Da và những thụ thể cảm giác nằm trên lớp lông phủ chống lại những chất hóa học, sự bức xạ và khi kết hợp với lớp mỡ dưới da, tạo thành một lớp đệm chống lại những tổn thương cơ học, tạo
Trang 1BỘ GIÁO DỤC và ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TP HỒ CHÍ MINH
KHOA CHĂN NUÔI - THÚ Y
********************
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
ỨNG DỤNG KỸ THUẬT XOAY DA TRONG CÁC TRƯỜNG HỢP MẤT DA VÙNG BẸN TRÊN CHÓ THÍ NGHIỆM
Sinh viên thực hiện: VÕ THỊ KHẢI Lớp: DH07TY
Ngành: Thú Y Niên khóa: 2007 - 2012
Tháng 08/2012
Trang 2Khóa luận được đệ trình để đáp ứng yêu cầu cấp bằng Bác sĩ Thú y
Giáo viên hướng dẫn
TS LÊ QUANG THÔNG
Tháng 08/2012
Trang 3ii
XÁC NHẬN CỦA GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN
Họ tên sinh viên thực hiện: VÕ THỊ KHẢI
Tên luận văn: “Ứng dụng kỹ thuật xoay da trong các trường hợp mất da vùng bẹn trên chó thí nghiệm”
Đã hoàn thành bài khóa luận theo đúng yêu cầu của giáo viên hướng dẫn và các ý kiến nhận xét, đóng góp của hội đồng chấm thi tốt nghiệp Khoa Chăn nuôi Thú y, Trường Đại học Nông Lâm TP Hồ chí Minh
TP.HCM, Ngày……/…… /……… Xác nhận của giáo viên hướng dẫn
TS Lê Quang Thông
Trang 4iii
LỜI CẢM ƠN
Tôi xin chân thành cảm ơn
Tiến sĩ Lê Quang Thông
Cô Vũ Ngọc Yến
Đã tận tình hướng dẫn, chỉ dạy, giúp đỡ và tạo điều kiện cho tôi trong suốt thời gian thực hiện đề tài
Ban Giám hiệu Trường Đại học Nông Lâm TP Hồ Chí Minh
Ban Chủ nhiệm và thầy cô trong Khoa Chăn nuôi Thú y
Đã truyền đạt những kiến thức quý báu cho tôi trong những năm đại học
Bệnh xá thú y Đại học Nông Lâm TP Hồ Chí Minh
Đã tận tình hỗ trợ, tạo điều kiện, giúp đỡ tôi trong quá trình thực tập tốt nghiệp
Các anh chị đồng nghiệp trong ngành Thú y đã giúp đỡ và chia sẻ những vui buồn trong thời gian học tập và hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này
Trang 5iv
TÓM TẮT KHÓA LUẬN
Đề tài nghiên cứu “Ứng dụng kỹ thuật xoay trong các trường hợp mất da vùng bẹn trên chó thí nghiệm” được tiến hành tại phòng thực tập Ngoại khoa bộ môn Cơ thể - Ngoại khoa, Khoa Chăn nuôi Thú y, Trường Đại học Nông Lâm TP
Hồ Chí Minh
Thời gian từ 01/03/2012 đến 15/06/2012 thí nghiệm được tiến hành trên 8 chó khỏe mạnh và được làm 2 nhóm thí nghiệm và đối chứng
Kết quả thu được như sau:
Tất cả các thú ở cả 2 nhóm thí nghiệm và đối chứng đều lành vết thương Thời gian đau của nhóm thí nghiệm là 6 ngày, ngắn hơn so với nhóm đối chứng là 7 ngày
Thời gian lành vết thương của nhóm thí nghiệm là 10,6 ngày, ngắn hơn so với nhóm đối chứng là 14 ngày
Tỷ lệ biến chứng trong phẫu thuật lô thí nghiệm là 20 %, lô đối chứng 0 % Sau phẫu thuật nhóm thú thí nghiệm có 2 con tích dịch, tỷ lệ biến chứng là
40 % Trong khi đó nhóm thú đối chứng cả 3 con đều bị đứt chỉ, tỷ lệ biến chứng là
100 %
Kết quả bước đầu cho thấy kỹ thuật xoay da có thể được áp dụng để may đóng da vùng bẹn ở chó trong các trường hợp mất da lớn
Trang 6v
MỤC LỤC
Trang
Trang tựa i
Xác nhận của giáo viên hướng dẫn ii
Lời cảm ơn ii
Tóm tắt luận văn iii
Mục lục iv
Danh sách các bảng xi
Danh sách các hình x
Danh sách các biểu đồ xi
Chương 1 MỞ ĐẦU 1
1.1 Đặt vấn đề 1
1.2 Mục đích 2
1.3 Yêu cầu 2
Chương 2 TỔNG QUAN 2
2.1 Đặc điểm sinh lý chó 2
2.1.2 Tần số hô hấp 2
2.1.3 Nhịp tim 2
2.1.4 Chỉ tiêu sinh sản 2
2.1.5 Chu kì lên giống 4
2.1.6 Số con trong một lứa và tuổi cai sữa 4
2.2 Cấu tạo và đặc điểm của da chó 4
2.2.1 Cấu tạo của da 4
2.2.2 Chức năng của da 4
2.2.3 Cấu trúc và đặc điểm của da 5
2.2.3.1 Biểu bì (epidermis) 5
2.2.3.2 Bì (còn gọi là mô mạch liên kết), (dermis) 7
2.2.4 Các phần phụ thuộc da 7
Trang 7vi
2.2.4.1 Lông (hair) 7
2.2.4.2 Cấu trúc các tuyến dưới da 10
2.3 Cấu trúc và đặc điểm lớp dưới da 12
2.4 Hệ thống mạch máu nuôi da 13
2.5 Các đường căng của da trên chó 14
2.5.1 Các đường căng của da trên chó 14
2.5.2 Biện pháp làm giảm sức căng da 15
2.6 Kim và chỉ may dùng trong may da 15
2.6.1 Kim may phẫu thuật 16
2.6.1.1 Tính chất của kim may tốt 16
2.6.1.2 Phân loại kim may 16
2.6.2 Chỉ may phẫu thuật 16
2.7 Các đường may da thông dụng 17
2.7.1 Những lưu ý khi thực hiện đường may 17
2.7.2 Những lưu ý khi thực hiện cột nút ở da 17
2.7.3 Một số đường may thông dụng 17
2.8 Các kỹ thuật may da trong những trường hợp mất da 18
2.9 Những lưu ý khi thực hiện phẫu thuật may da 19
2.10 Sự lành vết thương 19
2.10.1 Giai đoạn viêm nhiễm (giai đoạn cầm máu) 19
2.10.1.1 Quá trình đáp ứng mạch máu 19
2.10.1.2 Quá trình đáp ứng tế bào 20
2.10.2 Giai đoạn biểu mô hóa 20
2.10.3 Giai đoạn tăng sinh sợi 20
2.10.4 Giai đoạn trưởng thành 21
2.11 Những yếu tố ảnh hưởng đến sự lành sẹo của vết thương 21
2.12 Chăm sóc hậu phẫu 21
2.13 Lược duyệt các nghiên cứu có liên quan 22
Trang 8vii
Chương 3 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 24
3.1 Thời gian và địa điểm nghiên cứu 24
3.1.1 Thời gian thực hiện 24
3.1.2 Địa điểm 24
3.2 Đối tượng nghiên cứu 24
3.3 Vật liệu 24
3.3.1 Các dụng cụ ngoại khoa 24
3.3.2 Thuốc thú y và chất sát trùng 24
3.4 Nội dung nghiên cứu 25
3.5 Phương pháp nghiên cứu 25
3.5.1 Bố trí thí nghiệm 25
3.5.2 Chỉ tiêu theo dõi 25
3.5.3 Phương pháp tiến hành 26
3.5.3.1 Chuẩn bị thú trước phẫu thuật 26
3.5.3.2 Phương pháp phẫu thuật thú ở lô đối chứng 26
3.5.3.3 Phương pháp phẫu thuật thú ở lô thí nghiệm 28
3.5.3.4 Chăm sóc hậu phẫu 31
3.6 Phương pháp xử lý số liệu 32
Chương 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 33
4.1 Thời gian phẫu thuật 33
4.2 Thời gian lành của vết thương theo lô thú 33
4.3 Tỷ lệ biến chứng trong và sau khi phẫu thuật 34
4.3.1 Tỷ lệ biến chứng trong khi phẫu thuật 34
4.3.2 Tỷ lệ biến chứng sau khi phẫu thuật 34
4.4 Đánh giá tình trạng đau của thú sau phẫu thuật theo phương pháp đánh giá của Glasgow 36
4.5 Thể trạng sức khỏe của thú qua một số chỉ tiêu sinh lý: thân nhiệt (oC), nhịp tim (nhịp/phút) và tần số hô hấp (nhịp/phút) 37
4.5.1 Thân nhiệt trung bình 37
Trang 9viii
4.5.2 Nhịp tim trung bình 38
4.5.3 Tần số hô hấp trung bình 39
4.6 Chí phí ca phẫu thuật 40
Chương 5 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 41
5.1 Kết luận 41
5.2 Đề nghị 41
TÀI LIỆU THAM KHẢO 42
PHỤ LỤC 1 43
PHỤ LỤC 2 45
PHỤ LỤC 3 47
Trang 10ix
DANH SÁCH CÁC BẢNG
Bảng 3.1 Số lượng thú bố trí nội dung thí nghiệm 25 Bảng 4.1 Thời gian phẫu thuật thú các lô (phút) 33 Bảng 4.2 Tỷ lệ biến chứng sau khi phẫu thuật giữa thú thí nghiệm và thú đối chứng 35 Bảng 4.3 Điểm trung bình tình trạng đau của các thú giữa thú thí nghiệm và thú đối chứng 36 Bảng 4.4 Kết quả dựa vào chi phí ca phẫu thuật giữa lô thú thí nghiệm và lô thú đối chứng 40
Trang 11x
DANH SÁCH CÁC HÌNH
Hình 2.1 Cấu tạo da 4
Hình 2.2 Diễn biến sự tạo da dày với lông và tuyến bã 6
Hình 2.3 Diễn biến tạo lông có tuyến bã đi kèm 9
Hình 2.4 Cấu trúc một nang lông ghép 10
Hình 2.5 Hệ thống mạch máu dưới da ở chó và mèo 13
Hình 2.6 Các đường căng da trên chó 14
Hình 2.7 Hai bờ vết thương được ép thử bằng tay trước khi may 15
Hình 2.8 Một số đường may thông dụng 18
Hình 2.9 Khuyết tật hình chữ nhật được may lại theo phương pháp trực tiếp 18
Hình 2.10 Khuyết tật hình chữ nhật được che kín bởi 1 vạt da xoay 19
Hình 3.1 Sửa soạn tư thế cho thú và kiểm tra lực căng 26
Hình 3.2 Kỹ thuật may kín vết thương hình chữ nhật theo dạng chữ X 27
Hình 3.3 Phẫu thuật thú đối chứng 28
Hình 3.4 Thao tác tạo vạt trục thượng vị cạn sau 29
Hình 3.5 Vết mổ trung gian ở bao qui đầu 30
Hình 3.6 Phẫu thuật thú thí nghiệm 31
Hình 4.1 Vết thương bị đứt chỉ 34
Hình 4.2 Vết thương sau khi lành 34
Trang 12xi
DANH SÁCH CÁC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 4.2 Tình trạng đau của các thú giữa thú thí nghiệm và thú đối chứng 36 Biểu đồ 4.3 Theo dõi thân nhiệt của các thú thí nghiệm và thú đối chứng trong 15 ngày đầu 37 Biểu đồ 4.4 Theo dõi nhịp tim của các thú thí nghiệm và thú đối chứng trong 15 ngày đầu 38 Biểu đồ 4.5 Theo dõi nhịp hô hấp của các thú thí nghiệm và thú đối chứng trong 15 ngày đầu 39
Trang 13em bé vậy, cũng được làm đẹp và chăm sóc sức khỏe Bạn luôn yêu thương và bảo
vệ, nhưng chẳng may những tai nạn đáng tiếc vẫn có thể xảy ra vì loài này rất hiếu động
Chúng có thể cắn lẫn nhau, cũng có thể bị tai nạn làm tổn thương hoặc trong những trường hợp phẫu thuật cắt bỏ bướu gây mất một vùng da lớn trên cơ thể, ở vùng bẹn chẳng hạn Một chú chó khi đã mất một vùng da lớn, đòi hỏi phải tốn nhiều thời gian, chế độ chăm sóc chu đáo mới có thể hồi phục Nhưng kết quả còn phụ thuộc rất nhiều vào khả năng đề kháng bệnh tật của chúng Mất một vùng da lớn đồng nghĩa với nguy cơ nhiễm trùng cao và kéo theo nhiều bệnh tật xảy ra Trên thế giới đã có nhiều phương pháp điều trị khác nhau như: khâu da, ghép da…Trong những trường hợp đó phải xử lý điều trị để xoay vùng da, vì nếu vết thương không được che đậy bởi da, sẽ rất dễ bị nhiễm trùng, vết thương hoại tử có thể làm thú bị chết hay vết thương lâu lành, để lại sẹo làm ảnh hưởng đến vẻ đẹp của thú Tuy nhiên hiện nay các tài nghiên cứu về ứng dụng kỹ thuật xoay da và tái tạo da thẩm
mỹ ở nước ta còn nhiều hạn chế
Tại Việt Nam gần như các bác sĩ phẫu thuật thú y chủ yếu áp dụng những kỹ thuật may da trực tiếp kiểu cũ cho những vết thương mất da lớn, điều này gây nên những biến chứng sau phẫu thuật do sức căng của da gây đứt chỉ, rách mô làm cho
Trang 14kỹ thuật xoay da trong các trường hợp mất da vùng bẹn trên chó thí nghiệm”
Trang 152
Chương 2 TỔNG QUAN
2.1 Đặc điểm sinh lý chó (Trần Thị Dân và Dương Nguyên Khang, 2005)
2.1.1 Thân nhiệt (đo ở trực tràng)
Chó cái trung bình là 10 tháng, biến động từ 7 - 13 tháng
Chu kỳ lên giống 2 lần/năm, thời gian mang thai khoảng 58 - 64 ngày, trung bình là 61 ngày
Sự trưởng thành sinh dục thường xuất hiện sớm ở những giống chó nhỏ con
và muộn ở giống chó lớn con
Số con trên mỗi lứa: tùy theo từng giống chó, số lượng chó con từ 1 - 15 con/lứa
Tuổi cai sữa: tùy thuộc vào giống và từng cá thể, thường 8 - 9 tuần kể từ lúc sinh
Trang 164
2.1.5 Chu kì lên giống
Thời gian lên giống biến động từ 3 - 21 ngày, thời điểm phối giống tốt nhất
từ ngày thứ 9 đến ngày thứ 13 kể từ khi có dấu hiệu lên giống đầu tiên Khoảng
cách giữa hai chu kì động dục 6 - 8 tháng, biến động từ 5 - 11 tháng
Mùa giao phối thường là tháng 1 và tháng 12
2.1.6 Số con trong một lứa và tuổi cai sữa
Tùy theo giống chó lớn hay nhỏ, thông thường từ 1 - 10 con
Chó mẹ ở độ tuổi 2 - 3,5 năm tuổi có số con đẻ ra và nuôi sống con tốt nhất Tuổi cai sữa là từ 8 - 9 tuần tuổi
2.2 Cấu tạo và đặc điểm của da chó (Fossum, 2002)
2.2.1 Cấu tạo của da
Thượng bì
Bì
Tế bàoMạch máu
Thân lông
Cơ dựng lông
Tuyến mồ hôi
Trang 175
24 % trọng lượng cơ thể, ở chó trưởng thành là 12 % Chức năng cơ bản của da là hàng phòng thủ đầu tiên giúp cơ thể tránh những ảnh hưởng của yếu tố bên ngoài như các vi khuẩn, vi sinh vật gây bệnh Da là nguồn cung cấp vitamin D, các chất điện giải, nước, chất béo, carbohydrate và protein Da còn tham gia vào quá trình trao đổi chất: hô hấp và bài xuất nhờ mạng lưới mao mạch, các tuyến nằm ở da Nhờ chứa những đầu thần kinh cảm giác da giúp cơ thể cảm nhận được áp lực, nhiệt
độ, cảm giác đau Da và những thụ thể cảm giác nằm trên lớp lông phủ chống lại những chất hóa học, sự bức xạ và khi kết hợp với lớp mỡ dưới da, tạo thành một lớp đệm chống lại những tổn thương cơ học, tạo sự cách ly chống nóng và chống lạnh
2.2.3 Cấu trúc và đặc điểm của da
Da gồm hai lớp mô cấu trúc có nguồn gốc khác nhau là ngoại bì và trung bì Lớp mô phía ngoài gọi là biểu bì, là lớp biểu mô đặc biệt có xuất nguồn từ ngoại bì
bề mặt Lớp mô phía trong gọi là bì, là loại mô liên kết đặc không đồng đều có nguồn gốc từ trung bì, nằm ngay bên dưới lớp biểu bì Độ dày của da thay đổi từ 0,5 đến 5 mm ở chó
2.2.3.1 Biểu bì (epidermis)
Biểu bì khởi đầu chỉ có một hàng tế bào xuất nguồn từ ngoại bì Sau đó tạo thêm một lớp tế bào đa diện ở phía trên gọi là chu bì (periderm), lúc này lớp bên dưới được gọi là lớp đáy (basal layer) Chu bì tiếp tục tăng sinh, tăng trưởng, sừng hóa và bong ra, rồi tiếp tục được thay thế bởi lớp tế bào đáy ở bên dưới Lớp đáy của biểu bì tiếp sau đó được gọi là lớp mầm (stratum germinativum) vì tạo ra các tế bào mới, thay thế cho các lớp tế bào ở phía trên Các tế bào từ lớp mầm sẽ tạo nên lớp trung gian (intermediate layer) Sự thay thế ở lớp tế bào chu bì diễn ra tiếp tục cho đến thời điểm không tồn tại nữa và được thay thế bởi lớp sừng (stratum corneum) Lớp mầm cũng tăng sinh tế bào theo hướng đi vào phía trong và tạo nên các mào biểu bì (epidermal ridge), các mào biểu bì lại tạo ra các nhú biểu bì Trong thời kỳ đầu trước khi sinh, các tế bào của mào thần kinh (neural crest) biệt hóa thành các nguyên bào sắc tố (melanoblast) Thân của nguyên bào sắc tố thường khu trú bên trong lớp đáy của biểu bì, còn các nhánh bào tương của chúng tiến vào xen
Trang 18Lớp biểu bì dày ở những vùng lông phủ mỏng, ngược lại lớp biểu bì mỏng ở những vùng dày đặc lông trưởng thành Và lớp biểu bì dày nhất trên vùng mũi, lớp đệm dưới chân
Chức năng của lớp biểu bì: lót mặt ngoài và bảo vệ cơ thể nhờ sự sừng hóa Chứa hắc tố bào là những tế bào tạo ra sắc tố có tác dụng bảo vệ cơ thể đối với những tia bức xạ Biểu bì không chứa mạch máu nên vi khuẩn không xâm nhập vào
cơ thể nếu vết thương chưa sâu đến lớp bì
Hình 2.2 Diễn biến sự tạo da dày với lông và tuyến bã
(Nguồn Nguyễn Trí Dũng, 2005)
Trang 197
2.2.3.2 Bì (còn gọi là mô mạch liên kết), (dermis)
Bì có xuất nguồn từ trung mô ở ngay bên dưới ngoại bì bề mặt Phần lớn trung mô biệt hóa thành mô liên kết của lớp bì có nguồn gốc từ trung bì lá thành Tiếp đến các tế bào trung mô bắt đầu tạo ra sợi collagen và sợi đàn hồi Khi có các mào biểu bì xuất hiện, lớp bì nhô lên về phía biểu bì và tạo nên các nhú bì Lớp bì gồm mạng lưới collagen và sợi đàn hồi, được bao quanh bởi lớp màng nhày polysaccharide Lớp này cung cấp hyaluronic acid, chondroitin sulfuric acid - hai thành phần quan trọng của lớp bì Collagen chiếm 90 % thành phần sợi bì Nguyên sợi bào, bạch cầu, tế bào huyết tố, đại thực bào có mặt xuyên suốt ở lớp bì, nhiều nhất ở lớp bề mặt của lớp bì Thỉnh thoảng cũng gặp tế bào chứa sắc tố, tế bào mỡ
Lớp bì phong phú mạng lưới mao mạch, mạch bạch huyết, thần kinh, cơ dựng lông và nang lông, các tuyến bắt nguồn từ ngoại bì
Lớp bì ở chó và mèo phân chia thành hai lớp không rõ ràng, gồm lớp nhú nông và lớp lưới sâu Lớp nhú gồm các bó sợi collagen mịn đan dệt vào nhau, sợi đàn hồi mịn và các sợi lưới Sợi lưới ngưng đọng với chất dẻo hình thành nên màng
cơ bản Lớp lưới cũng gồm các bó sợi collagen đan vào nhau và các sợi đàn hồi Nhưng các sợi collagen ở trạng thái thô hơn, ít tế bào hơn và số lượng sợi đàn hồi ở lớp lưới nhiều hơn lớp nhú
Độ dày của da liên hệ trực tiếp với độ dày của lớp bì, nó tùy thuộc vào vị trí trên cơ thể, giới tính, giống, loài Da dày khi có lớp bì dày hơn 1 mm, tương tự da mỏng khi lớp bì mỏng hơn 1 mm Da vùng bụng, vùng giữa các chi, loa tai trong là những vùng da mỏng nhất trên chó
2.2.4 Các phần phụ thuộc da
Phần phụ thuộc hay còn gọi là màng phụ của da bao gồm nang lông, tuyến
mồ hôi, tuyến bã, tất cả đều bắt nguồn từ biểu bì Một số tuyến khác cũng bắt nguồn
từ biểu bì như tuyến vú, tuyến đuôi, túi hậu mô…
2.2.4.1 Lông (hair)
Phần cơ bản tạo nên lông là nang lông Nang lông có xuất nguồn từ lớp mầm của biểu bì, di chuyển tiến vào lớp bì ở bên dưới Phần sâu nhất của nang lông phôi
Trang 208
thai được gọi là chồi lông có hình quả chùy, sẽ tạo nên hành lông (hair bulb) Các tế bào biểu bì của hành lông tạo ra mô nền mầm (germinal matrix) sẽ phát triển để trở thành lông Hành lông sau đó nằm lọt vào nhú lông trung mô (mesenchymal hair papilla) Các tế bào biểu bì bao quanh nang lông sẽ tạo nên bao chân lông biểu bì (epithelial root sheath), kéo dài tiếp tục với lớp đáy, còn các tế bào trung mô bao quanh nang lông sẽ tạo nên bao chân lông bì (dermal root sheath) Khi các tế bào của mô nền mầm tăng sinh, chúng được đẩy vào bên trong bao chân lông biểu bì, rồi được đẩy dần lên về phía bề mặt da và bị sừng hóa, tạo nên phần thân lông (hair shaft)
Nang lông ở phần thấp của lớp bì cũng mở rộng vào lớp cơ dưới da Những sợi lông đầu tiên xuất hiện có đặc điểm khá mảnh và nhạt màu, được gọi là lông tơ Các lông tơ này dần dần được thay thế bởi các lông cứng (coarser hair)
Cơ dựng lông (arrector pili muscle) bao gồm một bó các tế bào sợi cơ trơn,
có xuất nguồn từ trung mô ở xung quanh, sẽ gắn vào bao chân lông bì và các nhú bì Những cơ này bám chặt vào các sợi đàn hồi và được kích thích bởi hệ thống thần kinh tự động
Trang 219
Hình 2.3 Diễn biến tạo lông có tuyến bã đi kèm
(Nguồn Nguyễn Trí Dũng, 2005) Lúc mới sinh, nang lông ở chó phát triển từ nang lông đơn giản chỉ chứa một sợi lông Khi được 28 tuần tuổi, các nang lông đơn giản sẽ kết hợp lại phát triển thành nang lông tổng hợp chứa từ 7 - 10 sợi lông nổi lên trên bề mặt da Nang tổng hợp chứa 1 sợi lông chính hoặc lông phòng vệ, được bao quanh bởi các lông tơ mềm, mịn Thân lông hướng ra ngoài lỗ nang lông nhô lên bề mặt biểu bì, chúng chia nhánh vào các nang lông tương ứng nằm bên dưới tuyến bã Nang lông phòng
Trang 222.2.4.2 Cấu trúc các tuyến dưới da
Các tuyến dưới da bao gồm tuyến bã, tuyến mồ hôi, tuyến đuôi, túi hậu môn
và tuyến vú Cũng như nang lông, tất cả những tuyến này đều bắt nguồn từ ngoại bì phát triển vào lớp bì trong suốt giai đoạn phôi thai
Tuyến bã
Tuyến bã thường có chồi bắt nguồn từ thành bên của bao chân lông biểu bì của nang lông Các chồi tuyến bã tăng trưởng hướng vào mô liên kết ở xung quanh, phân nhánh và tạo nên các nang tuyến bã và ống tuyến bã Các tế bào ở vùng trung
Trang 2311
tâm nang tuyến bã tiêu đi, tạo nên chất bã nhờn Chất bã được tống xuất vào nang lông rồi qua đó đi ra khỏi bề mặt da Chất bã có tác dụng làm mềm lông da, tránh bị khô hoặc bị ẩm quá mức Người ta còn công nhận rằng, pheromone cũng được tiết
ra từ tuyến này ở một số loài Tuyến bã phát triển mạnh ở vùng cổ, vùng lưng và đặc biệt là vùng đuôi Tuyến bã gồm hai dạng là tuyến bã nông và tuyến bã sâu Tuyến bã nông có những ống dẫn tốt trong khi tuyến bã sâu lại có những ống dẫn đặt ở bên trong, vì vậy hoạt động phân tiết không thể thực hiện được Tuyến bã nông chứa chất béo còn tuyến bã sâu thì không Tế bào của tuyến bã sâu chứa tế bào chất và protein Cơ tuyến bã sâu có thể tìm thấy trên da ở bao quy đầu và háng Tuyến vú
Tuyến vú là sự kết hợp của các tuyến ngoại tiết hình ống và hình oval, cấu trúc giống với tuyến mồ hôi Trong suốt giai đoạn phôi thai, hình dạng tuyến vú không thay đổi hoặc thay đổi không rõ ràng ở con đực, hình dạng vú thay đổi nhiều
ở giai đoạn tiết sữa ở con cái
Túi hậu môn
Túi hậu môn chứa cả tuyến mồ hôi (tuyến ngoại tiết) và tuyến bã Túi này mỏng, phân tầng hình vảy vào lớp lót biểu bì Tuyến bã của túi hậu môn chạy theo đường dẫn ở cổ, còn tuyến mồ hôi tập trung ở vùng thấp của cơ thể Tuyến đuôi tập trung ở phần lưng của đuôi, khoảng từ đốt sống đuôi số 7 đến đốt sống đuôi số 9 Chiều dài của tuyến này thay đổi từ 2,5 cm đến 5,0 cm Hoạt động phân tiết ở tuyến này có thể tạo ra dạng nang hoặc khối u tùy thuộc từng loài
Tuyến mồ hôi
Tuyến mồ hôi gồm hai dạng là tuyến nội tiết và tuyến ngoại tiết Tuyến ngoại tiết có cấu trúc hình ống hoặc hình túi, lớn, đơn giản, chúng có thể uốn quanh co hoặc xoắn lại với phần phân tiết cuộn vòng và ống tiết thẳng Ống tiết của tuyến ngoại tiết đổ vào bao chân lông bên ngoài giữa bề mặt da và ống tiết chất bã nhỏ Tuyến nội tiết có hình ống, cuộn lại và cũng có cấu trúc đơn giản Các tuyến này đổ trực tiếp vào bề mặt của biểu bì Tuyến nội tiết được tìm thấy ở bề mặt chân đệm
Tuyến mồ hôi phát triển tốt ở giống chó có lông mịn và dài
Trang 2412
Tuyến mồ hôi thường được chia thành ba đoạn:
Tiểu cầu mồ hôi là đoạn cong nằm trong hạ bì, là phần chế tiết ra mồ hôi, đường kính lớn hơn ống bài xuất
Ống bài xuất: đoạn này chạy xuyên qua bì đến lớp mầm của biểu bì
Đường mồ hôi: đoạn ống này xoắn ốc trong biểu bì lên đến bề mặt da
Chức năng của tuyến mồ hôi là bảo vệ da bằng cách tiết mồ hôi khi nhiệt độ môi trường tăng cao quá mức Hoạt động phân tiết của tuyến có thể tăng trong suốt giai đoạn viêm đặc biệt khi viêm ở những vùng có nhiều tuyến mồ hôi Vì vậy phải thường xuyên thay băng và vệ sinh sạch sẽ vết thương để tránh nhiễm trùng
Ngoài một số tuyến kể trên, còn xuất hiện thêm nhiều tuyến có cấu trúc và chức năng đặc biệt như: tuyến Moll’s ở mi mắt, tuyến ráy tai ở ống tai ngoài, tuyến bao quy đầu, âm hộ và khu vực xung quanh hậu môn
2.3 Cấu trúc và đặc điểm lớp dưới da
Lớp dưới da hay còn gọi là hạ bì Đây là mô liên kết mỡ với mạng lưới collagen lỏng lẻo và các sợi đàn hồi Độ dày của lớp này khác nhau ở những vùng khác nhau của cơ thể Lớp này phát triển ít ở mi mắt, tai, bìu dái, và ở những vùng
mà da bám gần vào cấu trúc bên dưới
Những sợi đàn hồi ở lớp này ít bám vào xương, cơ, cân Một kết quả nghiên cứu gần đây cho biết lớp dưới da được cấu tạo bởi hai lớp không rõ ràng, gồm lớp
mô mỡ dưới da (adiposum subcutis) và lớp mô xơ dưới da (fibrosum subcutis), lớp này bao gồm cả lớp cơ dưới da
Mặc dù, lớp dưới da không phải thuộc cấu trúc của da, nhưng hệ thống mạch máu nuôi da phải đi qua lớp này để đến các lớp da bên trên Và cần lưu ý rằng, lớp
cơ dưới da giữ vai trò quan trọng trong các thao tác ở da trong quá trình phẫu thuật Lớp cơ dưới da
Cơ dưới da là một tập hợp gồm nhiều sợi cơ mỏng trong lớp hạ bì Lớp cơ này không được tìm thấy ở phần giữa và phần thấp ở lớp dưới da vùng chi Cơ dưới
da liên hệ trực tiếp với hệ thống tuần hoàn của da, chúng bảo tồn sự sống của da trong suốt thời gian phẫu thuật
Trang 2513
2.4 Hệ thống mạch máu nuôi da
Những động mạch hay tĩnh mạch của da nối với nhau thành lưới mạch máu chạy song song với bề mặt da Chính nhờ cấu trúc này mà da đảm nhận được nhiều chức năng
Hệ thống mạch máu ở da được phân thành 3 cấp độ: lưới mạch máu ở lớp sâu hay lưới mạch máu dưới da, lưới mạch máu ở lớp giữa hay lưới mạch máu da, lưới mạch máu nông hay lớp trên bề mặt da
Sự sắp xếp này thường gặp trên da nhưng cũng có thể khác nhau ở tai ngoài,
bề mặt chân đệm, núm vú, niêm mạc mũi, môi, mi mắt, bao quy đầu, âm hộ, hậu môn
Những hệ thống mạch máu ở 3 lớp da này nối liền nhau và được cung cấp bởi hệ thống động mạch da chạy dưới da Những vùng mất da trên thú nhỏ, hệ thống động mạch trực tiếp ở da co dãn một cách dễ dàng và cung cấp máu cho da khi da dãn hay di chuyển
Hình 2.5 Hệ thống mạch máu dưới da ở chó và mèo
(Nguồn Fossum, 2002) Hughes và Dransfield đã phân chia hệ thống động mạch ở chó thành hai nhóm lớn gồm: hệ thống mạch máu da phức tạp và hệ thống mạch máu da đơn giản
Hệ thống mạch máu da phức tạp phát triển và xuyên qua những cơ có cấu trúc lớn, cung cấp máu cho da Còn hệ thống mạch máu đơn giản chỉ phân một vài nhánh đến giữa hai lớp cơ trước khi cung cấp máu cho da Hệ thống mao mạch trên da chó phân nhánh, chạy song song với bề mặt da và là những động mạch trực tiếp nuôi da (Trích dẫn Fossum, 2002)
Trang 2614
2.5 Các đường căng của da trên chó
Vị trí vết thương, tính đàn hồi của những cơ chung quanh, hệ thống mạch máu dưới da và đặc tính của vết thương là những điều cần được xem xét trước khi thực hiện phẫu thuật tái tạo cấu trúc Độ đàn hồi và độ căng của da được kiểm tra bằng cách nắm kéo và nâng một vùng da lên, sau đó buông ra, da nhanh chóng trở lại hình dạng ban đầu
Một số phương pháp làm giảm độ căng của da như: tách mô liên kết bên dưới, chọn đường may giảm áp lực, sử dụng một số dụng cụ làm giảm độ căng da bằng cách kéo dãn da hoặc mở rộng cơ
2.5.1 Các đường căng của da trên chó
Đường căng da được tạo nên bởi sức kéo của những sợi cơ bên trong da Một
số đường căng da thông thường đã được mô tả (hình 2.6), tuy nhiên sự khác nhau còn tùy thuộc vào giống, hình dáng, giới tính và tuổi của con vật
Hình 2.6 Các đường căng da trên chó
(Nguồn Fossum, 2002) Đường rạch thêm để giảm lực căng da nên song song hoặc chạy dọc theo đường căng da sẽ làm cho vết thương mau lành và tạo sẹo thẩm mỹ Vết thương nên được đóng lại theo chiều của đường căng da để tránh hoặc giảm mức căng da tối thiểu (hình 2.7)
Mặt bên
Trang 2715
Hình 2.7 Hai bờ vết thương được ép thử bằng tay trước khi may
(Nguồn Fossum, 2002)
2.5.2 Biện pháp làm giảm sức căng da
Bóc tách mô liên kết dưới da
Để giảm nhẹ sức căng, da phải được bóc tách bằng kéo mổ để tách rời da với
mô dưới da, giúp tăng tính đàn hồi của da, để có thể căng da qua vết thương Da nên được tách sâu đến lớp cơ bên dưới để bảo vệ mạng lưới dưới da, hệ thống mạch máu chạy song song dưới bề mặt da Ở những vùng không có lớp cơ dưới da, da nên được tách đến lớp cân sâu đến lớp bì để bảo vệ động mạch da
Tránh gây tổn thương đến đám rối dưới da bằng cách sử dụng kéo Metzenbaum
Ở phần thân, việc bóc tách da được thực hiện giữa phần mô dưới da và lớp cân bên dưới
Ở mặt, để tránh việc xâm hại dây thần kinh mặt (dây thần kinh số V), việc bóc tách da được thực hiện dưới lớp bì
Da ở mỗi cạnh của góc khuyết cần được bóc tách một khoảng cách bằng với chiều rộng của vết thương
Trang 2816
2.6 Kim và chỉ may dùng trong may da
2.6.1 Kim may phẫu thuật
2.6.1.1 Tính chất của kim may tốt
Kim phải được chế tạo từ loại thép tốt, phải cứng để không bị cong, dẻo, để không bị gãy
Kim không bị xoay, lật khi dùng kẹp kim
Luôn bén nhọn để xuyên qua mô dễ dàng Và mặt ngoài kim phải láng
2.6.1.2 Phân loại kim may
Một cây kim may gồm có 3 thành phần:
Đuôi kim: có lỗ hoặc không có lỗ Đuôi kim có lỗ sử dụng được nhiều lần nhưng dễ làm rách mô do đoạn chỉ ở đuôi kim gập đôi lại Ngược lại đuôi kim không có lỗ ít gây tổn thương mô hơn
Thân kim: gồm thân thẳng hoặc thân cong Thân kim thẳng dùng may ở những nơi tương đối rộng, gần bề mặt cơ thể Thân kim cong may ở những nơi hẹp
và sâu (cong 3/8 và 1/2 thường dùng trong thú y)
Mũi kim: gồm mũi kim tam giác để may những mô dai, chắc (da) hoặc mũi kim tròn để may mô mềm (ruột, cơ, mô dưới da)
2.6.2 Chỉ may phẫu thuật
Một số loại chỉ may thông dụng
Chỉ phẫu thuật dùng trong may da
Chỉ nylon: không gây xót mô, không phản ứng viêm, không thấm nước, khó làm nút vì trơn
Chỉ polypropylene: Đặc tính giống chỉ nylon, phản ứng mô tối thiểu, độ bền cao, nút buộc an toàn
Chỉ polybuester: rất bền, không tiêu, không gây phản ứng kháng nguyên, không gây độc, có đặc tính co dãn nhẹ
Chỉ phẫu thuật dùng trong may mô liên kết dưới da
Chỉ Polyglyconate (Maxon): có khả năng kềm giữ vết thương trong thời gian dài,
duy trì sức bền cao, ít hoặc không bị hấp thu trong thời kì lành vết thương
Trang 2917
Chỉ Polydioxanone (PDS): có tính co dãn, ít làm rách mô hơn chỉ đơn sợi, được hấp thu hoàn toàn trong 182 ngày sau khi may vào mô
2.7 Các đường may da thông dụng
2.7.1 Những lưu ý khi thực hiện đường may
Cầm nắm mô nhẹ nhàng, thực hiện những kỹ thuật đã được chấp nhận trong
phẫu thuật, phải bảo quản hệ thống cung cấp mạch máu hiệu quả, không đè nát mô 2.7.2 Những lưu ý khi thực hiện cột nút ở da
Nút cột không được quá chặt, nút cột chặt sẽ ngăn cản sự lưu thông máu và gây hoại tử mô, làm chậm lành vết thương, gây đau và tự chấn thương Tất cả những yếu tố này có thể dẫn đến vết thương bị hở ra, nhiễm trùng và làm gia tăng sẹo
Nút cột nên được đặt ở một bên vết mổ chứ không được đặt bên trên
Khi may da đầu chỉ được chừa dài vừa đủ khi cắt để dễ dàng cho việc cắt chỉ sau này
2.7.3 Một số đường may thông dụng
Đường may dưới da walking
Trang 3018
Đường may dưới da gián đoạn
Hình 2.8 Một số đường may thông dụng
(Nguồn Lê Văn Thọ, 2009)
2.8 Các kỹ thuật may da trong những trường hợp mất da
Phương pháp trực tiếp
Bắt đầu mũi khâu ở mỗi góc của khuyết tật, sau đó tiến thẳng vào vùng trung tâm Kết quả là từ một khuyết tật ban đầu có dạng hình chữ nhật được đóng lại theo hình chữ X (hình 2.9)
Hình 2.9 Khuyết tật hình chữ nhật được may lại theo phương pháp trực tiếp
(Nguồn Fossum, 2002) Phương pháp gián tiếp
Vết thương có dạng hình chữ nhật, sau khi đã sửa chữa các cạnh của vết thương cho ngay ngắn, lúc này cắt thêm một đường mổ hình chữ nhật xuất phát từ một góc trên bên trái của hình chữ nhật, đường cắt thêm phải dài hơn cạnh dài của hình chữ nhật Kéo phần da vừa cắt thêm đắp vào chỗ khuyết tật rồi may lại (hình 2.10)