1.2.1 Khái niệm về chế định đại diện Với tư cách là một chế định pháp lý, được quy định khá cụ thể trong Bộ luật dân sự Việt Nam 2005 và các văn bản pháp luật khác, khái niệm về chế địn
Trang 1ĐẠI DIỆN TRONG QUAN HỆ PHÁP LUẬT DÂN SỰ
VIỆT NAM HIỆN HÀNH - LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
Giảng viên hướng dẫn: Sinh viên thực hiện:
Nguyễn Văn Khuê Nguyễn Thị Ý
MSSV: 5086017
Lớp: Luật Hành Chính, khóa 34
Trang 2NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN
/
Trang 3NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN PHẢN BIỆN
/
Trang 4
PHẦN MỞ ĐẦU CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ CHẾ ĐỊNH ĐẠI DIỆN TRONG QUAN HỆ PHÁP LUẬT DÂN SỰ 1.1 Sự cần thiết để ban hành chế định đại diện 4
1.2 Khái niệm, đặc điểm và ý nghĩa của chế định đại diện theo Bộ luật dân sự hiện hành 5
1.2.1 Khái niệm về chế định đại diện 5
1.2.2 Khái niệm về các chủ thể trong quan hệ pháp luật đại diện 6
1.2.3 Đặc điểm của chế định đại diện 11
1.2.4 Ý nghĩa của chế định đại diện 12
1.3 Phân loại đại diện 13
1.3.1 Đại diện theo pháp luật 13
1.3.2 Đại diện theo ủy quyền 14
1.4 Điều kiện, quyền và nghĩa vụ của chủ thể đại diện 15
1.4.1 Điều kiện để trở thành người đại diện 15
1.4.2 Quyền của người đại diện 16
1.4.3 Nghĩa vụ của người đại diện 17
1.5 Mối quan hệ giữa đại diện và giám hộ 19
1.6 Sơ lược lịch sử phát triển của chế định đại diện trong Bộ luật dân sự Việt Nam 21
1.7 Những điểm mới về chế định đại diện của Bộ luật dân sự 2005 23
CHƯƠNG 2: QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ CHẾ ĐỊNH ĐẠI DIỆN TRONG BỘ LUẬT DÂN SỰ HIỆN HÀNH 2.1 Chủ thể đại diện 27
2.1.1 Chủ thể đại diện theo pháp luật 27
2.1.2 Chủ thể đại diện theo ủy quyền 37
2.2 Xác lập quan hệ đại diện 39
2.2.1 Xác lập quan hệ đại diện theo pháp luật 44
2.2.2 Xác lập quan hệ đại diện theo ủy quyền 45
2.3 Phạm vi đại diện 43
2.3.1 Phạm vi đại diện theo pháp luật 44
2.3.2 Phạm vi đại diện theo ủy quyền 45
2.4 Hậu quả của giao dịch dân sự do người không có quyền đại diện xác lập, thực hiện 46
2.5 Hậu quả của giao dịch dân sự do người đại diện xác lập, thực hiện vượt quá phạm vi đại diện 47
2.6 Các trường hợp chấm dứt quan hệ đại diện 48
2.6.1 Các trường hợp chấm dứt quan hệ đại diện theo pháp luật 48
2.6.2 Các trường hợp chấm dứt quan hệ đại diện theo ủy quyền 50
2.7 Mối quan hệ đại diện trong Luật thương mại và Luật tố tụng dân sự 52
2.7.1 Quan hệ đại diện trong Luật thương mai 52
2.7.2 Quan hệ đại diện trong Luật tố tụng dân sự 56
CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG ÁP DỤNG PHÁP LUẬT, NHỮNG BẤT CẬP VÀ HƯỚNG HOÀN THIỆN CHẾ ĐỊNH ĐẠI DIỆN 3.1 Thực trạng áp dụng chế định đại diện vào thực tiễn 62
3.2 Những bất cập phát sinh trong quá trình áp dụng pháp luật về đại diện 64
Trang 53.2.3 Thiếu xót trong việc quy định các trường hợp chấm dứt quan hệ đại diện
theo ủy quyền 68
3.3 Kiến nghị sửa đổi, bổ sung pháp luật để hoàn thiện hệ thống pháp luật về chế định đại diện 70 KẾT LUẬN 77 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 6PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Trong điều kiện phát triển kinh tế thị trường và hội nhập, để đáp ứng nhu cầu giao lưu dân sự, phát triển kinh tế, hợp tác quốc tế,… pháp luật Việt Nam và các nước trên thế giới đã thừa nhận quyền tự do xác lập và thực hiện giao dịch thông qua người khác Đây là điểm tiến bộ mà nhiều nước trên thế giới đã công nhận từ lâu Điều này được thể hiện trong việc ghi nhận chế định đại diện trong luật ở các nước như Điều 164 Bộ luật dân sự Đức, Điều 1984 Bộ luật dân sự Pháp năm 1804, Điều 797 Bộ luật dân sự và thương mại Thái Lan Ở nước ta hiện nay, thì điểm tích cực này được ghi nhận trong luật Thương mại, luật Tố tụng dân sự, luật Hôn nhân
và gia đình, nhưng được quy định chung và cụ thể nhất trong Bộ luật dân sự 2005 Việc ghi nhận quy định pháp luật về đại diện trong Bộ luật dân sự 2005 đã đảm bảo được quyền tự do ý chí, tự do thỏa thuận của các chủ thể trong hoạt động pháp lý đời sống dân sự, góp phần thúc đẩy sự phát triển của giao lưu dân sự, giao kết trong hoạt động thương mại, giúp cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền dễ dàng hơn trong việc xử lý các vụ việc có liên quan đến những chủ thể là đối tượng không có đầy đủ năng lực pháp lý và các vụ việc có yếu tố thay thế nhau trong việc xác lập, thực hiện các giao dịch pháp lý dân sự, thương mại Đồng thời tầm quan trọng của chế định đại diện còn được thể hiện trong các quy định về việc đại diện cho người không có đầy đủ năng lực hành vi dân sự, nhằm bảo vệ quyền và lợi ích cho những đối tượng này
Dù hệ thống pháp luật nước ta đã quy định khá cụ thể về chế định đại diện, tuy nhiên đời sống xã hội luôn luôn chuyển đổi, vận động đa dạng, những vấn đề
về quan hệ đại diện vẫn còn những thiếu xót hoặc những mối quan hệ pháp lý về đại diện mới được nảy sinh Do đó, hệ thống pháp luật đại diện đã không theo kịp để điều chỉnh và đã lộ những điểm hạn chế nhất định Đó là những quy định điều có mục đích điều chỉnh quan hệ đại diện nhưng khi đưa vào thực tiễn để giải quyết một
vụ việc cụ thể lại gây mâu thuẫn cho nhau; quy định pháp luật bị hiểu sai lệch về câu chữ và nội dung nên khi áp dụng sẽ gây bất cập; quy định về hình thức đại diện
còn quá tùy nghi, thiếu tính cụ thể
Để hiểu rõ hơn về quy định của pháp luật đối với chế định đại diện cũng như những thiếu sót và bất cập của chế định đại diện khi áp dụng vào đời sống dân sự người viết đã chọn đề tài “ Đại diện trong quan hệ pháp luật dân sự Việt Nam hiện hành - lý luận và thực tiễn” với mong muốn có được cái nhìn tổng quan, khoa học
về chế định luật đại diện và khái quát được những nét căn bản về thực trạng hệ thống quan hệ pháp luật đại diện nước ta Trên cơ sở của việc nghiên cứu đó có thể
Trang 7rút ra được những kết luận, làm sáng tỏ những nguyên nhân và tìm kiếm các giải pháp nhằm góp phần xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật đại diện Việt Nam trong điều kiện đổi mới, hội nhập và xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân và vì dân
2 Đối tượng nghiên cứu và mục đích nghiên cứu của đề tài
* Đối tượng nghiên cứu:
Nghiên cứu về chế định đại diện trong luật dân sự là đi phân tích những điều luật quy định về hoạt động đại diện, những trường hợp cụ thể cần và có thể áp dụng chế định đại diện Đi phân tích vai trò của chế định đại diện vào đời sống dân sự, qua đó có thể so sánh để tìm ra sự khác biệt giữa chế định đại diện trong quan hệ dân sự so với quy định về đại diện trong các ngành luật khác như đại diện trong
thương mại hay đại diện trong tố tụng
* Mục đích nghiên cứu:
Người viết lựa chọn nghiên cứu về chế định đại diện trong quan hệ pháp luật
dân sự Việt Nam hiện hành nhằm mục đích:
- Khái quát được những nét căn bản về sự hình thành và phát triển của chế định đại diện trong hệ thống pháp luật ở nước ta
- Phân tích và nêu lên một cách khái quát cơ sở lý luận về chế định đại diện
trong hoàn cảnh đổi mới hiện nay ở nước ta
- Nêu lên thực trạng áp dụng chế định đại diện trong đời sống dân sự hiện
nay, đóng góp ý kiến góp phần củng cố và phát triển chế định đại diện trong hệ thống quan hệ pháp luật Việt Nam trong xu thế hội nhập và phát triển
3 Phương pháp nghiên cứu
Việc nghiên cứu luận văn dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm, đường lối của Đảng và Nhà nước về pháp luật Đặc biệt là các quan điểm của Đảng và Nhà nước về đại diện trong đời sống dân sự trong thời kỳ đổi mới, mở cửa và hội nhập
Để đề tài được hoàn thành người viết đã dựa trên một số phương pháp khoa học chuyên ngành như: phương pháp phân tích luật viết, phương pháp logic, phương pháp so sánh, đối chiếu tham khảo từ sách báo, tạp chí, thu thập, tổng hợp tài liệu…
4 Phạm vi nghiên cứu
Trước hết phải nói rằng, chế định đại diện là một hiện tượng pháp lý thông dụng luôn diễn ra hàng ngày trong đời sống xã hội, đồng thời đây là vấn đề rất đa dạng đan xen với nhiều ngành luật khác nhau Bởi vậy, luận văn không thể giải quyết được một cách toàn diện các nội dung về lý luận và vấn đề đặt ra từ thực tiễn
Trang 8của chế định Luận văn chỉ tập trung nghiên cứu những vấn đề lý luận cơ bản về chế định đại diện; khái quát những nét chính về chế định đại diện mà pháp luật quy định trong Bộ luật dân sự hiện hành, nêu lên thực trạng áp dụng chế định vào đời sống dân sự và phương hướng đóng góp đối với việc phát triển chế định đại diện vào hệ thống pháp luật Việt Nam
5 Bố cục của đề tài
Ngoài phần mở đầu đề tài nghiên cứu được chia làm 3 chương:
Chương 1: Khái quát chung về chế định đại diện trong quan hệ pháp luật dân sự Chương 2: Quy định của pháp luật về chế định đại diện
Chương 3: Thực trạng áp dụng pháp luật đại diện, những bất cập và hướng hoàn thiện pháp luật
CHƯƠNG 1
Trang 9KHÁI QUÁT CHUNG VỀ CHẾ ĐỊNH ĐẠI DIỆN
TRONG QUAN HỆ PHÁP LUẬT DÂN SỰ 1.1 Sự cần thiết để ban hành chế định đại diện
Trong đời sống thường nhật, mỗi con người đều phải tham gia vào các mối quan hệ trong xã hội và hầu hết các nhu cầu sống của họ đều được đáp ứng thông qua mối liên hệ với người khác như: hôn nhân, gia đình, quan hệ làm ăn buôn bán, các nhu cầu thiết yếu của bản thân…Các nhu cầu này ngày càng đa dạng và có chiều hướng tăng lên theo sự phát triển của xã hội Nhưng với nhịp sống ngày càng hiện đại hóa, nhu cầu thì lớn mà thời gian thì có hạn hoặc do những trở ngại về sức khỏe, địa lý và hạn chế về chuyên môn mà các chủ thể này không thể thực hiện hết các mong muốn của mình, để có thể thỏa mãn được những nhu cầu này các chủ thể trong quan hệ pháp luật dân sự cần có người khác thay mình thể hiện ý trí nhưng
vẫn mang tới sự ràng buộc cho chính bản thân họ
Bên cạnh những cá nhân có năng lực hành vi dân sự đầy đủ, có thể tự mình hoặc bằng chính hành vi pháp lý của mình ủy quyền cho người khác xác lập, thực hiện các giao dịch dân sự thì còn có các đối tượng mà pháp luật coi là không có năng lực hành vi hoặc năng lực hành vi không đầy đủ nên không có khả năng tự bản thân tiến hành các giao dịch dân sự Cụ thể quy định trong Bộ luật dân sự 2005 đối với người chưa thành niên tại Điều 20, người không có năng lực hành vi tại Điều 21 hay những người bị mất năng lực hành vi, người bị hạn chế năng lực hành vi được quy định tại Điều 22, Điều 23 Đối với những người này, họ cũng có nhu cầu rất lớn trong việc tham gia vào các hoạt động đời sống xã hội thông qua các giao dịch dân
sự cũng như việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình trước người thứ ba, nhưng do hạn chế về năng lực hành vi nên họ cần tới sự hành động của người khác
để xác lập, thực hiện và bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình
Đối với pháp nhân, hộ gia đình, tổ hợp tác là những chủ thể quan trọng trong nền kinh tế, xã hội, văn hóa…là thành phần góp phần quan trọng vào sự phát triển của một đất nước nên việc tham gia vào các giao dịch dân sự của các chủ thể này ngày càng đa dạng và phức tạp hơn Vì những chủ thể này là một tập hợp gồm nhiều cá nhân khác nhau không thể xác lập thông qua tất cả mọi cá nhân hơn nữa hoạt động của những chủ thể này lại nhiều và đa dạng như giao kết nhiều giao dịch dân sự, tiến hành giao dịch ở nhiều địa điểm khác nhau, đòi hỏi có chuyên môn hóa…nên để đảm bảo các giao dịch được xác lập một cách thuận lợi và bảo đảm quyền lợi cho các chủ thể này cần có người đại diện để tiến hành mọi hoạt động
Nắm bắt được thực tiễn của xã hội và trên nguyên tắc tự do ý trí, pháp luật Việt Nam thừa nhận chủ thể của quan hệ pháp luật dân sự có thể tự mình xác lập và
Trang 10thực hiện giao dịch hoặc có thể biểu lộ ý trí thông qua người khác Và để điều chỉnh mối quan hệ xã hội này nhà nước ta đã quy định chế định đại diện trong Bộ luật dân
sự nhằm phù hợp với xu thế tất yếu và khách quan của cuộc sống
1.2 Khái niệm, đặc điểm và ý nghĩa của chế định đại diện theo Bộ luật dân sự hiện hành
1.2.1 Khái niệm về chế định đại diện
Với tư cách là một chế định pháp lý, được quy định khá cụ thể trong Bộ luật dân sự Việt Nam 2005 và các văn bản pháp luật khác, khái niệm về chế định đại
diện được quy định tại khoản 1 Điều 139 Bộ luật dân sự 2005 “Đại diện là việc một
người (sau đây gọi là người đại diện) nhân danh và vì lợi ích của người khác (sau đây gọi là người được đại diện) xác lập, thực hiện giao dịch dân sự trong phạm vi thẩm quyền đại diện”
Qua khái niệm trên ta thấy:
- Chủ thể của quan hệ đại diện gồm: người đại diện và người được đại diện
- Nội dung chính của chế định đại diện: là việc người đại diện sẽ thay mặt, nhân danh người được đại diện để tiến hành xác lập, thực hiện giao dịch dân sự với người thứ ba Người được đại diện mới chính là chủ thể trực tiếp thụ hưởng quyền
và lợi ích từ hành động của người đại diện mang lại chứ không phải người đại diện
So với khoản 1 Điều 148 Bộ luật dân sự 1995 thì khoản 1 Điều 139 Bộ luật dân sự
2005 bổ sung không lớn nhưng đã có sự nhấn mạnh được trách nhiệm của người đại diện, phản ánh đúng bản chất của người đại diện
- Bản chất của chế định đại diện:
+ Đối với đại diện theo pháp luật: đây là mối quan hệ được xác lập bởi ý chí của nhà nước hoặc quyết định của cơ quan có thẩm quyền nên tùy từng trường hợp
mà quan hệ đại diện này được xác lập có mang tính miễn cưỡng, vì có những trường hợp người đại diện được pháp luật đặt vào mối quan hệ đại diện mà mình không có sự lựa chọn hoặc từ chối
Ví dụ:việc đại diện cho người mất năng lực hành vi, người chưa thành niên
+ Đối với quan hệ đại diện theo ủy quyền: bản chất của mối quan hệ này được thể hiện bằng sự tự do ý chí giữa các bên chủ thể tham gia trong mối quan hệ này và sự tin tưởng của người được đại diện đối với người đại diện cho mình Vì như ta biết, một người chỉ bị ràng buộc vào một quan hệ pháp lý được xác lập bởi chính ý chí của mình mà không bị người khác ép buộc hay lừa dối, đồng thời chỉ khi nào tin tưởng vào đối tượng mà mình xác lập mối quan hệ thì người này mới chịu sự ràng buộc vào những hậu quả phát sinh bởi mối quan hệ này
Trang 11- Phân loại: dựa trên cách xác lập quan hệ đại diện theo quy định của pháp luật ta có hai quan hệ đại diện là quan hệ đại diện theo pháp luật và quan hệ đại diện theo ủy quyền
Tất cả các chủ thể của quan hệ pháp luật dân sự (cá nhân, pháp nhân, hộ gia đình, tổ hợp tác) đều có quyền có người đại diện (theo pháp luật hoặc theo ủy quyền hoặc nếu là tổ chức thì có thể vừa có đại diện theo pháp luật vừa có đại diện theo ủy quyền) cho mình trong việc xác lập, thực hiện các giao dịch dân sự nhằm phục vụ cho quyền lợi của mình
Ngoại lệ: không phải mọi giao dịch dân sự đều được xác lập bởi người đại diện, có những giao dịch dân sự mà pháp luật quy định phải do chính chủ thể của luật dân sự tự mình xác lập, thực hiện Như theo quy định tại khoản 2 Điều 139 Bộ
luật dân sự 2005 “Cá nhân, pháp nhân, chủ thể khác có thể xác lập, thực hiện giao
dịch dân sự thông qua người đại diện Cá nhân không được để người khác đại diện cho mình nếu pháp luật quy định họ phải tự mình xác lập, thực hiện giao dịch đó”
Ví dụ: cá nhân có thể ủy quyền cho người khác thay mình ký kết các hợp đồng dân sự nhưng không thể ủy quyền cho người khác thay mình đi đăng ký kết hôn hoặc làm chứng minh thư nhân dân
1.2.2 Khái niệm về các chủ thể trong quan hệ pháp luật đại diện
Theo khoản 3 Điều 139 Bộ luật dân sự 2005 quy định quan hệ đại diện có thể được xác lập theo hai hình thức là đại diện theo pháp luật và đại diện theo ủy quyền Các chủ thể trong quan hệ này bao gồm người đại diện và người được đại diện
* Khái niệm người đại diện theo pháp luật
Người đại diện theo pháp luật cho cá nhân là người do pháp luật hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định, người đại diện theo pháp luật của tổ chức
là người ngoài quy định của pháp luật hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền còn có thể là người do tổ chức đó lựa chọn hoặc do tổ chức đó thống nhất cử ra nhằm mục đích đại diện cho một cá nhân hay tổ chức nào đó xác lập, thực hiên các giao dịch hay hành vi dân sự, hành chính 1… Người đại diện theo pháp luật phải có năng lực hành vi dân sự đầy đủ, người đại diện theo pháp luật là cá nhân riêng đối với hình thức giám hộ có thể là tổ chức Theo Điều 141 Bộ luật dân sự 2005 thì người đại diện theo pháp luật bao gồm:
- Cha, mẹ sẽ là đại diện đương nhiên cho con chưa thành niên;
- Giám hộ có thể là giám hộ đương nhiên hoặc là giám hộ được cử, có thể là
cá nhân hay tổ chức đối với người chưa thành niên; người mất năng lực hành vi
1
Người đại diện theo pháp luật, anh là ai Nguồn: luat-anh-la-ai, [28/10/2010]
Trang 12http://www.haimat.vn/article/nguoi-dai-dien-theo-phap Người đại diện theo pháp luật đối với người bị hạn chế năng lực hành vi do Tòa án chỉ định;
- Người đại diện theo pháp luật của pháp nhân là người đứng đầu pháp nhân được quy định trong điều lệ của pháp nhân hoặc là người đại diện theo pháp luật trong quyết định thành lập pháp nhân của cơ quan nhà nước có thẩm quyền
- Người đại diện theo pháp luật đối với hộ gia đình là chủ hộ gia đình, người này có thể là cha, mẹ hoặc bất cứ thành viên nào của gia đình đã thành niên, có đầy
đủ năng lực hành vi dân sự;
- Người đại diện theo pháp luật đối với tổ hợp tác là tổ trưởng tổ hợp tác được các thành viên của tổ hợp tác bầu ra
* Khái niệm người đại diện theo ủy quyền
Người đại diện theo ủy quyền là người đảm bảo các điều kiện được pháp luật cho phép nhận sự ủy quyền của chủ thể khác để nhân danh và vì lợi ích của chủ thể này thực hiện những công việc đã thỏa thuận giữa hai bên và nếu có thỏa thuận thì người đại diện theo ủy quyền có quyền nhận thù lao nếu đã thực hiện xong công việc đại diện trong phạm vi, thẩm quyền đại diện của mình
Cũng như người đại diện theo pháp luật, người đại diện theo ủy quyền phải đảm bảo đầy đủ về năng lực hành vi
Ngoại lệ: theo khoản 2 Điều 143 Bộ luật dân sự 2005 thì “Người từ đủ 15
tuổi đến chưa đủ 18 tuổi có thể là người đại diện theo ủy quyền, trừ trường hợp pháp luật quy định giao dịch dân sự đó phải do người từ đủ 18 tuổi trở lên xác lập, thực hiện”
lý và đại diện cho những người nổi tiếng…khi này tổ chức sẽ cử người trong tổ chức của mình đứng ra làm đại diện
Trang 13* Khái niệm người được đại diện theo pháp luật
Người được đại diện theo pháp luật là cá nhân là người không có hoặc không
đủ khả năng bằng chính năng lực hành vi của mình để xác lập, thực hiện một phần hay tất cả các hoạt động pháp lý nhằm phục vụ các nhu cầu đời sống hàng ngày và bảo về quyền, lợi ích hợp pháp của mình;
Người được đại diện theo pháp luật là pháp nhân, hộ gia đình, tổ hợp tác vì là một tập thể gồm nhiều cá thể nên cần tới sự đại diện của một cá nhân cụ thể để đứng ra thay mặt tập thể này xác lập, thực hiện một số hoạt động vì lợi ích chung của tập thể với người thứ ba, cơ quan nhà nước
- Đối với cá nhân thì người được đại diện theo pháp luật không được quyền
tự mình chọn lựa người làm đại diện theo pháp luật của mình mà phải tuân theo quy định của pháp luật hoặc quyết định của cơ quan có thẩm quyền Tùy theo từng loại chủ thể và khả năng về năng lực hành vi của mình mà người được đại diện theo pháp luật được đại diện toàn phần hay từng phần Theo Điều 141 Bộ luật dân sự
2005, người được đại diện theo pháp luật bao gồm:
+ Người không có năng lực hành vi: người chưa đủ sáu tuổi được quy định tại Điều 212 Bộ luật dân sự 2005 và người mất năng lực hành vi dân sự được quy định tại khoản 2 Điều 223 Bộ luật dân sự 2005;
+ Người có năng lực hành vi dân sự không đầy đủ: người từ đủ sáu tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi được quy định tại khoản 1 Điều 204 Bộ luật dân sự 2005, người bị hạn chế năng lực hành vi được quy định tại Điều 235 Bộ luật dân sự 2005
Mục đích: vì các chủ thể này không đủ điều kiện về năng lực hành vi dân sự nên pháp luật quy định các giao dịch dân sự phải do người đại diện xác lập, thực hiện Quy định này nhằm mục đích bảo vệ quyền và lợi ích cho người được đại diện Tuy nhiên ở quy định đối với người có năng lực hành vi không đầy đủ vẫn còn hai ngoại lệ, khi có trường hợp rơi vào hai ngoại lệ này họ không cần thiết phải cần đến người đại diện
2
Điều 21 Bộ luật dân sự 2005 quy định về người không có năng lực hành vi dân sự “Người chưa đủ sáu tuổi
không có năng lực hành vi dân sự Giao dịch dân sự của người chưa đủ sáu tuổi phải do người đại diện theo pháp luật xác lập, thực hiện”
3
Khoản 2 Điều 22 Bộ luật dân sự 2005 quy định về người mất năng lực hành vi dân sự “Giao dịch dân sự
của người mất năng lực hành vi dân sự phải do người đại diện theo pháp luật xác lập, thực hiện”
4
Khoản 1 Điều 20 Bộ luật dân sự 2005 “Người từ đủ sáu tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi khi xác lập, thực
hiện các giao dịch dân sự phải được người đại diện theo pháp luật đồng ý, trừ giao dịch nhằm phục vụ nhu cầu sinh hoạt hàng ngày phù hợp với lứa tuổi hoặc pháp luật có quy định khác”
5
Khoản 2 Điều 23 bộ luật dân sự 2005 quy định về người đại diện của người bị hạn chế năng lực hành vi dân
sự “Người đại diện theo pháp luật của người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự và phạm vi đại diện do Tòa
án quyết định Giao dịch dân sự liên quan đén tài sản của người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự phải có
ý kiến của người đại diện theo pháp luật, trừ giao dịch nhằm phục vụ nhu cầu sinh hoạt hành ngày”
Trang 14Ngoại lệ thứ nhất: theo quy định tại khoản 1 Điều 206 và khoản 2 Điều 237
Bộ luật dân sự 2005 thì những cá nhân từ đủ sáu tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi, cá nhân bị hạn chế năng lực hành vi khi thực hiện các giao dịch có giá trị nhỏ nhằm phục vụ nhu cầu sinh hoạt hằng ngày không cần tới sự đồng ý của người đại diện
Ngoại lệ thứ hai: tại khoản 2 điều 208 Bộ luật dân sự 2005 thì những cá nhân
từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi được tự mình xác lập, thực hiện giao dịch dân sự mà không cần đến sự đồng ý của người đại diện theo pháp luật với
điều kiện là họ có tài sản riêng đảm bảo thực hiện nghĩa vụ trong giao dịch đó
Đối với pháp nhân
- Đối tượng được đại diện theo pháp luật là tổ chức, bao gồm: pháp nhân, hộ gia đình, tổ hợp tác
Về năng lực chủ thể: khác với chủ thể được đại diện theo pháp luật là cá nhân, chủ thể được đại diện theo pháp luật là tổ chức phải có đầy đủ năng lực pháp luật dân sự mới có thể trở thành chủ thể trong quan hệ pháp luật dân sự Ngoài ra đối với pháp nhân phải được thành lập hợp pháp theo đúng trình tự thủ tục nhà nước quy định trong Luật doanh nghiệp 2005 và các văn bản luật có liên quan cho từng
loại pháp nhân
+ Điều kiện để trở thành người được đại diện theo pháp luật: Pháp nhân phải quy định rỏ trong điều lệ, giấy đăng ký kinh doanh hoặc trong quyết định thành lập pháp nhân về người đại diện theo pháp luật cho mình
+ Hộ gia đình để có thể có người đại diện theo pháp luật thay mặt hộ xác lập, thực hiện các giao dịch dân sự nhằm mang đến quyền và lợi ích cho hộ thì phải thống nhất với nhau về việc chọn lựa thành viên của hộ làm người đại diện vì theo
quy định tại điểm 2 khoản 1 Điều 107 Bộ luật dân sự 2005 quy định “Cha, mẹ hoặc
một thành viên khác đã thành niên có thể là chủ hộ” Việc thống nhất ý kiến của
các thành viên trong hộ là rất quan trọng vì đây là yếu tố quyết định đến việc các thành viên còn lại trong hộ sẽ chịu trách nhiệm việc phát sinh quyền và nghĩa vụ với các giao dịch mà người đại diện xác lập, thực hiện
6
Khoản 1 Điều 20 Bộ luật dân sự 2005 “Người từ đủ sáu tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi khi xác lập, thực
hiện các giao dịch dân sự phải được người đại diện theo pháp luật đồng ý, trừ giao dịch nhằm phục vụ nhu cầu sinh hoạt hàng ngày phù hợp với lứa tuổi hoặc pháp luật có quy định khác”
7
Khoản 2 Điều 23 Bộ luật dân sự 2005 “Người đại diện theo pháp luật của người bị hạn chế năng lực hành
vi dân sự và phạm vi đại diện do Tòa án quyết định Giao dịch dân sự liên quan đến tài sản của người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự phải có sự đồng ý của người đại diện theo pháp luật, trừ giao dịch nhằm phục
vụ nhu cầu sinh hoạt hành ngày”
8
Khoản 2 Điều 20 Bộ luật dân sự 2005 “Trong trường hợp người từ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám
tuổi có tài sản riêng bảo đảm thực hiện nghĩa vụ thì có thể tự mình xác lập, thực hiện giao dịch dân sự mà không cần phải có sự đồng ý của người đại diện theo pháp luật, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác”
Trang 15+ Tương tự, tổ hợp tác muốn có người đại diện theo pháp luật thay mặt tổ xác lập, thực hiện các giao dịch dân sự nhằm mang đến quyền và lợi ích cho tổ thì
tổ hợp tác phải thành lập đúng quy định của pháp luật về tổ hợp tác, ngoài ra, các tổ
viên phải thống nhất với nhau về việc cử ra người đại diện theo pháp luật cho tổ
* Khái niệm người được đại diện theo ủy quyền
Người được đại diện theo ủy quyền là người có năng luật hành vi dân sự đầy
đủ, thông qua sự thỏa thuận ủy quyền để trao quyền cho người khác thay mặt và nhân danh mình xác lập, thực hiện các giao dịch dân sự nhằm mang tới quyền và lợi ích cho mình
Nếu chủ thể là cá nhân, sẽ bằng hành vi pháp lý của mình xác lập sự thỏa thuận đại diện theo ủy quyền với chủ thể đại diện
Nếu chủ thể là tổ chức, sẽ thông qua người đại diện theo pháp luật của mình
để xác lập quan hệ đại diện theo ủy quyền với chủ thể đại diện
Khác với đại diện theo pháp luật là đại diện do quy định của pháp luật hoặc
cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định để bảo vệ người không có năng lực pháp
lý đầy đủ, đại diện theo ủy quyển là trường hợp quan hệ đại diện được xác lập theo
ý chí của hai bên: bên đại diện và bên được đại diện, thông qua sự thỏa mà xác lập quan hệ ủy quyền bao gồm nội dung ủy quyền, phạm vi ủy quyền, thẩm quyền ủy quyền Do đó, người được đại diện cần có đủ năng lực hành vi để thực hiện việc xác lập quan hệ dân sự này, đồng thời, người được đại diện mới chính là người trực tiếp tiếp nhận hậu quả pháp lý từ những hoạt động mà người đại diện xác lập, thực hiện cho nên chủ thể này cần đảm bảo đầy đủ năng lực để tiếp nhận khi người đại diện đã thực hiện việc đại diện trong phạm vi, thẩm quyền của mình
Cũng giống với điều kiện để trở thành chủ thể được đại diện theo pháp luật, các chủ thể là pháp nhân, hộ gia đình, tổ hợp tác phải đảm bảo tư cách chủ thể trong quan hệ pháp luật dân sự mới trở thành chủ thể được đại diện theo ủy quyền Bên cạnh đó, người đại diện theo pháp luật của các tổ chức này sẽ thay mặt tổ chức xác lập quan hệ đại diện theo ủy quyền với người đại diện theo ủy quyền với điều kiện việc xác lập quan hệ này phải vì lợi ích của tổ chức, phải tuân theo hình thức ủy quyền nếu pháp luật có quy định
Chủ thể được đại diện theo ủy quyền sẽ chịu hậu quả pháp lý trực tiếp từ hoạt động pháp lý mà chủ thể đại diện cho mình xác lập, thực hiện Người được đại diện theo ủy quyền có nghĩa vụ trả thù lao cho người đại diện cho mình nếu lúc ủy quyền có thỏa thuận và nếu người đại diện thực hiện theo đúng phạm vi, thẩm quyền đại diện của họ
1.2.3 Đặc điểm của chế định đại diện
Trang 16Với tư cách là một chế định pháp lý, chế định đại diện mang đầy đủ đặc điểm
của quan hệ pháp luật nói chung Ngoài ra quan hệ pháp luật đại diện còn có đặc điểm riêng sau đây:
- Chế định đại diện có hai mối quan hệ pháp luật khác nhau là quan hệ bên
trong và quan hệ bên ngoài
+ Quan hệ được hình thành giữa người đại diện với người được đại diện là quan hệ bên trong Quan hệ này có thể được hình thành từ hợp đồng, từ sự thỏa thuận hoặc theo quy định của pháp luật
Ví dụ: theo quy định tại Điều 21 Bộ luật dân sự 2005 thì mọi giao dịch dân
sự của người chưa đủ 6 tuổi đều phải do người đại diện theo pháp luật xác lập thực hiện Điều này thể hiện mối quan hệ ở đây là giữa người đại diện và người được đại diện và nó được xác lập theo pháp luật
+ Quan hệ giữa người đại diện với người thứ ba là mối quan hệ bên ngoài
Ví dụ: ông Lâm Thanh và ông Trọng Phú xác lập hợp đồng đại diện theo ủy quyền, nội dung của hợp đồng ủy quyền này là ông Trọng Phú sẽ đại diện cho ông Lâm Thanh ký kết hợp đồng mua bốn mươi máy tính để bàn với chị Huỳnh Thư Như vậy trong việc giao kết hợp đồng giữa ông Trọng Phú và chị Huỳnh Thư đã làm phát sinh mối quan hệ bên ngoài của quan hệ đại diện giữa người đại diện theo
ủy quyền là ông Trọng Phú với người thứ ba là chị Huỳnh Thư
Tuy được phân biệt nhưng bản chất của việc đại diện là người đại diện sẽ thay người được đại diện thể hiện ý chí với người thứ ba Cho nên, ta thấy hai mối quan hệ này cùng tồn tại song song và bổ trợ lẫn nhau, quan hệ bên trong là tiền đề,
là cơ sở cho sự xuất hiện và tồn tại của quan hệ bên ngoài Quan hệ bên ngoài thực hiện vì quan hệ bên trong, vì vậy các quyền và nghĩa vụ do người đại diện thực hiện trong phạm vi thẩm quyền đại diện với người thứ ba đều thuộc về người được đại diện Người đại diện có thể được hưởng những lợi ích nhất định từ người được đại diện do thực hiện hành vi đại diện với người thứ ba
+ Trên thực tế vẫn tồn tại mối quan hệ về lợi ích và trách nhiệm giữa người được đại diện và người thứ ba (còn gọi là mối quan hệ gián tiếp)
- Trong quan hệ đại diện, người đại diện nhân danh người được đại diện để
xác lập và thực hiện giao dịch dân sự với người thứ ba
Ví dụ: ông Nguyễn Hùng là chủ một cửa hàng gạo, ông cần 2000 tấn gạo thơm để giao cho mối làm ăn Ông Nguyễn Hùng đã ủy quyền cho anh Phạm Tuấn
là người làm của cửa hàng gạo ký hợp đồng với ông Lâm Thanh cũng là chủ của cửa hàng gạo ở tỉnh khác Khi này anh Tuấn đã xác lập hợp đồng không phải với tư cách của mình mà là với danh nghĩa của ông Hùng để ký hợp đồng với ông Thanh
Trang 17Hợp đồng này không ràng buộc đối với anh Tuấn với ông Thanh mà nó buộc ông Hùng vào hợp đồng đó và vì anh Tuấn nhân danh ông Hùng trong giao kết hợp đồng với ông Thanh cho nên nếu anh Tuấn không nhân danh ông Hùng hay vượt quá phạm vi đại diện thì ở trường hợp này người viết sẽ phân tích ở chương hai
- Người đại diện hành động vì lợi ích của người được đại diện
Hay nói cách khác quyền và lợi ích trong quan hệ với người thứ ba thuộc về người được đại diện Người được đại diện mới là chủ thể thu nhận mọi kết quả pháp
lý do hoạt động của người đại diện thực hiện trong phạm vi thẩm quyền đại diện mang lại Còn về phần người đại diện họ có thể được hoặc không được các lợi ích
từ mối quan hệ đại diện: trong quan hệ đại diện theo ủy quyền, trong quan hệ đại diện này họ có thể được nhận thù lao nếu có thỏa thuận Còn trong các quan hệ đại diện theo pháp luật thì chỉ có nghĩa vụ theo pháp luật chứ người đại diện sẽ không
có được lợi ích vật chất cụ thể từ quan hệ đại diện này
- Người đại diện tuy là nhân danh cho người được đại diện và thẩm quyền
của họ được giới hạn trong phạm vi đại diện theo thỏa thuận hay theo quy định của pháp luật nhưng họ vẫn có sự chủ động và độc lập trong việc thể hiện ý chí của mình với người thứ ba trong việc xác lập, thực hiện giao dịch dân sự nhằm mang đến lợi ích cho người được đại diện
1.2.4 Ý nghĩa của chế định đại diện
- Như đã nói, quan hệ đại diện xuất phát từ nhu cầu thực tế nhất định, là một
trong những chế định pháp luật lớn, có ý nghĩa quan trọng trong đời sống kinh tế xã hội và trong cơ cấu pháp lý
- Đại diện là chế định có chức năng trợ giúp xã hội, là một trong những thành
quả của trí tuệ pháp lý của loài người, mang tính nhân văn, nhân đạo
- Đây cũng là một công cụ pháp lý hữu hiệu để các chủ thể trong quan hệ
pháp luật dân sự có thể thực hiện được tất cả các quyền và nghĩa vụ dân sự của mình một cách linh hoạt và hiệu quả nhất
- Thể hiện được tính mềm dẻo, linh hoạt của pháp luật, bảo vệ những quyền
lợi chính đáng cho người không có năng lực hành vi dân sự, bị hạn chế về năng lực hành vi dân sự
1.3 Phân loại đại diện
Trang 18Xuất phát từ sự khác nhau về quy chế pháp lý, chủ thể xác lập mối quan hệ đại diện, tính bền vững của mối quan hệ…Bộ luật dân sự 2005 đã chia đại diện thành hai loại là đại diện theo pháp luật và đại diện theo ủy quyền
1.3.1 Đại diện theo pháp luật
Theo Điều 140 Bộ luật dân sự 2005 “Ðại diện theo pháp luật là đại diện do
pháp luật quy định hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định” Đại diện
theo pháp luật đóng vai trò quan trọng trong việc bảo vệ quyền lợi cho những người được được đại diện
Đặc điểm pháp lý:
- Căn cứ xác lập: đại diện theo pháp luật được xuất phát từ ý chí của nhà nước nên căn cứ xác lập sẽ theo quy định của pháp luật hoặc theo quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền Dựa theo đặc điểm pháp lý quan hệ đại diện này được chia làm các trường hợp:
+ Đại diện đương nhiên: là đại diện do pháp luật quy định
Ví dụ: Pháp luật quy định cha, mẹ là đại diện đương nhiên của con chưa thành niên; Chủ hộ gia đình là đại diện đương nhiên của hộ gia đình
+ Đại diện theo chỉ định (đại diện bắt buộc): là đại diện do cơ quan nhà nước
có thẩm quyền (chủ yếu là tòa án) quyết định
Ví dụ: người đại diện theo pháp luật cho người bị hạn chế năng lực hành vi
do cơ quan nhà nước có thẩm quyền chỉ định
+ Đại diện được cử: có thể là cá nhân hoặc tổ chức, là đại diện do cơ quan có thẩm quyền cử hoặc đề nghị, chỉ áp dụng đối người chưa thành niên, người mất
năng lực hành vi dân sự không có đại diện đương nhiên
Ví dụ: theo Điều 63 Bộ luật dân sự 2005 quy định ”Trong trường hợp người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự không có người giám hộ đương nhiên theo quy định tại Điều 61 và Điều 62 của Bộ luật này thì Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn, nơi cư trú của người được giám hộ trách nhiệm cử người giám hộ hoặc đề nghị một tổ chức đảm nhận việc giám hộ”
- Hiệu lực pháp lý: xuất phát từ ý chí của nhà nước nên quan hệ đại diện này
có tính chất mặc nhiên, bền vững và ổn định vì được dựa trên mối quan hệ huyết thống như cha, mẹ đối với con chưa thành niên, hay dựa trên mối quan hệ pháp lý được ghi nhận như quan hệ giám hộ hoặc trên tính tồn tại ổn định của các chủ thể là
tổ hợp tác, hộ gia đình và pháp nhân9
9
Giám hộ, đại diện trong bộ luật dân sự và bộ luật tố tụng dân sự Nguồn:
http://thongtinphapluatdansu.wordpress.com/giam ho dai dien trong bo luat dan su va to tung dan su của THS Nguyễn Việt Cường - Chánh Tòa Lao động, Tòa án nhân dân tối cao [23/2/2010]
Trang 19- Năng lực chủ thể: người đại diện theo pháp luật phải là người có năng lực hành vi đầy đủ Người được đại diện theo pháp luật đối với cá nhân phải là người không có hoặc có nhưng không đầy đủ năng lực hành vi dân sự Người được đại diện theo pháp luật là tổ chức phải là chủ thể của quan hệ pháp luật dân sự
Quan hệ đại diện theo pháp luật bao gồm đại diện theo pháp luật đối với cá nhân và đại diện theo pháp luật đối với pháp nhân, hộ gia đình, tổ hợp tác Các chủ thể đại diện theo pháp luật trong từng trường hợp cụ thể sẽ được người viết phân tích rõ hơn ở chương hai của bài viết này
1.3.2 Đại diện theo ủy quyền
Khác với đại diện theo pháp luật là đại diện do pháp luật quy định hoặc do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định, đại diện theo ủy quyền là trường hợp đại diện được xác lập theo ý chí của hai bên: bên đại diện và bên được đại diện Theo
quy định tại khoản 1 Điều 142 Bộ luật dân sự 2005 “Đại diện theo ủy quyền là đại
diện được xác lập theo sự ủy quyền giữa người đại diện và người được đại diện”
Đại diện theo ủy quyền là phương tiện pháp lý cần thiết để tạo điều kiện cho
cá nhân, pháp nhân và các chủ thể khác của quan hệ dân sự, bằng những hình thức khác nhau có thể tham gia vào giao dịch dân sự một cách thuận lợi nhất, bảo đảm thỏa mãn nhanh chóng các lợi ích vật chất, tinh thần mà chủ thể quan tâm Ngoại trừ một số trường hợp pháp luật không cho phép xác lập giao dịch thông qua người đại diện theo ủy quyền mà chủ yếu liên quan đến nhân thân, trình độ nghề nghiệp…
Ví dụ: việc lập di chúc, làm chứng minh thư nhân dân, kết hôn…
Đặc điểm pháp lý:
- Căn cứ xác lập: xuất phát từ sự tự do ý chí giữa các bên chủ thể tham gia trong quan hệ, thỏa thuận ủy quyền cho nhau để tiến hành xác lập, thực hiện các giao dịch dân sự
- Hiệu lực pháp lý: phụ thuộc vào sự thỏa của các bên tham gia trong mối quan hệ này, nếu không có thỏa thuận và pháp luật không có quy định thì thời hạn
ủy quyền này có hiệu lực một năm kể từ ngày xác lập việc ủy quyền10
Mang tính ít ổn định hơn so với đại diện theo pháp luật thể hiện ở chỗ: quan
hệ đại diện sẽ chấm dứt khi thỏa thuận giữa các chủ thể hết thời hạn; một trong các bên chủ thể có thể hủy bỏ thỏa thuận đại diện và đặc biệt khi một người đại diện do pháp luật quy định hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định thì không thể
ủy quyền trách nhiệm làm người đại diện cho người thứ ba được Còn trong quan hệ đại diện theo ủy quyền, nếu được người được đại diện đồng ý thì người đại diện có
10
Theo Điều 582 Bộ luật dân sự 2005 “Thời hạn ủy quyền do các bên thỏa thuận hoặc do pháp luật quy
định; nếu không có thỏa thuận và pháp luật không có quy định thì hợp đồng ủy quyền có hiệu lực một năm,
kể từ ngày xác lập ủy quyền”
Trang 20thể ủy quyền lại cho người thứ ba thực hiện thay một số hành vi pháp lý nhất định trong phạm vi thẩm quyền đại diện của mình 11
Ủy quyền là căn cứ làm phát sinh quan hệ đại diện giữa người đại diện và người được đại diện, đồng thời nó cũng là cơ sở để người ủy quyền tiếp nhận các kết quả pháp lý do hoạt động đại diện mang lại Vì vậy khi ủy quyền phải xác định
rõ phạm vi, thẩm quyền đại diện, thời gian đại diện…
- Năng lực chủ thể: các chủ thể tham gia trong quan hệ đại diện theo ủy
quyền phải là người có năng lực hành vi dân sự đầy đủ, trừ trường hợp được quy
định tại khoản 2 Điều 143 Bộ luật dân sự 2005 là “Người từ đủ mười lăm tuổi đến
chưa đủ mười tám tuổi có thể là người đại diện theo ủy quyền, trừ trường hợp pháp luật quy định giao dich dân sự phải do người từ đủ mười tám tuổi trở lên xác lập, thực hiện” Quy định này đã thay thế cho khoản 2 Điều 152 Bộ luật dân sự 1995
“Người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự hoặc bị hạn chế năng lực hành vi dân sự không được làm người đại diện theo ủy quyền” Từ hai quy định
trên ta thấy Bộ luật dân sự 2005 đã mở rộng phạm vi người đại diện theo ủy quyền
Người đại diện trong quan hệ đại diện theo ủy quyền có thể được hưởng một
số lợi ích từ quan hệ đại diện nếu các bên có thỏa thuận
Chủ thể được đại diện theo ủy quyền bao gồm đại diện theo ủy quyền đối cá nhân, đại diện theo ủy quyền đối với pháp nhân, hộ gia đình, tổ hợp tác Các chủ thể trong từng trường hợp cụ thể sẽ được người viết trình bày ở chương hai
1.4 Điều kiện, thẩm quyền và nghĩa vụ của chủ thể đại diện
1.4.1 Điều kiện để trở thành người đại diện
Bộ luật dân sự 2005 không có quy định về điều kiện để một chủ thể trở thành người đại diện, nhưng qua thực tiễn về đại diện ta thấy:
Để trở thành người đại diện nói chung trước tiên chủ thể này phải có năng lực hành vi dân sự đầy đủ (người đại diện có quyền đại diện), vì như vậy người đại diện mới có đủ các khả năng tham gia vào các giao dịch dân sự thay cho người được đại diện Trừ trường hợp ngoại lệ được quy định tại khoản 2 Điều 143 Bộ luật
dân sự 2005 mà “Người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi có thể làm
người đại diện theo ủy quyền, trừ trường hợp pháp luật quy định giao dịch dân sự phải do người đủ mười tám tuổi trở lên xác lập, thực hiện”
Đối với người đại diện theo pháp luật, để trở thành người đại diện thì phải là những người do pháp luật quy định hoặc do cơ quan có thẩm quyền chỉ định
11
Theo quy định tại Điều 583 Bộ luật dân sự 2005 “Bên được ủy quyền chỉ được ủy quyền lại cho người thứ
ba, nếu được bên ủy quyền đồng ý hoặc pháp luật có quy định”
Trang 21Đối với người đại diện theo ủy quyền, để trở thành người đại diện thì còn tùy thuộc vào yêu cầu của người được đại diện Vì như đã nói, hình thức của đại diện theo ủy quyền là sự thỏa thuận giữa người đại diện và người được đại diện và công việc đại diện này có thể mang lại việc phải trả thù lao của người được đại diện và nhận thù lao của người đại diện nếu hai bên có thỏa thuận Do đó, thường người được đại diện sẽ đưa ra tiêu chí, điều kiện để chọn người đại diện, nhất là đối với người đại diện cho chủ thể được đại diện là cá nhân và pháp nhân
Ví dụ: tại khoản 2 Điều 48 Luật doanh nghiệp 2005 đã đưa ra tiêu chuẩn và điều kiện của người đại diện theo ủy quyền đối với công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên là phải có đủ năng lực hành vi dân sự, không thuộc đối tượng bị cấm thành lập và quản lý doanh nghiệp, có trình độ chuyên môn, kinh nghiệm trong quản lý kinh doanh hoặc trong ngành, nghề kinh doanh chủ yếu của công ty…
Còn đối với người đại diện của hộ gia đình, tổ hợp tác để trở thành người đại diện theo ủy quyền thì ngoài điều kiện về năng lực chủ thể, người đại diện còn phải
là thành viên của hộ gia đình, tổ hợp tác đó Điều này được thể hiện theo quy định
tại điểm 2 khoản 1 Điều 107 Bộ luật dân sự 2005 “Chủ hộ có thể ủy quyền cho
thành viên khác đã thành niên làm đại diện của hộ trong quan hệ dân sự” Tại Điều
113 Bộ luật dân sự 2005, khoản 1 điểm 2, người đại diện theo ủy quyền của tổ hợp
tác “Tổ trưởng tổ hợp tác có thể ủy quyền cho tổ viên thực hiện một số công việc
nhất định cần thiết cho tổ”
1.4.2 Quyền của người đại diện
Quyền hạn của người đại diện là thực hiện các hành vi pháp lý nhân danh người được đại diện và tùy theo từng trường hợp đại diện mà việc đại diện này sẽ mang lại các quyền lợi và nghĩa vụ dân sự cho người được đại diện trong phạm vi đại diện Chính quyền hạn này sẽ quy định nội dung, phạm vi và chức năng của người đại diện
Quyền hạn của người đại diện có điểm chung với các quyền dân sự của chủ thể khác nói chung là chỉ phát sinh khi có những điều kiện pháp lý nhất định Nhưng đối với quan hệ đại diện nó còn có thể phát sinh trên cơ sở: các quy định của pháp luật, quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền hoặc trên cơ sở ủy quyền Dựa vào các căn cứ xác lập đại diện mà có thể có cách thức xác định quyền hạn của người đại diện
- Đối với đại diện theo pháp luật: là đại diện được xác lập do ý chí của nhà nước, trao quyền cho một người để người này nhân danh người được đại diện xác lập, thực hiện giao dịch dân sự Sự đại diện này không bị hạn chế hoặc bị chi phối bởi người được đại diện hay cá nhân bên ngoài với điều kiện là người đại diện phải
Trang 22thực hiện việc đại diện của mình vì lợi ích của người được đại diện thì người đại diện sẽ có thẩm quyền đại diện rất lớn và độc lập thể hiện ý chí của mình trong việc xác lập, thực hiện giao dịch dân sự
- Đối với đại diện theo ủy quyền: vì được xác lập trên sự thỏa thuận giữa
người đại diện và người được đại diện, vì vậy quyền đại diện của người đại diện được xác định theo sự thỏa thuận giữa các bên, có thể được quy định cụ thể trong hợp đồng ủy quyền, giấy ủy quyền hay bằng lời nói Như vậy quyền đại diện của người đại theo ủy quyền sẽ hạn chế hơn so với thẩm quyền đại diện của người đại diện theo pháp luật Tuy nhiên ở hình thức đại diện này, người đại diện sẽ nhận được thù lao nếu có thỏa thuận
1.4.3 Nghĩa vụ của người đại diện
- Người đại diện phải hành động vì lợi ích của người được đại diện:
Mục đích chính của chế định đại diện là nhằm bảo đảm quyền và lợi ích cho những chủ thể không đủ khả năng, điều kiện tham gia các giao dịch dân sự
Ví dụ: Bà Nguyễn Thị Siêu và ông Nguyễn Văn Có có một con chung là cháu Nguyễn Thị Du sinh năm 1988 Năm 1990 ông Có và bà Siêu ly hôn Tháng 3/1995 ông Có chết Bảo hiểm tỉnh B đã giải quyết tiền mai táng cho anh nguyễn Thế An (con riêng ông Có và là người trực tiếp lo mai táng cho ông Có) với số tiền bằng tám tháng lương của ông Có và lập sổ trợ cấp tức hàng tháng cho cháu Du nhưng
do anh An đứng tên trong sổ và bảo lãnh tiền Bà Siêu đã khởi kiện Bảo hiểm xã hội tỉnh B, yêu cầu được nhận số tiền tuất hàng tháng của ông Có mà cháu Du được hưởng 12
Với tình huống trên, người được hưởng quyền lợi là cháu Du con của bà Siêu
và ông Có Bà Siêu là người đại diện cho cháu Du kiện bảo hiểm tỉnh B để đòi quyền lợi cho cháu Du Theo đó ta thấy rằng, yếu tố ảnh hưởng đến việc người đại diện phải hành động vì lợi ích của người được đại diện là:
Đối với đại diện theo pháp luật thì việc hành động vì lợi ích của người được đại diện còn là việc người đại diện thực hiện theo đúng quy định của pháp luật và bổn phận của mình,
Còn đối với đại diện theo ủy quyền thì việc bảo đảm lợi ích cho người được đại diện là việc người đại diện hành động đúng như theo thỏa thuận, hợp đồng ủy quyền mà mình đã ký kết Do đó, người đại diện hành động vì lợi ích của người
được đại diện là nghĩa vụ quan trọng nhất của người đại diện
12
Đại diện trong quan hệ pháp luật dân sự Xem thêm: quan-he-phap-luat-dan-su.35CB856F.html [21/10/2009]
Trang 23http://yume.vn/tinhlachi_love/article/dai-dien-trong Người đại diện thực hiện công việc đại diện phải trong phạm vi, thẩm
quyền đại diện:
Phạm vi, thẩm quyền đại diện là một khuôn khổ bắt buộc người đại diện phải hành động đúng theo khuôn khổ này Tùy theo là đại diện theo pháp luật hay đại diện theo ủy quyền mà có phạm vi, thẩm quyền đại diện khác nhau
Nếu là đại diện theo pháp luật thì phạm vi, thẩm quyền đại diện đã được pháp luật quy định và người đại diện phải thực hiện đúng theo những quy định này nhằm mục đích mang tới lợi ích cho người được đại diện
Còn đại diện theo ủy quyền thì người đại diện có thể thực hiện việc đại diện với tất cả hành động ở tư cách của người được đại diện trong sự cho phép của người này, nếu hành vi phải thực hiện là nghĩa vụ kết quả thì người đại diện theo ủy quyền
có quyền tự do hành động miễn sao mang lại kết quả như mong muốn của người được đại diện, trừ trong thoả thuận có quy định khác
Người đại diện về nguyên tắc nếu không muốn chịu trách nhiệm từ những giao dịch mà mình thay mặt người được đại diện thực hiện thì phải hành động trong phạm vi, thẩm quyền Bởi đó không phải là hành vi của người đại diện mà là hành
vi của người được đại diện với người thứ ba
- Người đại diện phải thực hiện công việc đại diện một cách cẩn trọng, tận
tâm đối với người được đại diện:
Người đại diện khi thực hiện việc đại diện phải hành động một cách cẩn trọng, tận tâm vì lợi ích của người được đại diện Sự cẩn trọng ở đây được hiểu là thực hiện nhiệm vụ với thái độ đúng mực nhất và từng trường hợp mà tiến hành công việc một cách kỹ lưỡng, khôn khéo Người đại diện phải thực hiện công việc được giao với hết khả năng và điều kiện mà mình có để mang lại kết quả phù hợp nhất với ý chí của người được đại diện khi uỷ quyền cho người đại diện Trong trường hợp khi mà người đại diện đã hành động đúng chuẩn mực, hành động cẩn trọng và tận tuỵ dù kết quả không như dự kiến hay có thiệt hại xảy ra thì họ cũng dễ dàng thoát khỏi trách nhiệm và người đại diện vẫn sẽ được thanh toán những chi phí cần thiết cho việc thực hiện công việc được giao nếu hai bên có thỏa thuận
1.5 Mối quan hệ giữa đại diện và giám hộ
* Khái niệm về giám hộ
Theo quy định Điều 59 Bộ luật dân sự 2005 quy định: “Giám hộ là việc cá
nhân, tổ chức ( sau đây gọi chung là người giám hộ) được pháp luật quy định hoặc
Trang 24được cử để thực hiện việc chăm sóc và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự ( sau đây gọi chung là người được giám hộ)”
Như vậy, giám hộ là một chế định nhằm khắc phục tình trạng của người không thể bằng hành vi của mình xác lập thực hiện quyền và nghĩa vụ trong các giao dịch dân sự, vì họ là những người không có năng lực hành vi dân sự, năng lực
hành vi dân sự chưa đầy đủ
Từ khái niệm của chế định đại diện và chế định giám hộ được quy định trong
Bộ luật dân sự 2005, ta thấy được những điểm tương đồng và khác biệt giữa chế
định giám hộ với chế định đại diện:
* Điểm tương đồng:
Mục đích ban hành quy định pháp luật: nhà nước ta ban hành chế định giám
hộ và chế định đại diện điều có chung mục đích để thực hiện việc chăm sóc và bảo
vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người chưa thành niên, người mất năng lực hành
vi dân sự, đảm bảo cho họ có thể hưởng đầy đủ quyền công dân của mình Cả hai
chế định này điều được quy định trong Bộ luật dân sự 2005
Cả hai chế định điều thể hiện sự quan tâm sâu sắc của Nhà nước và xã hội đối với người không đủ điều kiện về năng lực hành vi dân sự để có thể tham gia vào các giao dịch dân sự nhưng có thể được hưởng đầy đủ các quyền lợi và nghĩa vụ công dân thông qua người đại diện hoặc giám hộ
Phân loại: tuy có nhiều điểm khác biệt giữa hai chế định này nhưng theo Điều 141 Bộ luật dân sự năm 2005 quy định người đại diện theo pháp luật gồm bảy loại đại diện trong đó có quan hệ giám hộ, điều này được quy định ở khoản 2
“Người giám hộ đối với người được giám hộ” Do đó, ở đây ta sẽ so sánh điểm
khác biệt giữa quan hệ giám hộ với quan hệ đại diện theo ủy quyền:
Trang 25đều là những chủ thể có quan hệ đặc biệt và chỉ khi nào là những đối tượng theo quy định của pháp luật mới tham gia vào quan hệ giám hộ
+ Quan hệ đại diện theo ủy quyền: được xác lập dựa vào sự tự do ý chí, tự do thỏa thuận giữa các bên tham gia vào mối quan hệ chỉ cần chủ thể áp ứng điều kiện
về năng lực hành vi, trừ trường hợp giao dịch dân sự cho phép người chưa đủ 18 tuổi làm đại diện
- Mục đích khi xác lập mối quan hệ:
+ Người giám hộ tham gia quan hệ giám hộ để thực hiện việc chăm sóc và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người chưa thành niên, người mất năng lực hành
vi dân sự Trong các giao dịch dân sự thực hiện vì người được giám hộ thì người giám hộ đồng thời là người đại diện cho người được giám hộ và họ thực hiện công việc giám hộ không vì mục đích thù lao
+ Còn người đại diện trong phạm vi đại diện theo ủy quyền, họ xác lập, thực hiện giao dịch dân sự nhân danh và vì lợi ích của người được đại diện, nếu có thỏa thuận thì người đại diện sẽ nhận được thù lao từ công việc đại diện này
- Quyền và nghĩa vụ của các bên:
+ Đối với người giám hộ thì quyền và nghĩa vụ của họ được quy định chi tiết tại Điều 68 Bộ luật dân sự 200513 Trong số những quyền mà họ có thì đáng chú ý
là người giám hộ có quyền quản lý và sử dụng tài sản của người được giám hộ (nếu có) để xác lập, thực hiện các giao dịch dân sự và sử dụng tài sản đó để chi tiêu cho việc chăm sóc, nuôi dưỡng người được giám hộ Trong số các nghĩa vụ mà người giám hộ phải thực hiện thì nổi bật lên nghĩa vụ chăm sóc, giáo dục hoặc bảo đảm việc điều trị bệnh cho người được giám hộ
+ Đối với người đại diện theo ủy quyền thì quyền và nghĩa vụ của họ gắn liền với phạm vi đại diện, được xác định chủ yếu thông qua sự thỏa thuận giữa các bên được thể hiện bằng hợp đồng ủy quyền, giấy ủy quyền hoặc bằng miệng
1.6 Sơ lược lịch sử phát triển của chế định đại diện trong Bộ luật dân sự Việt Nam
* Nguồn gốc xuất hiện của chế định đại diện
2 Được thanh toán các chi phí cần thiết cho việc quản lý tài sản của người được giám hộ;
3 Đại diện cho ngừơi được giám hộ trong việc xác lập, thực hiện các giao dịch dân sự nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người được giám hộ”
Trang 26Chế định đại diện xuất hiện đầu tiên trong luật La Mã Nhưng vào thời gian
trao đổi buôn bán đã phát triển mạnh, Luật La Mã vào thời kỳ phát triển nhất vẫn
chưa có việc một người đại diện cho người khác ký kết một hợp đồng, nguyên nhân Luật La Mã không chấp nhận vấn đề đại diện là do tính cách trọng hình thức đối với hợp đồng và thời kì đó đã tồn tại một quy tắc mà theo đó hợp đồng phải do chính cá
nhân ký kết “ai không tham gia vào quan hệ trách nhiệm thì trách nhiệm không ảnh
hưởng tới người đó 14 ”
Nhưng những mầm mống đầu tiên của khái niệm đại diện đã xuất hiện trong
việc: “Những người phụ thuộc gia chủ không bao giờ có thể làm đại diện Gia chủ
có quyền hạn và trách nhiệm từ những hợp đồng do họ ký kết không phụ thuộc vào
ý chí những người phụ thuộc gia chủ có như thế hay không, vì điều kiện cần thiết của quyền đại diện là ý chí của người uỷ quyền và tất cả do người uỷ quyền Trách nhiệm từ những hợp đồng này trước hết thuộc về người ký ( gia chủ), còn những người phụ thuộc gia chủ chỉ nhận một phần trách nhiệm mà thôi 15 ” Điều này thể
hiện việc gia chủ sẽ đại diện cho những người phụ thuộc thực hiện các giao dịch, người phụ thuộc tuy chỉ nhận phần nhỏ nhưng vẫn sẽ hưởng được quyền lợi và chịu trách nhiệm từ những giao dịch này Cùng với sự lớn mạnh của kinh tế giao thương thì việc đại diện trong ký kết hợp đồng đã được cho phép Xã hội càng phát triển thì việc đại diện càng quan trọng và có ý nghĩa to lớn thúc đẩy giao lưu dân sự phát triển và đại diện cũng là một thước đo đánh giá sự phát triển của một xã hội Do đó các nước trên thế giới đã đưa chế định đại diện vào hệ thống pháp luật của mình trong đó có Việt Nam
* Chế định đại diện theo Luật Hồng Đức
Giai đoạn này là thời kì đỉnh cao của chế độ phong kiến tập quyền, nhiều lãnh vực được chú trọng phát triển đặc biệt là sự quan tâm đến hoạt động lập pháp với mục đích đáp ứng nhu cầu phát triển của bộ máy nhà nước phong kiến vào thế
kỷ XV Đánh dấu mốc phát triển của hoạt động lập pháp trong giai đoạn này Bộ luật Hồng Đức đã dành hẳn hai chương: hộ hôn và điền sản để quy định các mối quan hệ trong đời sống như thừa kế, hợp đồng, nghĩa vụ…chưa kể các quy định liên quan đến quan hệ pháp luật còn nằm rải rác ở các chương khác hoặc các văn bản luật riêng lẻ mà không đưa vào bộ luật Nói chung dù chịu ảnh hưởng của văn hóa Trung Quốc các nhà làm luật nhà Lê vẫn xây dựng những đặc điểm riêng biệt của
Trang 27đời sống dân sự Việt Nam, từ đó quy định nhiều quy tắc pháp lý thể hiện tính độc đáo của pháp luật dân sự Việt Nam
* Chế định đại diện theo Luật Gia Long
Thời nhà Nguyễn với thân phận chư hầu của Trung Quốc, nhà Nguyễn đã bị ảnh hưởng, phụ thuộc nhiều vào chế độ phong kiến phương Bắc cho nên về luật dân
sự Bộ luật Gia Long hầu như chỉ lấy lại câu chữ của các quy định liên quan trong
Bộ luật nhà Thanh16 Cho nên về cấu trúc thì Bộ luật Gia Long hoàn toàn khác với
Bộ luật Hồng Đức
* Chế định đại diện theo quy định của Bộ dân luật Bắc Kỳ và Dân luật Trung Kỳ
“Người ta phải chịu trách nhiệm không những tổn hại tự mình làm ra mà cả
về sự tổn hại do những người mà mình phải bảo lãnh hay do những vật mình phải trông coi nữa”
Đoạn điều luật trên quy định về nguyên tắc chịu trách nhiệm dân sự của người giám hộ (bảo lãnh) nếu người được giám hộ gây thiệt hại, vì người giám hộ không thực hiện tốt nghĩa vụ giám hộ của mình nên phải chịu thay cho người được
giám hộ
* Chế định đại diện trong Bộ luật dân sự Việt Nam 1995
Bộ luật dân sự 1995 được Quốc Hội thông qua ngày 28/10/1995 và có hiệu lực thi hành từ ngày 1/6/1996 Có thể nói rằng Bộ luật dân sự 1995 là thành tựu lớn nhất của mười năm xây dựng hệ thống pháp luật dân sự Việt Nam thời hiện đại Từ khi Bộ luật dân sự năm 1995 có hiệu lực đã hoàn thiện về chế định đại diện được quy định trước đó, cơ sở pháp lý được quy định cụ thể từ Điều 148 đến Điều 157
Mặc dù như vậy nhưng khi áp dụng vào thực tiễn, cùng với thời gian dài và nhiều biến đổi của đời sống xã hội dân sự chế định đại diện trong bộ luật dân sự
1995 đã bộc lộ nhiều nhiều thiếu sót bất cập, chưa cụ thể, chi tiết còn mang tính tổng hợp của nhiều ngành luật
* Chế định đại diện trong Bộ luật dân sự 2005
Để khắc phục những hạn chế, thiếu sót về chế định đại diện trong Bộ luật dân sự 1995 đồng thời áp ứng nhu cầu thực tiễn của đời sống dân sự, Bộ luật dân sự
2005 ra đời đã ra đời và hoàn thiện hơn về chế định đại diện, chế định này được quy định cụ thể với 10 điều từ Điều 139 đến Điều 148, với sự sửa đổi bổ sung chế định đại diện trong Bộ luật dân sự 2005 đã phù hợp hơn với tình hình mới cũng như sự phát triển kinh tế xã hội của nước ta hiện nay
1.7 Những điểm mới về chế định đại diện của Bộ luật dân sự 2005
16
Giáo trình Luật dân sự tập 1, trường đại học Cần Thơ trang 32
Trang 28Người viết sẽ đi phân tích những điểm mới của chế định đại diện trong Bộ luật dân sự 2005 so với quy định về chế định đại diện trong Bộ luật dân sự 1995
Theo Bộ luật dân sự 2005, Đại diện là việc một người nhân danh và vì lợi ích của người khác xác lập, thực hiện giao dịch dân sự trong phạm vi đại diện Chế định đại diện được quy định trong Chương VII, Phần thứ nhất Bộ luật dân sự
2005 với 10 điều từ Điều 139 đến Điều 148, trong đó có 8 điều sửa đổi, bổ sung, 2 điều giữ nguyên so với quy định tương ứng tại Bộ luật dân sự 1995, đó là Điều 140 (Đại diện theo pháp luật) và Điều 141 (người đại diện theo pháp luật) 17 Sau đây là những điểm sửa đổi bổ sung quan trọng
* Về khái niệm đại diện:
Khoản 1 Điều 139 Bộ luật dân sự 2005 quy định: “Đại diện là việc một
người (sau đây được gọi là người đại diện) nhân danh và vì lợi ích của người khác
(sau đây gọi là người được đại diện) xác lập thực hiện giao dịch dân sự trong phạm
vi đại diện”
So với khoản 1 Điều 148 Bộ luật dân sự 1995 thì khoản 1 Điều 139 Bộ luật dân sự 2005 bổ sung thêm không lớn nhưng đã nhấn mạnh được trách nhiệm của người đại diện, phản ánh đúng bản chất của đại diện, từ đó có cơ sở pháp lý để giải quyết những trường hợp người đại diện xác lập, thực hiện các quan hệ dân sự không xuất phát từ lợi ích của người được đại diện
Điều 139 Bộ luật dân sự 2005 còn thêm khoản 5 “người đại diện phải có
năng lực hành vi dân sự đầy đủ, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 143 của
bộ luật này”
* Đại diện theo uỷ quyền:
Điều 142 Bộ luật dân sự 2005 có sửa đổi nhỏ về hình thức ủy quyền như sau:
“Hình thức uỷ quyền do các bên thoả thuận, trừ trường hợp pháp luật quy định việc
uỷ quyền phải lập thành văn bản” So với khoản 2 Điều 151 Bộ luật dân sự 1995 thì
quy định về hình thức uỷ quyền ở Điều 142 Bộ luật dân sự 2005 rộng hơn, nó
không bắt buộc “Việc uỷ quyền phải được lập thành văn bản” như khoản 2 Điều
151 Bộ luật dân sự 1995
* Người đại diện theo uỷ quyền:
Điều 143 Bộ luật dân sự 2005 quy định: “người đủ mười lăm tuổi đến chưa
đủ mười tám tuổi có thể là người đại diện theo uỷ quyền, trừ trường hợp pháp luật
17
TS Đinh Trung Tụng, Bình luận những điểm mới của bộ luật dân sự 2005, NXB chính trị Quốc Gia, 2008,
trang 89
Trang 29quy định giao dịch dân sự phải do người từ đủ mười tám tuổi trở lên xác lập thực hiện” thay cho khoản 2 Điều 152 Bộ luật dân sự 1995 “người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự hoặc bị hạn chế năng lực hành vi dân sự không được làm người đại diện theo uỷ quyền”
Từ 2 điều luật trên ta thấy, khoản 2 Điều 143 Bộ luật dân sự 2005 quy định
những người được làm đại diện theo uỷ quyền, còn khoản 2 Điều 152 Bộ luật dân
sự 1995 lại quy định những người không được làm đại diện theo uỷ quyền
Điều 143 Bộ luật dân sự 2005 đã mở rộng phạm vi người được đại diện theo
uỷ quyền Người đại diện theo uỷ quyền không nhất thiết cứ phải là người đã thành niên như quy định tại Điều 152 Bộ luật dân sự 1995 mà cả những người chưa thành niên từ đủ 15 tuổi đến 18 tuổi trừ trường hợp những giao dịch dân sự pháp luật quy định bắt buộc phải do người đủ 18 tuổi trở lên xác lập Quy định như Điều 143 Bộ luật dân sự 2005 là phù hợp với quy định về năng lực hành dân sự của người chưa
thành niên từ đủ 15 tuổi đến vừa đủ 18 tuổi (khoản 2 Điều 20 Bộ luật dân sự 2005)
* Hậu quả giao dịch do người không có quyền đại diện xác lập, thực hiện:
Khoản 1 Điều 154 Bộ luật dân sự 1995 quy định “giao dịch dân sự do người
không có thẩm quyền đại diện xác lập thực hiện không làm phát sinh quyền nghĩa
vụ với người được đại diện Trừ trường hợp người được đại diện chấp thuận” Quy
định này không đúng trong trường hợp người được đại diện là người mất năng lực hành vi dân sự dân sự, vì không thể đòi hỏi có sự đồng ý của người được đại diện
Để khắc phục tình trạng trên khoản 1 Điều 145 Bộ luật dân sự 2005 bổ sung thêm
trường hợp không được “người đại diện” chấp thuận
Ngoài ra khoản 1 Điều 145 Bộ luật dân sự 2005 còn bổ sung quy định trách
nhiệm cho người đã giao dịch với người không có quyền đại diện đó là: “người đã
giao dịch với người không có quyền đại diện phải thông báo cho người được đại diện hoặc người đại diện của người đó để trả lời trong thời hạn ấn định; nếu hết thời hạn này mà không trả lời thì giao dịch đó không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ đối với người được đại diện”
* Hậu quả của giao dịch dân sự do người đại diện xác lập thực hiện vượt quá phạm vi đại diện:
Khoản 1 Điều 146 Bộ luật dân sự 2005 quy định “giao dịch dân sự do người
đại diện xác lập, thực hiện vượt quá phạm vi đại diện không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ của người được đại diện đối với phần giao dịch được thực hiện vượt quá phạm vi đại diện, trừ trường hợp người được đại diện đồng ý hoặc biết mà không phản đối, nếu không được sự đồng ý thì người đại diện phải thực hiện nghĩa vụ đối
Trang 30với người đã giao dịch với mình về phần giao dịch vượt quá phạm vi đại diện” So
với khoản 1 Điều 155 Bộ luật dân sự 1995, quy định này có một số sửa đổi bổ sung
như sau: thay cụm từ : “vượt quá thẩm quyền đại diện”, bằng cụm từ “vượt quá
phạm vi đại diện” và bổ sung thêm cụm từ “đối với phần giao dịch thực hiện quá phạm vi đại diện” mà Điều 155 Bộ luật dân sự 1995 không có Theo Điều 153 Bộ
luật dân sự 1995 và Điều 144 Bộ luật dân sự 2005 thì thẩm quyền đại diện là thẩm quyền xác lập thực hiện các giao dịch dân sự vì lợi ích của người được đại diện Chỉ đối với đại diện theo uỷ quyền thì người đại diện mới phải thực hiện quyền đại diện trong phạm vi được uỷ quyền, nên dùng cụm từ vượt quá phạm vi được uỷ quyền là chính xác
Mặt khác khoản 1 Điều 146 Bộ luật dân sự 2005 bổ sung thêm cụm từ “phần
giao dịch được thực hiện vượt quá phạm vi đại diện” làm cho điều luật chặt chẽ và
chính xác, theo quy định này, chỉ phần giao dịch vượt quá phạm vi được uỷ quyền mới không làm phát sinh quyền và nghĩa vụ với người được uỷ quyền Điều 155 Bộ luật dân sự 1995, làm cho người ta có thể hiểu không làm phát sinh quyền và nghĩa
vụ đối với người được đại diện về toàn bộ giao dịch do người đại diện xác lập
Đặc biệt Điều 146 Bộ luật dân sự 2005 không những quy định người được
đại diện đồng ý mà còn quy định bổ sung thêm “hoặc biết mà không phản đối” thì
giao dịch do người đại diện xác lập, thực hiện vượt quá phạm vi đại diện vẫn làm phát sinh quyền và nghĩa vụ đối với người được đại diện Bổ sung thêm quy định này là rất hợp lý tránh được các tình trạng đã xảy ra là người được đại diện biết giao dịch do người đại diện xác lập, thực hiện vượt quá phạm vi được đại diện, nhưng không phản đối, sau một thời gian thực hiện thấy bất lợi cho mình, lúc đó lấy cớ chưa có ý kiến gì về việc xác lập, thực hiện giao dịch đó để thoái thác trách nhiệm
* Chấm dứt đại diện của pháp nhân:
Chấm dứt đại diện của pháp nhân được quy định tại Điều 148 Bộ luật dân sự
2005 So với Điều 157 Bộ luật dân sự 1995 thì điểm b, điểm c của khoản 2 Điều
148 Bộ luật dân sự 2005 có sửa đổi bổ sung như sau:
Điểm b khoản 2 Điều 157 Bộ luật dân sự 1995 chỉ quy định chấm dứt đại
diện của pháp nhân khi “người đại diện theo pháp luật của pháp nhân huỷ bỏ việc
uỷ quyền” Điểm b khoản 2 Điều 148 Bộ luật dân sự 2005 bổ sung thêm “hoặc người được uỷ quyền từ chối việc uỷ quyền” Bổ sung quy định này là phù hợp với
thực tế, vì có nhiều trường hợp do lý do chủ quan hoặc khách quan người được uỷ quyền không thể tiếp tục làm đại diện, do đó luật pháp phải quy định cho họ quyền
từ chối làm đại diện
Trang 31Điểm c khoản 2 Điều 157 Bộ luật dân sự 1995 chỉ quy định “pháp nhân
chấp dứt”, điểm c khoản 2 Điều 148 Bộ luật dân sự 2005 bổ sung thêm các trường
hợp “hoặc người được uỷ quyền chết, bị Toà án tuyên bố mất năng lực hành vi dân
sự, bị hạn chế năng lực hành vi dân sự, mất tích hoặc đã chết”
Khi chấm dứt đại diện theo uỷ quyền, người đại diện phải thanh toán xong các nghĩa vụ tài sản với pháp nhân uỷ quyền hoặc pháp nhân kế thừa”
Việc bổ sung điểm c khoản 2 Điều 148 Bộ luật dân sự 2005 như trên là phù hợp với thực tế, đặc biệt việc bổ sung trách nhiệm thanh toán nghĩa vụ tài sản của người được uỷ quyền với pháp nhân hoặc pháp nhân kế thừa là hết sức cần thiết, nó
là cơ sở pháp lý để buộc người được uỷ quyền hoặc người thừa kế của người được
uỷ quyền (trường hợp người được uỷ quyền chết) hoặc người đại diện của người được uỷ quyền (trường hợp người được uỷ quyền mất năng lực hành vi dân sự), có trách nhiệm thanh toán các nghĩa vụ tài sản đối với pháp nhân
CHƯƠNG 2
Trang 32QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ CHẾ ĐỊNH ĐẠI DIỆN TRONG
BỘ LUẬT DÂN SỰ HIỆN HÀNH 2.1 Chủ thể đại diện
2.1.1 Chủ thể đại diện theo pháp luật
Theo Điều 141 Bộ luật dân sự 2005, người đại diện theo pháp luật được chia làm bảy trường hợp Theo đó, dựa vào chủ thể được đại diện có thể chia chủ thể đại diện thành: chủ thể đại diện cho cá nhân, chủ thể đại diện cho pháp nhân và chủ thể đại diện cho hộ gia đình, tổ hợp tác
* Chủ thể đại diện cho cá nhân là người chưa thành niên:
“Cha, mẹ đối với con chưa thành niên 18” Theo quy định tại Điều 39 Luật
hôn nhân và gia đình 200019 thì cha, mẹ sẽ là đại diện diện đương nhiên cho con chưa thành niên Tuy nhiên cần chú ý các trường hợp:
- Cha, mẹ sẽ là đại diện đương nhiên cho con chưa thành niên nếu đủ điều kiện để chăm sóc, nuôi dưỡng và không bị Tòa án hạn chế quyền của cha, mẹ đối với con chưa thành niên theo quy định Điều 41 Luật hôn nhân và gia đình 200020
- Mặc khác, chủ thể làm đại diện cho người chưa thành niên không nhất thiết phải là cả cha lẫn mẹ, có thể người chưa thành niên chỉ còn cha hoặc mẹ hoặc còn
cả cha, mẹ nhưng một trong hai người không có năng lực hành vi dân sự, bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc bị tòa án hạn chế quyền của cha, mẹ thì người còn lại
là người có đầy đủ quyền đại diện cho con chưa thành niên
Phạm vi đại diện của cha, mẹ là đại diện mang tính chất toàn phần hay từng phần tùy thuộc vào con đã đủ hay chưa đủ sáu tuổi
- Đại diện toàn phần: theo quy định tại Điều 21 Bộ luật dân sự 2005 “Người
chưa đủ sáu tuổi không có năng lực hành vi dân sự” do đó mọi giao dịch dân sự
của con chưa thành niên này sẽ do người đại diện theo pháp luật xác lập thực hiện, lúc này phạm vi đại diện của cha, mẹ là đại diện toàn phần
18
Khoản 1 Điêu 141 Bộ luật dân sự 2005
19
Điều 39 Luật hôn nhân và gia đình 2000 “Cha, mẹ là đại diện theo pháp luật cho con chưa thành niên, con
đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự, trừ trường hợp con có người khác làm giám hộ hoặc có người khác đại diện theo pháp luật”
20
Điều 41 Luật hôn nhân và gia đình 200 quy định về hạn chế quyền của cha, mẹ đối với con chưa thành
niên “Khi cha, mẹ đã bị kết án về một trong các tội cố ý xâm phạm sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của con
hoặc có hành vi vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con; phá tán tài sản của con; có lối sống đồi trụy, xúi dục, ép buộc con làm những việc trái pháp luật, trái đạo đức xã hội thì tùy từng trường hợp cụ thể Tòa án có thể tự mình hoặc theo yêu cầu của cá nhân, cơ quan, tổ chức quy định tại Điều 42 của Luật này ra quyết định không cho cha, mẹ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục, quản
lý tài sản riêng của con hoặc đại diện theo pháp luật cho con trong thời hạn từ một năm đến năm năm Tòa
án có thể xem xét rút ngắn thời hạn này”
Trang 33- Đại diện từng phần: theo quy định tại khoản 1 Điều 20 Bộ luật dân sự 2005, thì người chưa thành niên từ đủ sáu tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi được chia làm hai trường hợp:
Thứ nhất: đối với một số giao dịch dân sự nhằm phục vụ nhu cầu sinh hoạt hàng ngày phù hợp với lứa tuổi được pháp luật cho phép thì có thể tự mình xác lập, thực hiện
Thứ hai: những giao dịch nằm ngoài phạm vi nói trên thì cần đến sự đồng ý của người đại diện theo pháp luật
Từ hai trường hợp trên ta thấy rằng phạm vi đại diện của cha, mẹ ở đây là đại diện từng phần
- Trường hợp ngoại lệ “Trong trường hợp người từ đủ mười lăm tuổi đến
chưa đủ mười tám tuổi có tài sản riêng bảo đảm thực hiện nghĩa vụ thì có thể tự mình xác lập, thực hiện giao dịch dân sự mà không cần phải có sự đồng ý của người đại diện theo pháp luật, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác 21 ”
Việc cha mẹ đại diện cho con chưa thành niên phải đảm bảo nhu cầu thiết yếu để con chưa thành niên có thể phát triển một cách bình thường như ăn ở, vui chơi, học tập Nếu con chưa thành niên dưới mười lăm tuổi có tài sản riêng thì theo
khoản 1 Điều 46 Luật hôn nhân và gia đình 2000 “Trong trường hợp cha, mẹ quản
lý tài sản riêng của con dưới mười lăm tuổi thì có quyền định đoạt tài sản đó vì lợi ích của con, có tính đến nguyện vọng của con, nếu con từ đủ chín tuổi trở lên”
* Chủ thể giám hộ cho người được giám hộ:
Theo quy định”Người giám hộ đối với người được giám hộ 22 ” ta chia làm
hai trường hợp: người giám hộ đối với người chưa thành niên và người giám hộ đối với người mất năng lực hành vi dân sự
- Trường hợp người giám hộ đối với người chưa thành niên:
Ví dụ: cháu Trịnh Ngọc Bích, tám tuổi, là nạn nhân duy nhất còn sống xót trong vụ thảm sát tại tiệm vàng Ngọc Bích vào ngày 24/8/2011 tại phố Sàn, Lục Nam, Bắc Giang Có cha là Trịnh Thanh Ngọc, mẹ là Ninh Thị Chín và em gái mới mười tám tháng tuổi điều đã bị kẻ gian sát hại mà qua đời 23 Vậy ai là người giám
hộ để chăm sóc, bảo vệ quyền và lợi ích cho Bích cho đến khi trưởng thành
Chủ thể trong quan hệ giám hộ cho người chưa thành niên:
Trang 34Người được giám hộ: ở trường hợp này Bích được tám tuổi là người chưa thành niên, theo quy định tại điểm a khoản 2, 3 Bộ luật dân sự 200524 thì cần có người giám hộ
Người giám hộ được chia làm hai trường hợp:
+ Giám hộ đương nhiên: để xác định giám hộ đương nhiên bằng cách xác định một trong số người thân thích theo quan hệ huyết thống với Bích sẽ trở thành người giám hộ đương nhiên cho Bích Việc xác định chủ thể giám hộ này được quy định theo thứ tự tại khoản 1, 2 Điều 61 Bộ luật dân sự 2005 bao gồm: nếu người chưa thành niên có anh, chị đã thành niên thì anh cả hoặc chị cả sẽ là người giám hộ đương nhiên; nếu anh, chị cả không có điều kiện làm người giám hộ thì anh, chị kế
sẽ là người giám hộ; nếu không có anh, chị hoặc anh, chị không có điều kiện làm người giám hộ thì ông bà nội, ông bà ngoại sẽ là người giám hộ đương nhiên; nếu không có ai trong số những người này có điều kiện làm giám hộ thì bác, chú, cậu,
cô, dì sẽ là người giám hộ Do Bích không có anh, chị ruột nên ông, bà nội; ông, bà ngoại sẽ là người giám hộ đương nhiên Nếu ông, bà nội; ông, bà ngoại không có điều kiện làm giám hộ theo quy định tại Điều 60 Bộ luật dân sự 200525 thì có thể đề nghị để người bác ruột của Bích làm giám hộ bao gồm chăm sóc, nuôi dưỡng và quản lý tài sản cho cháu
+ Giám hộ được cử: chỉ thực hiện việc cử giám hộ trong trường hợp Bích không có giám hộ đương nhiên và việc cử giám hộ này sẽ tuân theo quy định tại
Điều 63 Bộ luật dân sự 2005 để tiến hành việc cử giám hộ cho Bích:“Ủy ban nhân
dân xã, phường, thị trấn nơi cư trú của người được giám hộ có trách nhiệm cử người giám hộ hoặc đề nghị một tổ chức đảm nhận việc giám hộ.” Vậy khi này chủ
thể giám hộ được cử có thể là cá nhân hoặc tổ chức
Giám hộ được cử là cá nhân: người giám hộ cũng được chỉ định theo thứ tự
ưu tiên dựa vào mức độ thân thuộc giữa người giám hộ với Bích nhằm mục đích thay thế sự chăm sóc, giáo dục mang tính chất gia đình mà Bích đã không có, cũng nhằm mục đích bảo quản tài sản cho Bích trước người thứ ba
24
Điểm a khoản 2 Điều 58 bộ luật dân sự 2005 “Người chưa thành niên không còn cha, mẹ, không xác định
được cha, mẹ hoặc cha, mẹ đều mất năng lực hành vi dân sự, bị hạn chế năng lực hành vi dân sự, bị tòa án hạn chế quyền của cha, mẹ hoặc cha, mẹ không có điều kiện chăm sóc, giáo dục người chưa thành niên đó và nếu cha mẹ có yêu cầu”
Khoản 3 Điều 58 Bộ luật dân sự 2005 “Người chưa đủ mươi lăm tuổi được quy định tại điểm a khoản 2 Điều
này và người được quy định tại điểm b khoản Điều này phải có người giám hộ”
25
Điều 60 Bộ luật dân sự 2005 quy định về điều kiện của cá nhân làm giám hộ “Có năng lực hành vi dân sự
đầy đủ; Có tư cách đạo đức tốt; không phải là người bị truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc là người đang bị kết án nhưng chưa được xóa án tích về một trong các tội cố ý xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tài sản của người khác; Có điều kiện cần thiết bảo đảm thực hiện việc giám hộ”
Trang 35Giám hộ được cử là tổ chức: Chủ thể là tổ chức được đề nghị đảm nhận việc giám hộ khi này có thể là một cơ quan nhà nước hoặc một tổ chức xã hội được gọi chung là một thiết chế công Tổ chức làm giám hộ cũng không ngoài mục đích là bảo vệ quyền lợi cho Bích là người chưa thành niên bao gồm quyền nhân thân và quyền tài sản Pháp luật không quy định điều kiện của cơ quan, tổ chức khi làm giám hộ phải là cơ quan, tổ chức nào, nên có thể suy đoán bất cứ cơ quan, tổ chức nào cũng có thể là người giám hộ
- Về phạm vi giám hộ: cũng tương tự như đối với phạm vi đại diện của người đại diện cho người chưa thành niên mà người viết đã phân tích ở phần đại diện cho người chưa thành niên và bao gồm luôn trường hợp ngoại lệ, phạm vi giám hộ toàn phần hay giám hộ từng phần cũng tùy thuộc vào độ tuổi của người chưa thành niên
Ở trường hợp này Bích được tám tuổi nên phạm vi giám hộ là từng phần
- Trường hợp giám hộ cho người mất năng lực hành vi dân sự được người viết phân tích ở phần dưới đây
* Chủ thể đại diện cho cá nhân là người mất năng lực hành vi:
Theo quy định của pháp luật thì người mất năng lực hành vi dân sự cần phải
có người giám hộ và cũng chính người giám hộ này sẽ là người đại diện theo pháp luật cho người mất năng lực hành vi dân sự trong các giao dịch pháp lý
Điều này được thể hiện theo quy định tại điểm b khoản 2 và khoản 3 Điều 58
Bộ luật dân sự 2005 về người được giám hộ bao gồm: “Người mất năng lực hành vi
dân sự ”; Tại khoản 2 Điều 67 Bộ luật dân sự 2005 quy định về nghĩa vụ của người
giám hộ đối với người được giám hộ mất năng lực hành vi dân sự “ Đại diện cho
người được giám hộ trong các giao dịch dân sự” và cũng theo quy định tại khoản 2
Điều 22 Bộ luật dân sự 2005 thì “Giao dịch dân sự của người mất năng lực hành vi
dân sự phải do người đại diện theo pháp luật xác lập, thực hiện
Ví dụ: chị NTV và anh TTV cùng cư trú tại quận 1 thành phố Hồ Chí Minh kết hôn với nhau từ năm 2005, ba năm sau, trong một vụ tai nạn giao thông, anh TTV bị thương nặng ở đầu, từ đó mất ý thức, phải nhập viện điều trị tâm thần Mọi nhu cầu đời sống của anh TTV điều phải thông người người khác Về phần tai nạn giao thông đã xảy ra, cần tới sự giải quyết tại cơ quan tố tụng để tiến hành giải quyết ai là người có lỗi và chịu trách nhiệm bồi thường Ta sẽ đi xác định người đại diện theo pháp luật (người giám hộ) cho anh TTV 26
- Chủ thể trong quan hệ đại diện (giám hộ) cho người mất năng lực hành vi:
26
Bị mù có cần người đại diện khi ly hôn Nguồn: co-can-nguoi-dai-dien-khi-ly-hon, Hoàng Yến [25/04.2011]
Trang 36http://luathoc.cafeluat.com/showthread.php/50015-Bi-mu-+ Người được đại diện (giám hộ): tuy anh TTV bị mất ý thức, phải điều trị bệnh tâm thần nhưng muốn trở thành chủ thể được đại diện trong quan hệ pháp luật này thì phải là người bị Tòa án tuyên bố bị mất năng lực hành vi dân sự Một người được coi là mất năng lực hành vi dân sự thì phải rơi vào trường hợp quy định tại
Điều 22 điểm 1 khoản 1 Bộ luật dân sự 2005 ”Khi một người do bị bệnh tâm thần
hoặc các bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi của mình thì theo yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan, Tòa án ra quyết định tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự trên cơ sỡ kết luận của tổ chức giám định” Khi này
chị NTV hoặc những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có thể yêu cầu lên Tòa án để xin tuyên bố cho anh TTV là người bị mất năng lực hành vi dân sự trên
cơ sỡ kết luận của tổ chức giám định
+ Người đại diện (giám hộ): cũng giống như việc làm giám hộ cho người chưa thành niên khi này chủ thể làm đại diện cho người mất năng lực hành vi được
xác định được chia làm hai trường hợp:
Đại diện (giám hộ) đương nhiên: để xác định đại diện đương nhiên cho người mất năng lực hành vi bằng cách xác định một trong số người thân thích theo quan hệ hôn nhân hay quan hệ huyết thống với anh TTV sẽ trở thành người đại diện đương nhiên cho anh Việc xác định chủ thể giám hộ này được quy định theo thứ tự tại Điều 62 Bộ luật dân sự 2005 bao gồm: vợ mất năng lực hành vi dân sự thì chồng
sẽ là đại diện, nếu chồng mất năng lực hành vi dân sự thì vợ sẽ là người đại diện; Trường hợp cả cha, mẹ mất năng lực hành vi dân sự hoặc chỉ một người mất năng lực còn người kia không đủ điều kiện làm người đại diện thì con cả sẽ là người đại diện, nếu con cả không đủ điều kiện làm người người đại diện thì con kế tiếp sẽ làm đại diện; Trong trường hợp người thành niên mất năng lực hành vi dân sự chưa có
vợ, chồng, con hoặc có mà những người này không đủ điều kiện làm người đại diện thì cha, mẹ sẽ là người đại diện Trường hợp của anh TTV thì chị NTV có quan hệ hôn nhân với anh, nếu chị đảm bảo về điều kiện làm người đại diện được quy định tại Điều 60 Bộ luật dân sự 2005 mà người viết có nêu ở phần trước thì chị sẽ là người đại diện đương nhiên của anh TTV theo pháp luật
Đại diện (giám hộ) được cử: chỉ xảy ra trong trường hợp anh TTV không có đại diện (giám hộ) đương nhiên thì cơ quan có thẩm quyền sẽ cử chủ thể làm giám
hộ cho anh theo quy định tại Điều 63 Bộ luật dân sự 2005 và cũng tương tự như đối với trường hợp giám hộ cho con chưa thành niên lúc này đại diện được cử có thể là:
Cá nhân được cử làm đại diện (giám hộ) hay
Tổ chức được đề nghị đảm nhận vai trò đại diện (giám hộ)
Trang 37- Về phạm vi đại diện (giám hộ): do bị Tòa án tuyên bố là mất năng lực hành
vi dân sự nên anh TTV không thể tự mình xác lập và thực hiện các giao dịch dân sự, mọi giao dịch của anh bao gồm liên quan đến về quyền nhân thân, quyền tài sản sẽ
do người đại diện (giám hộ) tức là chị TNV xác lập, thực hiện Khi này chị TNV có phạm vi đại diện toàn phần
* Chủ thể đại diện cho cá nhân là người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự:
Theo quy định tại khoản 3 Điều 141 Bộ luật dân sự 2005 người đại diện theo
pháp luật là “Ngươi được Tòa án chỉ định đối với người bị hạn chế năng lực hành
vi dân sự” và khoản 2 Điều 23 Bộ luật dân sự 200527 thì chủ thể đại diện theo pháp luật cho người bị hạn chế năng lực hành vi là người được Tòa án chỉ định
Ví dụ:anh Nguyễn Văn Khang cư trú tại Kỳ Anh - hà Tĩnh có người em trai Người em trai này sau khi ly hôn với vợ sinh ra nghiện rượu, tài sản của gia đình vốn đã chẳng có gì đáng kể nay lại thường xuyên bị mang bán hoặc gán nợ cho mấy
bà chủ quán gần nhà Cha, mẹ của anh khang lại đã già, không đủ sức quản lý cách sinh hoạt của người con này Một lần vì nhuận say, có lời qua tiếng lại với người khác nên người em của anh Khang đã bị đánh phải nhập viện, vậy vấn đề em của anh Khang sẽ được giải quyết như thế nào 28 ?
- Chủ thể trong quan hệ đại diện theo pháp luật cho người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự:
+ Người được đại diện: một người là đối tượng được đại diện trong quan hệ đại diện cho người mất năng năng lực hành vi dân sự thì phải là người có quyết định của Tòa án tuyên bố bị hạn chế năng lực hành vi dân sự Một người chỉ được coi là
bị hạn chế năng lực hành vi khi rơi vào một trong những trường hợp tại khoản 1
Điều 23 Bộ luật dân sự 2005 ”Người nghiện ma túy, nghiện các chất kích thích
khác dẫn đến phá tán tài sản của gia đình, thì theo yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan, cơ quan, tổ chức hữu quan, Tòa án có thể ra quyết định tuyên bố là người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự” Ở trường hợp này, em trai của anh
Khang đã có những dấu hiệu để người có quyền, lợi ích liên quan yêu cầu đến Tòa
án tuyên bố bị hạn chế năng lực hành vi dân sự
+ Người đại diện: việc xác định người đại diện theo pháp luật cho em anh khang sẽ do tòa án chỉ định Việc chỉ định sẽ được Tòa án tính đến yếu tố thân thích
27
Khoản 2 Điều 23 Bộ luật dân sự 2005 “Người đại diện theo pháp luật của người bị hạn chế năng lực hành
vi dân sự và phạm vi đại diện do Tòa án quyết định Giao dịch dân sự liên quan đến tài sản của người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự phải có sự đồng ý của người đại diện theo pháp luật, trừ giao dịch nhằm phục
vụ nhu cầu sinh hoạt hành ngày”
28
Thủ tục yêu cấu Tòa án tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự nguồn:
http://www.baomoi.com/thu-tuc-yeu-cau-Toa-an-tuyen-bo-mot-nguoi-mat-nang-luc-hanh-vi-dan-su Quang lê
Trang 38như quan hệ hôn nhân hay quan hệ huyết thống đối với người bị hạn chế năng lực hành vi là em trai anh Khang Ở đây, vì em trai anh Khang đã ly hôn, cha, mẹ lại không đủ điều kiện làm người đại diện nên anh Khang có thể sẽ được Tòa án chỉ định làm người đại diện theo pháp luật cho em trai mình
- Về điều kiện chủ thể làm đại diện cho người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự thì cũng giống với các trường hợp đối với điều kiện làm người đại diện cho con chưa thành niên, người đại diện (giám hộ) cho người mất năng lực hành vi dân
sự anh Khang nhất thiết phải có đủ điều kiện được quy định tại Điều 60 Bộ luật dân
sự 2005 mà người viết đã nêu trước đó
- Phạm vi đại diện: cũng theo khoản 2 Điều 23 Bộ luật dân sự 2005, phạm vi đại diện của người đại diện theo pháp luật cho người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự sẽ do Tòa án quyết định Và cũng theo quy định này ta thấy rằng:
Giao dịch chỉ nhằm mục đích phục vụ đời sống hàng ngày thì em trai anh Khang có thể tự mình xác lập, thực hiện
Giao dịch dân sự liên quan đến tài sản của em trai anh Khang thì phải có sự đồng ý của anh Khang là người đại diện theo pháp luật
Vậy khi này phạm vi đại diện của anh Khang là đại diện từng phần
* Chủ thể đại diện cho pháp nhân:
Pháp nhân quan hệ với bên ngoài thông qua người đại diện của pháp nhân và
theo quy định tại điều 91 Bộ luật dân sự 2005 thì “Đại diện của pháp nhân có thể là
đại diện theo pháp luật hoặc đại diện theo ủy quyền”
Theo quy định tại khoản 4 Điều 141 Bộ luật dân sự 2005 thì chủ thể đại diện
theo pháp luật của pháp nhân là ”Người đứng đầu pháp nhân theo quy định của
điều lệ pháp nhân hoặc quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền”
Người đại diện theo pháp luật của pháp nhân là người mà công ty đăng ký với vị trí là người đại diện theo pháp luật thể hiện trong giấy đăng ký kinh doanh được pháp luật hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp phép, để đại diện cho công ty này thực hiện các giao dịch hay hành vi dân sự, hành chính Người đại diện theo pháp luật này có thể được xác lập bằng một trong các hình thức sau:
- Theo quy định trong điều lệ của pháp nhân: khi này người đại diện theo pháp luật của pháp nhân có thể là:
+ Người đứng đầu pháp nhân là người đại diện theo pháp luật của pháp nhân;
Ví dụ: Quy định tại Điều 46 của Luật doanh nghiệp 2005, đối với công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên được quy định tại điều lệ của công ty thì người đại diện theo pháp luật của công ty có thể là: chủ tịch hội đồng thành viên hoặc giám đốc hoặc tổng giám đốc
Trang 39+ Chủ sở hữu của pháp nhân;
Ví dụ: Điều 143 Luật doanh nghiệp 2003 quy định ở khoản 2 “Chủ doanh nghiệp tư nhân có thể trực tiếp hoặc thuê người khác quản lý, điều hành hoạt động kinh doanh Trường hợp thuê người khác làm Giám đốc quản lý doanh nghiệp thì chủ doanh nghiệp tư nhân phải đăng ký với cơ quan đăng ký kinh doanh và vẫn phải chịu trách nhiệm về mọi hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.” Và ở khoản
4 cùng điều luật “Chủ doanh nghiệp tư nhân là đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp.”
+ Người đại diện theo pháp luật của pháp nhân do được thuê từ hợp đồng lao động giữa người này với pháp nhân
Ví dụ: có trường hợp Chủ tịch công ty hoặc Chủ tịch hội đồng quản trị hay Chủ tịch hội đồng thành viên không phải là người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp mà người đại diện theo pháp luật là giám đốc, trong khi người này không phải là chủ sở hữu của doanh nghiệp
- Theo quyết định thành lập pháp nhân của cơ quan nhà nước có thẩm quyền: người đại diện theo pháp luật do quyết định thành lập pháp nhân của cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định
Khi tham gia giao dịch dân sự người đại diện theo pháp luật của pháp nhân
sẽ nhân danh pháp nhân thực hiện các hành vi dân sự nhằm duy trì hoạt động của pháp nhân trong khuôn khổ và điều lệ quy định Như vậy, về nguyên tắc, người đại diện theo pháp luật của pháp nhân được xác lập thực hiện mọi giao dịch dân sự vì lợi ích của pháp nhân, tuy nhiên nguyên tắc này vẩn có ngoại lệ nếu pháp luật có quy định khác
Ví dụ: trường hợp người đại diện theo pháp luật của pháp nhân chỉ là người được pháp nhân thuê thông qua hợp đồng lao động, vậy khi này phạm vi, thẩm quyền đại diện của người đại diện theo pháp luật của pháp nhân không phải là vô hạn mà sẽ được hạn chế bởi hợp đồng lao động mà người này đã ký với doanh nghiệp Quyền hạn, nghĩa vụ của người đại diện theo pháp luật này có thể được ghi nhận trong văn bản pháp luật điều chỉnh về pháp nhân, trong quyết định thành lập pháp nhân hoặc điều lệ của pháp nhân Như vậy, mọi hành vi do người đại diện theo pháp luật của pháp nhân xác lập, thực hiện trong phạm vi, thẩm quyền đại diện làm phát sinh quyền, nghĩa vụ, trách nhiệm của pháp nhân Nhưng nếu hành vi
do người đại diện theo pháp luật của pháp nhân xác lập, thực hiện không có thẩm quyền hoặc vượt quá thẩm quyền đại diện thì chính bản thân người đại diện này phải tự chịu trách nhiệm theo quy định tại Điều 145, Điều 146 Bộ luật dân sự 2005
Trang 40về hậu quả của giao dịch dân sự do người không có thẩm quyền đại diện xác lập, thực hiện
Người đại diện theo pháp luật của pháp nhân phải là người có năng lực hành
vi dân sự đầy đủ Bên cạnh đó, tùy thuộc vào từng loại pháp nhân cụ thể mà người đại diện này còn phải thỏa điều kiện do pháp luật quy định về hoạt động của pháp nhân đó Các điều kiện này chủ yếu là về năng lực, trình độ chuyên môn…
Người đại diện theo pháp luật của pháp nhân trước tiên được quy định trong
Bộ luật dân sự 2005 sau đó đến luật chuyên ngành là Luật doanh nghiệp 2005 Luật doanh nghiệp năm 2005 đã xác định ai là người đại diện trong doanh nghiệp đối với từng loại doanh nghiệp Chủ thể làm đại diện theo pháp luật của các loại pháp nhân bao gồm:
- Chủ tịch hội đồng thành viên hoặc giám đốc hoặc tổng giám đốc là đại diện
theo pháp luật đối với công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên được quy định tại điều lệ của công ty, người đại diện theo pháp luật của công ty phải thường trú tại việt nam Quy định tại Điều 46 của Luật doanh nghiệp 2005
- Chủ tịch hội đồng thành viên hoặc chủ tịch công ty hoặc giám đốc hoặc tổng giám đốc là người đại diện theo pháp luật của công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên là tổ chức theo điều lệ của công ty được quy định tại khoản 5 Điều 67 Luật doanh nghiệp 2005
- Công ty cổ phần: chủ tịch hội đồng quản trị, giám đốc hoặc tổng giám đốc
là người đại diện theo pháp luật của công ty, được quy định tại điều lệ của công ty Quy định tại Điều 95 của Luật doanh nghiệp 2005
- Công ty hợp danh: các thành viên hợp danh có quyền đại diện theo pháp
luật và tổ chức điều hành hoạt động kinh doanh hàng ngày của công ty Quy định tại Điều 137 của Luật doanh nghiệp 2005
- Chủ doanh nghiệp tư nhân là người đại diện theo pháp luật đối với doanh nghiệp được quy định tại khoản 4 Điều 143 Luật doanh nghiệp 2005
* Chủ thể đại diện cho hộ gia đình:
Theo quy định tại khoản 5 Điều 141 Bộ luật dân sự 2005 thì chủ thể làm đại
diện của hộ gia đình là ”Chủ hộ gia đình đối với hộ gia đình”
Theo quy định tại khoản 1 Điều 107 Bộ luật dân sự 2005 ”Chủ hộ là đại diện
của hộ gia đình trong các giao dịch dân sự vì lợi ích chung của hộ Cha, mẹ hoặc một thành viên khác đã thành niên có thể là chủ hộ”
Qua quy định trên thì, chủ thể đại diện theo pháp luật cho hộ gia đình là chủ
hộ và người này được xác định gồm: cha, mẹ hoặc bất kỳ thành viên nào của hộ đã thành niên và với điều kiện người đại diện này phải thỏa mãn được điều kiện của