Có nhiều định nghĩa về chứng cứ của một số nước trên thế giới: Trong Bộ luật Tố tụng dân sự của Liên bang Nga có quy định: "Chứng cứ trong tố tụng dân sự là những sự thật khách quan và t
Trang 1Giảng viên hướng dẫn: Sinh viên thực hiện:
HUỲNH THỊ SINH HIỀN LƯ THÁI DUY
MSSV: 5095598 Lớp: Hành chính_K35
Cần Thơ, 11/2012
Trang 2LỜI NÓI ĐẦU
Chương 1 Error! Bookmark not defined
LÝ LUẬN CHUNG VỀ CHỨNG CỨ VÀ CHỨNG MINH TRONG TỐ
TỤNG DÂN SỰ Error! Bookmark not defined
1.1 KHÁI NIỆM VỀ TỐ TỤNG DÂN SỰ Error! Bookmark not defined
1.2 KHÁI NIỆM CHỨNG CỨ Error! Bookmark not defined
1.2.1 Định nghĩa về chứng cứ Error! Bookmark not defined
1.2.2 Đặc điểm của chứng cứ Error! Bookmark not defined
1.2.3 Phân loại chứng cứ Error! Bookmark not defined
1.2.4 Nguồn của chứng cứ Error! Bookmark not defined
1.3 KHÁI NIỆM VỀ CHỨNG MINH Error! Bookmark not defined
1.3.1 Thế nào là hoạt động chứng minh trong tố tụng dân sự Error! Bookmark not defined 1.3.2 Chủ thể của hoạt động chứng minh Error! Bookmark not defined
1.3.3 Quá trình chứng minh Error! Bookmark not defined
1.3.4 Đối tượng chứng minh trong tố tụng dân sự Error! Bookmark not defined
1.3.5 Các phương tiện chứng minh trong tố tụng dân sự Error! Bookmark not defined 1.4 MỘT SỐ NÉT VỀ LỊCH SỬ HÌNH THÀNH CÁC QUY ĐỊNH VÀ
CHỨNG MINH TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ VIỆT NAM Error! Bookmark not defined 1.4.1 Giai đoạn từ 1945 đến 1989 Error! Bookmark not defined
1.4.2 Giai đoạn từ 1990 đến 2004 Error! Bookmark not defined
1.4.3 Giai đoạn từ 2005 đến nay Error! Bookmark not defined
CỨ VÀ CHỨNG MINH Error! Bookmark not defined
2.1 QUYỀN VÀ NGHĨA VỤ CỦA ĐƯƠNG SỰ TRONG VIỆC CUNG
CẤP CHỨNG CỨ VÀ CHỨNG MINH Error! Bookmark not defined
2.1.1 Nghĩa vụ chứng minh và cung cấp chứng cứ Error! Bookmark not defined
2.1.2 Thu thập, giao nộp và bảo vệ chứng cứ Error! Bookmark not defined
2.2 TRÁCH NHIỆM CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN Error! Bookmark not defined
2.2.1 Xác định chứng cứ Error! Bookmark not defined
2.2.2 Thu thập chứng cứ Error! Bookmark not defined
2.2.3 Bảo quản chứng cứ Error! Bookmark not defined
2.2.4 Đánh giá chứng cứ Error! Bookmark not defined
2.2.5 Bảo vệ chứng cứ Error! Bookmark not defined
2.3 TRÁCH NHIỆM CỦA CÁ NHÂN, CƠ QUAN, TỔ CHỨC TRONG
VIỆC CUNG CẤP CHỨNG CỨ Error! Bookmark not defined
2.4 NHỮNG NGƯỜI THAM GIA TỐ TỤNG KHÁC Error! Bookmark not defined
Chương 3 THỰC TIỄN ÁP DỤNG VÀ PHƯƠNG HƯỚNG HOÀN
THIỆN CHẾ ĐỊNH CHỨNG CỨ VÀ CHỨNG MINH TRONG BỘ
LUẬT TỐ TỤNG DÂN SỰ Error! Bookmark not defined
3.1 THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ CHỨNG CỨ VÀ CHỨNG MINH
TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ Error! Bookmark not defined
3.1.1 Điểm mới Error! Bookmark not defined
Trang 3KẾT LUẬN
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 4MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Năm 1989 Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã ban hành Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án dân sự; tiếp đến năm 1994 ban hành Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế; năm 1996 ban hành Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án lao động Ba Pháp lệnh trên đã phần nào đáp ứng đòi hỏi bức thiết trong tố tụng phi hình sự và là cơ sở cho các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình Tuy vậy, các quy phạm pháp luật của ba pháp lệnh trên dần đã lộ rõ hạn chế, mâu thuẫn Đặc biệt, trong vấn đề chứng cứ và chứng minh không có quy phạm nào chuẩn hóa khái niệm chứng cứ và chứng minh, và không quy định đầy đủ về chế định này, điều đó gây khó khăn trong sử dụng, đánh giá chứng cứ làm ảnh hưởng không nhỏ trong việc giải quyết vụ án
Thực tiễn đặt ra cần phải có một Bộ luật Tố tụng dân sự hoàn thiện hơn, ngày 15 tháng 6 năm 2004 Quốc hội đã ban hành Bộ luật Tố tụng dân sự Việt Nam
Bộ luật có phạm vi điều chỉnh rất rộng, bao gồm nhiều quan hệ pháp luật tố tụng thuộc nhiều lĩnh vực nh- dân sự, hôn nhân, kinh tế, lao động và thi hành án
Từ khi Bộ luật Tố tụng dân sự bắt đầu có hiệu lực từ ngày 01 tháng 01 năm
2005 đến nay vấn đề chứng cứ và chứng minh trong tố tông dân sự vẫn còn nhiều quan điểm khác nhau cần phải sáng tỏ nh-:
Về lý luận: Đã có nhiều cách hiểu khác nhau thậm chí trái ngược nhau về
chứng cứ và chứng minh Bộ luật Tố tụng dân sự đã quy định tới 20 điều luật, từ Điều 79 đến Điều 98
Về thực tiễn: Trong công tác xét xử ở mỗi Tòa án, Viện kiểm sát, luật
sư có cách vận dụng khác nhau, đánh giá về nguồn và xác định chứng cứ và vấn
đề chứng minh còn khác nhau Điều đó đã dẫn đến cùng một vụ án, cùng một
Trang 5loại chứng cứ, có chung cơ sở chứng minh mà mỗi Tòa án lại xử một kiểu, mỗi Viện kiểm sát, Luật sư có quan điểm, nhìn nhận trái ngược nhau.
Từ thực trạng trên, với mong muốn nghiên cứu để làm sáng tỏ một cách đầy
đủ cả về lý luận và thực tiễn về chứng minh và chứng cứ trong các vụ việc dân sự,
người viết chọn đề tài: "Chứng cứ và chứng minh trong Bộ luật Tố tụng dân sự"
làm khóa luận tốt nghiệp của mình
2 Phạm vi nghiên cứu đề tài
Với phạm vi của một khóa luận cử nhân luật học tác giả chưa có đủ điều kiện nghiên cứu hết các vấn đề chứng cứ và chứng minh trong tất cả các vụ việc dân
sự theo phạm vi điều chỉnh của Bộ luật Tố tụng dân sự, vì vậy tác giả chỉ nghiên cứu chuyên sâu về chứng cứ và chứng minh trong phạm vi các vụ án dân sự truyền thống (dân sự và hôn nhân gia đình), còn trong các lĩnh vực khác tác giả hy vọng sẽ
có cơ hội thực hiện đầy đủ nội dung của chế định này trong các công trình nghiên cứu sau này
4 Phương pháp nghiên cứu đề tài
Khóa luận được nghiên cứu theo phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin và một số phương pháp cụ thể như: Lịch sử phân tích, so sánh, chứng minh, tổng hợp và phương pháp xã hội, phương pháp khảo sát thăm dò v.v
3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu đề tài
Nghiên cứu một cách có hệ thống toàn diện các vấn đề lý luận và thực tiễn của chứng cứ và chứng minh trong tố tụng dân sự Từ mục đích này, nhiệm vụ của luận văn là:
- Nghiên cứu đưa ra những vấn đề lý luận cơ bản nhất, giúp cho việc nhận thức một cách rõ nét về chứng cứ và chứng minh trong tố tụng dân sự
- Từ việc nghiên cứu những hạn chế, bất cập, vướng mắc trong thực tiễn đề xuất những kiến nghị trong việc hoàn thiện các quy định về chứng cứ
Trang 65 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm 3 chương, trong đó:
Chương 1 Lý luận chung về chứng minh và chứng cứ trong Tố tụng Dân sự Chương 2 Quy định của Bộ luậ Tố tung dân sự về chứng cứ và chứng minh Chương 3 Thực tiễn áp dụng và phương pháp hoàn thiện chế định chứng cứ
và chứng minh trong Tố tụng Dân sự
Trang 7Chương 1
LÝ LUẬN CHUNG VỀ CHỨNG CỨ VÀ CHỨNG MINH TRONG TỐ TỤNG
DÂN SỰ
1.1 KHÁI NIỆM VỀ TỐ TỤNG DÂN SỰ
Trình tự hoạt động do pháp luật quy định cho việc xem xét giải quyết vụ án
và thi hành án được giải thích là “tố tụng dân sự”(1)
Tuy nhiên, cần xem xét một cách chính xác hơn về cụm từ được sử dụng lâu đời và có nhiều tranh luận này mới
có thể đặt nền tảng nghiên cứu các vấn đề liên quan trong đó Được ghép từ danh
từ “tố tụng” là kiện thưa tại tòa án nói chung (2)
có gốc từ tiếng la tinh procedere có nghĩa là tiến bước, gợi nên một cách thức cần thiết phải thực hiện để đạt được mục
đích, “tố tụng” thường được sử dụng một cách lẫn lộn với danh từ “thủ tục” bởi
tính chất định trước buộc phải tuân theo trong một việc nhất định Mặc dù cũng
dùng để chỉ định một cách thức tiến hành bắt buộc nhưng danh từ “thủ tục” bao
hàm trong đó nghĩa rộng hơn trên nhiều mặt vượt ra ngoài nghĩa của trình tự giải quyết vụ việc tại tòa án (như thủ tục nhập học, thủ tục đi xuất khẩu lao động…) Tố tụng khác biệt với thủ tục ở chỗ nó được dùng một cách triệt để và chỉ xuất hiện ở trong các trình tự tại cơ quan tư pháp đồng thời gợi ra một cách nhìn nhận trong đó
có sự tranh tụng – mâu thẫn yêu cầu tài phán Trong một thời gian dài của quá trình phát triển, danh từ thủ tục đã được sử dụng thay cho danh từ tố tụng như: Thủ tục giải quyết vụ án dân sự, Thủ tục giải quyết vụ án kinh tế hay Thủ tục giải quyết các tranh chấp lao động… đã không thể hiện rõ được bản chất của hoạt động tư pháp
Bộ luật tố tụng dân sự 2004 đã sử dụng triệt để danh từ tố tụng và thống nhất các thủ tục giải quyết thành một trình tự tố tụng chung
(1) Từ điển luật học – NXB Tư Pháp, tr 785
(2) Đại từ điển tiếng Việt – NXB Văn Hoá Thông Tin, Nguyễn Như ý chủ biên tr 1606
Trang 8Danh từ “dân sự” – civil đôi khi được dùng tương đồng với danh từ prive –
lĩnh vực luật tư, bởi bản chất thỏa thuận, bình đẳng của các bên trong việc xác lập, thay đổi và chấm dứt các quyền và nghĩa vụ Theo quy định của Bộ luật TTDS về phạm vi giải quyết các tranh chấp tại Điều 1 thì các ngành luật nội dung có tranh chấp được giải quyết theo trình tự này bao gồm Luật dân sự, Luật hôn nhân và gia
đình, Luật thương mại, Luật lao động thì danh từ “dân sự” trong “tố tụng dân sự” đang được dùng như một bộ phận của lĩnh vực tư luật (bởi luật tư bao gồm
nhiều ngành luật khác như luật bảo hiểm xã hội…)
Chính bởi sự phức tạp trong cách định nghĩa và xác định chính xác thuật ngữ tố tụng dân sự mà đã có nhiều học giả đề nghị thay thế cụm từ này bằng một số cụm từ khác như: Luật tư pháp – vì liên quan đến lĩnh vực tư pháp, Tư luật – luật
điều chỉnh việc giải quyết việc “riêng tư” giữa các bên, Luật tư pháp dân sự – nhằm
phân biệt phạm vi của ngành luật này với tố tụng hành chính và tố tụng hình sự, Luật tư pháp tư hay Dân sự – tố tụng… đồng thời đưa ra một số các định nghĩa khác nhau về tố tụng dân sự (3)
Các cách định danh này đều có cơ sở nhất định nhưng chưa giải quyết được triệt để vấn đề, gây khó khăn cho cách tiếp cận của những nhà nghiên cứu pháp luật cũng như không rõ nghĩa
Việc sử dụng cụm từ tố tụng dân sự khi xây dựng Bộ luật Tố tụng dân sự
còn mang đến một thắc mắc từ phía các Đại biểu quốc hội bởi sự hoài nghi luật “ba trong một” liệu có đáp ứng được yêu cầu hay không khi đối tượng điều chỉnh rộng
trong hoàn cảnh các tòa án vẫn được chia thành tòa dân sự, tòa kinh tế, tòa lao động
sẽ dễ gây nhầm lẫn khi các tòa kinh tế, lao động lại áp dụng theo thủ tục tố tụng dân
(3) Theo Pothier thì “Tố tụng là hình thức phải theo để đệ đơn kiện, kháng biện, can thiệp, cứu xét, phán xử thượng khống và thi hành án văn” hay như G.S Solus thì “Dân Sự Tố Tụng bao gồm những định lệ chi phối việc tổ chức và điều hành công lý, đặt ra để đảm bảo cho tư nhân các sự chế tài và tôn trọng quyền lợi trong
tư luật” – xem Nguyễn Huy Đẩu – Luật dân sự tố tụng Việt Nam (1962), NXB Khai Trí xuất bản dưới sự
bảo trợ của Bộ Tư Pháp tr5 – 6
Trang 9sự? Tuy nhiên, có thể thấy việc sử dụng cụm từ tố tụng dân sự là sát nghĩa và có tính chất triệt để hơn cả trong giai đoạn hiện nay Bởi 3 nguyên nhân:
Thứ nhất, hệ thống pháp luật Việt Nam không phân chia thành công pháp –
tư pháp như một số nước trên thế giới mà đây chỉ là vấn đề lý luận của những nhà nghiên cứu pháp luật Định nghĩa dựa trên sự thừa nhận không chính thức sẽ gây khó khăn cho việc tiếp cận một ngành luật thực định của đông đảo quần chúng Vì vậy, cần thiết phải định nghĩa rõ ràng dựa trên sự thừa nhận chính thức về vị trí và vai trò của ngành luật trong hệ thống pháp luật
Thứ hai, việc định nghĩa với cụm từ “tố tụng dân sự” một mặt phản ánh được tính chất“nệ thức” – phụ thuộc yếu tố hình thức, thủ tục trong hoạt động giải
quyết vụ việc dân sự bảo đảm hạn chế tính độc đoán của các thẩm phán cũng như giúp các chủ thể tham gia có thể bảo vệ được mình thông qua những quy định mang tính chất thủ tục Mặt khác phản ánh được đối tượng điều chỉnh về mặt nội dung của ngành luật hình thức tổng hợp này là các ngành luật mang yếu tố “riêng tư” giữa các bên không có sự tham gia của nhà nước ở một bên chủ thể tranh chấp và gợi được tính tranh tụng, đối lập một cách bình đẳng giữa các bên đương sự
Thứ ba, hiệu quả mang lại từ tố tụng không phải là ở việc tạo ra nhiều thủ
tục khác nhau mà nằm ở việc giải quyết nhanh chóng, chính xác, khách quan vụ việc, giảm thiểu được gánh nặng về cơ cấu, tổ chức cũng như trong cách thức áp dụng pháp luật Khi các đối tượng điều chỉnh là thống nhất về mặt bản chất thì có thể quy nạp chúng về một thủ tục chung để giải quyết không cần thiết phải có nhiều thủ tục khác nhau Hiệu quả của tố tụng dân sự trong những năm qua đã minh chứng cụ thể cho điều đó
Như vây, tố tụng dân sự có thể được hiểu dưới góc độ pháp lý là một ngành luật tố tụng cụ thể còn dưới góc độ thực tiễn là những hình thức thực tiễn do các chủ thể tham gia vào quá trình tố tụng tiến hành
Dưới góc độ pháp lý:
(4) Đại biểu Lê Văn Tâm, Lê Xuân Thân, Lê Thị Nga, Nguyễn Đình Lộc… trong buổi làm việc tại hội trường của Quốc Hội khóa XI ngày 19/ 11/ 2003
Trang 10Tố tụng dân sự là tổng hợp các quy phạm pháp luật do nhà nước ban
hành điều chỉnh các mối quan hệ phát sinh trong quá trình giải quyết vụ việc về dân sự, hôn nhân gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động tại tòa án đảm bảo
sự nhanh chóng, chính xác trong quá trình giải quyết và thi hành án, đặt ra các chế tài bảo vệ quyền lợi của nhà nước, của công dân
Dưới góc độ thực tiễn:
Tố tụng dân sự là một quy trình, thủ tục do pháp luật quy định buộc mọi chủ thể tiến hành và tham gia tố tụng phải tuân theo nhằm giải quyết nhanh chóng, chính xác vụ án dân sự và thi hành án, bảo vệ quyền lợi của nhà nước và của công dân
Nhiều học giả trên thế giới đã nhìn nhận tố tụng dân sự như là “nô tì”, là
“khúc ruột thừa”, là luật “yểm trợ” cho luật hình thức… các cách nhìn nhận này là sai lầm và không đánh giá được vai trò quan trọng của luật tố tụng Bởi lẽ, pháp luật được đặt ra không phải chỉ để cho các bên xác lập các quyền và nghĩa vụ một cách chung chung mà còn đặt ra những chế định nhằm đảm bảo cho các quyền đó thành thực tế Khi lợi ích của một bên bị tổn thương cũng là lúc họ cầu cứu đến vai trò của nhà nước Nhà nước với vị trí trung lập, thông qua thủ tục tố tụng xác định một cách
rõ ràng quyền lợi, nghĩa vụ của các bên và đảm bảo thực hiện trên thực tế Hay nói
cách khác, luật tố tụng đảm bảo quyền lợi của các bên ở thế “động” – có phát sinh tranh chấp (khác với quyền lợi ở thể“tĩnh” – được các bên xác lập tôn trọng thực
hiện) Nói chung, luật nội dung và luật tố tụng là hai mặt không thể tách rời để chủ thể đảm bảo được quyền lợi hợp pháp của mình
1.2 KHÁI NIỆM CHỨNG CỨ
1.2.1 Định nghĩa về chứng cứ
Chứng cứ là vấn đề trung tâm và quan trọng của tố tụng dân sự Có thể nói, mọi hoạt động trong quá trình chứng minh chủ yếu xoay quanh vấn đề chứng cứ, mọi giai đoạn của tố tụng dân sự mở ra, kết thúc và kết quả đều phụ thuộc phần lớn vào chứng cứ Có thể nói, chứng cứ là phần quan trọng, lớn nhất để chứng minh vụ
Trang 11việc dân sự Dựa vào chứng cứ mà các đương sự có cơ sở xác đáng chứng minh bảo
vệ quyền lợi hợp pháp của mình; các cơ quan tiến hành tố tụng có đủ hay không đủ điều kiện để xác định tình tiết của vụ việc dân sự đúng, đủ, chính xác để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho công dân và bảo vệ pháp luật Vì vậy, việc nhận định chứng cứ có vai trò quan trọng nhất trong hoạt động chứng minh của tố tụng dân sự,
từ đó giúp việc nhận thức đúng đắn về hoạt động thực tiễn
Cơ sở về lý luận: Quan điểm vật chất sinh ra không bao giờ mất đi, mà nó chỉ chuyển hóa từ dạng này sang dạng khác và mọi sự vật, hiện tượng có mối liên
hệ phổ biến Từ đó, các tài liệu, sự kiện, hiện vật được coi là chứng cứ cũng là một dạng vật chất, nó phản ánh vào đầu óc con người và lưu lại trong đầu óc, trí nhớ
Do vậy, nếu đương sự muốn chứng minh quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị xâm hại, phải cung cấp cho Tòa án và các cơ quan tiến hành tố tụng có thẩm quyền những chứng cứ mà Bộ luật Tố tụng dân sự coi đó là một trong các nguồn của chứng cứ Để làm rõ sự thật khách quan khi thô lý vụ việc dân sự, Tòa án phải làm sáng tỏ những tình tiết liên quan đến vụ kiện như: Việc xác lập quyền, nghĩa vụ dân sự trên cơ sở nào? Các đương sự đã cung cấp được các chứng cứ gì?
Và có khả năng thu thập thêm được một số chứng cứ gì khác? Từ đó, Tòa án sẽ tiếp nhận vụ việc và thực hiện tất cả các biện pháp để nhằm thu thập đầy đủ, toàn diện, chính xác, đúng đắn các loại nguồn của chứng cứ mà pháp luật có quy định để có cơ
sở giải quyết khách quan, đúng đắn vụ việc dân sự
Có nhiều định nghĩa về chứng cứ của một số nước trên thế giới: Trong Bộ luật Tố tụng dân sự của Liên bang Nga có quy định: "Chứng cứ trong tố tụng dân sự
là những sự thật khách quan và theo đó mà Tòa án có cơ sở để Tòa án giải quyết vô
án dân sự"; hay Bộ luật Tố tụng dân sự Nhật Bản định nghĩa: "Chứng cứ là một tư liệu thông qua đó một tình tiết được Tòa án công nhận và là một tư liệu, cơ sở thông qua đó Tòa án được thuyết phục là một tình tiết nhất định tồn tại hay không"
Trang 12Về nội hàm của khái niệm một số nước trên tựu chung là khẳng định: Chứng cứ là sự thật khách quan.
Ở Việt Nam, khái niệm chứng cứ được xây dựng dùa trên cơ sở tiếp thu có chọn lọc những quan điểm khoa học về chứng cứ trong pháp luật tố tụng dân sự ở các nước, đó là xuất phát từ thực tế khách quan của bản thân chứng cứ không lệ thuộc vào ý thức con người; đánh giá chứng cứ trong mối liên hệ biện chứng, mỗi chứng cứ đều có nguồn gốc dẫn đến sự hình thành nên nó, sự tồn tại của chứng cứ luôn ở dạng động, liên quan đến nhau Từ đó Bộ luật Tố tụng dân sự Việt Nam định nghĩa về chứng cứ như sau:
Chứng cứ trong vụ việc dân sự là những gì có thật được đương
sự và cá nhân, cơ quan, tổ chức khác giao nộp cho Tòa án hoặc do Tòa
án thu thập được theo trình tự thục tục do Bộ luật này quy định mà Tòa
án dùng làm căn cứ để xác định yêu cầu hay sự phản đối của đương sự là
có căn cứ và hợp pháp hay không cũng như những tình tiết khác cần thiết cho việc giải quyết đúng đắn vụ việc dân sự (Điều 81 Bộ luật Tố tụng dân sự)
Có thể hiểu chung: chứng cứ là những gì có thật được thu thập theo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự dùng để làm căn cứ giải quyết đúng đắn vụ án
Định nghĩa chứng cứ (tại Điều 81) Bộ luật Tố tụng dân sự nhìn nhận dưới góc độ khoa học pháp lý thì khái niệm này cần được xem xét kỹ hơn Qua thực tiễn xét xử và các loại chứng cứ được quy định tại Điều 82 Bộ luật Tố tụng dân sự, theo tác giả có một số quan điểm sau:
Cụm từ "những gì có thật" chưa thực sự chính xác, đầy đủ và khoa học Cụm từ này trừu tượng khó hiểu, nghĩa dân dã trong câu từ; thuật ngữ pháp lý đòi hỏi trong sáng, minh bạch, chuẩn xác và hàn lâm Trước đó, đã có quan điểm góp
ý dự thảo Bộ luật Tố tụng dân sự cho rằng nên dùng cụm từ "những tin tức có thật" Có thể cụm từ này sẽ làm cho định nghĩa về chứng cứ cụ thể hơn, sát với
Trang 13thực tế cuộc sống hơn Nó giúp cho các chủ thể nhận thức về chứng cứ dễ dàng hơn vì chứng cứ là những cái có thể xác định được, nghe được, nhìn được, thậm chí chiếm giữ được trên thực tế Tóm lại, dù tồn tại dưới dạng vật hay vật có giá trị mang tin thì nó đều tồn tại dưới dạng vật chất cụ thể, tựu chung nó mang một thông tin, một số thông tin khách quan có thật.
Việc quy định " do Tòa án thu thập được theo trình tự thủ tục do Bộ luật này quy dịnh mà Tòa án dùng làm căn cứ để xác định yêu cầu hay phản đối của đương sự ", quy định này còn bỏ sót chủ thể
Việc quy định phần sau " cũng như những tình tiết khác cần thiết cho việc giải quyết đúng đắn sự vụ việc dân sự" Quy định này tạo nên sự rời rạc của định nghĩa Khái niệm hoàn chỉnh phải tuân thủ đủ ba đặc điểm cơ bản: phản ánh toàn diện về đối tượng; phản ánh tương đối chính xác về đối tượng; là sự hiểu biết tương đối có hệ thống về đối tượng
Trên lập trường, quan điểm thế giới quan duy vật, xem xét chứng cứ xuất
phát từ thực tế khách quan của chính bản thân nó chứ không lệ thuộc vào ý thức của con người
Trong mối liên hệ biện chứng, nhìn nhận và xem xét chứng cứ trong sự vận
động, phát triển và toàn diện Trong thế giới khách quan, mỗi chứng cứ đều có nguồn gốc, có nguyên nhân dẫn đến hình thành ra nó Sự tồn tại của chứng cứ không ở dạng tĩnh lặng, bất động, riêng lẻ mà chúng có sự liên quan lẫn nhau
Từ những ý kiến bình luận trên, tác giả xin đưa ra định nghĩa như sau:
Chứng cứ trong vụ việc dân sự là những sự kiện, tình tiết, tin tức phản ánh sự thật khách quan do đương sự, người bảo vệ quyền lợi của đương sự, cá nhân, cơ quan, tổ chức, người tham gia tố tụng giao nép hoặc Tòa án thu thập theo trình tự, thủ tục Bộ luật này quy định mà Tòa án dùa vào đó để giải quyết đúng đắn vụ việc dân sự.
1.2.2 Đặc điểm của chứng cứ
Trang 141.2.2.1 Tính khách quan của chứng cứ
Chứng cứ trước hết là những gì có thật tồn tại khách quan không phụ thuộc vào ý thức chủ quan của con người Đương sù và các cơ quan tiến hành tố tụng không được tạo ra chứng cứ, nếu vậy tính khách quan sẽ không còn; do đó không thể coi là chứng cứ Con người phát hiện tìm kiếm và thu thập chứng cứ, con người nghiên cứu và đánh giá để sử dụng nó
1.2.2.2 Tính liên quan của chứng cứ
Tính liên quan: Theo Từ điển tiếng Việt, Nhà xuất bản Giáo dục, 1998:
"Tính liên quan là sự liên hệ, dính dáng nhau ở một hay một số tính chất"(4)
Tính liên quan trong vụ việc dân sự được hiểu là các tình tiết, sự kiện có liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp tới vụ việc dân sự mà Tòa án đâng giải quyết.
Chứng cứ là những sự kiện, tình tiết, tài liệu tồn tại khách quan và có liên quan đến vụ việc mà Tòa án cần giải quyết Bộ luật Tố tụng dân sự Việt Nam quy định cụ thể các loại nguồn của chứng cứ, tuy nhiên Tòa án phải chọn lọc và đánh giá những gì có thật liên quan đến vụ việc mà thôi Tính liên quan của chứng cứ có thể là trực tiếp hoặc gián tiếp Mối quan hệ trực tiếp là mối quan hệ dựa vào đó có thể xác định được ngay những tình tiết, theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự xem đây là tình tiết, sự kiện không cần phải chứng minh Mối liên hệ gián tiếp là qua khâu trung gian mới tìm được tình tiết, sự kiện Tuy nhiên, cho dù là trực tiếp hay gián tiếp thì cũng phải có mối quan hệ nội tại, có mối quan hệ nhân quả Từ việc đánh giá rõ tình tiết liên quan, Tòa án có thể xác định đúng chứng cứ cần sử dụng để giải quyết đúng đắn vụ việc dân sự mà không để xảy ra trường hợp thừa, hoặc không đầy đủ chứng cứ
1.2.2.3 Tính hợp pháp của chứng cứ
Các tình tiết, sự kiện phải được thu thập, bảo quản, xem xét, đánh giá, nghiên cứu theo thủ tục luật định, có như vậy mới bảo đảm giá trị của chứng cứ
Trang 15Trước hết, chứng cứ phải được pháp luật thừa nhận, các tình tiết, sù kiện chỉ được coi là chứng cứ khi mà pháp luật dân sự quy định nó là một trong các loại nguồn của chứng cứ Vật chứng phải luôn là vật gốc có tính đặc định, liên quan đến vụ việc dân sự thì mới có giá trị pháp lý, nếu sao chép, tái hiện lại vật chứng thì không được coi là vật chứng Vì vậy, Tòa án không chỉ thu thập đúng trình tự mà phải bảo quản, giữ gìn, đánh giá chứng cứ một cách đầy đủ, toàn diện để đảm bảo đúng đắn tính hợp pháp của chứng cứ.
- Phải được công bố công khai theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự
- Phải được thu thập, cung cấp đúng pháp luật tố tụng dân sự
1.2.3 Phân loại chứng cứ
Trên thực tế, chứng cứ thường được phân thành các loại khác nhau Những tình tiết, sự kiện tồn tại trong thế giới vật chất chung quy lại tồn tại dưới hai dạng sau:
- Các dấu vết phi vật chất liên quan đến các tình tiết, sự kiện của vụ việc dân sự được phản ánh vào đầu óc con người, từ đó con người ghi lại, chụp lại và phản ánh có ý thức lại chính nó
- Các dấu vết, vật chứng là vật chất
Trang 16Dựa vào hai dạng cơ bản trên mà có các cách gọi khác nhau như: chứng cứ gián tiếp, chứng cứ thuật lại, chứng cứ gốc, chứng cứ miệng, chứng cứ phủ định, chứng
cứ khẳng định, chứng cứ viết ; nhưng dù có gọi như thế nào thì cũng không làm thay đổi giá trị của nó Việc phân loại có giá trị trong việc nghiên cứu và ban hành các quy định về chứng cứ để giải quyết vụ việc dân sự có hệ thống và minh bạch
- Chứng cứ theo người: Là chứng cứ được rót ra từ lời khai của đương sự, người làm chứng
- Chứng cứ theo vật: Là chứng cứ được rót ra từ những vật như vật chứng, tài liệu, giấy tờ
Theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự thì nguồn của chứng cứ bao gồm:
"Các tài liệu đọc được, nghe được, nhìn được; các vật chứng; lời khai của đương sự, lời khai của người làm chứng; kết luận giám định; biên bản ghi kết quả thẩm định tại chỗ; tập quán; kết quả định giá tài sản, thẩm định giá tài sản; các nguồn khác mà pháp luật
có quy định" (Điều 82 Bộ luật Tố tụng dân sự) Có thể hiểu nguồn của chứng cứ là nơi chứa đựng chứng cứ Nó tồn tại hai loại nguồn chủ yếu là nguồn vật và tài liệu Nguồn chứng cứ và phương tiện chứng minh là hai khái niệm khác nhau; nhưng thực tế là thường được hiểu chung Vì một số trường hợp các phương tiện chứng minh cũng chính là cái có thể rót ra các tin tức và vụ việc dân sự như vật chứng, tài liệu chứa đựng chứng cứ tức cũng là nguồn của chứng cứ
Tòa án chỉ có thể thu thập các nguồn chứng cứ, từ đó rót ra các chứng cứ Bất kỳ loại chứng cứ nào cũng phải nằm trong một loại nguồn chứng cứ nhất định; nhưng không có nghĩa là khi thu thập một nguồn chứng cứ nào đó thì nhất định
Trang 17trong đó sẽ chứa đựng chứng cứ, vì vậy sẽ phạm sai lầm trong đánh giá, sử dụng Ví
dụ, vật chứng đương sự cung cấp cho Tòa án là nguồn nhưng là vật chứng được đương sự làm giả, gian dối thì không thể coi vật chứng này là nguồn được; hay kết luận giám định là nguồn chứng cứ nhưng kết luận giám định sai thì không thể coi là nguồn của chứng cứ được
Theo pháp luật Việt Nam ban hành, có các loại nguồn cụ thể:
- Các tài liệu đọc được, nghe được, nhìn được
Các tài liệu đó phải là bản chính hoặc bản sao có công chứng, chứng thực hợp pháp hoặc do tổ chức có thẩm quyền cung cấp, xác nhận Bản chính có thể là bản gốc hoặc bản được dùng làm cơ sở lập ra các bản sao Các tài liệu nghe được, nhìn được phải xuất trình kèm theo văn bản xác định xuất xứ của tài liệu đó hoặc văn bản và sự liên quan tới cuộc thu âm, thu hình đó Các tài liệu này có thể là băng ghi âm, đĩa ghi hình, phim ảnh Nếu đương sự không xuất trình được các văn bản nêu trên thì tài liệu nghe, đọc, nhìn được mà đương sự giao nép không thể được coi
là chứng cứ
- Các vật chứng
Vật chứng phải là hiện vật gốc liên quan đến vụ việc dân sự, nếu không phải là hiện vật gốc nhưng phải là chứng cứ trong vụ việc dân sự đó Do vậy, vật chứng phải luôn có tính đặc định liên quan đến vụ việc dân sự thì mới có giá trị pháp lý Vì vậy, Tòa án không chỉ thu thập vật chứng theo trình tự luật định mà phải bảo quản, giữ gìn để bảo đảm giá trị đặc tính của vật chứng Nếu đương sự cung cấp vật chứng, Thẩm phán phải lập biên bản miêu tả chi tiết hình thức cũng như đặc tính
lý hóa của sự vật, đặc biệt dấu vết thể hiện trên vật chứng đó Đối với vật không thể
di chuyển được thì phải xem xét tại chỗ; vật mẫu hàng phải xem xét kịp thời và phản ánh đầy đủ trong quá trình xem xét như ghi biên bản, chụp hình, ghi hình để lưu
- Lời khai của đương sự
Trang 18Đương sự là người có quyền và lợi ích gắn liền với vụ việc dân sự, họ tham gia trực tiếp vào quan hệ pháp luật đang có tranh chấp hay giải quyết của mình tại Tòa án Lời khai của đương sự dựa trên trí nhớ và sự kiện, tình tiết nên thường mang tính chủ quan Tâm lý trong lời khai của đương sự thường thiên về bảo vệ cái quyền lợi cá nhân, nên xem xét yếu tố này để Tòa án thận trọng khi đánh giá.
Lời khai của đương sự có thể bằng văn bản hay ghi âm, ghi hình theo đúng trình tự và ký tên của mình Lưu ý tuổi của đương sự khi lấy lời khai
- Lời khai của người làm chứng
Người làm chứng là người biết rõ những thông tin liên quan đến vụ kiện nhưng lại không có quyền lợi trong việc việc đó, vì vậy lời khai của người làm chứng thường thể hiện yếu tố khách quan hơn Có thể do một số yếu tố nào đó như
bị dụ dỗ, bị mua chuộc, bị đe dọa, hành hung mà đưa ra những lời khai sai lệch, thiếu chính xác Lời khai của người làm chứng theo quy định phải được ghi bằng văn bản hoặc ghi âm, ghi hình, nhưng phải ký tên xác nhận Người làm chứng phải
đủ 18 tuổi, có đủ năng lực hành vi dân sự; nếu bị hạn chế hoặc mất năng lực hành vi dân sự phải có người đại diện
- Kết luật giám định
Trong quá trình giải quyết vụ việc dân sự, nếu cần sự kết luận của cơ quan chuyên môn để làm sáng tỏ một tình tiết, sự kiện nào đó Theo yêu cầu của một bên đương sự hoặc theo thỏa thuận của các bên đương sự, Thẩm phán ra quyết định trưng cầu giám định Kết luận giám định chính xác có tầm quan trọng rất lớn, thậm chí có nhiều vụ kiện có thể quyết định toàn bộ vụ án Ví dụ, vụ kiện tranh chấp về thừa kế Bản di chúc bị tố cáo là giả mạo, nếu xác định của cơ quan giám định tư pháp là giả hay không, nó quyết định toàn bộ vụ án Bởi vậy, các kết luận giám định
có thể được giám định lại, giám định bổ sung ở các cơ quan có chức năng giám định khác
- Biên bản ghi kết quả thẩm định tại chỗ
Trang 19Kết quả xem xét thẩm định tại chỗ, nếu việc thẩm định được tiến hành theo đúng thủ tục do pháp luật quy định và phải có chữ ký của các thành viên tham gia thẩm định Cụ thể, Tòa án đến tận nơi có sự việc để làm việc cùng có đại diện của
cơ quan sở tại có thẩm quyền Tòa án phải báo cho đương sự biết trước để họ chứng kiến việc xem xét, thẩm định
- Tập quán là nguồn của chứng cứ
Tập quán là thói quen đã thành nếp trong đời sống xã hội, trong sản xuất và được công chúng thừa nhận Đối với một tập quán được coi là chứng cứ trong một
vụ án cụ thể thì Thẩm phán phải yêu cầu đương sự trình bày rõ nguồn gốc của tập quán đó và chứng minh tập quán đó bằng cách ghi nhận nó bằng văn bản thể hiện việc cả cộng đồng dân cư nơi có tập quán đó thừa nhận, như xác nhận vào văn bản
cả cộng đồng dân cư và được chứng thực cũng như xác nhận của Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có tập quán đó được thừa nhận
Thực chất, phong tục, tập quán chỉ là cơ sở để đánh giá chứng cứ Bởi lẽ, nó không có giới hạn cụ thể, rạch ròi, ở một mức độ nào đó nó có tính ước lệ và suy đoán
Ví dụ, ở một cộng đồng dân cư, tính cục bộ tại địa phương đó dẫn đến vì giúp cho một
cá nhân nào đó mà cộng đồng dân cư có thể ký và xác thực vào văn bản mà việc này vẫn không trái với đạo đức xã hội Tóm lại, về cơ bản, tập quán không được trái với các nguyên tắc của pháp luật và đạo đức xã hội và đương nhiên tập quán đó chưa được khái quát để cụ thể hóa trong luật
- Kết quả định giá tài sản, thẩm định giá tài sản
Định giá và thẩm định giá có vai trò quan trọng trong việc giải quyết vụ án Định giá và thẩm định có thể do đương sự yêu cầu, hay tự Tòa án nhận thấy cần thiết
Kết quả định giá và thẩm định là nguồn của chứng cứ nên việc định giá do Hội đồng định giá được lập thành văn bản và thực hiện theo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự
Trang 20Khi định giá và thẩm định tài sản, Hội đồng định giá và thẩm định tiến hành riêng trên từng tài sản Để xác định đúng giá trị tài sản của vụ việc dân sự phải căn
cứ vào mức phố biến giá cả thị trường địa phương tại thời điểm định giá mà có vật, tài sản cần định giá
1.3 KHÁI NIỆM VỀ CHỨNG MINH
1.3.1 Thế nào là hoạt động chứng minh trong tố tụng dân sự
Theo Từ điển tiếng Việt, Nhà xuất bản Giáo dục, 1998, trang 178: "Chứng minh là dùng lý lẽ, suy luận, bằng cứ để chỉ rõ điều gì đó đúng hay không đúng".(5)
Từ điển tiếng Việt, Nhà xuất bản Đà Nẵng, 2003, tr 192 ghi: "Chứng minh
là làm cho thấy rõ là có thật, là đúng bằng sự việc hoặc bằng lý lẽ".(6)
Mỗi vụ việc dân sự phát sinh tại Tòa án thường chứa đựng những mâu thuẫn nhất định giữa các bên đương sự nên rất phực tạp Để giải quyết được vụ việc dân sự thì mọi vấn đề của vụ việc dân sự dù ai nêu ra cũng phải được làm rõ trước khi Tòa án quyết định giải quyết vụ việc dân sự Vú dụ, trong vụ án thừa kế yêu cầu chia di sản theo di chúc thì làm rõ có di chúc không? Người viết di chúc đã chết chưa? Di chúc có hợp pháp hay không?
Chứng minh là hoạt động chi phối kết quả giải quyết vụ việc dân sự của Tòa án nên có nội hàm rất rộng Bản chất của hoạt động chứng minh của các chủ thể tố tụng không chỉ thể hiện ở chỗ xác định các tình tiết, sự kiện của vô việc dân
sự mà còn thể hiện ở chỗ phải làm cho mọi người thấy rõ là có thật, là đúng với thực tế Do đó, các phương thức được các chủ thể chứng minh sử dụng để chứng minh rất đa dạng Nhưng để thực hiện được mục đích, nhiệm vụ của chứng minh, các chủ thể chứng minh bao giờ cũng phải chỉ ra được tất cả các căn cứ pháp lý và thực tiễn liên quan đến vụ việc dân sự
Theo Từ điển tiếng Việt, Nhà xuất bản Giáo dục, 1998, trang 178
Từ điển tiếng Việt, Nhà xuất bản Đà Nẵng, 2003, tr 192
Trang 21Quá trình chứng minh được diễn ra suốt trong quá trình giải quyết vụ việc dân sự Hoạt động chứng minh trong quá trình Tòa án giải quyết vụ việc dân sự bao gồm nhiều hoạt động khác nhau của các chủ thể tố tụng Trong đó, hoạt động cung cấp, thu thập, nghiên cứu và đánh giá chứng cứ tại phiên tòa của các chủ thể là chủ yếu và mang tính quyết định:
- Cung cấp chúng cứ: Là nghĩa vụ chủ yếu là do đương sự giao nộp cho Tòa
án, đương sự muốn làm rõ được yêu cầu hay phản đối yêu cầu của họ là có căn cứ hợp pháp thì trách nhiệm của họ là phải cung cấp, giao nộp chứng cứ cho Tòa án để chứng minh
Việc cung cấp chứng cứ còn có thể do cá nhân, cơ quan, tổ chức cung cấp
- Thu thập chứng cứ là trách nhiệm của các đương sự, hoặc một số trường hợp Tòa án thu thập Việc thu thập, cung cấp và giao nộp chứng cứ để chứng minh trong giải quyết vụ việc dân sự phải đúng hạn, nhanh chóng và kịp thời
- Nghiên cứu và đánh giá là giai đoạn cuối cùng của hoạt động chứng minh
Nó là một quá trình lôgíc nhằm xác định giá trị chứng minh và sự phù hợp của các chứng cứ - sự phù hợp của chứng cứ ở đây là sự phù hợp giữa những tình tiết, sự kiện đã thu thập được với thực tế khách quan Thông qua nghiên cứu và đánh giá chứng cứ, Tòa án hình thành các đối tượng chứng minh và sắp xếp các sự kiện theo một trình tự nhất định Việc suy đoán chứng cứ có thể được sử dụng trong quá trình đánh giá chứng cứ, nhưng việc suy đoán này phải dựa trên các chứng cứ khác hoặc trên tổng thể các chứng cứ có trong hồ sơ chứ không được theo nhận thức chủ quan của người đánh giá
Chứng minh trong tố tụng dân sự có ý nghĩa làm rõ, xác định các sự kiện, tình tiết của vụ việc dân sự, đảm bảo việc giải quyết đúng đắn vụ việc dân sự Chứng minh là biện pháp duy nhất để xác định các sự kiện, tình tiết của vụ việc dân sự
Trang 22Thông qua hoạt động chứng minh, Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân và các chủ thể khác thấy rõ các tình tiết, sự kiện của vụ việc dân sự được giải quyết Đối với các đương sự, chứng minh là vấn đề rất quan trọng để các đương sự làm rõ quyền, lợi ích hợp pháp của họ, trên cơ sở đó thuyết phục Tòa bảo vệ Trước Tòa
án, nếu đương sự không chứng minh được sự tồn tại quyền, lợi ích hợp pháp của họ thì quyền và lợi ích hợp pháp của họ có thể sẽ không được Tòa án bảo vệ Trên thực
tế, Tòa án có thể sai lầm trong việc xác định, đánh giá chứng cứ, không làm sáng tỏ được các tình tiết, sự kiện của vụ việc dân sự Điều đó dẫn đếu việc giải quyết vụ việc dân sự không đúng với sự thật và làm cho đương sự không được bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của họ Chứng minh không chỉ có ý nghĩa đối với việc giải quyết đúng đắn vụ việc dân sự của Tòa án, mà còn có ý nghĩa bảo đảm cho đương sự bảo
vệ được quyền, lợi ích hợp pháp của mình
Để giải quyết bất kỳ một vụ việc dân sự thì đều được phải làm rõ những sự việc, tình tiết về cơ bản trước khi Tòa án tiến hành giải quyết Mà thực chất của hoạt động chứng minh phần lớn bao gồm việc cung cấp chứng cứ của đương sự và việc Tòa án xem xét toàn bộ hệ thống văn bản, tài liệu liên quan được áp dụng nhằm có
cơ sở giải quyết vụ việc, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho công dân và của Nhà nước
Hoạt động chứng minh trong tố tụng dân sự là hoạt động tố tụng của các chủ thể theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự mà theo đó việc làm rõ các sự kiện, tình tiết của vụ việc là cần thiết; trong đó còn bao gồm cả hoạt động áp dụng luật của Tòa án đối với vụ việc dân sự cô thể cần giải quyết.
1.3.2 Chủ thể của hoạt động chứng minh
Chứng minh làm rõ các sự kiện, tình tiết của vụ việc dân sự để giải quyết đúng đắn vụ việc dân sự Nhưng ở đây phải xác định ai thực hiện việc chứng minh? Nói rõ hơn, ai là người đứng ra để nghiên cứu, thu thập, giao nộp, đánh giá chứng
cứ trong quá trình giải quyết vụ việc dân sự?
Trang 23Trong tố tụng dân sự, đương sự tham gia tố tụng là chủ thể trung tâm Tuy vậy, chứng minh không chỉ giới hạn ở việc xác định chứng cứ, chứng minh cho yêu cầu hay phản đối yêu cầu của đương sự mà còn phải làm rõ được tất cả các vấn đề liên quan đến vụ việc dân sự Tòa án có nhiệm vụ giải quyết Khi đưa ra yêu cầu, đương sự không chỉ phải đưa ra những tình tiết, sự kiện dựa vào đó mà họ yêu cầu,
mà còn đưa ra cả những căn cứ pháp lý của các yêu cầu Khi quyết định giải quyết
vụ việc dân sự, trong bản án, quyết định giải quyết vụ việc dân sự của mình Tòa án cũng phải chỉ rõ quyết định được dựa trên những căn cứ thực tế và căn cứ pháp lý nào
Vấn đề xác định rõ chủ thể chứng minh, quyền và nghĩa vụ của họ như thế nào? Vì mỗi chủ thể tham gia tố tụng dân sự đều xuất phát từ những mục đích, nhiệm vụ khác nhau nên quyền và nghĩa vụ của họ cũng khác nhau Trong đó, xác định nghĩa vụ chứng minh của đương sự, người đại diện của đương sự, người bảo
vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự và Tòa án trong việc làm rõ các tình tiết,
sự kiện của vụ án dân sự
Chủ thể chứng minh trong tố tụng dân sự gồm đương sự, ngưòi đại diện cho đương sự, người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho đương sự, cá nhân, cơ quan, tổ chức khác và Tòa án Trong đó, đương sự có vai trò chủ yếu để chứng minh cho yêu cầu hay phản đối yêu cầu của mình theo trình tự thủ tục quy định trong Bộ luật Tố tụng dân sự.
Theo quy định tại các điều 06, 58, 63 64, 74, 79, 117, 118, 165, 230 của Bộ luật Tố tụng dân sự, chủ thể của hoạt động chứng minh bao gồm đương sự và Tòa
án cũng như cá nhân, cơ quan, tổ chức, người bảo vệ quyền lợi cho đương sự, người đại diện hợp pháp của đương sự
Theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự, việc cung cấp chứng cứ và chứng minh cho yêu cầu của mình thuộc về đương sự Đây là một trong những nguyên tắc xuất phát từ quyền tự định đoạt của đương sự đối với việc khởi kiện
Trang 24Đương sự có yêu cầu bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp phải có nghĩa vụ cung cấp chứng cứ để chứng minh yêu cầu đó là hợp pháp Ngược lại, nếu đương sự phản đối yêu cầu của người khác thì phải đưa ra chứng cứ để phản đối Theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự, nghĩa vụ chứng minh đặt ra cho cả hai bên đương sự, bên khởi kiện, bị kiện và người có quyền và nghĩa vụ liên quan.
Bộ luật Tố tụng dân sự đề cao vai trò, trách nhiệm chứng minh của đương
sự Mỗi bên đương sự tham gia tố tụng đều phải chứng minh tất cả các tình tiết, sự kiện của vụ việc dân sự mà trên cơ sở đó họ đưa ra yêu cầu hay phản đối yêu cầu cầu của người khác Trước hết, nguyên đơn phải chứng minh trước, nghĩa là bên có yêu cầu phải đưa ra các chứng cứ để được Tòa án xem xét chấp thuận thụ lý vụ việc dân sự Sau đó bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan mới phải chứng minh bằng việc đưa ra chứng cứ phải đối lại yêu cầu của nguyên đơn (khoản 1, 2 Điều 79
Bộ luật Tố tụng dân sự)
Ngoài các đương sù, Bộ luật Tố tụng dân sự quy định các cá nhân, cơ quan,
tổ chức khởi kiện yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người khác cũng phải chứng minh (khoản 3 Điều 79 Bộ luật Tố tụng dân sự) Tuy không có quyền và lợi ích gắn liền với vụ việc dân sự như đương sự, nhưng các cá nhân, cơ quan, tổ chức khởi kiện yêu cầu Tòa án bảo vệ lợi ích công cộng, lợi ích nhà nước hoặc quyền và lợi ích hợp pháp của người khác nếu không thực hiện nghĩa vụ chứng minh thì sẽ dẫn đến sự bất lợi cho các đương sự
Đối với người đại diện hợp pháp của đương sự, trong Bộ luật Tố tụng dân
sự không có quy định trực tiếp quyền và nghĩa vụ chứng minh của họ Nhưng tại Điều 74 Bộ luật Tố tụng dân sự quy định người đại diện của đương sự thay mặt tố tụng của đương sự nên quyền và nghĩa vụ của họ được hình thành trên cơ sở và nghĩa vụ của đương sự Bởi vậy, nên người đại diện cho đương sự nào thì họ có nghĩa vụ chứng minh của đương sự đó Người đại diện theo pháp luật, người đại diện do Tòa án chỉ định có quyền và nghĩa vụ thực hiện tốt các nghĩa vụ chứng
Trang 25minh đương sự họ đại diện Người đại diện theo ủy quyền của đương sự thực hiện quyền và nghĩa vụ chứng minh của đương sự trong phạm vi ủy quyền.
Người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự tham gia tố tụng với mục đích bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự cũng có quyền và nghĩa
vụ chứng minh (khoản 2 Điều 64 Bộ luật Tố tụng dân sự) Ngoài việc giúp đương
sự về mặt pháp lý để đương sự bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của họ thì người bảo
vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự chứng minh bằng việc đưa ra các chứng
cứ, lý lẽ để chứng minh cho các yêu cầu hoặc phản đối các yêu cầu là có cơ sở
Tòa án là chủ thể có nhiệm vụ giải quyết vụ việc dân sự không có nghĩa vụ chứng minh Tuy vậy, để giải quyết đúng đắn vụ việc dân sự, trong một số trường hợp, Tòa án vẫn phải chứng minh để làm rõ Ví dụ, đối với trường hợp do Bộ luật
Tố tụng dân sự quy định, Thẩm phán có thể tiến hành một hoặc một số biện pháp để thu thập tài liêu, chứng cứ (khoản 2 Điều 85 Bộ luật Tố tụng dân sự) Tòa án thực hiện việc đánh giá, công bố công khai chứng cứ trước khi sử dụng (Điều 96, Điều
97 Bộ luật Tố tụng dân sự) Mặt khác, Tòa án phải chỉ rõ cơ sở của quyết định giải quyết vụ việc dân sự Như vậy, việc chứng minh của Tòa án mang tính hỗ trợ cho việc chứng minh của đương sự và phục vụ cho việc giải quyết vụ việc đúng đắn của Tòa án
Việc thực hiện đúng và đầy đủ quyền và nghĩa vụ chứng minh của một chủ thể có ảnh hưởng rất lớn đến kết quả giải quyết vụ việc dân sự Do vậy, Bộ luật Tố tụng dân sự quy định các chủ thể chứng minh phải chịu trách nhiệm về việc thực hiện nghĩa vụ chứng minh của họ
1.3.3 Quá trình chứng minh
Chứng minh được diễn ra suốt trong quá trình giải quyết vụ việc dân sự Như hoạt động cung cấp, thu thập, xác định, nghiên cứu và đánh giá chứng cứ tại Tòa án Trong quá trình giải quyết vụ việc dân sự, các chủ thể phải thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình mà Bộ luật Tố tụng dân sự quy định trong quá trình tố
Trang 26tụng Kết quả giải quyết vụ việc dân sự phụ thuộc phần lớn vào việc chứng minh; vì vậy, trong quá trình này đòi hỏi phải thận trọng, tỷ mỷ và có đủ thời gian để đạt kết quả tốt nhất.
Theo quy định tại Điều 165, 175 Bộ luật Tố tụng dân sự thì ngay khi khởi kiện thụ lý vụ án, đương sự đã thực hiện quyền và nghĩa vụ chứng minh bằng việc nguyên đơn gửi kèm theo đơn khởi kiện là các tài liệu, chứng cứ để chứng minh cho yêu cầu của mình; bị đơn, người có nghĩa vụ liên quan nhận được thông báo về việc thụ lý vụ án phải gửi cho Tòa án văn bản ghi ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện và chứng cứ kèm theo Trong quá trình Tòa án giải quyết vụ việc dân sự, đương sự có quyền và nghĩa vụ giao nộp chứng cứ cho Tòa án (Điều 85 Bộ luật Tố tụng dân sự) Tại phiên tòa, các bên đương sự tham gia tranh luận để chứng minh bảo vệ quyền lợi của mình, thời gian tranh luận của họ không hạn chế (Điều 233 Bộ luật Tố tụng dân sự) Khi có kháng cáo, người kháng cáo phải gửi cho Tòa án các tài liệu, chứng
cứ bổ sung (nếu có) để chứng minh cho kháng cáo của mình là có căn cứ và hợp pháp (khoản 3 Điều 244 Bộ luật Tố tụng dân sự)
Theo Điều 83 Bộ luật Tố tụng dân sự, trong trường hợp đương sự không thể
tự mình thu thập chứng cứ và họ có yêu cầu thì Thẩm phán có thể tiến hành một hoặc một số biện pháp thu thập chứng cứ Khi áp dụng các biện pháp thu thập chứng cứ, Thẩm phán phải ra quyết định bằng văn bản, trừ việc lấy lời khai của đương sự, người làm chứng theo quy định của Điều 95, Điều 96 Bộ luật Tố tụng dân
sự Việc đánh giá chứng cứ phải khách quan, toàn diện, đầy đủ và chính xác; Tòa án phải đánh giá từng chứng cứ; mọi chứng cứ phải được công bố và sử dụng công khai như nhau, trừ trường hợp có liên quan đến bí mật nhà nước, thuần phong mỹ tục của dân tộc, bí mật đời tư của cá nhân theo yêu cầu chính đáng của đương sự (Điều 97 Bộ luật Tố tụng dân sự)
1.3.4 Đối tượng chứng minh trong tố tụng dân sự
Trang 27Trong Từ điển tiếng Việt, Nhà xuất bản Giáo dục, tr 274 7
ghi: Đối tuợng, được hiểu: 1- Cái người ta nhằm tới để tìm hiểu, hành động 2- Người đang tìm hiểu
để kết hôn hoặc kết nạp vào tổ chức
Từ điển tiếng Việt, Nhà xuất bản Đà Nẵng, năm 2003, tr 328 8 ghi: Đối tượng là người, vật, hiện tượng mà con người nhằm vào trong suy nghĩ và hành động
Trong tố tụng dân sự, đối tượng chứng minh là một vấn đề hết sức quan trọng, do đó khi giải quyết vụ việc dân sự, Tòa án phải xác định được tất cả các tình tiết, sự kiện liên quan, những tình tiết này là đối tượng chứng minh trong việc việc dân sự.
Đối tượng chứng minh là tổng hợp những tình tiết sự kiện liên quan đến vụ việc dân sự, dùng nó làm cơ sở giải quyết vụ kiện dân sự
Các quan hệ cần giải quyết trong các vụ việc dân sự rất đa dạng nên các tình tiết, sự kiện cần phải xác định trong các vụ việc dân sự cụ thể rất phong phó
Do vậy, trong quá trình giải quyết, việc xác định những tình tiết, sự kiện nào cần phải chứng minh Để xác định được đối tượng chứng minh của mỗi vụ việc dân sự, Tòa án phải dựa vào yêu cầu hay phản đối của đương sự Đương sự dựa vào tình tiết, sự kiện nào để có yêu cầu, hay phản đối yêu cầu Nói tóm lại, đối tượng chứng minh bao gồm những tình tiết, sự kiện khẳng định của bên có yêu cầu và tình tiết,
sự kiện có tính phủ định của bên phản lại yêu cầu liên quan đến vụ việc dân sự cần xác định trong việc giải quyết vụ việc dân sự
Để giải quyết đúng được các vụ việc dân sự theo quy định tại khoản 1, 2 Điều 79 Bộ luật Tố tụng dân sự, đương sự phải đưa ra các chứng cứ để chứng minh cho yêu cầu đó là hợp pháp Đương sự phản đối yêu cầu của người khác đối với mình phải chứng minh sự phản đối đó là có căn cứ và phải đưa ra chứng cứ để chứng minh Cá nhân, cơ quan, tổ chức khởi kiện bảo vệ lợi ích công cộng, lợi ích
Trong Từ điển tiếng Việt, Nhà xuất bản Giáo dục, tr 274
Từ điển tiếng Việt, Nhà xuất bản Đà Nẵng, năm 2003, tr 328
Trang 28nhà nước hoặc yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người khác phải đưa ra chứng cứ để chứng minh cho việc khởi kiện, yêu cầu của mình là có căn cứ và hợp pháp Bộ luật Tố tụng dân sự quy định tại Điều 80 về những tình tiết, sự kiện có tính rõ ràng thì không phải chứng minh như: tình tiết sự kiện mọi người đều biết; những tình tiết, sự kiện đã được xác định trong bản án, quyết định của Tòa án hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền; những tình tiết, sự kiện đã được ghi trong văn bản được công chứng, chứng thực hợp pháp Đối với những tình tiết, sự kiện mọi người đều biết thì không phải chứng minh Tuy nhiên, tất cả các tình tiết, sự kiện không phải chứng minh phải được Tòa án thừa nhận Do đó, khi giải quyết các vụ việc dân sự, trách nhiệm của Tòa án phải xem xét từng tình tiết, sự kiện trong các trường hợp cụ thể và trên cơ sở yêu cầu phải công khai, minh bạch trong các hoạt động xét xử mà đồng ý, thừa nhận hay không về các tình tiết, sự kiện không phải chứng minh Ví dụ, sự thừa nhận của đương sự phía bên này đối với các chứng cứ mà đương sự phía bên kia có yêu cầu đưa ra xem như có giá trị miễn nghĩa vụ chứng minh đối với bên có yêu cầu Một trong vấn đề thuộc bản chất của chứng minh là làm cho đương sự bên kia thấy được sự tồn tại của tình tiết, sự kiện liên quan đến vụ việc dân sự để họ thừa nhận hay không thừa nhận; quyết thừa nhận còn là quyết tự định đoạt của đương sự.
1.3.5 Các phương tiện chứng minh trong tố tụng dân sự
Theo Từ điển tiếng Việt, Nhà xuất bản Giáo dục, 1998, tr 610 (9), phương
tiện được hiểu: "cái dùng để tiến hành công việc gì" Mỗi vụ việc dân sự đều có đối
tượng chứng minh riêng Việt sử dụng phương tiện chứng minh nào trong vụ việc dân sự là tùy thuộc vào những tình tiết, sự kiện thuộc đối tượng chứng minh của vụ việc dân sự cần giải quyết Một số công cụ thường được thực hiện như lấy lời khai của đương sự, lời khai của người làm chứng, kết luện của cơ quan giám định gọi
là phương tiện chứng minh
Theo Từ điển tiếng Việt, Nhà xuất bản Giáo dục, 1998, tr 610
Trang 29Phương tiện chứng minh là những công cụ được sử dụng để làm rõ các tình tiết, sự kiện của vụ việc dân sự thông qua các chủ thể chứng minh thực hiện theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Hoạt động chứng minh có quyết định đến kết quả giải quyết vụ việc dân sự
Để đảm bảo việc giải quyết vụ việc dân sự đúng đắn, Bộ luật Tố tụng dân sự quy định những phương tiện chứng minh cụ thể để các chủ thể lấy đó làm công cụ chứng minh cho mình: Các tài liệu đọc được phải là bản chính, các tài liệu nghe được, nhìn được phải có văn bản xác định xuất xứ; các vật chứng, lời khai của đương sự; người làm chứng phải được ghi lại dưới một hình thức nhất định theo luật định
Trong một vụ việc dân sự cụ thể, các đương sự có thể dùng nhiều phương tiện chứng minh trong đó được làm rõ các sự kiện, tình tiết phải được xác định đúng, rõ ràng và cần thiết
1.4 MỘT SỐ NÉT VỀ LỊCH SỬ HÌNH THÀNH CÁC QUY ĐỊNH VÀ CHỨNG MINH TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ VIỆT NAM
1.4.1 Giai đoạn từ 1945 đến 1989
Sau khi Cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công, nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ra đời Thời kỳ đó chính quyền cách mạng còn non trẻ, nền tư pháp của nước ta bắt đầu hình thành, việc ban hành các văn bản quy phạm pháp luật rất khó khăn, nhưng nhận thức được vai trò, ý nghĩa của pháp luật trong đời sống xã hội, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký Sắc lệnh số 90/SL ngày 10-10-1945 cho phép áp dụng luật lệ của chế độ cũ trừ những điều khoản trái với nền độc lập và dân chủ của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa
Sau khi Hiến pháp đầu tiên (1946) của nước ta ra đời thì nguyên tắc cơ bản
về quyền và nghĩa vụ của công dân đã được chính thức ghi nhận tại chương II Hiến pháp 1946 Thời gian này, văn bản pháp luật tố tụng dân sự đã được ban hành; chế
Trang 30định chứng cứ và chứng minh trong tố tụng dân sự đã được quy định trong một số văn bản luật Tại Điều 1 Luật tổ chức Tòa án nhân dân ngày 14-7-1960 quy định:
"Các Tòa án nhân dân là những cơ quan xét xử của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa Tòa án nhân dân xét xử những vụ án hình sự và dân sự trừng trị những kẻ phạm tội và giải quyết những việc tranh chấp về dân sự trong nhân dân" Trong Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân ngày 15-7-1960 có quy định cụ thể nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát nhân dân; tại khoản g Điều 3 quy định: "Viện kiểm sát nhân dân có quyền khởi tố, hoặc tham gia tố tụng trong những vụ án dân sự quan trọng liên quan đến lợi ích nhà nước và của nhân dân Thông tư số 2386-NCPL ngày 19-12-1961 của Tòa án nhân dân tối cao quy định:
Trong bản án sơ thẩm dân sự phải chỉ ra: nguyên đơn yêu cầu được giải quyết những quyền lợi cụ thể gì và nêu ra những bằng chứng gì làm căn cứ - ý kiến của bị đơn đối với lời thỉnh cầu của bên nguyên đơn:
có chấp nhận hay là không lời thỉnh cầu ấy, hoặc chỉ chấp nhận đến mức
độ nào thôi, dẫn những bằng chứng gì làm căn cứ cho ý kiến đó
Đề án năm 1964 của Tòa án nhân dân tối cao về hướng tổ chức các Tòa án địa phương quy định cụ thể về nghĩa vụ chứng minh của đương sự: "Trong các vụ kiện về dân sự, các bên đương sự có trách nhiệm chứng minh các yêu cầu của mình
và đề xuất chứng cứ Nếu các chứng cứ do các bên đương sự xuất trình chưa đầy đủ thì Tòa án sẽ yêu cầu họ xuất trình các chứng cứ bổ sung "
Thông tư số 3-NCPL ngày 03-3-1966 của Tòa án nhân dân tối cao về trình
tự giải quyết việc ly hôn thì căn cứ để Tòa án xét công nhân cho đôi vợ chồng được thuận tình ly hôn là sự tự nguyện thật sự ly hôn của cả đôi bên, vì họ không còn có thể sống chung với nhau được nữa và họ đã thỏa thuận với nhau hợp pháp về các vấn đề về con cái và tài sản Đơn thuận tình ly hôn phải do cả hai vợ chồng ký
Thông tư số 06/TĐ-TC ngày 25-2-1974 của Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn việc điều tra trong tố tụng dân sự có quy định rõ hơn:
Trang 31Các đương sự (nguyên đơn, bị đơn và người dự sự) có quyền đề xuất những yêu cầu và có nhiệm vụ trình bày những chứng cứ, lý lẽ để chứng minh những yêu cầu và bảo vệ những quyền lợi hợp pháp của mình
Trong trường hợp Viện kiểm sát nhân dân khởi tố vụ kiện về dân
sự để bảo vệ những quyền lợi của Nhà nước, của tập thể và của nhân dân, Tòa án nhân dân cũng phải yêu cầu Viện kiểm sát nhân dân cung cấp những tài liệu căn cứ cần thiết
Nhiệm vụ của Tòa án nhân dân là phải kiểm tra kỹ lưỡng những chứng cứ mà các đương sự đã đề xuất cần thiết để làm sáng tỏ sự thật.Thông tư số 25-TATC ngày 20-11-1974 của Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn việc hòa giải trong tố tụng dân sự nêu rõ: Tòa án nhân dân không hòa giải đối với việc thuận tình ly hôn Tuy nhiên, cần chú ý phân biệt những trường hợp sau đây:
a)
b) Nếu điều ta thấy một bên kiên quyết muốn ly hôn, còn bên kia thị không thực sự tự nguyên, nhưng do là tự ái, nông nổi, hoặc đã bị ép buộc mà thuận tình ly hôn, thì Tòa án nhân dân có thể:
- Hoặc coi là một việc thuận tình ly hôn chưa tự nguyên và sẽ ra quyết định bác đơn xin thuận tình ly hôn
- Hoặc
Trong bản hướng dẫn về trình tự xét xử sơ thẩm về dân sự kèm theo Thông
tư số 96-NC/PL ngày 08-02-1977 của Tòa án nhân dân tối cao quy định: "Để bảo vệ những quyền lợi của mình các đương sự phải có nhiệm vụ đề xuất chứng cứ, nhưng Tòa án nhân dân không được phép chỉ dùa vào các lời khai của đương sự và những
Trang 32giấy tờ mà họ xuất trình làm căn cứ cho việc xét xử mà phải dùng mọi biện pháp cần thiết để làm sáng tỏ sự thật".
Ngày 29-11-1989, Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã ban hành Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án dân sự Có thể xem đây là bước thay đổi, phát triển rõ nét của pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam Điều 3 Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án dân sự quy định rõ về nghĩa vụ cung cấp, thu thập chứng cứ: "Đương sự có nghĩa vụ cung cấp chứng cứ để bảo vệ quyền, lợi ích của mình Tòa án có nhiệm vụ xem xét mọi tình tiết của vụ án và khi cần thiết có thể thu thập thêm chứng cứ để bảo đảm cho việc giải quyết vụ án được chính xác"
Tại khoản 3 Điều 20 Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án dân sự xác định:
"Các đương sự có nghĩa vụ cung cấp chứng cứ, phải có mặt theo giấy triệu tập của Tòa án"
Khoản 3 điền 34 Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án dân sự ghi nhận:
"Người khởi kiện phải làm đơn ghi rõ họ tên, địa chỉ của mình, của bị đơn và của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; nội dung vụ việc, yêu cầu của mình và những tài liệu, lý lẽ chứng minh cho những yêu cầu đó"
Đối với người đại diện của đương sự tham gia tố tụng, Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án dân sự cũng quy định quyền và nghĩa vụ của họ tại khoản 2, 3 Điều 21:
Người chưa thành niên phải có người đại diện thay mặt trong tố tụng Người chưa thành niên từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi đã tham gia lao động theo hợp đồng được tự mình tham gia tố tụng về những việc có liên quan đến quan hệ lao động, nhưng khi cần thiết Tòa án có thể triệu tập đại diện của họ tham gia tố tụng Đối với những việc khác, người chưa thành niên chưa đủ 18 tuổi phải có người đại diện tham gia tố tụng, nhưng khi cần thiết Tòa hỏi thêm ý kiến của người chưa thành niên Khoản 3 Điều 21 Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án dân sự ghi:
Trang 33Nếu đương sự là người có nhược điểm về thể chất hoặc tâm thần không thể tham gia tố tụng được thì phải có người đại diện tham gia tố tụng.
Nếu không có ai đại diện cho người chưa thành niên, người có nhược điểm về thể chất hoặc tâm thần, người vắng mặt không có tin tực thì Tòa án cử một người thân thích của đương sự hoặc một thành viên của một tổ chức xã hội làm người đại diện cho họ
Quyền và nghĩa vụ của người đại diện được ủy quyền được quy định tại Điều 23 Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án dân sự: "Người đại diện được ủy quyền thực hiện quyền và nghĩa vụ tố tụng của đương sự trong phạm vi được ủy quyền"; khoản 3 Điều 25 Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án dân sự quy định:
"Người bảo vệ quyền lợi của đương sự có nghĩa vụ sử dụng các biện pháp do pháp luật quy định để góp phần làm sáng tỏ sự thật của vụ án; giúp đương sự về mặt pháp
lý nhằm bảo vệ quyền lợi hợp pháp của họ"
Tại Điều 29 ghi nhận quyền và nghĩa vụ tố tụng của tổ chức xã hội: "Tổ chức xã hội khởi kiện vì lợi ích chung có quyền và nghĩa vụ tố tụng như nguyên đơn, trừ quyền hòa giải"
Khoản 3 Điều 28 Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án dân sự quy định trường hợp Viện kiểm sát khởi kiện vì lợi ích chung: "Nếu Viện kiểm sát khởi tố vụ
án thì Viện kiểm sát có nhiệm vụ cung cấp chứng cứ"
1.4.2 Giai đoạn từ 1990 đến 2004
Theo Thông tư liên ngành số 09/TT-LN ngày 01-10-1990 của Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Tư pháp, hướng dẫn thi hành một số quy định của Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án dân sự:
Trang 341 Khi Viện kiểm sát khởi tố vụ án thì Viện kiểm sát có trách nhiệm cung cấp các tài liệu cần thiết đối với việc giải quyết vụ án cho Tòa án có thẩm quyền giải quyết vụ án.
Trong trường hợp Viện kiểm sát khởi tố vụ án, nếu thấy cần thiết thì Tòa án có thể tiến hành điều tra thu thập thêm chứng cứ Tòa án có thể trao đổi với Viện kiểm sát để Viện kiểm sát cung cấp thêm tài liệu hoặc rút quyết định khởi tố
Bộ luật Tố tụng dân sự được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XI, kỳ họp thứ 5 thông qua ngày 15-6-2004, có hiệu lực từ ngày 01-01-2005 Tại chương VII, từ Điều 79 đến Điều 98 của Bộ luật Tố tụng dân sự kế thừa và phát triển của pháp luật hiện hành về chứng cứ và chứng minh, đồng thời quy định nhiều điểm mới tiến bộ, Tòa án không tự làm thay cho các đương sự trong việc thu thập chứng cứ, các đương sự có quyền và nghĩa vụ cung cấp chứng cứ cho Tòa án và chứng minh cho yêu cầu của mình là có căn cứ hợp pháp
1.4.3 Giai đoạn từ 2005 đến nay
Ngày 17-9-2005 Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao ban hành Nghị quyết số 04/2005/NQ-HĐTP về hướng dẫn thi hành một số quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về "chứng minh và chứng cứ" Nghị quyết đã hướng dẫn cụ thể,
rõ hơn về quy định về chế định chứng minh và chứng cứ trong Bộ luật Tố tụng dân
sự gồm các điều: 6, 7, 79, 81, 83, 84, 85, 86, 87, 88, 89, 90, 91, 92, 93, 94, 166, 244,
255 và 312
Nghị quyết số 04/2005/NQ-HĐTP ban hành một số mẫu văn bản tố tụng dân sự, cụ thể: Biên bản giao nhận chứng cứ; quyết định xem xét, thẩm định tại chỗ; quyết định trưng cầu giám định; quyết định định giá tài sản' quyết định ủy thác thu thập chứng cứ
Trang 35Luật số 65/2011/QH12 Ngày 29/03/2011 Sửa đổi, bổ sung một số điều của
Bộ luật Tố tụng dân sự 2004 Trong đó, Luật đã sửa đổi, bổ sung một số điều cụ thể
và rõ ràng hơn về chế định chứng minh và chứng cứ trong Bộ luật Tố tụng dân sự gồm các điều: 82, 85, 90, 92 và 94
Tóm lại, lịch sử hình thành các quy định về chứng cứ và chứng minh trong
tố tụng dân sự nước ta trải qua một thời gian rất dài, phát triển ngày càng cao hơn
và pháp điển hóa cao nhất tại Chương VII Bộ luật Tố tụng dân sự đã quy định về chế định chứng cứ và chứng minh
Trang 362.1.1 Nghĩa vụ chứng minh và cung cấp chứng cứ
Tại Điều 5 Bộ luật Tố tụng dân sự đã khẳng định quyền quyết định và tự định đoạt của đương sù Tại Điều 6 Bộ luật Tố tụng dân sự lại quy định về việc cung cấp chứng cứ và chứng minh trong tố tụng dân sự, trong đó nêu:
1 Các đương sự có quyền và nghĩa vụ cung cấp chứng cứ cho tòa án và chứng minh cho yêu cầu của mình là có căn cứ và hợp pháp
Cá nhân, cơ quan, tổ chức khởi kiện, yêu cầu để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người khác có quyền và nghĩa vụ cung cấp chứng
cứ, chứng minh như đương sự
Vậy, vì sao pháp luật tố tụng dân sự lại đặt ra nghĩa vụ chứng minh cho đương sự? Sở dĩ như vậy do: Ở quan hệ dân sự là quan hệ riêng tư của các bên, do các bên tự quyết định, tự giải quyết là chủ yếu và chỉ khi các bên không tự giải quyết được thì họ cũng tự quyết định có yêu cầu Nhà nước hỗ trợ hay không? Mặt khác, các bên đương sự là người hiểu rõ vụ việc của mình nhất, thường biết rõ tài liệu, chứng cứ liên quan đến vụ việc của mình có những gì, còn hay không còn, đúng hay không đúng và đang ở đâu Do đó, khi các bên đưa tranh chấp của họ ra Tòa án, thì tòa án là trọng tài giúp các bên giải quyết tranh chấp một cách khách quan và đúng pháp luật, chứ tòa án không thể làm thay, chứng minh cho đương sự với những yêu cầu của họ Thời gian qua, trong một số vụ án đương sự không hiểu
về nghĩa vụ của mình về việc tự chứng minh nên đã không hợp tác với Tòa án, gây
Trang 37ảnh hưởng và cản trở cho quá trình giải quyết vụ việc dân sự Có người không đến tòa khi tòa triệu tập để lấy lời khai, không tham gia vào buổi định giá, hòa giải, đối chất, không cho tòa xem xét đối tượng tranh chấp.
Ví dụ: Vụ án đòi nợ tại Tòa án nhân dân huyện Đông Anh - Hà Nội Nguyên đơn là anh Nguyễn Văn Lan thường trú tại thị trấn Đông Anh, huyện Đông Anh Bị đơn là bà Hoàng Thị Hải trú tại Nam Hồng - Đông Anh - Hà Nội Sự việc
bà Hải ký vay nợ 20.000.000đ và mua anh Lan chiếc xe máy; anh Lan đã làm đơn khởi kiện, Tòa án nhân dân huyện Đông Anh thụ lý giải quyết, Tòa án làm giấy triệu tập lần đầu bà Hải có mặt và phản đối giấy vay nợ trong việc mua xe, và bảo
xe đang đi không phải của anh Lan và khẳng định không phải chữ ký của bà Tòa án nhân dân huyện đã làm giấy triệu tập rất nhiều lần nhưng bà Hải đều vắng mặt không có lý do: Vì vậy, việc lấy lời khai, hòa giải và đối chất đều không thực hiện được Lý do bà Hải đưa ra là Tòa án phải có nhiệm vụ chứng minh chữ ký của bà và chứng minh xe máy của anh Lan (xe máy không phải chính chủ của anh Lan mà của người khác anh Lan đã mua chỉ viết giấy trao tay) Hiện nay, bà Hải đã tẩu tán chiếc
xe máy Anh Lan đã đề nghị Tòa áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời, nhưng đối tượng vật - chiếc xe đã không còn Anh Lan đề nghị giám định chữ ký của bà Hải tại Viện Khoa học hình sự - Bộ Công an nhưng bà Hải không cho lấy mẫu chữ ký
Vụ án từ khi khởi kiện đến nay đã hơn 01 năm vẫn trong vòng bế tắc
Tòa án muốn căn cứ vào các chứng cứ bên kia cung cấp và các tài liệu đã thu thập được để xét xử trong một số vụ án cụ thể là không khả thi Có quan điểm cho rằng, nếu đương sự không cho xem xét, định giá, giám định thì cần có biện pháp cưỡng chế đối với bên không hợp tác với tòa án, để bảo đảm cho việc thu thập chứng cứ được đầy đủ và việc xử lý đúng đắn Đối với vấn đề này, pháp luật đã dành cho đương sự quyền lùa chọn phương án hành động có lợi (đưa ra chứng cứ chứng minh cho yêu cầu của mình hay phản đối yêu cầu của người khác) hoặc phương án hành động bất lợi cho mình (không cung cấp chứng cứ chứng minh cho yêu cầu của mình ) thì họ phải gánh chịu hậu quả tương ứng với phương án mà
Trang 38đương sự tự định đoạt, tự lựa chọn là quy định hợp lý cả về quy phạm pháp luật và
cả về thực tiễn xét xử Có như vậy mới là biện pháp tác động đến hành vi ứng xử của công dân phải sống theo hiến pháp và pháp luật mà không cần sử dụng đến biện pháp mạnh là cưỡng chế
Bởi vậy, việc quy định đương sự phải chịu hậu quả về việc chứng minh của mình vừa bảo đảm quyền tự định đoạt của đương sự vừa nâng cao trách nhiệm cho đương sự
2.1.2 Thu thập, giao nộp và bảo vệ chứng cứ
Xuất phát từ quyền và nghĩa vụ của đương sự trong việc cung cấp chứng cứ cho tòa án và chứng minh cho yêu cầu của mình (Điều 6, Điều 84 Bộ luật Tố tụng dân sự đã quy định quyền và nghĩa vụ trong việc giao nộp chứng cứ cho Tòa án Do
đó, nếu bất kỳ đương sự nào đang quản lý chứng cứ mà không giao nộp cho Tòa án hoặc không nộp đầy đủ chứng cứ cho tòa án thì cũng phải chịu hậu quả của việc không nộp hoặc nộp không đầy đủ, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác Giao nộp chứng cứ chỉ là một hành vi cụ thể trong việc thực hiện nghĩa vụ cung cấp chứng cứ và chứng minh cho yêu cầu của đương sự Tuy nhiên, trong một số trường hợp đặc biệt, ví dụ liên quan đến bí mật Nhà nước, bí mật kinh doanh, bí mật đời tư mà pháp luật quy định đương sự không có nghĩa vụ giao nộp chứng cứ thì việc
họ không giao nộp không được coi là căn cứ để xét xử bất lợi cho họ Trong trường hợp này, dù đương sự không có nghĩa vụ giao nộp chứng cứ cho tòa án Do vậy không lưu trong hồ sơ chứng cứ này, các đương sự khác không được biết cụ thể chứng cứ này nhưng để việc xét xử đúng đắn phải cho thẩm phán xét xử vụ án biết được nội dung của chứng cứ đó
Trước đây, pháp luật không có quy định cụ thể việc thu thập chứng cứ, nên khi đương sự, cá nhân, cơ quan, tổ chức giao nộp chứng cứ cho tòa án, các thẩm phán đưa vào trong hồ sơ và không thể hiện rõ tài liệu hồ sơ đó từ đâu đến; do ai thu
Trang 39thập, do ai nộp Từ đó mà đã gây khó khăn cho việc sử dụng, đánh giá các tài liệu
đó, có tài liệu đã bị thất lạc mà không biết Chính vì vậy tại khoản 2 Điều 84 Bộ luật Tố tụng dân sự đã quy định rõ trách nhiệm của Tòa án khi tiếp nhận chứng cứ; khi đương sự giao nộp chứng cứ Tòa án phải lập biên bản về việc giao nhận chứng
cứ Trong biên bản phải ghi rõ tên gọi, hình thức, nội dung, đặc điểm của chứng cứ,
số bản, số hàng của tài liệu chứa đựng chứng cứ, thời gian nhận, chữ ký hoặc điểm chỉ của người giao nộp; ký nhận và đóng dấu của Tòa án Biên bản phải lập thành
02 bản, một bản giao cho đương sự, một bản lưu giữ trong hồ sơ vụ việc dân sự Sở
dĩ việc giao nộp chứng cứ phải làm theo đủ thủ tục nêu trên là nhằm không bị đánh tráo, giả mạo, sửa chữa, thất lạc hoặc hành vi thủ tiêu chứng cớ Đồng thời, nó đảm bảo giá trị pháp lý trong quá trình sử dụng Thực tế, do thói quen áp dụng pháp luật cũ trước đây, trong một số vụ án cụ thể Tòa án đã quên viết biên bản giao nộp chứng cứ, còn yêu cầu đương sự đã cung cấp chứng cứ gốc, giả sử chẳng may hồ sơ án bị mất cắp, bị hỏa hoạn thì quyền của đương sự coi như mất hết, ví dụ như tài liệu đất đai có giá trị tranh chấp rất lớn thì gây tổn thất cho đương sự là quá lớn, tòa không có cách khắc phục được Chính vì vậy, tòa phải có nhiệm vụ làm biên bản; nên chỉ yêu cầu đương sự nộp bản phô tô, hoặc công chứng (đối chiếu với bản gốc để đương sự đưa bản gốc về) khi cần tòa yêu cầu đương sự cung cấp lại bản gốc Có như vậy mới đảm bảo chắc chắn nhất để bảo vệ chứng cứ Đương sự phải tìm hiểu để biết được một số quy định pháp luật để bảo vệ quyền và lợi ích của chính bản thân mình đồng thời góp phần bảo vệ pháp luật
Trong quá trình thu thập chứng cứ để giao nộp cho tòa mà đương sự không thể tự mình thu thập được; đương sự phải có văn bản đề nghị tòa án thu thập Điều
94 Bộ luật Tố tụng dân sự quy định về yêu cầu cá nhân, cơ quan, tổ chức cung cấp chứng cứ:
1 Trong trường hợp đương sự đã áp dụng các biện pháp cần thiết
để thu thập chứng cứ mà vẫn không thể tự mình thu thập được thì có thể
Trang 40yêu cầu Tòa án tiến hành thu thập chứng cứ nhằm bảo đảm cho việc giải quyết vụ việc dân sự đúng đắn.
Đương sự yêu cầu Tòa án tiến hành thu thập chứng cứ phải làm đơn ghi rõ vấn đề cần chứng minh; chứng cứ cần thu thập; lý do vì sao tự mình không thu thập được; họ, tên, địa chỉ của cá nhân và địa chỉ của cơ quan, tổ chức đang quản lý, lưu giữ chứng cứ cần thu thập
Ví dụ: Nếu biết bị đơn có hành vi tẩu tán tài sản tranh chấp trong vụ án thì nguyên đơn có thể yêu cầu với tòa án; nhưng nguyên đơn phải chứng minh bị đơn
đã hành vi tẩu tán tài sản đó Nhưng thực tế cụ thể có trường hợp lại mang tính hình thức Ví dụ trong vụ án ly hôn: Nguyên đơn là chị Nguyễn Thị Kiều Nga, sinh năm
1962 - bị đơn anh Văn Đức Hoàng, sinh năm 1965 trú tại Quỳnh Dị, Quỳnh Lưu, Nghệ An Tài sản, con cái, tình cảm, nợ, cho nợ là những vấn đề quan tâm để đưa ra giải quyết Chị Nga là nạn nhân của bạo hành trong gia đình (vũ lực và tinh thần) lấy nhau có hai con Văn Thu Hiền, sinh năm 1989, và Văn Thị Anh Dương, sinh năm 2003; khi sinh con gái út anh Hoàng thường xuyên đánh đập vợ, bài bạc, rượu chè, trai gái Tài sản vợ chồng từ bàn tay trắng khi lấy nhau sau đó đã khấm khá Thấy cảnh chồng đánh đập, dùng tài sản tích lũy đánh bạc Chị Nga làm đơn xin ly hôn, được Tòa
án nhân dân Quỳnh Lưu thụ lý; biết vợ nộp đơn ly hôn anh Hoàng đuổi vợ và con đi khỏi nhà, chị Nga phải đi nếu không bị đánh đập
Trong thời gian chị Nga nộp đơn xin ly hôn đến khi đưa ra xét xử gần 05 tháng; thời gian này chị Nga đã làm đơn đề nghị áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời, kê biên tài sản Nhưng chị Nga không chứng minh được, Tòa án hướng dẫn chị Nga về nhà Công an xã giải quyết, nhưng công an xã đến lại bảo chỉ xử lý về an ninh còn kê biên tài sản không có thẩm quyền Khi vụ án đưa ra xét xử tài sản trong nhà anh Hoàng đã tẩu tán gần hết (bởi trong các lần hòa giải, lấy lời khai anh Hoàng không thừa nhận) Đây là một thực tế tồn tại đã gây thiệt hại cho nguyên đơn Nên chăng, nếu việc tranh chấp tại địa phương ở cách xa, Tòa án đương sự yêu cầu Tòa