1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

LUẬN văn LUẬT HÀNH CHÍNH ĐỊNH tội TRONG PHÁP LUẬT HÌNH sự VIỆT NAM – lý LUẬN và THỰC TIỄN

45 156 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 45
Dung lượng 1,01 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đề tài tập trung nghiên cứu các quy định của pháp luật hình sự về xác định tội danh: bản chất, tính chất và mức độ nguy hiểm của tội phạm; tính chất và hành vi của từng loại tội phạm; cá

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ

ĐỊNH TỘI TRONG PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT

NAM – LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

Giảng viên hướng dẫn: Sinh viên thực hiện:

TS PHẠM VĂN BEO TRẦN BÙI QUỐC LỢI

Bộ môn Tư Pháp MSSV: 5095530

Lớp: Luật Hành chính K35

CẦN THƠ, 04/2013

Trang 2

LỜI NÓI ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Trong những năm gần đây tình hình tội phạm nước ta đang có chiều hướng gia tăng và có nhiều diễn biến phức tạp Phổ biến hiện nay là những vụ án nghiêm trọng có nhiều bị cáo tham gia, nhất là trong các vụ án tham nhũng xẩy ra gần đây đang được dư luận xã hội quan tâm theo dõi, lên án Trong đồng phạm, mỗi bị cáo khi thực hiện tội phạm có thể có vai trò khác nhau Sự liên kết, hỗ trợ lẫn nhau giữa những người phạm tội càng củng cố quyết tâm phạm tội của cả họ Điều đó giúp chúng ta nhận ra sự nguy hiểm của loại tội phạm được thực hiện, đặc biệt là phạm tội có tổ chức Chính vì vậy, việc xác định tội danh là hết sức quan trọng trong việc giải quyết các vụ án hình sự, và đó cũng là cơ sở ban đầu cho việc kết luận tội phạm trong hoạt đọng tố tụng

Hiện nay trong Bộ Luật hình sự năm 1999 sửa đổi bổ sung 2009 vấn đề về một số tội phạm chỉ được đề cập chung chung chưa cụ thể chưa có sự thống nhất làm cho việc xác định tội danh còn nhầm lẫn (Ví dụ Tội cố ý gây thương tích và tội vô ý làm chết người)

Việc giải quyết vấn đề này là cơ sở để giải quyết những vướng mắc trong thực tiễn xét xử hiện nay Bộ luật hình sự hiện hành hiện vẫn chưa quy định cụ thể các vấn đề như: phạm tội có tổ chức, các giai đoạn thực hiện tội phạm, về hành vi chuẩn bị và chưa đạt đối với từng loại hành vi đồng phạm Đó là những

cơ sở pháp lý đầy đủ cho việc thực hiện nguyên tắc xác định trách nhiệm hình sự cho những người đồng phạm Để giải quyết những vấn đề còn vướng mắc trong

lý luận cũng như trong thực tiễn xét xử liên quan tội phạm và trách nhiệm hình sự của những người thực hiện việc phạm tội cần phải có sự nghiên cứu nghiêm túc

về vấn đề này Đó là lý do tác giả khoá luận chọn và nghiên cứu đề tài: “ Định tội danh trong pháp luật hình sự Việt Nam- Lý luân và thực tiễn”

2 Mục tiêu nghiên cứu đề tài

Trang 3

Đề tài tập trung nghiên cứu các quy định của pháp luật hình sự về xác định tội danh: bản chất, tính chất và mức độ nguy hiểm của tội phạm; tính chất và hành vi của từng loại tội phạm; các nguyên tắc xác định trách nhiệm hình sự (TNHS) cụ thể cho từng người đồng phạm và thực tiễn xử lý các vụ án hình sự

Từ đó đánh giá tình hình tội phạm nói chung, xác định tội phạm nói riêng trong giai đoạn hiện nay, đưa ra kiến nghị, đề xuất góp phần hoàn thiện pháp luật về định tội danh Bộ luật hình sự trong tương lai

3 Phạm vi nghiên cứu

Đề tài tập trung nghiên cứu những vấn đề pháp lý, lý luận và thực tiễn liên quan đến việc xác định tội danh trong BLHS

4 Phương pháp nghiên cứu

Đề tài nghiên cứu dựa trên cơ sở lý luận là quan điểm của Chủ nghĩa Mác

- Lê Nin và tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước và pháp luật, quan điểm, đường lối và chính sách của Đảng Và Nhà nước về đấu tranh phòng chống tội phạm Bên cạnh sử dụng phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật, đề tài còn sử dụng các phương pháp so sánh, lôgic, phân tích, chứng minh và tổng hợp

5 Ý nghĩa của đề tài

Việc nghiên cứu vấn đề xác định tội danh có ý nghĩa lý luận và thực tiễn

cơ bản sau đây:

- Về lý luận, nghiên cứu định tội danh giúp chúng ta xác định chính xác cơ

sở pháp lý của việc định tội, tạo điều kiện thuận lợi cho việc truy cứu TNHS của người thực hiện tội phạm

- Nghiên cứu vấn đề hình sự có ý nghĩa đặc biệt lớn trong công tác đấu tranh, phòng ngừa tội phạm, giúp Toà án xét xử đúng người, đúng tội và đúng pháp luật, không bỏ lọt tội phạm Việc xác định TNHS cho từng người đồng phạm còn giúp cơ quan tư pháp xác định đúng tội danh và hình phạt tương ứng trong vụ án hình sự

6 Kết cấu luận văn

Trang 4

Ngoài lời nói đầu, phần kết luận và danh mục tài liệu tham khảo khoá luận bao gồm 3 chương:

hình sự Việt Nam

hướng hoàn thiện

Trang 5

Chương 1

LÝ LUẬN CHUNG VỀ TỘI PHẠM VÀ VIỆC ĐỊNH TỘI DANH

TRONG PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM 1.1 Một số khái niệm liên quan đến tội phạm và việc định tội

1.1.1.Khái niệm tội phạm

Tội phạm là hành vi của cá nhân xâm phạm đến quyền lợi ích, nhân phẩm, sức khỏe…của người khác được Bộ luật hình sự quy định Nói về khái niệm của tội phạm

có nhiều cách hiểu khác nhau, song trong Bộ luật hình sự hiện hành khái niệm về tội phạm như sau:

Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật hình sự,

do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc, xâm phạm chế độ chính trị, chế độ kinh tế, nền văn hóa, quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tự do, tài sản, các quyền, lợi ích hợp pháp khác của công dân, xâm phạm những lĩnh vực khác của trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa 1

Căn cứ vào tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi được quy định trong Bộ luật này, tội phạm được phân thành tội phạm ít nghiêm trọng, tội phạm nghiêm trọng, tội phạm rất nghiêm trọng và tội phạm đặc biệt nghiêm trọng.2

Theo đó, tội phạm ít nghiêm trọng là tội phạm gây nguy hại không lớn cho xã hội mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là đến ba năm tù; tội phạm nghiêm trọng là tội phạm gây nguy hại lớn cho xã hội mà mức cao nhất là của khung hình phạt đối với tội ấy là đến bảy năm tù; tội phạm rất nghiêm trọng là tội phạm gây nguy hại rất lớn cho xã hội mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là đến mười lăm năm tù; tội phạm đặc biệt nghiêm trọng là tội phạm gây nguy hại đặc biệt lớn

Trang 6

cho xê hội mă mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy lă trín mười lăm năm

tù, tù chung thđn hoặc tử hình3

1.1.2.Khâi niệm về xâc định tội danh

Trong lý luận khoa học luật hình sựï, quâ trình xđđy dựïng cẫc quy phạïm phẫp luậôt hình sự lă một quâ trình rấât phức tạïp vă đáng, được tiến hăønh qua nhiềău giai đoạïn khẫc nhau Trong đóù xâc định tội danh lă giai đọán cơ bản, đầu tiín trong quâ trình tiến hănh tố tụng, lă một trong những biện phâp đưa quy phạm phâp luật hình sự văo thực tiễn, đồng thời góp phần văo việc thực hiện đường lối vă chính sâch của nhă nước ta

Định tội danh lă việc xâc nhận về mặt phâp lý sẽï phù hợp (đồng nhất) giữa câc dấu hiệu của hănh vi nguy hiểm cho xê hội Hay nói câch khâc đ ịnh tội d anh

lă kết luậnă ch o phù hợp giữa hănh vi phạm tội cụ thể với những quy định trong phâp luật hình sự4

Định tội lă việc xâc định một hănh vi cụ thể đê thực hiện thoả mên đầy đủ câc dấu hiệu của một tội phạm năo đó trong số câc tội phạm được quy định trong Bộ luật Hình sự (BLHS)5

Định tội danh lă một trong những biện phâp đưa những quy định của Bộ luật hình sự (BLHS) văo đời sống xê hội, góp phần văo việc nđng cao hiệu quả đấu tranh phòng ngừa vă chống mọi loại tội phạm, qua đó góp phần thực hiện đường lối chính sâch của Đảng vă Nhă nước ta về phòng chống tội phạm Định tội danh lă sự xâc nhận

về mặt phâp lý sự phù hợp (sự đồng nhất) giữa hănh vi nguy hiểm cho xê hội đê thực hiện trong thực tế khâch quan với câc dấu hiệu trong cấu thănh tội phạm (CTTP) tương ứng được quy định trong BLHS Hay nói câch khâc, Định tội danh lă việc xâc định một hănh vi cụ thể đê thực hiện thoả mên đầy đủ câc dấu hiệu của CTTP của tội năo trong số câc tội phạm đê được quy định trong BLHS

1.2 Phđn Loại định tội danh

Căn cứ văo chủ thể thực hiện việc định tội danh, khoa học luật hình sự chia định tội danh thănh 2 nhóm:

Trang 7

1.2.1 Định tội danh chính thức

Định tội danh chính thức là sự đánh giá về mặt nhà nước tính chất pháp lý hình

sự của một hành vi phạm tội cụ thể do các chủ thể được Nhà nước uỷ quyền thực hiện Định tội danh chính thức có các đặc điểm sau:

Về chủ thể của định tội danh chính thức: Chỉ có thể là người tiến hành tố tụng Bao gồm: Điều tra viên, Kiểm sát viên, Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân

Về hậu quả pháp lý của định tội danh chính thức: Những đánh giá, những kết luận của chủ thể của định tội danh chính thức là cơ sở pháp lý để khởi tố vụ án, để áp dụng các biện pháp ngăn chặn Là cơ sở để ra bản kết luận điều tra, bản cáo trạng và ra bản án

1.2.2 Định tội danh không chính thức

Định tội danh không chính thức là sự đánh giá không phải về mặt Nhà nước tính chất pháp lý hình sự của một hành vi phạm tội cụ thể Định tội danh không chính thức

án đó về phương diện định tội danh

Thứ hai về hậu quả pháp lý của định tội danh không chính thức: Định tội danh không chính thức không làm phát sinh quyền và nghĩa vụ pháp lý của các bên có liên quan trong vụ án mà chỉ là sự thể hiện ý kiến, quan điểm riêng của các chủ thể này như

là sự thể hiện phương pháp nhận thức PLHS

1.2 Đặc điểm và ý nghĩa của việc xác định tội danh

1.2.1 Đặc điểm của việc xác định tội danh

Quá trình áp dụng các quy phạm pháp luật hình sự (QPPLHS) diễn ra phức tạp

và đa dạng, được thể hiện ở 3 giai đoạn: Định tội danh, định khung hình phạt, và quyết định hình phạt Trong đó, định tội danh là một giai đoạn quan trọng nhất trong ba giai đoạn trên của toàn bộ quá trình áp dụng PLHS Bởi vì, định tội danh được tiến hành thực hiện ở tất cả các giai đoạn của cả quá trình tố tụng hình sự từ giai đoạn khởi tố đến

Trang 8

giai đoạn thi hành án Trong khi đó bước quyết định hìnhphạt chỉ được tiến hành thực hiện ở giai đoạn xét xử

Về phương pháp định tội danh: Chủ yếu sử dụng phương pháp tổng hợp, phân tích, quy nạp, diễn dịch và quan trọng hơn cả là phương pháp loại trừ

Từ các vấn đề nêu trên cho thấy định tội danh có 4 đặc điểm như sau:

Thứ nhất: Định tội danh là một quá trình nhận thức có tính logic giữa lý luận và

thực tiễn Thể hiện dưới 2 khía cạnh: xác định xem hành vi nguy hiểm cho xã hội đã thực hiện có phù hợp với các dấu hiệu của CTTP cụ thể trong BLHS và đưa ra sự đánh giá nhất định về mặt pháp lý hình sự đối với hành vi đã thực hiện trong thực tế

Thứ hai: Quá trình hoạt động định tội danh phải tuân thủ nghiêm chỉnh các quy

phạm pháp luật của luật nội dung là BLHS cũng như các quy phạm pháp luật của luật hình thức là Bộ luật tố tụng hình sự (BLTTHS)

Thứ ba: Định tội danh là một dạng hoạt động áp dụng pháp luật của các cơ quan

tiến hành tố tụng (cơ quan Điều tra, Viện kiểm sát và Toà án) để cụ thể hoá các QPPLHS trìu tượng vào đời sống thực tế Trên cơ sở xác định đúng đắn, đầy đủ các tình tiết của hành vi phạm tội đã thực hiện và sự nhận thức đầy đủ, đúng đắn nội dung của các QPPLHS

Thứ tư: Định tội danh với tính chất là một dạng của hoạt động thực tiễn áp dụng

pháp luật hình sự được tiến hành theo 04 bước sau:

Bước1: Thiết lập, xem xét, đánh giá đúng các tình tiết của vụ án đã xảy ra trên thực tế khách quan Đối với bước này, đòi hỏi người định tội danh phải đánh giá các tình tiết của vụ án một cách khách quan, toàn diện, vô tư, không định kiến, không suy diễn Phải dựa vào các chứng cứ đã thu thập được và đánh giá theo quy định của BLTTHS

Mỗi một tình tiết trong vụ án bước đầu đánh giá chúng một cách độc lập để thấy được sự thể hiện tính chất của nó là loại hành vi nào Sau đó, chính tình tiết đó lại tiếp tục đặt trong mối quan hệ với các tình tiết khác trong vụ án, thì kết luận về tính chất của tình tiiết này mới là sự thể hiện về bản chất của nó trong cả quá trình của vụ án

Khi đánh giá mỗi tình tiết của vụ án, phải đặt nó trong hoàn cảnh cụ thể, trong tổng thể, biện chứng của cả quá trình phản ánh đúng diễn biến của vụ án đã xẩy ra Bởi

vì, cùng một tình tiết, nhưng đặt trong mỗi hoàn cảnh khác nhau thì chúng khác nhau về

Trang 9

bản chất Kết luận về từng tình tiết độc lập, không thể phản ánh đúng về bản chất của tình tiết đó trong toàn bộ diễn biến của vụ án

Bước 2: Nhận thức một cách thống nhất và chính xác nội dung các quy phạm pháp luật hình sự phản ánh các dấu hiệu của CTTP về tội danh có hướng lựa chọn

Thong thường các dấu hiệu trong CTTP được quy định trong BLHS mang tính trừu tượng chỉ nêu một cách khái quát những nét đặc trưng mang tính phổ biến để điều chỉnh hiện tượng thực tế muôn hình muôn vẻ cho nên việc xác định tội đòi hỏi phải có quá trình tư duy để nhận thức sâu rộng, đúng đắn về nội dung của các dấu hiệu trong CTTP Rất nhiều các QPPLHS chưa xác định rõ ràng ranh giới giữa chúng với nhau

Ví dụ: Điều 93 với Điều 95 với Điều 96 và với Điều 97 BLHS Hoặc là hành vi

khác trong tội cướp với hành vi khác trong tội cưỡng đoạt tài sản Hoặc việc quyết định hình phạt trong trường hợp bị cáo có nhiều tình tiết tăng nặng đồng thời có nhiều tình tiết giảm nhẹ Hoặc như thế nào là nguy hiểm đáng kể và nguy hiểm chưa đáng kể Hoặc ranh giới giữa Phòng vệ chính đáng với vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng Chưa kể còn một số quy định trong BLHS thể hiện rõ sự bất cập của nó như: chính sách hình sự đối với người phạm tội chưa đủ 16 tuổi Tình tiết phạm tội nhiều lần của tội cố

ý gây thương tích Hoặc trộm cắp tài sản nhiều lần, mỗi lần giá trị tài sản dưới 2 triệu đồng

Trong các trường hợp này đòi hỏi người định tội danh phải tự đánh giá trên căn

cứ khoa học và căn cứ thực tế sao cho có sức thuyết phục Hay nói cách khác, đòi hỏi người định tội danh phải có trình độ pháp lý hình sự

Bước 3: So sánh đối chiếu hai quá trình trên

Bước 4: Ra văn bản áp dụng pháp luật chính là bản án và các quyết định có căn cứ và đảm bảo sức thuyết phục về 3 bước trên để xác định tội danh cần áp dụng đối với trường hợp phạm tội của người đó

Qua các đặc điểm của định tội danh đã phân tích ở trên có thể đưa ra khái niệm định tội danh như sau: Định tội danh là một quá trình nhận thức lý luận có tính lô gích, đồng thời là một trong những dạng của hoạt động thực tiễn áp dụng PLHS, PLTTHS Trên cơ sở các chứng cứ, tài liệu thu thập được phản ánh các tình tiết thực tế của vụ án

đã xảy ra để đối chiếu, so sánh và kiểm tra nhằm xác định sự phù

hợp của chúng với các dấu hiệu của CTTP cụ thể tương ứng do BLHS quy định

Trang 10

Có thể thấy được đặc điểm và các yêu cầu của hoạt động định tôi danh thông qua việc đánh giá một tình huống cụ thể sau:

Tình huống: Do mâu thuẫn trong viẹc tranh chấp đất đai nên ĐỗVăn Tuyên, Đỗ

Văn Cần nhiều lần rượt, đuổi đánh chém Nguyễn Văn Hùng Thấy cha, chú có hành vi như thế nên Đõ Trương Tín là con cũng trực tiếp đánh chém Nguyễn Văn Hùng Biết Hùng làm nghề hớt tóc ở thôn 2, xã Nghĩa Dũng, Thị xã Quảng Ngãi, nên Tín (sinh năm 1989) đón đường để đánh Sáng 28/05/2002, Hùng đi làm bằng xe máy, khi đến gần ngã ba giáp ranh thôn 3 và thôn 4 thuộc xã Nghĩa Dũng thì Tín cầm một con dao dài khoảng 30 cm và đá đứng chặn đường để đánh Hùng, Hùng sợ nên quay xe về nhà

để lánh mặt Khoảng 10 phút sau, Hùng tiếp tục điều khiển xe máy nêu trên đến tiệm hớt tóc, khi đến đoạn đường trên, Tín vẫn cầm dao và đá đứng chặn đường Nhìn thấy Hùng, ngay lập tức đuổi theo để đánh, Hùng bỏ chạy vào nhà một người dân trước chợ Nghĩa Dũng, Tín tiếp tục đuổi theo và dùng đá chọi Hùng và Hùng cũng nhặt đá chọi lại Tín, sau đó được mọi người can ngăn nên Tín đi về phía Tây, còn Hùng điều khiển

xe máy về nhà ở thôn 5, xã Nghĩa Dũng, thị xã Quảng Ngãi.Về đến nhà Hùng nhìn thấy cây rựa dài 77cm để ở sân nên cầm lấy mang theo và tiếp tục điều khiển xe máy đi làm Khi đến đoạn gần ngã ba nêu trên Tín vẫn cầm dao và đá đứng chặn đường, nhìn thấy Hùng, Tín dùng đá ném Hùng và Hùng dùng đá chọi lại Tín Sau đó Tín cầm dao xông đến chém Hùng và Hùng cầm rựa xông vào Tín, khi đến gần nhau Tín đưa dao lên chém ngang cổ Hùng và Hùng cầm rựa chém lại trúng vào tay cầm dao của Tín gây thương tích 33%

1.3.2 Ý Nghĩa của việc xác định tội danh

Xác định tội danh (sau đây gọi tắt là định tội) là một vấn đề hết sức quan trọng, là giai đoạn cơ bản trong quá trình áp dụng pháp luật hình sự Tất cả những việc làm trước

đó (từ khởi tố, điều tra, truy tố) suy cho cùng là nhằm phục vụ cho việc định tội được chính xác

Hoạt động định tội danh của các chủ thể có thể theo 2 xu hướng: Định tội danh đúng hoặc định tội danh sai

- Đối với hoạt động định tội danh đúng

Định tội danh đúng là tiền đề cho việc phân hoá trách nhiệm hình sự và cá thể hoá hình phạt một cách công minh có căn cứ pháp luật Định tội danh đúng sẽ hỗ trợ

Trang 11

cho việc thực hiện một loạt các nguyên tắc tiến bộ được thừa nhận trong Nhà nước pháp quyền như: nguyên tắc pháp chế, trách nhiệm do lỗi, trách nhiệm cá nhân, bình đẳng trước pháp luật hình sự, nguyên tắc công minh nhân đạo và nguyên tắc không tránh khỏi trách nhiệm

Định tội danh đúng là một trong những cơ sở để áp dụng chính xác các quy phạm pháp luật tố tụng hình sự về tạm giam, về thẩm quyền điều tra, xét xử qua đó góp phần hữu hiệu cho việc bảo vệ các quyền và tự do dân chủ của công dân trong lĩnh vực

tư pháp hình sự và còn là cơ sở cho việc xét xử đúng người, đúng tội, tạo sự răng đe giáo dục người phạm tội theo hướng tích cực là trở thành người có ích cho xã hội

- Đối với hoạt động định tội danh sai

Định tội danh sai sẽ dẫn đến một loạt các hậu quả tiêu cực như: không đảm bảo được tính công minh có căn cứ đúng pháp luật, truy cứu trách nhiệm hình sự người vô tội, bỏ lọt người phạm tội, xâm phạm thô bạo danh dự nhân phẩm các quyền tự do dân chủ của công dân là giá trị xã hội cao quý nhất được thừa nhận trong Nhà nước Định tội danh sai làm giảm uy tín của cơ quan tư pháp, vi phạm pháp chế XHCN, ảnh hưởng không nhỏ đến hiệu quả của việc đấu tranh phòng chống tội phạmhiện nay6 Theo Nghị quyết 388/ UBTVQH ban hành ngày 17/03/2003 về bồi thường oan trong tố tụng hình

sự Những vụ việc oan sai chủ yếu bắt nguồn từ việc đánh giá chứng cứ phiến diện, thiếu thận trọng, nôn nóng khởi tố, bắt tạm giam, suy diễn chủ quan

6

Phạm Văn Beo giáo trình luật hình sự - NXB chính trị năm 2008 tr13

Trang 12

Chương 2

PHÁP LÝ ĐIỀU CHỈNH VIỆC ĐỊNH TỘI TRONG LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM

VÀ ĐỊNH TỘI DANH TRONG MỘT SỐ TRƯỜNG HỢ CỤ THỂ

2.1 Căn cứ pháp lý của việc xác định tội danh

2.1.1 Vai trò của Bộ luật hình sự trong việc định tội

Các văn bản pháp luật - là cơ sở pháp lý - được sử dụng trong hoạt động định tội danh đó là: BLHS, BLTTHS Văn bản pháp luật chuyên ngành như Luật giao thông đường bộ, luật phòng chống ma tuý, Nghị định 11/CP ngày 03/03/99 quy định danh mục các mặt hàng cấm Nghị quyết của Quốc Hội, Nghị quyết của UBTVQH, Nghị quyết của Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân tối cao Thông tư liên ngành của TANDTC, VKSNDTC, Bộ Công an, Bộ Tư pháp Công văn của ngành của 3 cơ quan tiến hành tố tụng Trong số các văn bản pháp luật trên thì BLHS hiện hành chính là cơ

sở pháp lý trực tiếp cho toàn bộ quá trình định tội danh Các văn bản pháp luật còn lại chỉ với tính chất là cơ sở pháp lý bổ trợ (gián tiếp) cho quá trình này Bởi vì:

Thứ nhất: Nhà làm luật khi xây dựng các quy phạm pháp luật hình sự (nghĩa là

thực hiện chức năng tội phạm hoá) đã tìm xem các dấu hiệu nào là đặc trưng cơ bản nhất, phổ biến nhất và hay được lặp lại nhiều nhất trong những hành vi ấy, sau đó điển hình hoá và quy định chúng trong BLHS với tính chất là các dấu hiệu trong CTTP

Thứ hai: Điều luật về từng tội phạm cụ thể trong BLHS đã chứa đựng đầy đủ

các dấu hiệu đặc trưng, điển hình bắt buộc không thể thiếu được của một loại CTTP Tất cả các dấu hiệu đó tập hợp thành một hệ thống liên quan chặt chẽ với nhau trở thành khuôn mẫu pháp lý (mô hình tội phạm), làm cơ sở cho người định tội danh so sánh, đối chiếu với hành vi phạm tội đã xảy ra

Thứ ba: BLHS liệt kê tất cả các hành vi nguy hiểm cho xã hội là tội phạm Sự

liệt kê đầy đủ này thể hiện một nguyên tắc đã được quy định tại Điều 2 BLHS: "Chỉ người nào phạm một tội đã được quy định trong BLHS mới phải chịu TNHS" Quy định này loại trừ khả năng cho phép bất kỳ một cơ quan, một tổ chức, một cá nhân nào

Trang 13

có sự thay đổi theo hướng mở rộng hay thu hẹp mô hình CTTP đã được quy định trong BLHS Mà thẩm quyền này chỉ do một cơ quan duy nhất là Quốc Hội thể hiện trong BLHS

Thứ tư: Các văn bản pháp luật khác chứa đựng các quy phạm pháp luật về nội

dung chỉ là sự tiếp tục, cụ thể hoá các quy phạm đã được quy định trong BLHS là mô hình CTTP

2.1.2 Quy định của pháp luật hình sự

Để áp dụng được các quy phạm pháp luật phần riêng phải dựa vào các quy phạm pháp luật phần chung và ngược lại các quy phạm pháp luật phần chung nếu không có các quy phạm pháp luật phần riêng thì chúng hoàn toàn không có ý nghĩa Chính vì vậy

mà các dấu hiệu trong mỗi CTTP được quy định trong cả phần chung và phần riêng Đối với các quy phạm pháp luật phần chung được chia thành các nhóm như sau:

- Những quy phạm quy định về chế định: như chế định đồng phạm, chế định phòng vệ chính đáng, chế định về các giai đoạn thực hiện tội phạm, chế định lỗi vv

- Những quy phạm quy định khái niệm: như khái niệm tội phạm7, khái niệm hình phạt 8

- Những quy phạm quy định về nguyên tắc: như Điều 3 quy định về nguyên tắc xử lý

- Những quy phạm quy định về điều kiện:như điều kiện áp dụng các loại hình phạt

Đối với các quy phạm phần các tội phạm cụ thể được chia thành 2 nhóm:

- Những quy phạm quy định về từng tội phạm cụ thể và hình phạt áp dụng đối với từng tội phạm đó

- Những quy phạm quy định về khái niệm: như khái niệm tội phạm chức vụ, khái niệm các tội xâm phạm hoạt động tư pháp

2.1.3 Cơ cấu của quy phạm pháp luật trong hoạt động định tội danh

Cấu trúc của một quy phạm pháp luật thông thường có 3 bộ phận Đó là: Bộ phận giả định, quy định và bộ phận chế tài Đối với các QPPLHS thì bộ phận giả định được đề cập ở phần chung của BLHS chỉ dấu hiệu lỗi, chủ thể, không gian, thời gian vv Còn bộ quy định và chế tài được đề cập trong phần riêng của BLHS Phần quy định của QPPLHS có đặc tính chung là mang tính cấm chỉ, bao gồm 4 loại:

Trang 14

Một là: Quy định đơn giản: Là loại quy định chỉ nêu tên gọi của tội phạm

như9: Điều 13610, Điều 137, Điều 138, Điều 143, Điều 145 vv Quy định mô tả: Là loại quy định xác định một cách cụ thể các dấu hiệu đặc trưng cơ bản của tội phạm ấy ngay trong phần quy định của điều luật

hai là: Quy định viện dẫn: Là loại quy định muốn xác định nội dung phần quy định của QPPL đó phải thông qua một điều lật khác trong BLHS như11: Điều 153, Điều 155, Điều 159…

Ba là: Quy định mẫu: Là loại quy định muốn xác định nội dung của nó phải thông qua

sự xác định các QPPL của các ngành luật khác như12: Điều 201, các tội phạm ma tuý

Về cấu trúc thì thông thường một điều luật phần các tội phạm cụ thể đề cập đến một mô hình tội phạm, nhưng có một số điều luật đề cập đến nhiều mô hình tội phạm với một chế tài chung Ví dụ Điều 120, Điều 194

2.1.4 Cấu thành tội phạm là căn cứ pháp lý trong việc định tội danh

Về nội dung của CTTP là các yếu tố cần và đủ cho việc định tội, nó là các dấu hiệu điển hình nhất, đặc trưng nhất có tính chất lặp lặp lại trong các hành vi phạm tội cùng loại nói lên bản chất của tội phạm ấy và được nhà làm luật pháp điển hoá trong BLHS Tính chất của CTTP là khuôn mẫu pháp lý của tội phạm và là cơ sở pháp lý duy nhất cho việc ĐTD Chỉ có trên cơ sở xác nhận sự phù hợp đầy đủ các dấu hiệu của CTTP, thì mới có căn cứ để khẳng định hành vi của một người bị luật hình sự cấm và bị trở thành người phạm tội

Về vị trí pháp lý các dấu hiệu của CTTP được quy định ở phần chung và phần các tội phạm cụ thể trong bộ luật hình sự nên trong khi định tội chủ thể định tội danh phải có sự đánh giá một cách toàn diện các QPPL phần riêng và các quy phạm pháp luật phần chung trong Luật hình sự Cấu trúc của CTTP: Có 04 yếu tố là khách thể, mặt khách quan, mặt chủ quan và chủ thể Đặc điểm của CTTP thể hiện như sau:

Trang 15

- CTTP là một hệ thống các dấu hiệu pháp lý khách quan và chủ quan có tính chất bắt buộc

- Các dấu hiệu của CTTP nhất thiết phải được và chỉ được quy định một cách đầy đủ trong BLHS

- CTTP là một khái niệm khoa học pháp lý có tính trìu tượng

- CTTP là mô hình pháp lý của tội phạm Việc làm rõ các dấu hiệu của CTTP là một đảm bảo quan trọng đối với việc định tội danh, đòi hỏi người định tội danh phải có trình

độ lý luận về pháp luật hình sự, có kiến thức chuyên môn, có kinh nghiệm thực tiễn

Bên cạnh đó, đòi hỏi phải có các văn bản giải thích hướng dẫn chi tiết nội dung của BLHS để đảm bảo việc áp dụng pháp luật thống nhất Ví dụ: cần phải ban hành văn bản để giải thích tình tiết người già, về mức bồi thường thiệt hại là tình tiết giảm nhẹ Chức năng của CTTP trong việc xác định tội danh:

Chức năng nền tảng: Sở dĩ CTTP có chức năng này là vì, để xác định hành vi của một người có bị coi là tội phạm hay không và để xác định nó là tội nào chỉ có thể dựa vào CTTP

Chức năng phân biệt: Trong phần quy định của quy phạm pháp luật hình sự mô

tả đầy đủ chính xác các dấu hiệu của tội phạm dựa vào đó nó cho phép người định tội danh phân biệt tội này với tội khác, khung hình phạt này với khung hình phạt khác Từ

đó có cơ sở để lựa chọn loại tội và khung hình phạt thích hợp

Chức năng đảm bảo: Thể hiện ở nguyên tắc một người chỉ bị truy cứu trách nhiệm hình sự khi hành vi của họ thoả mãn đầy đủ các dấu hiệu trong CTTP và ngược lại

2.2 Các giai đoạn xác định tội danh

Việc xác định TNHS của người phạm tội bao gồm việc định tội danh, định khung hình phạt và quyết định hình phạt Trong đó, định tội danh là cơ sở tiền đề cho việc định khung hình phạt và quyết định hình phạt Để thực hiện việc định tội danh được đúng đắn qua đó phát huy được mặt tích cực trong công tác đấu tranh phòng ngừa

và chống tội phạm, đòi hỏi người định tội danh phải xác định đầy đủ các tình tiết của vụ

án đã xẩy ra trong thực tế Phải có sự hiểu biết chính xác, sâu sắc PLHS Qua đó xác định cơ sở pháp lý và cơ sở thực tế của vụ án là nội dung cơ bản của quá trình định tội danh Từ đó, đảm bảo việc giải quyết vụ án hình sự được chính xác, đúng người, đúng

Trang 16

tội, đúng pháp luật Quá trình giải quyết vụ án hình sự về phương diện định tội danh là một quá trình hoạt động tư duy, phức tạp diễn ra theo 3 giai đoạn có tính lô gích như sau:

2.2.1 Giai đoạn xác định quan hệ pháp luật

Giai đoạn này thể hiện bằng việc phân tích các dấu hiệu cơ bản nhất của hành vi nguy hiểm cho xã hội đã thực hiện xem có dấu hiệu vi phạm pháp luật hay không Nếu

có dấu hiệu vi phạm pháp luật phải xác định có dấu hiệu tội phạm hay chỉ là vi phạm pháp luật khác Cơ sở pháp lý để xác định hành vi của một người có dấu hiệu tội phạm hay không là căn cứ vào Điều 8 BLHS

Hay nói cách khác ở giai đoạn này người tiến hành tố tụng phải kiểm tra xem ở đây có quan hệ pháp luật hình sự phát sinh hay không (có tội phạm xảy ra hay không) , nếu như có thì người tiến hành tố tụng mới tiến hành xác định khách thể loai của tội phạm13

Như vậy nếu như nói về hậu quả pháp lý của giai đoạn này về mặt tố tụng thường hay xảy ra 03 khả năng:

Khả năng thứ nhất: là không được khởi tố vụ án khi có 1 trong 7 căn cứ được

quy định trong Điều 107 của BLTTHS năm 2003 Các căn cứ đó là: không có sự việc phạm tội; hành vi không cấu thành tội phạm; người thực hiện hành vi chưa đủ tuổi chịu TNHS; hết thời hiệu truy cứu TNHS; người phạm tội được đại xá; người phạm tội đã chết, trừ trường hợp cần tái thẩm đối với người khác; có quyết định đình chỉ vụ án

Khả năng thứ hai: là nếu như hành vi vi phạm pháp luật khác thì tuỳ theo từng

giai đoạn TTHS mà các cơ quan tiến hành tố tụng báo cho các cơ quan hữu quan có thẩm quyền giải quyết

Khả năng thứ ba: là nếu có dấu hiệu tội phạm, thì có nghĩa là đã phát sinh quan

hệ pháp luật hình sự, và như vậy chuyển sang giai đoạn 2 Có dấu hiệu tội phạm tức là

có 01 trong 5 căn cứ được quy định tại Điều 100 BLTTHS năm 2003 Cụ thể: Tố giác của công dân; tin báo của cơ quan Nhà nước, tổ chức xã hội; tin báo trên các phương tiện thông tin đại chúng; người phạm tội tự thú; cơ quan Điều tra, Viện kiểm sát, Toà

án, Bộ đội biên phòng, Hải quan, Kiểm lâm trực tiếp phát hiện tội phạm

2.2.2 Giai đoạn xác định nhóm quy phạm pháp luật hình sự

13

Phạm văn Beo – giáo trình luật hình sự phần các tội phạm, NXB chính trị năm 2008 tr 19

Trang 17

Sau khi đã xác định được có quan hệ pháp luật hình sự phát sinh, bước tiếp theo

là phải tìm ra nhóm quy phạm pháp luật hình sự áp dụng Tức là xác định xem tội phạm

mà chủ thể thực hiện thuộc chương nào tương ứng phần các tội phạm cụ thể của BLHS

Để giải quyết bước này người định tội danh cần phải xác định một trong hai nội dung

Nôi dung thứ nhất: Xác định chủ thể của tội phạm có các dấu hiệu của chủ thể

đặc biệt hay không

Nội dung thứ hai: Xác định loại quan hệ xã hội bị tội phạm đó xâm hại Sở dĩ

phải xác định 2 nội dung trên là cơ sở để xác định nhóm QPPLHS cần áp dụng, bởi vì các tội phạm cụ thể được quy định trong BLHS được sắp xếp thành từng nhóm, từng chương căn cứ vào khách thể loại của tội phạm và một số chương được sắp xếp căn cứ vào đặc điểm chủ thể

2.2.3 Giai đoạn xác định quy phạm pháp luật cụ thể

Ở giai đoạn 2, khi đã xác định được hành vi phạm tội thuộc vào chương nào trong BLHS thì bước tiếp theo là phải so sánh, đối chiếu và kiểm tra xem tội phạm đã thực hiện thuộc loại tội phạm nào14 (Điều luật nào, QPPL nào) Đồng thời phải xác định xem chúng thuộc loại CTTP nào tương ứng (CTTP tăng nặng hay CTTP giảm nhẹ) Tức là xác định được chúng thuộc khoản nào trong điều luật cụ thể đã tìm được Quá trình kiểm tra, đối chiếu, so sánh các tình tiết của vụ án với các dấu hiệu trong cấu thành tội phạm đã lựa chọn phải được tiến hành với từng hành vi mà chủ thể đã thực hiện Hành vi nào nguy hiểm nhất cho xã hội phải được kiểm tra đầu tiên Nếu có nhiều hành vi thì phải sắp xếp chúng theo trình tự thời gian phản ánh đúng diễn biến của sựviệc Đồng thời phải đặt các hành vi đó trong mối quan hệ với nhau Trong vụ án đồng phạm thì phải bắt đầu kiểm tra hành vi của ngườì thực hành, vì bản chất của tội phạm được thể hiện tập trung nhất trong những hành vi của người thực hành Quá trình kiểm tra phải tiến hành với từng người một Việc kiểm tra quy phạm pháp luật hình sự cần áp dụng phải dựa vào các yếu tố của CTTP và quá trình này lần lượt bắt đầu từ khách thể, mặt khách quan, chủ thể, và cuối cùng là mặt chủ quan

Quá trình kiểm tra, so sánh,đối chiếu được tiến hành với từng hành vi mà chủ thể đã thực hiện Hành vi nào nguy hiểm nhất được kiểm tra trước Lưu ý, cần xem xét

14

Cần xem rõ để xác định tội phạm đó thuộc điều luật nào trong pháp luật hình sự quy định để có hướng xác định cho đúng tội danh, người viết thấy điều này là rất cần thiết trong công tác trong lĩnh vực hình sự

Trang 18

hành vi trong thực tế có chứa đựng đầy đủ các yếu tố của CTTP tươ ngứng không Chỉ khi có sự đồng nhất giữa chúng thì trách nhiệm hình sựcủa chủ thể thực hiện hành vi đó mới được đặ tra Sự đồng nhất này là khách quan, dứ khoát chứ không phải là sự suy đoán, biểu lộ ý chí chủ quan của cá nhân, theo một số quan điểm , giả định rằng:15

- Nếu vụán có nhiều ngườ i tham gia (đồng phạm), kiểm tra hành vi của người thựchành Sauđó, kiểm tra hành vi những người còn lại.- Kiểm tra, đối chiếu từng CTTP Kiểm tra CTTP cơ bản trước, sau đó mới đến CTTP tăng nặng hoặc giảm nhẹ

- Đối vớ i mỗi CTTP cần lần lượt kiểm tra từng dấu hiệu mô tả trong CTTP

đó Nếu có nhiều dạng hành vi thì kiểm tra dạng hành vi được mô tả trong CTTP gần với hành vi được thực hiện trong vụ án Nếu các dạng hành vi khác nhau trong CTTP không có mối liên hệ với hành vi xảy ra trong vụ án thì không cần kiểm tra

2.3 Đánh giá về mặt pháp lý hình sự các dấu hiệu thuộc về khách thể của tội phạm

Bất kỳ một hành vi phạm tội nào cũng đều xâm hại đến khách thể trực tiếp và cũng có nghĩa là chúng xâm hại đến khách thể loại và khách thể chung Việc xác định đúng 3 loại khách thể này sẽ khảng định được hành vi đó có phải là tội phạm hay không, thuộc nhóm tội nào và thuộc loại tội phạm cụ thể nào để tìm điều luật tương ứng trong phần các tội phạm cụ thể để áp dụng đối với người phạm tội Trong 3 loại khách thể của tội phạm nêu trên thì khách thể trực tiếp là dạng khách thể cho phép người định tội danh khẳng định được rõ hơn cả bản chất nguy hiểm cho xã hội của tội phạm đã thực hiện, từ đó là cơ sở cho việc định tội danh được chính xác

2.3.1 Phân loại khách thể trực tiếp của tội phạm

Thông thường một tội phạm cụ thể có một khách thể trực tiếp, có một số tội phạm xâm hại trực tiếp tới hai hay nhiều quan hệ xã hội Trong trường hợp tội phạm có

nhiều khách thể trực tiếp, Đối với những tội có nhiều khách thể trực tiếp đòi hỏi phải có

sự phân định chúng ở các mức độ khác nhau, đó là khách thể trực tiếp cơ bản và khách thể trực tiếp phụ

Khách thể trực tiếp cơ bản: Là những quan hệ xã hội bị tội phạm đó xâm hại

Khách thể trực tiếp là những gì người phạm tội hướng tối đầu tiên và thực hiện nhằm đạt được mục đích mà người phạm tội hướng đến đầu tiên đó Đồng thời, khách thể

15

Phạm Văn Beo- Giáo trình luật hình sự phần các tội phạm NXBCT năm 2008 tr 19

Trang 19

trực tiếp cơ bản cũng là những quan hệ xã hội phản ánh rõ hơn, đầy đủ hơn bản chất chính trị xã hội và bản chất pháp lý của loại tội phạm đó

Khách thể trực tiếp phụ: Là quan hệ xã hội mà người phạm tội lúc ban đầu

không hướng đến, nhưng khi tội phạm xảy ra nó có thể bị gây thiệt hại có thể không bị gây thiệt hại Việc phân định này giúp cho người định tội danh xác định được tội phạm

thuộc nhóm tội nào

Ví dụ: Tội bắt cóc con tin, thì khách thể trực tiếp cơ bản phải là quan hệ tài sản,

còn khách thể trực tiếp phụ là quan hệ tính mạng, sức khoẻ của con tin Vì vậy, tội này phải thuộc nhóm tội xâm phạm sở hữu mà không phải thuộc nhóm tội xâm phạm tính mạng, sức khoẻ, tự do thân thể của con người Hoặc đối với tội tham ô tài sản thì khách thể trực tiếp cơ bản là sự hoạt động đúng đắn của các cơ quan Nhà nước, Tổ chức xã hội Còn khách thể trực tiếp phụ là quan hệ tài sản, nên tội tham ô tài sản được quy định trong nhóm tội phạm chức vụ mà không phải nằm trong nhóm tội xâm phạm sở hữu

Đối với những tội phạm có một khách thể trực tiếp thì đòi hỏi người định tội danh phải đánh giá được trong số các quan hệ xã hội bị tội phạm xâm hại, thì quan hệ

xã hội nào phản ánh đầy đủ nhất bản chất chính trị xã hội và bản chất pháp lý của hành

vi phạm tội đã thực hiện, để làm cơ sở cho việc định tội danh và quyết định hình phạt

2.3.2 Căn cứ xác định khách thể trực tiếp của tội phạm

Về mặt thực tế, để xác định khách thể trực tiếp của tội phạm phải thông qua việc xem xét phân tích các thành phần khác của tội phạm, cụ thể:

Thứ nhất:Thông qua việc xác định đặc điểm chủ thể tội phạm đối với các tội có

chủ thể đặc biệt

Thứ hai: Thông qua việc xác định hậu quả của tội phạm chính là cơ sở để xác

định khách thể của tội phạm bị xâm hại Sở dĩ, để xác định khách thể của tội phạm phải thông qua việc xác định các thành phần của tội phạm là hậu quả và chủ thể của tội phạm, bởi các dấu hiệu này là căn cứ để nhà làm luật sắp xếp các tội phạm cụ thể thành từng chương trong BLHS, mặt khác các dấu hiệu này tồn tại trong mặt khách quan dê nhận biết được

Ví dụ: A dùng dao đâm B, B bị thương với tỷ lệ thương tật là 40% Trường hợp

này thông qua biểu hiện về hậu quả của tội phạm là thương tật của B 40% chúng ta xác định được tội phạm xâm hại đến quan hệ sức khoẻ của con người là khách thể của tội

Trang 20

phạm Hoặc ví dụ khác: A là thủ kho của công ty dệt (doanh nghiệp Nhà nước), đã lấy một lô hàng trong kho của doanh nghiệp trị giá 30 triệu đồng bán lấy tiền tiêu xài Trường hợp này thông qua đặc điểm của chủ thể chúng ta xác định được quan hệ xã hội

bị xâm hại là sự hoạt động đúng đắn của doanh nghiệp Nhà nước là khách thể của tội phạm

2.4 Đánh giá về mặt pháp lý hình sự các dấu hiệu thuộc mặt khách quan của tội phạm

Mặt khách quan của tội phạm có tầm quan trọng rất lớn trong việc xây dựng CTTP và định tội danh Hoạt động định tội danh thường bắt đầu từ việc đánh giá, xác định các dấu hiệu trong mặt khách quan

2.4.1 Phương pháp đánh giá hành vi khách quan của tội phạm

Các dấu hiệu trong mặt khách quan là những dấu hiệu thể hiện ra bên ngoài thế giới khách quan mà người định tội danh dễ nhận biết được Các dấu hiệu trong mặt khách quan thường được mô tả tỷ mỷ trong CTTP, vì giữa các tội phạm khác nhau chủ yếu khác nhau ở mặt khách quan thông qua việc xác định các dấu hiệu trong mặt khách quan, người định tội danh mới xác định được các dấu hiệu khác trong mặt chủ quan của tội phạm là lỗi, động cơ, mục đích phạm tội Trong mỗi CTTP khác nhau, mỗi dấu hiệu trong mặt khách quan của tội phạm có ý nghĩa khác nhau đối với định tội danh Nhưng việc đánh giá, xác định hành vi khách quan của tội phạm có ý nghĩa quan trọng nhất

- Khái niệm hành vi khách quan của tội phạm

Hành vi khách quan của tội phạm được hiểu theo 02 nghĩa: Về mặt nghĩa rộng thì hành vi khách quan của tội phạm là xử sự có ý thức của con người bao gồm cả yếu

tố khách quan và chủ quan Còn về nghĩa hẹpthì hành vi khách quan chính là xử sự của con người thể hiện ra bên ngoài thế giới khách quan

- Hình thức của hành vi khách quan

Hành động phạm tội được hiểu là người phạm tội đã làm những động tác cơ học

bị luật hình sự cấm tuy nhiên để xác định đối với hành động phạm tội phải thoả mãn hai dấu hiệu đó là: Là xử sự có ý thức và có ý chí đối với hành vi và phải là xử sự có ý thức và có ý chí đối với hậu quả

Không hành động phạm tội tức là không làm những động tác cơ học mà chủ thể theo pháp luật có nghĩa vụ phải làm và trong hoàn cảnh cụ thể đó có thể thực hiện được

Trang 21

nghĩa vụ này Trong quá trình định tội danh, việc xác định tính chất của không hành động phạm tội phức tạp hơn so với việc xác định tính chất của hành động phạm tội Bởi vì: Hành động phạm tội thể hiện và tồn tại bên ngoài thế giới khách quan dễ nhận biết Còn không hành động phạm tội thì sự thể hiện về nội dung trong nội tại của hành vi đó không tồn tại trực diện ngay trong hành vi khách quan, mà phải xác định trên cơ sở của

sự tư duy biện chứng

Và đối với hành động phạm tội chỉ cần xác định sự thoả mãn của hai dấu hiệu bắt buộc đó là sử sự có ý thức và có ý chí đối với hành vi và đối với hậu quả Nhưng đối với không hành động phạm tội, ngoài hai điều kiện trên còn phải thoả mãn thêm hai điều kiện nữa, đó là: Chủ thể phải có nghĩa vụ pháp lý hành động và trong hoàn cảnh cụ thể chủ thể có đủ khả năng ngăn ngừa được hậu quả đó

- Nguyên tắc đánh giá tính chất của hành vi khách quan của tội phạm

Việc đánh giá hành vi khách quan của tội phạm về phương diện định tội danh là phải đặt mỗi hành vi đó trong mối quan hệ biện chứng, trong tổng thể các dấu hiệu khác của CTTP Thậm chí phải đặt mỗi hành vi khách quan đó trong mối quan hệ biện chứng đối với hành vi khách quan khác nếu trong CTTP đó có nhiều hành vi khách quan để đánh giá chúng Ví dụ: Hành vi lén lút và hành vi chiếm đoạt tài sản của tội trộm cắp tài sản Hành vi gian dối với hành vi chiếm đoạt của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản Nếu tách độc lập các hành vi này trong mỗi CTTP thì không thể nói lên sự thể hiện về bản chất của loại tội phạm đó Chỉ có thể đặt hành vi khách quan của tội phạm trong mối quan hệbiện chứng với tổng thể các dấu hiệu khác, từ đó mới rút ra sự thể hiện đặc điểm đặc trưng của hành vi đó trong một vụ án cụ thể Tuyệt đối không được xác định tính chất của hành vi khách quan trong sự độc lập, đơn lẻ với các dấu hiệu khác trong CTTP

-Phương pháp đánh giá tính chất của hành vi khách quan trong trường hợp

Trang 22

Chỉ một trong số các hành vi đó đã thể hiện đầy đủ bản chất nguy hiểm cho xã hội của tội phạm, còn các hành vi khác chỉ mang tính chất hỗ trợ cho hành vi khách quan đã lựa chọn (thông thường các hành vi bổ trợ này đặt trong mối quan hệ biện chứng với hành vi khách quan thì nó là hành vi chuẩn bị phạm tội)

Và các hành vi này chỉ nhằm hướng tới đạt một mục đích Có thể xác định việc

áp dụng nguyên tắc này thông qua các vụ án sau:

Vụ án thứ nhất: Vào khoảng 8 giờ ngày 30 tháng 06 năm 2009, H và T lên tàu

khách V1 tuyến Hà Nội đi Vinh để trộm cắp tài sản của hành khách đi trên tàu H dùng lưỡi dao lam rạch túi xách của chị Võ Thị M thì thấy một gói đựng chất dẻo màu nâu H biết là thuốc phiện nên đã nảy sinh ý định chiếm đoạt H rút trong người ra một thẻ đoàn viên để hở 1/3 rồi đưa nhanh qua mặt M nói: “Chúng tôi là công an, yêu cầu chị cho kiểm tra hành lý” Cùng lúc đó, Q trưởng tàu đi tới Q biết H và T không phải là công an nhưng vì vụ lợi Q đã nói nhỏ với H và T: “Hai anh muốn khám xét hành lý của hành khách trên tàu thì phải đưa tôi 5 triệu đồng” Sợ hỏng việc, H tháo chiếc đồng hồ trị giá 2000.000 đồng đưa cho Q Sau khi nhận đồng hồ, Q không những để mặc cho H,

T hành động mà còn cho tàu dừng lại theo yêu cầu của H và T Khi tàu dừng, H và T đã kéo M xuống đường ray rồi nói với M: “Chị muốn được trả tự do thì đưa hết đồ trang sức và tiền cho chúng tôi” Vì lo sợ bị bắt, M đã buộc phải làm theo sự khống chế của

H và T Hai tên đã chiếm đoạt được 10 triệu đồng và 3 kg thuốc phiện

Vụ án thứ hai: Chiều 09/6/2009, ông Ngô Hà (trú tại thị trấn Tứ Hạ, huyện

Hương Trà) mua 02 vé xổ số kiến thiết loại vé 10.000đ Khoảng 10 giờ sáng hôm sau, anh Nguyễn Lam hàng xóm sang chơi, do không biết chữ nên Hà đã đưa cho Lam 02 vé

số nhờ dò hộ Khi dò vé số thấy 02 vé số trúng giải đặc biệt với số tiền 1.5000 triệu đồng Vì lòng tham muốn chiếm đoạt 02 vé số đó nên Lam nói là vé không trúng thưởng rồi vứt 02 vé số vào sọt rác trong góc nhà ông Hà Sau 15 phút, Lam về nói với

vợ là bà Nga: "Trong sọt rác nhà ông Hà có 02 vé số trúng giải đặc biệt cô qua đó giả

vờ xin tấm bìa rồi lấy về" Nga thực hiện theo sự sắp đặt của Lam lấy được 02 vé số về rồi 02 vợ chồng đi nhận thưởng

Vụ án thứ ba: Trần Hoàn trú tại Thăng Bình (tỉnh Quảng Nam), làm thuê cho cửa hàng điện tử số 37 Hùng Vương, thành phố Đà Nẵng Hoàng thường xuyên nhận nhiệm vụ giao hàng điện tử cho Hoàn Mỹ trú tại Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam Do có quan hệ quen

Ngày đăng: 05/04/2018, 22:34

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w