1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

LUẬN văn LUẬT HÀNH CHÍNH hệ THỐNG văn bản QUY PHẠM PHÁP LUẬT VIỆT NAM –THỰC TRẠNG và GIẢI PHÁP

47 334 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 47
Dung lượng 799,06 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Quy phạm pháp luật là chuẩn mực cho các hành vi trong xã hội nên đòi hỏi các quy phạm phải rõ ràng, chính xác về những điều được làm, không được làm giúp cho các chủ thể khi tham gia vào

Trang 1

Lớp: Luật Hành chính – K35

Cần Thơ, tháng 4 năm2013

Trang 2

NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN

-

Trang 3

-NHẬN XÉT CỦA HỘI ĐỒNG CHẤM LUẬN VĂN

 -

Trang 5

-MỤC LỤC



Trang

LỜI NÓI ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Mục đích nghiên cứu .2

3 Phạm vi nghiên cứu .2

4 Phương pháp nghiên cứu 2

5 Kết cấu của đề tài 2

CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ HỆ THỐNG VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT VIỆT NAM 3

1.1 MỘT SỐ KHÁI NIỆM LIÊN QUAN 3

1.1.1 Khái niệm quy phạm pháp luật 3

1.1.2.Khái niệm văn bản quy phạm pháp luật 4

1.1.3 Khái niệm hệ thống văn bản quy phạm pháp luật 6

1.2 CÁC YÊU CẦU CƠ BẢN CỦA HỆ THỐNG VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT 7

1.2.1 Yêu cầu về tính thống nhất 7

1.2.2 Yêu cầu về tính toàn diện 8

1.2.3 Yêu cầu về tính ổn định 8

1.2.4 Yêu cầu về trình độ kỹ thuật lập pháp 9

1.2.5 Yêu cầu về tính phù hợp 9

1.2.6 Yêu cầu về tính công khai, minh bạch 10

1.2.7 Yêu vầu về tính khả thi 11

1.3 HỆ THỐNG VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT HIỆN HÀNH 11

Trang 6

1.3.2 Nội dung các văn bản quy phạm pháp luật 12

1.3.2.1 Nội dung các văn bản quy phạm pháp luật cấp trung ương 12

1.3.2.2 Nội dung các văn bản quy phạm pháp luật ở địa phương 15

1.4 PHÂN LOẠI VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT 16

1.4.1 Căn cứ theo thẩm quyền ban hành 16

1.4.1.1 Văn bản quy phạm pháp luật của trung ương 16

1.4.1.2 Văn bản quy phạm pháp luật của địa phương 17

1.4.2 Căn cứ giá trị pháp lý .17

1.4.2.1 Văn bản luật 17

1.4.2.2 Văn bản dưới luật 18

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP NHẰM HOÀN THIỆN HỆ THỐNG VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT HIỆN NAY 19

2.1 THỰC TRẠNG HỆ THỐNG VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT HIỆN NAY 19

2.1.1 Những thành tựu của hệ thống văn bản quy phạm pháp luật 19

2.1.1.1 Đảm bảo được tính công khai, minh bạch 19

2.1.1.2 Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật ngày càng đầy đủ và thiết thực hơn - 20

2.1.1.3 Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật được đơn giản hóa 24

2.1.2 Những hạn chế của hệ thống văn bản quy phạm pháp luật 24

2.1.2.1 Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật còn thiếu tínhthống nhất 25

2.1.2.2 Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật chưa đảm được tính ổn định 27

2.1.2.3 Trình độ kỹ thuật lập pháp chưa cao 28 2.1.2.4 Thiếu tính khả thi trong một số quy định của văn bản

Trang 7

2.2 GIẢI PHÁP NHẰM HOÀN THIỆN HỆ THỐNG VĂN BẢN QUY PHẠM

PHÁP LUẬT HIỆN NAY 30

2.2.1 Làm tốt công tác đánh giá tác động xây dựng luật, dự báo các quan hệ xã hội trong tương lai 30

2.2.2 Quy định cụ thể về quy trình lấy ý kiến nhân dân 31

2.2.3 Xây dựng cơ chế pháp lý phù hợp cho hoạt động giải thích pháp luật 32

2.2.4 Làm tốt công tác hệ thống hóa văn bản quy phạm pháp luật 33

2.2.5 Xây dựng cơ chế bảo hiến hiệu quả 34

KẾT LUẬN 36

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 8

LỜI NÓI ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Thực tế hiện nay, mặc dù hệ thống văn bản quy phạm pháp luật đã có những bước phát triển mới so với giai đoạn trước đó Hệ tống này ngày càng có nhiều quy định điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh, ngày càng phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội hiện nay Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật trong quy định hiện hành có phần đơn giản hơn, loại bỏ những văn bản không cần thiết… Tuy nhiên, bên cạnh những mặt tích cực, hệ thống văn bản quy phạm pháp luật hiện hành cũng bộc lộ không ít những hạn chế cần phải được xem xét và giải quyết.Nhiều quy định của các văn bản luật, văn bản dưới luật có sự mâu thuẫn, chồng chéo, không thống nhất với nhau gây khó khăn trong việc thực hiện các quy định trên thực tế Bên cạnh đó, nhiều văn bản quy phạm pháp luật còn thiếu tính khả thi,thế nên, có nhiều văn bản quy phạm pháp luật khi ban hành chưa được áp dụng lại

bị bãi bỏ hoặc có những văn bản chưa kịp ban hành đã nhận phải sự phản đối của người dân Ngoài ra, việc thường xuyên sửa đổi, thay đổi các văn bản quy phạm pháp luật cũng là biểu hiện cho tính thếu ổn định của hệ thống văn bản quy phạm pháp luật hiện nay Từ những hạn chế trên cho thấy một thực trạng đó là trình độ pháp lý trong hệ thống văn bản quy phạm pháp luật còn nhiều hạn chế

Nhằm khắc phục những hạn chế và tồn tại hiện nay của hệ thống văn bản quy phạm pháp luật, cần có nhưng giải pháp thích hợp và hiệu quả để hệ thống văn bản quy phạm pháp luật ngày càng được hoàn thiện hơn Xuất phát từ lý do này nên người viết đã chọn đề tài: “Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật ở Việt Nam-Thực trạng và giải pháp” cho luận văn tốt nghiệp của mình

2 Mục đích nghiên cứu

Trên cơ sở tìm hiểu về những tồn tại, hạn chế của hệ thống văn bản quy phạm pháp luật cũng như những nguyên nhân dẫn đến những tồn tại và hạn chế đó Người viết đưa ra những giải pháp nhằm khắc phục hạn chế cho hệ thống văn bản quy phạm pháp luật Từ đó, giúp hoàn thiện và nâng cao chất lượng của hệ thống văn bản quy phạm pháp luật, đồng thời, làm cho pháp luật thật sự trở thành công

cụ quản lý xã hội hữu hiệu ở Việt Nam

Trang 9

3 Phạm vi nghiên cứu

Người viết nghiên cứu những vấn đề lý luận về hệ thống văn bản quy phạm pháp luật và đánh giá thực trạng của hệ thống văn bản quy phạm pháp luật Việt Nam, sau đó tìm ra những nguyên nhân cũng như đưa ra phương hướng hoàn thiện

hệ thống văn bản quy phạm pháp luật

4 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn được xây dựng trên nền tảng lý luận triết học Mác- Lênin, kết hợp các phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh… nhằm làm rõ những vấn đề lý luận

và thực tiễn của hệ thống văn bản quy phạm pháp luật ở Việt Nam

Trang 10

Chương 1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ HỆ THỐNG VĂN BẢN QUY PHẠM

PHÁP LUẬT VIỆT NAM

Chương 1 sẽ trình bày một cách khái quát về hệ thống văn bản quy phạm pháp luật, bao gồm những vấn đề như: khái niệm về quy phạm pháp luật, khái niệm văn bản quy phạm pháp luật, khái niệm hệ thống văn bản quy phạm pháp luật Ngoài ra, người viết cũng trình bày về những yêu cầu cơ bản của hệ thống văn bản quy phạm pháp luật và tìm hiểu về hình thức cũng như nội dung của các văn bản quy phạm pháp luật theo quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành

1.1 MỘT SỐ KHÁI NIỆM LIÊN QUAN

1.1.1 Khái niệm quy phạm pháp luật

Trong sách báo khoa học pháp lý trong nước và ngoài nước từ trước đến nay,

đa số các nhà khoa học đều luận giải khái niệm “quy phạm pháp luật” bắt đầu từ việc giải thích từ “quy phạm” trong tiếng La tinh là “quy tắc”, khuôn mẫu”.1 Xuất phát từ việc nghiên cứu phạm vi mối quan hệ tương tác với các loại quy phạm xã hội khác cùng tham gia điều chỉnh các quan hệ xã hội (như đạo đức, phong tục, tập quán, tôn giáo và quy phạm của tổ chức xã hội) để làm rõ khái niệm quy phạm pháp luật

Quy phạm pháp luật trước hết nó là quy phạm xã hội chứa đựng những tính chất vốn có của một quy phạm xã hội đó là quy tắc xử sự chung; là tiêu chuẩn đánh giá hành vi con người Mặc dù vậy, bản thân quy phạm pháp luật vẫn mang trong mình những nét đặc thù riêng, đó là: quy phạm pháp luật được đặt ra hoặc được thừa nhận bởi nhà nước Vì quy phạm pháp luật được đặt ra bởi Nhà nước, chủ thể đặc biệt với quyền lực của mình nên những quy phạm pháp luật được áp dụng có tính chất ràng buộc chung không chỉ cho một trường hợp cụ thể, những tổ chức hay cá nhân cụ thể, mà cho tất cả các trường hợp và đối với tất cả tổ chức hay những cá nhân phải thực hiện khi gặp phải những tình huống mà pháp luật đã dự liệu Như đã nói, quy phạm pháp luật là do nhà nước đặt ra hoặc thừa nhận nên việc thực hiện những quy phạm đó cũng xuất phát từ ý chí của nhà nước nhằm đưa

1PGS TS Nguyễn Văn Động, Giáo trình lý luận về Nhà nước và pháp luật, Nxb Giáo dục, năm 2008,

tr.251

Trang 11

các quy định vào thực hiện theo như dự định đã đề ra Bên cạnh việc đặt ra các quy phạm pháp luật, nhà nước cũng đảm bảo cho những quy phạm đó được thực hiện trên thực tế trong khoảng không gian, thời gian khác nhau, tùy thuộc vào đều kiện hoàn cảnh trên thực tế Quy phạm pháp luật được đặt ra nhằm điều chỉnh các mối quan hệ xã hội, nhằm duy trì, bảo vệ đời sống cộng đồng nên bản thân các quy phạm vừa thể hiện tính xã hội vừa thể hiện tính giai cấp Quy phạm pháp luật là chuẩn mực cho các hành vi trong xã hội nên đòi hỏi các quy phạm phải rõ ràng, chính xác về những điều được làm, không được làm giúp cho các chủ thể khi tham gia vào các quan hệ pháp luật hiểu rõ được nghĩa vụ, quyền lợi của mình để thực hiện đúng với quy định.

Tóm lại: “Quy phạm pháp luật là quy tắc xử sự chung do nhà nước đặt ra hoặc thừa nhận và bảo đảm thực hiện để điều chỉnh quan hệ xã hội theo những định hướng và nhằm đạt được những mục đích nhất định ”2

1.1.2 Khái niệm văn bản quy phạm pháp luật

Pháp luật được hiểu là những nguyên tắc xử sự chung do nhà nước đặt ra hoặc thừa nhận Hình thức pháp luật là sự thể hiện ra bên ngoài của pháp luật, là phương thức tồn tại thực tế của pháp luật Trong lịch sử có ba hình thức pháp luật

cơ bản được các nhà nước áp dụng là tập quán pháp, tiền lệ pháp và văn bản quy phạm pháp luật Trong đó, văn bản quy phạm pháp luật là hình thức pháp luật hiện đại nhất, tiến bộ nhất; được sử dụng ở hầu hết các nước trên thế giới trong đó có Việt Nam; đây là hình thức pháp luật chính và chủ yếu của pháp luật Việt Nam

“Văn bản quy phạm pháp luật” là một thuật ngữ được sử dụng rộng rãi trên

sách, báo pháp lý và các văn bản của cơ quan Nhà nước Theo Điều 1 Luật Ban

hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2008 quy định: “Văn bản quy phạm pháp luật là văn bản do cơ quan nhà nước ban hành hoặc phối hợp ban hành theo thẩm quyền, hình thức, trình tự, thủ tục được quy định trong Luật này hoặc trong Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân, trong đó có quy tắc xử sự chung, có hiệu lực bắt buộc chung, được Nhà nước bảo đảm thực hiện để điều chỉnh các quan hệ xã hội”.

Như vậy, văn bản quy phạm pháp luật là văn bản do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành hoặc phối hợp ban hành theo hình thức, thủ tục, trình tự

2Trường Đại học luật Hà nội, Giáo trình lý luận nhà nước và pháp luật, Nxb Tư pháp hà Nội, năm 2007,

tr.383;

Trang 12

được quy định trong Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật và Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân Nội dung của các văn bản quy phạm pháp luật chứa đựng các quy tắc xử sự chung, được áp dụng nhiều lần đối với mọi đối tượng có liên quan và có hiệu lực trên phạm vi toàn quốc hoặc từng địa phương, được nhà nước bảo đảm thực hiện bằng các biện pháp theo quy định của pháp luật Từ đó, ta có thể thấy văn bản quy phạm pháp luật có những đặc điểm sau:

∑ Văn bản quy phạm pháp luật là văn bản do cơ quan Nhà nước có thẩm quyền ban hành hoặc phối hợp ban hành Hiện nay pháp luật quy định rất

nhiều chủ thể có thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật bao gồm: Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội Chính phủ, Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, Hội đồng nhân dân các cấp, Ủy ban nhân dân các cấp Các cơ quan cơ quan nhà nước có thẩm quyền phối hợp với nhau hoặc phối hợp với các tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương để ban hành văn bản quy phạm pháp luật liên tịch Ngoài ra, Điều 2 Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2008 cũng quy định một số chủ thể là cá nhân có thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật như: Chủ tịch nước, Thủ tướng Chính phủ, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Tổng Kiểm toán nhà nước

∑ Văn bản quy phạm pháp luật là văn bản có chứa đựng quy tắc xử sự chung Đây là đặc điểm cơ bản để phân biệt văn bản quy phạm pháp luật với các

văn bản có tính chất pháp lý khác Có nghĩa là, những văn bản pháp luật mặc dù có tính chất pháp lý nhưng không chứa đựng quy tắc xử sự chung thì không được xem là văn bản quy phạm pháp luật Chẳng hạn, quyết định xử lý vi phạm hành chính, quyết định kỷ luật, quyết định lên lương, công văn

∑ Văn bản quy phạm pháp luật được áp dụng nhiều lần trong đời sống

Văn bản quy phạm pháp luật được áp dụng vào thực tế không phải chỉ một lần hoặc hai lần mà được áp dụng lập đi lập lại nhiều lần nếu những điều kiện, hoàn cảnh xảy ra đúng như những quy định của văn quy phạm pháp luật đó Chẳng hạn, như một người có hành vi cấu thành tội giết người thuộc một trong những trường hợp quy đinh tại Điều 93 Bộ luật Hình sự năm 1999, sửa đổi, bổ sung năm 2009 thì căn cứ theo khung hình phạt được quy định tại điều này để đưa ra biện pháp chế tài đối với hành vi giết người đó Nếu có nhiều hành vi khác tương tự như trên thì vẫn tiếp tục áp dụng quy định đó Vậy, việc áp dụng này được lập đi lập lại cho

Trang 13

tới khi quy định đó được thay thế bằng một văn bản quy phạm pháp luật khác hoặc

bị bãi bỏ, hủy bỏ

∑ Được ban hành theo hình thức, thủ tục, trình tự luật định Chẳng hạn,

theo Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2008, việc ban hành văn bản luật là thuộc thẩm quyền của Quốc hội3 và phải tuân theo thủ tục, trình tự như sau: lập và thông qua chương trình xây dựng luật; soạn thảo dự án luật; thẩm tra dự thảo luật bởi Hội đồng dân tộc và các Ủy ban của Quốc hội, xem xét và cho ý kiến

về dự thảo luật bởi Ủy ban thường vụ Quốc hội; thảo luận, tiếp thu, chỉnh lý và thông qua dự thảo luật của Quốc hội và cuối cùng là công bố văn bản quy phạm pháp luật.4

∑ Văn bản quy phạm pháp luật được nhà nước bảo đảm thực hiện Nhà

nước bảo đảm thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật bằng các biện pháp thích hợp như tuyên truyền, giáo dục, thuyết phục, phổ biến pháp luật cho người dân Trong trường hợp cần thiết là biện pháp cưỡng chế bắt buộc thi hành nhằm bảo đảm cho văn bản quy phạm pháp luật được thực hiện trên thực tế một cách tốt hơn

và mang lại hiệu quả cao hơn

1.1.3 Khái niệm hệ thống văn bản quy phạm pháp luật

Pháp luật hiện hành chưa có một văn bản hay một điều khoản nào quy định một cách cụ thể về khái niệm hệ thống văn bản quy phạm pháp luật Điều 2 Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2008 cũng chỉ sử dụng thuật ngữ “hệ thống văn bản quy phạm pháp luật” để đặt tiêu đề và sắp xếp các văn bản quy phạm pháp luật theo trật tự liệt kê Theo đó, hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật được sắp xếp theo một trật tự thống nhất từ cao đến thấp, tương ứng với thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật của các chủ thể theo quy định của pháp luật và theo một trật tự thang bậc của giá trị pháp lý.Vị trí thứ bậc của văn bản quy phạm pháp luật phụ thuộc vào vị trí của cơ quan, cá nhân có thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật trong bộ máy nhà nước theo nuyên tắc: cơ quan, cá nhân nào có vị trí cao trong bộ máy nhà nước thì văn bản quy phạm pháp luật do cơ quan đó ban hành cũng có vị trí cao trong hệ thống văn bản quy phạm pháp luật và ngược lại Xác định được một văn bản quy phạm pháp luật có hiệu lực pháp lý cao hơn hay thấp hơn sẽ định hướng cho việc đưa ra các quy định trong nội dung văn bản đó Chẳng hạn như, luật của Quốc hội thì quy định các vấn

3 Xem: Điều 84 Hiến pháp năm 1992, sửa đổi, bổ sung năm 2001;

4 Xem: từ Mục 1- Mục 6 Chương III Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2008;

Trang 14

đề cơ bản thuộc lĩnh vực kinh tế, xã hội, quốc phòng, an ninh, tài chính tiền tệ, ngân sách, thuế… Đối với Nghị định của Chính phủ thì quy định chi tiết thi hành luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội, lệnh quyết định của Chủ tịch nước,…Ngoài ra, việc xác định giá trị pháp lý cao hay thấp của văn bản quy phạm pháp luật cũng là căn cứ để áp dụng quy phạm pháp luật, theo đó, trong trường hợp các văn bản quy phạm pháp luật có quy định khác nhau về cùng một vấn đề thì áp dụng văn bản có hiệu lực pháp lý cao hơn.

Bên cạnh đó, xác định văn bản quy phạm pháp luật nào có hiệu lực pháp lý cao hơn để làm căn cứ kiểm tra, xử lý sau khi văn bản được ban hành Nếu văn bản quy phạm pháp luật của cấp dưới mâu thuẫn hoặc trái với văn bản của cấp trên thì phải được xử lý kịp thời,có thể là bãi bỏ hoặc hủy bỏ văn bản sai trái đó Điển hình như, Hiến pháp là đạo luật cơ bản, có giá trị pháp lý cao nhất mọi văn bản pháp luật đều phải tuân thủ đúng các quy định của Hiến pháp, nếu các văn bản quy phạm pháp luật có dấu hiệu trái với Hiến pháp sẽ bị xử lý Từ những phân tích

trên, hệ thống văn bản quy phạm pháp luật được định nghĩa như sau: “Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật là tập hợp tất cả các văn bản quy phạm pháp luật do

cơ quan nhà nước và cá nhân có thẩm quyền ban hành và được sắp xếp theo một trật tự thang bậc giá trị pháp lý từ cao đến thấp, tương ứng với hệ thống các cơ quan trong bộ máy nhà nước ta”.

1.2 CÁC YÊU CẦU CƠ BẢN CỦA HỆ THỐNG VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT

Để có một hệ thống văn bản quy phạm pháp luật hoàn chỉnh, đòi hỏi khi xây dựng hệ thống văn bản quy phạm pháp luật đòi hỏi cần có những yêu cầu đặt ra đối với hệ thống đó Những yêu cầu cơ bản đặt ra cho hệ thống văn bản quy phạm pháp luật cũng là thước đo đánh giá mức độ hoàn chỉnh của hệ thống văn bản quy phạm pháp luật

1.2.1 Yêu cầu về tính thống nhất

Sự thống nhất của hệ thống văn bản quy phạm pháp luật là điều kiện cần thiết bảo đảm cho tính thống nhất về mục đích của pháp luật và sự triệt để trong việc thực hiện pháp luật.5 Tính thống nhất của hệ thống văn bản quy phạm pháp luật pháp luật được thể hiện trong cả hệ thống cũng như trong từng bộ phận hợp thành của hệ thống văn bản quy phạm pháp luật ở các cấp độ khác nhau, nghĩa là giữa

5Xem: Nam Nguyễn, Tiêu chí xác định chất lượng hệ thống pháp luật,

http://moj.gov.vn/ct/tintuc/Pages/nghien-cuu-trao-doi.aspx?ItemId=4516[20/02/2013]

Trang 15

các văn bản quy phạm pháp luật trong cùng hệ thống; giữa các điều luật của từng văn bản quy phạm pháp luật cũng phải thống nhất Không có các hiện tượng trùng lặp, chồng chéo, mâu thuẫn lẫn nhau của các văn bản quy phạm pháp luật cũng như giữa các văn bản quy phạm pháp luật trong cùng một hệ thống Điều này đòi hỏi các văn bản quy phạm pháp luật được ban hành không chỉ bảo đảm sự thống nhất, hài hoà về nội dung mà còn phải bảo đảm tính thứ bậc của mỗi văn bản về giá trị pháp lý của chúng Đảm bảo tốt tính thống nhất trong hệ thống văn bản quy phạm pháp luật cũng là đảm bảo cho việc thực hiện và áp dụng văn bản quy phạm pháp luật vào thực tế một cách dễ dàng và thuận tiện hơn, góp phần làm tăng tính hiệu quả của pháp luật.

1.2.2 Yêu cầu về tính toàn diện

Tính toàn diện của hệ thống văn bản quy phạm pháp luật thể hiện ở tính cấu trúc hình thức của nó, có nghĩa là, hệ thống văn bản quy phạm pháp luật phải có khả năng đáp ứng được đầy đủ nhu cầu điều chỉnh pháp luật trên các lĩnh vực của đời sống xã hội Các quy định của văn bản quy phạm pháp luật phải có khả năng bao quát toàn bộ đời sống xã hội, để các quy phạm xã hội quan trọng, điển hình và phổ biến cần có sự điều chỉnh thì đều có luật điều chỉnh Ngoài ra, việc ban hành văn bản quy phạm pháp luật không chỉ chú trọng tới một hoặc một số lĩnh vực cụ thể mà còn phải chú ý tới việc ban hành văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh một cách toàn diện các quan hệ xã hội thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau Bên cạnh, không chỉ chú trọng ban hành luật nội dung mà còn phải chú ý tới luật hình thức

về trình tự, thủ tục Các văn bản quy phạm pháp luật được tạo ra và tác động trong một tổng thể những mối liên hệ và những ràng buộc nhất định Cho nên, tính toàn diện của hệ thống văn bản quy phạm pháp luật có ảnh hưởng đến tính khả thi và hiệu quả của việc thực hiện pháp luật Tính toàn diện của hệ thống văn bản quy phạm pháp luật còn thể hiện ở việc ban hành đầy đủ các văn ban quy định chi tiết

Để khi các văn bản quy phạm pháp luật có hiệu lực thì các văn bản quy định chi tiết đó đã có đủ điều kiện để có thể tổ chưc thực hiện ngay trên thực tế.6

1.2.3 Yêu cầu về tính ổn định của hệ thống văn bản quy phạm pháp luật

Tính ổn của các văn bản quy phạm pháp luật được hiểu là hiệu lực áp dụng của các văn bản đó trong một thời gian dài, ít sửa đổi hay thay đổi, phù hợp với các giai đoạn phát triển của xã hội Tính ổn định của văn bản quy phạm pháp luật

6Xem: Nam Nguyễn, Tiêu chí xác định chất lượng hệ thống pháp luật,

http://moj.gov.vn/ct/tintuc/Pages/nghien-cuu-trao-doi.aspx?ItemId=4516[20/02/2013]

Trang 16

không thể tách rời với trình độ kỹ thuật lập pháp, nếu có trình độ kỹ thuật lập pháp tốt thì tính ổn định của văn bản quy phạm pháp luật được đảm bảo Bởi vì một trình độ kỹ thuật lập pháp tiến bộ có khả năng đánh giá cũng như dự báo các quan

hệ xã hội một cách có hiểu quả, trên cơ sở đó ban hành những quy định phù hợp với thực tế, vừa đảm bảo tính ổn định lại vừa đảm bảo được tính khả thi

1.2.4 Yêu cầu về trình độ kỹ thuật lập pháp

Trình độ kỹ thuật lập pháp bao gồm tổng thể những phương pháp, phương tiện được sử dụng trong quá trình xây dựng và ban hành văn bản quy phạm pháp luật và hệ thống hóa văn bản quy phạm pháp luật nhằm đảm bảo cho văn bản quy phạm pháp luật có được đầy đủ khả năng để điều chỉnh có hiệu quả các quan hệ xã hội.7 Vấn đề này đòi hỏi: Khi xây dựng và hoàn thiện văn bản quy phạm pháp luật phải đưa ra những nguyên tắc, những trình tự, thủ tục tối ưu nhất để tiến hành có hiệu quả quá trình đó nhằm tạo ra những quy định, những văn bản quy phạm pháp luật tốt nhất, đồng thời phù hợp với những quy định đã có, phù hợp với các điều kiện kinh tế- xã hội của đất nước Ngôn ngữ sử dụng trong văn bản phải chính xác, phổ thông, cách diễn đạt phải rõ ràng, dễ hiểu, đảm bảo tính cô đọng, logic và một nghĩa; phù hợp với khả năng nhận thức của quảng đại quần chúng nhân dân Sự chặt chẽ, rõ ràng, chính xác của quy phạm pháp luật cũng tránh được những thiếu sót, sơ hở có thể bị lợi dụng trong quá trình thực hiện và áp dụng Để có chất lượng, các văn bản quy phạm pháp luật phải được xây dựng, ban hành đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục luật định Tính hệ thống hóa cao là sự đảm bảo quan trọng cho việc thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật dễ dàng và chính xác, theo đó, hoạt động tập hợp hóa, pháp điển hóa các văn bản quy phạm pháp luật phải được tiến hành một cách thường xuyên

1.2.5 Yêu cầu về tính phù hợp

Tính phù hợp của hệ thống văn bản quy phạm pháp luật nói chung, văn bản quy phạm pháp luật nói riêng thể hiện trên nhiều khía cạnh khác nhau Thứ nhất, tính phù hợp của hệ thống văn bản quy phạm pháp luật thể hiện sự tương quan với trình độ phát triển kinh tế của xã hội Mối tương quan này được hiểu là trình độ của pháp luật phải phản ánh đúng trình độ phát triển kinh tế xã hội không cao hơn cũng không thấp hơn sự phát triển của kinh tế xã hội Bên cạnh đó, hệ thống văn

7

Xem: Nam Nguyễn, Tiêu chí xác định chất lượng hệ thống pháp luật,

http://moj.gov.vn/ct/tintuc/Pages/nghien-cuu-trao-doi.aspx?ItemId=4516[20/02/2013]

Trang 17

bản quy phạm pháp luật đòi hỏi tính phù hợp trong những mối quan hệ khác Chẳng hạn như, tính phù hợp với phong tục, tập quán, những truyền thống tốt đẹp của dân tộc hay phù hợp với những giá trị đạo đức, văn hóa cao đẹp của nhân dân các dân tộc cùng sinh sống trên đất nước Hoặc là sự phù hợp với điều kiện chính trị mà đặc biệt là những chủ trương, chính sách của Đảng, bởi pháp luật là những chủ trương, đường lối chính sách của Đảng được nhà nước thể chế hóa thành luật

Sự phù hợp này cũng là yêu cầu tất yếu khi ban hành văn bản quy phạm pháp luật Ngoài ra, tính phù hợp của hệ thống văn bản quy pháp luật cũng thể hiện ở sự phù hợp với pháp luật quốc tế vì hiện nay chúng ta đã và đang trong thời kỳ hội nhập, chủ yếu là hội nhập kinh tế quốc tế thế nên những văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh trong lĩnh vực này cũng phải có sự phù hợp với điều ước quốc tế làm cho quá trình hội nhập của chúng ta trở nên nhanh chóng hơn và hiệu quả hơn Bên cạnh đó, cũng nên có sự học hỏi, tiếp thu những thành tựu những lý luận, kinh nghiệm điều chỉnh pháp luật của các quốc gia khác trên thế giới.8

1.2.6 Yêu cầu về tính công khai, minh bạch

Tính công khai của văn bản quy phạm pháp luật là việc mọi người được biết

về nội dung của văn bản quy phạm pháp luật, đảm bảo cho mọi người được quyền tiếp cận các quy định của văn bản quy phạm pháp luật đó Do vậy, khi văn bản quy phạm pháp luật đảm bảo được yếu tố công khai tức là văn bản quy phạm pháp luật

đó đã đáp ứng yêu cầu mà chức năng quản lý xã hội đặt ra Tính minh bạch củavăn bản quy phạm pháp luật là tính rõ ràng, rành mạch, thông suốt, tính đúng đắn của cả hệ thống văn bản quy phạm pháp luật Bên cạnh đó là nguồn tin cậy được, lường trước được, dự đoán trước được và dễ dàng truy cập tới mọi người dân Công khai, minh bạch của hệ thống văn bản quy phạm pháp luật cũng như trong xây dựng văn bản quy phạm pháp luật là việc được các cơ quan soạn thảo văn bản quy phạm pháp luật hết sức quan tâm, chú trọng Việc công khai, minh bạch từ khâu soạn thảo cho đến khâu ban hành không những giúp cho người dân biết được chính sách pháp luật trong tương lai mà còn là một trong những kênh để người dân

có thể tham gia vào hoạt động xây dựng, thể chế, làm cho pháp luật ngày càng phản ánh sát thực hơn ý chí, nguyện vọng của nhân dân Sự tham gia của công chúng trong việc hoạch định, xây dựng văn bản quy phạm pháp luật cũng là phát huy tính dân chủ trong một Nhà nước pháp quyền Thế nên, yêu cầu công khai

8Xem: Nam Nguyễn, Tiêu chí xác định chất lượng hệ thống pháp luật,

http://moj.gov.vn/ct/tintuc/Pages/nghien-cuu-trao-doi.aspx?ItemId=4516[20/02/2013]

Trang 18

hóa, minh bạch hóa trong hệ thống văn bản quy phạm pháp luật là hợp lý và cần thiết.

1.2.7 Yêu cầu về tính khả thi

Một hệ thống văn bản quy phạm pháp luật có chất lượng thì hệ thống đó phải

có tính khả thi.9 Có nghĩa là, nội dung của những văn bản quy phạm pháp luật đó phải được thực hiện tốt trên thực tế Ngoài ra, tính khả thi của hệ thống văn bản quy phạm pháp luật còn đòi hỏi tính kịp thời của văn bản quy phạm pháp luật trong việc điều chỉnh các vấn đề đang và sẽ xảy ra trên thực tế đồng thời cũng phải phù hợp với cơ chế thực hiện và áp dụng hiện hành Yêu cầu này không thể tách rời với tính phù hợp của hệ thống văn bản quy phạm pháp luật Bởi vì, một khi văn bản quy phạm pháp luật ban hành không đảm bảo tính phù hợp thì việc thực hiện

và áp dụng khó mà đạt được thậm chí là không thể thực hiện được Đặc biệt, để văn bản quy phạm pháp luật có tính khả thi cần phải có cơ chế triển khai thực hiện các quy định một cách hiệu quả Để thực hiện được điều này đòi hỏi phải có một lực lượng các bộ có trình độ chuyên môn và giàu nghiệm, bên cạnh đó yếu tố về phương tiện, trang thiết bị kỹ thuật cũng rất cần thiết, nhằm hỗ trợ trong công tác thực hiện các quy định của pháp luật trên thực tế

1.3 HỆ THỐNG VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT HIỆN HÀNH

1.3.1 Những văn bản quy phạm pháp luật

Theo quy định của Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2008, Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân năm 2004, hệ thống văn bản quy phạm pháp luật hiện hành bao gồm các văn bản sau đây:

∑ Hiến pháp, Luật, Nghị quyết của Quốc hội

∑ Pháp lệnh, Nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội

∑ Lệnh, Quyết định của Chủ tịch nước

∑ Nghị định của Chính phủ

∑ Quyết định của Thủ tướng Chính phủ

9Xem: Nam Nguyễn, Tiêu chí xác định chất lượng hệ thống pháp luật,

http://moj.gov.vn/ct/tintuc/Pages/nghien-cuu-trao-doi.aspx?ItemId=4516[20/02/2013]

Trang 19

∑ Nghị quyết của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, Thông tư của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao

∑ Thông tư của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao

∑ Thông tư của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ

∑ Quyết định của Tổng kiểm toán Nhà nước

∑ Nghị quyết liên tịch giữa Ủy ban thường vụ Quốc hội hoặc Chính phủ với cơ quan trung ương của tổ chức chính trị – xã hội

∑ Nghị quyết liên tịch giữa Chánh án Tòa án nhân dân tối cao với Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao; giữa Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang

bộ với Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao; giữa các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ

∑ Văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân được ban hành dưới hình thức Nghị quyết

∑ Văn bản quy phạm pháp luật của Ủy ban nhân dân được ban hành dưới dạng Quyết định, Chỉ thị

1.3.2 Nội dung của các văn bản quy phạm pháp luật

1.3.2.1 Nội dung các văn bản quy phạm pháp luật ở cấp trung ương

Theo Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 200810, nội dung của các văn bản quy phạm pháp luật được quy định như sau:

∑ Hiến pháp quy định những vấn đề cơ bản của Nhà nước như: hình thức

và bản chất của nhà nước, chế độ chính trị, chế độ kinh tế, văn hóa, xã hội, quyền

và nghã vụ cơ bản của công dân, hệ thống tổ chức, nguyên tắc hoạt động và thẩm quyền của các cơ quan Nhà nước

∑ Luật, Bộ luật quy định các vấn đề cơ bản, quan trọng thuộc các lĩnh vực

về đối nội, đối ngoại, nhiệm vụ kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh của đất nước, những nguyên tắc chủ yếu tổ chức và hoạt động của bộ máy Nhà nước, về quan hệ

xã hội và hoạt động của công dân

10Xem: từ Điều 11 đến Điều 20 Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2008.

Trang 20

∑ Nghị quyết của Quốc hội ban hành để quyết định nhiệm vụ phát triển kinh tế – xã hội; dự toán ngân sách Nhà nước và phân bổ ngân sách trung ương; điều chỉnh ngân sách Nhà nước; phê chuẩn quyết toán ngân sách Nhà nước; quy định chế độ làm việc của Quốc hội, Hội đồng dân tộc, các Ủy ban khác của Quốc hội; phê chuẩn điều ước quốc tế và quyết định các vấn đề khác thuộc thẩm quyền của Quốc hội.

∑ Pháp lệnh của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định những vấn đề được Quốc hội giao, sau một thời gian thực hiện trình Quốc hội xem xét, quyết định ban hành luật Nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội ban hành để giải thích Hiến pháp, luật, pháp lệnh; hướng dẫn hoạt động của Hội đồng nhân dân; quyết định tuyên bố tình trạng chiến tranh, tổng động viên hoặc động viên cục bộ; ban bố tình trạng khẩn cấp trong cả nước hoặc từng địa phương và quyết định các vấn đề khác thuộc thẩm quyền của Ủy ban thường vụ Quốc hội

∑ Lệnh, quyết định của Chủ tịch nước được ban hành để thực hiện nhiệm

vụ, quyền hạn của Chủ tịch nước do Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định

∑ Quy định nhiệm vụ, quyền hạn, tổ chức bộ máy của các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ và các cơ quan khác thuộc thẩm quyền của Chính phủ;

∑ Quy định những vấn đề cần thiết nhưng chưa đủ điều kiện xây dựng luật hoặc pháp lệnh để đáp ứng yêu cầu quản lý nhà nước, quản lý kinh tế, quản lý

xã hội

∑ Quyết định của Thủ tướng Chính phủ được ban hành để quy định các vấn đề sau:

Trang 21

∑ Biện pháp lãnh đạo, điều hành hoạt động của Chính phủ và hệ thống hành chính nhà nước từ trung ương đến cơ sở; chế độ làm việc với các thành viên Chính phủ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương và các vấn đề khác thuộc thẩm quyền của Thủ tướng Chính phủ;

∑ Biện pháp chỉ đạo, phối hợp hoạt động của các thành viên Chính phủ; kiểm tra hoạt động của các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ,

Ủy ban nhân dân các cấp trong việc thực hiện chủ trương, chính sách, pháp luật của nhà nước

∑ Thông tư của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ được ban hành

để quy định các vấn đề sau:

∑ Quy định chi tiết thi hành luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội, lệnh, quyết định của Chủ tịch nước, nghị định của Chính phủ, quyết định của Thủ tướng Chính phủ;

∑ Quy định quy trình, quy chuẩn kỹ thuật, định mức kinh tế – kỹ thuật của ngành, lĩnh vực do mình phụ trách;

∑ Quy định biện pháp để thực hiện chức năng quản lý ngành, lĩnh vực

∑ Thông tư của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao được ban hành để quy định các biện pháp bảo đảm thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát nhân dân địa phương, Viện kiểm sát quân sự; quy định những vấn đề khác thuộc thẩm quyền của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao

∑ Quyết định của Tổng kiểm toán Nhà nước được ban hành để quy định, hướng dẫn các chuẩn mực kiểm toán nhà nước; quy định cụ thể quy trình kiểm toán, hồ sơ kiểm toán

Trang 22

∑ Nghị quyết liên tịch giữa Ủy ban thường vụ Quốc hội hoặc giữa Chính phủ với cơ quan trung ương của tổ chính trị – xã hội được ban hành để hướng dẫn thi hành những vấn đề khi pháp luật quy định về việc tổ chức chính trị – xã hội đó tham gia quan lý nhà nước.

∑ Thông tư liên tịch giữa Chánh án Tòa án nhân dân tối cao với Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao; giữa Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang

bộ với Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao ban hành để hướng dẫn việc áp dụng thống nhất pháp luật trong hoạt động tố tụng và vấn đề khác liên quan đến nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan đó

∑ Thông tư liên tịch giữa các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ được ban hành để hướng dẫn thi hành luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội, lệnh, quyết định của Chủ tịch nước, nghị định của Chính phủ, quyết định của Thủ tướng Chính phủ có liên quan đến chức năng nhiệm vụ, quyền hạn của bộ, cơ quan ngang Bộ

1.3.2.2 Nội dung các văn bản quy phạm pháp luật của cấp địa phương

Trên cơ sở quy định của Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân năm 200411 nội dung văn bản quy phạm pháp luật của cấp địa phương bao gồm:

∑ Nội dung văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân các cấp.

∑ Nghị quyết của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh và cấp huyện được ban hành để quyết định chủ trương, chính sách, biện pháp trong các lĩnh vực kinh tế, giáo dục, y tế, xã hội, văn hoá, thông tin, thể dục thể thao, khoa học và công nghệ, tài nguyên và môi trường, quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, thực hiện chính sách dân tộc và chính sách tôn giáo, thi hành pháp luật, xây dựng chính quyền địa phương và quản lý địa giới hành chính trên địa bàn cấp tỉnh và cấp huyện

∑ Nghị quyết của Hội đồng nhân dân cấp xã được ban hành để quyết định chủ trương, biện pháp trong các lĩnh vực kinh tế, giáo dục, y tế, xã hội, đời sống, văn hoá, thông tin, thể dục thể thao, bảo vệ tài nguyên và môi trường, quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, thực hiện chính sách dân tộc và chính sách tôn giáo, thi hành pháp luật, xây dựng chính quyền địa phương trên địa bàn cấp xã

11Xem từ Điều 12 đến Điều 20 Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Ủy

ban nhân dân năm 2004.

Trang 23

∑ Nội dung văn bản quy phạm pháp luật của Ủy ban nhân dân các cấp

∑ Quyết định của Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh và cấp huyện được ban hành để thực hiện chủ trương, chính sách, biện pháp trong các lĩnh vực kinh tế, nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp, thuỷ lợi, đất đai, công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, giao thông vận tải, xây dựng, quản lý và phát triển đô thị, thương mại, dịch

vụ, du lịch, giáo dục và đào tạo, văn hoá, thông tin, thể dục thể thao, y tế, xã hội, khoa học và công nghệ, tài nguyên và môi trường, quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, thực hiện chính sách dân tộc và chính sách tôn giáo, thi hành pháp luật, xây dựng chính quyền địa phương và quản lý địa giới hành chính trên địa bàn cấp tỉnh và cấp huyện

∑ Chỉ thị của Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh và cấp huyện được ban hành để quy định biện pháp chỉ đạo, phối hợp hoạt động, đôn đốc và kiểm tra hoạt động của cơ quan, đơn vị trực thuộc và của Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân cấp dưới trong việc thực hiện văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên, của Hội đồng nhân dân cùng cấp và quyết định của mình

∑ Quyết định của Uỷ ban nhân dân cấp xã được ban hành để thực hiện chủ trương, biện pháp trong các lĩnh vực kinh tế, nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp, thuỷ lợi, tiểu thủ công nghiệp, xây dựng, giao thông vận tải, giáo dục, y tế,

xã hội, văn hoá, thể dục thể thao, quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, thực hiện chính sách dân tộc và chính sách tôn giáo, thi hành pháp luật trên địa bàn cấp xã

∑ Chỉ thị của Uỷ ban nhân dân cấp xã được ban hành để quy định biện pháp chỉ đạo, kiểm tra hoạt động của cơ quan, tổ chức, cá nhân thuộc phạm vi quản lý trong việc thực hiện văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên, của Hội đồng nhân dân cùng cấp và quyết định của mình

1.4 PHÂN LOẠI VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT

1.4.1 Căn cứ theo thẩm quyền ban hành

1.4.1.1 Văn bản quy phạm pháp luật của trung ương

Theo quy định tại Điều 2 Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm

2008 thì trung ương có thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật sau:

∑ Hiến pháp, Luật, Nghị quyết của Quốc hội

∑ Pháp lệnh, Nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội

Ngày đăng: 05/04/2018, 22:35

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. PGS.TS. Nguyễn Văn Động, Giáo trình lý luận Nhà nước và pháp luật, Nxb Giáo dục, năm 2008 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình lý luận Nhà nước và pháp luật
Nhà XB: Nxb Giáo dục
2. PGS.TS. Trần Ngọc Đường (chủ biên), Lý luận chung về Nhà nước và pháp luật, tập 1, Nxb Chính trị quốc gia, năm 1998 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý luận chung về Nhà nước và pháp luật
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
3. Phan Trung Hiền, “Để hoàn thành tốt luận văn ngành luật”, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, năm 2009 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Để hoàn thành tốt luận văn ngành luật
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
4. Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình lý luận Nhà nước và pháp luật, Nxb Tư pháp, năm 2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình lý luận Nhà nước và pháp luật
Tác giả: Trường Đại học Luật Hà Nội
Nhà XB: Nxb Tư pháp
Năm: 2005
5. Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình lý luận Nhà nước và pháp luật, Nxb Tư pháp Hà Nội, năm 2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình lý luận Nhà nước và pháp luật
Tác giả: Trường Đại học Luật Hà Nội
Nhà XB: Nxb Tư pháp Hà Nội
Năm: 2007
6. TS Luật học Ngô Huy Cương, Góp phần bàn về cải cách pháp luật ở Việt Nam hiện nay, Nxb Tư pháp, năm 2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Góp phần bàn về cải cách pháp luật ở Việt Nam hiện nay
Tác giả: Ngô Huy Cương
Nhà XB: Nxb Tư pháp
Năm: 2006
7. Nam Nguyễn, “Tiêu chí xác định chất lương hệ thống pháp luật”, http://moj.gov.vn/ct/tintuc/Pages/nghien-cuu-trao-doi.aspx?ItemId=4516[20/02/2013] Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiêu chí xác định chất lương hệ thống pháp luật
8. Nguyễn Minh Đức- Trường Đại học Luật Hà Nội, “Cơ chế giải quyết mâu thuẫn giữa các văn bản quy phạm pháp luật – nhìn từ một quy định”,http://www.nclp.org.vn/nha_nuoc_va_phap_luat/co-che-giai-quyet-mau-thuan-giua-cac-van-ban-phap-luat-nhin-tu-mot-quy-111inh[20/3/2013] Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ chế giải quyết mâu thuẫn giữa các văn bản quy phạm pháp luật – nhìn từ một quy định
Tác giả: Nguyễn Minh Đức
Nhà XB: Trường Đại học Luật Hà Nội
Năm: 2013
10. PGS.TS Chu Hồng Thanh- Vụ trưởng Vụ pháp chế- Bộ Giáo dục và đào tạo, Những điểm mới cơ bản của Luật giáo dục năm 2005,http://catlinhschool.edu.vn/vn/content/dayvahoc/hoatdongnhatruong/nhung-diem-moi-co-ban-cua-luat-giao-duc-nam-2005_7481.aspx [24/4/2012] Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những điểm mới cơ bản của Luật giáo dục năm 2005
Tác giả: PGS.TS Chu Hồng Thanh
Nhà XB: Bộ Giáo dục và đào tạo
Năm: 2012
11. PGS.TS Hà Thị Mai Hiên- Viện Nhà nước và Pháp luật, Những phát triển mới của pháp luật Việt Nam giai đoạn 2004 – 2009,http://www.nclp.org.vn/nha_nuoc_va_phap_luat/phap-luat/nhung-phat-trien-moi-cua-he-thong-phap-luat-viet-nam-giai-111oan-2004-2009[21/3/2013] Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những phát triển mới của pháp luật Việt Nam giai đoạn 2004 – 2009
Tác giả: PGS.TS Hà Thị Mai Hiên
Năm: 2013
12. Phí Thị Thanh Tuyền – Th.S. Đại học Luật Hà Nội, “Nâng cao hoạt động thẩm định, thẩm ta dự thảo văn bản quy phạm pháp luật”,http://www.nclp.org.vn/nha_nuoc_va_phap_luat/phap-luat/nang-cao-hieu-qua-hoat-111ong-tham-111inh-tham-tra-du-thao-van-ban-quy-pham-phap-luat[10/3/2013] Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nâng cao hoạt động thẩm định, thẩm ta dự thảo văn bản quy phạm pháp luật
Tác giả: Phí Thị Thanh Tuyền
Nhà XB: Đại học Luật Hà Nội
Năm: 2013
13. Phương Mai, Tăng cường khảo sát, tổng kết thực tiễn để đưa ra những quy phạm pháp luật phù hợp, http://isponre.gov.vn/home/tin-tuc[21/3/2013] Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tăng cường khảo sát, tổng kết thực tiễn để đưa ra những quy phạm pháp luật phù hợp
Tác giả: Phương Mai
Năm: 2013
14. Theo Hà Nội mới, Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992: Góc nhìn từ cơ quan Tư pháp, http://baolaocai.vn/52-0-11650/du-thao-sua-doi-hien-phap-nam-1992-goc-nhin-tu-co-qua-tu-phap.aspx [24/4/2013] Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992: Góc nhìn từ cơ quan Tư pháp
Tác giả: Theo Hà Nội mới
Năm: 2013
15. ThS Lê Thị Nga- Khoa Luật Đại học Huế, Yêu cầu về tính thống nhất của pháp luật,http://toaan.gov.vn/portal/page/portal/tandtc/Baiviet?p_page_id=1754190&p_cateid=1751909&article_details=1&item_id=8611408[01/5/2013] Sách, tạp chí
Tiêu đề: Yêu cầu về tính thống nhất của pháp luật
Tác giả: ThS Lê Thị Nga
Nhà XB: Khoa Luật Đại học Huế
Năm: 2013
17. Nghị quyết 23/2011/NQHĐND nhày 23 tháng 12 năm 2011, Hội đồng nhân dân thành phố Đà Nẵng về nhiệm vụ năm 2012 Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w