1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

LUẬN văn LUẬT HÀNH CHÍNH kết hôn GIẢ tạo NHỮNG KHÁI NIỆM PHÁP lý và THỰC TIỄN xử lý

61 381 4

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 61
Dung lượng 637,38 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hệ thống pháp luật hôn nhân và gia ñình quy ñịnh nam nữ kết hôn phải ñảm bảo ñược hai yếu tố quan trọng: Trước tiên phải thể hiện ý chí của nam và nữ là mong muốn ñược kết hôn với nhau m

Trang 1

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

TRƯỜNG ðẠI HỌC CẦN THƠ

Giáo viên hướng dẫn: Sinh viên thực hiện:

ðoàn Thị Phương Diệp Nguyễn Ánh Dương

MSSV: 5032052 Lớp: Luật Hành chính

Cần Thơ, 7/2007

Trang 2

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Trang 3

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Trang 4

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

MỤC LỤC



Trang

Lời nói ñầu 1

Chương 1: Những vấn ñề lý luận chung về kết hôn giả tạo 3

1.Khái niệm kết hôn và quan niệm về hôn nhân trong luật Việt Nam 3

1.1 Khái niệm kết hôn 3

1.2 ðiều kiện về kết hôn 5

1.2.1 ðiều kiện kết hôn 5

1.2.2 ðiều kiện về ñăng ký kết hôn 9

1.3 Quan niệm về hôn nhân trong luật Việt Nam 11

1.3.1 Khái niệm hôn nhân 11

1.3.2 Hôn nhân trong quan niệm xưa 12

1.3.3 Hôn nhân trong quan niệm hiện ñại 14

2 Khái niệm kết hôn giả tạo và các hình thức biến thể mới của hôn nhân hiện ñại 15

2.1 Kết hôn giả tạo 15

2.1.1 Khái niệm kết hôn giả tạo 15

2.1.2 Tìm hiểu về các nguyên nhân của kết hôn giả tạo 16

2.1.3 Sự khác biệt giữa kết hôn trái pháp luật và kết hôn giả tạo 18

2.2 Các hình thức biến thể mới của hôn nhân hiện ñại 19

2.2.1 Hôn nhân ñồng giới 19

2.2.2 Hôn nhân “thời vụ” 20

2.2.3 Hôn nhân ảo 20

Chương 2: Thực trạng của vấn ñề kết hôn giả tạo ở nước ta hiện nay – Thực tiễn xử lý và một số kiến nghị ñề xuất 22

1.Thực trạng của vấn ñề kết hôn giả tạo ở nước ta hiện nay 22

1.1 Căn cứ xác ñịnh kết hôn giả tạo 22

1.1.1 Căn cứ vào nguyên tắc hôn nhân tự nguyện, tiến bộ và quyền tự do kết hôn của cá nhân trong việc xây dựng gia ñình 22

1.1.2 Căn cứ vào quyền và nghĩa vụ nhân thân giữa vợ và chồng theo luật ñịnh 26

1.2 Kết hôn giả tạo những ảnh hưởng thực tế 30

1.2.1 Về mặt xã hội 30

1.2.2 Về mặt pháp lý 35

Trang 5

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

2.1.1 ðối với tình hình kết hôn có yếu tố nước ngoài 39

2.1.2 ðối với tình hình kết hôn trong nước 44

2.2 Một số kiến nghị ñề xuất 50

Kết luận 54

Trang 6

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

LỜI NÓI đẦU



Cơ sở nền tảng của gia ựình là hôn nhân, mà hôn nhân là quan hệ giữa vợ và chồng sau khi ựã ựăng ký kết hôn Như vậy, có thể nói kết hôn ựược coi là sự kiện pháp lý ựể xác lập quan hệ vợ chồng Kết hôn là quyền tự do của mỗi người khi ựến tuổi theo luật ựịnh Cần phải khẳng ựịnh rằng ựó là quyền chứ không phải nghĩa vụ Một khi cơ quan quản lý về ựăng ký kết hôn xét thấy ựủ ựiều kiện về nội dung lẫn hình thức về kết hôn thì sẽ công nhận việc ựăng ký kết hôn cho công dân Cũng ựồng nghĩa với việc quan hệ hôn nhân ựó ựược pháp luật thừa nhận và bảo vệ

Hướng ựến xây dựng cuộc sống gia ựình ấm no, bình ựẳng, tiến bộ, hạnh phúc, bền vững, thúc ựẩy sự ựi lên của xã hội Vì gia ựình là tế bào của xã hội, là cái nôi nuôi dưỡng con người, là môi trường quan trọng hình thành và giáo dục nhân cách của mỗi người Gia ựình tốt thì xã hội mới tốt, xã hội tốt thì gia ựình càng tốt hơn

đó là mục tiêu chung xuyên suốt của đảng và Nhà nước ta khi xây dựng Luật hôn nhân và gia ựình Nhưng hiện nay quyền tự do kết hôn ựể xây dựng cuộc sống gia ựình hạnh phúc bền vững ựã bị làm lệch lạc ựi Có không ắt những trường hợp kết hôn ựể nhằm thực hiện một mục ựắch nào ựó, thông thường là lợi ắch hay lợi nhuận cá nhân, hoàn toàn không có ý ựịnh chung sống lâu dài Gây mất trật tự xã hội cũng như ựã làm cho quan niệm hôn nhân là việc trọng ựại của ựời người ựã không còn nguyên giá trị, kết hôn ựể ựạt ựược mục ựắch nào ựó, việc kết hôn ựó ựược gọi là kết hôn giả tạo Trong quan hệ hôn nhân giả tạo này thì ựiều kiện kết hôn của họ về mặt pháp lý ựều ựã thỏa mãn nhưng còn về mục ựắch kết hôn mà theo mong muốn chung là xây dựng gia ựình hạnh phúc bền lâu Ộrăng long ựầu bạcỢ thì không có

Kết hôn giả tạo các chủ thể có thể liệu trước ựược thời ựiểm kết hôn và ly hôn Họ xem việc kết hôn giả ựể ựạt ựược mục ựắch nào ựó như ựể xuất cảnh, ựể nhập cảnh, nhập hộ khẩu ở thành phốẦ

Nhưng việc kết hôn giả không chỉ dừng lại ở chỗ xác lập quan hệ hôn nhân

về mặt pháp lý ựể ựạt ựược mục ựắch nào ựó từ việc kết hôn, mà nó còn có những vấn ựề phức tạp xảy ra thuộc về ý chắ chủ quan nên chúng ta không thể lường trước ựược những hậu quả phát sinh Tiềm ẩn những nguy cơ như xâm phạm tình dục ựối với phụ nữ, nạn buôn bán phụ nữ ựang là vấn ựề mà xã hội quan tâm hiện nay, thậm chắ còn ảnh hưởng ựến truyền thống tốt ựẹp của dân tộc Việt Nam Hiện nay Luật hôn nhân và gia ựình hiện hành chưa có quy ựịnh cụ thể về vấn ựề kết hôn giả tạo

Trang 7

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

nước ta đã và ựang gây ảnh hưởng ựến cơ chế quản lý nhà nước cũng như trong lĩnh vực hôn nhân gia ựình của nước ta

Chắnh vì những bất cập trên tác giả ựã chọn ựề tài ỘKết hôn giả tạo - Những khái niệm cơ bản và thực tiễn xử lýỢ ựể nghiên cứu Chỉ mong làm rõ vấn

ựề ựang trở thành bức xúc của toàn xã hội chứ không phải chỉ riêng của một cá nhân nào Câu hỏi ựặt ra là kết hôn giả ựể làm gì? và tại sao phải kết hôn giả? Và thực tiễn xử lý như thế nào với kết hôn giả? Chắnh vì muốn tìm câu trả lời tác giả

ựã chọn ựề tài này, với mong muốn ựem chút công sức ựi sâu và làm rõ vấn ựề

Phương pháp mà tác giả nghiên cứu ựề tài này là phương pháp thu thập tài liệu, phương pháp so sánh, phân tắch ựánh giá những vấn ựề liên quan, kết hợp giữa

lý luận và thực tiễn ựể giải quyết những vấn ựề phát sinh từ việc kết hôn giả tạo

Bố cục của ựề tài: ngoài phần lời nói ựầu và kết luận còn có hai chương Chương 1: Những vấn ựề lý luận chung về kết hôn giả tạo

Chương 2: Thực trạng của vấn ựể kết hôn giả tạo ở nước ta hiện nayỜThực tiễn xử lý và một số kiến nghị ựề xuất

Trang 8

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ðỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ

KẾT HÔN GIẢ TẠO

1 Khái niệm kết hôn và quan niệm về hôn nhân trong luật Việt Nam

1.1 Khái niệm kết hôn

Kết hôn là việc nam và nữ xác lập quan hệ vợ chồng theo quy ñịnh của pháp luật về ñiều kiện kết hôn và ñăng ký kết hôn (ðiều 8 khoản 2 Luật hôn nhân và gia ñình năm 2000)

Như vậy, kết hôn là sự kiện pháp lý làm phát sinh các quan hệ hôn nhân và gia ñình Mà quan hệ hôn nhân và gia ñình bao gồm các quyền và nghĩa vụ về nhân thân và các quyền và nghĩa vụ về tài sản giữa vợ chồng Trong ñó quyền và nghĩa

vụ về nhân thân là nội dung chủ yếu trong quan hệ hôn nhân Kết hôn ñã làm phát sinh quan hệ hôn nhân mà quan hệ hôn nhân là cơ sở ñể hình thành gia ñình Gia ñình ra ñời, tồn tại và phát triển trước hết là nhờ Nhà nước thừa nhận hôn nhân của ñôi nam nữ, ñồng thời quy ñịnh quyền và nghĩa vụ pháp lý giữa họ

Hôn nhân là sự liên kết ñặc biệt giữa một người nam và một người nữ, sự liên kết ñó phải ñược nhà nước thừa nhận, bằng sự phê chuẩn dưới hình thức pháp

lý ñó là ñăng ký kết hôn

Các ñiều kiện kết hôn trong khung cảnh của luật thực ñịnh Việt Nam, ñược xếp vào nhóm các quy tắc mang tính mệnh lệnh bắt buộc Vi phạm các ñiều kiện kết hôn hôn nhân bị coi là trái pháp luật và có thể bị hủy Quan hệ vợ chồng mà vi phạm các ñiều kiện kết hôn không ñược coi là quan hệ hôn nhân và không thể làm phát sinh các hệ quả pháp lý của quan hệ hôn nhân

Hệ thống pháp luật của nhà nước ta quy ñịnh việc kết hôn phải ñược ñăng ký tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền Trong trường hợp hai người cùng là công dân Việt Nam kết hôn với nhau tại Việt Nam thì cơ quan nhà nước có thẩm quyền ñăng

ký việc kết hôn là Ủy ban nhân dân xã nơi cư trú của bên nam hoặc bên nữ Kể cả trường hợp hai bên nam nữ là công dân Việt Nam ñang trong thời hạn công tác, học tập, lao ñộng ở nước ngoài về nước ñăng ký kết hôn, ñã cắt hộ khẩu thường trú ở trong nước, thì việc ñăng ký kết hôn cũng ñược thực hiện tại Ủy ban nhân dân xã, nơi cư trú trước khi xuất cảnh của một trong hai bên nam, nữ

Còn ñối với trường hợp kết hôn giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài; giữa người nước ngoài thường trú tại Việt Nam với nhau thì thuộc thẩm quyền của Ủy ban nhân dân tỉnh Việc kết hôn giữa công dân Việt Nam cư trú ở nước ngoài với người nước ngoài thuộc thẩm quyền ñăng ký kết hôn của cơ quan

Trang 9

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

giữa công dân Việt Nam thường trú ở khu vực biên giới với công dân nước láng giềng thường trú ở khu vực biên giới với Việt Nam thì thẩm quyền ñăng ký kết hôn

là Ủy ban nhân dân xã

Hệ thống pháp luật hôn nhân và gia ñình quy ñịnh nam nữ kết hôn phải ñảm bảo ñược hai yếu tố quan trọng:

Trước tiên phải thể hiện ý chí của nam và nữ là mong muốn ñược kết hôn với nhau một cách tự nguyện Hai bên nam nữ phải tỏ rõ ý chí của mình là mong muốn ñược xác lập quan hệ vợ chồng Trong tờ khai ñăng ký kết hôn và trước cơ quan ñăng ký kết hôn, hai bên nam nữ phải thể hiện họ hoàn toàn mong muốn ñược kết hôn với nhau Kết hôn là hai bên nam nữ mong muốn ñược gắn bó với nhau trong quan hệ vợ chồng và cùng nhau xây dựng gia ñình ấm no, bình ñẳng, tiến bộ, hạnh phúc, bền vững (ðiều 1 Luật hôn nhân và gia ñình năm 2000)

Vì vậy, sự tự nguyện của nam nữ trong việc kết hôn vừa là ñiều kiện ñảm bảo cho hôn nhân có giá trị pháp lý và ñồng thời cũng là nền tảng xây dựng gia ñình bền vững ðối với những trường hợp khi tiến hành ñăng ký kết hôn có sự lừa dối, cưỡng ép ñể ñược kết hôn hoặc kết hôn giả tạo thì nhà nước không thừa nhận việc kết hôn ñó là hợp pháp

Thứ hai là phải ñược Nhà nước thừa nhận: tại ðiều 64 Hiến pháp 1992 quy ñịnh “Nhà nước bảo hộ hôn nhân và gia ñình” Hôn nhân chỉ ñược nhà nước thừa nhận khi việc xác lập quan hệ hôn nhân tuân thủ các quy ñịnh của pháp luật về ñiều kiện kết hôn và ñăng ký kết hôn ðể việc kết hôn ñược phù hợp với các quy ñịnh của pháp luật, cơ quan ñăng ký kết hôn sau khi nhận hồ sơ ñăng ký kết hôn của hai bên kết hôn phải tiến hành ñiều tra, xác minh về những vấn ñề mà các bên nam nữ

ñã khai

Nếu những ñiều mà các bên nam nữ ñã khai là ñúng sự thật và phù hợp với các ñiều kiện kết hôn thì cơ quan ñăng ký kết hôn tiến hành việc kết hôn cho họ theo ñúng nghi thức do pháp luật quy ñịnh Khi việc kết hôn ñã ñược ñăng ký tại cơ quan ñăng ký kết hôn và ghi vào sổ kết hôn thì giữa các bên nam nữ phát sinh quan

hệ hôn nhân Như vậy, khi cơ quan ñăng ký kết hôn tiến hành ñăng ký việc kết hôn cho các bên nam nữ là sự kiện pháp lý làm phát sinh quan hệ hôn nhân ðiều ñó có

ý nghĩa là giữa các bên nam nữ ñã phát sinh các quyền và nghĩa vụ vợ chồng theo luật ñịnh

Như vậy, muốn ñược kết hôn với nhau, nam nữ phải tuân thủ ñiều kiện kết hôn và ñăng ký kết hôn Pháp luật của Nhà nước ta quy ñịnh các ñiều kiện kết hôn

và ñăng ký kết hôn thể hiện tính khoa học và phù hợp với ñiều kiện kinh tế, văn hóa, xã hội, ñồng thời cũng phù hợp với tâm tư nguyện vọng của nhân dân Thông qua việc ñăng ký kết hôn, nhà nước ñã công nhận hôn nhân của ñôi nam nữ Sự kiện

Trang 10

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

kết hôn là cơ sở pháp lý ghi nhận rằng, hai bên nam nữ ñã phát sinh quyền và nghĩa

vụ vợ chồng Sự kiện này có ý nghĩa quan trọng trong việc xác ñịnh chủ thể của quan hệ giữa vợ và chồng, giữa cha mẹ và con, xác ñịnh rõ thời ñiểm phát sinh quan

hệ ñó

1.2 ðiều kiện về kết hôn

Một khi một người nam và một người nữ muốn xác lập quan hệ vợ chồng có giá trị về mặt pháp lý Nhà nước ta quy ñịnh bắt buộc là phải ñăng ký kết hôn với các ñiều kiện sau ñây:

1.2.1 ðiều kiện kết hôn Tại ðiều 9 của Luật hôn nhân và gia ñình năm 2000 Nam nữ kết hôn với nhau phải tuân theo các ñiều kiện sau ñây:

1 Nam từ 20 tuổi trở lên, nữ từ 18 tuổi trở lên;

2 Việc kết hôn do nam nữ tự nguyện quyết ñịnh, không bên nào ñược ép buộc lừa dối bên nào; không ai ñược cưỡng ép hoặc cản trở;

3 Việc kết hôn không thuộc một trong các trường hợp cấm kết hôn;

Tại ðiều 10 của Luật hôn nhân và gia ñình năm 2000 quy ñịnh những trường hợp cấm kết hôn:

1 Người ñang có vợ hoặc có chồng;

2 Người mất năng lực hành vi dân sự;

3 Giữa những người cùng dòng máu về trực hệ; giữa những người có họ trong phạm vi ba ñời;

4.Giữa cha, mẹ nuôi với con nuôi; giữa những người ñã từng là cha, mẹ nuôi với con nuôi; bố chồng với con dâu, mẹ vợ với con rể, bố dượng với con riêng của

vợ, mẹ kế với con riêng của chồng;

5.Giữa những người cùng giới tính

Có thể hiểu cụ thể từng nhóm ñiều kiện trong pháp luật hôn nhân và gia ñình như sau:

 Nhóm ñiều kiện về năng lực kết hôn + Tuổi kết hôn

Theo quy ñịnh tại Khoản 1 ðiều 9 Luật hôn nhân và gia ñình năm 2000, tuổi kết hôn của nam là từ 20 tuổi trở lên, nữ từ 18 tuổi trở lên

Luật hôn nhân và gia ñình quy ñịnh tuổi kết hôn là căn cứ vào sự phát triển tâm sinh lý của con người , căn cứ vào các ñiều kiện kinh tế - xã hội ở nước ta Nam

nữ kết hôn là xác lập quan hệ hôn nhân – cơ sở của gia ñình Gia ñình phải thực hiện các chức năng xã hội của nó Một trong những chức năng ñó là chức năng sinh

ñẻ nhằm duy trì và phát triển nòi giống Theo kết quả nghiên cứu của nền y học hiện

Trang 11

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

sinh sản Nhưng ñể ñảm bảo cho con sinh ra ñược khỏe mạnh, nòi giống phát triển lành mạnh, bảo ñảm sức khỏe cho người phụ nữ khi mang thai, khi sinh ñẻ thì nam phải từ khoảng 18 tuổi trở lên, nữ từ khoảng 17 tuổi trở lên Do vậy, Luật hôn nhân

và gia ñình quy ñịnh tuổi kết hôn ñối với nam là 20 tuổi, nữ là 18 tuổi Quy ñịnh này thể hiện sự quan tâm của Nhà nước ñối với sức khỏe của nam nữ, bảo ñảm cho nam nữ có thể ñảm ñương ñược trách nhiệm làm vợ, làm chồng, làm cha, làm mẹ ðồng thời quy ñịnh này còn ñảm bảo cho con cái sinh ra ñược khỏe mạnh cả về thể lực lẫn trí lực có thể phát triển tốt ñể trở thành công dân có ít cho xã hội

+ Sự khác biệt về giới tính Cấm kết hôn giữa những người cùng giới tính ñược ghi nhận chính thức trong luật viết từ khi có luật hôn nhân và gia ñình năm 2000 Khoản 5 ñiều 10 luật hôn nhân và gia ñình: “cấm kết hôn giữa những người cùng giới tính”

Hôn nhân là sự liên kết giữa một người nam và một người nữ nhằm xây dựng gia ñình Gia ñình phải thực hiện chức năng xã hội của nó Một trong những chức năng ñó là chức năng sinh ñẻ nhằm duy trì và phát triển nòi giống Như vậy, chỉ những người khác giới tính kết hôn với nhau thì mới có thể cùng nhau thực hiện chức năng cơ bản của gia ñình là sinh ñẻ, tái sản xuất ra con người ñể duy trì nòi giống Nếu hai người cùng giới tính kết hôn với nhau là trái với quy luật tự nhiên và quy luật xã hội

+ Bệnh tật Luật hôn nhân gia ñình không cấm những người mắc bệnh hiểm nghèo hoặc bệnh có khả năng lây lan qua ñường tình dục kết hôn với nhau Vì quyền kết hôn của những người này ñược tôn trọng trong khung cảnh của luật thực ñịnh Miễn là

họ kết hôn với nhau một cách tự nguyện biết rõ về tình trạng của nhau mà vẫn ñăng

ký kết hôn, không có sự lừa dối trong trường hợp này Tuy nhiên, Nhà nước cũng không khuyến khích việc kết hôn này, những cũng không ngăn cản nếu việc kết hôn

ñó hoàn toàn tự nguyện dựa trên cơ sở là tình yêu chân chính

 Nhóm ñiều kiện về sự ưng thuận + Hôn nhân tự nguyện

Khoản 2 ðiều 9 Luật hôn nhân gia ñình quy ñịnh: “Việc kết hôn do nam và

nữ tự nguyện quyết ñịnh, không bên nào ñược ép buộc, lừa dối bên nào; không ai ñược cưỡng ép hoặc cản trở”

ðiều 39 Bộ luật dân sự 2005 cũng quy ñịnh: “nam nữ có ñủ ñiều kiện kết hôn theo quy ñịnh của pháp luật về hôn nhân và gia ñình có quyền tự do kết hôn”

Tự nguyện hoàn toàn trong việc kết hôn là hai bên nam nữ tự mình quyết ñịnh việc kết hôn và thể hiện ý chí là mong muốn ñược trở thành vợ chồng của nhau Hai bên nam nữ mong muốn trở thành vợ chồng xuất phát từ tình yêu thương

Trang 12

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

và mục ñích cùng nhau xây dựng gia ñình Kết hôn trước hết là một quyền chứ không phải nghĩa vụ, không thể có kết hôn ngoài ý muốn một khi một bên hoặc cả hai bên kết hôn không ưng thuận kết hôn hoặc sự ưng thuận kết hôn không ñược hoàn hảo

+ Không có sự ưng thuận

• Người mất năng lực hành vi: người mất năng lực hành vi dân sự không thể kết hôn (ðiều 10 Khoản 2 Luật hôn nhân gia ñình năm 2000) Người ñại diện của người mất năng lực hành vi dân sự không có quyền cho phép người ñược ñại diện kết hôn

• Người không nhận thức ñược hành vi của mình: Luật hôn nhân và gia ñình 2000 lại chỉ cấm kết hôn ñối với người mất năng lực hành vi dân sự mà không nhắc ñến người bị bệnh tâm thần, nhưng lại chưa bị ñặt vào tình trạng mất năng lực hành vi dân sự theo quyết ñịnh của tòa án Song ñiều ñó không có nghĩa là luật thừa nhận quyền kết hôn cho người không nhận thức ñược hành vi của mình, có thể chia làm hai trường hợp:

 Trường hợp thứ nhất: nếu người không nhận thức ñược hành vi của mình quyết ñịnh việc kết hôn trong lúc không nhận thức ñược hành vi của mình, thì việc kết hôn không có giá trị pháp lý do sự ưng thuận không tồn tại Thời ñiểm quyết ñịnh việc kết hôn cũng chính là thời ñiểm tiến hành

lễ kết hôn trước viên chức hộ tịch

 Trường hợp thứ hai: nếu người không nhận thức ñược hành vi của mình quyết ñịnh việc kết hôn trong lúc ñang tỉnh táo, thì việc kết hôn có giá trị, dù có thể sau ñó, người này bị ñặt trong tình trạng mất năng lực hành vi dân sự theo quyết ñịnh của tòa án

• Người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự: chế ñịnh hạn chế năng lực hành vi dân sự nhằm mục ñích chủ yếu là giám sát việc xác lập và thực hiện các giao dịch của ñương sự liên quan ñến tài sản Kết hôn không phải là giao dịch loại

ñó Bởi vậy, Luật hôn nhân và gia ñình năm 2000 không cấm kết hôn ñối với người

bị hạn chế năng lực hành vi dân sự Người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự có thể tự mình quyết ñịnh việc kết hôn không cần phải có sự ñồng ý của người ñại diện theo pháp luật

+ Sự ưng thuận không hoàn hảo: có thể bao gồm lừa dối, cưỡng ép, nhầm lẫn Ba yếu tố này chung quy lại là do nhiều nguyên nhân chủ quan và khách quan dẫn ñến việc kết hôn, nhưng sau ñó những cuộc hôn nhân có thể bị hủy theo yêu cầu của các chủ thể trong hôn nhân

Trang 13

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

 Những cản trở ñối với hôn nhân + Hôn nhân chưa chấm dứt: người ñang có vợ, có chồng không ñược phép kết hôn với người khác (Khoản 1 ðiều 10 Luật hôn nhân và gia ñình năm 2000) Quy ñịnh này trên thực tế, nhằm chủ yếu vào việc ngăn chặn tình trạng ña thê Tất nhiên, người ñã ñăng ký kết hôn và chưa chấm dứt quan hệ hôn nhân có ñăng ký kết hôn luôn ñược coi là người có vợ, có chồng Cũng ñược coi là có vợ, có chồng là những người chung sống như vợ, chồng từ trước khi Luật hôn nhân và gia ñình

1986 mà không ñăng ký kết hôn

Xuất phát từ bản chất của hôn nhân xã hội chủ nghĩa là hôn nhân một vợ, một chồng, chỉ có hôn nhân một vợ một chồng mới ñảm bảo sự bền vững và hạnh phúc gia ñình, vợ chồng mới thật sự yêu thương nhau và chăm sóc, giúp ñỡ lẫn nhau cùng tiến bộ, Ph Ăngghen ñã chỉ rõ: “Vì bản chất của tình yêu là không thể chia sẻ…cho nên hôn nhân dựa trên tình yêu giữa nam và nữ do ngay bản chất của

nó, là hôn nhân một vợ một chồng”

Như vậy, hệ thống pháp luật của Nhà nước ta quy ñịnh khi kết hôn nam nữ phải tuân theo nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng Theo nguyên tắc ñó thì chỉ những người chưa kết hôn hoặc những người tuy ñã kết hôn nhưng vợ hoặc chồng

họ ñã chết hoặc vợ chồng ñã ly hôn thì mới có quyền kết hôn Từ ñó cũng có thể hiểu rằng, những người ñang có vợ, có chồng bị cấm kết hôn với nhau và cũng bị cấm kết hôn với những người chưa có chồng, có vợ

+ Mối liên hệ thân thích Theo quy ñịnh tại Khoản 3 và Khoản 4 ðiều 10 Luật hôn nhân gia ñình năm

2000 thì những người cùng dòng máu về trực hệ, những người có họ trong phạm vi

ba ñời hoặc những người ñã từng có mối quan hệ thân thuộc cấm kết hôn với nhau Cấm kết hôn giữa cha, mẹ với các con; giữa ông với các cháu nội, ngoại; giữa những người có họ trong phạm vi ba ñời; giữa cha, mẹ với con nuôi, bố chồng với con dâu, mẹ vợ với con rể, bố dượng với con riêng của vợ, mẹ kế với con riêng của chồng

Những người có họ trong phạm vi ba ñời bị cấm kết hôn với nhau Cách tính như sau: Những người có cùng một gốc sinh ra thì cha mẹ là ñời thứ nhất, anh chị

em cùng cha mẹ hoặc cùng cha khác mẹ, cùng mẹ khác cha là ñời thứ hai; anh chị con chú, con bác, con cô, con cậu, con dì là ñời thứ ba Như vậy, những người có họ trong phạm vi ba ñời bị cấm kết hôn với nhau, cụ thể là: cấm bác ruột, chú ruột, cậu ruột kết hôn với cháu gái, cấm cô ruột, dì ruột kết hôn với cháu trai; cấm anh, chị,

em con chú, con bác, con cô, con cậu, con dì kết hôn với nhau

Trong trường hợp những người vi phạm quy ñịnh về cấm kết hôn (do có mối quan hệ thân thích) là những người có quan hệ thân thuộc về trực hệ, anh, chị, em

Trang 14

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

cùng cha, mẹ hoặc chỉ cùng cha hay cùng mẹ, thì các ñương sự có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội loạn luân (Bộ luật hình sự 1999 ðiều 150)

Theo nghị ñịnh số 87/2001/Nð-CP ngày 21/11/2001 của chính phủ tại ðiều

8, thì những người kết hôn mà vi phạm các quy ñịnh về cấm kết hôn của Luật hôn nhân và gia ñình năm 2000 ðiều 10 Khoản 3 và Khoản 4, ngoài trường hợp phạm tội loạn luân, sẽ bị xử lý hành chính dưới hình thức phạt tiền từ 100.000 ñồng ñến 500.000 ñồng

Luật hôn nhân và gia ñình cấm những người có quan hệ huyết thống kết hôn với nhau, ñể ñảm bảo cho con cái sinh ra ñược khỏe mạnh, nòi giống phát triển lành mạnh, ñảm bảo lợi ích gia ñình và lợi ích xã hội Qua nghiên cứu trên cơ sở khoa học hiện ñại và từ việc khảo sát ñiều tra trên thực tế, các nhà khoa học ñã kết luận rằng, những người có quan hệ huyết thống không thể kết hôn với nhau, bởi vì những người này kết hôn với nhau thì con cái của họ sinh ra thường bị bệnh tật và những dị dạng (ví dụ: bệnh câm, ñiếc, mù màu, bạch tạng…) thậm chí có trường hợp con cái sẽ bị tử vong ngay sau khi sinh Thực tế cho thấy, tỷ lệ tử vong của những trẻ sơ sinh càng cao nếu quan hệ huyết thống của cha, mẹ chúng càng gần

Pháp luật về hôn nhân và gia ñình cấm những người có quan hệ huyết thống kết hôn với nhau, nhằm làm lành mạnh các mối quan hệ trong gia ñình và phù hợp với ñạo ñức Từ cổ xưa, ông cha ta ñã có những quy ñịnh về cấm kết hôn giữa những người có cùng huyết thống dù gần hay xa, thậm chí còn cấm kết hôn ñến cả những người có cùng một họ

Không chỉ cấm kết hôn giữa những người có quan hệ huyết thống kết hôn với nhau, Luật hôn nhân và gia ñình còn cấm kết hôn giữa những người có quan hệ cha, mẹ nuôi với con nuôi; giữa những người ñã từng cha, mẹ nuôi với con nuôi; bố chồng với con dâu, mẹ vợ với con rể, bố dượng với con riêng của vợ, mẹ kế với con riêng của chồng Quy ñịnh này nhằm làm ổn ñịnh các mối quan hệ trong gia ñình, ñồng thời còn ngăn chặn hiện tượng lợi dụng mối quan hệ phụ thuộc mà có thể xảy

ra hành vi cưỡng ép kết hôn giữa cha mẹ nuôi với con nuôi

Như vậy, Luật hôn nhân và gia ñình Việt Nam cấm những người có quan hệ huyết thống, những người có quan hệ nuôi dưỡng, giữa những người ñã từng có quan hệ thân thích do hôn nhân ñem lại nhằm ñảm bảo thuần phong, mỹ tục của dân tộc, bảo ñảm các nguyên tắc của cuộc sống ðây vừa là quy ñịnh của pháp luật vừa

là quy tắc ñạo ñức

1.2.2 ðiều kiện về ñăng ký kết hôn

 Về thẩm quyền ñăng ký kết hôn theo quy ñịnh tại ðiều 17 Nghị ñịnh 158/2005/Nð-CP thì Uỷ ban nhân dân cấp xã, nơi cư trú của bên nam hoặc bên nữ

Trang 15

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Trong trường hợp cả hai bên nam, nữ là công dân Việt Nam ñang trong thời hạn công tác, học tập, lao ñộng ở nước ngoài về nước ñăng ký kết hôn, ñã cắt hộ khẩu thường trú ở trong nước, thì việc ñăng ký kết hôn ñược thực hiện tại Uỷ ban nhân dân cấp xã, nơi cư trú trước khi xuất cảnh của một trong hai bên nam, nữ Trong trường hợp chỉ một trong hai bên nam, nữ thuộc diện ñang trong hạn công tác, học tập, lao ñộng ở nước ngoài, còn bên kia ñang cư trú tại Việt Nam, thì việc ñăng ký kết hôn ñược thực hiện tại Uỷ ban nhân dân xã, nơi cư trú của bên công dân Việt Nam ñang cư trú tại Việt Nam

 Về thủ tục ñăng ký kết hôn ñược quy ñịnh tại ðiều 18 Nghị ñịnh 158/2005/Nð-CP với những nội dung sau ñây:

Theo quy ñịnh của Nghi ñịnh 83/1998/Nð-CP trước ñây, khi ñăng ký kết hôn các bên nam, nữ phải xuất trình Giấy khai sinh của mình ñể cơ quan ñăng ký hộ tịch kiểm tra về ñộ tuổi kết hôn của họ, ñề phòng việc tảo hôn Nghị ñịnh 158/2005/Nð-CP không quy ñịnh người ñi ñăng ký kết hôn phải xuất trình Giấy khai sinh

Khi ñăng ký kết hôn, các bên ñăng ký kết hôn chỉ phải nộp Tờ khai ñăng ký kết hôn và xuất trình giấy Chứng minh nhân dân

Trong trường hợp một người cư trú tại xã, phường, thị trấn này, nhưng ñăng

ký kết hôn tại xã, phường, thị trấn khác, thì phải có xác nhận của Uỷ ban nhân dân cấp xã, nơi cư trú về tình trạng hôn nhân của người ñó

ðối với người ñang trong thời hạn công tác, học tập, lao ñộng ở nước ngoài

về nước ñăng ký kết hôn, thì phải có xác nhận của cơ quan Ngoại giao, Lãnh sự Việt Nam tại nước sở tại về tình trạng hôn nhân của người ñó

ðối với cán bộ, chiến sỹ ñang công tác trong lực lượng vũ trang, thì Thủ trưởng ñơn vị của người ñó xác nhận tình trạng hôn nhân

Việc xác ñịnh tình trạng hôn nhân có thể xác nhận trực tiếp vào Tờ khai ñăng

ký kết hôn hoặc bằng Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân (theo quy ñịnh tại Chương

V của Nghị ñịnh 158/2005/Nð-CP) Tờ khai ñăng ký kết hôn có xác nhận tình trạng hôn nhân có giá trị 6 tháng, kể từ ngày xác nhận

Uỷ ban nhân cấp xã không bắt buộc phải niêm yết thông báo việc ñăng ký kết hôn tại trụ sở Uỷ ban Nghị ñịnh 158/2005/Nð-CP quy ñịnh trong thời hạn 5 ngày,kể từ ngày nhận ñủ hồ sơ hợp lệ, nếu xét thấy hai bên nam, nữ có ñủ ñiều kiện kết hôn theo quy ñịnh của Luật hôn nhân và gia ñình, thì Uỷ ban nhân dân cấp xã ñăng ký kết hôn cho hai bên nam, nữ Trong trường hợp cần phải xác minh, thì thời hạn nói trên ñược kéo dài thêm nhưng không quá 5 ngày

Khi ñăng ký kết hôn, hai bên nam, nữ phải có mặt tại Uỷ ban nhân dân cấp

xã ñể cùng ký vào Sổ ñăng ký kết hôn và Giấy chứng nhận kết hôn

Trang 16

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Tại Lễ ñăng ký kết hôn, ñại diện Uỷ ban nhân dân cấp xã yêu cầu hai bên cho biết ý muốn tự nguyện kết hôn, nếu hai bên ñồng ý kết hôn, thì cán bộ Tư pháp

hộ tịch ghi vào Sổ ñăng ký kết hôn và Giấy chứng nhận kết hôn Hai bên nam, nữ

ký vào Giấy chứng nhận kết hôn và Sổ ñăng ký kết hôn, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp xã ký vào Giấy chứng nhận kết hôn ñồng thời cấp cho mỗi bên vợ, chồng một bản chính Giấy chứng nhận kết hôn, giải thích cho hai bên quyền và nghĩa vụ của

vợ, chồng theo quy ñịnh của Luật hôn nhân và gia ñình Bản sao Giấy chứng nhận kết hôn ñược cấp theo yêu cầu của vợ chồng

Như vậy, quy ñịnh về thủ tục ñăng ký kết hôn của Nð 158/2005 ñã thay thế

Nð 83/1998 Với những quy ñịnh mới này thủ tục ñăng ký kết hôn ñược tiến hành nhanh chóng và ñơn giản hơn

Trong khung cảnh của luật thực ñịnh, việc ñăng ký kết hôn tại cơ quan Nhà nước có thẩm quyền là ñiều kiện ñể quan hệ hôn nhân ñược pháp luật thừa nhận Do

ñó bằng chứng duy nhất về hôn nhân là giấy chứng nhận ñăng ký kết hôn do cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp “Nam, nữ không ñăng ký kết hôn mà chung sống với nhau như vợ chồng, thì không ñược pháp luật công nhận là vợ chồng” (Luật hôn nhân và gia ñình năm 2000 ðiều 11 Khoản 1)

1.3 Quan niệm về hôn nhân trong luật Việt Nam

1.3.1 Khái niệm hôn nhân Khái niệm hôn nhân ñã ñược nhiều tài liệu ñề cập ñến Theo Từ ñiển Tiếng Việt của trung tâm từ ñiển – Nhà xuất bản khoa học xã hội xuất bản năm 1994 thì khái niệm hôn nhân ñược hiểu là “Việc nam nữ chính thức lấy nhau làm vợ chồng”

Theo giải thích của Oxford advanced Learner’s Dictionary do Oxford Univer city Press xuất bản 1992 thì “hôn nhân là sự liên kết pháp lý giữa một người ñàn ông với một người ñàn bà như vợ chồng”

Theo Từ ñiển giải thích thuật ngữ luật học của Trường ðại học luật Hà Nội thì “hôn nhân là sự liên kết giữa người nam và người nữ dựa trên nguyên tắc tự nguyện bình ñẳng theo ñiều kiện và trình tự luật ñịnh, nhằm chung sống với nhau suốt ñời và xây dựng gia ñình hạnh phúc và hòa thuận”

Theo quy ñịnh của Khoản 6 và Khoản 10 ðiều 8 Luật hôn nhân và gia ñình năm 2000 thì “Hôn nhân là quan hệ giữa vợ chồng sau khi ñã kết hôn”

Hôn nhân là một hiện tượng xã hội ñặc biệt, trong ñó các bên chủ thể gắn kết với nhau với mục ñích tạo dựng một tế bào của xã hội và gia ñình Khác với quan

hệ dân sự bình thường, mục ñích của các bên chủ thể trong quan hệ hôn nhân không phải nhằm thỏa mãn nhu cầu vật chất hoặc tinh thần trong một thời ñiểm nhất ñịnh mà nhằm xác lập mối quan hệ lâu dài

Trang 17

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Thông thường hôn nhân là kết quả của tình yêu và dựa trên sự tự nguyện của các bên chủ thể nhằm xây dựng mối quan hệ bền vững Sự bền vững này tồn tại cùng với cuộc ñời của các chủ thể và ñược củng cố bằng các quan hệ phái sinh khác như quan hệ cha mẹ ñối với con cái, ông bà ñối với cháu chắt Nói cách khác hôn nhân là cơ sở tạo nên quan hệ vợ chồng và quan hệ huyết thống mà tổng hợp các mối quan hệ này là nền tảng của gia ñình

Dưới chế ñộ xã hội chủ nghĩa, hôn nhân là sự liên kết giữa người ñàn ông và người ñàn bà ñược pháp luật thừa nhận ñể xây dựng gia ñình và chung sống với nhau suốt ñời Sự liên kết ñó phát sinh, hình thành do việc kết hôn và ñược biểu hiện ở một quan hệ xã hội gắn liền với nhân thân, ñó là quan hệ vợ chồng Quan hệ này là quan hệ giới tính, thực chất và ý nghĩa của nó thể hiện trong việc sinh ñẻ, nuôi nấng, giáo dục con cái, ñáp ứng lẫn nhau những nhu cầu tinh thần và vật chất trong ñời sống hàng ngày Vai trò và ý nghĩa này của hôn nhân ñều có trong mọi xã hội

C Mác và Ăngghen ñã nhấn mạnh rằng sản xuất ra cuộc sống chính bản thân mình là nhờ lao ñộng, còn sản xuất cuộc sống khác là nhờ sinh ñẻ, và lập tức xuất hiện hai mối quan hệ, một mặt là mối quan hệ tự nhiên, mặt khác là mối quan hệ xã hội Mà ñặc biệt là mối quan hệ xã hội, bởi ở ñây có sự tham gia của nhiều người bất kể trong ñiều kiện nào, bằng cách nào và với mục ñích gì Mặt khác, quan hệ hôn nhân là quan hệ xã hội ñược xác ñịnh bởi các quan hệ sản xuất hiện ñang thống trị Vì thế tính chất của hôn nhân có thể thay ñổi, phụ thuộc vào cơ sở kinh tế ñang thống trị Hơn nữa ở xã hội nào mà các quan hệ hôn nhân ñược coi là quan hệ pháp luật thì sự liên kết giữa người ñàn ông và người ñàn bà là hình thức của quan hệ ñó mang ý nghĩa như là một sự kiện pháp lý làm phát sinh các quyền và nghĩa vụ nhất ñịnh cho các bên vợ chồng Trong mỗi giai ñoạn phát triển của lịch sử, giai cấp thống trị bằng pháp luật ñiều chỉnh các quan hệ hôn nhân cho phù hợp với ý chí, nguyện vọng của mình, phục vụ cho lợi ích giai cấp của mình Rõ ràng hôn nhân là một hiện tượng xã hội mang tính giai cấp Ở xã hội nào thì có hình thái hôn nhân

ñó, và tương ứng với nó là chế ñộ hôn nhân nhất ñịnh

Như vậy, hôn nhân theo Luật hôn nhân và gia ñình năm 2000 là sự liên kết giữa một người ñàn ông và một người ñàn bà trên nguyên tắc hoàn toàn bình ñẳng

và sự tự nguyện theo quy ñịnh của pháp luật nhằm chung sống với nhau suốt ñời và xây dựng gia ñình hạnh phúc, dân chủ, hòa thuận và bền vững

1.3.2 Hôn nhân trong quan niệm xưa Trong xã hội phong kiến, sản xuất nông nghiệp là nghề nghiệp chính Cho nên ruộng ñất ñược coi là tài sản quan trọng nhất trong khối tài sản của gia ñình và việc bảo tồn ruộng ñất trong khối tài sản ñó là ñiều kiện vật chất cần thiết cho sự tồn

Trang 18

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

tại lâu dài của gia ñình Vấn ñề quan trọng nhất liên quan ñến việc bảo tồn ruộng ñất trong gia ñình không phải là làm thế nào ñể bảo tồn ñược nó mà là làm thế nào ñể gia ñình luôn có người thừa kế tài sản ñể lại

Ruộng ñất ñược bảo tồn là ruộng ñất ñược khai thác ñể sinh lợi, mà sản xuất nông nghiệp ngày xưa luôn ñòi hỏi nhân lực; một khi gia ñình tuyệt tự (do cha mẹ không sinh con), thì việc bảo tồn ruộng ñất trở nên vô nghĩa bởi không có người kế tục ñể khai thác và thụ hưởng kết quả khai thác từ ruộng ñất mà tổ tiên ñể lại

ðể có người kế tục ruộng ñất thì kết hôn chính là biện pháp bảo ñảm cho sự

có mặt của các thành viên trong gia ñình từ thế hệ này sang thế hệ khác ông bà, cha

mẹ, cháu chắt ðể có thể khai thác và thụ hưởng hoa lợi từ tài sản của gia ñình ñây ñược coi là nhiệm vụ của mỗi thành viên trong gia ñình, ñặc biệt là của những người con trai vì quan ñiểm “trọng nam khinh nữ”, con trai không lập gia ñình coi như là có tội với tổ tiên, con trai lập gia ñình mà không sinh con càng có lỗi Có thể

từ ñó hiểu ñược tại sao hôn nhân ngày xưa không phải là việc của hai người mà là việc của hai gia ñình Không phải là việc của hai con người, hôn nhân không phụ thuộc ý chí của hai người ñó và nhất là không lệ thuộc vào sự ưng thuận của họ, theo kiểu “cha mẹ ñặt ñâu con ngồi ñó”

Khi nào kết hôn, kết hôn với ai, người trả lời những câu hỏi ñó là người chủ gia ñình chứ không phải là người trực tiếp kết hôn Hôn nhân của con cái ngày xưa

do cha mẹ xếp ñặt chứ không phải do sự chủ ñộng tìm ñến nhau của con cái ða số người trẻ trong thế hệ trước không giao thiệp nhiều nên ngoài người cha mẹ chọn cho, họ không có sự so sánh hay chọn lựa nào khác Ngày xưa sống theo quan niệm

“nam nữ thọ thọ bất thân”, trai gái không ñược phép làm quen hay trò chuyện với nhau Vì lý do ñó thanh niên nam nữ không có chuyện trai gái Ngoài người mà cha

mẹ ñể ý và chọn lựa cho mình hoặc ngoài người ñánh tiếng ñi hỏi mình, thanh niên trẻ ngày trước thường ít ñược tự do làm quen với những người bạn khác phái, cũng

ít dám công khai tiếp xúc nhiều với những người bạn ñó

Tất nhiên, không phải không có trường hợp con cái gặp và tìm hiểu nhau trước khi ñược cha mẹ tác hợp thành vợ chồng; nhưng sự hợp ý giữa cha mẹ và con ñược coi như sự trùng hợp ngẫu nhiên; cha mẹ hoàn toàn không có nghĩa vụ tôn trọng nguyện vọng của con

Người thời trước thường sống với thái ñộ chấp nhận hoàn cảnh, ñể mặc cho

số phận ñẩy ñưa Nếu may mắn gặp người ñạo ñức, dễ dãi, có tình thương, hoặc gặp người hợp với mình, họ sẽ có một gia ñình hạnh phúc Nếu không may gặp người khó tính, không hợp hoặc không yêu thương, các ñôi vợ chồng ngày xưa cũng phải

cố gắng sống với nhau cho ñến hết cuộc ñời Lý do là vì một trong hai người,

Trang 19

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

thường là người ñàn bà, sẳn sàng chấp nhận tất cả thiệt thòi ñể giữ cho gia ñình không ñỗ vỡ

Trong nhiều trường hợp, hôn nhân sếp ñặt mang tính chất cưỡng bức, không tình yêu, không hạnh phúc, ñời sống gia ñình không khác gì ñịa ngục, nhưng vì danh dự của gia ñình, dòng họ và vì sợ dư luận, họ cố gắng che giấu nỗi bất hạnh của mình và tiếp tục sống với nhau cho ñến cuối cuộc ñời chỉ nhờ có “nghĩa vợ chồng”

1.3.3 Hôn nhân trong quan niệm hiện ñại Nếu như trong quan niệm xưa hôn nhân là sếp ñặt của cha mẹ thì trong quan niệm hiện nay hôn nhân hoàn toàn do ý chí tự nguyện của hai bên nam nữ Vì quyền kết hôn trong luật hiện ñại là một trong những quyền dân sự cơ bản của cá nhân (ðiều 39 Bộ luật dân sự)

Trong phạm vi những giới hạn do luật thiết lập nhằm bảo vệ luân thường, ñạo lý và bảo ñảm sự phát triển lành mạnh của nòi giống, luật ñã quy ñịnh cấm loạn luân, cấm tảo hôn, cũng như trong chừng mực của nguyên tắc hôn nhân một vợ, một chồng, mọi công dân ñều có quyền kết hôn “Quyền kết hôn trước hết là quyền của một người ñược tự do ñi tìm một người khác ñể yêu thương và ñể xây dựng cuộc sống chung”1 Ngày nay hôn nhân nam nữ ñược nhiều tự do hơn, có nhiều cơ hội làm quen ñể tìm hiểu nhau hơn

ðối tác trong tình yêu và hôn nhân là bất kỳ người nào ở trong tình trạng ñược tự do kết hôn; việc kết hôn không thể bị cản trở bởi sự khác biệt về dân tộc, tôn giáo, giai cấp, nghề nghiệp, sự chênh lệch về trình ñộ văn hóa, về ñịa vị xã hội,

về mức ñộ giàu nghèo

Hiện nay, do sự phát triển của các mối giao lưu dân sự quốc tế nên tập hợp những người tạo lập nên gia ñình trong xã hội Việt Nam không chỉ bó hẹp giữa các thành viên có cùng quốc tịch và cùng cư trú trên lãnh thổ một nước mà còn ñược

mở rộng giữa các thành viên có quốc tịch khác nhau và có thể các thành viên ñó cư trú ở nước khác nhau

Hôn nhân ngày nay là tự do kết hôn, dựa trên tình yêu chân chính của ñôi nam nữ Quyền tự do kết hôn thì tự do ly hôn cũng ñược ñảm bảo, một khi tình yêu giữa hai bên nam nữ không còn nữa thì việc ñảm bảo cho họ ly hôn lại thực sự cần thiết vì như vậy là giải phóng cho họ Không như quan hệ hôn nhân ngày xưa, những người bỏ vợ bỏ chồng thường bị xã hội khinh khi, bà con chê cười, nên ít vợ chồng nào dám nghĩ ñến chuyện bỏ nhau Hơn nữa, nhờ xã hội có những luật lệ nghiêm khắc, nam nữ không ñược tự do tiếp xúc thân mật với nhau, nên những

1

Bình luận khoa học Luật hôn nhân và gia ñình Việt Nam, Ts Nguyễn Ngọc ðiện, tập 1, Nhà xuất bản Trẻ 2002, trang 28

Trang 20

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

người ñã có gia ñình ít bị cám dỗ ñể phạm tội ngoại tình Thêm vào ñó, ñời sống không có nhiều tự do, không quá nhiều cơ hội ñể người ñã có gia ñình bị cám dỗ, nên quan hệ hôn nhân ngày trước ít xảy ra chuyện li hôn so với quan hệ hôn nhân ngày nay

2.Kết hôn giả tạo và các hình thức biến thể mới của hôn nhân hiện ñại

2.1 Kết hôn giả tạo

2.1.1 Khái niệm kết hôn giả tạo Kết hôn theo ñịnh nghĩa của Luật hôn nhân và gia ñình năm 2000 tại Khoản

2 ðiều 8: là việc nam nữ xác lập quan hệ vợ chồng theo quy ñịnh của pháp luật về ñiều kiện kết hôn và ñăng ký kết hôn Vậy kết hôn giả ñiều ñáng nói nhất ở ñây là gì? và tại sao lại có vấn ñề kết hôn giả tạo này? Theo Dự thảo luật hôn nhân và gia ñình năm 2000 thì: “Kết hôn giả tạo là việc kết hôn không nhằm mục ñích xác lập quan hệ hôn nhân”

Trước hết kết hôn giả tạo ñây là biến thể mới của hôn nhân hiện ñại Cũng giống như những cuộc hôn nhân bình thường khác cũng ñược pháp luật và xã hội thừa nhận, cho ñến khi có bằng chứng chứng minh việc kết hôn ñó là giả thì ta mới biết ñược có sự giả tạo trong việc kết hôn Nói một cách khách quan rằng hôn nhân giả là cuộc hôn nhân có ñầy ñủ giá trị về mặt pháp lý; về ñiều kiện kết hôn ñều ñáp ứng theo ñúng quy ñịnh của pháp luật Nhưng còn về mục ñích chung sống và xây dựng gia ñình hạnh phúc, lâu dài thì các chủ thể trong quan hệ hôn nhân hoàn toàn không chú ý ñến ðiều mà họ quan tâm ở ñây là nhằm vào mục ñích khác với những

lý do khác nhau

Nhìn vào ñặc ñiểm của hôn nhân hiện ñại ñể thấy, hôn nhân hiện ñại chỉ ñược coi là hợp pháp một khi, bên cạnh việc thỏa mãn các ñiều kiện khác về kết hôn, nó thực sự là kết quả của việc trao ñổi sự ưng thuận giữa hai người về việc kết hôn và xây dựng cuộc sống chung Chung sống là một trong những yếu tố cơ bản trong nội dung của quan hệ hôn nhân Không thể có hôn nhân thực trong trường hợp các bên kết hôn nhưng lại không chung sống với nhau Không có cam kết chung sống việc kết hôn không thể coi là ñược xác lập trên cơ sở có sự ưng thuận nghiêm túc của các bên: khi ñó, hoặc là hoàn toàn không có sự tự nguyện của các bên trong việc kết hôn, hoặc là chỉ có hôn nhân giả tạo Mà hôn nhân giả tạo việc kết hôn là giả và ly hôn sẽ là thật

Kết hôn giả tạo là hình thức kết hôn mà các chủ thể có thể nhận thức ñược những hành vi của mình khi xác lập quan hệ hôn nhân Quan hệ hôn nhân giả tạo, phải có hai bên nam nữ cùng biết hôn nhân ñó là giả tạo, nếu chỉ một người biết hôn nhân ñó là giả tạo thì sẽ trở thành hôn nhân lừa dối Bởi vì họ cố tình tạo ra cuộc

Trang 21

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

hôn nhân này thì lẽ dĩ nhiên, những yêu cầu về ựiều kiện kết hôn mà nhà nước quy ựịnh họ ựiều ựáp ứng ựủ, ựể nhằm qua mặt cán bộ làm công tác hộ tịch

Như vậy, người kết hôn giả tạo hoàn toàn nhận thức ựầy ựủ và ựiều khiển hành vi của mình, nhưng lại kết hôn trong ựiều kiện hoàn toàn không có ý ựịnh chung sống Trước viên chức hộ tịch, người này có thể công khai tuyên bố ựồng ý kết hôn, nhưng trên thực tế, người này hoàn toàn không quan tâm ựến chuyện chung sống và cũng chẳng có kế hoạch gì cụ thể cho cuộc sống chung đây không phải là hôn nhân do cưỡng ép, bởi nếu thực sự không muốn tiến hành thủ tục ựăng ký kết hôn, người này ựược tự do, không ựăng ký kết hôn mà không ai làm gì ựược

Lý do của loại hôn nhân giả tạo này khá ựa dạng: ựể xuất cảnh theo chồng (vợ) ựang ựịnh cư ở nước ngoài, ựể xin hộ khẩu thường trú tại ựô thị, ựể cho một người ựược tiếng là có vợ có chồng, ựể thuận theo ý của cha mẹ, ựể cho con chung ựược hưởng tư cách con trong giá thú, ựể ựáp ứng ựiều kiện ựặt ra cho việc nhận một tài sản ựược tặng cho, di tặng hoặc thừa kế theo di chúc Ta nói rằng trong hôn nhân giả tạo, người kết hôn hoàn toàn không có cam kết chung sống Luật hiện hành không có quy ựịnh gì ựặc biệt liên quan ựến loại hôn nhân này

2.1.2 Tìm hiểu về các nguyên nhân của kết hôn giả tạo Một khi kết hôn giả tạo ựược xác lập thì việc chung sống của các chủ thể trong quan hệ hôn nhân không tồn tại hoặc có chăng chỉ vì sự ựánh ựổi, kết hôn nhưng không vì tình yêu thực sự và mục ựắnh xây dựng một tổ ấm gia ựình hạnh phúc bền vững mà chỉ nhằm tìm kiếm một lý do hợp pháp ựể xuất cảnh ra đài Loan

và ựể ựổi ựời vì hoàn cảnh gia ựình nghèo chỉ mong sao ựược giúp ựỡ gia ựình thoát khỏi cuộc sống thiếu thốn Hôn nhân ựối với họ chỉ là hình thức hay ựể ựạt ựược mục ựắch nào ựó Tất cả xuất phát từ những nguyên nhân mà quy phạm pháp luật nước ta còn bỏ ngõ Vấn ựề kết hôn giả tạo hiện nay vẫn chưa ựược các nhà làm luật ựưa vào Luật hôn nhân và gia ựình năm 2000 Vỏn vẹn trong Khoản 2 điều 4

Ộcấm kết hôn giả tạoỢ, chúng ta chỉ biết việc kết ựó bị cấm còn thực tế thì chưa có văn bản luật hay dưới luật hướng dẫn cụ thể về vấn ựề này, mà trường hợp kết hôn giả tạo nó chủ yếu thể hiện và thường gặp tại các tổ chức, ựơn vị làm công tác tư pháp về ựăng ký kết hôn như Ủy ban nhân dân xã ựối với quan hệ hôn nhân trong nước, Sở tư pháp ựối với hôn nhân có yếu tố nước ngoài, xin ly hôn như ở Tòa án mới phát hiện ựương sự kết hôn giả

Nguyên nhân của kết hôn giả tạo là ựể ựảm bảo một mục ựắch nào ựó, thông thường là lợi ắch, lợi nhuận cá nhân của người kết hôn hoặc của những người khác

có liên quan Kết hôn giả tạo thường xảy ựối với các trường hợp: kết hôn với Việt Kiều hoặc người nước ngoài ựể ựược xuất cảnh, kết hôn với người Việt Nam ựể

Trang 22

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

ñược nhập cảnh, kết hôn với một người có hộ khẩu ñể ñược nhập hộ khẩu, kết hôn

ñể ñược hưởng di sản thừa kế nhiều hơn

Thực tế hiện nay cho thấy có khá nhiều trường hợp lợi dụng vấn ñề kết hôn giả tạo ñể trục lợi, coi hoạt ñộng kết hôn giả là ñể kiếm tiền

- ðối với hôn nhân có yếu tố nước ngoài Chuyện kết hôn giả ñang trở thành một phương thức “làm ăn” của một số Việt Kiều không công ăn việc làm ổn ñịnh ở nước ngoài ðây là vấn ñề ñang ñược

dư luận xã hội quan tâm bởi liên quan ñến tình trạng buôn bán phụ nữ và trẻ em ñang diễn biến phức tạp Không ít người trở thành nạn nhân của những vụ kết hôn giả nhất là những cô gái trẻ “Tiền mất, tật mang” vừa mất tiền ñể ñược “kết hôn”, vừa chịu cảnh ñọa ñày thân xác và tinh thần bởi không ít những cô gái bị bán vào ổ chứa mại dâm hoặc trở thành người giúp việc “bất ñắc dĩ” Kết hôn là quyền tự do của mỗi người nên việc “kết hôn giả” làm “bước ñệm” ra nước ngoài ngày càng nhiều Và cả chuyện vì là kết hôn giả ñể ñược bảo lãnh xuất cảnh, sau khi kết hôn

mà không chịu ly hôn thì pháp luật cũng không thể can thiệp vì về mặt pháp lý họ

Với một số người việc có hộ khẩu ở thành phố ñược coi như một cái mác ñể thể hiện ñẳng cấp cũng như giành ñược những lợi thế trong bước ñi của cuộc ñời mình Thế là ở một số thành phố lớn hiện nay ñặc biệt là thành phố Hồ Chí Minh diễn ra những cuộc chiến nhập hộ khẩu của một bộ phận giới trẻ dân ngoại tỉnh Và kết hôn giả ñang ñược nhiều bạn trẻ coi như một giải pháp tối ưu giành thế thắng trong cuộc chiến có hộ khẩu thành phố Lợi dụng tình hình ñó những người có hộ khẩu gốc ở thành phố lợi dụng kết hôn giả ñã kiếm ñược một số tiền ñáng kể trong việc giúp “ñối tác” có hộ khẩu thành phố hợp pháp Thậm chí còn phát hiện có người ñã 3 lần kết hôn giả ðiều ñáng nói ở ñây là những cuộc kết hôn giả ấy ña phần ñược các cơ sở ñịa phương phát hiện nhưng không có biện pháp xử lý bởi thủ tục kết hôn - ly hôn của họ theo ñúng trình tự yêu cầu của pháp luật

Trang 23

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

2.1.3 Sự khác biệt giữa kết hôn trái pháp luật và kết hôn giả tạo + Căn cứ vào ñiều kiện kết hôn ñể phân biệt kết hôn giả và kết hôn trái pháp luật

Kết hôn trái pháp luật ñược quy ñịnh ñó là việc xác lập quan hệ vợ chồng có ñăng ký kết hôn nhưng vi phạm ñiều kiện kết hôn do pháp luật quy ñịnh Kết hôn giả tạo thì không vi phạm ñiều kiện kết hôn hoặc có vi phạm thì tính chất của nó cũng khác kết hôn trái pháp luật Kết hôn giả trái pháp luật thường xảy ra ñối với trường hợp kết hôn có yếu tố nước ngoài ñể bảo lãnh người thân sang ñịnh cư ở nước ngoài Hiện nay kết hôn trái pháp luật ñược quy ñịnh cụ thể là những trường hợp vi phạm các ñiều kiện kết hôn quy ñịnh tại ðiều 9, ðiều 10 Luật hôn nhân và gia ñình năm 2000 cụ thể là các ñiều kiện về tuổi kết hôn, sự ưng thuận, và những cản trở ñối với hôn nhân, kết hôn mà vi phạm các ñiều kiện ñó ñược coi là trái pháp luật và ñược giải quyết tại Nghị Quyết 02/2000/NQ-HðTP, nhìn chung kết hôn trái pháp luật ñược quy ñịnh khá chặt chẽ trong văn bản luật Về kết hôn giả tạo nhà làm luật chỉ mới nêu ra tại Khoản 2 ðiều 4 “cấm kết hôn giả tạo”, chưa có cách giải quyết cụ thể, kết hôn giả tạo khi phát hiện thì cho ly hôn hay hủy ñó mới là vấn ñề

+ Việc phân ñịnh kết hôn trái pháp luật và kết hôn giả tạo ñể thấy rằng hai trường hợp kết hôn này có những ñiểm trùng nhau là trước cán bộ hộ tịch họ tự nguyện và ñồng tình ký vào giấy chứng nhận ñăng ký kết hôn, nhưng sau khi xác lập quan hệ hôn nhân bằng thủ tục ñăng ký kết hôn thì hai cuộc hôn nhân này ñi ñến hai sự việc khác nhau Hôn nhân trái pháp luật do bị cưỡng ép dĩ nhiên sẽ tồn tại một cuộc sống chung và cuộc sống hôn nhân có hạnh phúc hay không là tùy thuộc vào yếu tố tâm lý của hai chủ thể trong quan hệ hôn nhân giữa người nam và người nữ Từ ñó tòa án ñưa ra cách giải quyết quy ñịnh tại Mục 2 ñiểm d2 NQ 02/2000

- Nếu sau khi bị ép buộc, bị lừa dối hoặc bị cưỡng ép kết hôn mà cuộc sống chung không có hạnh phúc, không có tình cảm vợ chồng, thì quyết ñịnh hủy việc kết hôn trái pháp luật

- Nếu sau khi bị ép buộc, bị lừa dối hoặc bị cưỡng ép kết hôn mà mà bên bị

ép buộc, bị lừa dối hoặc bị cưỡng ép ñã biết, nhưng ñã thông cảm, tiếp tục chung sống hòa thuận thì không quyết ñịnh hủy việc kết hôn trái pháp luật Nếu mới phát sinh mâu thuẫn và có yêu cầu giải quyết việc ly hôn, thì tòa án thụ lý vụ án ñể giải quyết ly hôn theo thủ tục chung

Còn kết hôn giả tạo người kết hôn ý thức việc xác lập quan hệ hôn nhân ñó,

nó không phải là do cưỡng ép mà ñăng ký kết hôn, cho nên bản chất của hôn nhân

sẽ khác ñi Kết hôn ñể lợi dụng giá trị pháp lý ñó thực hiện lợi ích nào ñó: ñể xuất

Trang 24

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

cảnh, nhập cảnh, ựể ựược hưởng di sản thừa kế, ựể cho con chung ựược hưởng tư cách con trong giá thú vì trên thực tế cha mẹ không muốn sống chung với nhau

Chung sống trong hôn nhân ở ựây có thể hiểu là hai bên nam nữ thật sự yêu thương nhau và mong muốn ựược sống chung với nhau trọn ựời Nương tựa, chăm sóc, giúp ựỡ nhau trong cuộc sống Hôn nhân giả thì ý thức chung ựó không tồn tại

và cũng không có việc chung sống giống như kết hôn trái pháp luật do bị cưỡng ép

đó chắnh là ựiểm khác nhau cơ bản giữa kết hôn giả tạo và kết hôn trái pháp luật 2.2 Các hình thức biến thể mới của hôn nhân hiện ựại

2.2.1.Hôn nhân ựồng giới Khoản 5 điều 10 Luật hôn nhân và gia ựình năm 2000 quy ựịnh Ộcấm kết hôn giữa những người cùng giới tắnhỢ Chế ựịnh này chỉ ựược ghi nhận chắnh thức trong Luật hôn nhân và gia ựình năm 2000 Trước ựó nếu có trường hợp kết hôn ựồng giới thì tục lệ sẽ can thiệp thông qua dư luận xã hội Trong tục lệ truyền thống

ở Việt Nam, hôn nhân giữa những người cùng giới tắnh không bao giờ ựược thừa nhận Hôn nhân giữa những người cùng giới tắnh ựược coi là hiện tượng xã hội không lành mạnh, trái với thuần phong mỹ tục, không phù hợp với ựạo ựức xã hội

và cần ựược ngăn chặn, loại bỏ

Còn ở các nước phương Tây, Hà Lan là nước ựầu tiên công nhận hôn nhân ựồng giới vào năm 2001 Năm sau, Bỉ công nhận nhưng không cho phép nhận con nuôi Anh ựang ựề xuất hợp thức hóa các cặp ựồng giới tắnh theo tình trạng kết hợp dân sự với quyền lợi gần bằng vợ chồng khác giới Canada ựang xem xét luật hợp pháp hóa hôn nhân ựồng giới

đan Mạch là nước ựầu tiên cho phép các cặp ựồng giới sống chung với nhau theo tình trạng kết hợp dân sự từ năm 1989 và sau ựó còn cho phép nhận con nuôi Tại Pháp và đức, luật cho phép các cặp ựồng giới ựăng ký sống kết hợp dân sự lần lượt vào năm 2000 và 2001

Ý và Tây Ban Nha không thừa nhận quan hệ ựồng giới Tuy nhiên, Bồ đào Nha và một số vùng ở miền bắc Tây Ban Nha như Navara và Basque ựã thừa nhận các cặp ựồng giới theo thông luật và cho họ hưởng quyền lợi như người ựã lập gia ựình

Tại Nam Phi, Hiến pháp ựã ghi nhận quyền lợi của các cặp ựồng giới nam sau khi chế ựộ phân biệt chủng tộc chấm dứt vào năm 1994 Tại Thụy Sĩ, chắnh phủ ựang cân nhắc giới thiệu một ựạo luật thống nhất trên toàn quốc về cách ựối xử với các cặp ựồng giới Mỹ hôn nhân ựồng giới còn ựược công nhận ở một số tiểu bang

Và trên thế giới hiện nay, hôn nhân ựồng giới ựược xem xét ựến tùy vào quy ựịnh của các nhà làm luật, dư luận xã hội, ựạo ựức, tắn ngưỡng tôn giáo của từng quốc

Trang 25

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

ðối với Việt Nam hôn nhân ñồng giới là trái pháp luật, Khoản 5 ðiều 10 Luật hôn nhân và gia ñình năm 2000 tòa án có thể hủy việc kết hôn trái pháp luật giữa hai người cùng giới tính

2.2.2.Hôn nhân “thời vụ”

Với tốc ñộ phát triển của xã hội hiện nay, thuật ngữ “kinh tế thị trường” chúng ta liên tưởng ñến một nền kinh tế năng ñộng, hội nhập và phát triển không ngừng Và hiện nay cùng với quá trình phát triển kinh tế - xã hội mức sống của người dân ñược cải thiện và nhận thức ñược nâng cao Thì hôn nhân cũng ñược coi

là “thị trường” như bao thị trường khác, có những ñối tác tham gia “ñầu tư”, chỉ có ñiều là ñầu tư số phận, cuộc sống tình cảm Một trong những “thị trường hôn nhân”

ở ñây có thể nói ñến hôn nhân “thời vụ” ðối với quan niệm hiện nay xuất hiện một

số trường hợp hai bên nam nữ xác lập quan hệ hôn nhân chỉ theo một thời ñiểm nhất ñịnh Nó ñược coi như là một cam kết chung sống có giới hạn về mặt thời gian Dĩ nhiên, hôn nhân thời vụ về mặt pháp lý thì cũng không vi phạm pháp luật, vì nó ñều

có sự tự nguyện của các bên Cũng tồn tại cuộc sống chung nhưng chỉ diễn ra trong một thời gian ngắn

Ví dụ thực tế theo tình huống giải ñáp pháp lý của luật gia Huỳnh Minh Vũ báo thanh niên ñiện tử (Online) ngày 15/02/2006: anh A Việt Kiều Úc là doanh nhân ñang công tác ở Việt Nam trong thời hạn hai năm Hiện nay anh A ñang chung sống với chị B (người Việt) và tiến hành ñăng ký kết hôn với chị B trước cơ quan nhà nước có thẩm quyền Việt Nam nhưng lại không có ý ñịnh chung sống lâu dài

mà chỉ chung sống hai năm là chấm dứt quan hệ hôn nhân Ở Việt Nam, những trường hợp hôn nhân thời vụ dự báo sẽ xuất hiện phổ biến Vấn ñề ñặt ra là pháp luật chưa có quy ñịnh cụ thể về loại hôn nhân này Hiện nay thủ tục duy nhất có thể

áp dụng là cho ly hôn theo yêu cầu của một trong các bên khi mục ñích của hôn nhân không ñạt ñược và không còn ý ñịnh chung sống với nhau nữa

2.2.3 Hôn nhân ảo Hôn nhân ảo xuất hiện phổ biến trong giới trẻ Trung Quốc, khi mà thời ñại công nghệ thông tin khá phát triển Mạng Internet ñem lại nhiều lợi ích cho người dân trong việc truy cập thông tin toàn cầu Nó ñược xem là một tiến bộ của khoa học kỹ thuật

Song một thực tế là hôn nhân ñã ñược lập trình thành một trò chơi với ñầy ñủ hình thức cũng như nghi thức trong quan hệ hôn nhân giống như ñời thường, chỉ có ñiểm khác là tất cả ñều là ảo Hôn nhân ảo ñược tiến hành trên mạng nhanh chóng, tiện lợi, và chủ thể trong quan hệ hôn nhân ñều là ảo Dĩ nhiên, ñã thiết kế thành một Website hôn nhân thì tất cả quá trình tìm hiểu rồi ñi ñến hôn nhân cũng diễn ra

Trang 26

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

giống ựời thường Vợ chồng trong hôn nhân ảo cũng có cuộc sống chung, tài sản chung, có con chung, và cũng có thể ly hôn bất kỳ lúc nào

Hôn nhân ảo ựã gây nhiều tranh cãi trong dư luận xã hội ở Trung Quốc Nó ảnh hưởng trực tiếp ựến giới trẻ Trung Quốc Các số liệu thống kê cho thấy, năm

2004 hơn 100.000 người tham gia hôn nhân ảo, hầu hết là những người trong ựộ tuổi 20 Ờ 25, thậm chắ trong một số trường hợp có cả các em học sinh Một gia ựình

ở Trung Quốc ựã phát hiện cô con gái mới 16 tuổi ựã kết hôn và ly hôn ựến ba lần,

và ựây là một hiện tượng không lành mạnh bởi vì lứa tuổi thiếu niên hãy còn quá trẻ

ựể hiểu biết về cuộc sống hôn nhân

Hiện nay luật Trung Quốc chưa có biện pháp nào ựể ựiều chỉnh quan hệ hôn nhân này, chỉ có thể ựánh giá tác ựộng của hôn nhân ảo, trước hết là hôn nhân ảo cho phép những người tham gia có thể kết hôn, ly hôn tùy thắch và tùy tiện điểm chú ý nhất ở ựây là trách nhiệm của hôn nhân ảo sẽ không tồn tại như ựối với cuộc hôn nhân ngoài ựời thực điều ựó sẽ ảnh hưởng ựến nhận thức của giới trẻ về cuộc sống hôn nhân gia ựình thực sự, hôn nhân ảo sẽ là sát thủ của hôn nhân và cuộc sống thực

Nhìn chung, các hình thức hôn nhân trong xã hội ngày nay ựã có những biến thể mới, nó ựặt những quy phạm pháp luật về hôn nhân luôn phải có những quy ựịnh mới ựể ựiều chỉnh đó là ựiều quan tâm của cá nhân nhà làm luật trong việc nghiên cứu và xây dựng luật nói chung và pháp luật hôn nhân gia ựình nói riêng trong hệ thống pháp luật của Quốc gia

Trang 27

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG CỦA VẤN ðỀ KẾT HƠN GIẢ TẠO Ở NƯỚC TA HIỆN NAY - THỰC TIỄN XỬ LÝ VÀ MỘT

SỐ KIẾN NGHỊ ðỀ XUẤT

1 Thực trạng của vấn đề kết hơn giả tạo ở nước ta hiện nay

1.1.Căn cứ xác định kết hơn giả tạo

1.1.1.Căn cứ vào nguyên tắc hơn nhân tự nguyện, tiến bộ và quyền tự do kết hơn của cá nhân trong việc xây dựng gia đình

a Nguyên tắc hơn nhân tự nguyện, tiến bộ và quyền tự do kết hơn của

cá nhân trong việc xây dựng gia đình trong luật thực định

Hơn nhân tự nguyện, tiến bộ theo quy định của chủ nghĩa Mác bao hàm cả hai khía cạnh, đảm bảo quyền tự do kết hơn và tự do ly hơn Xuất phát từ chỗ tình yêu được coi là cơ sở của hơn nhân, cho nên việc quyết định lựa chọn người bạn đời

và đi đến hơn nhân phải là việc của bản thân hai bên nam nữ Mặt khác, khi tình yêu của đơi nam nữ khơng cịn nữa thì việc đảm bảo cho họ được tự do ly hơn lại thực

sự cần thiết Tất nhiên tự do ly hơn khơng cĩ ý nghĩa là ly hơn tuỳ tiện Việc ly hơn phải được đặt dưới sự kiểm sốt của nhà nước Trong mọi trường hợp xin ly hơn, tồ án phải tiến hành điều tra và hồ giải đồn tụ vợ chồng Và tồ án chỉ cĩ thể xử cho ly hơn khi xét thấy quan hệ vợ chồng thật sự đã đến mức “tình trạng trầm trọng, đời sống chung khơng thể kéo dài, mục đích của hơn nhân khơng đạt được”

Dựa trên quy định của chủ nghĩa Mác, Luật hơn nhân và gia đình của nước ta

đã ghi nhận nguyên tắc hơn nhân tự nguyện, tiến bộ là một trong những nguyên tắc

cơ bản của luật hơn nhân và gia đình Việt Nam, trên cơ sở này nam nữ được bình đẳng trong việc thực hiện quyền kết hơn cũng như ly hơn theo quy định của pháp luật

Theo Luật hơn nhân và gia đình Việt Nam, kết hơn được hiểu là việc nam

nữ xác lập quan hệ vợ chồng theo quy định của pháp luật về điều kiện kết hơn và đăng ký kết hơn Quyền kết hơn là gắn với nhân thân của mỗi bên nam nữ quyền này được pháp luật ghi nhận và bảo vệ: “Việc kết hơn do hai bên nam nữ tự nguyện quyết định, khơng bên nào được ép buộc lừa dối bên nào, khơng ai được ép buộc, cản trở”( ðiều 9 khoản 2 Luật hơn nhân và gia đình năm 2000) Hiến pháp 1992 quy định: “Nhà nước bảo hộ hơn nhân và gia đình Hơn nhân theo nguyên tắc tự nguyện, tiến bộ, một vợ một chồng, vợ chồng bình đẳng”( ðiều 64)

Sự tự nguyện của hai bên nam nữ là điều kiện kết hơn luật định, nếu thiếu sự

tự nguyện của một trong hai bên nam nữ thì các bên khơng đủ điều kiện kết hơn,

Trang 28

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

trường hợp ñã xác lập quan hệ hôn nhân mà vi phạm sự tự nguyện thì quan hệ hôn nhân ấy sẽ không ñược thừa nhận ðảm bảo cho hai bên nam nữ ñược “tự do kết hôn” là một ñảm bảo quan trọng mang tính chất “chìa khoá” ñể mở ra cho người phụ nữ sự bình ñẳng với nam giới trong gia ñình Pháp luật ghi nhận và ñảm bảo cho hai bên nam nữ ñược tự nguyện khi xác lập quan hệ hôn nhân là tiêu chí quan trọng ñể nam và nữ thực hiện một cách bình ñẳng quyền kết hôn của mình

ðảm bảo cho các bên nam nữ ñược tự do kết hôn cho nên việc tự nguyện quyết ñịnh chuyện hôn nhân của mỗi bên nam nữ là yêu cầu quan trọng ñược nhà làm luật ghi nhận và bảo vệ Theo ñó mỗi bên nam nữ ñều bình ñẳng trong việc bày

tỏ ý chí của mình về việc ñồng ý hay không ñồng ý xác lập quan hệ hôn nhân với người kia Chính vì vậy, pháp luật quy ñịnh khi ñăng ký kết hôn phải có mặt của cả hai bên nam nữ, không cho phép kết hôn vắng mặt, không cho phép người ñang ở trong trạng thái tin thần bị kích ñộng mạnh ñăng ký kết hôn Xuất phát từ vấn ñề này, thì cần phải thực hiện nghiêm chỉnh các nghi thức về ñăng ký kết hôn theo quy ñịnh của pháp luật, có như vậy mới kịp thời phát hiện ra những trường hợp nam nữ ñặc biệt là nữ bị cưỡng ép kết hôn và bảo vệ họ

ðảm bảo cho các bên nam nữ ñược tự do kết hôn, Luật hôn nhân và gia ñình cũng ghi nhận nguyên tắc áp dụng phong tục tập quán về hôn nhân và gia ñình Theo ñó, tôn trọng và phát huy những phong tục tập quán thể hiện quyền tự do của hai bên nam nữ khi xác lập quan hệ hôn nhân ðồng thời nghiêm cấm tục cướp vợ

ñể cưỡng ép người phụ nữ làm vợ, tục nối dây, ép người khác kết hôn trái với ý muốn của họ hoặc các hành vi lợi dụng việc xem tướng số hay các hình thức mê tín

dị ñoan khác ñể cản trở việc thực hiện quyền tự do kết hôn của các bên nam nữ

ðảm bảo quyền tự do kết hôn cho các bên nam nữ nên các hành vi “ép buộc, lừa dối” hoặc “cưỡng ép”, “cản trở” các bên nam nữ xác lập quan hệ hôn nhân là những hành vi vi phạm luật hôn nhân và gia ñình Vì thế, vi phạm tự nguyện khi kết hôn là một trong những căn cứ ñể áp dụng chế tài xử huỷ việc kết hôn trái pháp luật Bên cạnh ñó tuỳ theo mức ñộ vi phạm, chúng ta có thể áp dụng các chế tài của lĩnh vực hành chính và hình sự, những chế tài này không chỉ có tác dụng “trừng trị” mà còn có tác dụng răn ñe các hành vi cản trở hôn nhân tự nguyện, tiến bộ, ví dụ:

“Phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 50.000 ñồng ñến 200.000 ñồng ñối với một trong những hành vi sau ñây:

a Cưỡng ép người khác kết hôn

b Cản trở người khác kết hôn, cản trở hôn nhân tự nguyện, tiến bộ bằng cách hành hạ, ngược ñãi, uy hiếp tin thần, yêu sách của cải hoặc bằng thủ ñoạn khác”

Trang 29

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Trong Bộ luật hình sự 1999, chế tài này cũng ựược quy ựịnh một cách xứng ựáng ựối với những người thực hiện hành vi cưỡng ép kết hôn hoặc cản trở hôn nhân tự nguyện, tiến bộ Ộngười nào cưỡng ép khác kết hôn trái với sự tự nguyện của

họ, cản trở người khác kết hôn, ựã bị xử phạt hành chắnh về hành vi này mà còn vi phạm, thì bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ ựến ban năm hoặc phạt tù từ 3 tháng ựến 3 năm (điều 106 BLHS)

để ựảm bảo quyền tự do kết hôn của các bên nam nữ, pháp luật hôn nhân và gia ựình cũng ghi nhận sự bình ựẳng của các bên nam nữ về quyền yêu cầu huỷ việc kết hôn trái pháp luật: Bên bị cưỡng ép, bị lừa ựôi kết hôn theo quy ựịnh của pháp luật về tố tụng dân sự có quyền yêu cầu toà án huỷ việc kết hôn trái pháp luật đây

là lối thoát an toàn ựối với người phụ nữ, nhất là trong những trường hợp bị lừa dối kết hôn

Vắ dụ: Trong những trường hợp lừa dối về chủ thể: người con gái tự nguyện xác lập quan hệ hôn nhân với một nam giới sau khi cưới về chung sống với nhau thì phát hiện chồng mình là người khác Vì thế bảo ựảm sự bình ựẳng cho người phụ nữ trong việc quyền yêu cầu huỷ việc kết hôn trái pháp luật cũng là một khắa cạnh quan trọng của việc ựảm bảo sự bình ựẳng của người phụ nữ về quyền tự do kết hôn

Như vậy, không chỉ ghi nhận sự bình ựẳng nam và nữ về quyền tự do kết hôn, pháp luật còn ựảm bảo cho quyền ựó ựược thực hiện bằng sức mạnh cưỡng chế Tuy nhiên ựiều quan trọng ựể bảo vệ một cách có hiệu quả sự bình ựẳng giữa nam và nữ trong việc thực hiện quyền tự do kết hôn cần phải tạo cho người phụ nữ những Ộcơ hộiỢ ựể họ có thể thực hiện ựược quyền này đây cũng là mấu chốt quan trọng ựể ựảm bảo quyền tự do kết hôn Bởi vì, sự tự nguyện lựa chọn người bạn ựời

về phắa người phụ nữ còn chịu sự ảnh hưởng bởi rất nhiều yếu tố như: phong tục tập quán, ựiều kiện sống, ựiều kiện tiếp cận với các thông tin về pháp luật và các thông tin khác Vì lẽ ựó, bên cạnh các biện pháp pháp luật còn cần ựến rất nhiều các biện pháp xã hội khác ựó chắnh là những biện pháp nhằm ựưa pháp luật ựến với thực tế cuộc sống

b Biến thể của nguyên tắc tự nguyện, tiến bộ và quyền tự do kết hôn trong kết hôn giả tạo

Trong sự phát triển của tiến bộ xã hội, tự do kết hôn ựã trở thành một giá trị

cơ bản của quyền con người Hôn nhân chỉ tự do chừng nào nó ựược xây dựng trên

cơ sở tình yêu chân chắnh giữa nam và nữ, không có sự tắnh toán vật chất ựịa vị xã hội chi phối đối với mỗi ựôi trai gái ựi ựến hôn nhân là biểu hiện cao nhất của ước

mơ nguyện vọng ựược chung sống và xây dựng tổ ấm gia ựình Trước khi cùng nhau ký vào Giấy chứng nhận ựăng ký kết hôn, họ cùng nhau bày tỏ ý chắ tự nguyện xác lập quan hệ hôn nhân trước người ựại diện của cơ quan ựăng ký kết hôn đó

Trang 30

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

chính là giờ phút thiêng liêng để mỗi người thực hiện quyền tự do kết hơn của mình Vậy nhưng trong quan hệ hơn nhân giả tạo, hơn nhân mà việc đăng ký kết hơn chỉ là phương tiện để một trong hai bên nam nữ đạt được mục đích nào đĩ như để xuất cảnh ra nước ngồi theo diện “đồn tụ gia đình”, nhập hộ khẩu thành phố, để được ở lại nước ngồi khi đã hết thời hạn ở lại đĩ buộc phải quay lại Việt Nam, trong loại quan hệ hơn nhân này, nguyên tắc tự nguyện, tiến bộ trong kết hơn vẫn tồn tại một cách bình thường như các quan hệ hơn nhân hợp pháp khác Cĩ thể nĩi khác đi là các bên trong quan hệ hơn nhân giả tạo hồn tồn tự nguyện tiến tới xác lập quan hệ hơn nhân với nhau, họ mong muốn được xác lập quan hệ hơn nhân với nhau Do đĩ,

cĩ thể thấy, yếu tố về sự tự nguyện khơng phải là điểm mấu chốt để phân biệt giữa hơn nhân giả tạo và hơn nhân khơng giả tạo… Sau đây là những trường hợp áp dụng nguyên tắc tự nguyện kết hơn và quyền tự do kết hơn của cơng dân cĩ những dấu hiệu của kết hơn giả tạo

Một bà Việt Kiều đã gần 50 tuổi dắt cậu con trai vừa đủ tuổi kết hơn, cịn ngượng ngùng trong cách xưng hơ đến Sở Tư pháp làm thủ tục đăng ký kết hơn Khơng cần biết mọi người phản ứng ra sao trước quan hệ hơn nhân “trái khốy” này ðượng sự điềm nhiên và trơn tru lấy danh xưng tình yêu và mục đích mưu cầu hạnh phúc lứa đơi để bày tỏ nguyện vọng được kết hơn với nhau trước cán bộ thụ lý

hồ sơ Dĩ nhiên, khi họ đã viện dẫn đến “quyền tự do kết hơn” thì dù cĩ cố gắng giải thích, thuyết phục thế nào thì rồi cuối cùng cơ quan đăng ký kết hơn phải thụ lý hồ

sơ, khơng thể từ chối đăng ký kết hơn vì lý do “khơng phù hợp phong tục tập quán”

vì vợ hơn chồng hai ba chục tuổi Phải chăng đây là cách đối phĩ với sự chặt chẽ của thủ tục đăng ký kết hơn

Một trường hợp nữa về khoảng cách tuổi tác về việc đăng ký kết hơn giữa ơng Việt Kiều Pháp hơn cơ vợ Việt Nam 50 tuổi, mà Uỷ ban nhân dân tỉnh Ninh Thuận đã đăng ký Dù khi thụ lý những trường hợp như vậy, cơ quan hộ tịch cũng như Hội phụ nữ các cấp ở địa phương luơn mất nhiều cơng sức vận động, thuyết phục nhưng hầu như các đương sự đều kiên quyết “tự nguyện kết hơn” Thậm chí

sự tích cực giải thích của các cơ quan chức năng, luơn bị đương sự coi là sự cản trở hơn nhân “tự nguyện”

Căn cứ vào nguyên tắc hơn nhân tự nguyện tiến bộ và quyền tự do kết hơn của cơng dân cho thấy ngày càng nhiều những trường hợp người dân nắm rõ quy định của pháp luật để nhằm phục vụ cho lợi ích của mình Rõ ràng ý thức của người dân đã được nâng cao hoặc cĩ chăng là do một bộ phận lợi dụng quy định “sự tự nguyện” để mách nước cho người cĩ ý định kết hơn giả tạo biết để trình bày trước viên chức hộ tịch gây khĩ khăn cho cơ quan chức năng thực hiện nhiệm vụ của

Ngày đăng: 05/04/2018, 22:36

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm