghĩa (XHCN) ựối với nông nghiệp và phát triển sản xuất nông nghiệp, năm 1958, thuế nông nghiệp ựã ựược sửa ựổi, bổ sung với nội dung cơ bản là:

- Ổn ựịnh sản lượng dùng làm căn cứ tắnh thuế trong một thời gian đó là sản lượng ựạt ựược của năm 1958 mà không ựánh thuế theo sản lượng lương thực thực tế hàng năm nhằm khuyến khắch nông dân thực hiện thâm canh tăng năng suất;

- Miễn thuế cho ruộng ựất khai hoang, phục hóa; khuyến khắch mở rộng diện tắch canh tác;

- Miễn giảm thuế cho những ruộng ựất bị mất mùa theo những tỷ lệ thắch hợp;

- Hợp tác xã (HTX) sản xuất nông nghiệp trở thành ựơn vị nộp thuế chủ yếu và ựược ưu ựãi về thuế như: khống chế thuế suất tối ựa là 25% cho hộ xã viên HTX, các HTX Nhà nước ựược trắch 3% hoặc 5% trên số thuế phải nộp ựể bỏ vào quỹ tắch lũy của HTX

Sau đại hội đảng toàn quốc lần thứ 3 (1960) miền Bắc nước ta chuyển sang thời

kỳ lấy cơ sở vật chất kỹ thuật của CNXH làm nhiệm vụ trọng tâm đồng thời tiếp tục hoàn thành cải tạo XHCN, củng cố và hoàn thiện quan hệ sản xuất mới Tháng 12/1963 Chắnh phủ ựã chủ trương cho tiếp tục ổn ựịnh nghĩa vụ nộp thuế nông nghiệp (Thông tư số 120/TTg ngày 30/12/1963 của Thủ tướng Chắnh phủ), các HTX nông nghiệp và hộ cá thể (chưa vào HTX Nhà nước) ựược lấy sản lượng thường niên ruộng ựất ựã xác ựịnh từ năm 1958 và thuế suất năm 1962 làm cơ sở tắnh thuế từ năm 1962 ựến năm 1965 Việc ổn ựịnh nghĩa vụ thuế nông nghiệp như trên ựã làm cho nông dân phấn khởi hơn, yên tâm sản xuất, cố gắng tăng thêm diện tắch canh tác, tăng năng suất,

Trang 28

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

tăng sản lượng lương thực ñể xuất khẩu, từng bước nâng dần ñời sống, tạo ñược tích lũy, góp phần công nghiệp hóa ñất nước

Ngoài chính sách thuế nông nghiệp áp dụng ở trên, trong thời kỳ này Nhà nước

ta còn ban hành 12 thứ thuế thu bằng tiền khác là:

 Thuế xuất khẩu-Thuế nhập khẩu

ði ñôi với chủ trương khôi phục kinh tế, ðảng và Nhà nước ñã chủ trương củng

cố nền tài chính quốc gia, vạch rõ những nhiệm vụ tài chính thích hợp với những ñiều kiện kinh tế-xã hội và yêu cầu khôi phục kinh tế trong lúc này là:

Tăng thu ñúng chính sách, chế ñộ; triệt ñể khai thác các nguồn thu trong nước, ñộng viên ñúng mức khả năng ñóng góp của các tầng lớp nhân dân Thuế vẫn là nguồn thu quan trọng nhất, ñặc biệt là thuế thu từ công thương nghiệp; hạ dần mức ñộng viên ñối với thuế nông nghiệp Tăng cường các khoản thu từ xí nghiệp quốc doanh, sử dụng hợp lý các khoản viện trợ, tăng dần tỷ lệ thu trong nước

Trong thời kỳ cải tạo XHCN, thuế công thương nghiệp ñược sửa ñổi ñáng kể: từ một hệ thống thuế tương ñối ít chuyển sang một hệ thống với nhiều hình thức thuế khác nhau, áp dụng trên nhiều khâu của quá trình sản xuất, lưu thông hàng hóa, sử dụng nhiều loại thuế suất khác nhau có sự phân biệt giữa các ngành nghề sản xuất, kinh doanh, phân biệt kinh tế tập thể và tư nhân và nhiều biện pháp ưu ñãi khác nhau Trong thời kỳ thực hiện kế hoạch 5 năm lần thứ nhất, Nhà nước ñã áp dụng thí ñiểm chế ñộ thu mới gọi là thu quốc doanh Mức thu quốc doanh ñược xác ñịnh riêng cho từng mặt hàng tùy theo giá cả Nhà nước quy ñịnh và chỉ thu ở khâu sản xuất Năm

1962, Nhà nước còn ban hành chế ñộ trích nộp và sử dụng lợi nhuận của các xí nghiệp Theo chế ñộ này, lợi nhuận của các doanh nghiệp quốc doanh phải trích nộp một phần vào NSNN; phần lợi nhuận còn lại, doanh nghiệp ñược dùng ñể lập quỹ doanh nghiệp,

bổ sung kinh phí chuyên dùng, ñầu tư một phần vào việc mở rộng quy mô sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp và bổ sung vốn lưu ñộng Các doanh nghiệp công tư hợp doanh trong thời kỳ này ñược chuyển sang làm nghĩa vụ tài chính ñối với Nhà nước như các doanh nghiệp quốc doanh, có nghĩa là phải nộp thu quốc doanh và lợi nhuận

Trang 29

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

chứ không phải nộp thuế như trước Chế ựộ thuế này ựược duy trì ở miền Bắc cho ựến ngày giải phóng miền Nam, thống nhất ựất nước

Ớ Hệ thống chắnh sách thuế ở miền Nam

Từ năm 1950, sau khi thực dân xâm lược Pháp bị thất bại lớn, trong chiến dịch biên giới Việt-Trung, ựế quốc Mỹ ựã can thiệp vào chiến trường Việt Nam nhằm thực hiện âm mưu lâu dài nắm đông Dương của chúng thông qua chắnh sách viện trợ cho thực dân Pháp Năm 1955, lấy cớ không ký vào hiệp ựịnh Giơneve, ựế quốc Mỹ ựã thực hiện âm mưu xâm lược nước ta thay chân Pháp thông qua việc dùng Ngô đình Diệm, thay Bảo đại Một mặt chúng xúi giục ngụy quyền Sài Gòn chống lại hiệp thương tổng tuyển cử ựể hòa bình thống nhất ựất nước theo nội dung ký kết trong hiệp ựịnh Giơneve, mặt khác, chúng tăng cường viện trợ ựể xây dựng bộ máy ngụy quyền, ngụy quân, tạo cơ sở kinh tế ban ựầu cho bọn tay sai của chúng nhằm chống phá Cách mạng Việt Nam đó là chưa kể các khoản viện trợ thêm cho các kế hoạch di cư 2 triệu ựồng bào miền Bắc vào Nam trong năm 1955 là 55,8 triệu và năm 1956 là 37 triệu ựô

la ựể lập các khu Ộtrù mậtỢ, khu Ộdinh ựiềnỢ, các ấp Ộchiến lượcỢ, nhằm tách rời lực lượng cách mạng với quần chúng nhân dân và thêm nhân lực khai thác ựất ựai, trồng cây công nghiệp và các loại cây nông sản làm nguyên liệu cho các xắ nghiệp tại các ựô thị10

Trong thời gian chắnh quyền Ngụy quyền Sài Gòn tồn tại ựã ban hành và thực hiện nhiều sắc thuế như: thuế lợi tức pháp nhân, thuế lợi tức thể nhân, thuế lương bổng, thuế môn bài, thuế tiêu thụ ựặc biệt, thuế xe tự ựộng, thuế sản xuất, thuế hý cuộc, khiêu vũ, thuế trước bạ, thuế con niêm v.vẦThuế ựiền thổ gồm có thuế ựánh vào ruộng vườn, thuế thổ trạch thu cho ngân sách tỉnh, thành phố, thị xã, xã Năm

1972, ngụy quyền ựã ban hành thuế trị giá gia tăng chưa ựược triển khai thực hiện ựã

bị bãi bỏ do có nhiều nhược ựiểm và bị nhân dân kịch liệt phản ựối

Dẫu chắnh sách thuế ựã có nhiều lần sửa ựổi, bổ sung nhưng nhìn chung thuế chỉ chiếm tỷ lệ rất thấp trong tổng số thu của Ngân sách vì viện trợ Mỹ chiếm tỷ lệ cao một cách tuyệt ựối Cụ thể là trong năm 1968, thuế chỉ bảo ựảm 17,6% tổng số thu của ngân sách; năm 1969: 18,5%; 1970: 19,2%; 1971: 17,8%; 1972: 19% Thuế chiếm tỷ

lệ rất thấp trong tổng số thu do nguyên nhân chủ yếu là vì cuộc chiến tranh do Mỹ ngụy gây ra là phi nghĩa, chống lại nguyện vọng hòa bình, ựộc lập và thống nhất của nhân dân ta, không ựược nhân dân ựồng tình ủng hộ Mặt khác, nhờ có viện trợ lớn lao của Mỹ, Ngụy quyền Sài Gòn cũng không muốn ựộng viên thuế nhiều, dễ bị phản ứng gắt gao của nhân dân nên chắnh sách thuế cũng mang tắnh chất mị dân, ựặc biệt là không có va chạm với nông dân và tầng lớp tiểu thương buôn bán lặt vặt ở cả thành thị

và nông thôn Trong tổng số thu về thuế, thì thuế trực thu (gồm có thuế lợi tức pháp

10

Xem Website http://www.gdt.gov.vn

Trang 30

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

nhân, thuế lợi tức thể nhân, thuế lương bổng, thuế môn bài,…) chỉ chiếm khoảng 20% tổng số thuế hàng năm11

 Giai ñoạn từ năm 1975 ñến nay

• Thời kỳ 1975-1980 Sau thắng lợi to lớn của chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, miền Nam Việt Nam hoàn toàn giải phóng Năm 1976, ñất nước ta ñược thống nhất về mặt Nhà nước, cả hai miền Nam-Bắc cùng tiến lên xây dựng CNXH

Nhiệm vụ tài chính trong thời kỳ này là từng bước thực hiện quản lý tập trung, thống nhất các nguồn thu chi tài chính theo chính sách, chế ñộ, tiêu chuẩn, ñịnh mức chung của Nhà nước, bảo ñảm trách nhiệm và tính chủ ñộng của các ngành, các cấp, các ñơn vị cơ sở, cải tiến quan hệ giữa tài chính Nhà nước, tài chính xí nghiệp và tín dụng ngân hàng Nghị quyết ðại hội ðảng lần thứ IV (12/1976) ñã khẳng ñịnh:

“Trước mắt, tài chính phải xây dựng ñược một ngân sách tích cực nhằm bảo ñảm tốt

kế hoạch phát triển kinh tế và mở rộng các hoạt ñộng văn hóa, xã hội ở miền Nam, cần có chính sách thuế ñúng ñắn, công bằng, hợp lý, góp phần ñiều tiết các nguồn thu nhập Cùng với việc thống nhất thị trường, giá cả, phải thống nhất chế ñộ tài chính trong cả nước”

Sau thống nhất ñất nước, tình hình kinh tế-xã hội và các chính sách về thị trường, tiền tệ, giá cả còn nhiều khác biệt giữa hai miền Ở miền Bắc về cơ bản nền kinh tế ñã ñược cải tạo theo ñường lối xây dựng CNXH Ở miền Nam, hoạt ñộng công thương nghiệp tư bản tư nhân còn trong phạm vi rộng lớn Tư bản tư nhân trong các ngành dịch vụ, thương nghiệp ñang giữ vai trò quan trọng Do ñó, việc thống nhất chính sách thuế trong cả nước phải ñược tiến hành dần từng bước, gắn với công cuộc cải tạo XHCN và xây dựng CNXH với quá trình thống nhất các chính sách về giá cả, tiền tệ, thị trường

Trong thời kỳ này, miền Bắc vẫn tiếp tục thực hiện hệ thống pháp luật thuế ñã ban hành từ trước, có sửa ñổi cho phù hợp với tình hình mới Còn miền Nam thì có áp dụng một số loại thuế cũ của chính quyền Sài Gòn trên cơ sở xóa bỏ một số loại thuế phản tiến bộ và sửa ñổi bổ sung ñể thích ứng với ñiều kiện ñất nước thống nhất Trong

ñó ñáng chú ý là việc ñưa chính sách thuế nông nghiệp vào áp dụng ở miền Nam và có

sự sửa ñổi cho phù hợp Cụ thể ngày 25/9/1976, Hội ñồng Chính phủ ban hành ðiều lệ thuế nông nghiệp (sửa ñổi, bổ sung) ñể thi hành thống nhất tại các tỉnh miền Nam Cách tính thuế theo biểu lũy tiến giống như ðiều lệ thuế nông nghiệp ở miền Bắc, có

20 bậc thuế, thuế suất thấp nhất là 8% áp dụng cho các hộ nông dân có mức hoa lợi bình quân nhân khẩu 200 kg thóc, thuế suất cao nhất là 33% cho hộ có mức hoa lợi bình quân nhân khẩu từ 1.500 kg thóc trở lên Căn cứ tính thuế dựa vào sản lượng thường niên, tức là sản lượng ước ñịnh có thể thu hoạch ñược hàng năm trên từng khoảnh ruộng, nhằm khuyến khích thúc ñẩy sản xuất thâm canh tăng vụ, tăng năng

11

Xem Website http://www.gdt.gov.vn

Trang 31

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

suất cây trồng Sản lượng thường niên được giữ cố định đến năm 1980 Mức đĩng gĩp qua biểu thuế được điều chỉnh trên tinh thần chiếu cố hơn đối với hộ cĩ thu nhập thấp, phù hợp tình hình mới ở nơng thơn đang đẩy mạnh việc xĩa bỏ tàn tích phong kiến, đưa sản xuất nơng nghiệp lên sản xuất lớn XHCN ðiều lệ cịn quy định những biện pháp cụ thể nhằm khuyến khích phát triển đối với đất trồng màu, vùng trồng cây cơng nghiệp, vùng kinh tế mới, đối với vùng miền núi nĩi chung và đồng bào dân tộc nĩi riêng, định lại nội dung về cách tính nhân khẩu nơng nghiệp và chính sách miễn giảm thuế nơng nghiệp

Từ năm 1977, các tỉnh miền Nam đều đã triển khai thực hiện chính sách mới về thuế nơng nghiệp thống nhất cho tồn miền Các địa phương đã triển khai cơng tác lập

sổ thuế trên cơ sở kiểm kê, xác định lại diện tích chịu thuế và diện tích được miễn thuế, nên việc thu thuế đã bảo đảm được yêu cầu cơng bằng, hơp lý hơn ðồng thời, thơng qua việc tính thuế, các địa phương đã từng bước giải quyết tình hình sử dụng, lấn chiếm trái phép ruộng đất của HTX, gĩp phần tăng cường quản lý ruộng đất và bảo

vệ kinh tế tập thể Việc phát hiện và đưa thêm một số lớn diện tích đang canh tác vào diện tính thuế theo đúng chính sách và ước tính sản lượng thường niên tính thuế hợp lý

đã làm cho nội bộ nơng dân đồn kết, phấn khởi sản xuất, khơng cịn suy bì, tị nạnh lẫn nhau trong việc thực hiện nghĩa vụ đĩng thuế nơng nghiệp

• Thời kỳ 1981-1985 Bước sang những năm đầu thập kỷ 80, các mặt mất cân đối trong nền kinh tế chưa được khắc phục Cơng tác cải tạo XHCN cĩ nơi, cĩ lúc bị buơng lỏng; thị trường

tự do phát triển mạnh theo hướng tự phát, tiêu cực, ảnh hưởng xấu đến nền kinh tế, xã hội và đời sống nhân dân

Báo cáo Chính trị tại ðại hội ðảng tồn quốc lần thứ V (3/1982) đã nhấn mạnh: Phân phối lưu thơng phải tham gia đắc lực vào cuộc đấu tranh giữa hai con đường, mở rộng trận địa của CNXH, đẩy lùi trận địa tự phát tư bản chủ nghĩa, điều tiết bằng được thu nhập của các tầng lớp dân cư, cơng bằng, hợp lý, tăng cường cải tạo và quản lý thị trường Nghị quyết ðại hội đã đề ra yêu cầu: “Tăng cường và củng cố tài chính Nhà nước, khẩn trương xây dựng chính sách tài chính quốc gia tích cực, thích hợp cho chặng đường hiện nay ðộng viên cao độ mọi nguồn vốn vào tay Nhà nước, kể cả hiện vật và tài chính bằng thu quốc doanh, trích nộp lãi và các loại thuế, bảo đảm thu đủ thuế nơng nghiệp và thuế cơng thương nghiệp Các ngành, các cấp phải xem việc động viên tài chính cho Nhà nước là nhiệm vụ cực kỳ quan trọng” Tiếp đĩ, Nghị quyết số 14-NQ/TƯ ngày 13-9-1983 của Bộ Chính trị cũng đã đề ra yêu cầu khẩn cấp hồn thành về cơ bản cơng cuộc cải tạo cơng thương nghiệp tư bản tư doanh, đưa các hộ sản xuất, kinh doanh nhỏ trong cả nước vào làm ăn tập thể; chậm nhất đến cuối năm 1985

cơ bản phải xong

ðể thực hiện đường lối trên, hệ thống chính sách thuế cơng thương nghiệp phải được cải tiến theo hướng phục vụ cĩ hiệu quả cuộc đấu tranh “ai thắng ai” giữa hai

Trang 32

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

con ñường XHCN và tư bản chủ nghĩa ñang diễn ra gay gắt, quyết liệt, ngăn chặn và trừng trị nghiêm khắc hiện tượng gây rối ñời sống kinh tế-xã hội, ñẩy lùi các nhân tố phi XHCN, tạo ñược nguồn thu quan trọng cho NSNN Thuế phải bảo ñảm ñược yêu cầu ñộng viên ñóng góp công bằng, hợp lý giữa các tầng lớp dân cư, các cơ sở kinh doanh trong khu vực tập thể, tư nhân, cá thể; ñiều tiết các thu nhập cao và quá cao không hợp lý, góp phần thực hiện tích lũy từ nội bộ nền kinh tế quốc dân, cân ñối thu chi ngân sách, cân ñối tiền hàng, ổn ñịnh vật giá, tiền tệ; thực hiện kiểm kê, kiểm soát, quản lý, hướng dẫn mọi hoạt ñộng sản xuất, phát triển theo hướng có lợi cho nền kinh

tế, tích cực góp phần thúc ñẩy cải tạo, củng cố và hoàn thiện các quan hệ sản xuất XHCN, tăng cường chống ñầu cơ tích trữ, buôn bán trái phép, trốn lậu thuế, Về cơ bản, thuế phải tích cực góp phần thực hiện chủ trương mở rộng và củng cố vai trò chỉ ñạo của kinh tế quốc doanh, thúc ñẩy hợp tác hóa, xóa bỏ kinh tế tư nhân, chuyển hoạt ñộng kinh doanh buôn bán của hộ cá thể sang sản xuất,

Trong thời kỳ này, cả nước áp dụng hệ thống pháp luật thuế thống nhất, nhưng hệ thống pháp luật thuế hiện hành này ngày càng tỏ ra có nhiều nhược ñiểm, cản trở sự phát triển các yếu tố của nền kinh tế thị trường ñang nảy sinh với các ñặc ñiểm:

 Sự phân biệt ñối xử giữa các thành phần kinh tế Doanh nghiệp quốc doanh thì thực hiện chế ñộ thu quốc doanh, thu trích nộp lợi nhuận cùng với các hình thức thu khác, trong khi các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác lại chịu sự tác ñộng của thuế

 Thu quốc doanh ñã bộc lộ nhiều nhược ñiểm căn bản Về thực chất, ñây là một loại thuế ña thuế suất với hàng trăm thuế suất; ñiều này ñặc biệt gây khó khăn cho việc quản lý và hành thu

• Giai ñoạn 1986 ñến nay Trải qua những năm tháng lịch sử, từ sau ngày Cách mạng tháng 8 thành công,

hệ thống thuế và thu tài chính ñã bảo ñảm nguồn thu quan trọng của NSNN, phục vụ cho việc thực hiện những nhiệm vụ chính trị-kinh tế-xã hội và quốc phòng của ñất nước Mặt khác, các chính sách thuế cũng ñã góp phần thúc ñẩy sản xuất nông nghiệp, công nghiệp, thương nghiệp phát triển, nhất là kinh tế quốc doanh và kinh tế tập thể, góp phần xóa bỏ quan hệ bóc lột phong kiến, cải tạo XHCN ñối với nông nghiệp, công thương nghiệp tư bản tư doanh và cá thể Nhưng trước nhu cầu ñổi mới của ñất nước,

hệ thống chính sách thuế và thu trong khu vực quốc doanh ñã bộc lộ nhiều nhược ñiểm, chủ yếu là:

 Chưa thể hiện ñược sự bình ñẳng về ñộng viên ñóng góp giữa các thành phần kinh tế, chưa khuyến khích các thành phần kinh tế tập thể, cá thể và tư nhân bỏ vốn ñầu tư, phát triển sản xuất, kinh doanh, mở rộng kinh tế hàng hóa Việc áp dụng chính sách thu riêng biệt ñối với kinh tế quốc doanh, tách ra khỏi hệ thống chính sách thuế,

về thực chất ñã làm yếu ñòn bẩy kinh tế của công tác quản lý tài chính, nhất là trong giai ñoạn thương mại hóa vật tư, tiền tệ hóa tiền lương,

Trang 33

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

 Chưa bao quát hết các nguồn thu có thể ñộng viên cho NSNN, ñặc biệt là các nguồn thu phát sinh qua cơ chế thị trường (chuyển nhượng cổ phần, cổ phiếu, cho vay, nhượng bán tài sản, nhà ñất,…), có nhiều mặt trùng lắp, gây thắc mắc, suy bì không cần thiết giữa các ñơn vị, giữa những người nộp thuế;

 Chính sách mang tính chắp vá Các văn bản pháp quy về các chính sách thuế và thu chỉ ñược ban hành bằng hình thức dưới luật, chưa bảo ñảm ñầy ñủ tính pháp lý theo ñúng Hiến pháp quy ñịnh, chưa ngang tầm quan trọng của công tác ñộng viên về thuế; hiệu lực thi hành còn bị hạn chế;

 Tổ chức quản lý thuế từ Trung ương ñến ñịa phương (cả bộ máy và con người) chưa thành một hệ thống tập trung, chặt chẽ; có phần việc dẫm chân lên nhau,

có trận ñịa lại bị buông lỏng quản lý Trình ñộ nghiệp vụ, quản lý thu thuế của cán bộ thuế còn yếu kém, chưa ñủ sức hoàn thành nhiệm vụ ñược giao theo yêu cầu phát triển

ña dạng, phức tạp của tình hình mới trong cơ chế thị trường

Sở dĩ có tình trạng như trên chủ yếu là do nhận thức tư tưởng chưa coi thuế thực

sự là một trong những ñòn bẩy kinh tế quan trọng mà Nhà nước XHCN nhất thiết phải nắm và sử dụng tốt trong giai ñoạn quá ñộ tiến lên xây dựng CNXH ở nước ta Quan ñiểm chung là muốn thay thế các hình thức thuế thu vào NSNN bằng các chế ñộ thu ñối với kinh tế quốc doanh ñược xây dựng trên cơ chế tập trung bao cấp và tư tưởng nóng vội, muốn nhanh chóng thủ tiêu kinh tế tư bản tư nhân

Trong cán bộ và nhân dân, còn nhiều người chưa hiểu rõ sự cần thiết phải có thuế ñể ñáp ứng mọi nhu cầu chi tiêu của bộ máy Nhà nước Do ñó, chưa hăng hái tự giác làm ñầy ñủ nghĩa vụ công dân về kê khai, nộp thuế ñúng, ñủ, kịp thời theo pháp luật về thuế hoặc chưa tích cực ñấu tranh chống các hành vi trốn lậu thuế Công tác tuyên truyền, giải thích về vai trò của thuế, nghĩa vụ ñóng góp thuế của công dân cũng chưa ñược quan tâm thực hiện sâu rộng, thường xuyên, ñể từng bước nâng dần trình ñộ dân trí về thuế, gắn với việc xử lý nghiêm minh, từng bước ñưa việc thực hiện các nguyên tắc, chế ñộ về thuế vào nề nếp, kỷ cương

Chế ñộ quản lý, thu thuế còn bị buông lỏng, dẫn ñến phát triển tình trạng tùy tiện trong hiệp thương mức doanh thu, thuế khoán; gây thất thu thuế và nợ ñọng, dây dưa tiền thuế phổ biến, nghiêm trọng trong mọi thứ thuế, mọi thành phần kinh tế, ở tất cả các ñịa phương mà không bị xử lý ñầy ñủ theo quy ñịnh của pháp luật

Từ thực trạng trên ngay từ ðại hội ðảng toàn quốc lần thứ VI ñã có phương hướng ñổi mới cơ cấu và cơ chế quản lý kinh tế là xóa bỏ tập trung quan liêu, bao cấp, xây dựng cơ chế quản lý mới phù hợp quy luật khách quan của nền sản xuất hàng hóa gồm nhiều thành phần kinh tế Phải “xây dựng và hoàn chỉnh từng bước chính sách tài chính quốc gia theo hướng: bảo ñảm quyền tự chủ tài chính của các cơ sở kinh tế, kích thích mạnh mẽ kinh tế quốc doanh và các thành phần kinh tế khác phát triển sản xuất với năng suất, chất lượng, hiệu quả cao, tạo ra nguồn tích lũy ngày càng tăng cho từng ñơn vị và cho Nhà nước; ñiều tiết và phân phối hợp lý các nguồn thu nhập nhằm

Trang 34

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

thực hiện công bằng xã hội, bảo ñảm quan hệ tích lũy và tiêu dùng phù hợp với các mục tiêu kinh tế-xã hội ðổi mới các chính sách, chế ñộ tài chính, trước hết là chính sách thuế Chấm dứt chế ñộ bao cấp qua ngân sách như bù lỗ tràn lan, cấp phát vốn

mà không ràng buộc trách nhiệm vật chất với hiệu quả sử dụng vốn,…” 12

Yêu cầu ñổi mới nói trên ñòi hỏi công tác thuế phải ñược cải tiến một cách toàn diện, ñồng bộ, cả về quan ñiểm tư tưởng chính sách và tổ chức thực hiện Từ ñó, góp phần thiết thực vào việc thúc ñẩy kinh tế-xã hội phát triển mạnh mẽ, mở rộng quan hệ kinh tế ñối ngoại nhằm giải quyết thắng lợi những nhiệm vụ ñề ra trong tình hình mới

vì sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện ñại hóa ñất nước Thuế phải phục vụ có hiệu quả chính sách phân phối và phân phối lại thu nhập quốc dân, tích cực góp phần chống lạm phát, chuẩn bị và tạo thêm tiền ñề thuận lợi cho các bước phát triển tiếp theo

Từ những nhược ñiểm, hạn chế trong chính sách thuế của nước ta trong giai ñoạn trước và trong thời kỳ này, cùng với những nguyên nhân cũng như những yêu cầu của tình hình mới, việc ñổi mới hệ thống chính sách thuế của nước ta trong thời kỳ này là yêu cầu cấp thiết Chính vì vậy, Nhà nước ta ñã quyết ñịnh thực hiện chương trình cải cách hệ thống chính sách thuế và chia làm ba bước



 Chương trình cải cách thuế bước I

Từ ñặc ñiểm tình hình kinh tế xã hội ở nước ta và qua phân tích, vận dụng có chọn lọc kinh nghiệm trong chính sách thuế trên thế giới, ngày 28/12/1989, Quốc hội khóa VIII, kỳ họp thứ 6 ñã có Nghị quyết giao cho Hội ñồng Nhà nước nghiên cứu xem xét, ban hành hệ thống thuế mới ở nước ta bao gồm 9 loại thuế:

 Cải cách thuế bước II Thực hiện chương trình cải cách thuế bước II ñã ñề ra, Nhà nước ta ñã ban hành mới và sửa ñổi, bổ sung một số sắc thuế trên cơ sở các sắc thuế ñã ñược ban hành theo chương trình cải cách thuế bước I như sau:

12

Xem website của Tổng cục thuế Việt Nam http://www.gdt.gov.vn/

Trang 35

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Nghị quyết Quốc hội khóa IX, kỳ họp thứ 11 (ngày 10/5/1997) ñã ban hành Luật thuế giá trị gia tăng (GTGT) và Luật thuế thu nhập doanh nghiệp (TNDN) có hiệu lực thi hành từ 1/1/1999 ðây là 2 luật thuế cơ bản quan trọng ñiển hình cho 2 loại thuế: gián thu (thuế GTGT) và thuế trực thu (Thuế TNDN) Phạm vi ñiều chỉnh của 2 sắc thuế này rộng, tác ñộng ñến nhiều mặt kinh tế xã hội ðây có thể coi là bước ñột phá quan trọng nhất của công cuộc cải cách thuế bước II

Theo Nghị quyết Quốc hội khóa X, kỳ họp thứ 3, ngày 20/5/1998 (có hiệu lực từ 1/1/1999) ñã tiến hành sửa ñổi, bổ sung về thuế xuất nhập khẩu và thuế tiêu thụ ñặc biệt

Ngày 16/4/1998, Uỷ ban Thường vụ Quốc hội ñã ban hành Pháp lệnh thuế tài nguyên (sửa ñổi) thay thế Pháp lệnh thuế tài nguyên ban hành ngày 30/3/1990 (có hiệu lực thi hành từ ngày 1/6/1990)

Ngày 4/1/2000, Chủ tịch nước ñã ban hành Lệnh số 03 công bố Luật sửa ñổi, bổ sung một số ðiều của Luật thuế chuyển quyền sử dụng ñất ñược Quốc hội khóa X, kỳ họp thứ 6 thông qua ngày 21/12/1999

Ngoài ra cũng nằm trong chương trình cải cách thuế bước II Nhà nước ta ñã tiến hành tham gia Hiệp ñịnh tránh ñánh thuế hai lần và cam kết về giảm thuế nhập khẩu theo Hiệp ñịnh về chương trình ưu ñãi về thuế quan có hiệu lực chung (CEPT) ñể thực hiện khu vực mậu dịch tự do ASEAN (AFTA), và một số thỏa thuận quốc tế khác về thuế

Bên cạnh ñó, Nhà nước ta cũng ban hành một số chính sách về phí và lệ phí nhằm bổ sung NSNN13

 Cải cách thuế bước III Công cuộc cải cách thuế bước III ñược thực hiện trên tin thần Quyết ñịnh 201/2004/Qð-TTg ngày 06 tháng 12 năm 2004 về việc phê duyệt chương trình cải cách hệ thống thuế ñến năm 2010 Theo ñó, ñến năm 2010 sẽ ban hành mới các sắc thuế chống bán phá giá, thuế chống trợ cấp, thuế chống phân biệt ñối xử; thuế bảo vệ môi trường; thuế tài sản; thuế sử dụng ñất; ñồng thời sẽ sửa ñổi, bổ sung ñồng bộ các sắc thuế hiện hành; tăng dần tỷ trọng các nguồn thu trong nước cho phù hợp với tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế, mở rộng diện thuế trực thu và tăng tỷ trọng thuế trực thu trong tổng số thu về thuế Cụ thể, nội dung và lộ trình cải cách một số Sắc lệnh thuế chủ yếu như sau:

- Thuế GTGT: ðến năm 2008 sẽ hoàn thiện theo hướng giảm bớt số lượng nhóm hàng hóa, dịch vụ không chịu thuế tạo ñiều kiện cho việc tính thuế, khấu trừ thuế ñược liên hoàn giữa các khâu trong quá trình SXKD; áp dụng mức thuế suất ñể ñảm bảo công bằng về nghĩa vụ thuế và ñơn giản trong việc tính thuế GTGT của hàng hóa, dịch

Trang 36

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

- Thuế TTðB: ðến năm 2008 sẽ hoàn thiện theo hướng mở rộng ñối tượng chịu thuế TTðB, ñiều chỉnh thuế suất thuế TTðB cho phù hợp với mục tiêu ñiều tiết thu nhập và hướng dẫn tiêu dùng

- Thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu: Trong năm 2005 sẽ trình Quốc hội hoàn thiện hai luật thuế này theo hướng khuyến khích tối ña xuất khẩu

- Thuế chống bán phá giá, thuế chống trợ cấp, thuế chống phân biệt ñối xử dự kiến sẽ trình Quốc hội ban hành vào cuối năm 2005

- Thuế TNDN: ðến năm 2008 sẽ hoàn thiện theo hướng giảm mức thuế suất, giảm diện miễn, giảm thuế; thống nhất mức thuế suất và ưu ñãi thuế giữa các thành phần kinh tế ñể khuyến khích ñầu tư và ñảm bảo bình ñẳng trong cạnh tranh

- Thuế thu nhập cá nhân: ðến năm 2007 sẽ trình Quốc hội ban hành, thay thế cho Pháp lệnh thuế Thu nhập ñối với người có thu nhập cao hiện hành

- Thuế sử dụng ñất, thuế tài nguyên: ðến năm 2008 sẽ hoàn thiện theo hướng mở rộng ñối tượng chịu thuế và ñối tượng nộp thuế

- Thuế bảo vệ môi trường: ðến năm 2008 sẽ trình Quốc hội ban hành, theo hướng ñối tượng chịu thuế là các sản phẩm hàng hóa, dịch vụ gây ô nhiễm môi trường

- Thuế tài sản: ðến năm 2008 sẽ trình Quốc hội ban hành, theo hướng mở rộng ñối tượng tài sản chịu thuế ñể ñảm bảo công bằng giữa các tổ chức, cá nhân có quyền

sở hữu, sử dụng tài sản

- Về phí, lệ phí: ðược sắp xếp lại theo hướng tiếp tục rà soát, bãi bỏ hoặc sửa ñổi các loại phí, lệ phí không hợp lý, gây phiền hà cho sản xuất và ñời sống

3 Phân loại thuế và các yếu tố cấu thành một luật thuế

Tùy theo ñiều kiện và hoàn cảnh cụ thể của mỗi nước mà hệ thống pháp luật thuế bao gồm nhiều loại thuế khác nhau Ðể ñịnh hướng xây dựng và quản lý hệ thống thuế, chúng ta tiến hành sắp xếp các Luật thuế có cùng tính chất thành những nhóm khác nhau, gọi là phân loại thuế

Phân loại thuế là việc sắp xếp các loại thuế trong hệ thống pháp luật thuế thành những nhóm khác nhau theo những tiêu thức nhất ñịnh

3.1 Căn cứ ñể phân loại thuế

Tùy thuộc vào mục tiêu, yêu cầu của từng giai ñoạn phát triển kinh tế-xã hội mà

cơ cấu và nội dung các Luật thuế có khác nhau Cũng tùy thuộc vào cơ sở, mục ñích phân ñịnh, thông thường thuế ñược phân loại theo các tiêu thức sau:

 Căn cứ vào tính chất của nguồn tài chính ñộng viên vào NSNN, thuế ñược phân làm 2 loại: thuế trực thu và thuế gián thu

• Thuế gián thu: là loại thuế mà Nhà nước sử dụng nhằm ñộng viên một phần thu nhập của người tiêu dùng hàng hóa, sử dụng dịch vụ thông qua việc thu thuế ñối với người sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ Tính chất gián thu thể hiện ở chỗ người nộp thuế và người chịu thuế không ñồng nhất với nhau Thuế gián thu là

Trang 37

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

một bộ phận cấu thành trong giá cả hàng hóa, dịch vụ do chủ thể hoạt ñộng sản xuất, kinh doanh nộp cho Nhà nước nhưng người tiêu dùng lại là người phải chịu thuế

Ở nước ta thuộc loại thuế này bao gồm: Thuế giá trị gia tăng, thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu, thuế tiêu thụ ñặc biệt,

• Thuế trực thu: là loại thuế mà Nhà nước thu trực tiếp vào phần thu nhập của các pháp nhân hoặc thể nhân Tính chất trực thu thể hiện ở chỗ người nộp thuế theo quy ñịnh của pháp luật ñồng thời là người chịu thuế Thuế trực thu trực tiếp ñộng viên, ñiều tiết thu nhập của người chịu thuế

Ở nước ta thuộc loại thuế này gồm: thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế thu nhập ñối với người có thu nhập cao, thuế chuyển quyền sử dụng ñất, Thuế SDðNN,

Sự phân loại thuế thành thuế trực thu và thuế gián thu có ý nghĩa quan trọng trong việc xây dựng chính sách pháp luật thuế

 Căn cứ vào ñối tượng ñánh thuế

Theo cách phân loại này thuế ñược chia thành:

• Thuế ñánh vào hoạt ñộng sản xuất kinh doanh, dịch vụ như thuế giá trị gia tăng

• Thuế ñánh vào sản phẩm hàng hóa như thuế xuất nhập khẩu, thuế tiêu thụ ñặc biệt,

• Thuế ñánh vào thu nhập như thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế thu nhập ñối với người có thu nhập cao

• Thuế ñánh vào tài sản như thuế nhà ñất

• Thuế ñánh vào việc khai thác hoặc sử dụng một số tài sản quốc gia như: thuế tài nguyên, thuế sử dụng ñất, sử dụng vốn của NSNN

• Thuế khác và lệ phí, phí

Các loại thuế trên ñược áp dụng cho nhiều ñối tượng khác nhau ñể vừa phát huy tác dụng riêng của từng loại thuế, vừa hổ trợ, bổ sung cho nhau nhằm thực hiện một cách tổng hợp các mục tiêu và vai trò của hệ thống pháp luật thuế

3.2 Các yếu tố cấu thành một luật thuế

Luật thuế do Quốc hội ban hành, quy ñịnh, sửa ñổi hoặc bãi bỏ Xem xét cấu tạo một Luật thuế là xem xét sự sắp xếp, bố trí các quy phạm pháp luật theo các nội dung ñiều chỉnh Ở nước ta, các Pháp lệnh, Nghị quyết do Uỷ ban Thường vụ Quốc hội ban hành chứa ñựng các quy phạm pháp luật thuế, thực hiện chức năng ñiều chỉnh của Luật thuế nên cũng có cấu tạo tương tự Luật thuế

Thông thường, Luật thuế có cấu tạo gồm các bộ phận chủ yếu sau: tên gọi; những quy ñịnh chung; căn cứ tính thuế; ñối tượng nộp thuế; chế ñộ kê khai, nộp thuế, thu thuế; chế ñộ miễn, giảm thuế; nghĩa vụ và trách nhiệm của ñối tượng nộp thuế; chế ñộ

xử lý vi phạm; khen thưởng và giải quyết khiếu nại về thuế

Trang 38

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

 Tên gọi của Luật thuế

Tên Luật thuế thường ñược xác ñịnh trên cơ sở tên gọi loại thuế ñược quy ñịnh Tên gọi của một Luật thuế ñược xác ñịnh theo ñối tượng tính thuế hoặc nội dung và tính chất của các hoạt ñộng làm phát sinh ñiều kiện pháp lý ñể áp dụng

 Những quy ñịnh chung

Phần quy ñịnh chung trong Luật thuế bao gồm các quy ñịnh về nguyên tắc áp dụng và phạm vi áp dụng của Luật thuế như quy ñịnh ñối tượng nộp thuế, ñối tượng không thuộc diện chịu thuế, nguyên tắc về việc thực hiện nghĩa vụ nộp thuế của ñối tượng nộp thuế, trách nhiệm, quyền hạn của cơ quan thu thuế

Ðối tượng nộp thuế là các pháp nhân và thể nhân có nghĩa vụ phải nộp thuế cho Nhà nước khi có các ñiều kiện ñược dự liệu trong Luật thuế

Ðối tượng không thuộc diện chịu thuế là trường hợp các thể nhân và pháp nhân

có các hoạt ñộng tương tự các ñiều kiện ñược dự liệu nhưng Luật thuế quy ñịnh không thuộc phạm vi ñiều chỉnh thì các hoạt ñộng ñó không thuộc diện chịu thuế theo quy ñịnh trong Luật thuế

Nguyên tắc thu, nộp thuế ñược quy ñịnh trong Luật thuế thể hiện một cách tổng quát quyền và nghĩa vụ của ñối tượng nộp thuế; trách nhiệm, quyền hạn của cơ quan thu thuế

 Căn cứ tính thuế

Trong các Luật thuế ñều có các quy phạm quy ñịnh thuế ñược tính dựa trên căn

cứ nào Tùy thuộc nội dung, tính chất của từng loại thuế mà các căn cứ tính thuế ñược quy ñịnh cụ thể Các căn cứ tính thuế bao gồm các yếu tố cơ bản là ñối tượng tính thuế

và thuế suất Ngoài ra trong một số loại thuế, căn cứ tính thuế còn ñược quy ñịnh bao gồm một số yếu tố khác như số lượng hàng hóa, giá tính thuế,

• Ðối tượng tính thuế

Là căn cứ quan trọng nhất ñể tính thuế, phản ánh nội dung kinh tế-xã hội, nguồn gốc của bộ phận của cải ñược tập trung vào quỹ NSNN, thể hiện tính chất ñộc lập của một loại thuế trong hệ thống pháp luật thuế Do ñó, các Luật thuế quy ñịnh ñối tượng tính thuế của mỗi loại thuế có tính ñộc lập Chẳng hạn, ñối tượng của thuế thu nhập doanh nghiệp là thu nhập chịu thuế,

 Biểu thuế thông thường bao gồm các mức thuế suất nhưng thuế suất áp dụng ổn ñịnh và thống nhất cho toàn bộ ñối tượng tính thuế

Trang 39

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

 Biểu thuế lũy tiến bao gồm các mức thuế suất nhưng thuế suất áp dụng càng cao theo quy mô của ñối tượng tính thuế Biểu thuế lũy tiến có hai hình thức: biễu thuế lũy tiến toàn phần và biểu thuế lũy tiến từng phần

+ Biểu thuế lũy tiến toàn phần bao gồm các mức thuế suất nhưng thuế suất áp dụng thay ñổi theo mức cao hơn ñối với toàn bộ ñối tượng tính thuế nếu ñối tượng tính thuế thuộc bậc quy ñịnh Hay nói cách khác thuế ñược tính chung trên toàn bộ ñối tượng tính thuế theo thuế suất tương ứng

+ Biểu thuế lũy tiến từng phần bao gồm các mức thuế suất nhưng thuế suất ñược

áp dụng thay ñổi theo mức cao hơn ñối với từng phần của ñối tượng tính thuế nếu ñối tượng tính thuế thuộc bậc quy ñịnh

 Biểu thuế lũy thoái bao gồm các mức thuế suất nhưng thuế suất áp dụng giảm dần tương ứng với sự tăng lên của ñối tượng tính thuế ở các bậc Hiện nay pháp luật thuế Việt Nam cũng như phổ biến ở nhiều nước trên thế giới hạn chế áp dụng loại thuế lũy thoái Việc áp dụng biểu thuế lũy thoái trong thu thuế mang tính cá biệt ở một số nước

Trong công tác hoạt ñộng xây dựng pháp luật, việc quy ñịnh các mức thuế suất cũng như hình thức biểu thuế thể hiện thái ñộ của Nhà nước trong việc ñộng viên nguồn tài chính vào NSNN và thực hiện các chính sách kinh tế-xã hội

 Chế ñộ kê khai, nộp thuế, thu thuế

• Chế ñộ kê khai thuế quy ñịnh trong Luật thuế thể hiện các quyền và nghĩa vụ của ñối tượng nộp thuế trong việc chấp hành sổ sách kế toán, hóa ñơn chứng

từ và cung cấp tài liệu, sổ sách kế toán, chứng từ hóa ñơn liên quan ñến việc tính và thu thuế Tùy thuộc vào yêu cầu của việc tính thuế ñối với từng loại thuế mà Luật thuế

và các văn bản pháp luật thuế có liên quan quy ñịnh nội dung pháp lý về nghĩa vụ kê khai của ñối tượng nộp thuế

• Chế ñộ thu, nộp thuế bao gồm các quy ñịnh về quyền, nghĩa vụ của ñối tượng nộp thuế và cơ quan Nhà nước có thẩm quyền trong công tác thu nộp thuế và phương thức thu nộp thuế

Hành vi hoàn thành nghĩa vụ nộp thuế của ñối tượng nộp thuế ñược thể hiện ở việc nộp ñủ và ñúng thời hạn số thuế phải nộp Thời hạn nộp thuế quy ñịnh trong các Luật thuế và các văn bản pháp luật thuế ñược xác ñịnh phù hợp với nội dung, tính chất của từng loại thuế

• Thu thuế là hoạt ñộng của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền Trong Luật thuế có các quy ñịnh về trách nhiệm, quyền hạn của các cơ quan nước Nhà nước trong việc thực hiện hoạt ñộng thu thuế như cơ quan thuế, cơ quan hải quan, kho bạc Nhà nước Ngoài ra, trong các Luật thuế còn quy ñịnh trách nhiệm, quyền hạn của các cơ quan hành chính Nhà nước các cấp, cơ quan Nhà nước có liên quan trong quá trình thực hiện việc thu thuế hoặc trách nhiệm, quyền hạn của các tổ chức và cá nhân thực hiện ủy nhiệm việc thu thuế

Trang 40

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

 Chế ñộ miễn, giảm thuế

Miễn giảm thuế là yếu tố ngoại lệ ñược quy ñịnh trong các Luật thuế Chế ñộ giảm thuế, miễn thuế ñược áp dụng ñối với các pháp nhân và thể nhân là ñối tượng nộp thuế nhưng có các dấu hiệu và sự kiện ñược dự liệu trong Luật thuế thì ñược giảm một phần số thuế phải nộp hoặc ñược miễn nộp thuế theo thời hạn do từng Luật thuế quy ñịnh

Chế ñộ giảm, miễn thuế thường ñược quy ñịnh thành một chương riêng trong Luật thuế nhằm thực hiện chính sách kinh tế-xã hội của Nhà nước

 Chế ñộ xử lý vi phạm và khen thưởng

Ðể ñảm bảo cho pháp luật thuế ñược thực hiện một cách triệt ñể, tập trung ñúng,

ñủ, kịp thời nguồn thu từ thuế vào NSNN, các Luật thuế ñều có quy ñịnh các biện pháp chế tài của Nhà nước ñối với các thể nhân và pháp nhân vi phạm Luật thuế, khen thưởng ñối với các thể nhân, pháp nhân hoàn thành tốt nhiệm vụ thu thuế

Các biện pháp chế tài ñược áp dụng ñể ñảm bảo sự tuân thủ Luật thuế bao gồm các biện pháp cưỡng chế hành chính và cưỡng chế tư pháp

Mỗi Luật thuế sẽ quy ñịnh cụ thể cấp có thẩm quyền áp dụng các biện pháp cưỡng chế hành chính, giải quyết các khiếu nại, tố cáo trong quá trình áp dụng Luật thuế

Tóm lại, trong chương này người viết ñã tìm hiểu về cơ sở lý luận cho sự ra ñời

và tồn tại của thuế nói chung như là một công cụ giúp Nhà nước ñiều tiết vĩ mô nền kinh tế Như là việc tìm hiểu về vai trò, chức năng của thuế như thế nào trong nền kinh

tế thị trường Phần trình bày về sự phát triển của chế ñịnh thuế trong lịch sử Nhà nước

và Pháp luật Việt Nam nhằm giúp người ñọc có ñược thái ñộ khách quan hơn khi ñưa

ra những nhận ñịnh về sự hình thành và phát triển của chế ñịnh thuế ở nước ta Nhưng trong phần này nhằm phục vụ cho việc nghiên cứu ñề tài Thuế SDðNN về sau, người viết có phần ñi sâu nghiên về những chính sách thuế trong nông nghiệp nhiều hơn so với những thứ thuế khác, nhằm giúp cho việc nghiên cứu ñề tài cũng như ñưa ra những nhận ñịnh, phân tích về sau ñược khách quan hơn Còn phần phân loại và yếu tố cấu thành một Luật thuế có ý nghĩa làm sáng tỏ hơn những ñặc ñiểm và chức năng riêng của từng thứ thuế từ ñó có cơ sở ñể chúng ta “gộp” những thứ thuế khác nhau thành cùng “loại” dễ dàng hơn cho việc quản lý của Nhà nước Tựu chung lại, với những gì

ñã trình bày, phân tích trong chương 1 này sẽ là cơ sở, nền tảng cho quá trình nghiên cứu về Thuế SDðNN ở chương 2 của ñề tài

Ngày đăng: 05/04/2018, 22:38

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm