1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

LUẬN văn LUẬT HÀNH CHÍNH bảo hộ QUYỀN tác GIẢ đối với tác PHẨM văn học TRÊN INTERNET

137 272 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 137
Dung lượng 3,43 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Và để hiểu rõ hơn các quy định của pháp luật nước ta về vấn đề bảo hộ quyền tác giả đối với tác phẩm văn học trên Internet như thế nào cũng như qua đó là việc tìm hiểu những bất cập... C

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ

Giảng viên hướng dẫn: Sinh viên thực hiện:

Ths Nguyễn Thị Ngọc Tuyền Võ Thị Chúc Phương

Bộ môn: Luật Tư pháp MSSV: 5095550

Lớp: Luật Hành chính - K35

Cần Thơ - 5/2013

Trang 2

Người viết xin gửi lời cảm ơn chân thành tới cô – Ths Nguyễn Thị Ngọc Tuyền,

bộ môn Tư pháp, khoa Luật, trường Đại học Cần Thơ, người đã tận tình hướng dẫn và giúp đỡ người viết hoàn thành luận văn này Bên cạnh đó người viết cũng chân thành gửi lời cảm ơn đến quý thầy cô, những người đã dạy dỗ và truyền đạt kiến thức trong suốt thời gian người viết học tập tại trường Đại học Cần Thơ Đó là những kiến thức tiềm tàng

và kinh nghiệm quý báu được đúc kết từ những giờ lên lớp, qua đó người viết có thể tận dụng trong luận văn của mình

Luận văn là công trình nghiên cứu với sự tìm tòi và phân tích của cá nhân người viết cùng sự giúp đỡ của giáo viên hướng dẫn Tuy nhiên do sự hạn chế về kiến thức nên

sẽ không tránh khỏi những thiếu xót trong quá trình lập luận cũng như phân tích Rất mong nhận được những ý kiến đóng góp quý báu từ phía các thầy cô để người viết có thể hoàn thành tốt luận văn tốt nghiệp, học hỏi thêm những kinh nghiệm, qua đó tiến bộ hơn trong những nghiên cứu tiếp theo của mình

Cần Thơ, ngày tháng năm 2013

Sinh viên thực hiện

Võ Thị Chúc Phương

Trang 3

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

……….………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

Trang 4

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

Trang 5

MỤC LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Mục tiêu nghiên cứu 2

3 Phạm vi nghiên cứu 2

4 Phương pháp nghiên cứu 2

5 Bố cục đề tài 3

Chương 1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ BẢO HỘ QUYỀN TÁC GIẢ ĐỐI VỚI TÁC PHẨM VĂN HỌC VÀ INTERNET 4

1.1 Lịch sử hình thành và phát triển vấn đề bảo hộ quyền tác giả đối với tác phẩm văn học 4

1.1.1 Bảo hộ quyền tác giả đối với tác phẩm văn học trên thế giới 4

1.1.1.1 Giai đoạn trước thế kỉ 18 4

1.1.1.2 Giai đoạn từ thế kỉ 18 đến nay 5

1.1.2 Bảo hộ quyền tác giả đối với tác phẩm văn học tại Việt Nam 6

1.1.2.1 Giai đoạn trước năm 2005 6

1.1.2.2 Giai đoạn từ năm 2005 đến nay 7

1.2 Khái niệm quyền tác giả và quyền tác giả đối với tác phẩm văn học 8

1.2.1 Quyền tác giả 8

1.2.1.1 Khái niệm tác giả 8

1.2.1.2 Khái niệm quyền tác giả 11

1.2.2 Quyền tác giả đối với tác phẩm văn học 11

1.2.2.1 Khái niệm tác phẩm văn học 11

1.2.2.2 Phân loại tác phẩm văn học 12

1.2.2.3 Quyền tác giả đối với tác phẩm văn học 13

1.3 Internet và bảo hộ quyền tác giả đối với tác phẩm văn học trên Internet 14

1.3.1 Khái quát chung về Internet 14

1.3.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển Internet 14

1.3.1.2 Internet và các khái niệm liên quan 17

Trang 6

1.3.2 Mối quan hệ giữa Internet và bảo hộ quyền tác giả đối với tác phẩm văn học

trên Internet 22

1.3.2.1 Khái niệm bảo hộ quyền tác giả và bảo hộ quyền tác giả đối với tác phẩm văn học trên Internet 22

1.3.2.2 Mối quan hệ giữa Internet và bảo hộ quyền tác giả đối với tác phẩm văn học trên Internet 24

1.3.3 Thuận lợi và khó khăn trong việc bảo hộ quyền tác giả đối với tác phẩm văn học trên Internet 25

1.4 So sánh tác phẩm văn học trên Internet và tác phẩm văn học thể hiện bằng hình thức khác 29

1.5 Ý nghĩa của việc bảo hộ quyền tác giả đối với tác phẩm văn học trên Internet 32

1.5.1 Về mặt kinh tế 32

1.5.2 Về mặt xã hội 33

Chương 2 NHỮNG QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ BẢO HỘ QUYỀN TÁC GIẢ ĐỐI VỚI TÁC PHẨM VĂN HỌC TRÊN INTERNET 35

2.1 Một số Công ước, Hiệp định cũng như pháp luật của một số quốc gia liên quan đến bảo hộ quyền tác giả đối với tác phẩm văn học trên Internet 35

2.1.1 Công ước Berne về bảo hộ quyền tác giả đối với tác phẩm văn học nghệ thuật 35

2.1.2 Hiệp định WIPO về quyền tác giả 37

2.1.3 Quy định của một số quốc gia về bảo hộ quyền tác giả đối với tác phẩm văn học trong môi trường kỹ thuật số 38

2.2 Những quy định của pháp luật Việt Nam về bảo hộ quyền tác giả đối với tác phẩm văn học trên Internet 41

2.2.1 Điều kiện để được bảo hộ quyền tác giả đối với tác phẩm văn học trên Internet 41

2.2.1.1 Điều kiện về chủ thể quyền tác giả 41

2.2.1.2 Điều kiện về tác phẩm văn học được bảo hộ 43

2.2.1.3 Căn cứ phát sinh quyền tác giả được bảo hộ 45

2.2.2 Nội dung quyền tác giả đối với tác phẩm văn học trên Internet được bảo hộ… 46

2.2.2.1 Quyền nhân thân 46

Trang 7

2.2.2.2 Quyền tài sản 47

2.2.3 Giới hạn bảo hộ quyền tác giả đối với tác phẩm văn học trên Internet 50

2.2.3.1 Giới hạn về thời gian (thời hạn bảo hộ quyền tác giả) 50

2.2.3.2 Giới hạn về không gian 51

2.2.3.3 Trường hợp sử dụng tác phẩm văn học trên Internet không phải xin phép, không phải trả tiền nhuận bút, thù lao 52

2.2.3.4 Trường hợp sử dụng tác phẩm văn học trên Internet không phải xin phép, nhưng phải trả tiền nhuận bút, thù lao 53

2.2.4 Đăng ký và cấp giấy chứng nhận đăng ký quyền tác giả đối với tác phẩm văn học trên Internet 54

2.2.4.1 Người nộp đơn đăng ký quyền tác giả 55

2.2.4.2 Hồ sơ đăng ký quyền tác giả 55

2.2.4.3 Thời hạn và thẩm quyền cấp giấy chứng nhận đăng ký quyền tác giả 56

2.2.4.4 Hiệu lực, cấp lại, đổi, hủy bỏ hiệu lực giấy chứng nhận đăng ký quyền

tác giả 56

2.2.4.5 Lệ phí cấp Giấy chứng nhận đăng ký quyền tác giả 57

2.2.4.6 Ý nghĩa của việc đăng ký bảo hộ quyền tác giả đối với tác phẩm văn học trên Internet 57

2.2.5 Hành vi xâm phạm quyền tác giả đối với tác phẩm văn học trên Internet 59

2.2.5.1 Hành vi công bố, phân phối, nhân bản, sản xuất bản sao, xuất bản tác phẩm mà không được sự đồng ý của tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả 59

2.2.5.2 Hành vi mạo danh tác giả; sửa chữa, cắt xén tác phẩm mà không được sự đồng ý của tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả 60

2.2.5.3 Hành vi sao chép tác phẩm mà không được phép của tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả 61

2.2.5.4 Hành vi dịch tác phẩm sang một ngôn ngữ khác mà không được phép của tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả 62

2.2.5.5 Hành vi cố ý hủy hoại hoặc làm vô hiệu các biện pháp kỹ thuật do chủ sở hữu quyền tác giả thực hiện để bảo vệ tác phẩm của mình 63

2.2.6 Các biện pháp bảo vệ quyền tác giả đối với tác phẩm văn học trên Internet 64

2.2.6.1 Biện pháp tự bảo vệ 64

Trang 8

2.2.6.2 Biện pháp dân sự 69

2.2.6.3 Biện pháp hành chính 70

2.2.6.4 Biện pháp hình sự 71

Chương 3 THỰC TRẠNG XÂM PHẠM QUYỀN TÁC GIẢ ĐỐI VỚI TÁC PHẨM VĂN HỌC TRÊN INTERNET, NGUYÊN NHÂN VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP 74

3.1 Thực trạng xâm phạm quyền tác giả đối với tác phẩm văn học trên Internet 74

3.1.1 Thực trạng chung về hành vi xâm phạm quyền tác giả đối với tác phẩm văn học trên Internet 74

3.1.2 Một số vụ việc cụ thể liên quan đến vấn nạn xâm phạm quyền tác giả đối với tác phẩm văn học trên Internet 79

3.1.2.1 Dự án Thư viện sách điện tử lớn nhất thế giới của Google và vụ kiện trị giá 400USD 79

3.1.2.2 Vụ việc liên quan đến nhà văn Lê Lựu 83

3.1.2.3 Vụ xâm phạm của nhà sách Sông Hương và Công ty Tân Trí Tuấn 85

3.1.2.4 Vụ xâm phạm quyền tác giả bộ truyện Harry Potter 86

3.2 Nguyên nhân hành vi xâm phạm quyền tác giả đối với tác phẩm văn học trên Internet 87

3.2.1 Về phía tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả 88

3.2.2 Bất cập của pháp luật 89

3.2.3 Về phía cơ quan chức năng 93

3.2.4 Ý thức và hiểu biết của độc giả qua mạng và người sử dụng Internet 94

3.2.5 Về phía cá nhân, tổ chức cung cấp dịch vụ Internet 95

3.3 Các biện pháp đề xuất nhằm ngăn ngừa, hạn chế hành vi xâm phạm quyền tác giả đối với tác phẩm văn học trên Internet 96

3.3.1 Đối với tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả 96

3.3.2 Hướng hoàn thiện luật 99

3.3.3 Nâng cao vai trò của cơ quan chức năng 102

3.3.4 Nâng cao ý thức của độc giả, người sử dụng Internet 103

3.3.5 Đối với cá nhân, tổ chức cung cấp dịch vụ Internet 106

KẾT LUẬN 110

Trang 9

Danh mục tài liệu tham khảo

Phụ lục A

Phụ lục B

Trang 10

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Với sự phát triển của công nghệ thông tin thì việc truy cập Internet ngày càng trở nên dễ dàng và phổ biến với nhiều người Có thể nói Internet là một phần quan trọng trong cuộc sống nhân loại mà con người không thể phủ nhận vai trò tích cực của nó Bởi với những tiện ích mà Internet mang lại thì con người có thể phục vụ nhu cầu của mình trong việc kinh doanh, giao lưu, giải trí, tìm kiếm thông tin và nhiều hoạt động khác Thông qua Internet những công việc này trở nên dễ dàng, nhanh chóng và mang lại hiệu quả cao Tuy nhiên cũng chính những tiện ích đó đã tạo nên một môi trường cho những hành vi phạm tội mà ở đây là vấn nạn xâm phạm quyền tác giả trên Internet nói chung và xâm phạm quyền tác giả đối với tác phẩm văn học trên môi trường này nói riêng Việc tìm đọc các tác phẩm văn học đã trở thành một nhu cầu học tập và giải trí phổ biến ở mọi tầng lớp trong thời buổi hiện nay, và nếu kết hợp với Internet con người có thể tiếp cận nguồn thông tin này một cách dễ dàng với chi phí thấp Chỉ cần vài thao tác click chuột là

có thể tiếp xúc và lưu trữ hàng ngàn tác phẩm văn học một cách bất hợp pháp, thêm vào

đó là khả năng lan truyền và chia sẽ nhanh chóng dữ liệu đối với mạng toàn cầu dạng này thì khó có thể kiểm soát và ngăn chặn kịp thời Chính điều đó đã dẫn đến sự ra đời của các website lưu trữ, cung cấp cũng như sao chép tác phẩm văn học bất hợp pháp nhằm đáp ứng nhu cầu độc giả, người sử dụng Internet mà không hề lo ngại các cơ quan chức năng Điều này đã xâm phạm nghiêm trọng đến quyền tác giả của chủ thể quyền và gây

ra những thiệt hại nhất định đối với họ Do đó vấn đề đặt ra là làm thế nào để bảo vệ tốt quyền lợi của các chủ thể này nhưng vẫn đáp ứng được như cầu tìm hiểu tác phẩm văn học của độc giả, người sử dụng Internet

Nói về quyền tác giả thì đây không phải là một vấn đề mới mẻ so với pháp luật Việt Nam Bởi trong các văn bản pháp luật nước ta thì vấn đề này đã được điều chỉnh một cách có hệ thống từ việc gia nhập các Điều ước quốc tế, hay việc ban hành các văn bản pháp luật như Bộ luật dân sự, Luật Sở hữu trí tuệ và kể các các văn bản hướng dẫn như Nghị định, Thông tư Tất cả chỉ nhằm mục đích bảo hộ quyền tác giả một cách tốt nhất trên cơ sở đảm bảo quyền lợi của các chủ thể có quyền Nhưng có lẽ với môi trường Internet thì những quy định này tỏ ra lỏng lẻo và trở nên khó thực thi trước hành vi xâm phạm Cộng thêm nguyên nhân xuất phát từ nhiều chủ thể trong quá trình thực thi bảo hộ quyền tác giả nên hành vi xâm phạm vẫn cứ diễn ra và tràn lan trên mạng Internet Và để hiểu rõ hơn các quy định của pháp luật nước ta về vấn đề bảo hộ quyền tác giả đối với tác phẩm văn học trên Internet như thế nào cũng như qua đó là việc tìm hiểu những bất cập

Trang 11

nêu trên nên người viết chọn đề tài “Bảo hộ quyền tác giả đối với tác phẩm văn học trên Internet” làm luận văn tốt nghiệp của mình

2 Mục tiêu nghiên cứu

Trong bối cảnh hội nhập kinh tế toàn cầu thì quyền Sở hữu trí tuệ ngày càng được các nước xem trọng và quyền tác giả cũng là một phần trong số đó Tuy nhiên với sự phát triển của Internet thì quyền tác giả nói chung cũng như quyền tác giả đối với tác phẩm văn học nói riêng đã bị xâm phạm một cách nghiêm trọng Chính vì vậy với đề tài này, mục đích mà người viết hướng tới là bảo hộ một cách hiệu quả các chủ thể quyền tác giả đối với tác phẩm văn học trên Internet thông qua các quy định của pháp luật, cũng như với những giải pháp đề xuất bản thân người viết mong rằng có thể góp phần phòng chống hành vi xâm phạm, qua đó hoàn thiện hơn việc bảo hộ quyền tác giả đối với tác phẩm văn

học trên môi trường này

3 Phạm vi nghiên cứu

Sở hữu trí tuệ là một phạm trù tương đối rộng, bao gồm nhiều đối tượng được Nhà nước bảo hộ Và với đề tài nghiên cứu của mình người viết chỉ thực hiện việc nghiên cứu trong phạm vi tìm hiểu các Điều ước quốc tế liên quan quyền tác giả cũng như quy định của một số quốc gia điều chỉnh vấn đề này trong môi trường kỹ thuật số, thêm vào đó là quy định của pháp luật nước ta về vấn đề bảo hộ quyền tác giả mà cụ thể ở đây là quyền tác giả đối với tác phẩm văn học trên Internet Cũng trong phạm vi này người viết sẽ đưa

ra thực trạng hành vi xâm phạm quyền tác giả đối với tác phẩm văn học trên Internet ở nước ta, nguyên nhân của thực trạng và qua đó là những biện pháp đề xuất cho thực trạng

trên

4 Phương pháp nghiên cứu

Trong đề tài nghiên cứu của mình, người viết đã sử dụng phương pháp lý luận và tổng hợp cho việc nghiên cứu tài liệu liên quan đến nội dung đề tài trên các văn bản pháp luật, sách, báo, tạp chí và kể cả các tài liệu trên mạng Internet Với phương pháp này người viết có thể rút ra những luận điểm và nội dung quan trọng trong việc tổng hợp nhiều nguồn tài liệu khác nhau Ngoài ra một phương pháp không kém phần quan trọng

đó là phân tích, điều đó có nghĩa là với các nội dung tổng hợp được người viết phải phân tích và trình bày những vấn đề cốt lõi nhất nhằm đảm bảo nội dung cơ bản và tính khoa học của đề tài Bên cạnh đó việc thống kê số liệu và so sánh cũng là phương pháp không thể không kể đến, bởi trong phần trình bày của mình người viết có đưa ra những số liệu

cụ thể nhằm phục vụ cho nhu cầu chứng minh các luận điểm được nói đến Việc so sánh

ở đây chủ yếu là giữa các quy định của pháp luật nước ta và các văn bản quốc tế liên quan đến vấn đề bảo hộ quyền tác giả, như vậy ta sẽ có cái nhìn tổng quan hơn về nội

Trang 12

dung đề tài, tránh trường hợp phiến diện, một chiều trong quá trình phân tích Các biện pháp trên được sử dụng phối hợp và xen kẽ nhau trong xuyên suốt luận văn của người viết, qua đó góp phần hoàn thành tốt nội dung nghiên cứu về vấn đề bảo hộ quyền tác giả

đối với tác phẩm văn học trên Internet

Trang 13

Chương 1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ BẢO HỘ QUYỀN TÁC GIẢ ĐỐI VỚI TÁC

PHẨM VĂN HỌC VÀ INTERNET 1.1 Lịch sử hình thành và phát triển vấn đề bảo hộ quyền tác giả đối với tác phẩm văn học

1.1.1 Bảo hộ quyền tác giả đối với tác phẩm văn học trên thế giới

1.1.1.1 Giai đoạn trước thế kỉ 18

Trong lịch sử loài người, quyền tác giả nói chung cũng như quyền tác giả đối với tác phẩm văn học nói riêng được thừa nhận tương đối muộn Vào thời kì Cổ đại và thời Trung cổ người ta chưa biết đến quyền của một tác phẩm trí tuệ Các quy định của pháp luật chỉ có cho những vật mang tác phẩm trí tuệ, đặt biệt là về quyền sở hữu Ví dụ như không cho phép trộm một quyển sách nhưng lại cho phép chép lại từ quyển sách đó Việc nhiều tác giả cùng làm việc trong một đề tài là một trường hợp bình thường cũng như việc các tác giả khác lấy và thay đổi tác phẩm của mình hay bất kì người nào khác Khi không muốn bài viết của mình bị thay đổi tác giả chỉ có một cách duy nhất là gắn một lời

nguyền vào cuốn sách đó Ví dụ tại Đức trong cuốn Sachsenspiegel, một quyển sách ghi

chép lại luật lệ đương thời, tác giả Eike von Repgow đã nguyền rủa những người nào giả

Đến năm 1440, với sự ra đời của phát minh in các bản sao chép lại một tác phẩm bắt đầu được sản xuất với số lượng lớn một cách dễ dàng Nhưng tại thời điểm này tác giả vẫn chưa có được “quyền tác giả” và điều đáng nói là chẳng những tác phẩm được in

mà nhà in hay nhà xuất bản còn trả một số tiền cho bản viết tay Thế rồi đi đến trường hợp bản in đầu tiên bị các nhà in khác in lại, điều này làm cho việc kinh doanh của những nhà in đầu tiên gặp khó khăn, không những thế việc in ấn ngày càng trở nên sa sút Trong tình trạng trên nhu cầu điều chỉnh pháp luật nhằm chống lại việc sao chép, trộm cấp nội dung tác phẩm đã trở nên cấp thiết Chính vì thế các nhà in đã xin các quyền lợi đặc biệt

từ phía chính quyền trong việc cấm in lại một tác phẩm ít nhất là trong một thời gian nhất định Pháp và Đức có thể nói là những quốc gia đầu tiên trong việc nâng cao giá trị bản quyền tác giả và tìm cách ngăn chặn việc in lậu tác phẩm và thành công trong giai đoạn này

Đến thời kì Phục Hưng cá nhân con người trở nên quan trọng hơn và đặc quyền

tác giả cũng được thừa nhận để thưởng cho những người sáng tạo ra tác phẩm của họ Ví

dụ vào năm 1511 tại Đức tác giả Albrecht Durer đã được công nhận về đặc quyền tác

1

Bách khoa toàn thư mở:Quyền tác giả,

http://vi.wikipedia.org/wiki/Quy%E1%BB%81n_t%C3%A1c_gi%E1%BA%A3 , [ngày truy cập 2-1-2013]

Trang 14

giả.2 Tuy nhiên việc bảo vệ này chỉ mang đến cho tác giả những đặc quyền gắn liền với

cá nhân như danh dự, tiếng tăm hơn là lợi ích kinh tế Đến giữa thế kỉ thứ XVI, khi các nhà xuất bản bắt đầu trả tiền nhuận bút cho các tác giả, việc này đã chính thức ghi dấu sự

ra đời của bản quyền hay còn gọi là quyền tác giả Tuy nhiên thời gian này mới chỉ khẳng định quyền kinh doanh của các nhà xuất bản, chưa trú trọng nhiều đến quyền tác giả

1.1.1.2 Giai đoạn từ thế kỉ 18 đến nay

Thế kỉ thứ XVIII, lần đầu tiên mới có lý thuyết về quyền sở hữu cho lao động trí

óc Đặc biệt là khi đạo luật của nước Anh ra đời năm 1710, Statue of Anne một độc quyền sao chép của tác giả được công nhận Đây được xem là đạo luật đầu tiên thừa nhận tác giả có một số quyền trong 21 năm đối với sách in trước ngày ban bố đạo luật và thêm

14 năm nữa nếu tác giả còn sống trong lần hết hạn đầu tiên, tuy nhiên để hưởng bản quyền đó tác giả phải đăng kí tác phẩm và tên tác giả, phải nộp lưu chiếu 9 (chín) bản tác

pháp luật đầu tiên về quyền tác giả trong pháp luật của các nước phương tây Tại Mỹ vào năm 1975 phương pháp này cũng được đưa vào ứng dụng và tác phẩm phải được ghi vào danh mục của hiệp hội các nhà xuất bản và phải có thêm ghi chú Copyright được bảo vệ, tuy nhiên yêu cầu phải ghi vào danh mục đã được bãi bỏ tại Anh vào năm 1956 và Hoa

Kỳ vào năm 1978 Vào năm 1791 và năm 1793 tại Pháp đạo luật về Sở hữu Văn học và Nghệ thuật cũng đã ra đời Tiếp theo là tại Phổ vào năm 1837 Cũng trong năm 1837 Hội đồng Liên bang của Liên minh Đức quyết định thời hạn bảo vệ từ khi tác phẩm ra đời là

10 năm, thời hạn này đươc kéo dài thành 30 năm sau khi tác giả qua đời

Tiếp theo là sự ra đời của Công ước Berne về bảo hộ các tác phẩm văn học nghệ thuật năm 1886 lần đầu tiên thiết lập và bảo vệ quyền tác giả giữa các quốc gia có chủ quyền Trước khi có Công ước các quốc gia thường từ chối quyền tác giả của các tác phẩm ngoại quốc, chính vì vậy một tác phẩm được xuất bản và bảo hộ tại một quốc gia nhưng có thể bị sao chép và xuất bản mà không cần xin phép tại quốc gia khác

Trong khi đó tại châu Âu, các chỉ thị của Liên minh châu Âu chỉ có tính chất tạo khuôn khổ và phải được bổ sung bằng các luật lệ của từng quốc gia Bắt đầu từ ngày 13 tháng 9 năm 2003 một quyền tác giả được sửa đổi có hiệu lực tại Đức mà trong đó việc

vô hiệu hóa các phương pháp bảo vệ chống lại việc sao chép cho các mục đích thương mại cũng như cá nhân đều bị phạt Theo Điều 95 khoản 1 của Luật quyền tác giả các biện pháp kỹ thuật không được phép vô hiệu hóa khi chưa có sự đồng ý của người đang sở hữu quyền này Các biện pháp bảo vệ chống sao chép ở các đĩa compact (CD) hay DVD

2

Bách khoa toàn thư mở: Quyền tác giả,

http://vi.wikipedia.org/wiki/Quy%E1%BB%81n_t%C3%A1c_gi%E1%BA%A3 , [ngày truy cập 2-1-2011]

3 Ts, Ls Lê Xuân Thảo, Đổi mới và hoàn thiện pháp luật về Sở hữu trí tuệ, NXB Tư pháp, Hà nội 2005, tr 24

Trang 15

không còn được phép vô hiệu hóa vì mục đích sao chép cho cá nhân nữa Tại Áo việc thực hiện EUCD đã có hiệu lực từ ngày 1 tháng 7 năm 2003 Trong thời gian gần đây IP- Enforcement Directive của Liên minh châu Âu là bước kế tiếp trong hướng đi thắt chặt hơn giữa các luật lệ về quyền tác giả

1.1.2 Bảo hộ quyền tác giả đối với tác phẩm văn học tại Việt Nam

1.1.2.1 Giai đoạn trước năm 2005

Ở nước ta, lĩnh vực pháp luật về quyền tác giả nói chung cũng như quyền tác giả đối với tác phẩm văn học nói riêng đã được xây dựng trong những năm tám mươi Nhà nước ta đã ban hành một số văn bản pháp luật, trong đó có quy định việc bảo hộ quyền tác giả như Hiến pháp 1992, Luật báo chí, Luật Xuất bản, Bộ luật hình sự… Tuy vậy, trên thực tế việc bảo hộ quyền tác giả được điều chỉnh trong Nghị định số 142-HĐBT ngày 14 tháng 11 năm 1986 của Hội đồng Bộ trưởng quy định quyền tác giả Qua một số năm thực hiện, Nghị định số 142-HĐBT đã tạo tiền đề pháp lý nhằm đáp ứng yêu cầu bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của tác giả, là căn cứ để cơ quan bảo hộ quyền tác giả (nay là Cục Bản quyền tác giả) thực hiện việc đăng kí quyền tác giả và giải quyết các tranh chấp về quyền tác giả Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện, Nghị định số 142-HĐBT đã bộc lộ một số hạn chế cả về nội dung và hình thức Về nội dung thì môt số đối tượng của quyền tác giả chưa được quy định bảo hộ cũng như thời gian bảo hộ quyền tác giả còn quá ngắn (30 năm sau khi tác giả chết), chưa có quy định về bảo hộ các quyền liên quan Những hạn chế về hình thức như Nghị định số 142-HĐBT là văn bản dưới luật nên bị hạn chế về hiệu lực thi hành Nghị định này chưa đáp ứng được các yêu cầu đặt ra trong việc bảo hộ quyền tác giả ở nước ta trong thời kỳ đầu của công cuộc chuyển đổi nền kinh tế Đối với nước ngoài, Nghị định số 142-HĐBT chưa được coi là văn bản có giá trị pháp lý cao để Nhà nước ta tham gia các Hiệp định song phương hoặc đa phương

về quyền tác giả

Để khắc phục các khiếm khuyết trên đây của Nghị định số 142-HĐBT, ngày 12 tháng 12 năm 1994, Ủy ban thường vụ Quốc hội đã thông qua Pháp lệnh bảo hộ quyền tác giả Với bố cục 7 chương và 47 điều, Pháp lệnh này quy định đầy đủ hơn về đối tượng bảo hộ cũng như quyền tác giả Về thời gian bảo hộ, Pháp lệnh đã tăng thời hạn bảo hộ đối với quyền tác giả trong suốt cuộc đời tác giả và 50 năm tiếp theo năm tác giả chết Ngoài ra, Pháp lệnh còn quy định cụ thể về mốc tính thời gian bảo hộ đối với tác phẩm đồng tác giả, tác phẩm di cảo

Với sự ra đời của Bộ luật dân sự năm 1995, quyền tác giả lần đầu tiên được quy định tập trung tại Chương một Phần thứ sáu Bộ luật dân sự - từ điều 745 đến điều 779 và tại một số điều khác có liên quan của Bộ luật dân sự Bộ luật dân sự có hiệu lực thi hành

Trang 16

vào ngày 01/07/1996, do đó, Pháp lệnh bảo hộ quyền tác giả hết hiệu lực Quy định về quyền tác giả của Bộ luật dân sự đã kế thừa và phát triển các quy định của Pháp lệnh về bảo hộ quyền tác giả Bộ luật dân sự đã kế thừa những quy định còn phù hợp của Pháp lệnh như khái niệm tác giả, thời điểm phát sinh quyền tác giả, lọai hình tác phẩm được bảo hộ, tác phẩm không được bảo hộ, thời hạn bảo hộ và hợp đồng sử dụng tác phẩm Bên cạnh đó cũng có một số bổ sung như quy định cụ thể về chủ sở hữu tác phẩm, quy định liên quan đến nghĩa vụ của người biểu diễn, tổ chức sản xuất băng đĩa… Cần nhấn mạnh là Bộ luật dân sự chỉ đề cập đến quyền tác giả dưới góc độ là một quyền dân sự Các vấn đề khác liên quan đến việc quản lý nhà nước về quyền tác giả như thủ tục đăng

ký quyền tác giả, việc xử lý các tổ chức, cá nhân có hành vi xâm phạm quyền tác giả cũng như việc giải quyết các tranh chấp về quyền tác giả được quy định trong các văn bản pháp luật khác là Nghị định của chính phủ, Thông tư của Bộ Văn hóa – Thông tin, Thông tư liên tịch giữa Bộ Văn hóa – Thông tin và một số cơ quan có liên quan

Việt Nam đã kí kết hai Hiệp định song phương về quyền tác giả với Hoa Kỳ (1997) và Thụy Sỹ (1999) và ký tiếp Hiệp định thương mại Việt Nam – Hoa Kỳ (2000), trong đó một phần rất quan trọng của Hiệp định này là quyền Sở hữu trí tuệ Ngày 26 tháng 7 năm 2004, Việt Nam đã chính thức gia nhập Công ước Bern về bảo hộ quyền tác giả Công ước Bern có hiệu lực tại Việt Nam từ ngày 26 tháng 10 năm 2004 Cũng trong năm 2004 sự ra đời của Quyết định số 08/QĐ-TCHV ngày 25 tháng 08 năm 2004 về việc thành lập Trung tâm quyền tác giả văn học Việt Nam cũng góp phần trong việc bảo hộ quyền tác giả đối với tác phẩm văn học nói chung cũng như tác phẩm văn học trên

1.1.2.2 Giai đoạn từ năm 2005 đến nay

Năm 2005, Việt Nam đã ban hành Luật Sở hữu trí tuệ Vấn đề quyền tác giả đã được quy định và áp dụng theo Luật Sở hữu trí tuệ 2005 (quy định tại Phần hai gồm 6 Chương và 45 điều từ điều 13 cho đến điều 57) và Bộ Luật dân sự 2005 (quy định tại Phần thứ sáu, tại Chương 34 từ điều 736 đến điều 749) Theo đó quyền tác giả đối với tác phẩm gốc được bảo hộ không phân biệt hình thức, ngôn ngữ thể hiện và chất lượng của tác phẩm Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 bảo đảm thực hiện Điều 3 của Hiệp định TRIPS

và Điều 3 của Công ước Berne Theo Điều 13 của Luật Sở hữu trí tuệ công dân của nước

4

Cục bản quyền tác giả: Quyết định của ban chấp hành hội nhà văn Việt Nam,

vit-nam&catid=35:to-chuc-quan-ly-tap-the&Itemid=80 , [truy cập ngày 5-1-2013]

Trang 17

http://www.cov.gov.vn/cbq/index.php?option=com_content&view=article&id=126:-trung-tam-quyn-tac-gi-vn-hc-thành viên Công ước Berne hoặc Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) sẽ được bảo hộ

Bên cạnh các văn bản pháp lý trên là Nghị định 100/2006/NĐ-CP của Chính Phủ ngày 21 tháng 9 năm 2006 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Bộ Luật dân sự, Luật Sở hữu trí tuệ về quyền tác giả và quyền liên quan đã hướng dẫn về quyền tác giả cũng như nêu ra những khái niệm cơ bản nhằm làm rõ hơn cũng như để người dân và tác giả có thể tiếp cận

Tại kì họp thứ 5, Quốc Hội khóa XII ngày 19 tháng 6 năm 2009, Quốc Hội đã tiến hành sửa đổi, bổ sung Luật Sở hữu trí tuệ và những quy định về quyền tác giả cũng được xem xét nhằm tạo môi trường thuận lợi cho nhà đầu tư và thúc đẩy sự phát triển trong nước Tiếp theo đó là sự ra đời của Nghị định 47/2009/NĐ-CP quy định về xử phạt vi phạm hành chính về quyền tác giả và quyền liên quan đã phần nào trừng trị và răng đe những hành vi vi phạm quyền tác giả Tuy nhiên cùng với quá trình hội nhập Internet việc phát hiện hành vi vi phạm đối với quyền tác giả nói chung cũng như quyền tác giả đối với tác phẩm văn học trên Internet nói riêng là rất khó khăn Vì vậy tính răng đe trong trường hợp này trở nên vô tác dụng Chính vì vậy Thông tư liên tịch số 07/2012/TTLT-BVHTTDL quy định trách nhiệm của doanh nghiệp cung cấp dịch vụ trung gian trong việc bảo hộ quyền tác giả và quyền liên quan trên mạng Internet và mạng viễn thông ra đời, điều này đã thật sự có hiệu quả bởi chính các doanh nghiệp sẽ phải chịu trách nhiệm bồi thường do vi phạm quyền tác giả khi họ là nguồn đăng tải, truyền tin hoặc cung cấp thông tin qua mạng mà không được phép của chủ thể quyền Trước những trách nhiệm như vậy các doanh nghiệp trong trường hợp này bắt buộc phải làm theo và sự hạn chế việc vi phạm bản quyền là điều tất yếu

1.2 Khái niệm quyền tác giả và quyền tác giả đối với tác phẩm văn học

1.2.1 Quyền tác giả

1.2.1.1 Khái niệm tác giả

Khái niệm tác giả được quy định tại Điều 736 Bộ luật dân sự năm 2005.Theo đó tác giả là người sáng tạo ra tác phẩm, trong trường hợp có hai hoặc nhiều người cùng sáng tạo ra tác phẩm thì những người đó là đồng tác giả Ngoài ra tại điều này còn quy định người sáng tạo ra tác phẩm phái sinh từ tác phẩm của người khác, bao gồm tác phẩm được dịch từ ngôn ngữ này sang ngôn ngữ khác, tác phẩm phóng tác, cải biên, chuyển thể, biên soạn, chú giải, tuyển chọn là tác giả của tác phẩm phái sinh đó Như vậy chủ thể được coi là tác giả của tác phẩm văn học, nghệ thuật và khoa học nếu tác phẩm đó là kết

5 Trang luật gia phạm: Cam kết của Việt nam trong lĩnh vực Sở hữu trí tuệ, cua-viet-nam-trong-linh-vuc-so-huu-tri-tue.aspx , [truy cập ngày 8-1-2013]

Trang 18

http://sunlaw.com.vn/chi-dan/cam-ket-quả của sáng tạo trực tiếp của chủ thể đó Cho nên người khác làm công việc hỗ trợ, đóng góp ý kiến hoặc cung cấp phương tiện kỹ thuật, tư liệu, cung cấp tài chính, đưa ra các ý tưởng để người khác sáng tạo không phải là tác giả

Có một vấn đề đặt ra là quy định tác giả là “người sáng tạo” thì dường như chỉ có thể nhân mới là người sáng tạo Trong khi đó trên thực tế, có một số loại tác phẩm được sáng tạo ra trên cơ sở một quá trình hợp tác như chương trình máy tính, sản phẩm nghe nhìn, các sưu tập dữ liệu mà tác giả có thể là một pháp nhân Các nhà làm luật dường như nhận ra vấn đề này và trong Luật Sở hữu trí tuệ 2005 đã đưa ra quy định quyền tác giả đối với tác phẩm Điện ảnh, tác phẩm Sân khấu (Điều 21), quyền tác giả đối với chương trình máy tính, sưu tập dữ liệu (Điều 22) cùng với việc thay thế khái niệm “chủ sở hữu tác phẩm” ở Bộ luật dân sự 1995 thành “chủ sở hữu quyền tác giả” để điều chỉnh vấn đề này Pháp luật Việt Nam cũng quy định cá nhân được bảo hộ quyền tác giả bao gồm cả

người nước ngoài thì điều chịu sự điều chỉnh bởi các quy định pháp luật quyền tác giả như nhau Quy định này xuất phát từ nguyên tắc đối xử quốc gia trong pháp luật quốc tế, nhằm thu hút những sản phẩm trí tuệ trong lĩnh vực văn học, nghệ thuật và khoa học được bảo hộ tại Việt Nam và tạo điều kiện cho chúng ta tiếp cận dễ dàng hơn với các sản phẩm trí tuệ này

Có ba tiêu chí để phân loại tác giả như sau: Đầu tiên nếu dựa vào số lượng người sáng tạo ra tác phẩm thì tác giả được phân loại thành tác giả đơn nhất và đồng tác giả Tác giả đơn nhất là người duy nhất sáng tạo ra toàn bộ tác phẩm và được hưởng quyền tác giả đối với toàn bộ tác phẩm mà họ sáng tạo ra Đồng tác giả là từ hai tác giả trở lên cùng trực tiếp sáng tạo ra tác phẩm Trong trường hợp xác định sự sáng tạo của từng tác giả đối với tác phẩm, mỗi tác giả có quyền đối với phần tác phẩm mà họ sáng tạo Tuy nhiên nếu không xác định được phần sáng tạo của từng người, các đồng tác giả có quyền

và nghĩa vụ như nhau đối với toàn bộ tác phẩm Ta cần phân biệt giữa đồng tác giả và tập thể tác giả bởi hai thuật ngữ này là khác nhau Đồng tác giả được sử dụng để chỉ trường hợp tác phẩm được tạo thành bởi sự thống nhất ý chí của các tác giả về nội dung, kết cấu, hình thức và cách trình bày tác phẩm Trong khi đó đối với tập thể tác giả thì không có sự thống nhất ý chí này, hay nói cách khác các tác giả sáng tạo độc lập nhưng sản phẩm của tất cả các tác giả được ghép lại thành một tác phẩm Tiếp theo nếu dựa vào nguồn gốc tạo

ra tác phẩm thì tác giả được phân loại thành tác giả của tác phẩm gốc và tác giả của tác phẩm phái sinh Tác giả của tác phẩm gốc là người đầu tiên tạo ra tác phẩm và hoàn thành độc lập khi tạo ra tác phẩm, tác giả của tác phẩm phái sinh là tác giả tạo ra tác

6 Điều 8 khoản 1 Nghị định 100/2006/NĐ-CP ngày 21 tháng 9 năm 2006 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Bộ luật dân sự, Luật sở hữu trí tuệ về quyền tác giả và quyền liên quan

Trang 19

phẩm trên cơ sở một hoặc một số tác phẩm khác nhưng có sự sáng tạo về hình thức thể hiện, cách trình bày tác phẩm so với tác phẩm ban đầu Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 lần đầu tiên định nghĩa “tác phẩm phái sinh” là tác phẩm dịch từ ngôn ngữ này sang ngôn

Đồng thời luật cũng quy định tác phẩm phái sinh chỉ được bảo hộ nếu không thương hại đến quyền tác giả đối với tác phẩm được dùng để làm tác phẩm phái sinh Như vậy so với quy định tương ứng tại Bộ luật dân sự 1995, định nghĩa “tác giả” trong Bộ luật dân sự

2005 đã tránh được cách hiểu mập mờ của cụm từ “những người sau đây cũng được công nhận là tác giả” của Điều 745 Bộ luật dân sự 1995, đồng thời cũng khẳng định việc tôn trọng quyền tác giả của tác phẩm gốc trong trường hợp tác phẩm đó được dịch, phóng tác, cải biên, chuyển thể, biên soạn, chú giải, tuyển chọn Cách quy định như vậy là phù hợp với Điều 2 khoản 3 và 5 của Công ước Berne về bảo hộ tác phẩm văn học nghệ thuật,

dựa vào mối quan hệ giữa tác giả và chủ sở hữu quyền tác giả thì tác giả phân thành tác giả đồng thời là chủ sở hữu quyền tác giả và tác giả không đồng thời là chủ sở hữu quyền tác giả Để phân biệt hai trường hợp trên, phải xét xem khi sáng tạo tác phẩm, tác giả đã sáng tạo một cách độc lập bằng thời gian và phương tiện vật chất của cá nhân mình, hay sáng tạo ra tác phẩm đó theo nhiệm vụ được cá nhân, tổ chức khác giao hoặc sáng tạo theo hợp đồng đã kí với cơ quan, tổ chức, cá nhân khác Nếu như khi sáng tạo tác phẩm, tác giả đã sáng tạo một cách độc lập, bằng thời gian và phương tiện vật chất của cá nhân mình, việc sáng tạo không phải do tác giả nhận nhiệm vụ từ cơ quan, tổ chức hay nằm trong hợp đồng đã kí kết thì trong trường hợp này tác giả đồng thời là chủ sở hữu đối với tác phẩm và theo quy định của pháp luật, tác giả vừa có quyền của tác giả, vừa có quyền của chủ sở quyền tác giả, tức có các quyền nhân thân quy định tại Điều 19 và các quyền

sáng tạo ra tác phẩm do thi hành nhiệm vụ hoặc theo hợp đồng sáng tác mà tác giả đã kí với người khác thì tác giả không đồng thời là chủ sở hữu quyền tác giả và tác giả chỉ có quyền của tác giả, điều đó có nghĩa là chủ sở hữu quyền tác giả (tổ chức,cá nhân giao nhiệm vụ hoặc kí hợp đồng với tác giả) sẽ nắm giữ một, một số hoặc toàn bộ các quyền

7 Điều 4 khoản 8 Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 (sửa đổi, bổ sung 2009)

8

Hoàng Minh Thái: Một số quy định về quyền tác giả và quyền liên quan đến quyền tác giả trong Bộ luật dân sự và

Luật Sở hữu trí tuệ, Tạp chí Nhà nước và pháp luật, số 9 (221), 2006, tr 50 – 55

9 Xem chi tiết tại Điều 19 và Điều 20 Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 (sửa đổi, bổ sung 2009)

10 Điều 36 Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 (sửa đổi, bổ sung 2009)

Trang 20

1.2.1.2 Khái niệm quyền tác giả

Theo nghĩa khách quan, quyền tác giả là một chế định pháp luật dân sự, được quy

định trong Bộ Luật dân sự năm 2005, Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 (sửa đổi, bổ sung năm 2009) và trong các văn bản pháp luật có liên quan, là một trong những bộ phận cấu thành của quyền Sở hữu trí tuệ (Quyền sở hữu trí tuệ bao gồm quyền tác giả và quyền liên quan đến quyền tác giả, quyền sở hữu công nghiệp và quyền đối với giống cây trồng) Hay nói cách khác quyền tác giả là tập hợp tất cả những quy phạm điều chỉnh những quan hệ có liên quan đến việc tạo dựng, sử dụng và chuyển giao các tác phẩm thuộc đối tượng của quyền tác giả

Từ điển Bách khoa toàn thư mở thì định nghĩa quyền tác giả hay tác quyền (tiếng

Anh là copyright) là độc quyền của tác giả cho tác phẩm của người này được dùng để bảo

vệ các sáng tạo tinh thần có tính chất văn hóa không bị vi phạm bản quyền

Theo quy định của pháp luật Việt Nam thì Quyền tác giả là quyền của tổ chức, cá

bởi các quyền nhân thân và quyền tài sản Các quyền nhân thân thuộc quyền tác giả có những đặc điểm là quyền của tác giả (tác giả đồng thời là chủ sở hữu quyền tác giả hoặc tác giả không đồng thời là chủ sở hữu quyền tác giả); mang lại giá trị tinh thần cho tác giả; được bảo hộ vô thời hạn (trừ quyền công bố tác phẩm); không được chuyển giao hay

để lại thừa kế (trừ quyền công bố tác phẩm) Còn quyền tài sản thuộc quyền tác giả là những quyền của chủ sở hữu quyền tác giả (chủ sở hữu đồng thời là tác giả hoặc chủ sở hữu không đồng thời là tác giả); mang lại giá trị vật chất cho chủ sở hữu quyền tác giả; được bảo hộ có thời hạn; là đối tượng của hợp đồng chuyển nhượng quyền tác giả hoặc hợp đồng sử dụng quyền tác giả

1.2.2 Quyền tác giả đối với tác phẩm văn học

1.2.2.1 Khái niệm tác phẩm văn học

Theo quy định của Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 (sửa đổi, bổ sung 2009) thì tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian là sáng tạo tập thể trên nền tảng truyền thống của một nhóm cá nhân nhằm phản ánh khát vọng của cộng đồng, thể hiện tương xứng đặc điểm văn hóa và xã hội của họ, các tiêu chuẩn và giá trị được lưu truyền bằng cách mô phỏng

hiểu về tác phẩm văn học Do đó người viết sẽ đưa ra khái niệm tác phẩm văn học trên một nền tảng riêng biệt Theo đó tác phẩm văn học là công trình nghệ thuật ngôn từ, kết quả của tiến trình lao động nghệ thuật, hoạt động sáng tác của cá nhân nhà văn hoặc sự

11 Điều 4 khoản 2 Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 (sửa đổi, bổ sung 2009)

12 Điều 23 khoản 1 Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 (sửa đổi, bổ sung 2009)

Trang 21

nổ lực sáng tác tập thể qua đó thể hiện những khái quát về cuộc sống, con người, biểu

Tác phẩm văn học bao gồm tiểu thuyết, truyện ngắn, thơ, các loại văn viết khác bất kể thuộc nội dung gì (hư cấu hoặc không hư cấu), độ dài, mục đích (giải trí, giáo dục, thông tin, quảng cáo, truyền hình…), hình thức (viết tay, đánh máy, in, sách, tờ rơi, báo, tạp chí), được xuất bản hay không xuất bản Đặc trưng của tác phẩm văn học là cách thể hiện Tác phẩm thuộc thể loại này thường được thể hiện bằng chữ viết hoặc ở dạng kí tự khác là kí tự thay thế cho chữ viết như chữ nổi, kí tự tốc kí, các loại kí hiệu tương tự khác Các loại kí hiệu khác này phải cũng có khả năng chuyển đổi thành chữ viết, có thể hiểu và tiếp cận cũng như sao chép được dưới những hình thức khác nhau

1.2.2.2 Phân loại tác phẩm văn học

Có ba tiêu chí để phân loại tác phẩm văn học là dựa vào phương thức tái hiện đời

nhiên trong bài nghiên cứu của mình do đặc trưng của tác phẩm văn học khi xuất hiện trên Internet nên người viết phân loại tác phẩm văn học theo hiện trạng của nó chứ không theo những tiêu chí trên Và theo cách phân loại này thì tác phẩm văn học xuất hiện trên Internet được chia thành hai loại là dòng văn học truyền thống được đưa trên mạng

Internet và dòng văn học mạng

Văn học truyền thống là những tác phẩm văn học được xuất bản thành sách, báo, tạp chí… đến tay người đọc thông qua kênh xuất bản (Hình 1) Những tác phẩm này sau khi xuất bản được đánh máy lại và đưa lên Internet Hoặc những tác phẩm được tác giả sáng tác hoàn thiện sau đó tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả xuất bản và phát hành trên Internet Đối với những tác phẩm này, tác giả là người làm chủ tác phẩm của mình từ nội dung, hình thức cũng như cách thể hiện tác phẩm, hoàn toàn không có sự sáng tạo từ bên ngoài, nói cách khác là không có sự tương tác giữa tác giả và độc giả Chính sự tương tác này đã tạo sự khác nhau cơ bản giữa văn học truyền thống và văn học mạng khi xuất hiện trên Internet

Văn học mạng là tác phẩm văn học được sáng tác từng phần trên mạng và được độc giả tham gia vào quá trình sáng tác, thậm chí thay đổi cả kết cấu, nội dung và cả văn phong của tác phẩm Điều đó có nghĩa là có sự tương tác mạnh mẽ giữa tác giả và độc giả trong quá trình sáng tác Thông thường đối với dòng văn học này độc giả tiếp cận tác phẩm bằng cách vào trực tiếp trang web có đăng tải tác phẩm, và chỉ cần thao tác click

Trang 22

http://tailieu.vn/xem-tai-lieu/the-loai-van-hoc-va-chuột là hiển thị toàn bộ nội dung tác phẩm (Hình 2) Tác phẩm văn học mạng có thể nói không bao giờ có bản chỉnh sửa cuối cùng bởi tác phẩm luôn nhận được sự phản hồi của độc giả để thay đổi tác phẩm và việc chỉnh sửa đó có thể diễn ra ngay cả sau khi tác giả chết

Hình 2: Dòng văn học mạng (ảnh chụp trên màn hình máy tính)

1.2.2.3 Quyền tác giả đối với tác phẩm văn học

Pháp luật nước ta không quy định thế nào là quyền tác giả đối với tác phẩm văn học nhưng có thể dựa vào khái niệm chung về quyền tác giả tại Điều 4 khoản 2 Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 (sửa đổi, bổ sung 2009) từ đó đưa ra khái niệm quyền tác giả đối với tác phẩm văn học là quyền của tổ chức, cá nhân đối với tác phẩm văn học do mình sáng tạo ra hoặc sở hữu Quyền đó sẽ bao gồm quyền nhân thân và quyền tài sản (người viết sẽ phân tích ở Chương 2)

15 Ảnh tác phẩm văn học:

http://www.google.com.vn/#hl=vi&rlz=1C2SAVI_enVN524VN524&sclient=psy-ab&q=h%C3%ACnh , [truy cập ngày 23-3-2013]

Trang 23

Tuy nhiên do đặc trưng của tác phẩm văn học xuất hiện trên Internet nên việc xác định quyền nhân thân cũng như quyền tài sản của tác giả hoặc chủ sở hữu quyền tác giả

sẽ không đơn giản Đối với tác phẩm văn học truyền thống trên Internet thì việc xác định

sẽ dễ dàng hơn bởi thông thường các tác phẩm văn học truyền thống như đã nói ở trên trước khi được đưa lên Internet thì đã thông qua kênh xuất bản Do vậy có thể xác định được tác giả cũng như năm xuất bản tác phẩm Điều đó đồng nghĩa với việc khi phát hiện hành vi xâm phạm quyền tác giả thì có thể liên hệ ngay để tác giả hoặc chủ sở hữu quyền tác giả có những biện pháp ngăn chặn và xử lý kịp thời Còn đối với tác phẩm văn học mạng do có sự tương tác mạnh mẽ giữa tác giả và độc giả, cũng như trong môi trường văn học mạng tác phẩm dễ bị chỉnh sửa, cắt xén, mạo danh làm mất uy tính Ngoài ra do xem đây là môi trường ảo nên tác giả thường không cung cấp chính xác thông tin của bản thân khi sáng tác tác phẩm do một nguyên nhân nào đó Chính điều này làm việc xác định quyền tác giả trở nên khó khăn bởi trên thực tế không thể xác định được tác giả thật sự của tác phẩm là ai

1.3 Internet và bảo hộ quyền tác giả đối với tác phẩm văn học trên Internet

1.3.1 Khái quát chung về Internet

1.3.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển Internet

Trên thế giới: Tiền thân của Internet ngày nay là mạng ARPANET Theo đó ta có

thể hiểu ARPANET là mạng kiểu WAN, nguyên thủy do DoD - Bộ Quốc phòng Hoa Kỳ

(DoD viết tắt từ Department of Defense) khởi xướng đầu thập niên 1960 nhằm tạo ra một

mạng tồn tại với chiến tranh hạt nhân lúc đó có thể xãy ra giữa Mỹ và Liên Xô Chữ

ARPANET là từ chữ Advance Research Project Agency và chữ NET viết hợp lại Đây là

một trong những mạng đầu tiên dùng kỹ thuật nối chuyển gói, nó bao gồm các mạng con

và nhiều máy chính Các mạng con thì được thiết kế dùng các minicomputer gọi là các

IMP, hay Bộ xử lý mẫu tin giao diện, (từ chữ Interface Message Processor) để bảo đảm

khả năng truyền thông, mỗi IMP phải nối với ít nhất hai IMP khác và gọi các phần mềm của các mạng con này là giao thức IMP-IMP Các IMP nối nhau bởi các tuyến điện thoai

phòng Mỹ đã liên kết bốn địa điểm đầu tiên vào tháng 7 năm 1969 gồm Viện nghiên cứu Stanford, Đại học California, Los Angeles, Đại học California, Santa Barbara tạo thành mạng liên khu vực (WideArea Network-WAN) đầu tiên được xây dựng Theo đó các máy tính được liên kết với nhau và sẽ có khả năng tự định đường truyền tin ngay sau khi một phần mạng đã được phá hủy Thuật ngữ “Internet” xuất hiện lần đầu tiên vào khoảng

16 Theo Đỗ Trung Thành, thư viện toán - tin học: ARPENET là gì?

http://dothanhyb.violet.vn/entry/show/entry_id/1962539/cat_id/2118472, [truy cập ngày 25-3-2013]

Trang 24

năm 1974, lúc đó mạng vẫn được gọi là ARPANET Năm 1983, giao thức TCP/IP chính thức được coi như một chuẩn đối với ngành quân sự Mỹ và tất cả các máy tính nối với ARPANET phải sử dụng chuẩn mới này Năm 1984, ARPANET được chia ra thành hai phần, phần thứ nhất vẫn được gọi là ARPANET, dành cho viện nghiên cứu và phát triển; phần thứ hai được gọi là MILNET, là mạng dung cho các mục đích quân sự Mốc lịch sử quan trọng của Internet được xác lập vào giữa thập niên 1980 khi tổ chức khoa học quốc gia Mỹ NSF thành lập mạng liên lết các trung tâm máy tính với nhau goi là NSFNET

Thời kì bùng nổ lần thứ nhất của Internet vào năm 1986 khi NSFNET chính thức được thiết lập, kết nối năm trung tâm máy tính Đây cũng là năm có sự bùng nổ kết nối, đặc biệt là ở các trường đại học Như vậy là NSF và ARPANET song song cùng tồn tại theo cùng một giao thức có kết nối với nhau Sau gần 20 năm hoạt động ARPANET không còn hiệu quả và đã ngừng hoạt vào khoảng năm 1990 nhưng mạng do NSF và ARPANET tạo ra được sử dụng vào mục đích dân dụng Đó chính là tiền thân của mạng Internet ngày nay và một số hảng lớn đã bắt đầu tổ chức, kinh doanh trên mạng

Thời kỳ bùng nổ thứ hai là vào năm 1991, Tim Burners Lee ở trung tâm nghiên cứu nguyên tử Châu Âu phát minh ra World wide Web (WWW) dựa theo ý tưởng từ siêu văn bản được Ted Nelson đưa ra năm 1985 Có thể nói đây là một cuộc cách mạng trên Internet vì người ta có thể truy cập trao đổi thông tin một cách dễ dàng Năm 1994 là năm

kỉ niệm lần thứ 25 ra đời ARPANET, NIST đề nghị thống nhất dùng giao thức TCP/IP WWW đã trở thành dịch vụ phổ biến thứ hai sau dịch vụ FPT, những hình ảnh video đầu tiên được truyền đi trên mạng Internet Năm 1995, NSFNET thu lại thành mạng nghiên cứu còn Internet thì vẫn tiếp tục phát triển Tháng 8 năm 1999 sáu công ty gồm Intersil, 3Com, Nokia, Aironet, Suybol và Lucent liên kết tạo thành liên minh tương thích Ethernet không dây VECA Thuật ngữ Wi-Fi ra đời, là tên gọi thống nhất để chỉ công nghệ kết nối cục bộ không dây đã được chuẩn hóa.Với khả năng kết nối mở như vậy, Internet đã trở thành một mạng lớn nhất trên thế giới trong mọi lĩnh vực như thương mại, chính trị, quân sự, nghiên cứu, giáo dục, văn hóa, xã hội… Cũng từ đó các dịch vụ trên Interhet không ngừng phát triển tạo ra cho nhân loại một thời kỳ mới, kỹ nguyên điện tử

Tại Việt Nam: Internet được coi như chính thức bắt đầu từ cuối năm 1997 Ngày

19 tháng 11 là ngày đầu tiên Việt Nam được hòa mạng toàn cầu Rob Hurle, giáo sư tại Đại học Australia được xem là người đầu tiên đặt nền móng cho sự phát triển Internet tại Việt Nam Rob Hurle đã cùng với Trần Bá Thái thuộc Viện Công nghệ thông tin tại Hà

17

Bách khoa toàn thư mở: Internet, http://vi.wikipedia.org/wiki/Internet#L.E1.BB.8Bch_s.E1.BB.AD_Internet , [truy cập ngày 8-1-2013]

Trang 25

Nội tiến hành kết nối máy tính ở Úc và Việt Nam thông qua đường dây điện thoại và viết một phần mềm cho hệ thống UNIX để có thể sử dụng modem liên lạc tại Việt Nam Năm

1992 thí nghiệm thành công và ở Hà Nội đã có hộp thư điện tử riêng Cùng với sự nổ lực của Rob Hurle và sự tài trợ bởi Chính phủ Úc năm 1994 Khoa Lịch sử Trường Đại học tổng hợp Hà Nội đã có một chiếc máy tính đầu tiên tại Việt Nam Đến năm 1995, nhu cầu

sử dụng Internet tại Việt Nam tăng quá lớn và tiền tài trợ của Chính phủ Úc không đủ chi dụng nên bắt đầu thu tiền người Việt nam sử dụng Internet và thương hiệu hóa Internet Tổng công ty Bưu chính Viễn thông Việt Nam đã hợp tác với Rob Hurle và đồng nghiệp Rob Hurle để có thể phát triển dịch vụ Internet tại Việt Nam Sau 2 năm thử nghiệm dịch

vụ, vào năm 1994 Viện công nghệ thông tin IOIT trở thành nhà cung cấp dịch vụ Internet đầu tiên tại Việt Nam, với dịch vụ thư điện tử dưới tên miền quốc gia vn Các dịch vụ dựa trên thư điện tử từ diễn đàn, liên lạc nội bộ, thư viện điện tử… được cung cấp cho hàng ngàn khách hàng chỉ sau một năm giới thiệu Tháng 11 năm 1997 thì VNPT, NetNam và 3 công ty khác trở thành nhà cung cấp dịch vụ Internet đầu tiên tại Việt

Ngày 17 tháng 10 năm 2000, Chỉ thị số 58-CT/TW được Phạm Thế Duyệt, thường trực Bộ Chính trị Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam phê duyệt về việc đẩy mạnh ứng dụng và phát triển công nghệ thông tin phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa Không dừng lại ở đó ngày 14 tháng 7 năm 2005 Bộ Bưu chính Viễn thông, Bộ Văn hóa- Thông Tin, Bộ Công an, Bộ Kế hoạch và Đầu tư đã ban hành Thông

tư liên tịch số 02/2005/TTLT về quản lý đại lý Internet Đến ngày 28 tháng 8 năm 2008 Chính phủ ban hành Nghị định 97/2008/NĐ-CP quy định về quản lý, cung cấp, sử dụng dịch vụ Internet và thông tin điện tử trên Internet thay thế Nghị Định 55/2001/NĐ-CP tạo môi trường pháp lý tương đối đầy đủ cho sự phát triển Internet tại Việt Nam Tiếp theo là ngày 9 tháng 10 năm 2010 Đại hội thành lập Hiệp hội Internet Việt Nam (VIA) diễn ra tại Hà Nội góp phần nâng cao tỷ lệ người sử dụng Internet, phấn đấu đạt mục tiêu 50-60% số hộ gia đỉnh và cá nhân có Internet băng rộng, tăng cường ứng dụng Internet vào

xã hội, y tế, giáo dục… Cũng trong năm này, thêm một dấu mốc quan trọng đối với Internet Việt Nam là ngày 1 tháng 12 hàng năm được chọn làm ngày kỉ niệm Internet

người sử dụng Internet tại Việt Nam đã vượt 31 triệu người, trong đó có 4 triệu người dùng Internet băng rộng Số lượng người sử dụng Internet đông đảo được xem là nền

18 Bách khoa toàn thư mở: Internet tại Việt Nam,

http://vi.wikipedia.org/wiki/Internet_t%E1%BA%A1i_Vi%E1%BB%87t_Nam , [truy cập ngày 9-1-2013]

19

Tập đoàn bưu chính viễn thông Việt Nam: Chặn đường 13 năm phát triển Internet ở việt Nam,

Internet-Viet-Nam/Default.aspx , [truy cập ngày 9-1-2013]

Trang 26

http://www.vnpt.com.vn/News/Tin_Tuc/ViewNews/tabid/85/newsid/13338/seo/Chang-duong-13-nam-phat-trien-tảng, tiềm năng tạo ra cơ hội và thách thức để phát triển thương mại điện tử ở Việt Nam Theo thống kê của Tổng cục Thống kê vào tháng 3 năm 2012, số người sử dụng Internet

ở Việt Nam đã đạt 32,1 triệu người với số thuê bao Internet trên cả nước ước tính đạt 4,2 triệu thuê bao (so sánh với 134 triệu thuê bao điện thoại, trong đó bao gồm15,3 triệu thuê

1.3.1.2 Internet và các khái niệm liên quan

Có nhiều cách hiểu khác nhau về Internet như Internet là một hệ thống gồm các mạng máy tính được liên kết với nhau trên phạm vi toàn thế giới Với hai mạng máy tính bất kì kết nối với nhau theo kiểu Internet có thể tiếp xúc và trao đổi dữ liệu với nhau nhờ

khoa toàn thư mở thì Internet là một hệ thống thông tin toàn cầu có thể được truy cập công cộng gồm các mạng máy tính được liên kết với nhau Hệ thống này truyền thông tin theo kiểu nối chuyển gói dữ liệu (packet switching) dựa trên một liên thức giao mạng đã được chuẩn hóa (giao thức IP) Hệ thống này bao gồm hàng ngàn mạng máy tính nhỏ hơn của các doanh nghiệp, các viện nghiên cứu và các trường Đại học, của người dùng cá nhân và các Chính phủ trên toàn cầu Hay trong công nghệ thông tin thì Internet là sự kết hợp của từ Inter + net Trong đó Inter nghĩa là International (quốc tế) và net là mạng nhện Từ đó ta có thể hiểu Internet là mạng quốc tế, mạng của các mạng và gồm nhiều mạng kết nối với nhau Còn trong Chiến lược phát triển thông tin đến năm 2010 (Ban hành kèm theo quyết định số 219/2005QĐ-TTg ngày 09 tháng 9 năm 2005 của Thủ tướng Chính phủ) Internet được định nghĩa là mạng thông tin diện rộng bao trùm toàn cầu, hình thành trên cơ sở kết nối máy tính điện tử, cho phép liên kết con người lại bằng thông tin và kết nối nguồn tri thức đã tích lũy được của toàn nhân loại trong một mạng lưu thông thống nhất Quy mô, phạm vi ảnh hưởng của thông tin trên mạng Internet rộng lớn hơn nhiều so với các phương tiện thông tin thông thường khác Với Internet, mọi người có khả năng và điều kiện rất thuận lợi trong việc tiếp cận trực tiếp với các nguồn thông tin trên thế giới Qua đó ta thấy có rất nhiều cách định nghĩa khác nhau về Internet tùy từng góc độ nghiên cứu Nhưng dù ở hướng tiếp cận nào các định nghĩa về Internet đều dựa trên 3 nội dung cơ bản là bản chất mạng (network), bản chất số (digital) và bản chất truyền thông (communication) của nó Ta cần hiểu thêm mạng Internet là mạng chung không có một tổ chức tối cao nào quản lí mà chỉ có một tổ chức đứng ra điều phối

20 H.M.A, Báo mới: Số người sử dụng Internet đạt trên 32 triệu người, internet-dat-tren-32-trieu-nguoi/76/8009233.epi , [truy cập ngày 9-1-2013]

http://www.baomoi.com/So-nguoi-su-dung-21

Hệ thống học tập trực tuyến Đại học quốc gia Hà nội: các khái niệm cơ bản về Internet,

http://vnu.daihoctructuyen.edu.vn/index.php/2012031429226/cac-khai-niem-co-ban-ve-internet.html , [truy cập ngày 10-1-2013]

Trang 27

hoạt động là Hiệp hội Internet IOSC Mỗi phần nhỏ của mạng do các tổ chức khác nhau của từng khu vực quản lí, không ai hay một thực thể cố định cũng như trung tâm nào có quyền điều khiển

Không có gì khó khăn để chứng minh rằng Internet vừa là một phương tiện truyền thông, vừa là một hình thức truyền thông Vấn đề cần làm rõ ở đây, chính là tính chất đặc biệt của Internet nhìn từ lý thuyết truyền thông Cái mới và độc đáo của phương tiện truyền thông này là bản thân nó tích hợp 3 chức năng truyền thông, tùy vào mục đích của người sử dụng, điều mà các phương tiện truyền thông trước nó (như báo in, phát thanh, truyền hình) hầu như không làm được Đầu tiên, Internet có khả năng làm chức năng

phương tiện truyền thông liên cá nhân, mà biểu hiện tiêu biểu của nó là thư điện tử

(e-mail), điện thoại Internet (Internet phone), tán gẫu qua mạng (chat), diễn đàn (forum), website nội bộ, blog (một dạng nhật kí, website cá nhân trên mạng Internet)… Internet có chức năng tạo môi trường liên lạc tuyệt vời và rẻ tiền cho các cá nhân hay tổ chức giao dịch với nhau tương tự như những kỹ thuật truyền thông liên cá nhân truyền thống hiện nay vẫn còn trong đời sống như gửi thư, điện thoại, telex hay fax… Thứ hai là chức năng

của một phương tiện truyền thông tập thể Nhiều cơ quan và công ty đã ứng dụng việc

thiết lập những mạng cục bộ hoặc những trang chủ Internet diện rộng vào việc quản lý và giao dịch thông tin trong nội bộ đơn vị hay nội bộ ngành của mình, vượt qua những ngăn cách về không gian địa lý hay thời gian Và cuối cùng chức năng quan trọng của Internet

là chức năng của một phương tiện truyền thông đại chúng Ngày nay với Internet, con người trên khắp hành tin có thể chia sẻ, tận hưởng, vừa có thể là chủ thể truyền thông (người khởi nguồn) lại vừa có thể là khách thể truyền thông (người tiếp nhận) Internet tạo ra khả năng cung cấp thông tin trực tuyến theo yêu cầu của người khai thác nó Chúng

ta có thể nhận được thông tin như mong muốn từ Internet, cho dù mong muốn đó rất đa dạng và mang tính cá nhân Với thế mạnh công nghệ trong việc truyền tải thông tin đến

công cộng, Internet nhanh chóng được khai thac thành một phương tiện thông tin đại

chúng đặc biệt Đó là một phương tiện truyền thông tin đại chúng vượt ra rào cản không

gian và thời gian Biểu hiện rõ nét nhất của phương tiện truyền thông đại chúng này là việc hình thành một loại hình báo chí mới: báo chí phát hành trên mạng Khi đưa một tờ báo lên mạng Internet lúc ban đầu, xét về mặt hình thức, đó chỉ là sự thay đổi vật mạng tin (kênh truyền thông) từ tờ báo giấy sang thiết bị số hóa Nhưng đến lược mình, báo chí phát hành trên mạng lại khai thác được những tính năng mới (mà cho đến nay chúng ta chưa thể hình dung được hết)

Tóm lại, nhìn từ góc độ lý luận báo chí – truyền thông, có thể nói, Internet là một thực thể truyền thông trực tuyến (online communication) Internet vừa là nguồn tài

Trang 28

nguyên thông tin quý giá vừa là một công cụ cần thiết cho hoạt động truyền thông Con người trên cả hành tinh thuộc mọi quốc gia dân tộc, qua Internet, có thể trao đổi với nhau; tri thức của từng cộng đồng, từng quốc gia được tích lũy và lưu trữ; các ngân hàng dữ liệu được quốc tế hoá, trở thành tài sản của toàn thể loài người Ứng dụng của Internet khẳng định vai trò, ý nghĩa quan trọng của nó đối với đời sống xã hội, đặc biệt trong thời

kỳ bùng nổ thông tin hiện nay Internet là mạng thông tin lưu thông nhất quán trên toàn cầu - một mái nhà thông tin chung của thế giới, kho thông tin khổng lồ về tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội Internet tạo ra khả năng xử lý, sắp xếp khối lượng thông tin khổng lồ đó một cách khoa học để sử dụng và trao đổi với nhau một cách nhanh chóng

Và Internet cũng tạo ra một loại hình truyền thông đại chúng mới với ý nghĩa là hoạt động thông tin mang tính chính trị - xã hội, nghề nghiệp thuộc lĩnh vực chính trị, tư tưởng, văn hóa - tinh thần của xã hội, góp phần thúc đẩy sự phát triển của đời sống xã hội cũng như công nghệ Và đó cũng là lý do mà số người sử dụng Internet trên thế giới cũng như ở Việt Nam ngày càng tăng lên

Để hiểu rõ hơn về Internet cũng như vì sao mà Internet có được nhiều chức năng thông dụng như vậy có lẽ ta cần biết đến những khái niệm sau:

TCP/IP: (Transmission Control Protocol/Internet Protocol) là một giao thức chuẩn

trên Internet, cho phép truyền dữ liệu từ máy tính này đến máy tính khác trên mạng Nhờ giao thức này mà các chủ máy (server) trên Internet được kết nối với nhau một cách dễ dàng Và để các máy tính có thể liên lạc với nhau thì mỗi máy phải có một địa chỉ riêng biệt gọi là địa chỉ IP Cấu trúc địa chỉ này gồm 32 bit và được chia thành 4 nhóm (IP4) Các nhóm được cách nhau bởi dấu chấm (.) Mỗi nhóm gồm 3 kí tự số có giá trị từ 0 đến

255 và có dạng xxx.xxx.xxx.xxx Ví dụ: 192.168.1 1

Website: là một tập hợp các trang web có một địa chỉ duy nhất trên Internet dùng

để định rõ vị trí của nó Một trang web (web page) là một hồ sơ web Trang chủ của website thường gọi là Home Page tức là trang chính đóng vai trò giới thiệu về website Hầu hết các website chứa hàng chục, hàng trăm hay hàng nghìn trang web Bắt đầu một địa chỉ website là phương thức truyền http:// (phương thức truyền dữ liệu), tiếp theo là

một cách hiểu đơn giản trong Luật công nghệ thông tin thì website là trang thông tin hoặc

22

Hệ thống học tập trực tuyến Đại học quốc gia Hà nội: các khái niệm cơ bản về Internet,

http://vnu.daihoctructuyen.edu.vn/index.php/2012031429226/cac-khai-niem-co-ban-ve-internet.html , [truy cập ngày 10-1-2013]

Trang 29

một tập hợp trang thông tin trên môi trường mạng phục vụ cho việc cung cấp, trao đổi

Lưu trữ dữ liệu: hay thường gọi là lưu trữ hay bộ nhớ là khái niệm chỉ các dấu

hiệu máy tính, thiết bị và phương tiện ghi/chứa dữ liệu cho phép lưu trữ dữ liệu số sử dụng trong tính toán và trong một khoản thời gian nhất định Trong ngôn ngữ hiện đại bộ nhớ thường được hiểu là một dạng lưu trữ sử dụng chất bán dẫn cho phép truy cập ngẫu nhiên với tốc độ cao nhưng thường là lưu trữ tạm thời (RAM) Tương tự lưu trữ thường chỉ tới các phương tiện từ tính có dung lượng lớn như đĩa cứng, băng từ, các phương tiện quang học như đĩa quang (optical disk), CD, DVD, BlueRay và các phương tiện khác có

tốc độ thấp hơn RAM nhưng có khả năng lưu trữ lâu hơn RAM Thông thường bộ nhớ thường được gọi là lưu trữ sơ cấp hoặc bộ nhớ trong và lưu trữ được gọi là lưu trữ thứ

cấp hoặc bộ nhớ ngoài Ta sẽ lần lược nghiên cứu những khái niệm này Đầu tiên đối với lưu trữ sơ cấp (bộ nhớ chính hoặc bộ nhớ trong) được truy cập trực tiếp bởi CPU.CPU sẽ liên tục đọc các lệnh được lưu trong bộ nhớ này và thực hiện các lệnh Các dữ liệu này được xử lý thường xuyên cũng như được lưu trong bộ nhớ Còn đối với lưu trữ thứ cấp (bộ nhớ ngoài) khác lưu trữ sơ cấp ở chỗ CPU không đọc trực tiếp mà máy tính sử dụng các kênh nhập/ xuất để truy cập bộ nhớ thứ cấp và chuyển các dữ liệu được yêu cầu sử dụng bộ đệm trên bộ nhớ sơ cấp Lưu trữ thứ cấp thường được định dạng theo hệ thống tệp tin cho phép tổ chức dữ liệu thành các tệp tin và thư mục đồng thời chứa các thông tin

bổ sung (metadata) mô tả người sở hữu tệp tin, thời gian tạo, thời gian truy cập cuối cùng, thời gian thay đổi cuối cùng, quyền truy cập… Đồng thời dữ liệu trên lưu trữ thứ cấp không bị mất đi khi tắt điện, về chi phí thì lưu trữ thứ cấp cũng rẻ hơn nhiều so với lưu trữ sơ cấp Vì vậy thông thường các máy tính hiện đại sẽ có dung lượng lưu trữ thứ cấp lớn hơn nhiều so với sơ cấp và dữ liệu được lưu trữ lâu dài trên lưu trữ thứ cấp Một

số ví dụ về công nghệ lưu trữ thứ cấp bao gồm: bộ nhớ flash, đĩa mềm, băng từ, ổ lomega Zip…

Qua cách hiểu sơ lược về lưu trữ dữ liệu ở trên ta thấy với sự xuất hiện của mạng Internet làm cho việc lưu trữ trở nên dể dàng cũng như ít tốn kém thời gian hơn Thay vì trước kia để lưu trữ dữ liệu hay thông tin người ta viết trên những thanh gỗ, tiếp theo là

sự xuất hiện của giấy Tuy nhiên những thông tin này được lưu trữ lại không bền về mặt thời gian, chiếm nhiều diện tích và chi phí Khi nhu cầu thông tin được đáp ứng đầy đủ thì con người lại nghĩ đến việc chia sẽ những thông tin mà họ có được Nhưng việc chia

sẽ không dừng lại ở người chia sẽ và người được chia sẽ thông qua các file đính kèm hoặc thư điện tử (email) mà họ còn muốn nhân rộng hơn ở mức độ cộng đồng Chính vì

23 Điều 4 khoản 17 Luật công nghệ thông tin năm 2006

Trang 30

vậy Blog hay còn gọi là các trang cá nhân, các trang thông tin điện tử ra đời Những ai muốn tìm hiểu thì chỉ việc truy cập vào những trang điện tử đó Đến đây thì vấn đề thông tin đã thật sự mang tính cộng đồng và đúng với bản chất của Internet

Bảo mật dữ liệu: Về cơ bản dựa trên kỹ thuật bảo mật ta có thể quy chiếu công

tác bảo mật thông tin thành hai nhóm là bảo mật thông tin dữ liệu bằng các biện pháp kỹ thuật phần cứng và bằng phần mềm thông qua các thuật toán bảo mật Tuy nhiên để đảm bảo an toàn dữ liệu trên đường truyền mạng máy tính có hiệu quả nhằm chống các khả năng xâm phạm và các rủi ro hay sự cố có thể xảy ra trong quá trình truyền tin thì việc phòng chống và xác định chính xác nguy cơ ảnh hưởng đến dữ liệu là vô cùng quan trọng Trên thực tế có hai hình thức gây hại chính cho dữ liệu truyền tin dó là hình thức chủ động (Active) và thụ động (Passive), cả hai hình thức này đều hướng đến việc đánh cấp thông tin và phá hoại thông tin Đối với việc đánh cấp thông tin kẻ xâm phạm có thể kiểm tra được tần số trao đổi, số lượng gói tin truyền đi và độ dài của gói tin này Tuy nhiên hành động trên thông thường với mục đích là xem thông tin, sao chép, đánh cắp nội dung thông tin chứ không làm nguy hại về mặt vật lý đối với dữ liệu hay làm sai lệch nội dung dữ liệu Còn trường hợp phá hoại thông tin tức kẻ xâm phạm làm thay đổi nội dung

dữ liệu, chèn thêm thông tin dữ liệu, phá hủy làm hỏng các gói tin, làm trễ thời gian truyền tin, sao chép lập đi, lập lại dữ liệu… với mục đích phá hỏng hay làm sai lệch nội dung thông tin Chính những hành vi xâm phạm kể trên nên việc bảo mật thông tin được đặt ra là một vấn đề thiết yếu Ta có thể kể đến những giải pháp sau trong việc bảo mật thông tin như sau:

Quyền truy cập: Là lớp bảo vệ trong cùng nhằm kiểm soát các tài nguyên của

mạng và quyền hạn trên tài nguyên đó Việc kiểm soát thường ở mức tệp – các file Khi tiếp cận một trang thông tin nào đó có thể người tiếp cận là khách hoặc là thành viên tham gia Chính quyền truy cập này cho phép người truy cập có quyền hay không tiếp cận được thông tin trên trang đó và có hay không quyền phản hồi đối với thông tin trên

Đăng kí tên và mật khẩu: Mỗi người sử dụng muốn được tham gia vào mạng để sử

dụng tài nguyên đều phải đăng kí tên và mật khẩu trước Người quản trị mạng có trách nhiệm quản lý, kiểm soát mọi hoạt động của trang thông tin điện tử và xác định quyền truy cập của những người sử dụng khác nhau theo thời gian và không gian Hình thức bảo

vệ này cho phép người quản lý trang thông tin đó có thể kiểm soát được những thông tin

mà người đã đăng kí tên và mật khẩu trước đó đã đưa ra Mỗi người khi đăng kí tên và mật khẩu của một trang nào đó trên nguyên tắt họ sẽ có một tài khoản nhất định trong trang đó Bài viết cũng như các thông tin của người dùng tên và mật khẩu đó đều được lưu lại kể cả ngày giờ cũng giống như bài viết trong file của các foder Các thông tin này

Trang 31

không thể sửa được bởi một người bất kì trừ khi họ biết được tên cũng như mật khẩu đăng nhập của người dùng

Mã hóa dữ liệu: Là biện pháp bảo mật thông tin trên đường truyền Dữ liệu bị biến

đổi từ dạng nhận thức được sang dạng không nhận thức được theo một thuật toán nào đó

và sẽ được biến đổi ngược lại ở trạm nhận (giải mã) Đây là lớp bảo vệ thông tin rất quan trọng bởi mỗi một trang thông tin sẽ có một cách thức viết mã hóa, ngôn ngữ mã hóa riêng và các thông tin khi truyền tới sẽ dựa trên các mã nguồn đã viết để được mã hóa để lưu trữ Do mỗi lập trình viên có cách viết cũng như ngôn ngữ mã hóa riêng nên nếu các thông tin bị đánh cắp cũng phải giải mã mới có được nguồn thông tin đó Việc giải mã cần rất nhiều thời gian, công sức tuy nhiên vẫn có thể xâm nhập được

Tường lửa – firewall: Đây là biện pháp ngăn chặn xâm nhập trái phép và lọc bỏ

các gói tin không mong muốn gửi hoặc nhận vì lý do nào đó Lớp bảo vệ này là thường thấy ở các trang thông tin nhằm tránh tình trạng bị đánh cắp thông tin hay sự phá hoại từ các tác nhân bên ngoài Hình thức bảo vệ có thể hình dung như một ngôi nhà có cửa được khóa lại, chủ nhà có thể kiểm soát việc người khác vào Tuy nhiên biện pháp này cũng không thật sự an toàn bởi các hacker có thể bẻ khóa xâm nhập đánh cắp và phá hủy thông tin

Quản trị mạng: Đây là việc bảo đảm cho hệ thống mạng hoạt động một cách bình

thường, không xảy ra sự cố Bất kì một trang thông tin nào cũng có một hay một nhóm quản trị để quản lý, theo dõi diễn biến của trang thông tin đó, xem xét có sự xâm nhập nào không cũng như luôn tìm cách khắc phục các khiếm khuyết trong việc bảo mật thông tin

1.3.2 Mối quan hệ giữa Internet và bảo hộ quyền tác giả đối với tác phẩm văn học trên Internet

1.3.2.1 Khái niệm bảo hộ quyền tác giả và bảo hộ quyền tác giả đối với tác phẩm văn học trên Internet

Bảo hộ quyền tác giả: Pháp luật nước ta không quy định thế nào là bảo hộ quyền

tác giả tuy nhiên qua các văn bản pháp lý điều chỉnh vấn đề bảo hộ quyền tác giả ta có thể hiểu bảo hộ quyền tác giả là việc nhà nước ra các quy định pháp luật về các quyền, các giới hạn quyền và một số ngăn cắm các hành vi xâm phạm quyền tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả nhằm đảm bảo những quyền lợi hợp lý và chính đáng của họ đối với tác

24

TS Vũ Mạnh Chu: Quyền tác giả và bảo hộ quyền tác giả - Những quy định hiện hành, Thông tin khoa học và

công nghệ thành phố Cần Thơ, gia-va-Bao-ho-quyen-tac-gia -Nhung-quy-dinh-hien-hanh , [truy cập ngày 12-1-2013]

Trang 32

http://canthostnews.vn/Default.aspx?tabid=84&NDID=7921&keyword=Quyen-tac-Hay ta có thể hiểu một cách đơn giản bảo hộ quyền tác giả là việc các quy định của pháp luật ban hành nhằm bảo vệ quyền nhân thân và quyền tài sản của tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả đối với các thành quả lao động trí tuệ sáng tạo hoặc thành quả đầu tư của họ Như vậy bảo hộ quyền tác giả theo định nghĩa này bao gồm ba nội dung: thứ nhất

là ban hành các quy định của pháp luật về quyền tác giả, nội dung thứ hai là xác lập quyền cho tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả (hoạt động cấp văn bằng bảo hộ) và cuối cùng là bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả Ta cần lưu

ý về vấn đề xác lập quyền trong trường hợp này, bởi đặt trưng của quyền tác giả không giống các đối tượng sở hữu công nghiệp, việc xác lập quyền đã có khi tác phẩm được sáng tạo và thể hiện dưới hình thức vật chất nhất định chứ không phải khi tác giả được cấp văn bằng bảo hộ thông qua thủ tục đăng ký Tuy nhiên việc cấp văn bằng bảo hộ chính là hình thức xác lập quyền một cách hiện hữu đối với tác phẩm, cũng như là một bằng chứng hữu hiệu nhất trong việc chứng minh khi có tranh chấp

Để hoàn thiện khả năng bảo hộ pháp lý và tính hiệu lực của quyền tác giả Nhà nước đã quy định các chế tài và áp dụng các biện pháp thực thi về hành chính, dân sự, hình sự nhằm chống lại các hành vi trái pháp luật xâm phạm quyền tác giả Ngoài ra, Nhà nước còn ban hành các quy định về địa vị pháp lý của hệ thống quản lý hành chính, thẩm quyền của các cơ quan thực thi, hệ thống tư pháp để xét xử các vụ án xâm phạm quyền tác giả

Bảo hộ quyền tác giả đối với tác phẩm văn học trên Internet: Như ta đã biết quyền

tác giả đối với tác phẩm văn học là là quyền của tổ chức, cá nhân đối với tác phẩm văn học do mình sáng tạo ra hoặc sở hữu và tác phẩm văn học trên Internet (bao gồm văn học truyền thống và văn học mạng) là công trình nghệ thuật ngôn từ, kết quả của tiến trình lao động nghệ thuật, hoạt động sáng tác của cá nhân nhà văn hoặc sự nổ lực sáng tác tập thể qua đó thể hiện những khái quát về cuộc sống, con người, biểu hiện tâm tư, tình cảm, thái độ… của chủ thể trước thực tại bằng hình tượng nghệ thuật được đưa lên Internet bằng hình thức đánh máy hay viết tay thông qua kênh xuất bản (đối với tác phẩm văn học truyền thống) hay tác phẩm trực tiếp sáng tác trên mạng mà không qua kênh xuất bản nào (đối với tác phẩm văn học mạng) Qua đó ta có thể hình dung việc bảo hộ quyền tác giả đối với tác phẩm văn học trên Internet là việc nhà nước ra các quy định pháp luật về các quyền, các giới hạn quyền và một số ngăn cắm các hành vi xâm phạm quyền tác giả, chủ

sở hữu quyền tác giả đối với tác phẩm văn học mà tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả đã đưa lên Internet, nhằm đảm bảo những quyền lợi hợp lý và chính đáng của họ đối với tác phẩm văn học của mình khi xuất hiện trên Internet Tuy nhiên do những tiện ích mà Internet mang lại như đã phân tích ở trên, thì việc bảo hộ quyền tác giả đối với tác phẩm

Trang 33

văn học trên Internet thật sự là một thách thức đối với tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả cũng như cơ quan chức năng

1.3.2.2 Mối quan hệ giữa Internet và bảo hộ quyền tác giả đối với tác phẩm văn học trên Internet

Như đã phân tích ở trên Internet thật sự là một phương tiện hữu ích trong việc cập nhật, trao đổi thông tin, giao lưu giữa mọi cá nhân, tổ chức và quốc gia trên khắp hành tinh Điều đó góp phần vào sự phát triển của quyền tự do ngôn luận trên toàn thế giới Với khả năng mà Internet mang lại thì chỉ trong một thời gian ngắn con người có thể tiếp cận nguồn thông tin mà mình mong muốn thay vì phải tìm nó trên những tờ báo, tạp chí, quyển sách một cách khó khăn và mất nhiều thời gian Trong lĩnh vực văn học việc phát hành các tác phẩm như tiểu thuyết, truyện ngắn, thơ và các hình thức khác của tác phẩm văn học trên Internet thật sự mang lại một tiện ích cho độc giả đam mê lĩnh vực này cũng như cung cấp một nguồn tài liệu quan trọng trong quá trình học tập, nghiên cứu Với một thời gian nhanh chóng và chi phí cho việc truy cập cũng không đáng kể thay vì độc giả phải mua một tác phẩm văn học tại nhà sách với giá khá đắt và việc tìm ra tác phẩm đó phải cần một khoảng thời gian nhất định Chính điều này đã làm cho việc truy cập tác phẩm văn học trên Internet trở nên phổ biến Ngoài ra, một ưu điểm lớn của Internet là thu hút một lượng lớn người truy cập và sử dụng Vì vậy tác giả đã dựa vào điều này để đưa tác phẩm của mình lên Internet nhằm quảng bá tên tuổi, danh tiếng và nhận tiền nhuận bút từ các trang web hay chính các trang web đưa lên để nhận khoản lợi từ phía người truy cập (đối với tác phẩm văn học truyền thống) hoặc tác giả sáng tác chỉ với mục đích chia sẻ cảm xúc, nhận được sự đồng cảm của độc giả đối với tác phẩm văn học của mình (đối với tác phẩm văn học mạng) Qua đó ta thấy Internet cũng góp phần tác động lớn đối với tác phẩm văn học của tác giả bởi nhờ Internet mà tác phẩm đó được nhiều người biết đến, tác giả trở nên nổi tiếng hay thông qua Internet tác giả nhận được một khoản tiền nhuận bút bởi các trang web Ngoài ra Internet còn là nơi chia sẻ những tâm

tư, cảm xúc của tác giả thông qua tác phẩm Đối với tác phẩm văn học thì cung cấp cho Internet một nguồn tư liệu quan trọng trong lĩnh vực văn học, góp phần làm giàu thêm truyền thống văn hóa của dân tộc

Tuy nhiên cũng chính những lợi ích mà Internet mang lại như truy cập một cách nhanh chóng, dễ dàng thì việc sao chép và dán (copy – paste) đã giúp nhiều trang thông tin đánh cắp tác phẩm văn học và tồn tại bên cạnh những nổ lực của người cung cấp thông tin một cách chính đáng Tác giả của tác phẩm văn học đôi khi cũng không được quan tâm (phần lớn là đối với tác phẩm văn học mạng) bởi nhiều lúc người truy cập còn không nhớ đến tên những trang web hay báo mạng đã đăng tải tác phẩm đó thì nói chi

Trang 34

đến tác giả của tác phẩm mà họ tiếp cận Đó là do người sử dụng Internet chỉ nhằm mục đích giải trí vì vậy trong quá trình lướt web họ vô tình tiếp cận tác phẩm văn học một cách thụ động Điều này đã vô tình ảnh hưởng đến quyền nhân thân của tác giả bởi tác phẩm sáng tác nhưng lại không được biết tên thật hoặc bút danh người tạo ra nó Có thể nói Internet là một công cụ chính trong việc ăn cắp bản quyền tác giả Nhiều Website công khai buôn bán, sao chép, dowload một cách đơn giản như copy – paste hay chỉ đăng

kí user, password riêng để tải về Và hầu như các website thường không sử dụng các biện pháp nhằm tránh trường hợp ăn cắp bản quyền một cách dễ dàng bởi mục đích của họ chỉ

để thu hút độc giả càng nhiều càng tốt Ngoài ra hầu hết các website không thu bất cứ khoản phí nào từ việc độc giả tiếp cận với tác phẩm văn học đó ngoại trừ tiền sử dụng mạng mà độc giả trả cho nhà cung cấp dịch vụ nên việc thu hút độc giả trở trên có hiệu quả Các website này tồn tại một cách ngang nhiên và không bị sự kiểm soát của cơ quan chức năng Đồng thời khi lập các website này người lập không tốn chi phí cho tên miền (ngoại trừ tên miền vn) Điều đó làm các website này trở nên phổ biến và ngang nhiên tồn tại cũng như thông qua nó mà nạn ăn cấp bản quyền đối với tác phẩm văn học trên Internet ngày càng nhiều Chính vì vậy mà pháp luật nước ta đã quy định các quyền, các giới hạn quyền và một số ngăn cắm các hành vi xâm phạm quyền tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả đối với tác phẩm nói chung và tác phẩm văn học trên Internet nói riêng để bảo hộ tác phẩm đó Tuy nhiên chính bản thân tác giả cũng cần biết được quyền của mình đối với tác phẩm văn học trên Internet cũng như góp phần ngăn chặn thông qua các biện pháp bảo vệ Có như vậy thì vấn đề bảo hộ quyền tác giả đối với tác phẩm văn học trên Internet mới thật sự có hiệu quả

Từ những phân tích trên ta thấy mối quan hệ của Internet và bảo hộ quyền tác giả đối với tác phẩm văn học trên Internet là mật thiết bởi thông qua Internet quyền tác giả đối tác phẩm văn học trên Internet mới bị xâm phạm Vì vậy, đặt vấn đề bảo hộ quyền tác giả đối với tác phẩm văn học trên Internet là hoàn toàn thiết thực so với thực tế diễn ra Bởi chỉ có vậy mới có thể góp phần ngăn chặn và hạn chế hành vi xâm phạm quyền tác giả đối với tác phẩm văn học trên Internet

1.3.3 Thuận lợi và khó khăn trong việc bảo hộ quyền tác giả đối với tác phẩm văn học trên Internet

Thuận lợi:

Đầu tiên có thể kể đến những quy định của pháp luật về việc bảo hộ quyền tác giả đối với tác phẩm nói chung và tác phẩm văn học trên Internet nói riêng Đó thật sự là một thuận lợi bởi về cơ bản đã điều chỉnh được vấn đề bảo hộ quyền tác giả đặt ra Thông qua những quy định đó, cơ quan chức năng cũng như tác giả có thể biết được giới hạn quyền

Trang 35

của chính tác giả đối với tác phẩm hay để có được những quyền đó thì cần điều kiện như thế nào Ngoài ra còn thủ tục đăng ký và cấp giấy chứng nhận đăng kí đối với tác phẩm, các biện xử lý khi có hành vi xâm phạm quyền tác giả… Tất cả đều quy định cụ thể trong văn bản pháp luật Điều đó làm việc áp dụng pháp luật trong vấn đề bảo hộ quyền tác giả trở nên dễ dàng Mới đây là sự ra đời của Thông tư liên tịch số 07/2012/TTLT-BVHTTDL ngày 19 tháng 6 năm 2012 quy định trách nhiệm của doanh nghiệp cung cấp dịch vụ trung gian trong việc bảo hộ quyền tác giả và quyền liên quan trên mạng Internet

và mạng viễn thông Điều này thật sự thuận lợi cho cơ quan chức năng trong việc xác định trách nhiệm bồi thường do vi phạm quyền tác giả khi các doanh nghiệp là nguồn đăng tải, truyền tin hoặc cung cấp thông tin qua mạng mà không được phép của chủ thể quyền Ngoài ra sự phát triển của công nghệ thông tin cũng góp phần thuận lợi trong việc giúp tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả bảo hộ tác phẩm của mỉnh Bởi như đã phân tích ở trên thông qua chức năng bảo mật dữ liệu người ta có thể sử dụng những biện pháp như quyền truy cập, đăng kí tên và mật khẩu, quản trị mạng… Mặc dù đây không phải là những biện pháp tối ưu nhưng cũng góp phần ngăn chặn phần nào sự xâm phạm quyền tác giả đối với tác phẩm văn học

Tiếp theo là chính sự thông dụng của Internet làm cho tác phẩm văn học dễ dàng phổ biến để chỗ người tiếp cận Internet Mặc dù đây là mặt tiêu cực của Internet khi qóp phần xâm phạm bản quyền tác giả nhưng nếu nhìn dưới một góc độ khác ta thấy điều này cũng góp phần thuận lợi cho cơ quan chức năng cũng như tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả phát hiện kịp thời và ngăn chặn hành vi xâm phạm này Điều này có nghĩa là khi tác phẩm văn học được đưa lên Internet thì thông qua Internet tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả có thể biết được tác phẩm của mình bị xâm phạm như thế nào bởi các tính năng mà Internet cung cấp, đồng thời báo ngay cho cơ quan chức năng để ngăn chặn và xử lý kịp thời

Thuận lợi thứ ba ta có thể kể đến đó là Internet là môi trường mang tính tương tác cao, có thể nhận được phản hồi một cách nhanh chóng từ phía độc giả về tình trạng tác phẩm văn học bị xâm phạm bản quyền Vì suy cho cùng độc giả chính là người tiếp cận nhiều nhất đến các trang web cung cấp tác phẩm văn hoc, và cũng chính độc giả là người hâm mộ trung thành Do đó khi thấy tác phẩm của tác giả mình yêu thích bị xâm phạm thì họ sẽ lên tiếng trong khi tác giả chưa kịp phát hiện Điều này thật sự giúp ích cho cơ quan chức năng cũng như tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả bởi họ sẽ có thêm một nguồn cung cấp trong việc phát hiện và trừng trị thích đáng hành vi vi phạm Có như vậy thì việc bảo hộ quyền tác giả mới thật sự có hiệu quả thông qua nhiều chủ thể chứ không chỉ riêng cơ quan chức năng

Trang 36

Thuận lợi thứ tư là vấn đề bảo hộ quyền tác giả nhận được sự quan tâm rất lớn không chỉ từ phía cơ quan chức năng mà còn từ các tổ chức, đoàn thể khác Chính sự quan tâm này làm cho vấn đề bảo hộ quyền tác giả ngày càng trở nên quan trọng Gần đây ngày 16 tháng 7 năm 2012 Hội Văn học tỉnh Hải Dương phối hợp với Hiệp hội Quyền sao chép Việt nam tổ chức buổi tọa đàm về “Quyền tác giả và quản trị tập thể” đối

xâm phạm trong đó có lĩnh vực xâm phạm quyền tác giả trên Internet và bảo hộ quyền tác giả đều được nêu lên và làm rõ Hay chương trình tập huấn về thực thi và quản lý quyền tác giả và quyền liên quan do tổ chức Sở hữu trí tuệ thế giới (WIPO) và Hiệp hội phát triển bản quyền Na-uy (NORCODE) phối hợp tổ chức diễn ra ngày 21 đến ngày 25 tháng

Tọa đàm về quyền tác giả và vai trò của các tổ chức tập

chức năng càng có nhiều kinh nghiệm cũng như hoàn thiện thêm về pháp luật trong vấn

đề bảo hộ quyền tác giả đối với tác phẩm nói chung và tác phẩm văn học trên Internet nói riêng

Cuối cùng là chính bản thân tác giả của tác phẩm cũng ngày càng nhận thức được tầm quan trọng trong việc bảo hộ quyền tác giả đối với tác phẩm văn học của mình khi tác phẩm xuất hiện trên Internet Bởi không chỉ là danh tiếng của tác giả mà còn mang lại một lợi ích kinh tế cho thành quả chí tuệ mà họ tạo ra Do đó họ cũng có những biện pháp bảo vệ tác phẩm của mình Ngoài ra đối với tác phẩm văn học truyền thống hầu như đa phần những tác giả này đều là người có học thức Vì vậy vấn đề am hiểu pháp luật về bảo

hộ quyền tác giả đối với tác phẩm trở nên dễ dàng Chính những điều này cũng góp phần thuận lợi trong việc bảo hộ quyền tác giả đối với tác phẩm văn học trên Internet

Trên đây là một số thuận lợi trong việc bảo hộ quyền tác giả đối với tác phẩm văn học trên Internet Ngoài những thuận lợi đó việc bảo hộ cũng gặp những khó khăn thách thức nhất định

Thiện Tín, Hiệp hội Quyền sao chép Việt nam: Tọa đàm vấn đề bản quyền đối với tác phẩm văn học,

http://vietrro.org.vn/hoat-dong/158-ta-am-vn bn-quyn-i-vi-cac-tac-phm-vn-hc-ngh-thut-.html , [truy cập ngày 10 2013]

-1-26

Ngọc Hà, Hiệp hội Quyền sao chép Việt nam: lớp tập huấn của WIPO – NORCODE về thực thi và quản lý quyền

tác giả và quyền liên quan tại Hà Nội, thc-thi-va-qun-ly-quyn-tac-gi-va-quyn-lien-quan-ti-ha-ni.html , [ngày truy cập 10-1-2013]

http://vietrro.org.vn/hoat-dong/136-lp-tp-hun-tip-theo-ca-wipo-norcode-v-27

Sa Huỳnh, Hiệp hội Quyền sao chép Việt nam, tọa đàm về quyền tác giả và vai trò của các tổ chức tập thể,

chuc-tap-the.htm , [truy cập ngày 10-1-2013]

Trang 37

http://vietrro.org.vn/hoat-dong/119-toa-dam-quyen-tac-gia-doi-voi-tac-pham-da-xuat-ban-va-vai-tro-cua-cac-to-bảo toàn được nội dung cũng như chất lượng tác phẩm Mỗi bản copy được đưa lên Internet lại được sao chép thành nhiều bản và vẫn giữ nguyên được chất lượng ban đầu Như vậy chỉ cần một bản copy được tung lên Internet cũng đủ đáp ứng nhu cầu hàng triệu người Thiệt hại về mặt kinh tế là điều dễ thấy đối với tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả đối với tác phẩm văn học được đưa lên Cái khó ở chổ là không thể kiểm soát được hành

vi, số người vi phạm đồng thời việc xử phạt trở nên khó thực thi khi các trang web hầu như không có cơ sở tính toán nguồn thu

Tiếp theo là đối với tác phẩm văn học mạng thì việc sao chép còn dễ dàng và nhanh chóng hơn tác phẩm văn học truyền thống bởi nó đã có sẵn trên Internet do đó không cần đánh máy lại nội dung Chỉ cần copy – past là đã có toàn bộ nội dung tác phẩm cũng như dễ dàng đưa nội dung tác phẩm từ trang cá nhân đến trang thông tin điện tử khác Điều này cũng làm các cơ quan chức năng khó kiểm soát được hành vi, số người vi phạm và xử lý kịp thời Ngoài ra do đặt trưng của văn học mạng như đã nói ở trên là sáng tác trên mạng và luôn nhận được sự phản hồi của độc giả hay nói cách khác là có sự tham gia của độc giả vào quá trình sáng tác Tác giả văn học mạng sáng tác chỉ với mục đích chia sẽ cảm xúc, tình cảm và thường không xem trọng bản quyền tác giả nên dù có phát hiện hành vi xâm phạm họ cũng làm ngơ Và đôi lúc họ còn che dấu những thông tin cá nhân đối với tác phẩm của mình Chính những điều đó làm cho việc bảo hộ quyền tác giả văn học mạng trở nên khó khăn bởi trên thực tế không thể xác định được tác giả thật sự của tác phẩm là ai thì nói chi đến việc bảo hộ quyền nhân thân và tài sản cho họ

Khó khăn thứ ba có thể kể đến là các tác giả (đặc biệt là những tác giả trẻ) không những không bảo vệ tác phẩm của mình mà còn tiếp tay cho nạn xâm phạm bản quyền trên Internet bởi họ muốn lợi dụng công nghệ Internet để trở nên nổi tiếng và họ tin rằng các ấn phẩm miễn phí, kể cả phi pháp cũng sẽ mang đến một khối lượng độc giả lớn cho

họ Vì vậy họ sẵn sàng chấp nhận, coi đó là một phương thức quảng bá tên tuổi mình Qua đó ta thấy việc bảo hộ quyền tác giả trong trường hợp này sẽ rất khó, bởi lẽ làm sao

có thể hình dung được chính chủ thể được pháp luật bảo hộ quyền lợi của mình lại là người từ bỏ quyền lợi đó và đang tiếp tay cho sự xâm phạm chính tác phẩm của mình Việc phát hiện ra hành vi xâm phạm và xử lý cũng trở nên khó khăn hơn đối với cơ quan chức năng bởi để tác phẩm được bảo hộ tốt thì cần có sự phối hợp chặt chẽ từ phía tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả với cơ quan chức năng

Khó khăn thứ tư là sự toàn cầu hóa của Internet đã khiến sự phổ biến tác phẩm văn học trở nên nhanh chóng trên toàn thế giới Internet có thể truyền phát đến hàng triệu nhà,

cá nhân một cách dễ dàng Mặt khác, Internet còn là môi trường tạo cho mỗi cá nhân trở thành chủ thể truyền phát tác phẩm văn học, khiến cho số lượng người tiếp cận tác phẩm

Trang 38

trở thành cấp số nhân Điều đó làm khả năng truyền tác phẩm văn học vi phạm bản quyền cũng tăng theo Chính vì thế việc ngăn chặn hành vi trở nên không dễ dàng, cần nhiều sức lực và nhân lực Ngoài ra Internet cũng là nơi dễ dàng lưu trữ Nếu một chiếc CD có dung lượng 600 megabytes có thể lưu trữ hàng ngàn thông tin, tác phẩm và thu được lợi nhuận kinh tế đáng kể thì giờ đây chỉ cần một chiếc điện thoại có kết nối Internet có thể lưu trữ một khối lượng tác phẩm gấp nhiều lần như thế, đồng thời sao chép, phổ biến tác phẩm để đưa lên mạng một cách nhanh chóng Việc xác định thiệt hại trong trường hợp này trở nên không chính xác Điều đó làm ảnh hưởng rất nghiêm trọng đối với quyền tài sản của tác giả Và nếu có phát hiện được hành vi xâm phạm quyền trên thì mức xử lý như thế nào là thích đáng cho những thiệt hại đã tổn thất trong khi lại không xác định được mức thiệt hại đã tổn thất đó

Thách thức trong vấn đề bảo hộ quyền tác giả là làm thế nào để bảo vệ quyền lợi của tác giả cũng như chủ sở hữu quyền tác giả trong việc lưu hành, sử dụng công nghệ mới phục vụ nhu cầu tiếp cận tác phẩm văn học của độc giả khi phải đối mặt với hành vi

chức năng, tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả, các nhà cung cấp dịch vụ Internet và kể cả những độc giả sử dụng Internet để tiếp cận tác phẩm văn học

Tóm lại Internet cũng giống như con dao hai lưỡi Nó tạo một môi trường không chỉ thuận lợi mà còn bao gồm những khó khăn, thách thức trong việc bảo hộ tác phẩm văn học trên Internet Vấn đề quan trọng là người dùng phải biết cách sử dụng Internet vào mục đích hợp pháp, biết tận dụng những lợi thế mà Internet mang lại để tiếp cận tác phẩm văn học một cách nhanh chóng Ngoài ra cũng cần có một hệ thống pháp luật vững chắc điều chỉnh vấn đề này nhằm góp phần bảo hộ tác phẩm văn học trên Internet có hiệu quả

1.4 So sánh tác phẩm văn học trên Internet và tác phẩm văn học thể hiện bằng hình thức khác

Tác phẩm văn học được xuất bản thành sách

Đối với tác phẩm văn học loại này thì tác giả phải viết trước bản thảo sau đó gửi bản thảo đến nhà xuất bản để xin giấy phép (trong bản thảo phải bao gồm cả số trang, khổ giấy và ảnh bìa) Nếu được chấp nhận tác giả phải in tác phẩm của mình ra giấy

“can” (một loại giấy mỏng có phủ sáp) để được cấp giấy phép và đóng xuất bản phí cho

số lượng bản in Cuối cùng tác giả mang giấy phép cùng với bản in giấy can đến nhà in

và nộp bản lưu chiếu cho nhà xuất bản Tác giả và nhà xuất bản sẽ thỏa thuận về việc hợp

28

Marybeth Peter: Thách thức về vấn đề bản quyền trong thời đại kỹ thuật số, Tạp chí quyền Sở hữu trí tuệ,

Nxb Từ điển bách khoa, 2006, tr 63

Trang 39

tác, kí kết xuất bản sách trên cơ sở đảm bảo quyền lợi của hai bên Qua đó ta thấy để một tác phẩm văn học có thể xuất hiện trên thị trường thì tốn rất nhiều thời gian và công sức của tác giả Trong khi đó đối với tác phẩm văn học trên Internet thì tác giả chỉ cần thông qua nhà xuất bản để đưa tác phẩm của mình lên Internet (tác phẩm đã được xuất bản) hoặc tự mình cũng có thể làm điều đó bằng việc ngồi đánh máy lại tác phẩm rồi đưa lên (đối với tác phẩm văn học truyền thống)

Còn riêng đối với tác phẩm văn học mạng thì điều đó lại càng dễ dàng hơn bởi tác giả sáng tác tác phẩm trên mạng, chỉ cần thông qua một trang web nào đó là có thể sáng tác Tác giả có thể không cần viết tác phẩm một cách trọn vẹn mà viết theo cảm xúc của mình, có thể chỉnh sửa tác phẩm một cách tùy thích, ngoài ra chính độc giả cũng là người góp phần vào quá trình sáng tác Điều này là hoàn toàn khác đối với tác phẩm văn học xuất bản thành sách, bởi khi xuất hiện dưới dạng này tác phẩm hầu như được viết một cách trọn vẹn (trừ tác phẩm văn học có nhiều chương, kỳ) và chính tác giả mới là người

có quyền sửa đổi nội dung tác phẩm Một điểm khác biệt cơ bản mà ai cũng có thể thấy được đó là cách thể hiện mà độc giả có thể tiếp cận tác phẩm văn học Nếu đối với tác phẩm văn học in thành sách thì ngôn ngữ, cách trình bày tác phẩm sẽ được thể hiện thông qua những trang giấy trên từng quyển sách còn tác phẩm văn học trên Internet thì độc giả

sẽ tiếp cận với ngôn ngữ và cách trình bày thông qua những trang web trên mạng Thêm nữa tác phẩm văn học xuất bản thành sách độc giả có thể mất thời gian cho việc tìm ra nó

và trả một giá đắt để mua về nếu không có thời gian đọc tại chỗ tại các quầy sách Còn trên Internet độc giả có thể tìm kiếm tác phẩm văn học đó một cách dễ dàng cũng như việc làm chủ thời gian trong việc tiếp cận tác phẩm là hoàn toàn có thể, độc giả có thể đọc lúc nào mình thích và không phải trả nhiều tiền để mua nguồn thông tin đó Tuy nhiên ta thấy cả hai loại hình này đều có một nét tương đồng đó là độc giả tiếp cận với mục đích học tập, nghiên cứu và giải trí

Tác phẩm văn học trên các tờ báo, tạp chí

Tác phẩm văn học xuất hiện trên những tờ báo, tạp chí chủ yếu dưới dạng truyện ngắn và thơ bởi dung lượng cho những loại hình này là rất ít ngoài ra còn nhiều thông tin phải đăng tải Như đã nói ở trên tác phẩm văn học trên Internet được độc giả tiếp cận thông qua các trang web thì giờ đây độc giả tiếp cận tác phẩm văn học từ các dòng chữ in trên tờ báo, tạp chí Đối với tác phẩm truyện ngắn trên báo, tạp chí thì đôi lúc độc giả tỏ

ra khó chịu bởi có những tác phẩm khi lên cao trào của cảm xúc hay sự xung đột tác giả thường dừng lại mời đọc giả xem tiếp ở số báo, hay số tạp chí sau Điều này có nét tương đồng với văn học mạng vì ở đó tác giả cũng thường hay làm như vậy để kích thích sự tò

mò của độc giả Điểm khác nhau mà ta có thể thấy đó là cũng giống như tác phẩm văn

Trang 40

học xuất bản thành sách thì tác phẩm văn học trên các tờ báo, tạp chí độc giả cũng trả tiền

để có được thông tin trên tờ báo, tạp chí đó Tức trả luôn khoản tiền đối với tác phẩm văn học được in trên đó Cái giá này sẽ cao hơn so với giá mà đọc giả có thể tiếp cận tác phẩm trên Internet Ngoài ra ta thấy nếu tác phẩm văn học trên Internet được sử dụng để nghiên cứu, học tập (đối với tác phẩm văn học truyền thống) và giải trí thì hầu như tác phẩm văn học xuất hiện trên các tờ báo chỉ với mục đích giải trí đơn thuần cho độc giả Còn đối với tác phẩm văn học trên tạp chí thì cũng chỉ để giải trí, ngoại trừ những tác phẩm văn học xuất hiện trên các tạp chí chuyên ngành văn học thì độc giả có thể sử dụng

để nghiên cứu, học tập bởi tạp chí chuyên ngành này thường đăng tải tác phẩm văn học của tác giả và kèm theo đó là phần bình luận về tác phẩm đó

Tác phẩm văn học bằng chữ nổi

Đối với tác phẩm văn học dạng này thì số lượng độc giả bị thu hẹp đáng kể bởi đây là dạng tác phẩm ra đời nhằm mục đích phục vụ nhu cầu cho người khiếm thị, chứ không giống tác phẩm văn học trên Internet mọi cá nhân, tầng lớp nếu biết đọc đều có thể tiếp cận Ngoài ra tác phẩm văn học dạng này về số lượng cũng bị hạn chế đáng kể Bởi chi phí để tạo ra một tác phẩm văn học chữ nổi đắt gấp mấy chục lần so với tác phẩm văn học được in trên sách thông thường Ta có thể dễ dàng tìm kiếm một tác phẩm văn học nào đó trên Internet nhưng sẽ không dể để kiếm một tác phẩm văn học chữ nổi ở các cửa hàng bán sách chính vì việc đầu tư vào nó là rất tốn kém trong khi lợi nhuận cũng không đáng kể cũng như đối tượng tiếp nhận là rất hạn hẹp Vì vậy để bán được một quyển sách như thế này rất khó khăn Về hình thức thể hiện của tác phẩm văn học chữ nổi cũng có nét đặc biệt riêng khác so với tác phẩm văn học trên Internet bởi chữ nổi là dạng chữ được đa số người mù và người khiếm thị sử dụng Chữ nổi (chữ Braille) được Louis Braille phát minh năm 1821, mỗi chữ Braille được tạo thành từ 6 điểm, các điểm này được sắp xếp trong một khung hình chữ nhật gồm 2 cột và 3 dòng Tập hợp các điểm

hai loại hình này cũng hoàn toàn khác nhau Nếu tác phẩm văn học trên Internet độc giả dùng mắt để tiếp cận tác phẩm văn học đó thì ở đây người mù hay người khiếm thị sẽ dùng tay để sờ vào chữ nổi và nhận dạng nó Nhưng dù có tiếp cận dưới hình thức nào thì mục đích của độc giả trong hai trường hợp này là đều học tập, nghiên cứu hoặc giải trí

Tác phẩm văn học chuyển thể thành phim

Có thể nói khi chuyển thể tác phẩm văn học thành phim thì lúc này tác phẩm văn học đã chuyển thành một tác phẩm điện ảnh Tuy nhiên sự ảnh hưởng của tác phẩm văn

29

Bách khoa toàn thư mở: chữ Braille, http://vi.wikipedia.org/wiki/Ch%E1%BB%AF_Braille , [truy cập ngày 2013]

Ngày đăng: 05/04/2018, 22:31

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Danniel Seng, Giáo sư ĐH luật tổng hợp Singapore, Một số vấn đề quan trọng về quyền tác giả và quyền liên quan trong môi trường kỹ thuật số, Tài liệu tham khảo hội thảo WIPO khu vực Châu Á- Thái Bình Dương về quyền tác giả trong môi trường kỹ thuật số New Delhi, Ấn Độ. Tr.9 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề quan trọng về quyền tác giả và quyền liên quan trong môi trường kỹ thuật số
2. Đào Thị Thanh Tâm: Bảo vệ quyền tác giả đối với tác phẩm văn học trên Internet, luận văn tốt nghiệp niên khóa 2007 - 2011, khoa Luật, trường Đại học Cần Thơ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bảo vệ quyền tác giả đối với tác phẩm văn học trên Internet
3. Hoàng Minh Thái: Một số quy định về quyền tác giả và quyền liên quan đến quyền tác giả trong Bộ luật dân sự và Luật Sở hữu trí tuệ, Tạp chí Nhà nước và pháp luật, số 9 (221), 2006, tr. 50 – 55 Sách, tạp chí
Tiêu đề: số quy định về quyền tác giả và quyền liên quan đến quyền tác giả trong Bộ luật dân sự và Luật Sở hữu trí tuệ
4. Lê Đình Nghị - Vũ Thị Hải Yến: Giáo trình Luật Sở hữu trí tuệ, Nxb. Giáo dục Việt Nam, 2009, tr.31 – 40 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Luật Sở hữu trí tuệ
Nhà XB: Nxb. Giáo dục Việt Nam
5. Lê Việt Long: Xâm phạm quyền Sở hữu trí tuệ, thực trạng, nguyên nhân và giải pháp, Tạp chí nghiên cứu lập pháp số 126 - tháng 7- 2008 ngày 10/07/2008 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xâm phạm quyền Sở hữu trí tuệ, thực trạng, nguyên nhân và giải pháp
6. Lê Xuân Thảo: Đổi mới và hoàn thiện pháp luật về Sở hữu trí tuệ, Nxb. Tư pháp, Hà Nội, 2005, tr.24 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đổi mới và hoàn thiện pháp luật về Sở hữu trí tuệ
Nhà XB: Nxb. Tư pháp
7. Marybeth Peter: Thách thức về vấn đề bản quyền trong thời đại kỹ thuật số, Tạp chí quyền Sở hữu trí tuệ, Nxb. Từ điển bách khoa, 2006, tr. 63 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thách thức về vấn đề bản quyền trong thời đại kỹ thuật số
Nhà XB: Nxb. Từ điển bách khoa
8. Nguyễn Bá Tùng - Phạm Thanh Tùng: Công ước Berne 1886 công cụ hữu hiệu bảo hộ quyền tác giả, Nxb.Tư pháp, Hà Nội. tr.72 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công ước Berne 1886 công cụ hữu hiệu bảo hộ quyền tác giả
Nhà XB: Nxb.Tư pháp
9. Nguyễn Phan Khôi: Giáo trình Luật Sở hữu trí tuệ - Khoa Luật trường Đại học Cần Thơ, năm 2009 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Luật Sở hữu trí tuệ
10. Phạm Phước Lành: Vi phạm quyền tác giả trên Internet, luận văn tốt nghiệp niên khóa 2006 - 2010, khoa Luật, trường Đại học Cần Thơ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vi phạm quyền tác giả trên Internet
11. Phan Trung Hiền: Để hoàn thành tốt luận văn ngành Luật, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Để hoàn thành tốt luận văn ngành Luật
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
12. Tờ trình số 48/TTg – CP của Chính phủ về Dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ ngày 09 tháng 4 năm 2009. Danh mục các trang thông tin điện tử 1. Bách khoa toàn thư mở:Quyền tác giả,http://vi.wikipedia.org/wiki/Quy%E1%BB%81n_t%C3%A1c_gi%E1%BA%A3, [ngày truy cập 2-1-2013] Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyền tác giả
2. Cục bản quyền tác giả: Quyết định của ban chấp hành hội nhà văn Việt Nam, http://www.cov.gov.vn/cbq/index.php?option=com_content&view=article&id=126:-trung-tam-quyn-tac-gi-vn-hc-vit-nam&catid=35:to-chuc-quan-ly-tap-the&Itemid=80, [truy cập ngày 5-1-2013] Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định của ban chấp hành hội nhà văn Việt Nam
3. Trang luật gia phạm: Cam kết của Việt nam trong lĩnh vực Sở hữu trí tuệ, http://sunlaw.com.vn/chi-dan/cam-ket-cua-viet-nam-trong-linh-vuc-so-huu-tri-tue.aspx, [truy cập ngày 8-1-2013] Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cam kết của Việt nam trong lĩnh vực Sở hữu trí tuệ
4. Trang kiến thức văn học: khái quát về tác phẩm văn học, http://diendankienthuc.net/diendan/ly-luan-phe-binh-van-hoc/12365-khai-quat-ve-tac-pham-van-hoc.html, [truy cập ngày 9-1-2013] Sách, tạp chí
Tiêu đề: khái quát về tác phẩm văn học
5. Tailieu.vn: Thể loại văn học và sự phân loại tác phẩm văn học, http://tailieu.vn/xem-tai-lieu/the-loai-van-hoc-va-su-phan-loai-tac-pham-van-hoc.527413.html, [ngay truy cập 8-1-2013] Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thể loại văn học và sự phân loại tác phẩm văn học
6. Thể thao và Văn Hóa: Chính độc giả khai sinh ra văn học mạng, http://www.baomoi.com/Chinh-doc-gia-khai-sinh-ra-tac-pham-van-hoc-mang/152/2960481.epi, [ngày truy cập ngày 8-1-2013].7. Ảnh tác phẩm văn học:http://www.google.com.vn/#hl=vi&rlz=1C2SAVI_enVN524VN524&sclient=psy-ab&q=h%C3%ACnh, [truy cập ngày 23-3-2013] Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chính độc giả khai sinh ra văn học mạng", http://www.baomoi.com/Chinh-doc-gia-khai-sinh-ra-tac-pham-van-hoc-mang/152/2960481.epi, [ngày truy cập ngày 8-1-2013]. 7. "Ảnh tác phẩm văn học
8. Ảnh văn học mạng: http://vanhocmang.wordpress.com/2012/09/25/toi-chi-co-mot-me/, [truy cập ngày 23-3-2013] Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ảnh văn học mạng
9. Đỗ Trung Thành, thư viện toán - tin học: ARPENET là gì? http://dothanhyb.violet.vn/entry/show/entry_id/1962539/cat_id/2118472, [truy cập ngày 25-3-2013] Sách, tạp chí
Tiêu đề: ARPENET là gì
20. Sa Huỳnh, Hiệp hội Quyền sao chép Việt nam, tọa đàm về quyền tác giả và vai trò của các tổ chức tập thể, http://vietrro.org.vn/hoat-dong/119-toa-dam-quyen-tac-gia-doi-voi-tac-pham-da-xuat-ban-va-vai-tro-cua-cac-to-chuc-tap-the.htm, [truy cập ngày 10-1-2013] Link

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w