1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

KTPT chỉ số phát triển con người VN từ 2006 đến nay

27 211 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 27
Dung lượng 1,48 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Phát triển con người là một quá trình nhằm mở rộng khả năng lựa chọn của dân chúng. Về nguyên tắc, những sự lựa chọn này là vô hạn và có thể thay đổi theo thời gian. Phát triển con người gồm hai mặt: Một là,sự hình thành các năng lực của con người Hai là sử dụng các năng lực của con người đã tích luỹ được cho các hoạt động Kinh tế Xã hội. Quan điểm phát triển con người nhằm mục tiêu mở rộng cơ hội lựa chọn cho người dân và tạo điều kiện để họ thực hiện sự lựa chọn đó (có nghĩa là sự tự do lựa chọn). Những lựa chọn quan trọng nhất là được sống lâu và khỏe mạnh, được học hành và có được một cuộc sống ấm no.

Trang 1

CHỦ ĐỀ 4: Phát triển con người của Việt Nam từ 2006 đến nay.

4 Ngô Việt Trinh

5 Nguyễn Châu Long

Trang 2

MỤC LỤC

Nội dung Trang

A PHẦN MỞ ĐẦU 3

B NỘI DUNG 3

I Lý thuyết 3

1 Định nghĩa về phát triển con người 3

2 Biểu hiện của phát triển con người 3

3 Đặc trưng của phát triển con người 4

4 Các thước đo phát triển con người 4

II Thực trạng và đánh giá các tiêu chí phát triển con người tại Việt Nam từ 2006 đến nay 8

1 Đánh giá các tiêu chí cấu thành HDI: 8

a Tiêu chí thu nhập 8

b Tiêu chí tuổi thọ 12

c Tiêu chí giáo dục 16

2 Đánh giá phát triển con người qua chỉ số HDI 19

III Những phương pháp khắc phục khó khăn và đổi mới: 22

1 Về thu nhập 22

2 Về tuổi thọ 23

3 Về giáo dục 23

C: KẾT LUẬN 25

TÀI LIỆU THAM KHẢO 26.

Trang 3

A PHẦN MỞ ĐẦU

Trong suốt quá trình đấu tranh giành độc lập dân tộc và xây dựng đất nước,Đảng

và Nhà nước Việt Nam luôn kiên trì con đường phát triển mang lại hạnh phúc cho toànthể nhân dân.Đối với nhiều người dân Việt Nam,quan niệm về phát triển con người như một quá trình mở rộng cơ hội lựa chọn và tăng cường năng lực cho người dân mà Chương Trình Phát Triển Liên Hợp Quốc(UNDP) đưa ra,không phải hoàn toàn mới lạ.Tuy nhiên đôi khi giữa chủ trương chính sách và triển khai lại có sự thiếu đồng bộ,ảnh hưởng đến việc thực hiện các mục tiêu phát triển nhằm nâng cao đời sống nhân dân

B.NỘI DUNG

I Lý thuyết.

1 Định nghĩa phát triển con người:

Phát triển con người là một quá trình nhằm mở rộng khả năng lựa chọn của dân chúng Về nguyên tắc, những sự lựa chọn này là vô hạn và có thể thay đổi theo thời gian Phát triển con người gồm hai mặt:

- Một là,sự hình thành các năng lực của con người

- Hai là sử dụng các năng lực của con người đã tích luỹ được cho các hoạt động Kinh tế - Xã hội

2 Phát triển con người được biểu hiện qua:

- Có cuộc sống trường thọ, mạnh khỏe

- Được hiểu biết

- Có được các nguồn lực cần thiết cho một mức sống tốt

Phát triển con người phải là sự phát triển mang tính nhân văn và là sự phát triển của con người, do con người và vì con người

Trang 4

Quan điểm phát triển con người nhằm mục tiêu mở rộng cơ hội lựa chọn cho người dân và tạo điều kiện để họ thực hiện sự lựa chọn đó (có nghĩa là sự tự do lựa chọn) Những lựa chọn quan trọng nhất là được sống lâu và khỏe mạnh, được học hành

và có được một cuộc sống ấm no

3 Năm đặc trưng của quan điểm phát triển con người là:

(1) Con người là trung tâm của sự phát triển.

(2) Người dân vừa là phương tiện vừa là mục tiêu của phát triển.

(3) Việc nâng cao vị thế của người dân(bao hàm cả sự hưởng thụ và cống hiến) (4) Chú trọng việc tạo lập sự bình đẳng cho mọi người dân về mọi mặt: tôn giáo,

dân tộc, giới tính, quốc tịch

(5) Tạo cơ hội lựa chọn tốt nhất cho người dân về: kinh tế, chính trị, xã hội, văn

hóa

Ngoài ra sự lựa chọn của dân chúng còn được đánh giá cao bao gồm sự tự do kinh tế, xã hội, chính trị để con người có được các cơ hội để trở thành người lao động sáng tạo, có năng suất, được tôn trọng cá nhân và được bảo đảm quyền con người

4 Các thước đo phát triển con người:

a) Thước đo năng lực tài chính:

Phản ánh việc bảo đảm nhu cầu cơ bản về mức sống vật chất cho con người Đểđảm bảo nhu cầu mức sống và làm việc bình thường, con người cần hấp thụ mộtlượng calori tối thiểu bình quân, vì vậy con người cần có một khoản thu nhập nhấtđịnh dể chi tiêu cho lương thực, thực phẩm

Chỉ số GNI/người (tính theo PPP) là thước đo chính thể hiện việc đảm bảo nhu

cầu hao phí vật chất cho dân cư mỗi quốc gia GNI/người càng cao thì chứng tỏ khảnăng lớn nâng cao mức sống vật chất cho con người Bao gồm tổng giá trị hàng hóa

và dịch vụ tạo ra trong quốc gia (GDP) cộng với thu nhập nhận được từ bên ngoài

Trang 5

BIỂU ĐỒ GDP/NGƯỜI, GNI/NGƯỜI GIAI ĐOẠN 2006-2010

từ 7 tuổi trở lên); tỷ lệ chi ngân sách cho giáo dục so với tổng chi ngân sách hoặc so vớimức GDP

c) Thước đo năng lực thể lực: phản ánh xã hội bảo đảm nhu cầu cơ bản về chăm sóc

sức khoẻ

UNDP đã nhấn mạnh đến các chỉ số: tuổi thọ bình quân tính từ thời điểm mới sinh;

tỷ lệ trẻ em chết yếu có thể tính cho những trẻ em chết trong vòng một năm hoặc trongthời gian năm năm; tỷ lệ trẻ em suy dinh dưỡng theo các tiêu chuẩn chiều cao,cânnặng; tỷ lệ bà mẹ tử vong vì lý do sinh sản được tính bằng số bà mẹ chết trong thờigian mang thai hoặc sau khi sinh so với 1000 trẻ em sinh ra còn sống; tỷ lệ trẻ em được

Trang 6

tiêm phòng dịch; tỷ lệ chi ngân sách cho y tế trong tổng chi ngân sách hoặc so vớiGDP.

d) Thước đo việc xã hội sử dụng năng lực của con người: UNDP thường nhấn mạnh

đến các chỉ số liên quan đến dân số và việc làm: tỷ lệ thất nghiệp thành thị, tỷ lệ sử dụng thời gian lao động ở nông thôn, nhu cầu việc làm mới tăng lên, tốc độ tăng trưởng dân số, mối quan hệ giữa tốc độ tăng trưởng lao động với tốc độ tăng

trưởng việc làm

e) Chỉ số phát triển con người:

HDI: Chỉ số phát triển con người (Human Development Index - HDI) được Liên

hợp quốc đưa ra năm 1992 để đánh giá sự tiến bộ trong phát triển con người Là chỉ số

so sánh, định lượng về mức thu nhập, tỷ lệ biết chữ, tuổi thọ và một số nhân tố khác của các quốc gia trên thế giới HDI là một thước đo tổng quát về phát triển con người

Nó đo thành tựu trung bình của một quốc gia theo ba tiêu chí sau:

 Sức khỏe (LEI): Một cuộc sống dài lâu và khỏe mạnh, đo bằng tuổi thọ trung bình

 Tri thức (EI): Được đo bằng số năm đi học bình quân (MYSI) và số năm đi học kỳ vọng (EYSI)

 Thu nhập: Mức sống đo bằng GNI bình quân đầu người (II)

Chỉ số của các tiêu chí trên được tính bằng các công thức sau: (cách tính này được

UNDP áp dụng từ năm 2010)

85−20 LE: tuổi thọ trung

bình

bình quân ( số năm

mà người >25 tuổi

bỏ ra trong giáo dục chính quy)

EYSI EYSI = EYS

kỳ vọng (số năm học

Trang 7

dự kiến cho trẻ em dưới 18 tuổi)

GNI/người (II) II= ln (GNI /ng)−ln ⁡(100)

ln(75000)−ln ⁡(100)

Tổng sản lượng quốcgia bình quân đầu người tính theo PPP (USD)

Công thức tính HDI như sau :

HDI = 3

LEI EI II

BIỂU ĐỒ: CHỈ SỐ PHÁT TRIỂN CON NGƯỜI MỘT SỐ NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI

CHỈ SỐ PHÁT TRIỂN CON NGƯỜI 2013-2015 0

Nguồn: Wikipedia.

TUỔI THỌ TRUNG BÌNH NGƯỜI VIỆT NAM.

Trang 8

Nữ 76.2 80.3

Nguồn vnep.org.vn.

Tác dụng chính của HDI là: kiểm soát, đánh giá và so sánh trình độ phát triển

con người giữa các quốc gia với nhau cũng như đánh giá sự phát triển con người theothời gian HDI tính theo phương pháp chỉ số và được xác định bằng những con sốtrong khoảng từ 0 đến 1 HDI càng gần đến 1 chứng tỏ trình độ phát triển con người

càng cao và ngược lại.

II Thực trạng và đánh giá các tiêu chí phát triển con người tại Việt Nam từ năm

Trang 9

2006 2007 2008 2009 2010 2011 2012 2013 2014 2015 0

Từ biểu đồ trên có thể thấy được giai đoạn 2006-2008 tốc độ tăng trưởng kinh tếcủa Việt Nam liên tục giữ ở mức cao Tốc độ tăng trưởng kinh tế cao, trong khi tốc độtăng dân số được kìm hãm, đã dẫn đến mức thu nhập GDP bình quân trên đầu ngườimỗi năm một tăng Nếu năm 2006, GDP trên đầu người thực tế của Việt Nam chỉkhoảng trên 700USD, thì đến năm 2007 đã đạt 835USD

Năm 2008, GDP trên đầu người đạt 1.024 USD/người, với mức thu nhập này,đây là cột mốc quan trọng đánh dấu Việt Nam lần đầu tiên thoát ra khỏi nhóm nướcnghèo (nhóm nước có thu nhập thấp nhất: GDP/người dưới 935 USD) GDP trên đầungười năm 2009 đạt 1.060 USD, Việt Nam phấn đấu GDP trên đầu người năm 2010đạt 1.200 USD

Xét về thành tố thu nhập trong chỉ số HDI, GNI bình quân đầu người hàng nămcủa Việt Nam tăng trưởng bình quân 6,4% từ năm 1990 đến năm 2000, nhanh hơn cácnước khác trong khu vực, ngoại trừ Trung Quốc; mức tăng trưởng được duy trì ở 5,3%

Trang 10

từ năm 2000 đến năm 2008 Tiến bộ vững chắc này đã góp phần giúp Việt Nam trởthành nước có mức thu nhập trung bình thấp

Nhưng từ năm 2008 trở đi, tăng trưởng bình quân đầu người của Việt Nam thấphơn mức trung bình của khu vực Đông Á và Thái Bình Dương với 4,3% so với 6,8%.GNI bình quân đầu người của Việt Nam nhìn chung vẫn thấp hơn so với nhóm nướcđược lựa chọn để so sánh Trong các nước có điểm xuất phát tương tự, Trung Quốc lànước duy nhất có thành tích tốt hơn Việt Nam Bắt đầu ở xuất phát điểm thấp hơn vàonăm 1980, tiến bộ nhanh chóng của Trung Quốc đã đưa GNI bình quân đầu người củanước này lên đến 12.547 US$ tính theo sức mua tương đương, tức là nhiều gấp hơn hailần Việt Nam (5.092 US$ tính theo PPP) vào năm 2014 Ấn Độ có thành tích tươngđương với thành tích của Việt Nam sau năm 1980 Ngoại trừ Ấn Độ và CHDCND Lào,tất cả các nước còn lại trong nhóm được lựa chọn để so sánh đều có sự chững lại saucuộc khủng hoảng tài chính năm 2008 (Hình 1.5)

Trang 11

Hình 1.6 thể hiện chỉ số GNI, cho thấy rằng rõ ràng chỉ số GNI của Việt Nam đãcải thiện theo thời gian Do đó, mức chênh lệch thành tích so với các nước được lựa chọn để so sánh giảm xuống

Trang 12

thu nhập bình quân tính đầu người theo phương pháp sức mua tương đương (PPP)trong tổng số 207 nước và các vùng lãnh thổ

Các chỉ số xếp hạng về môi trường kinh doanh, năng lực cạnh tranh, và chỉ sốphát triển giáo dục của Việt Nam đều có vị trí xếp hạng thấp trong các nền kinh tế thếgiới Bên cạnh đó, do bị ảnh hưởng bởi lạm phát nên GDP trên đầu người tính theo sứcmua tương đương PPP ở Việt Nam còn cao hơn nhiều so với thực tế Lạm phát đã làmgiảm sức mua của người nghèo và làm tăng bất bình đẳng về thu nhập giữa thành thị

và nông thôn,giữa các vùng trong nước

Kết luận về chỉ tiêu thu nhập:

Khi thu nhập tăng, đời sống của người dân được đảm bảo về cả tinh thần lẫn vậtchất, khi thu nhập giảm tác động tiêu cực đến chất lượng dân số Sự bất bình đẳngtrong thu nhập và phân phối thu nhập đang có xu hướng gia tăng giữa các vùng nôngthôn,vùng sâu vùng xa với thành thị Thu nhập tăng và phân phối thu nhập đồng đềuhợp lý luôn luôn là đích đến của toàn xã hội

Chúng ta nhận thấy thu nhập bình quân đầu người ở nước ta ngày càng gia tăng,điều này được biểu hiện ở tốc độ tăng trưởng GDP, tỷ lệ hộ nghèo trên cả nước giảmdần theo các năm và mức sống của đại bộ phận dân cư được cải thiện rõ rệt Đó là kếtquả mà nước ta đã đạt được nhờ vào các chính sách chú trọng phát triển hài hòa giữacác vùng miền

Bên cạnh đó, Việt Nam cần phải chú trọng đến các chính sách phát triển toàndiện để tránh rơi vào những cái “bẫy” thu nhập trung bình như các nước Đông Nam Ákhác

b) Tiêu chí tuổi thọ

Mức tuổi thọ: Có cuộc sống trường thọ, mạnh khỏe là một tiêu chí để đánh giá

về sự phát triển của con người Và chỉ số tuổi thọ đã được chọn làm thước đocho tiêu chí này Chỉ số tuổi thọ được tính như sau:

Trang 13

Chỉ số tuổi thọ trung bình T = Tuổithọtrung bình−2085−20

(Với quy ước: 85 là giá trị cực đại và 20 là giá trị cực tiểu của tuổi thọ)

BIỂU ĐỒ TUỔI THỌ TRUNG BÌNH CỦA VIỆT NAM

Nguồn: vnep.org.vn

Việt Nam trong so sánh với một số nước ASEAN và châu Á 2014

Theo số liệu thống kê trên, tuổi thọ trung bình của Việt Nam lớn hơn Thái Lan,Philippin, Inđônêxia, Ấn Độ, Mianma, Malayxia

Nước Tuổi thọ T (Chỉ số tuổi thọ trung bình Ghí chú

Trang 14

Các hoạt động chăm sóc sức khỏe cho người lao động nói chung và phụ nữ nóiriêng đã được quan tâm hơn, tình hình sức khỏe nhân dân có nhiều cải thiện Vì vậytrong thời gian qua, Việt Nam có chỉ số tuổi thọ tương đối lạc quan Tính ra trong 5năm, từ năm 2000 đến năm 2005, ta đã nâng tuổi thọ bình quân lên 6 tuổi

Việt Nam cũng có thứ hạng cao về tuổi thọ trên thế giới (T = 0,812, tuổi thọbình quân 71,5 xếp thứ 56/177 nước) Theo số liệu mới mà chương trình phát triểnLiên Hợp Quốc (UNDP) đưa ra trong báo cáo toàn cầu sáng ngày 5/10/2009 tạiBangkok, Thái Lan thì tuổi thọ trung bình của người dân Việt Nam đã là 72,83 đứngthứ 54 thế giới

Đạt được thành tựu như vậy là do nước ta đã làm tốt công tác chăm sóc bà mẹ vàtrẻ sơ sinh Cuộc khảo sát năm 2002 cho thấy: Cứ 1000 ca sinh ra ở Việt Nam chỉ có

39 trẻ bị tử vong (nhóm dân nghèo), có 14 trẻ bị tử vong (nhóm dân giàu) Chết dưới 5tuổi thì trong số 1000 trẻ có 53 trẻ chết (nhóm dân nghèo) và 16 trẻ chết (nhóm dângiàu) Các con số tương ứng ở Inđonexia là: (78, 23, 109, 29) Đạt đến thành tựu nàycòn có sự tác động gián tiếp của kinh tế và giáo dục Trình độ học vấn của bố mẹ tănglên và điều kiện sinh hoạt vật chất được cải thiện cũng làm giảm tỷ lệ tử vong của trẻ

sơ sinh và trẻ dưới 5 tuổi

Về y tế (Hình 1.4):

Trang 15

Qua hình có thể thấy, Việt Nam có thành tích tốt hơn các nước được lựa chọn sosánh về thành tố y tế trong chỉ số HDI dựa trên số liệu về tuổi thọ kỳ vọng, kể cảcác nước có mức thu nhập bình quân trên đầu người cao hơn rất nhiều Nước duynhất có thành tích cao hơn Việt Nam là Hàn Quốc, là nước đã vượt xa Việt Nam saunăm 1990 khi tiệm cận với giá trị chỉ số y tế cao nhất Mặc dù dư địa cho việc cảithiện tiếp tục bây giờ không còn nhiều, song những tiến bộ nhiều hơn trong một sốchỉ tiêu chính như giảm tỷ lệ tử vong ở trẻ em và tử vong do tai nạn giao thông sẽgiúp Việt Nam đạt được những thành tựu lớn hơn.

Những vấn đề tồn tại:

- Mặc dù đã đạt được một số thành tựu nhưng hệ thống y tế nước ta vẫn có rất nhiều bất cập Mạng lưới chăm sóc y tế ở nông thôn rất yếu kém và thiếu thốn

- Bệnh nhân ở khắp nơi đổ dồn về các thành phố lớn, dẫn đến tình trạng quá tải

- Thủ tục khám chữa bệnh còn rườm rà, nhất là đối với những người sử dụng BHYT,

họ phải đến bệnh viện nhiều ngày mới hoàn tất được quy trình khám chữa bệnh

- Vệ sinh an toàn thực phẩm vẫn đang là vấn đề nhức nhối trong suốt những năm qua

Trang 16

- Sự quản lý của nước ta đối với nhiều mặt hàng thuốc còn lỏng lẻo Các phòng khám chữa bệnh tư nhân cũng cần phải được kiểm soát nghiêm ngặt hơn

Nhìn chung thì tất cả những vấn đề trên cần sớm được nhà nước quan tâm vàgiải quyết trong thời gian tới

Kết luận về chỉ tiêu tuổi thọ:

Chỉ số tuổi thọ đo lường thành tựu tương đối về tuổi thọ ở một nước Chỉ số nàycủa Việt Nam là đáng lạc quan Ta có thể thấy, Việt Nam chỉ có GDP tính theo đầungười xếp thứ 123 và HDI xếp thứ 105 trên thế giới nhưng lại có thứ hạng về tuổi thọkhá cao Tuổi thọ trung bình năm 2005 của nước ta là 71,5 xếp hạng 56 và nay là72,8xếp hạng 54 trên thế giới Chỉ số tuổi thọ T = 0,812 và nó đã có phần giúp cảithiện chỉ số và thứ hạng 105/177 của HDI Trong thời gian tới, nước ta cần tiếp tụcphát huy những điểm mạnh này, đồng thời khắc phục những bất cập còn đang tồn tại

để đến 2020 tuổi thọ trung bình đạt mục tiêu là 75 tuổi

c) Tiêu chí giáo dục

Các chỉ tiêu giáo dục : Giáo dục và chỉ số giáo dục là thành phần cơ bản trong

HDI

Chỉ số giáo dục được tính từ hai nhân tố :

e) Nhấn tố a biểu thị cho số biết chữ của người lớn (trên 15 tuổi).

f) Nhân tố b biểu thị cho số đi học của thanh thiếu niên ( từ 16 – 24 tuổi ).

G = 2*a/3 + 1*b/3 (a và b tính theo đơn vị %)

Việt Nam trong so sánh với một số nước ASEAN và châu Á 2015

Ngày đăng: 05/04/2018, 21:53

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w