Ngược lại, nếu chất lượng nghị quyết, quyết định của HĐND không đi vào thực tế, không phản ánh đúng thực chất của địa phương dẫn đến sự mất tín nhiệm của nhân dân, uy tín của cơ quan dân
Trang 1Lớp: Luật Hành Chính Khóa 35
Cần Thơ, 11/2012
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành tốt luận văn tốt nghiệp này, em xin chân thành cám ơn các Thầy,
Cô trong Khoa Luật – trường Đại học Cần Thơ đã giúp đỡ, hướng dẫn để em có thể hoàn thành quyển luận văn này Đặc biệt, em xin gửi đến Cô Huỳnh Thị Sinh Hiền những lời cám ơn chân thành nhất, trong thời gian qua nhờ sự hướng dẫn tận tình của Cô mà em có thể hoàn thành đề tài luận văn của mình, cũng thông qua Cô em có thể phát hiện ra nhiều vấn đề mới, kiến thức mới liên quan đến đề tài luận văn và nhiều vấn đề khác có thể có ích cho công việc của em sau này
Qua đây em cũng xin gửi lời cám ơn đến gia đình, bạn bè đã luôn bên cạnh giúp
đỡ, động viên tinh thần để em có thể hoàn thành đề tài nghiên cứu của mình một cách tốt nhất
Do thời gian thực hiện luận văn có hạn, kiến thức còn nhiều hạn chế nên không tránh khỏi những thiếu sót nhất định Em rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến của quý Thầy, Cô và các bạn để cho đề tài luận văn của em thêm hoàn thiện hơn
Em xin gửi đến quý Thầy, Cô lời chúc sức khỏe Chúc các Thầy, Cô ngày càng có những đóng góp to lớn hơn nữa trong sự nghiệp giáo dục của nước nhà
Trân trọng
Sinh viên thực hiện:
Võ Văn Tuấn Khanh
GVHD: ThS Huỳnh Thị Sinh Hiền SVTH: Võ Văn Tuấn Khanh
Trang 3NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN
GVHD: ThS Huỳnh Thị Sinh Hiền SVTH: Võ Văn Tuấn Khanh
Trang 4NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN PHẢN BIỆN
GVHD: ThS Huỳnh Thị Sinh Hiền SVTH: Võ Văn Tuấn Khanh
Trang 5BẢNG DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN
TỪ VIẾT TẮT TỪ ĐƯỢC VIẾT TẮT
HĐND Hội đồng nhân dân
UBND Ủy ban nhân dân
TAND Tòa án nhân dân
VKSND Viện kiểm sát nhân dân
Hiến pháp năm 1992 Hiến pháp năm 1992 sửa đổi, bổ sung năm 2001
GVHD: ThS Huỳnh Thị Sinh Hiền SVTH: Võ Văn Tuấn Khanh
Trang 6MỤC LỤC
Trang
LỜI NÓI ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 1
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 1
4 Phương pháp nghiên cứu 2
5 Kết cấu của luận văn 2
CHƯƠNG 1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN VÀ ĐẠI BIỂU HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN 3
1.1 Khái quát về HĐND 3
1.1.1 Khái niệm, chức năng của HĐND 3
1.1.1.1 Khái niệm 3
1.1.1.2 Chức năng của HĐND 3
1.1.2 Vị trí pháp lý và tính chất pháp lý của HĐND 4
1.1.3 Cơ cấu, tổ chức và hình thức hoạt động của HĐND 5
1.1.3.1 Cơ cấu, tổ chức của HĐND 5
1.1.3.2 Hình thức hoạt động 7
1.1.4 Lịch sử hình thành và phát triển của HĐND 10
1.2 Khát quát về đại biểu HĐND 13
1.2.1 Các khái niệm 13
1.2.1.1 Khái niệm đại biểu HĐND 13
1.2.1.2 Khái niệm hoạt động của đại biểu HĐND 14
1.2.2 Nhiệm vụ và quyền hạn của đại biểu HĐND 15
1.2.2.1 Nhiệm vụ 15
1.2.2.2 Quyền hạn 16
1.2.3 Sự phát triển của chế định đại biểu HĐND qua các bản Hiến pháp 16
CHƯƠNG 2 HOẠT ĐỘNG CỦA ĐẠI BIỂU HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN 19
2.1 Chế độ làm việc của đại biểu HĐND 19
2.2 Những hoạt động của đại biểu HĐND 21
2.2.1 Hoạt động tham gia các kỳ họp, phiên họp của HĐND 21
2.2.2 Hoạt động giám sát 24
2.2.2.1 Hoạt động chất vấn 25
Trang 72.2.2.2 Giám sát tại cơ sở 27
2.2.2.3 Giám sát việc ban hành văn bản quy phạm pháp luật của UBND cùng cấp và HĐND cấp dưới trực tiếp 28
2.2.3 Hoạt động tiếp xúc cử tri 30
2.2.4 Hoạt động tiếp công dân 33
2.3 Những đảm bảo cho hoạt động của đại biểu HĐND 35
2.3.1 Bảo đảm về vật chất 35
2.3.2 Bảo đảm về việc tiếp cận thông tin 37
2.3.3 Bảo đảm về thân thể 38
2.4 Việc chấm dứt tư cách đại biểu HĐND 39
2.4.1 Đại biểu xin thôi làm nhiệm vụ đại biểu 39
2.4.2 Đại biểu HĐND bị bãi nhiệm 40
2.4.3 Đại biểu HĐND bị kết án và bản án đã có hiệu lực pháp luật 41
CHƯƠNG 3 THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG CỦA ĐẠI BIỂU HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN VÀ GIẢI PHÁP GÓP PHẦN NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA ĐẠI BIỂU HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN 43
3.1 Thực trạng hoạt động của đại biểu HĐND 43
3.1.1 Những thành tựu 43
3.1.2 Những hạn chế 46
3.1.2.1 Hạn chế trong hoạt động tham gia kỳ họp, phiên họp 46
3.1.2.2 Hạn chế trong hoạt động giám sát 48
3.1.2.3 Hạn chế trong hoạt động tiếp xúc cử tri 51
3.1.2.4 Hạn chế trong hoạt động tiếp công dân 53
3.1.3 Nguyên nhân của những hạn chế 54
3.2 Giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động của đại biểu HĐND 56
3.2.1 Giải pháp chung 56
3.2.2 Giải pháp trong hoạt động tham gia kỳ họp, phiên họp 59
3.2.3 Giải pháp trong hoạt động giám sát 61
3.2.4 Giải pháp trong hoạt động tiếp xúc cử tri 63
3.2.5 Giải pháp trong hoạt động tiếp công dân 64
KẾT LUẬN 65 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 8LỜI NÓI ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Trong tiến trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân ở Việt Nam hiện nay, vấn đề kiện toàn tổ chức, nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của bộ máy nhà nước là một yêu cầu khách quan Để xây dựng thành công nhà nước pháp quyền tất cả các cơ quan nhà nước từ Trung ương đến địa phương phải thực hiện đúng và đầy đủ chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình theo quy định của Hiến pháp và pháp luật
Theo điều 119 Hiến pháp năm 1992 thì Hội đồng nhân dân vừa là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương, vừa là cơ quan đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của nhân dân Do đó, xây dựng HĐND các cấp có thực quyền để đảm đương đầy đủ vai trò, trách nhiệm của mình là một yêu cầu bức thiết hiện nay
Từ khi ra đời cho đến nay, HĐND các cấp không ngừng phát triển và có nhiều thay đổi qua từng giai đoạn lịch sử Hội đồng nhân dân cũng đã có những đóng góp quan trọng trong sự nghiệp xây dụng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa Tuy nhiên, hiện nay qua quá trình hoạt động của mình HĐND đã và đang bộc lộ nhiều yếu kém, hạn chế Hoạt động của HĐND còn mang nặng tính hình thức, do đó chưa thực hiện tốt vai trò, chức năng luật định Điều này đã làm suy giảm vai trò của HĐND trong bộ máy nhà nước Thậm chí giải pháp bãi bỏ một số cấp của HĐND nhằm tinh gọn, giản bớt sự cồng kềnh của bộ máy Nhà nước đã được đưa ra
Những yếu kém và hạn chế trong hoạt động của HĐND được gây ra bởi nhiều yếu
tố khác nhau Trong đó, yếu tố đại biểu HĐND đóng vai trò quyết định bởi hoạt động của HĐND được tạo thành từ hoạt động của bản thân từng đại biểu Với mục đích nhằm tìm
ra những hạn chế trong hoạt động của đại biểu HĐND, làm rõ nguyên nhân của những hạn chế, từ đó góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của HĐND, người viết
chọn đề tài “Hoạt động của đại biểu Hội đồng nhân dân – Thực trạng và giải pháp”
làm luận văn tốt nghiệp của mình
2 Mục đích nghiên cứu
Trước tình hình hoạt động của HĐND và đại biểu HĐND bộc lộ nhiều hạn chế, hoạt động mang tính hình thức, với luận văn này người viết hy vọng rằng sẽ tìm ra những giải pháp thích hợp góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động của Hội đồng nhân dân để Hội đồng nhân dân thực sự xứng đáng là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Để nâng cao hiệu quả hoạt động của đại biểu HĐND, ở luận văn này, người viết tập trung phân tích những thành tựu và hạn chế trong quy định của pháp luật về đại biểu
Trang 9HĐND, về hoạt động của đại biểu HĐND Trên cơ sở tìm hiểu nguyên nhân gây ra những hạn chế trong hoạt động của đại biểu HĐND, luận văn đưa ra những giải pháp, ý kiến đề xuất nhằm góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động của của những người đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của nhân dân ở địa phương.
4 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài được nghiên cứu trên cơ sở dựa vào những quy định của pháp luật về HĐND và đại biểu HĐND và thực tiễn hoạt động của đại biểu để so sánh đối chiếu, làm
rõ những vấn đề mang tính pháp lý Bên cạnh đó, người viết cũng sử dụng phương pháp phân tích luật viết, phương pháp thu thập, tổng hợp, đánh giá thông tin, kết hợp lý luận và thực tiễn để luận văn thêm phần thuyết phục hơn
5 Kết cấu của luận văn
Bên cạnh lời nói đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, thì nội dung luận văn tốt nhiệp
với đề tài “Hoạt động của đại biểu Hội đồng nhân dân – Thực trạng và giải pháp”
Trang 10CHƯƠNG 1.
LÝ LUẬN CHUNG VỀ HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN VÀ
ĐẠI BIỂU HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN
Ở nước ta quyền lực Nhà nước là của nhân dân được Hiến pháp ghi nhận Nhân dân sử dụng quyền lực của mình thông qua cơ quan đại diện là Quốc hội và Hội đồng nhân dân Nếu như Quốc hội là cơ quan đại diện cao nhất của nhân dân ở trung ương, cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và đại biểu Quốc hội là người đại diện cho ý chí, nguyện vọng của nhân dân cả nước thì HĐND
là cơ quan quyền lực Nhà nước ở địa phương và đại biểu HĐND là người đại diện cho ý chí, nguyện vọng của nhân dân địa phương Với tư cách là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương HĐND có cơ cấu tổ chức và những hình thức hoạt động gì, cũng như đại biểu HĐND phải thỏa mãn những tiêu chuẩn nào và có quyền và nghĩa vụ ra sao Ở chương 1 của luận văn người viết sẽ tập trung làm rõ những nội dung kể trên
1.1.1.2 Chức năng của HĐND
Hội đồng nhân dân với tư cách là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương trong phạm vi do pháp luật quy định thì HĐND có hai chức năng cơ bản sau:
Một là, quyết định những chủ trương, biện pháp quan trọng để tổ chức thực hiện
pháp luật, văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên trên địa bàn và quyết định những chủ trương, chỉ tiêu, biện pháp quan trọng để phát huy tiềm năng lợi thế của địa phương, xây dựng và phát triển kinh tế xã hội, củng cố an ninh, quốc phòng nâng cao đời sống vật chất tinh thần của nhân dân địa phương, làm tròn nghĩa vụ của địa phương đối với cả nước Khác với Quốc hội, cơ quan có thẩm quyền quyết định, chủ trương, chính sách áp dụng trong phạm vi cả nước còn HĐND có thẩm quyền quyết định, chủ trương, chính sách áp dụng trong phạm vi địa phương Việc phát triển kinh tế, xã hội của địa phương phần nào dựa vào chất lượng quyết định, nghị quyết của HĐND Nếu chất lượng nghị quyết, quyết định của HĐND tốt, phản ánh đúng tình hình phát triển kinh tế, xã hội, đưa ra những
1 Điều 119 Hiến pháp năm 1992 sửa đổi, bổ sung năm 2001.
Trang 11quyết sách đúng, góp phần tích cực vào sự phát triển của địa phương, từ đó xứng đáng với sự tín nhiệm của nhân dân Ngược lại, nếu chất lượng nghị quyết, quyết định của HĐND không đi vào thực tế, không phản ánh đúng thực chất của địa phương dẫn đến sự mất tín nhiệm của nhân dân, uy tín của cơ quan dân cử bị hạ thấp.
Hai là, Hội đồng nhân dân thực hiện việc giám sát đối với hoạt động của Thường
trực HĐND, UBND, TAND, VKSND cùng cấp, giám sát việc tuân theo pháp luật của các
cơ quan nhà nước, các tổ chức kinh tế xã hội, đơn vị vũ trang và công dân ở địa phương, giám sát việc thực hiện nghị quyết của HĐND.2 Quốc hội với chức năng giám sát tối cao, giám sát những hoạt động của các cơ quan Nhà nước ở trương ương còn HĐND thực hiện việc giám sát đối với các hoạt động của các cơ quan Nhà nước ở địa phương Hoạt động giám sát của HĐND được thực hiện thông qua việc giám sát của HĐND tại kỳ họp, giám sát của Thường trực HĐND, giám sát của các ban HĐND và của đại biểu HĐND
1.1.2 Vị trí pháp lý và tính chất pháp lý của HĐND
Trong tất cả cơ quan nhà nước ở địa phương, Hội đồng nhân dân có một vị trí quan trọng, được Hiến pháp quy định là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương Có quyền đưa ra những quyết định về hoạt động của các cơ quan nhà nước ở địa phương và đưa ra các nghị quyết về chủ trương, chính sách phát triển ở địa phương, các cơ quan, tổ chức,
cá nhân phải xem xét và hoạt động theo định hướng mà HĐND đưa ra
Hội đồng nhân dân là cơ quan đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của nhân dân, do nhân dân địa phương bầu theo nguyên tắc phổ thông, bình đẳng, trực tiếp và bỏ phiếu kín và có quyền miễn nhiệm, bãi nhiệm đại biểu HĐND Hội đồng nhân dân phải chịu trách nhiệm trước nhân dân địa phương và cơ quan nhà nước cấp trên
Hội đồng nhân dân các cấp cùng với Quốc hội hợp thành hệ thống cơ quan quyền lực nhà nước, sử dụng quyền lực nhà nước ở địa phương Điều này khác với nhà nước tư sản chỉ coi Quốc hội mới là cơ quan đại diện cho nhân dân, còn các Hội đồng địa phương thì không đại diện cho nhân dân và không thuộc cơ quan đại biểu nhân dân Ở một số nước, các Hội đồng địa phương không bầu ra thị trưởng, quận trưởng, tỉnh trưởng mà các viên chức này do Chính phủ bổ nhiệm Ở Ma-lai-xi-a các chức danh này do Chính phủ bổ nhiệm, bởi họ cho rằng những đại biểu được bầu không có kinh nghiệm hoạt động, nên Chính phủ thấy việc bổ nhiệm là cần thiết hơn là bầu cử, vì với phương thức này thì Chính phủ có thể lựa chọn được người thích hợp Ở Thái Lan thì các chức danh tỉnh trưởng, quận hoặc huyện trưởng thì do Bộ nội vụ bổ nhiệm mà không thông qua phương thức bầu cử.3
2 Nguyễn Thái Dũng: Chất lượng đại biểu là nhân tố cơ bản nâng cao hiệu quả hoạt động của HĐND, Báo điện tử
Đại biểu Nhân dân, 2011, http://daibieunhandan.vn/default.aspx?tabid=128&NewsId=225654 , [truy cập ngày 20/7/2012].
3 Nguyễn Xuân Tế: Thể chế chính trị ở một số nước ASEAN, Nxb chính trị quốc gia, 1998, tr 87 và tr 130.
Trang 12Hội đồng nhân dân thuộc hệ thống cơ quan quyền lực nhà nước Khác với Quốc hội là cơ quan thay mặt cho toàn thể nhân dân cả nước, sử dụng quyền lực nhà nước trên phạm vi toàn quốc, Hội đồng nhân dân các cấp thay mặt nhân dân địa phương sử dụng quyền lực nhà nước trên phạm vi địa phương mình Chính điều này quyết định phạm vi, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của HĐND.
Hội đồng nhân dân các cấp trong Nhà nước ta là tổ chức chính quyền gần nhân dân nhất, hiểu rõ tâm tư, nguyện vọng, và yêu cầu của nhân dân, nắm vững những đặc điểm của địa phương Do đó có thể quyết định mọi công việc được tốt và sát vấn đề, phù hợp với nguyện vọng của nhân dân địa phương Hội đồng nhân dân các cấp còn là một tổ chức có tính chất quần chúng, bao gồm đại biểu của mọi tầng lớp nhân dân, các dân tộc, tôn giáo, những công nhân, nông dân, trí thức cùng nhau bàn bạc, giải quyết mọi công việc quan trọng của địa phương Như vậy, Hội đồng nhân dân vừa là một tổ chức có tính chất chính quyền, vừa có tính chất quần chúng, vừa là nơi để nhân dân thể hiện quyền làm chủ của mình.4
Hội đồng nhân dân nước ta căn cứ vào Hiến pháp, luật, các văn bản của các cơ quan nhà nước cấp trên để ra nghị quyết về các biện pháp đảm bảo thi hành nghiêm chỉnh Hiến pháp và pháp luật ở địa phương; quyết định những vấn đề quan trọng của địa phương như kế hoạch phát triển kinh tế xã hội và ngân sách, về quốc phòng an ninh ở địa phương và các biện pháp nhằm ổn định và nâng cao đời sống của nhân dân, hoàn thành mọi nhiệm vụ cấp trên giao, làm tròn nghĩa vụ đối với Nhà nước;5 thực hiện quyền giám sát đối với các hoạt động của Thường trực HĐND, UBND, TAND, VKSND cùng cấp, giám sát việc tuân theo pháp luật của các cơ quan nhà nước, các tổ chức kinh tế xã hội, đơn vị vũ trang và công dân ở địa phương.6
1.1.3 Cơ cấu tổ chức và hình thức hoạt động của HĐND
1.1.3.1 Cơ cấu tổ chức của HĐND
Hội đồng nhân dân – cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương, được hình thành
từ những đại biểu đại diện cho nhân dân, do nhân dân địa phương bầu ra Số lượng thành viên phụ thuộc theo từng cấp của HĐND, phụ thuộc vào số lượng dân cư sinh sống trên lãnh thổ địa phương và tính chất của địa phương (thủ đô hoặc thành phố lớn, thị trấn, thị xã) mà có số lượng đại biểu phù hợp Theo quy định của Luật Bầu cử đại biểu HĐND năm 2003 sửa đổi, bổ sung năm 2010, thì số lượng đại biểu HĐND đã tăng nhiều hơn so với trước đây và được phân bố đều cho các tầng lớp dân cư sinh sống, làm việc ở địa phương có sự đa dạng về giai cấp, tôn giáo, giới tính, dân tộc,…
4 Giáo trình Luật Hiến pháp Việt Nam, trường Đại Học Luật Hà Nội, 2005, tr 438.
5 Điều 120 Hiến pháp năm 1992.
6 Điều 1Luật Tổ chức HĐND và UBND năm 2003.
Trang 13Tổ chức của HĐND các cấp gồm có Thường trực HĐND và các Ban của HĐND.7
- Thường trực HĐND
Theo quy định của Luật tổ chức HĐND và UBND năm 2003, Thường trực HĐND được thành lập ở 3 cấp (tỉnh, huyện, xã) Thường trực HĐND cấp tỉnh, cấp huyện gồm có Chủ tịch, Phó Chủ tịch, và Ủy viên thường trực Thường trực HĐND cấp xã gồm có Chủ tịch và Phó Chủ tịch HĐND
Thường trực HĐND hoạt động thường xuyên, theo nguyên tắc tập trung dân chủ,
tổ chức các hoạt động của HĐND, chịu trách nhiệm và báo cáo trước HĐND cùng cấp Thường trực HĐND ban hành văn bản cá biệt để thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình Thường trực HĐND đưa ra quyết định về việc thành lập tổ đại biểu HĐND, về thi đua, khen thưởng cho các đại biểu HĐND
Các thành viên Thường trực HĐND chịu trách nhiệm tập thể về việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của Thường trực HĐND trước HĐND, chịu trách nhiệm cá nhân trước Thường trực HĐND về nhiệm vụ, quyền hạn được Thường trực HĐND phân công.8
Thành viên của Thường trực HĐND không thể đồng thời là Ủy viên UBND cùng cấp Chủ tịch HĐND có thể làm việc kiêm nhiệm, Phó Chủ tịch và Ủy viên thường trực HĐND làm việc chuyên trách
Kết quả thành lập Thường trực HĐND phải được Thường trực HĐND cấp trên trực tiếp phê chuẩn; kết quả bầu các thành viên của Thường trực HĐND cấp tỉnh phải được Ủy ban thường vụ Quốc hội phê chuẩn Thường trực HĐND các cấp thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình trong phạm vi do pháp luật quy định.9
- Các Ban của HĐND
Nhằm mục đích cho HĐND có thể hoạch định được các chủ trương, chính sách và đưa ra các nghị quyết Luật Tổ chức HĐND và UBND năm 2003 cho phép thành lập các Ban trong cơ cấu HĐND theo nhu cầu công việc, chức năng của HĐND
Hội đồng nhân dân cấp tỉnh thành lập 3 Ban: Ban kinh tế và ngân sách, Ban văn hóa và xã hội, Ban pháp chế Ở những nơi mà có nhiều dân tộc cư trú, thì HĐND cấp tỉnh
có thể thành lập Ban dân tộc để giúp HĐND giám sát việc thực hiện chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước
Hội đồng nhân dân cấp huyện thành lập 2 Ban: Ban kinh tế - xã hội và Ban pháp chế Ngoài các Ban kể trên HĐND cấp tỉnh, cấp huyện có thể thành lập các Ban lâm thời
để thực hiện một công việc nhất định và tự giải tán khi công việc đã hoàn thành Ví dụ: Ban kiểm tra tư cách đại biểu HĐND được bầu ra tại kỳ họp đầu tiên của mỗi khóa để
7 Các ban chỉ có ở HĐND cấp tỉnh và HĐND cấp huyện.
8 Điều 18 Quy chế hoạt động của HĐND năm 2005.
9 Điều 52 Luật Tổ chức HĐND và UBND năm 2003.
Trang 14kiểm tra kết quả bầu cử đại biểu HĐND và các vấn đề khác có liên quan.10 Riêng ở HĐND cấp xã không thành lập các Ban của HĐND Ban của HĐND hoạt động theo nguyên tắc tập trung dân chủ, chịu trách nhiệm và báo cáo công tác trước HĐND cùng cấp.
Trưởng ban của HĐND cấp tỉnh có thể làm việc chuyên trách, nếu Trưởng ban làm việc kiêm nhiệm thì Phó Trưởng ban phải làm việc chuyên trách Ví dụ: Trưởng ban pháp chế của HĐND làm việc chuyên trách thì Phó trưởng ban làm việc kiêm nhiệm Trưởng ban hoặc Phó Trưởng ban của HĐND cấp huyện có thể làm việc chuyên trách Trường hợp Trưởng ban hoặc Phó Trưởng ban của HĐND làm việc kiêm nhiệm thì HĐND quy định thời gian mà Trưởng ban hoặc Phó Trưởng ban đó phải dành thời gian cho hoạt động của Ban
Số lượng thành viên của các Ban do HĐND cùng cấp quyết định Thành viên của các Ban không thể đồng thời là thành viên UBND cùng cấp Trưởng ban của HĐND không thể đồng thời là Thủ trưởng cơ quan chuyên môn thuộc UBND, Viện trưởng VKSND, Chánh án TAND cùng cấp.11
1.1.3.2 Hình thức hoạt động
Hội đồng nhân dân sử dụng rất nhiều hình thức hoạt động, nhưng các hình thức đều
liên quan với nhau bổ khuyết cho nhau, thiếu một trong các hình thức nào đó sẽ dẫn đến việc HĐND sẽ hoạt động thiếu đồng bộ, thiếu hiệu quả HĐND sử dụng các hình thức hoạt động sau:
+ Kỳ họp với tất cả các đại biểu HĐND;
+ Hoạt động của các Ban;
+ Hoạt động của các tổ đại biểu được bầu ra từ một hoặc nhiều đơn vị bầu cử;
+ Hoạt động của mỗi đại biểu ở đơn vị bầu cử.12
a.) Kỳ họp của HĐND
Mỗi hình thức tổ chức hoạt động nêu trên đều có một vị trí, chức năng nhất định, nhưng chỉ có hình thức duy nhất có thể đưa ra các quyết định của HĐND là các kỳ họp Thông qua kỳ họp HĐND mới thể hiện rõ mình là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương Trong kỳ họp, HĐND mới có quyền quyết định các vấn đề về kinh tế, xã hội, quốc phòng và an ninh,… có liên quan đến địa phương, được pháp luật quy định
Kỳ họp HĐND là hội nghị định kỳ bao gồm các phiên họp của toàn thể các đại biểu HĐND để bàn bạc giải quyết các vấn đề nghị sự được đa số các đại biểu thông qua
10 Diễn đàn kiến thức pháp luật: Tổ chức và hoạt động của HĐND, 2011, thuc-phap-luat/58435-to-chuc-va-hoat-dong-cua-hoi-dong-nhan-dan.html , [truy cập ngày 20/7/2012 ].
http://diendankienthuc.net/diendan/kien-11 Điều 26 Quy chế hoạt động của HĐND năm 2005.
12 Điều 8 Luật Tổ chức HĐND và UBND năm 2003.
Trang 15Theo Luật Tổ chức HĐND và UBND năm 2003, HĐND thường lệ họp một năm hai kỳ Ngoài những kỳ họp định kỳ này, HĐND có thể họp bất thường theo đề nghị của Chủ tịch HĐND, Chủ tịch UBND cùng cấp hoặc khi có ít nhất một phần ba tổng số đại biểu HĐND cùng cấp yêu cầu Kỳ họp HĐND được tiến hành khi có ít nhất hai phần ba tổng số đại biểu HĐND tham gia.
Hội đồng nhân dân họp công khai Khi cần thiết, HĐND quyết định họp kín theo
đề nghị của chủ tọa cuộc họp hoặc Chủ tịch UBND cùng cấp
Trong mỗi kỳ họp HĐND cần phải xem xét và quyết định nhiều vấn đề khác nhau, phụ thuộc vào tính cấp bách và thiết thực của mỗi vấn đề nên thời gian kỳ họp có thể khác nhau Trong xu hướng chung hiện nay là kéo dài thời gian kỳ họp, với mong muốn
là mọi vấn đề đưa ra trong kỳ họp đều được giải quyết nhanh chóng, thấu đáo, tránh tình trạng tồn động kéo dài
Trong kỳ họp, trên cơ sở nghe báo cáo của các cơ quan hữu quan, HĐND thảo luận tìm ra những nguyên nhân, những tồn tại của việc chưa thực hiện tốt các nghị quyết của HĐND Bên cạnh đó, các đại biểu còn dùng hình thức giám sát hữu hiệu đối với cơ quan nhà nước ở địa phương là chất vấn Vấn đề này hiện nay được rất nhiều đại biểu và
cử tri cả nước quan tâm, theo dõi, thông qua kỳ họp của HĐND các yêu cầu, kiến nghị của đại biểu và cử tri đặt ra sẽ được xem xét, giải quyết
Kết quả của kỳ họp là việc HĐND thông qua các nghị quyết Nghị quyết của HĐND chỉ được thông qua khi có quá nửa tổng số đại biểu thông qua, trừ nghị quyết về việc bãi nhiệm, miễn nhiệm đại biểu HĐND thì phải cần có ít nhất hai phần ba tổng số đại biểu tham dự tán thành.13
Nghị quyết của HĐND cấp tỉnh có hiệu lực sau 10 ngày, kể từ ngày HĐND thông qua, trừ trường hợp văn bản quy định ngày có hiệu lực muộn hơn Đối với nghị quyết của HĐND cấp huyện là sau 7 ngày và cấp xã là sau 5 ngày Hội đồng nhân dân không được quy định hiệu lực trở về trước đối với văn bản quy phạm pháp luật do mình ban hành.14
b.) Hoạt động của các Ban
Hội đồng nhân dân thành lập các Ban trong kỳ họp đầu tiên của mỗi nhiệm kỳ Việc lựa chọn các đại biểu HĐND làm thành viên của các Ban có tính quyết định đến chất lượng hoạt động của các ban Các Ban thành lập theo các lĩnh vực thẩm quyền của HĐND, do vậy các đại biểu là thành viên của Ban cần phải có sự hiểu biết, kinh nghiệm, chuyên môn thuộc lĩnh vực của Ban mình hoạt động
Các Ban của HĐND có các chức năng quan trọng sau:
- Tham gia chuẩn bị các kỳ họp của HĐND;
13 Điều 48 Luật Tổ chức HĐND và UBND năm 2003.
14 Điều 51 Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật của HĐND và UBND năm 2004.
Trang 16- Giúp HĐND nghiên cứu, thẩm tra các dự thảo báo cáo, dự thảo nghị quyết dự kiến trình HĐND thông qua;
- Vận động nhân dân thực hiện nghị quyết của HĐND;
- Giúp HĐND giám sát Cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân và công dân trong việc thi hành Hiến pháp, luật, các văn bản của Cơ quan nhà nước cấp trên và các nghị quyết của HĐND cùng cấp;
- Giúp HĐND giám sát hoạt động của UBND và các cơ quan chuyên môn thuộc UBND, hoạt động của TAND và VKSND cùng cấp;
- Báo cáo kết quả hoạt động giám sát với Thường trực HĐND khi cần thiết
Trong các chức năng trên, việc thẩm tra trước các dự án trình HĐND là chức năng
cơ bản nhất Việc đánh giá chất lượng hoạt động của các Ban cơ bản là dựa vào việc thực hiện chức năng này
Hình thức hoạt động chủ yếu của các Ban thông qua các phiên họp, bên cạnh đó còn có hình thức hoạt động là tổ chức đi kiểm tra tại cơ sở Kết thúc cuộc kiểm tra, giám sát các Ban cũng thường tổ chức các phiên họp, để đưa ra những kiến nghị cho cơ sở hoặc cho HĐND trong kỳ họp sắp tới
Hoạt động của các Ban HĐND vừa mang tính nhà nước, vừa mang tính xã hội Tính xã hội thể hiện ở chỗ các đại biểu là thành viên hoạt động kiêm nhiệm, không tách rời công tác chuyên môn hoặc sản xuất, không ăn lương, không trong biên chế nhà nước Tính nhà nước thể hiện ở chỗ kiến nghị của các Ban buộc các cơ quan nhà nước, các tổ chức xã hội hữu quan phải xem xét và tổ chức thực hiện Kết quả xem xét và thực hiện phải báo cáo với Ban có kiến nghị biết.15
c.) Hoạt động của Tổ đại biểu HĐND
Các đại biểu HĐND được bầu ở một hoặc nhiều đơn vị bầu cử hợp thành Tổ đại biểu HĐND Số lượng, danh sách thành viên, Tổ trưởng và Phó Tổ trưởng của Tổ đại biểu HĐND do Thường trực HĐND cùng cấp quyết định Tổ trưởng điều hành công việc của Tổ đại biểu HĐND, Phó Tổ trưởng giúp Tổ trưởng thực hiện những việc được phân công
Tổ đại biểu HĐND họp ít nhất mỗi quý một lần để bàn kế hoạch công tác, phân
công đại biểu tiếp dân, tổ chức nghiên cứu pháp luật, chính sách Nhà nước Thành viên
Tổ đại biểu HĐND có trách nhiệm tham dự đầy đủ tất cả các cuộc họp của Tổ đại biểu, trong trường hợp không tham dự được thì phải báo cáo với Tổ trưởng Tổ đại biểu.16
Trước khi khai mạc kỳ họp HĐND, Tổ đại biểu sẽ nhận được các tài liệu cần thiết
15 Phạm Thị Diệu Hiền: Tập bài giảng Luật Hiến pháp Việt Nam (phần 2), Khoa luật, Trường Đại Học Cần Thơ,
2008, tr 54- 56.
16 Điều 4 Quy chế hoạt động của HĐND năm 2005.
Trang 17để đại biểu nghiên cứu thảo luận tổ, tiếp xúc cử tri, thảo luận những vấn đề liên quan chuẩn bị đóng góp ý kiến cho kỳ họp Trong quá trình thảo luận nếu có vấn đề nào còn vướng mắc chưa hiểu rõ thì có thể mời Thủ trưởng cơ quan chuyên môn, cán bộ công chức có chuyên môn, có kinh nghiệm tham gia họp Tổ đại biểu, đóng góp ý kiến vào nội dung, chương trình kỳ họp, nhất là những nội dung chuyên đề Qua những cuộc họp của
Tổ đại biểu có thể giúp HĐND kịp thời tổng hợp kết quả những ý kiến, kiến nghị khác nhau của đội ngũ chuyên gia, cử tri để tiếp tục định hướng đại biểu thảo luận tại kỳ họp, góp phần mang lại hiệu quả thiết thực của kỳ họp.17
Sau kỳ họp của HĐND, Tổ đại biểu tổ chức để các đại biểu tiếp xúc, báo cáo với
cử tri về kết quả kỳ họp, đồng thời thông qua đó có thể tuyên truyền và phổ biến pháp luật, chính sách Nhà nước đến cử tri, giúp cử tri nắm bắt, hiểu rõ và thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình, đồng thời có thể có những đóng góp, những kiến nghị thiết
thực cho việc xây dựng và phát triển của địa phương
1.1.4 Lịch sử hình thành và phát triển của HĐND
Trước khi bị thực dân Pháp xâm lược, nước ta ở chế độ phong kiến, quyền lực nhà nước tập trung vào tay vua, quan, nhân dân chỉ có nghĩ vụ mà không có quyền lực gì Khi bước vào ách thống trị của thực dân Pháp, chúng thực hiện chính sách chia để trị và chia nước ta thành 3 kỳ: Bắc kỳ, Trung kỳ, Nam kỳ với chế độ cai trị khác nhau Với thắng lợi của cách mạng tháng Tám năm 1945, dân tộc Việt Nam đã thoát khỏi vòng áp bức của chính sách thực dân, đồng thời chế độ vua quan cũng bị xóa bỏ Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hoà ra đời, kể từ đây, đất nước Việt Nam đã bước sang một thời kỳ mới với việc thiết lập một chế độ mới, chế độ dân chủ xã hội chủ nghĩa
Nhằm bảo vệ thành quả cách mạng đó, nước ta bắt đầu công cuộc xây dựng và bảo
vệ tổ quốc Cùng với việc củng cố bộ máy chính quyền ở trung ương Nhà nước ta đã nhanh chóng ban hành các văn bản pháp lý để thiết lập hệ thống chính quyền địa phương Đây là hệ thống chính quyền cơ sở, trực tiếp lãnh đạo nhân dân, thực hiện các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước Trong đó, phải kể đến hai Sắc lệnh là Sắc lệnh
số 63 ngày 22/11/1945 về tổ chức các HĐND và Ủy ban hành chính và Sắc lệnh số 77 ngày 22/12/1945 về việc tổ chức chính quyền nhân dân ở các thị xã và thành phố do Chủ tịch Hồ Chí Minh ký ban hành.18 Nội dung 2 Sắc lệnh này đã quy định rõ tổ chức nhiệm
vụ và quyền hạn của các cấp chính quyền địa phương Theo đó, HĐND được coi là cơ quan quyền lực Nhà nước ở địa phương do nhân dân ở địa phương bầu ra, có quyền quyết định những vấn đề quan trọng nhất ở địa phương theo đường lối chính sách của Nhà nước Hội đồng nhân dân có quyền bầu và bãi miễn các thành viên của Ủy ban hành
17 Văn Đức Sơn: Mở rộng dân chủ để phát huy trí tuệ đại biểu, Báo điện tử Đại biểu Nhân dân, 2011,
http://daibieunhandan.vn/default.aspx?tabid=128&NewsId=223277 , [truy cập ngày 20/7/2012].
18 Giáo trình Lịch sử hành chính Nhà nước Việt Nam, Nxb Khoa học và kỹ thuật, 2008, tr 323.
Trang 18chính, cũng theo Sắc lệnh này HĐND được thành lập ở các cấp tỉnh, thành phố, xã và thị
xã.19
Để khẳng định chủ quyền của đất nước Quốc hội khóa I đã thông qua Hiến pháp năm 1946 Đây là bản hiến pháp đầu tiên của nước ta và cũng là lần đầu tiên các tầng lớp nhân dân lao động đã làm chủ đất nước, làm chủ chế độ, được hưởng đầy đủ các quyền công dân, trong đó có các quyền cơ bản như quyền tự do dân chủ, quyền bầu cử, ứng cử
đã được ghi nhận Hiến pháp Từ đây, bộ máy Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hoà đã được thiết lập, nhân dân đã lần đầu tiên thực hiện quyền bầu cử để bầu ra chính quyền các cấp, trong đó có chính quyền địa phương gồm HĐND và UBND các cấp.20
Trong Hiến pháp 1946 đã dành hẳn chương V để quy định về việc thành lập HĐND
và UBND Kế thừa Sắc lệnh 63 và Sắc lệnh 77, về đơn vị hành chính thì Hiến pháp năm
1946 chia cả nước làm 3 bộ: Bắc, Trung, Nam Mỗi bộ chia thành tỉnh, mỗi tỉnh chia thành huyện, mỗi huyện chia thành xã, từ đó ta thấy, nước ta có 4 cấp hành chính là bộ,
tỉnh, huyện, xã và tại Điều thứ 58 của Hiến pháp đã nêu “Ở tỉnh, thành phố, thị xã và xã
có HĐND do đầu phiếu phổ thông, trực tiếp bầu ra Hội đồng nhân dân tỉnh, thành phố, thị xã hay xã cử ra Ủy ban hành chính Ở bộ và huyện, chỉ có Ủy ban hành chính Ủy ban hành chính bộ do Hội đồng các tỉnh và thành phố bầu ra Ủy ban hành chính huyện
do Hội đồng các xã bầu ra” Như vậy, Hội đồng nhân dân chỉ thành lập ở hai cấp, đó là
cấp tỉnh và cấp xã Tuy nhiên, Hiến pháp năm 1946 chưa đưa ra được định nghĩa về HĐND, về hoạt động của HĐND Hiến pháp cũng đề cập đến vai trò quan trọng của
HĐND là HĐND có quyền quyết nghị về những vấn đề thuộc địa phương mình 21
Với chiến thắng Điện Biên Phủ, miền Bắc hoàn toàn giải phóng, cách mạng Việt Nam chuyển sang một giai đoạn mới Miền Bắc bắt đầu công cuộc tiến lên chủ nghĩa xã hội, miền Nam bắt đầu cuộc chiến tranh chống Mỹ cứu nước Trước tình hình này, Hiến pháp năm 1959 ra đời để đáp ứng tình hình mới Trong giai đoạn mới của cách mạng,
việc phân chia các đơn vị hành chính cũng có những điểm mới Đơn vị hành chính bộ
không còn, cả nước chia thành tỉnh, huyện, xã Hội đồng nhân dân được thành lập ở 3 cấp
là cấp tỉnh, huyện, xã So với Hiến pháp năm 1946 thì bản Hiến pháp này cho phép thành lập HĐND ở cấp huyện.22 Tuy nhiên cũng cần lưu ý thêm trong thời kỳ này do hoàn cảnh, điều kiện của đất nước có sự thay đổi, nên Hiến pháp còn quy định thêm về tổ chức của HĐND các khu vực tự trị.23 Cũng tại Hiến pháp này HĐND có một khái niệm: “Hội
19 Sau cách mạng tháng Tám năm 1945 nước ta chia thành 4 cấp: cấp kỳ (Bắc kỳ, Trung kỳ, Nam kỳ), cấp tỉnh, cấp huyện và cấp xã, trong đó cấp kỳ và cấp huyện được coi là cấp trung gian giữa trung ương và tỉnh và giữa tỉnh và xã nên không tổ chức HĐND.
20 Phạm Thị Diệu Hiền: Tập bài giảng Luật Hiến pháp Việt Nam (phần 2), Khoa luật, Trường Đại Học Cần Thơ,
2008, tr 45- 46.
21 Diễn đàn kiến thức pháp luật: Tổ chức và hoạt động của HĐND, 2011, thuc-phap-luat/58435-to-chuc-va-hoat-dong-cua-hoi-dong-nhan-dan.html , [truy cập ngày 20/7/2012 ].
http://diendankienthuc.net/diendan/kien-22 Điều 78 Hiến pháp năm 1959.
23 Điều 79 Hiến pháp năm 1959.
Trang 19đồng nhân dân các cấp là cơ quan quyền lực Nhà nước ở địa phương”, “do nhân dân địa phương bầu ra và chịu trách nhiệm trước nhân dân địa phương”.24 Lần đầu tiên HĐND được xác định là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương, và do dân bầu ra được Hiến pháp ghi nhận, thể hiện vai trò, vị trí của HĐND được nâng cao trong cơ cấu
bộ máy chính quyền địa phương
Mùa xuân năm 1975, miền Nam được giải phóng, cả nước tiến hành công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội Tình hình, nhiệm vụ mới đòi hỏi phải có một bản Hiến pháp thể chế hóa đường lối của Đảng cộng sản Việt Nam trong giai đoạn mới Do đó, Hiến pháp năm 1980 ra đời, bản Hiến pháp này dành hẳn một chương IX gồm 13 điều từ điều 113 đến điều 126 để quy định về HĐND và UBND, trong đó có 7 điều là quy định về HĐND
và đại biểu HĐND Trong việc phân chia các đơn vị hành chính có những điểm mới như
bỏ khu tự trị; có hai đơn vị hành chính lãnh thổ mới là quận và phường Ủy ban hành chính đổi tên là UBND; ở các đơn vị hành chính đều thành lập HĐND và UBND, nhiệm
vụ và quyền hạn của HĐND tiếp tục được mở rộng và quy định cụ thể hơn Ví dụ: HĐND quyết định các vấn đề về sản xuất, phân phối lưu thông, văn hóa, xã hội, dịch vụ địa phương; bảo vệ tài sản xã hội chủ nghĩa, tài sản công dân; bảo đảm quyền bình đẳng giữa các dân tộc; bầu và bãi miễn các thành viên của UBND cùng cấp; thành lập các ban của HĐND dể giúp HĐND hoạt động Có thể nói, những quy định của Hiến pháp năm
1980 là nền tảng cơ bản để cho những quy định sau này phát triển thêm và ngày càng hoàn thiện hơn
Từ năm 1986, công cuộc đổi mới toàn diện đất nước do Đại hội lần VI của Đảng đề xướng thực hiện Công cuộc đổi mới đề ra yêu cầu phải đổi mới trên lĩnh vực pháp luật
để tạo cơ sở pháp lý cho việc thực hiện đổi mới trên mọi lĩnh vực của hoạt động Nhà nước và xã hội Hiến pháp năm 1992 được xây dựng để đáp ứng nhu cầu đổi mới đó Hiến pháp năm 1992 đã dành chương IX có 9 điều để quy định về HĐND và UBND HĐND chiếm 5 điều trong đó có 2 điều quy định về đại biểu HĐND Tuy số điều có ít hơn so với Hiến pháp năm 1980 song những quy định này được cụ thể và rõ ràng hơn Việc chia đơn vị hành chính vẫn giữ như trong Hiến pháp năm 1980 Thể chế hóa các quy định của Hiến pháp năm 1992 về HĐND và UBND, Luật tổ chức HĐND và UBND năm
1994, tại Điều 4 đã quy định rằng ở tất cả các đơn vị hành chính cấp tỉnh, huyện, xã đều thành lập HĐND và UBND.25
Đến Hiến pháp năm 1992 sửa đổi, bổ sung năm 2001 (sau đây được gọi là Hiến pháp năm 1992) vẫn giữ nguyên chương IX quy định về HĐND và UBND Thực hiện Nghị quyết số 12/2002/QH11 ngày 16 tháng 11 năm 2002 của Quốc hội khóa XI về
24 Điều 92 Hiến pháp năm 1959.
25 Phạm Thị Diệu Hiền: Tập bài giảng Luật Hiến pháp Việt Nam (phần 2), Khoa luật, Trường Đại Học Cần Thơ,
2008, tr 45- 46.
Trang 20chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm 2003, Quốc hội khóa XI đã thông qua Luật tổ chức HĐND và UBND tại kỳ họp thứ 4, ngày 21 tháng 10 năm 2003 Luật này có hiệu lực thi hành từ ngày 10 tháng 12 năm 2003 và từ khi Luật này ra đời cho đến nay thì tổ chức và hoạt động của HĐND ngày càng có hiệu quả Tuy nhiên, bên cạnh những mặt đạt được thì hoạt động của HĐND còn bộc lộ nhiều yếu kém, khuyết điểm, do vậy cần phải
có những thay đổi để đáp ứng tình hình mới, phù hợp với công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
1.2 Khát quát về đại biểu HĐND
1.2.1 Các khái niệm
1.2.1.1 Khái niệm đại biểu HĐND
Đại biểu HĐND là người đại diện cho ý chí, nguyện vọng của nhân dân địa
phương phải liên hệ chặt chẽ với cử tri, chịu sự giám sát của cử tri, thực hiện chế độ tiếp xúc, báo cáo với cử tri về hoạt động của mình và của HĐND, trả lời những yêu cầu, kiến nghị của cử tri, xem xét, đôn đốc việc giải quyết khiếu nại tố cáo của nhân dân
Đại biểu HĐND phải gương mẫu chấp hành chính sách pháp luật của Nhà nước; tuyên truyền vận động nhân dân thực hiện chính sách, pháp luật và tham gia vào việc quản lý Nhà nước.26
Đại biểu HĐND là nhân tố quyết định chất lượng hoạt động của HĐND Vì vậy, xác định cụ thể, rõ ràng tiêu chuẩn của đại biểu HĐND là điều kiện để nâng cao chất lượng hoạt động của HĐND trong việc quyết định những vấn đề quan trọng của địa phương Để được là đại biểu HĐND thì phải có những tiêu chuẩn sau:
- Trung thành với tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, phấn đấu thực hiện công cuộc đổi mới đất nước và xây dựng phát triển địa phương;
- Có phẩm chất đạo đức tốt, gương mẫu chấp hành pháp luật, tích cực đấu tranh chống mọi biểu hiện quan liêu, hách dịch, cửa quyền, tham nhũng, lãng phí và các hành
vi vi phạm pháp luật khác, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân;
- Có năng lực và trình độ thực hiện nhiệm vụ đại biểu HĐND, có khả năng tuyên truyền, vận động gia đình và nhân dân thực hiện chính sách, pháp luật, am hiểu tình hình kinh tế - xã hội để tham gia quyết định những vấn đề quan trọng ở địa phương;
- Liên hệ chặt chẽ với nhân dân, lắng nghe ý kiến của nhân dân, được nhân dân tín nhiệm;
- Có điều kiện tham gia các hoạt động của HĐND.27
26 Điều 121 Hiến pháp năm 1992.
27 Điều 3 Luật Bầu cử đại biểu HĐND năm 2003 sửa đổi, bổ sung năm 2010.
Trang 211.2.1.2 Khái niệm hoạt động của đại biểu HĐND
Luật Tổ chức HĐND và UBND năm 2003, Quy chế hoạt động của HĐND năm
2005 không có khái niệm cụ thể về hoạt động của đại biểu HĐND Tuy nhiên, dựa vào những quy định của pháp luật về đại biểu HĐND28 có thể khái niệm hoạt động của đại biểu HĐND như sau: Hoạt động của đại biểu HĐND là những việc làm, cử chỉ, hành động, lời nói mà do chính đại biểu thực hiện trong suốt nhiệm kỳ của mình và những việc làm, cử chỉ, hành động, lời nói đó phải nằm trong phạm vi quyền hạn, nhiệm vụ, trách nhiệm của đại biểu do pháp luật quy định
Dựa vào quy định về quyền hạn, nhiệm vụ, trách nhiệm của đại biểu được quy định tại Luật Tổ chức HĐND và UBND năm 2003 thì đại biểu có những hoạt động sau:29
Thứ nhất, hoạt động tham gia kỳ họp, phiên họp Tại đây đại biểu có thể thảo luận,
biểu quyết thông qua các nghị quyết về các chính sách quan trọng để phát triển địa phương
Thứ hai, hoạt động giám sát, bằng việc thực hiện quyền chất, để làm rõ trách nhiệm
của cá nhân, cơ quan, tổ chức trong quá trình thực hiện nhiệm vụ, thực hiện việc giám sát tại cơ sở thông qua các Đoàn giám sát, hay xem xét việc ban hành văn bản quy phạm pháp luật của UBND cùng cấp, HĐND cấp dưới có phù hợp với quy định của văn bản quy phạm pháp luật của cấp trên hay không
Thứ ba, hoạt động tiếp xúc cử tri để thu thập, tổng hợp ý kiến, nguyện vọng của cử
tri để tham gia thảo luận, chất vấn tại kỳ họp Đồng thời, báo cáo kết quả hoạt động của đại biểu, HĐND trong thời gian qua, tuyên truyền phổ biến, pháp luật, chính sách của Nhà nước
Thứ tư, hoạt động tiếp công dân nhằm tiếp nhận đơn thư, khiếu nại, tố cáo, kiến
nghị của công dân để chuyển đến cơ quan có thẩm quyền giải quyết và đại biểu có nhiệm
vụ theo dõi, đôn đốc việc giải quyết đó
Các hoạt động của đại biểu HĐND có mối quan hệ, tác động qua lại, bổ trợ lẫn nhau, nằm trong một chỉnh thể thống nhất nhằm thực tốt các chức năng, nhiệm vụ của HĐND
1.2.2 Nhiệm vụ và quyền hạn của đại biểu HĐND
1.2.2.1 Nhiệm vụ
Đại biểu HĐND được nhân dân địa phương tín nhiệm bầu ra là người đại diện cho
ý chí, nguyện vọng của nhân dân địa phương, là người có tinh thần trách nhiệm, được nhân dân tin cậy Vì vậy, phải gương mẫu chấp hành pháp luật, chính sách của nhà nước, tuyên truyền, vận động nhân dân thực hiện pháp luật, chính sách và tham gia vào việc
28 Mục 4, Chương II Luật Tổ chức HĐND và UBND năm 2003.
29 Điều 38, 39, 40, 41 Luật Tổ chức HĐND và UBND năm 2003.
Trang 22lý do và phải báo cáo trước với Chủ tọa phiên họp.31
Đại biểu HĐND phải liên hệ chặt chẽ với cử tri ở đơn vị bầu ra mình, chịu sự giám
sát của cử tri, có trách nhiệm thu thập và phản ánh trung thực ý kiến, nguyện vọng, kiến
nghị của cử tri; bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cử tri; thực hiện chế độ tiếp xúc và
ít nhất mỗi năm một lần báo cáo với cử tri về hoạt động của mình và của HĐND, trả lời những yêu cầu kiến nghị của cử tri.32
Sau mỗi kỳ họp HĐND, đại biểu HĐND có trách nhiệm báo cáo với cử tri về kết quả của kỳ họp, phổ biến và giải thích các nghị quyết của HĐND, vận động và cùng với nhân dân thực hiện các nghị quyết đó
Đại biểu HĐND nhận được yêu cầu, kiến nghị của cử tri phải có trách nhiệm trả lời cử tri Khi nhận được khiếu nại, tố cáo của công dân, đại biểu HĐND có trách nhiệm nghiên cứu, kịp thời chuyển đến người có thẩm quyền giải quyết, theo dõi, đôn đốc việc giải quyết, đồng thời thông báo cho người khiếu nại, tố cáo biết.33 Trong thời hạn do pháp luật quy định, người có thẩm quyền phải xem xét, giải quyết và thông báo bằng văn bản cho đại biểu HĐND biết kết quả
1.2.2.2 Quyền hạn
Đại biểu HĐND có quyền tham gia thảo luận và biểu quyết các vấn đề thuộc nhiệm vụ, quyền hạn của HĐND trong các kỳ họp, phiên họp của HĐND Đại biểu có quyền tham gia bầu cử và có thể được bầu vào thường trực HĐND, các ban của HĐND hoặc UBND cùng cấp.34
Đại biểu HĐND có quyền chất vấn Chủ tịch HĐND, Chủ tịch và các thành viên khác của UBND, Chánh án TAND, Viện trưởng VKSND và Thủ trưởng các cơ quan chuyên môn thuộc UBND cùng cấp Người bị chất vấn phải trả lời những vấn đề mà đại biểu HĐND chất vấn
Trong thời gian HĐND họp, đại biểu HĐND gửi chất vấn đến Thường trực HĐND cùng cấp Người bị chất vấn phải trả lời trước HĐND tại kỳ họp đó Trong trường họp
30 Giáo trình Luật Hiến pháp Việt Nam, Trường Đại Học Luật Hà Nội, 2005, tr 439.
31 Điều 38 Luật Tổ chức HĐND và UBND năm 2003.
32 Điều 39 Luật Tổ chức HĐND và UBND năm 2003.
33 Điều 40 Luật Tổ chức HĐND và UBND năm 2003.
34 Giáo trình Luật Hiến pháp Việt Nam, Trường Đại Học Luật Hà Nội, 2005, tr 439.
Trang 23cần điều tra, xác minh thì HĐND có thể quyết định cho trả lời tại kỳ họp sau của HĐND hoặc cho trả lời bằng văn bản gửi đến đại biểu đã chất vấn và Thường trực HĐND.
Trong thời gian giữa hai kỳ họp HĐND, chất vấn của đại biểu HĐND được gửi đến Thường trực HĐND cùng cấp để chuyển đến người bị chất vấn và quyết định thời hạn trả lời chất vấn
Đại biểu HĐND có quyền yêu cầu cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân kịp thời chấm dứt những việc làm trái pháp luật, chính sách của Nhà nước trong cơ quan, tổ chức, đơn vị hoặc của cán bộ, công chức, nhân viên cơ quan, tổ chức, đơn vị đó.35 Khi đại biểu HĐND yêu cầu gặp người phụ trách của cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân thì người đó có trách nhiệm tiếp đại biểu
Đại biểu HĐND có quyền kiến nghị với cơ quan nhà nước về việc thi hành pháp luật, chính sách của Nhà nước và về những vấn đề thuộc lợi ích chung Cơ quan hữu quan
có trách nhiệm trả lời kiến nghị của đại biểu Đại biểu HĐND có quyền đề nghị HĐND
bỏ phiếu tín nhiệm đối với người giữ chức vụ do HĐND bầu.36
1.2.3 Sự phát triển của chế định đại biểu HĐND qua các bản Hiến pháp
Cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công, Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ra đời, để đáp ứng tình hình đó, năm 1946 Nhà nước ta đã cho ra đời bản Hiến pháp đầu tiên trong lịch sử, Hiến pháp tuyên bố nước Việt Nam là Nhà nước độc lập và hợp pháp Hiến pháp này đã đặt nền móng dân chủ trong việc xây dựng, tổ chức chính quyền địa phương Ở bản Hiến pháp này, chế định đại biểu HĐND chưa được đề cập, chỉ quy định về sự hình thành HĐND do phổ thông đầu phiếu trực tiếp bầu ra Do đất nước mới giành được chính quyền, tình hình trong nước còn diễn biến phức tạp, trình độ lập pháp còn non kém, trình độ chuyên môn chưa có và do là bản Hiến pháp đầu tiên nên không tránh khỏi những thiếu sót nhất định
Với chiến thắng Điện Biên Phủ năm 1954, miền Bắc hoàn toàn giải phóng, tiến lên xây dựng chủ nghĩa xã hội, miền Nam tiếp tục công cuộc kháng Mỹ thống nhất đất nước Trước sự thay đổi đó, Hiến pháp năm 1959 ra đời, đến thời điểm này quy định về đại biểu HĐND vẫn chưa được nhắc đến Có lẽ, ở giai đoạn này vai trò, vị trí của đại biểu HĐND chưa được đánh giá cao, chưa có những hoạt động cụ thể, chưa có những đóng góp thiết thực trong việc xây dựng, phát triển chính quyền địa phương Bên cạnh đó, đất nước còn nằm trong tình trạng chia cắt nên chế định đại biểu HĐND chưa được ghi nhận trong Hiến pháp.37
35 Điều 41 Luật Tổ chức HĐND và UBND năm 2003.
36 Điều 42 Luật Tổ chức HĐND và UBND năm 2003.
37 Đào Trí Úc: Mô hình tổ chức và hoạt động của nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, Nxb Tư pháp, 2007, tr
195-196.
Trang 24Năm 1975, miền Nam hoàn toàn giải phóng, cả nước thống nhất, tình hình đất nước có nhiều thay đổi lớn, Hiến pháp năm 1959 không còn phù hợp, vì lẽ đó Hiến pháp năm 1980 ra đời, Hiến pháp định hướng xây dựng Nhà nước xã hội chủ nghĩa trên toàn lãnh thổ Lần đầu tiên Hiến pháp quy định nhiệm vụ, quyền hạn của đại biểu HĐND
“Đại biểu HĐND phải liên hệ chặt chẽ với cử tri, chịu sự giám sát của cử tri, thực hiện chế độ tiếp xúc và báo cáo với cử tri về hoạt động của mình và của HĐND, trả lời những yêu cầu và kiến nghị của cử tri, xem xét và giúp giải quyết những điều khiếu nại và tố cáo của nhân dân.
Đại biểu HĐND tuyên truyền, phổ biến pháp luật, chính sách của Nhà nước và nghị quyết của HĐND, động viên nhân dân địa phương tham gia quản lý Nhà nước.
Đại biểu HĐND có quyền chất vấn UBND và các cơ quan Nhà nước khác của địa phương Cơ quan bị chất vấn phải trả lời trước HĐND trong thời hạn do luật định.
Đại biểu HĐND có quyền kiến nghị với các cơ quan Nhà nước ở địa phương Những người phụ trách các cơ quan này có trách nhiệm tiếp đại biểu, xem xét và giải quyết kiến nghị của đại biểu” 38 Những quy định góp phần mang lại hiệu quả hoạt động của đại biểu HĐND, đánh dấu sự phát triển bước đầu của chế định đại biểu HĐND trong nếp nghĩ của cơ quan lập pháp, vai trò, vị trí ngày càng được nâng cao Đó là tiền đề cho
sự phát triển của các quy định sau này.39
Đại hội lần thứ VI năm 1986 đã đề xướng công cuộc đổi mới toàn diện đất nước, đòi hỏi phải đổi mới trên tất cả các lĩnh vực kể cả lĩnh vực pháp luật Do đó, Hiến pháp năm 1992 ra đời để đáp ứng yêu cầu đó Ở Hiến pháp năm 1992 thì vai trò, vị trí của đại
biểu HĐND được nâng cao rõ rệt Đại biểu HĐND được xác định là “người đại diện cho
ý chí nguyện vọng của nhân dân địa phương”, 40 đây là điểm mới của Hiến pháp 1992, và
có thể coi là thành công lớn nhất của Hiến pháp 1992 khi quy định về đại biểu HĐND
Có thể nói, đây là lần đầu tiên vai trò của người đại biểu nhân dân địa phương được ghi nhận trong Hiến pháp
Việc ghi nhận vai trò này của đại biểu HĐND đã khẳng định tính nhân dân, dân chủ trong tổ chức và thực hiện quyền lực nhà nước Đại biểu HĐND là biểu hiện của dân chủ đại diện - phương thức tối ưu để thực hiện dân chủ - trong một xã hội đa dạng các loại hình dân chủ Có rất nhiều các phương thức để đưa quyền lực nhà nước lại gần dân, như qua các tổ chức phi chính phủ, các tổ chức dân sự v.v Bởi vậy, với tính cách là một phương thức cơ bản để thực thi quyền làm chủ của nhân dân, chế định dân chủ đại diện cần thiết được quy định trong Hiến pháp
38 Điều 119, Điều 120 Hiến pháp năm 1980.
39 Đào Trí Úc: Mô hình tổ chức và hoạt động của nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, Nxb Tư pháp, 2007, tr
208.
40 Điều 121 Hiến pháp năm 1992.
Trang 25Thêm vào đó, Hiến pháp năm 1992 mở rộng hơn những nhiệm vụ và quyền hạn của đại biểu HĐND, quy định cụ thể, rõ ràng và chi tiết hơn Nếu như ở Hiến pháp năm
1980 quy định “Đại biểu HĐND chỉ có quyền chất vấn UBND và các cơ quan Nhà nước
khác ở địa phương”, quy định này thiếu cụ thể cá nhân nào sẽ bị chất vấn, phạm vi chất
vấn hẹp Đến Hiến pháp năm 1992 quy định “Đại biểu HĐND có quyền chất vấn Chủ
tịch HĐND, Chủ tịch và các thành viên khác của UBND, Chánh án TAND, Viện trưởng VKSND và thủ trưởng các cơ quan thuộc UBND” 41 Với quy định trên thì thẩm quyền
chất vấn của đại biểu được mở rộng sang cả Chánh án TAND, Viện trưởng VKSND và thủ trưởng các cơ quan thuộc UBND và từng cá nhân bị chất vấn thì được đề cập cụ thể Hiến pháp này ra đời cũng là cơ sở cho việc ban hành Luật tổ chức HĐND và UBND năm 2003, chế định đại biểu HĐND ngày thêm hoàn thiện Về nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm của đại biểu được quy định cụ thể, tạo cơ sở pháp lý cho đại biểu hoạt động, góp phần mang lại hiệu quả, chất lượng hoạt động của HĐND
Qua những phân tích trên ta thấy được vai trò, vị trí vô cùng quan trọng của HĐND trong hệ thống cơ quan quyền lực Nhà nước, mà trọng tâm góp phần mang lại hiệu quả và chất lượng hoạt động của HĐND là đại biểu HĐND Vậy đại biểu HĐND có những hoạt động gì và các hoạt động đó được pháp luật quy định cụ thể như thế nào? Vấn
đề này sẽ được người viết trình bày ở Chương 2
41 Điều 122 Hiến pháp năm 1992
Trang 26CHƯƠNG 2.
HOẠT ĐỘNG CỦA ĐẠI BIỂU HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN
Hiệu quả hoạt động của HĐND phụ thuộc vào hiệu quả hoạt động của thường trực HĐND, các ban của HĐND, mà trung tâm hết là hoạt động của đại biểu HĐND.42 Do vậy, ở chương này, người viết sẽ phân tích các hoạt động khác nhau của đại biểu HĐND cũng như những yếu tố ảnh hưởng, tác động đến hoạt động của đại biểu HĐND
2.1 Chế độ làm việc của đại biểu HĐND
Để hoạt động của HĐND mang lại hiệu quả thì vai trò của đại biểu HĐND rất quan trọng Cũng như đại biểu Quốc hội đại biểu HĐND hoạt động theo hai chế độ là kiêm nhiệm và chuyên trách Kiêm nhiệm tức là ngoài đảm nhiệm chức vụ đại biểu HĐND, đại biểu còn đảm nhiệm chức vụ trong bộ máy nhà nước, trong hệ thống chính trị
và ở nhiều cơ quan, tổ chức khác Còn những đại biểu chuyên trách, những đại biểu này
có vai trò vô cùng to lớn trong hoạt động của đại biểu HĐND và phải dành trọn thời gian cho công việc đại biểu
Khác với đại biểu Quốc hội được Hiến pháp cũng như Luật Tổ chức Quốc hội năm
2001 sửa đổi, bổ sung năm 2007 quy định rất rõ về chế độ làm việc của đại biểu.43 Còn với đại biểu HĐND thì trong Hiến pháp cũng như Luật Tổ chức HĐND và UBND 2003 không quy định cụ thể về chế độ làm việc của đại biểu Luật Tổ chức HĐND và UBND năm 2003 chỉ quy định về thành viên của Thường trực HĐND, của các ban HĐND không thể đồng thời là thành viên UBND cùng cấp và các Trưởng ban của HĐND không thể đồng thời là thủ trưởng cơ quan chuyên môn thuộc UBND, Viện trưởng VKSND, Chánh
án TAND cùng cấp.44 Những quy định trên đã góp phần đảm bảo cho sự giám sát của HĐND thêm độc lập, khách quan, hiệu quả hơn
Thêm vào đó, để thuận lợi cho việc phân công nhiệm vụ cũng như sắp xếp nhân sự
mà trong Quy chế hoạt động của HĐND năm 2005 quy định:
“Chủ tịch HĐND có thể làm việc kiêm nhiệm, Phó Chủ tịch và Uỷ viên thường trực
Trường hợp Trưởng ban hoặc Phó Trưởng ban của HĐND làm việc kiêm nhiệm thì
42 Điều 8 Luật Tổ chức HĐND và UBND năm 2003.
43 Điều 94 và Điều 95 Hiến pháp năm 1992, Điều 45 Luật Tổ chức Quốc hội năm 2001 sửa đổi, bổ sung năm 2007.
44 Điều 52 và Điều 54 Luật Tổ chức HĐND và UBND năm 2003.
45 Khoản 5, Điều 18 Quy chế hoạt động của HĐND năm 2005.
Trang 27HĐND quy định thời gian mà Trưởng ban hoặc Phó Trưởng ban đó phải dành cho hoạt động của Ban” 46
Với quy định trên ta thấy ở HĐND cấp tỉnh thì có thiểu là 5 đại biểu làm việc chuyên trách, có thể gồm Phó Chủ tịch, Ủy viên thường trực HĐND, và Trưởng ban hoặc Phó Trưởng ban của 3 ban của HĐND, riêng đối với các tỉnh có nhiều dân tộc sinh sống thì có thêm ban Dân tộc.47 Còn đối với HĐND cấp huyện thì có tối thiểu 4 đại biểu làm việc chuyên trách, có thể gồm Phó Chủ tịch, Ủy viên thường trực HĐND và Trưởng ban hoặc Phó Trưởng ban của hai ban của HĐND Về HĐND cấp xã thì tối thiểu chỉ có 1 đại biểu làm việc chuyên trách có thể là Chủ tịch hoặc Phó Chủ tịch HĐND Theo tinh thần Nghị quyết số 26/2008/QH12 được Quốc hội thông qua ngày 15/11/2008 và có hiệu lực
từ ngày 1/4/2009, theo đó, thực hiện thí điểm không tổ chức HĐND tại 67 huyện, 32 quận, 483 phường của 10 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương Nếu việc thí điểm thành công và đưa ra áp dụng rộng rãi trong cả nước thì áp lực công việc đối với đại biểu chuyên trách ở HĐND cấp tỉnh, cấp xã càng nặng nề hơn
Theo quy định của Luật Bầu cử đại biểu HĐND năm 2003 sửa đổi, bổ sung năm
2010 thì số lượng đại biểu HĐND được bầu tối đa là 35 đại biểu đối với cấp xã, 40 đại biểu đối với cấp huyện và 85 đại biểu đối với cấp tỉnh, riêng Thủ đô Hà Nội và các thành phố trực thuộc trung ương có thể bầu tối đa là 95 đại biểu.48 Với tổng số đại biểu được bầu như vậy so với số lượng đại biểu làm đại biểu chuyên trách theo quy định thì chiếm tỉ
lệ quá khiêm tốn, do phần lớn đại biểu hoạt động kiêm nhiệm nên đại biểu không thể dành nhiều thời gian cho hoạt động của cơ quan dân cử, chủ yếu tham gia vào kỳ họp của HĐND và hoạt động tiếp xúc cử tri Hơn nữa một số đại biểu còn giữ cương vị lãnh đạo trong hệ thống cơ quan quản lý nhà nước ở địa phương Do vậy, khi thực hiện trách
nhiệm của đại biểu đôi lúc không tránh khỏi tình trạng “vừa đá bóng vừa thổi còi” hoặc còn e dè, sợ đụng chạm 49 Đại biểu chuyên trách với số lượng ít, áp lực công việc nhiều nên thời gian dành cho nghiên cứu, nâng cao trình độ chuyên môn phục vụ công việc cũng còn rất hạn chế
Nhằm để nâng cao chất lượng hoạt động của HĐND cũng như chất lượng hoạt động của đại biểu HĐND cần hiểu rõ hơn những khó khăn, thuận lợi xuất phát từ chế độ làm việc của đại biểu để từ đó có những giải pháp hoàn thiện, góp phần nâng cao chất lượng hoạt động của đại biểu HĐND
2.2 Những hoạt động của đại biểu HĐND
46 Điều 26 Quy chế hoạt động của HĐND năm 2005.
47 Điều 54 Luật Tổ chức HĐND và UBND năm 2003.
48 Điều 9 Luật Bầu cử đại biểu HĐND năm 2003 sửa đổi, bổ sung năm 2010.
49 Nguyễn Ngọc Thái: Nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của HĐND phải bắt đầu từ đại biểu, Báo điện tử Đại biểu Nhân dân, 2012, http://daibieunhandan.vn/default.aspx?tabid=128&NewsId=23277 , [truy cập ngày
12/8/2012].
Trang 282.2.1 Hoạt động tham gia các kỳ họp, phiên họp của HĐND
Kỳ họp là hình thức hoạt động chủ yếu của HĐND Tại kỳ họp toàn thể các đại biểu HĐND đại diện cho nhân dân sử dụng quyền lực của mình để bàn bạc, quyết định những vấn đề quan trọng của địa phương Thông qua kỳ họp, ý chí, nguyện vọng của nhân dân địa phương được chuyển thành quyết định của cơ quan quyền lực, có giá trị bắt buộc thực hiện chung được thể hiện dưới dạng các nghị quyết.50 Ngoài ra, kỳ họp còn quyết định các biện pháp để đảm bảo việc thi hành pháp luật của các cơ quan nhà nước cấp trên tại địa phương; thực hiện quyền giám sát của HĐND đối với cơ quan nhà nước tại địa phương trong việc thực hiện nghị quyết của HĐND
Tại kỳ họp thứ nhất của mỗi khóa HĐND thì nội dung chủ yếu là bầu ra cơ cấu của HĐND, UBND nên kỳ họp này có thể coi là kỳ họp về tổ chức bộ máy chính quyền ở địa phương Tại kỳ họp này, HĐND sẽ bầu ra Thường trực HĐND gồm: Chủ tịch, Phó Chủ tịch và Ủy viên thường trực, bầu các thành viên của UBND gồm: Chủ tịch, Phó Chủ tịch và các Ủy viên của UBND, bầu thành viên các Ban của của HĐND và thư ký kỳ họp
51
Đại biểu HĐND có nhiệm vụ tham dự đầy đủ các kỳ họp thường kỳ, kỳ họp chuyên đề, kỳ họp bất thường của HĐND; tại kỳ họp các đại biểu có trách nhiệm tham gia thảo luận và quyết định những vấn đề liên quan đến nội dung, chương trình kỳ họp HĐND Khi đại biểu không thể tham dự được kỳ họp hoặc phiên họp phải có lý do và báo cáo với Chủ tịch HĐND hoặc Chủ tọa phiên họp.52
Thành phần quan trọng nhất của các kỳ họp là các đại biểu HĐND, do vậy việc đảm bảo về số lượng đại biểu tham dự kỳ họp là yêu cầu bắt buộc của các kỳ họp, kỳ họp được tiến hành khi có hai phần ba trên tổng số đại biểu HĐND tham dự Bên cạnh đó, tham dự kỳ họp còn có các thành phần khác như đại biểu Quốc hội, đại biểu HĐND cấp trên được bầu tại địa phương nếu là kỳ họp của HĐND cấp huyện, cấp xã, Chủ tịch Ủy ban Mặt trận Tổ quốc cùng cấp, các đoàn thể cùng cấp, thủ trưởng các cơ quan chuyên môn của UBND, lãnh đạo các ban ngành như TAND, VKSND và đại diện cử tri.53 Các thành phần này khi tham dự kỳ họp, phiên họp cũng được phát biểu nhưng không được biểu quyết
Đại biểu có quyền phát biểu ý kiến tại phiên họp toàn thể của HĐND, nhưng phát biểu đó phải tập trung vào vấn đề đang thảo luận, không phát biểu quá hai lần về cùng một vấn đề; thời gian phát biểu không quá mười phút Trong trường hợp HĐND cần thảo
50 Diễn đàn kiến thức pháp luật: Tổ chức và hoạt động của HĐND, 2011, http://diendankienthuc.net/diendan/kien- thuc-phap-luat/58435-to-chuc-va-hoat-dong-cua-hoi-dong-nhan-dan.html , [truy cập ngày 20/7/2012 ]
51 Khoản 2, Điều 51 Luật Tổ chức HĐND và UBND năm 2003.
52 Điều 38 Luật Tổ chức HĐND và UBND năm 2003.
53 Điều 48 Luật Tổ chức HĐND và UBND năm 2003.
Trang 29luận thêm thì thời gian và số lần phát biểu do Chủ tọa phiên họp quyết định.54 Với quy định này trong một số trường hợp hạn chế được tình trạng một số đại biểu có những phát biểu dài dòng, lặp đi lặp lại mà không đi sâu vào trọng tâm vấn đề đã ít nhiều làm mất thời gian để giải quyết những công việc quan trọng khác Tuy nhiên, ở khía cạnh khác cũng có những phát biểu mà đòi hỏi cần phải có thời gian để có thể trình bày hết những vấn đề bức xúc đang đặt ra hoặc vấn đề nóng bỏng của địa phương nhưng do hạn chế về thời gian và số lần phát biểu nên đa số đại biểu còn e ngại về vấn đề này mà không thể thể hiện hết chính kiến, quan điểm, tâm tư, nguyện vọng của cử tri đã trao cho đại biểu Điều này dẫn đến ý kiến, đề xuất không được đưa ra để giải quyết triệt để, thấu đáo.
Để kỳ họp HĐND được tổ chức có chất lượng, hiệu quả, trước kỳ họp, đại biểu HĐND có trách nhiệm dành thời gian tập trung đọc nghiên cứu kỹ các báo cáo sẽ được trình bày tại kỳ họp để phân tích đánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ của địa phương; tự đánh giá hiệu quả, ưu khuyết điểm của công tác chỉ đạo, quản lý, điều hành của UBND
và các ngành liên quan Từ đó, đại biểu phải hoạch định được nguyên nhân chủ quan, khách quan dẫn đến kết quả hoàn thành hoặc không hoàn thành nhiệm vụ của từng địa phương, từng đơn vị.55 Đại biểu có trách nhiệm nghiên cứu trước dự kiến nội dung, chương trình kỳ họp, các văn bản liên quan đến nội dung kỳ họp, các báo cáo, các tờ trình, đề án, dự thảo nghị quyết của kỳ họp,…chuẩn bị ý kiến phát biểu về các vấn đề liên quan đến chương trình nội dung kỳ họp Hội đồng nhân dân họp thường lệ mỗi năm hai
kỳ Ngoài ra, khi cần thiết, HĐND cũng có thể tổ chức các kỳ họp chuyên đề hoặc kỳ họp bất thường theo yêu cầu của Chủ tịch HĐND, Chủ tịch UBND cùng cấp hoặc khi có ít nhất một phần ba tổng số đại biểu HĐND cùng cấp yêu cầu Kỳ họp của HĐND được tiến hành công khai, trừ khi cần thiết phải họp kín.56
Kỳ họp sẽ do thường trực HĐND triệu tập và chỉ được tiến hành khi có sự tham dự của ít nhất hai phần ba tổng số đại biểu Quy định này nhằm đảm bảo tính đa số trong việc bàn bạc, biểu quyết thông qua các nội dung quan trọng của kỳ họp, đối với các nghị quyết của HĐND được thông qua khi có quá một phần hai tổng số đại biểu nhất trí biểu quyết tán thành.Vì HĐND làm việc theo chế độ hội nghị và quyết định theo đa số, việc các đại biểu HĐND thảo luận các báo cáo tại phiên họp toàn thể nhằm tập trung ý chí của những người đại diện cho nhân dân, tập trung ý chí của nhân dân, tranh luận và thảo luận các vấn đề, nhất là những vấn đề còn có ý kiến khác nhau, nghe các cơ quan trả lời về các kiến nghị của cử tri trên cơ sở các thông tin đã phân tích, đại biểu sẽ quyết định chính xác các vấn đề đặt ra khi đại biểu trực tiếp tranh luận, thảo luận
Do kỳ họp là hình thức hoạt động chủ yếu của HĐND nên việc các đại biểu
54 Điểm C, Khoản 1, Điều 11 Quy chế hoạt động của HĐND năm 2005.
55 Nguyễn Xuân Diên: Nâng cao Hiệu quả chất vấn của đại biểu HĐND, Trang điện tử HĐND tỉnh Khánh Hòa,
http://hdnd.khanhhoa.gov.vn/TinChiTiet/tabid/105/id/119/Default.aspx , [truy cập ngày 12/8/2012].
56 Điều 48 Luật Tổ chức HĐND và UBND năm 2003.
Trang 30HĐND tham dự đầy đủ các kỳ họp, tham gia thảo luận, quyết định những vấn đề quan trọng về phát triển kinh tế, xã hội, văn hóa, giáo dục, y tế, thể dục thể thao, củng cố quốc phòng an ninh,… sẽ quyết định chất lượng, hiệu quả hoạt động chung của HĐND Chính
vì vai trò quan trọng như vậy nên hiệu quả của kỳ họp phần nhiều phản ánh được hiệu quả hoạt động của HĐND
Kỳ họp của HĐND thông thường diễn ra rất ngắn, đối với HĐND cấp tỉnh họp từ
3 – 4 ngày, HĐND cấp huyện họp từ 2 – 3 ngày, HĐND cấp xã họp từ 1 – 2 ngày.57 Do trong Luật Tổ chức HĐND và UBND năm 2003 và Quy chế hoạt động của HĐND năm
2005 không có quy định cụ thể về thời gian diễn ra kỳ họp nên tùy thuộc vào số lượng nhiều hay ít công việc mà thời gian kỳ họp có thể rút ngắn hoặc kéo dài hơn
Nhìn chung, hầu hết các đại biểu HĐND làm việc kiêm nhiệm thường tất bật với những công việc ở cơ quan chính, nên rất ít có thời gian để tham dự các phiên họp, kỳ họp của HĐND cũng như không nghiên cứu trước các tài liệu, báo cáo Mặt khác, khi đến tham dự kỳ họp thì đại biểu chỉ nghe một lần với số lượng lớn các báo cáo nên khó có thể tiếp thu, nắm bắt được thông tin nội tại của vấn đề để có thể chất vấn hay tham gia thảo luận đóng góp ý kiến Hơn thế nữa, trong kỳ họp, đại biểu HĐND phải làm việc với chương trình, nội dung dày đặc, đại biểu phải nghe các báo cáo, chất vấn, nghe trả lời chất vấn, thảo luận, thông qua các nghị quyết của HĐND và tham gia giải quyết nhiều công việc quan trọng khác.58
Với thời gian họp ngắn như vậy, gây khó khăn trong việc đi sâu giải quyết, biểu quyết đúng đắn những chính sách, vấn đề quan trọng của địa phương Do vậy phần nào ảnh hưởng đến chất lượng kỳ họp, chất lượng nghị quyết của HĐND Hạn chế quyền tham gia thảo luận, chất vấn, đóng góp ý kiến của đại biểu Ở Quốc hội thời gian kỳ họp thường kéo dài từ 25 - 30 ngày,59 quyết định nhiều vấn đề quan trọng trong phạm vi cả nước, còn HĐND thì quyết định những chính sách phát triển của địa phương, nhưng cũng không kém phần quan trọng
2.2.2 Hoạt động giám sát
Theo Từ Điển luật học “Giám sát là sự theo dõi, quan sát hoạt động mang tính chủ
động thường xuyên, liên tục và sẵn sàng tác động bằng các biện pháp để buộc và hướng
57 Hoàng Sĩ Hạnh: Hoạt động của HĐND các cấp ở nước ta thực trạng và giải pháp, Tạp chí Khoa học Đại học
Quốc gia Hà Nội, Tập 21, Số 3, 2005, tr 5.
58 Trần Đình Huề: Đại biểu Quốc hội bấm nút – đại biểu HĐND giơ tay có khác nhau không?, Báo điện tử Đại biểu
Nhân dân, 2012, http://daibieunhandan.vn/default.aspx?tabid=128&NewsId=241042 , [truy cập ngày 12/8/2012].
59 Kỳ họp thứ 3 của Quốc Hội khóa XIII kéo dài 32 ngày trong đó có 25 ngày làm việc chính thức diễn ra từ
21/5/2012 đến 21/6/2012,
http://www.tinmoi.vn/ngay-21-5-khai-mac-ky-hop-thu-3-quoc-hoi-khoa-xiii-09900367.html , [truy cập ngày 12/8/2012].
Trang 31hoạt động của đối tượng chịu sự giám sát đi đúng quỹ đạo, quy chế nhằm đạt được mục đích, hiệu quả đã được xác định từ trước, đảm bảo cho pháp luật được tuân theo nghiêm chỉnh”.60 Luật Tổ chức HĐND và UBND năm 2003 không định nghĩa trực tiếp giám sát của HĐND hay đại biểu HĐND Tuy nhiên, có thể hiểu, trước tiên, giám sát của HĐND
là một chức năng luật định, tức là gắn với quyền hạn và là trách nhiệm của HĐND và chức năng giám sát được bảo đảm bởi một số hình thức hoạt động và công cụ đặc thù của HĐND Nói tới vai trò giám sát là nói tới vị thế của HĐND với tư cách là một tổ chức và đại biểu HĐND với tư cách cá nhân trong thực hiện chức năng giám sát.61
Ở trung ương, Quốc hội thực hiện chức năng giám sát tối cao và giám sát của Quốc
hội được luật quy định “là việc Quốc hội, Uỷ ban thường vụ Quốc hội, Hội đồng dân tộc,
Uỷ ban của Quốc hội, Đoàn đại biểu Quốc hội và đại biểu Quốc hội theo dõi, xem xét, đánh giá hoạt động của cơ quan, tổ chức, cá nhân chịu sự giám sát trong việc thi hành Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Uỷ ban thường vụ Quốc hội.”62 Dựa vào định nghĩa giám sát của Quốc hội ta có thể rút ra định nghĩa giám
sát của HĐND với chức năng giám ở địa phương như sau “Giám sát của HĐND là việc
theo dõi, xem xét, đánh giá hoạt động của các cơ quan, tổ chức, cá nhân chịu sự giám sát trong việc thi hành Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội và các văn bản quy phạm pháp luật của các cơ quan Nhà nước cấp trên và nghị quyết của HĐND 63
Giám sát là một trong những chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của HĐND các cấp được pháp luật quy định gồm giám sát của HĐND tại kỳ họp, Thường trực HĐND, các ban của HĐND và đặc biệt là giám sát của đại biểu HĐND Giám sát của HĐND nhằm
để kiểm tra, xem xét trách nhiệm và hiệu quả tiến hành hoạt động, mức độ hoàn thành trách nhiệm của các cơ quan Nhà nước đối với nhân dân
Đại biểu HĐND thực hiện quyền giám sát của mình thông qua việc nghe, xem xét các báo cáo của các bên hữu quan liên quan tại kỳ họp, phiên họp để từ đó đại biểu có thể thực hiện quyền chất vấn để làm sáng tỏ vấn đề được đại biểu và cử tri quan tâm Mặt khác, ngoài kỳ họp đại biểu có thể xuống tận địa bàn cơ sở để xem xét thực tế, thu thập thông tin Từ đó đại biểu có cách nhìn tổng thể hơn về những vấn đề vướng mắc, bức xúc
ở địa phương, để có thể đưa ra những kiến nghị, đề xuất thỏa đáng cho địa phương hoặc đại biểu thực hiện quyền giám sát thông qua việc xem xét các văn bản quy phạm pháp
60 Thư viện pháp luật, tra cứu thuật ngữ pháp lý, http://thuvienphapluat.vn/page/ThuatNguPhapLy.aspx?q=gi
%C3%A1m%20s%C3%A1t , [truy cập ngày 30/9/2012].
61 Bùi Khắc Quang: Bản chất hoạt động giám sát của HĐND mang tính nhân văn sâu sắc,Trang điện tử HĐND tỉnh
Gia Lai, 2011, sat-ca-hi-ng-nhan-dan-mang-tinh-nhan-vn-sau-sc&catid=180:nghien-cu-trao-i&Itemid=219 , [truy cập ngày
http://dbnd.gialai.gov.vn/index.php?option=com_content&view=article&id=216:bn-cht-hot-ng-giam-12/8/2012].
62 Điều 2 Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội năm 2003.
63 Bùi Khắc Quang: Bản chất hoạt động giám sát của HĐND mang tính nhân văn sâu sắc,Trang điện tử HĐND tỉnh
Gia Lai, 2011, sat-ca-hi-ng-nhan-dan-mang-tinh-nhan-vn-sau-sc&catid=180:nghien-cu-trao-i&Itemid=219 , [truy cập ngày
http://dbnd.gialai.gov.vn/index.php?option=com_content&view=article&id=216:bn-cht-hot-ng-giam-12/8/2012].
Trang 32luật của UBND cùng cấp và HĐND cấp dưới trực tiếp có phù hợp với văn bản của cấp trên hay không Từ đó ta thấy, hoạt động giám sát của đại biểu HĐND có nội hàm bao gồm nhiều hoạt khác nhau từ chất vấn, nghe báo cáo, xem xét các báo báo, kiến nghị,…
2.2.2.1 Hoạt động chất vấn
Chất vấn là một phần trong hoạt động giám sát của đại biểu HĐND Chất vấn không đồng nghĩa với khái niệm “hỏi và đáp”, chất vấn là một hoạt động để đặt vấn đề hỏi chủ thể bị chất vấn về một điều thắc mắc và yêu cầu người có trách nhiệm trả lời phải trả lời và giải thích rõ ràng, còn “hỏi và đáp” thì có thể “hỏi” nhưng người được hỏi có quyền không đáp hoặc đáp theo kiểu chung chung Hoạt động chất vấn của đại biểu HĐND là cách thức quan trọng để giám sát hoạt động của của UBND, các thành viên của UBND, Thủ trưởng các sở, ban ngành, thuộc UBND cùng cấp và việc giám sát việc thực thi pháp luật của các cơ quan tư pháp ở địa phương để làm rõ trách nhiệm đối với Đảng, Nhà nước và nhân dân.64
Chất vấn là một trong những nội dung rất quan trọng có tính quyết định tới chất lượng và hiệu quả hoạt động của đại biểu HĐND, đây là một trong những quyền mà ở địa phương chỉ đại biểu HĐND mới có Chất vấn và trả lời chất vấn là nội dung quan trọng trong kỳ họp HĐND các cấp.65 Thông qua hoạt động chất vấn đại biểu HĐND thể hiện năng lực và bản lĩnh chính trị khi sử dụng quyền chất vấn, thực hiện nhiệm vụ của người đại biểu HĐND
Theo quy định của pháp luật, đại biểu HĐND có quyền chất vấn Chủ tịch HĐND, Chủ tịch UBND và các thành viên khác của UBND cùng cấp, thủ trưởng các cơ quan chuyên môn thuộc UBND, Chánh án TAND, Viện trưởng VKSND cùng cấp Tại kỳ họp, các chất vấn của đại biểu HĐND sẽ được các cơ quan, người bị chất vấn trả lời trực tiếp Nếu cơ quan, người bị chất vấn chưa thể trả lời trực tiếp tại kỳ họp mà cần điều tra, xác minh thêm thì HĐND sẽ quyết định cho người bị chất vấn phải trả lời bằng văn bản đến đại biểu đã chất vấn và thường trực HĐND hoặc trả lời chất vấn tại kỳ họp sau Hoạt động chất vấn có thể thực hiện trực tiếp tại các kỳ họp hoặc trong thời gian giữa các kỳ họp Trong trường hợp chất vấn được thực hiện trong thời gian giữa các kỳ họp thì đại biểu HĐND gửi chất vấn đến Thường trực HĐND để chuyển đến cơ quan, người bị chất vấn.66 Về hình thức chất vấn, các đại biểu có thể chất vấn bằng văn bản hoặc bằng miệng.67 Thông thường tại kỳ họp người được chất vấn không trả lời trực tiếp tại kỳ họp
64 Trang điện tử HĐND tỉnh Cao Bằng: Để nâng cao hoen hiệu quả chất vấn của đại biểu dân cử, 2012,
dai-bieu-16/ , [truy cập ngày 12/8/2012].
http://hdndcaobang.gov.vn/index.php/vi/news/Dien-dan-nguoi-dai-bieu/De-nang-cao-hon-hieu-qua-chat-van-cua-65 Hồng Loan: Hoạt động chất vấn – công cụ quan trọng của đại biểu cơ quan dân cử, Trung tâm bồi dưỡng cán bộ dân cử, 2012, http://www.ttbd.gov.vn/Home/Default.aspx?portalid=52&tabid=108&catid=514&distid=2589 , [truy cập ngày 12/8/2012].
66 Điều 41 Luật Tổ chức HĐND và UBND năm 2003.
67 Diễn đàn kiến thức pháp luật: Tổ chức và hoạt động của HĐND, 2011,
Trang 33http://diendankienthuc.net/diendan/kien-mà cần phải có thời gian xác minh, điều tra nhưng pháp luật không quy định thời gian xác minh, điều tra là bao lâu, nên sau kỳ họp những câu hỏi trước đó đã rơi vào lãng quên
và ít được giải quyết Mặt khác, cũng không có chế tài nào để bắt buộc cơ quan, tổ chức,
cá nhân đó phải trả lời hay thực hiện một công việc nào đó Do vậy, một số chất vấn tại
kỳ họp chỉ mang tính hình thức mà không đi vào thực chất
Để hoạt động chất vấn đi vào thực chất và mang lại hiệu quả, nhằm kiểm chứng mức độ tín nhiệm của đại biểu HĐND với chức vụ do HĐND bầu68 thì HĐND thực hiện việc bỏ phiếu tín nhiệm Quy định này nhằm hạn chế trường hợp những cá nhân không hoàn thành tốt nhiệm vụ, có nhiều sai phạm, làm mất lòng tin trong nhân dân nhưng vẫn giữ chức vụ đó thì có vẻ như không xứng đáng, gây ảnh hưởng đến chất lượng hoạt động của cơ quan mà cá nhân đó làm việc Chủ thể có quyền yêu cầu bỏ phiếu tín nhiệm là Ủy ban Mặt trận Tổ quốc cùng cấp hoặc ít nhất có một phần ba trong tổng số đại biểu HĐND yêu cầu.69
Thực tế cho thấy ở kỳ họp nào có nhiều ý kiến chất vấn của đại biểu và trả lời chất vấn tốt, thì tạo ra bầu không khí dân chủ tại kỳ họp, thẳng thắn chỉ ra được những vấn đề bức xúc, nổi cộm ở địa phương mà cử tri quan tâm, theo dõi và đòi hỏi HĐND địa phương phải giải quyết Hơn nữa, khi mối quan hệ giữa chất vấn và trả lời chất vấn được đặt ra đúng lúc, đúng chỗ và xem xét giải quyết trên cơ sở khoa học, xuất phát từ lợi ích của nhân dân sẽ có tác dụng rất lớn trong việc giải quyết những vấn đề vướng mắc, bất cập, góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của địa phương Trong tiến trình cải cách, mở cửa, hội nhập và mở rộng dân chủ hiện nay ở nước ta, qua thực tiễn hoạt động của Quốc hội và HĐND các cấp thì chất vấn được xem là hình thức giám sát hiệu quả nhất trong tình hình hiện nay vì các lẽ sau:
Thứ nhất, tính nhạy cảm, tính thời sự, bức xúc của vấn đề được Chủ toạ và đại
biểu đưa ra chất vấn tại kỳ họp;
Thứ hai, bản lĩnh của đại biểu HĐND trong việc nêu vấn đề tại phiên họp công
khai, sức thuyết phục đại biểu tiến hành chất vấn và của người trả lời chất vấn tại phiên họp công khai;
Thứ ba, chất vấn của đại biểu và trả lời chất vấn tại kỳ họp có tác động lớn tới cử
tri trong địa phương, bởi vì thường được truyền hình và truyền thanh trực tiếp;
Thứ tư, thông qua hoạt động chất vấn và trả lời chất vấn, nhân dân sẽ có được sự
nhìn nhận và đánh giá chung về đối tượng và lĩnh vực bị chất vấn
thuc-phap-luat/58435-to-chuc-va-hoat-dong-cua-hoi-dong-nhan-dan.html , [truy cập ngày 20/7/2012 ].
68 Bao gồm các chức vụ sau: Chủ tịch, Phó Chủ tịch HĐND, Ủy viên thường trực HĐND cùng cấp, Trưởng ban, Phó Trưởng ban của HĐND và các thành viên khác của các ban, Chủ tịch, Phó Chủ tịch UBND cùng cấp và các thành viên khác của UBND, Thư ký kỳ họp, Hội thẩm nhân dân của TAND cùng cấp.
69 Điều 71 Luật Tổ chức HĐND và UBND năm 2003.
Trang 34Thứ năm, chất vấn và trả lời chất vấn tại kỳ họp HĐND là diễn đàn dân chủ, công
khai của tại nghị trường, đồng thời là một hoạt động chính trị, pháp lý.70
Thực tế hoạt động chất vấn cho thấy cũng còn có những điểm bất cập ở cả phương diện lý luận và thực tiễn cụ thể như sau:
Trong quá trình tiến hành chất vấn, có đại biểu nhận thức chưa đúng, chưa đầy đủ
về vai trò, tác dụng, ý nghĩa sâu sắc của việc chất vấn cho rằng chất vấn chỉ là hỏi để biết, nên không nhất thiết phải hỏi tại kỳ họp Có người lại xem chất vấn là soi mói vào việc làm của tổ chức, cá nhân khác, nên có sự nể nang, ngại va chạm, sợ phương hại đến lợi ích của cá nhân, đơn vị bị chất vấn Chất vấn cũng có nghĩa là cuộc đấu tranh giữa những người có trách nhiệm giám sát với người có trách nhiệm quản lý và tổ chức thực hiện Nếu người chất vấn chưa chỉ ra vấn đề yếu kém, tồn tại và trách nhiệm trong quản lý thì
có nghĩa là công tác giám sát chưa đến nơi, đến chốn Nếu người bị chất vấn trả lời chưa đầy đủ hoặc né tránh trả lời thì người đó chưa thấy hết trách nhiệm của mình.71
Sản phẩm của việc chất vấn chính là HĐND có thể ra các nghị quyết về việc chất vấn và người bị chất vấn có trách nhiệm xem xét, giải quyết những vấn đề được được đặt
ra trong phiên chất vấn Tuy nhiên pháp luật chưa có quy định nếu người bị chất vấn không xem xét, giải quyết thì trách nhiệm đặt ra đối với người bị chất vấn là như thế nào
72 Vấn đề “hậu chất vấn” chưa được quan tâm, điều này có thể là một thiếu sót, sơ hở của pháp luật, hậu quả là các chất vấn đặt ra không được giải quyết, hoạt động chất vấn xem như hình thức
2.2.2.2 Giám sát tại cơ sở
Ngoài giám sát tại kỳ họp, đại biểu HĐND có thể giám sát trực tiếp tại cơ quan, đơn vị, khi là thành viên Đoàn giám sát của HĐND, Đoàn giám sát của các ban của HĐND Do pháp luật không quy định về hoạt động giám sát của đại biểu, nên đại biểu thực hiện việc giám sát tại cơ sở chủ yếu trên tinh thần, tự nguyện, tự giác nên hoạt động giám sát của đại biểu còn nhiều hạn chế và ít được thực hiện
Mặt khác, pháp luật quy định “khi đại biểu HĐND yêu cầu gặp người phụ trách
của cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân thì người đó có trách nhiệm tiếp”.73 Luật quy định về trách nhiệm tiếp đại biểu của cơ quan,
70 Hồng Loan: Hoạt động chất vấn – công cụ quan trọng của đại biểu cơ quan dân cử, Trung tâm bồi dưỡng cán bộ dân cử, 2012, http://www.ttbd.gov.vn/Home/Default.aspx?portalid=52&tabid=108&catid=514&distid=2589 , [truy cập ngày 12/8/2012].
71 Hùng Kỳ: Nâng cao hiệu quả chất vấn của người đại biểu dân cử, http://dbnd.gialai.gov.vn/index.php?
ng&Itemid=218 , [truy cập ngày 12/8/2012].
option=com_content&view=article&id=288:nang-cao-hiu-qu-hot-ng-cht-vn-ngi-i-biu-dan-c&catid=168:tin-hot-72 Trang Điện tử HĐND tỉnh Cao Bằng: Để nâng cao hiệu quả chất vấn của đại biểu,
dai-bieu-16/ , [truy cập ngày 12/8/2012].
http://hdndcaobang.gov.vn/index.php/vi/news/Dien-dan-nguoi-dai-bieu/De-nang-cao-hon-hieu-qua-chat-van-cua-73 Điều 42 Luật Tổ chức HĐND và UBND năm 2003.
Trang 35tổ chức khi đại biểu có yêu cầu Tuy nhiên, do luật chưa quy định về việc giám sát của đại biểu nên việc tiếp đại biểu của cơ quan, tổ chức chưa xem là bắt buộc Hơn nữa, khi đại biểu yêu cầu gặp người phụ trách cơ quan, tổ chức thì họ luôn viện lý do là bận họp, bận đi công tác nhằm mục đích lẩn tránh không muốn tiếp đại biểu, cứ hẹn dịp khác sẽ tiếp nhưng hết lần này tới lần khác câu trả lời không có gì thay đổi hoặc nếu có tiếp đại biểu chỉ là những người không có thẩm quyền quyết định những vấn đề mà đại biểu đưa
ra Như vậy thì rất khó khăn cho đại biểu trong quá trình thực hiện nhiệm vụ của mình Khi giám sát trong phạm vi quyền hạn của mình đại biểu HĐND có quyền yêu cầu
cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân kịp thời chấm dứt những việc làm trái pháp luật, chính sách của Nhà nước trong cơ quan, tổ chức, đơn vị hoặc của cán bộ, công chức, nhân viên cơ quan, tổ chức, đơn vị đó.74 Với quy định này thì trong quá trình hoạt động của mình nếu đại biểu phát hiện các cơ quan, tổ chức,
cá nhân có những việc làm trái pháp luật, chính sách nhà nước thì đại biểu có quyền yêu cầu những người đó chấm dứt, còn việc họ có thi hành hay không còn tùy thuộc ở cơ quan, tổ chức, cá nhân đó Bởi vì, pháp luật chỉ trang bị cho đại biểu quyền yêu cầu mà không quy định chế tài, cưỡng chế đối với những hành vi không thực hiện Luật chưa có quy định về trách nhiệm của chủ thể bị giám sát và việc đôn đốc, theo dõi sau giám sát nên vô tình làm cho hoạt động giám sát tại cơ sở của đại biểu HĐND trở nên hình thức
2.2.2.3 Xem xét văn bản quy phạm pháp luật của UBND cùng cấp và HĐND cấp dưới trực tiếp
Đây là hình thức để đại biểu giám sát tính hợp hiến, hợp pháp của các văn bản quy phạm pháp luật của UBND cùng cấp, nghị quyết của HĐND cấp dưới Đại biểu HĐND với vị vai trò là một cá thể trong HĐND Trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, nếu đại biểu phát hiện những văn bản này có dấu hiệu trái với Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh của Ủy ban thường vụ Quốc hội và các văn bản quy phạm pháp luật của các cơ quan nhà nước cấp trên và nghị quyết của HĐND cấp trên trực tiếp thì đại biểu có thể yêu cầu, đề nghị với HĐND cấp trên trực tiếp xem xét, quyết định việc bãi bỏ văn bản đó.75 Theo quy định của pháp luật, thì hiện nay đại biểu HĐND chưa có thẩm quyền yêu cầu ngưng việc thực hiện hoặc làm chấm dứt hiệu lực của văn bản quy phạm pháp luật của UBND cùng cấp, nghị quyết của HĐND cấp dưới khi có sai phạm Việc quy định thẩm quyền xem xét văn bản quy phạm pháp luật của HĐND, một mặt giảm bớt gánh nặng công việc cho Quốc hội, mặt khác, góp phầm đảm bảo tính thống nhất cao của pháp luật Hội đồng nhân dân là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương, nắm vững tình hình của địa phương, đại biểu là người gần dân, nắm rõ tâm tư, nguyện vọng của
74 Điều 42 Luật Tổ chức HĐND và UBND năm 2003
75 Khoản 3 Điều 9 Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật của HĐND và UBND năm 2004.
Trang 36nhân dân, nên đảm nhiệm công việc này sẽ thuận lợi và hiệu quả hơn.76
Có ý kiến cho rằng, trong giám sát đại biểu chỉ đưa ra kiến nghị mà không đưa ra được giải pháp cụ thể, khi phê bình thì chỉ là nói suông, không giúp ích gì cho cơ quan chấp hành hoặc không thông cảm với sự khó khăn của cơ quan chấp hành Đây lại là một quan điểm không đúng về "vị thế, vai trò", vì giám sát là hoạt động của cơ quan quyết định chính sách, cơ quan dân cử, là hoạt động kiểm tra từ bên ngoài, do đó mục đích của giám sát là chỉ ra những khiếm khuyết và trách nhiệm trong thi hành, còn việc khắc phục bằng giải pháp nào phải dành cho cơ quan chấp hành cân nhắc và đề xuất để HĐND bàn
và quyết định trên cơ sở kiến nghị của đại biểu Nếu HĐND thông qua giám sát có gợi ý một số giải pháp thì đó cũng chỉ mang bản chất "kiến nghị"; không thể yêu cầu HĐND cầm tay chỉ việc cơ quan chấp hành, vì nếu giải pháp cụ thể đó không thích hợp với điều kiện tổ chức và năng lực của cơ quan chấp hành thì sẽ xảy ra những hậu quả sẽ.77
Từ thực tế trên cho thấy, để đại biểu thực hiện tốt quyền yêu cầu, quyền kiến nghị của mình và để cơ quan, tổ chức nghiêm chỉnh thực hiện, thi hành những yêu cầu, kiến nghị đòi hỏi pháp luật phải quy định một cách chặt chẽ hơn, quy định về các hình thức chế tài, biện pháp cưỡng chế và những biện pháp khắc phục hậu quả khi xảy ra sai phạm đối với những cơ quan, tổ chức, cá nhân không thực hiện đúng yêu cầu, kiến nghị của đại biểu Đồng thời, với quy định này thì yêu cầu kiến nghị của đại biểu sẽ đi vào thực tế mà không chỉ mang tính hình thức, góp phần nâng cao vai trò, vị thế của người đại biểu dân cử
Giám sát là hoạt động theo thiết chế của nhà nước, thể hiện tính dân chủ “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra” mang tính nhân văn cao cả cho dù kết quả giám sát là những kiến nghị thì việc xem xét các kiến nghị cũng mang tính “tự nguyện” chứ chưa có chế tài nào quy định xem xét việc giải quyết các kiến nghị.78 Do vậy, để hoạt động giám sát có thể có ý nghĩa thực sự thì các cơ quan, đại biểu và nhân dân cần hiểu được ý nghĩa cao cả và thể hiện được tinh thần trách nhiệm với hoạt động này Đồng thời, pháp luật cũng cần phải có những quy định chặt chẽ, cụ thể về chủ thể, hình thức, phạm vi giám sát cũng như chế tài sau giám sát, để hoạt động giám sát thật sự mang lại hiểu quả
2.2.3 Hoạt động tiếp xúc cử tri
Tiếp xúc cử tri là một trong những nhiệm vụ quan trọng, thường xuyên của đại biểu dân cử, là một hoạt động mà qua đó người đại biểu nhân dân nắm bắt được thực tế
76 Trương Thị Hồng Hà: Cơ sở pháp lý của hoạt động giám sát của HĐND và thực hiện pháp luật về giám sát của
HĐND cấp tỉnh – Thực trạng và vấn đề đặt ra, tài liệu Hội thảo về hoạt động giám sát của HĐND và Đoàn đại biểu
Quốc hội tỉnh và vai trò của các tổ chức xã hội trong công tác giám sát, 2012, tr 7.
77 Trung tâm bồi dưỡng đại biểu Dân cử: Hoạt động giám sát của HĐND,2010,
http://ttbd.gov.vn/Home/Default.aspx?portalid=52&tabid=108&catid=522&distid=1713 , [truy cập ngày 12/8/2012].
78 Bùi Khắc Quang: Bản chất hoạt động giám sát của HĐND mang tính nhân văn sâu sắc,Trang điện tử HĐND tỉnh
Gia Lai, 2011, sat-ca-hi-ng-nhan-dan-mang-tinh-nhan-vn-sau-sc&catid=180:nghien-cu-trao-i&Itemid=219 , [truy cập ngày
http://dbnd.gialai.gov.vn/index.php?option=com_content&view=article&id=216:bn-cht-hot-ng-giam-12/8/2012].
Trang 37của đất nước, của cơ sở, là một môi trường tốt để trau dồi kỹ năng đại diện của mình, là một biện pháp thiết thực nhằm tăng cường mối quan hệ, củng cố lòng tin của nhân dân vào Đảng, Nhà nước Qua hoạt động tiếp xúc của tri là hình thức để công dân thực hiện quyền làm chủ của mình, tham gia quản lý nhà nước, quản lý xã hội.79
Tiếp xúc cử tri của đại biểu HĐND được coi là việc đại biểu HĐND tự mình hoạc định thông các cơ quan, tổ chức có thẩm quyền, tổ chức gặp gỡ cử tri nơi bầu ra mình theo quy định để thu thập ý kiến, lắng nghe tâm tư, nguyện vọng của cử tri chuyển tải vào HĐND, đồng thời báo cáo với cử tri về việc thực hiện nhiệm vụ đại biểu của mình
Mục đích của tiếp xúc cử tri, ngoài tuyên truyền phổ biến chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước, nghị quyết của HĐND các cấp là lắng nghe cử tri giải bày tâm tư, nguyện vọng, phản ánh, đề nghị, kiến nghị, những vấn đề liên quan trực tiếp đời sống nhân dân Trên cơ sở đó, đại biểu thấu hiểu, chia sẻ và có những quyết sách hợp lý nhằm đáp ứng những mong mỏi, nguyện vọng chính đáng của cử tri Tiếp xúc cử tri là hoạt động của đại biểu HĐND, do đó đại biểu phải là người chủ động đặt vấn đề, gợi mở và định hướng lôi cuốn cử tri tập trung vào những vấn đề liên quan đến nội dung của kỳ họp HĐND cũng như những vấn đề bức thiết, những đòi hỏi đặt ra ở địa phương cần giải quyết.80
Thực tiễn đã chứng minh rằng, tiếp xúc cử tri là một hoạt động trong quá trình tổ chức, hoạt động của HĐND Tiếp xúc cử tri cũng là thước đo trực tiếp, khách quan để cử tri đo lường hiệu quả hoạt động của người đại biểu nhân dân Thực hiện tốt hoạt động
tiếp xúc cử tri chính là cơ hội để đại biểu khẳng định rằng “cử tri không chọn nhầm
người, không bỏ phí phiếu bầu cho đại biểu”.81 Chính vì thế, tiếp xúc cử tri đã được pháp luật quy định cụ thể là quyền, đồng thời cũng là nhiệm vụ, trách nhiệm của người đại biểu HĐND
Pháp luật quy định, đại biểu HĐND là người đại diện cho ý chí, nguyện vọng của nhân dân ở địa phương; phải liên hệ chặt chẽ với cử tri ở đơn vị bầu ra mình, chịu sự giám sát của cử tri, có trách nhiệm thu thập và phản ánh trung thực ý kiến, nguyện vọng, kiến nghị của cử tri Đại biểu HĐND phải bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cử tri; thực hiện chế độ tiếp xúc và ít nhất mỗi năm một lần báo cáo với cử tri về hoạt động của mình và của HĐND, trả lời những yêu cầu, kiến nghị của cử tri.82 Đại biểu HĐND không những đại diện cho cử tri ở đơn vị bầu cử mà còn đại diện cho cán bộ, công chức, lao
79 Luyện Hạnh: Đại biểu cần chuẩn bị tâm thế để buổi gặp gỡ cử tri đạt hiệu quả, Báo điện tử Đại biểu Nhân dân,
2011, http://daibieunhandan.vn/default.aspx?tabid=128&NewsId=227241 , [truy cập ngày 12/8/2012].
80 Nguyễn Ngọc Thái: Nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của HĐND phải bắt đầu từ đại biểu, Báo điện tử Đại biểu Nhân dân, 2012, http://daibieunhandan.vn/default.aspx?tabid=128&NewsId=23277 , [truy cập ngày
12/8/2012].
81 Nguyễn Anh Dũng: Để xứng đáng với niềm tin của cử tri, Báo điện tử Đại biểu Nhân dân, 2011,
http://daibieunhandan.vn/default.aspx?tabid=128&NewsId=225654 , [truy cập ngày 12/8/2012].
82 Điều 39 Luật Tổ chức HĐND và UBND năm 2003.
Trang 38động ở cơ quan, đơn vị công tác và của nhân dân ở địa phương Bởi vậy, bằng nhiều cách, nhiều hình thức khác nhau đại biểu HĐND cần nghe được tiếng nói, tâm tư của nhiều cử tri hơn, phản ánh được nhiều kiến nghị, nguyện vọng của nhiều người dân hơn.
Việc tiếp xúc cử tri trước mỗi kỳ họp của đại biểu là để lắng nghe tâm tư, nguyện vọng nhân dân nơi đại biểu ứng cử, tiếp thu các ý kiến, kiến nghị của cử tri với kỳ họp và với các cơ quan nhà nước cấp trên Sau kỳ họp, đại biểu phải tiếp xúc cử tri để báo cáo kết quả của kỳ họp, kết quả giải quyết các ý kiến, kiến nghị của cử tri, phổ biến và giải thích các nghị quyết của HĐND và vận động nhân dân thực hiện nghị quyết đó Ngoài ra, mỗi năm một lần vào cuối năm, kết hợp với việc tiếp xúc cử tri, các đại biểu HĐND phải báo cáo với cử tri nơi được bầu kết quả hoạt động của mình và của HĐND trong năm và phương hướng hoạt động trong năm tới.83
Ngoài tiếp xúc cử tri trước và sau kỳ họp HĐND, đại biểu HĐND có thể tiếp xúc
cử tri nơi cư trú, nơi làm việc hoặc theo chuyên đề.84 Ngoài những địa điểm trên đại biểu
có thể mở rộng địa bàn tiếp xúc cử tri, địa bàn dân cư, nhà máy, xí nghiệp, cơ quan nhà nước, các tổ chức, đoàn thể để có thể tập hợp được trí tuệ của các tầng lớp nhân dân hoặc
có thể tiếp xúc cử tri theo ngành, lĩnh vực để tìm hiểu tâm tư nguyện vọng của các nhóm đối tượng cử tri Nội dung tiếp xúc cử tri cũng phải đa dạng, phong phú trên cơ sở vận dụng kết hợp các hoạt động khác như giám sát, tiếp công dân Việc mở rộng thành phần
cử tri trong các cuộc tiếp xúc góp phần quan trọng để đại biểu lắng nghe ý kiến, kiến nghị được toàn diện hơn.85
Đại biểu HĐND có thể trực tiếp gặp gỡ cử tri để tìm hiểu tâm tư, nguyện vọng của
cử tri và những vấn đề mà đại biểu quan tâm; chuyển những kiến nghị của cử tri đến Tổ đại biểu HĐND và Thường trực HĐND để tổng hợp báo cáo HĐND, gửi tới cơ quan, tổ chức, đơn vị có thẩm quyền xem xét, giải quyết Mặt khác, cử tri cũng có thể thông qua
Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam bằng việc đưa ra ý kiến, kiến nghị khi là thành viên của các tổ chức thành viên của Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc như Hội Nông dân, Hội Phụ nữ, Hội Cựu chiến binh,…hoặc trực tiếp bày tỏ ý kiến nhận xét của mình tại buổi tiếp xúc cử tri về hoạt động của HĐND và hoạt động của đại biểu HĐND Tổ đại biểu HĐND và Ban thường trực Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cùng cấp có trách nhiệm tổng hợp và báo cáo Thường trực HĐND về nhận xét của cử tri
Tiếp xúc cử tri là phương thức chủ yếu để nhân dân thực hiện quyền làm chủ của mình, thông qua người đại diện cho mình cử tri gián tiếp tham gia vào quá trình quản lý nhà nước, quản lý xã hội Qua tiếp xúc cử tri, nhiều vấn đề đề bức xúc tại địa phương được trao đổi giữa đại biểu và cử tri Trên cở sở đó tạo đồng thuận trong quá trình thực
83 Khoản 4, Điều 38 Quy chế hoạt động của HĐND năm 2005.
84 Khoản 5, Điều 38 Quy chế hoạt động của HĐND năm 2005.
85 Phạm Thái Quý: Đại biểu là nhân vật trung tâm, Báo điện tử Đại biểu Nhân dân, 2011,
http://daibieunhandan.vn/default.aspx?tabid=76&NewsId=246098 , [truy cập ngày 12/8/2012].