Chế định tài sản chung theo Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam – Thực tiễn và hướng đề xuất Mối quan hệ giửa hôn nhân và tài sản, hôn nhân có ảnh hưởng sâu rộng đối với tình trạng tài sản của vợ chồng với tư cách là hai con người, hai cá nhân trong quan hệ pháp luật.
Trang 1MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 3
2 Mục tiêu nghiên cứu 4
3 Phạm vi nghiên cứu 4
4 Phương pháp nghiên cứu 4
5 Bố cục đề tài 4
CHƯƠNG 1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ TÀI SẢN CHUNG CỦA VỢ CHỒNG 5
1.1 Khái niệm, đặc điểm của tài sản chung của vợ chồng 5
1.1.1 Khái niệm tài sản chung của vợ chồng 5
1.1.2 Đặc điểm tài sản chung của vợ chồng 7
1.2 Quá trình phát triển của quy định pháp luật về tài sản chung của vợ chồng 8
1.2.1 Chế độ tài sản chung của vợ chồng trong pháp luật phong kiến Việt Nam 8
1.2.2 Chế độ tài sản chung của vợ chồng thời kỳ pháp thuộc 1858-1945 .12 1.2.3 Chế độ tài sản của vợ chồng trong pháp luật ở miền Nam nước ta trước ngày thống nhất đất nước (1954-1975) 20
1.2.4 Chế độ tài sản chung của vợ chồng từ năm 1976 đến nay 25
1.2.4.1 Luật Hôn nhân và gia đình năm 1986 25
1.2.4.2 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 27
1.2.4.3 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 29
1.3 Vai trò, ý nghĩa của quy định pháp luật về tài sản chung của vợ chồng 31
CHƯƠNG 2 CHẾ ĐỊNH TÀI SẢN CHUNG THEO LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH VIỆT NAM 33
2.1 Căn cứ xác định tài sản chung của vợ chồng 33
2.1.1 Tài sản chung do hoạt động thu nhập 34
2.1.2 Tài sản chung do được thừa kế, tặng, cho chung 36
2.1.3 Tài sản chung của vợ chồng có được do hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng của vợ, chồng trong thời kỳ hôn nhân 38
Trang 22.1.4 Tài sản chung vợ chồng có được từ thu nhập hợp pháp khác của vợ
và chồng trong thời kỳ hôn nhân 39
2.1.5 Tài sản chung do nhập tài sản riềng vào tài sản chung 43
2.1.6 Tài sản chung có được do suy đoán 44
2.1.7 Nghĩa vụ đối với tài sản chung của vợ chồng 46
2.2 Đăng ký quyền sở hữu, quyền sử dụng đối với tài sản chung 47
2.3 Chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung 51
2.3.1 Quản lý chung tài sản chung 51
2.3.2 Định đoạt tài sản chung 53
2.4 Phân chia tài sản chung 57
2.4.1 Phân chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân 57
2.4.2 Phân chia tài sản chung khi ly hôn 62
CHƯƠNG 3 THỰC TIỄN VÀ ĐỀ XUẤT KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN VẤN ĐỀ TÀI SẢN CHUNG TRONG LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH 67
3.1 Thực tiễn về chế định tài sản chung trong Luật Hôn nhân và gia đình 67
3.2 Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện về chế độ tài sản chung trong Luật Hôn nhân và gia đình 76
KẾT LUẬN 78
Trang 3PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Mối quan hệ giửa hôn nhân và tài sản, hôn nhân có ảnh hưởng sâu rộng đốivới tình trạng tài sản của vợ chồng với tư cách là hai con người, hai cá nhân trongquan hệ pháp luật
Trước khi kết hôn vợ, chồng là những người độc thân Người độc thân có tàisản riêng, còn gọi là tài sản cá nhân Sau khi kết hôn tài sản đó có thể trở thành tài sảnchung trong thời kỳ hôn nhân Khi kết hôn vợ chồng ràng buộc lẫn nhau bởi nhiều bổnphận, trong đó có những bổn phận có ảnh hưởng nhất định đối với quyền hạn của vợ,chồng trong việc xác lập các giao dịch liên quan đến tài sản, thậm chí có những bổnphận có tác dụng đặt cơ sở cho việc xác định tính chất chung hay riêng của một tài sản
do vợ hoặc chồng tạo ra Suy cho cùng, tất cả các tài sản của vợ, chồng, dù là của riêngmỗi người hay của chung hai người, đều phải được khai thác, sử dụng trước hết nhằmbảo đảm sự duy trì và phát triển của gia đình, sau đó mới phục vụ cho cá nhân chủ sởhữu Nhân danh lợi ích của gia đình, vợ hoặc chồng có thể tự mình xác lập, thực hiệncác giao dịch trên tài sản chung và, trong một số trường hợp, nghĩa vụ phát sinh từ cácgiao dịch ấy có thể ràng buộc cả vợ và chồng một cách liên đới, nghĩa là khiến chongười chồng hoặc vợ dù không trực tiếp đứng ra giao dịch, phải chịu trách nhiệm cùngvới vợ hoặc chồng thực hiện nghĩa vụ bằng tài sản chung, thậm chí bằng tài sản riêngcủa mình
Ở Việt Nam từ năm 1945 đến nay hệ thống pháp luật về hôn nhân và gia đình
đã có nhiều quy định về chế độ tài sản của vợ chồng nói chung và tài sản chung của vợchồng nói riêng Pháp luật điều chỉnh về chế độ tài sản của vợ chồng vừa mang tínhkhách quan vừa thể hiện ý chí chủ quan của Nhà nước
Trên thực tế nếu các tranh chấp xảy ra liên quan đến tài sản giữa vợ chồng luôn
là việc phức tạp, thường gặp nhiều khó khăn, vướng mắc khi áp dụng, có nhiều hạnchế và bất cập trong thi hành án Kế thừa và phát triển các quy định về tài sản chungcủa vợ chồng trong pháp luật Việt Nam, Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam năm
2014 ra đời có phần hoàn thiện hơn, quy định về tài sản chung của vợ chồng tương đối
cụ thể và có điểm mới hơn so với Luật Hôn nhân và gia đình được ban hành năm
1959, 1986 và 2000
Để tìm hiểu rõ hơn quy định của Luật Hôn nhân và gia đình 2014 về vấn đề tàisản chung của vợ chồng; sự cần thiết của những chế định về khối tài sản chung, cũngnhư những điểm mới của Luật này so với Luật Hôn nhân và gia đình được ban hành
trước đây, tôi quyết định chọn đề tài: “Chế định tài sản chung theo Luật Hôn nhân
và gia đình Việt Nam - Thực tiễn và hướng đề xuất” để thực hiện ý tưởng nghiên cứu
Trang 42 Mục tiêu nghiên cứu
Tìm hiểu một cách cơ bản và khái quát những vấn đề lý luận về tài sản chungcủa vợ chồng từ những quy định tại các Luật Hôn nhân và gia đình năm 1959, 1986,2000; đồng thời so sánh, phân tích về mặt lý luận và thực tiễn với những quy định cụthể về tài sản chung của vợ chồng quy định tại Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014
Từ đó, tác giả rút ra những bất cập, hạn chế của Luật hiện hành để có những nhận xét,đánh giá và kiến nghị về chế định tài sản chung của vợ chồng được áp dụng trong thựctiễn đạt hiệu quả cao
3 Phạm vi nghiên cứu
Với mục tiêu trên, đề tài chủ yếu nghiên cứu chủ yếu trong phạm vi luật hiệnhành về tài sản chung của vợ chồng theo Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, đồngthời dựa vào những quy định về vấn đề tài sản chung của vợ chồng được đề cập tại cácLuật Hôn nhân và gia đình Việt Nam qua các thời kỳ để so sánh và đối chiếu
4 Phương pháp nghiên cứu
Tác giả tìm hiểu, phân tích, đánh giá quy định pháp luật về vấn đề tài sảnchung của vợ chồng trong pháp luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 và pháp luật khác
có liên quan
Để thực hiện nghiên cứu tác giả đã sử dụng một số phương pháp sau:
Phương pháp lịch sử được sử dụng nghiên cứu, tìm hiểu về tài sản chung của
vợ chồng qua các thời kỳ lịch sử ở Việt nam qua các năm 1959,1986, 2000 và 2014
Phương pháp phân tích, tổng hợp được sử dụng khi phân tích các vấn đề liênquan đến tài sản chung của vợ chồng và khái quát những nội dung cơ bản của từng vấn
đề được nghiên cứu
Phương pháp so sánh được thực hiện nhằm tìm hiểu quy định của pháp luật hiệnhành với hệ thống pháp luật trước đây ở Việt Nam về chế độ tài sản chung của vợ chồng
5 Bố cục đề tài
Đề tài “Chế định tài sản chung theo Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam
- Thực tiễn và hướng đề xuất” bao gồm những phần chủ yếu sau:
Mục lục, lời mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và ba chương chính đó là:CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ TÀI SẢN CHUNG CỦA VỢ CHỒNGCHƯƠNG 2: CHẾ ĐỊNH TÀI SẢN CHUNG THEO LUẬT HÔN NHÂN VÀGIA ĐÌNH VIỆT NAM
CHƯƠNG 3: THỰC TIỄN VÀ ĐỀ XUẤT, KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN VẤN
ĐỀ TÀI SẢN CHUNG TRONG LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH
Trang 5CHƯƠNG 1
LÝ LUẬN CHUNG VỀ TÀI SẢN CHUNG CỦA VỢ CHỒNG
1.1 Khái niệm, đặc điểm của tài sản chung của vợ chồng
1.1.1 Khái niệm tài sản chung của vợ chồng
Trong chế định quyền sở hữu thì tài sản giữ một vai trò quan trọng vừa là đốitượng của quyền sở hữu vừa là khách thể trong quan hệ pháp luật dân sự
Khi nhắc đến tài sản thì chúng ta có thể đưa ra nhiều khái niệm khác nhau,nhưng nhìn chung có thể hiểu theo hai cách khác nhau:
Theo cách hiểu thông thường thì tài sản là của cải được con người sử dụng,một vật cụ thể mà con người có thể nhận biết bằng giác quan hay tiếp xúc trực tiếp
Bộ luật Dân sự năm 2015 dựa vào tiêu chí tài sản là đối tượng của quyền sởhữu phải trị giá được bằng tiền và có thể đưa vào giao dịch dân sự Theo quy định Bộ
luật Dân sự 2015 thì “Tài sản bao gồm vật, tiền, giấy tờ có giá và các quyền tài sản và bao gồm bất động sản và động sản Bất động sản và động sản có thể là tài sản hiện có
và tài sản hình thành trong tương lai”1 Vật được coi là tài sản phải là vật hữu hình,con người có thể tri giác được và chiếm giữ một phần trong không gian và đồng thờiphải đáp ứng được một nhu cầu nào đó về vật chất hoặc tinh thần con người Tiền baogồm tiền Việt Nam, ngoại tệ, kim khí quý, đá quý Giấy tờ có giá được xem là tài sảnkhi đáp ứng được các yêu cầu sau: do Nhà nước phát hành, có mệnh giá ghi trên giấy
và có thể thay thế tiền trong giao dịch dân sự Quyền tài sản là quyền trị giá được bằngtiền và có thể chuyển giao trong giao dịch dân sự, kể cả quyền sở hữu trí tuệ
Như vậy, so với Bộ luật Dân sự 2005 thì khái niệm tài sản theo quy định của
Bộ luật Dân sự 2015 đã được mở rộng hơn Đối tượng được xem là tài sản không chỉ
là những “vật có thực” - “bất động sản, động sản” và những vật được hình thành
trong tương lai cũng được gọi là tài sản Mặc dù trên thực tế xoay quanh vấn đề tài sảnvẫn còn nhiều vướng mắc nhưng quy định về tài sản theo Bộ luật Dân sự 2015 đã đượchoàn thiện thêm, góp phần tạo điều kiện thuận lợi trong quá trình áp dụng pháp luật
Tóm lại tài sản chung của vợ chồng bao gồm tài sản tạo ra, thu nhập hợp pháptrong thời kỳ hôn nhân, tài sản được tặng cho chung, thừa kế chung, tài sản vợ chồngthỏa thuận là tài sản chung Tài sản chung của hai vợ chồng là tài sản thuộc sở hữuchung hợp nhất, hai bên có quyền và nghĩa vụ ngang nhau trong chiếm hữu, sử dụng
và định đoạt”
Theo quy định tại Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 thì tài sản chung bao
gồm: “tài sản do vợ chồng tạo ra, thu nhập hợp pháp do lao động, hoạt động sản xuất kinh doanh và những thu nhập hợp pháp khác của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân,
Trang 6tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc tặng cho chung và tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung” 2 Đó là căn cứ lập tài sản chung của vợ chồng Từđiều Luật này, có thể thấy khối tài sản chung gồm các tài sản do vợ hoặc chồng tạo rabằng sức lao động hoặc thông qua các hoạt động chuyển nhượng tài sản có đền bù; cácthu nhập hợp pháp do lao động hoặc thu nhập không do lao động; các tài sản có dođược chuyển dịch chung.
Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 đã khái quát, cụ thể hơn: “Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân, trừ trường hợp được quy định tại khoản 1 Điều 40 của Luật này; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung Quyền sử dụng đất mà vợ, chồng
có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp vợ hoặc chồng được thừa kế riêng, được tặng cho riêng hoặc có được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng.
Tài sản chung của vợ chồng thuộc sở hữu chung hợp nhất, được dùng để bảo đảm nhu cầu của gia đình, thực hiện nghĩa vụ chung của vợ chồng.
Trong trường hợp không có căn cứ để chứng minh tài sản mà vợ, chồng đang
có tranh chấp là tài sản riêng của mổi bên thì tài sản đó đươc coi là tài sản chung” 3
Theo Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định rõ ràng hơn là phần hoalợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng trong thời kỳ hôn nhân là tài sản chung của vợchồng và những tài sản thuộc sở hữu chung hợp nhất được dùng để đảm bảo nhu cầucủa gia đình, thực hiện các nghĩa vụ chung của vợ chồng Do vậy, việc xây dựng khốitài sản chung không căn cứ vào công sức đóng góp của hai vợ chồng đối với tài sảnthuộc sở hữu chung đó
Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 về khái niệm tài sản chung của vợ chồngđược Luật quy định cụ thể, tiến bộ hơn so với Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 vềvấn đề hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng trong thời kỳ hôn nhân thuộc khối tàisản chung của vợ chồng Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 về phần chừ và điềuLuật rõ ràng và đã bổ sung, sửa đổi một số vấn đề về tài sản chung của vợ chồng
1.1.2 Đặc điểm tài sản chung của vợ chồng
Xuất phát từ vị trí, vai trò quan trọng của gia đình đối với sự tồn tại và pháttriển của xã hội, Nhà nước bằng pháp luật khi quy định về chế độ tài sản của vợ chồngđều xuất phát từ mục đích trước tiên và chủ yếu nhằm đảm bảo quyền lợi của gia đình,trong đó có lợi ích cá nhân của vợ, chồng; từ đó, theo Luật định, dù vợ chồng lựa chọn
2 Điều 27 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000.
3 Điều 33 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
Trang 7loại chế độ tài sản nào thì cũng phải có nghĩa vụ đóng góp tiền bạc, nhằm bảo đảmcuộc sống chung của gia đình, nghĩa vụ chăm sóc lẫn nhau và nuôi dưỡng, giáo dụccác con Hình thức sở hữu đối với tài sản chung của vợ chồng là sở hữu chung hợpnhất, với những đặc điểm riêng: các tài sản do vợ, chồng tạo ra; những thu nhập hợppháp của vợ, chồng trong thời kỳ hôn nhân đều được tính thuộc khối tài sản chung của
vợ chồng, trừ nguồn gốc là tài sản riêng của mỗi bên Công sức tạo ra tài sản củangười chồng đã hàm chứa cả công sức của người vợ trong đó và ngược lại
Đối với tài sản chung của vợ chồng, bắt buộc vợ chồng khi tham gia các giaodịch dân sự, kinh tế phải xuất phát từ lợi ích chung của gia đình Thông thường, khi vợchồng sử dụng tài sản chung để đáp ứng những nhu cầu thiết yếu của gia đình thì phápluật luôn coi là có sự thỏa thuận đương nhiên của cả hai vợ chồng, trừ những tài sảnchung có giá trị lớn
Tài sản chung của vợ chồng thực chất là chế độ sở hữu tài sản chung của vợchồng Xuất phát từ tính chất và mục đích đặc biệt của quan hệ hôn nhân được xác lập
- tính cộng đồng của quan hệ hôn nhân Vợ, chồng có tư cách vừa là chủ thể của quan
hệ hôn nhân và gia đình, vừa là chủ thể của quan hệ dân sự khi thực hiện quyền sở hữucủa mình, tham gia các giao dịch dân sự Vì vậy, tài sản chung của vợ chồng có nhữngđặc điểm riêng biệt sau đây:
+ Thứ nhất, xét về chủ thể của quan hệ sở hữu trong chế độ tài sản này, thì cácbên phái có quan hệ hôn nhân hợp pháp với tư cách là vợ chồng của nhau - đây là đặcđiểm chỉ tồn tại trong loại chế độ tài sản nói chung và tài sản chung của vợ chồng nóiriêng Do vậy, để trở thành chủ thể của quan hệ sở hữu này, các chủ thể ngoài việc có
đủ năng lực chủ thể trong quan hệ pháp luật dân sự, còn đòi hỏi họ phải tuân thủ cácđiều kiện kết hôn được quy định trong pháp luật Hôn nhân và gia đình (ví dụ, các điềukiện về tuổi kết hôn, điều kiện về sự tự nguyện, không vi phạm các điều cấm kết hôn)
+ Thứ hai, xuất phát từ vị trí, vai trò quan trọng của gia đình đối với sự tồn tại
và phát triển của xã hội, Nhà nước bằng pháp luật khi quy định về tài sản chung của vợchồng đều xuất phát từ mục đích trước tiên và chủ yếu nhằm bảo đảm quyền lợi củagia đình, trong đó có lợi ích cá nhân của vợ, chồng; từ đó, theo Luật định, dù vợ chồng
có tài sản chung hay tài sản riêng thì cũng đều phải có nghĩa vụ đóng góp tiền bạc,nhằm đảm bảo đời sống chung của gia đình, nghĩa vụ chăm sóc lẫn nhau và nuôidưỡng, giáo dục các con Hình thức sở hữu đối với tài sản chung của vợ, chồng là sởhữu chung hợp nhất, với những đặc điểm riêng: các tài sản do vợ, chồng tạo ra, nhữngthu nhập hợp pháp của vợ, chồng trong thời kỳ hôn nhân đều được tính thuộc khối tàisản chung của vợ, chồng (trừ nguồn gốc là tài sản riêng của mỗi bên) Công sức tạo ratài sản của người chồng đã hàm chứa cả công sức của người vợ trong đó và ngược lại
+ Thứ ba, căn cứ xác lập, chấm dứt chế độ tài sản này phụ thuộc vào sự kiện
Trang 8phát sinh và chấm dứt của quan hệ hôn nhân Hay nói cách khác, tài sản chung của vợchồng chỉ tồn tại trong thời kỳ hôn nhân Từ đó, tài sản chung của vợ chồng chỉ có thểphát sinh khi quan hệ hôn nhân được xác lập và chấm dứt khi một bên vợ, chồng chếttrước hoặc vợ chồng ly hôn.
+ Thứ tư, chế độ tài sản của vợ chồng cũng mang những đặc thù riêng trongviệc thực hiện các quyền và nghĩa vụ của chủ thể Đối với tài sản chung của vợ chồng,bắt buộc vợ chồng khi tham gia các giao dịch dân sự, kinh tế phải xuất phát từ lợi íchchung của gia đình Thông thường, khi vợ chồng sử dụng tài sản chung để đáp ứngnhững nhu cầu thiết yếu của gia đình thì pháp luật luôn coi là có sự thỏa thuận đươngnhiên của cả hai vợ chồng, trừ những tài sản chung có giá trị lớn
1.2 Quá trình phát triển của quy định pháp luật về tài sản chung của vợ chồng
Việc quy định chế định tài sản chung của vợ chồng có vai trò quan trọng, là cơ
sở pháp lý để các cơ quan nhà nước có thẩm quyền giải quyết các tranh chấp về tài sản
vợ chồng với nhau và giữa vợ chồng với những người khác, đảm bảo việc thực hiệnquyền và nghĩa vụ của người có tài sản khi tham gia các giao dịch dân sự trong thời kỳhôn nhân Tương ứng với mỗi điều kiện phát triển kinh tế - xã hội, truyền thống, tậpquán ở các thời kỳ khác nhau thì việc quy định chế định tài sản chung của vợ chồngcũng được quy định tương ứng:
1.2.1 Chế độ tài sản chung của vợ chồng trong pháp luật phong kiến Việt Nam
Theo một số nhà nghiên cứu lịch sử pháp luật Việt Nam thì cổ Luật Việt Namđược giới hạn từ cuộc khởi nghĩa của vua Hàm Nghi chống Pháp (1885) trở về trước.Trong xã hội phong kiến Việt Nam, các quy định về hôn nhân và gia đình chiếm một
vị trí quan trọng trong các văn bản Luật Tuy nhiên, khảo cứu các quy định của phápluật về chế độ tài sản của vợ chồng trong cổ Luật Việt Nam, nhiều nhà nghiên cứu chorằng cổ Luật Việt Nam không dự liệu về chế độ tài sản vợ chồng theo như quan niệmcủa những nhà lập pháp tư sản
Quốc triều hình Luật được ban hành dưới triều Lê trong khoảng niên hiệuHồng Đức (1470-1497) và Hoàng Việt luật lệ ban hành dưới triều Nguyễn (1812) đều
có các quy định về vấn đề hôn nhân và gia đình, nhưng tuyệt nhiên chế độ tài sản của
vợ chồng không được quy định như một chế định riêng rẽ và cụ thể Pháp luật dướitriều Lê là công cụ quyền lực chính trị của vua chúa, chính vì mục đích này mà nóđược dựa theo hệ tư tưởng nho giáo Điều đó không mâu thuẩn với một thực tế là phápluật Việt Nam vẫn còn giữ lại những khía cạnh của luật Các quy định về vấn đề tàisản của vợ chồng không rõ ràng Quốc Triều hình luật không có các điều khoản nào đềcập đến vấn đề tài sản của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân, mà chỉ dự liệu một số
Trang 9trường hợp chia tài sản của vợ chồng khi một bên vợ, chồng chết trước (Điều 374, 375,376) Hoàng Việt luật lệ do chép nguyên văn của Luật nhà Thanh nên không có mộtđiều khoản nào về vấn đề tài sản của vợ chồng Theo Điều 94 Hoàng Việt luật lệ quyđịnh về sự thoái hôn: Người nào đã bằng lòng gả con gái và chấp nhận “hôn thư” hoặc
đã ký kết “tư ước” tức là đã biết rõ về tình trạng hôn nhân và gia đình của vị hôn phu(tuổi, tật bệnh, dòng giống, con chính thức, con nuôi v.v ) mà rồi tự mình vô cớ cựtuyệt sẽ bị phạt 50 trượng Dù là không có khế ước viết nhưng nếu đã nhận lễ vật (sínhlễ), thì cũng bị trừng phạt như trên “Hôn thư” được quy định trong điều luật nàykhông phải là một “hôn ước” thỏa thuận về vấn đề tài sản của vợ chồng như quan niệmngày nay ở các nước tư bản “Hôn thư” chỉ là một văn bản ghi nhận sự đính hôn giữahai bên gia đình gả con cho nhau mà thôi Luật và tục lệ cổ ở Việt Nam không hề biếtđến “hôn thư” như một hợp đồng thỏa thuận về vấn đề tài sản giữa vợ chồng để chiphối trong suốt thời kỳ hôn nhân Trong xã hội phong kiến Việt Nam trước đây, khổnggiáo giữ vai trò chủ đạo, chi phối các hành vi ứng xử trong các quan hệ hôn nhân vàgia đình: Tình nghĩa vợ chồng, quan hệ giữa cha mẹ và các con Theo quan niệmtruyên thống của người phương Đông thì hôn nhân được tác thành xuất phát từ lợi íchcủa gia đình, để xây dựng gia đình “sinh con đẻ cái” để nối dõi tông đường, thờ phụng
tô tiên Tình nghĩa vợ chồng buộc người vợ phải tuyệt đối “trung thành” với chồng,phải sinh con (đặc biệt là con trai) để có người nối dõi tông đường, phụng sự lợi íchcủa gia đình chồng
Người vợ mà “vô tử” (không có con), hoặc có hành vi không chung tình mà
“gian dâm” (ngoại tình) với người khác là một trong bảy tội (thất xuất) để người chồng
bỏ vợ (ly hôn) Như vậy, trong gia đình truyền thống ở Việt Nam, yếu tố tình cảm, vớinhững lại ích về tinh thần được coi trọng hơn là các yếu tố tài sản, với quan niệm “trailớn dựng vợ, gái lớn gã chồng”, sinh đẻ, giáo dục con cái vì lợi ích của xã hội và giađình Hôn nhân là một sự phối hợp tuyệt đối về mọi phương diện và mục tiêu là để xâydựng gia đình, sinh con, đẻ cái để nối dõi tông đường, vợ chồng khi có con chung, với
tư cách là cha mẹ, họ cùng chung sức, chung ý chí để tạo dựng tài sản nhằm vào mụcđích là nuôi dưỡng, giáo dục các con, vì lợi ích của các con Vì vậy, toàn bộ tài sản mà
vợ chồng tạo dựng được hợp nhất thành một khối để cho gia đình sử dụng vào việcnuôi dưỡng các con, để lại cho các con khi cha, mẹ chết Quan niệm và chế độ này đã
ăn sâu vào tục lệ của người Việt Nam, trãi qua bao nhiêu thế kỷ và cho đến tận ngàynay, hầu như vẫn không hề thay đổi Dưới thời Pháp thuộc, trước khi ban hành Dânluật Bắc kỳ, ủy ban tư vấn án lệ Bắc Việt đã sưu tầm và ghi chép (từ năm 1927-1930)thành một tập ý kiến gồm 324 câu giải đáp, trong đó khi trả lời câu hỏi thứ 31, ủy ban
tư vấn án lệ này đã giải đáp như sau: Nguyên tắc căn bản vẫn còn được áp dụng tronggia đình Việt Nam về chế độ tài sản giữa vợ chồng là tất cả các của cải của đôi vợ
Trang 10chồng, không phân biệt bản chất và nguồn gốc; đều để dành cho các con theo tục ngữ:cha mẹ làm việc để nuôi con, cho nên suốt thời kỳ hôn nhân, tất cả các của cải là củachung Như vậy, suốt trong thời kỳ hôn nhân, tất cả của cải của vợ chồng tạo thànhkhối cộng đồng Cũng theo tư tưởng nho giáo, người vợ khi lấy chồng là thuộc hẳn vềnhà chồng, là “hiền thê” (vợ hiền) của người chồng, “Thuyền theo lái, gái theo chồng”
- Thuyết tam tòng buộc người vợ phải theo chồng Người chồng trong hôn nhân phongkiến được coi là trụ cột của gia đình, là người chủ gia đình, đại diện cho mọi quyền lợicủa gia đình Cũng là chủ sở hữu các tài sản trong gia đình, định đoạt tài sản vì quyềnlợi của gia đình; vì thế, không cần thiết phải dự liệu về vấn đề tài sản chung hay tài sảnriêng của vợ, chồng Điều đó có thể lý giải tại sao Luật cổ của ta không dự liệu cụ thể
về chế độ tài sản của vợ chồng
Qua nghiên cứu các quy định liên quan đến vấn đề tài sản vợ chồng trongQuốc triều hình luật và Hoàng Việt luật lệ, cũng như các tục lệ được thực hiện trongphong kiến, có thể thấy rằng, chế độ tài sản của vợ chồng trong cổ Luật Việt Nam làchế độ cộng đồng pháp định Chế độ tài sản này được áp dụng như là duy nhất cho cácquan hệ vợ chồng Loại chế độ tài sản ước định (hôn ước) được áp dụng cho các cặp
vợ chồng thời nay tại nhiều nước tư bản chủ nghĩa thì luật cổ và cả tục lệ ở nước takhông hề biết tới
Như vậy, chế độ tài sản của vợ chồng được áp dụng trong luật cổ và tục lệ ởViệt Nam là chế độ cộng đồng toàn sản, với nội dung toàn bộ tài sản mà vợ, chồng cóđược từ trước khi kết hôn hoặc do vợ, chồng tạo dựng trong thời kỳ hôn nhân đềuthuộc khối tài sản chung của vợ chồng Tài sản chung của vợ chồng với thành phầnbao gồm các tài sản là động sản (Quốc triều hình luật gọi là phù vật) và các bất độngsản (điền sản) Trong đó điền sản được coi là tài sản chủ yếu, chiếm vị trí hàng đầutrong khối tài sản chung của vợ chồng Nó có ý nghĩa thiêng liêng và thể hiện trật tựgiữa các thành viên trong gia đình Với quan niệm coi điền sản là chính yếu, Quốctriều hình luật đã quy định thành phần khối tài sản chung của vợ chồng gồm ba loại:
+ Phu tông điền sản (tài sản của chồng được thừa kế từ gia đình);
+ Thê điền sản (tài sản của vợ được thừa kế từ gia đình);
+ Tần tảo điền sản (những tài sản mà vợ chồng làm ra trong thời kỳ hôn nhân).Tất cả các tài sản này được đặt dưới sự quản lý của người chồng - chủ giađình, tài sản chung của vợ chồng chỉ được chia khi một bên vợ, chồng chết trước màgiữa họ không có con Tuy nhiên, pháp luật thời Lê hoặc theo tục lệ cũng giành chongười vợ được tham gia vào việc quản trị tài sản chung của vợ chồng; người vợ được
tự do hành động trong các nhu cầu gia vụ đảm bảo đời sống chung của gia đình với tưcách là “nội tướng” sử dụng tài sản chung của vợ chồng Sự đồng ý của người chồngthường các trường hợp này là mặc nhiên Đặc biệt đối với các giao dịch liên quan đến
Trang 11tài sản chung của vợ chồng có giá trị là “điền sản” thì đều phải có sự thỏa thuận đồng ýcủa cả hai vợ chồng Trong các văn tự cổ như mua, bán, cầm cố tài sản liên quan đếntài sản chung của vợ chồng là “điền sản” thì đều phải có chữ ký của hai vợ chồng;hoặc trường hợp người chồng sử dụng tài sản chung không đảm bảo quyền lợi của cáccon và lợi ích của gia đình thì người vợ cũng có quyền phản đối Thể hiện quan niệm
này, Ủy ban tư vấn án lệ Bắc Việt khi giải đáp câu hỏi thứ 31 đã chỉ rõ: “Với tư cách gia trưởng, người chồng có quyền quản trị và có cả quyền sử dụng, nhưng dần dần về sau, khi thực hiện các hành vi sử dụng, người chồng cần có sự thỏa thuận, hoặc minh thị, hoặc mặc nhiên của người vợ” Điều đó đã thể hiện trong chừng mực nhất định,
người vợ được “bình đẳng” cùng chồng định đoạt tài sản chung, hoàn toàn không phải
là “người vô năng lực” Quy định này của pháp luật nhà Lê tiến bộ hơn hẳn so vớipháp luật của Trung Quốc cùng thời, đã coi người vợ hoàn toàn vô năng lực, phụ thuộcvào người chồng một cách tuyệt đối Thật đáng tiếc, điều này lại được ghi nhận lạitrong Hoàng Việt luật lệ, người vợ bị coi là vô năng lực, vì Hoàng Việt luật lệ sao chépnguyên văn luật của Nhà Thanh
Quốc triều hình luật - Bộ luật quan trọng, chính thống nhất của triều Lê Quốctriều hình luật cũng chính là Bộ luật cổ xưa nhất mà chúng ta còn lưu giữ đầy đủ chođến ngày nay Mặc dù chịu ảnh hưởng sâu sắc của triết lý Nho giáo - hệ tư tưởngthống trị trong xã hội thời Lê cũng như ảnh hưởng của các Bộ luật Trung Quốc (Luậtnhà Đường, nhà Minh), những nhà làm luật thời Lê đã biết tiếp thu có chọn lọc, sángtạo pháp luật Trung Quốc đồng thời kết hợp với các phong tục, tập quán đặc thù của xãhội Việt Nam, hòa nhập chúng với hệ thống pháp luật, tạo nên nét riêng biệt độc đáocủa Bộ luật Trong đó, phải kể đến chế độ tài sản giữa vợ chồng trong thời kỳ hônnhân - một chế định đặc sắc được quy định tương đối cụ thể, thể hiện gián tiếp thôngqua các Điều 374, 375, 376 ở Chương Điền sản
Theo như quy định tại các Điều 374, 375, 376 thì tài sản của vợ chồng bao gồmtài sản chung cùng làm ra trong thời kỳ hôn nhân và tài sản riêng của mỗi người đượcthừa kế từ gia đình Sự quy định rõ ràng thành phần khối tài sản chung và riêng làđiểm rất tiến bộ, độc đáo của pháp luật nhà Lê; nó được tiếp thu trong việc xây dựngpháp luật hiện nay Phản ánh một cách khá trung thực và điều chỉnh một cách hợp lýmối quan hệ giữa vợ chồng là phù hợp với thực tế xã hội Việt Nam, địa vị pháp lý củangười vợ được cải thiện hơn hẳn so với các quan niệm Nho giáo qua việc thừa nhậnquyền bình đẳng về tài sản giữa vợ chồng
Lần đầu tiên, pháp luật công nhận công lao đóng góp vào việc tạo tài sản chung của hai vợ chồng - tài sản vợ chồng làm ra trong thời gian hôn nhân, từ đó công nhận quyền sở hữu của người vợ đối với một nữa tài sản của hai vợ chồng
làm ra thể hiện qua các quy định tại Điều 374: “ Nếu điền sản là của chồng và vợ
Trang 12trước làm ra thì chi làm hai phần, vợ trước và chồng mỗi người một phần, phần của
vợ tnrớc thì để riêng cho con, còn phần chồng thì lại chia như trước Nếu điền sản là của chồng và vợ sau làm ra, thì cũng chia làm hai phần, chồng và vợ sau mổi người một phần, phần của chồng thì chia như trước, còn phần của vợ sau thì được nhận làm
của riêng ” và Điều 375 quy định: “ còn điền sản của vợ chồng làm thì chia làm
hai, vợ chồng mỗi người một phần; phần của vợ được nhận làm của riêng ”.
Việc chia đôi khối tài sản chung chứng tỏ rằng sự đóng góp của người vợ vàokhối tài sản chung là ngang bằng với người chồng Sự bình đẳng đó còn thể hiện ởquyền định đoạt tài sản chung Việc đứng tên đồng chủ thể trong khối tài sản chung là
cơ sở để tạo ra các năng lực pháp lý dân sự của người phụ nữ Pháp luật đòi hỏi phải
có sự đồng ý của cả hai vợ chồng trong việc chuyển nhượng tài sản chung cho ngườikhác
1.2.2 Chế độ tài sản chung của vợ chồng thời kỳ pháp thuộc 1858-1945
Trước khi Luật Hôn nhân và gia đình năm 1959 có hiệu lực thì chế độ đa thêđược áp dụng rộng rãi theo tục lệ thời cổ Nhìn chung tài sản chung của vợ chồng theoquy định trong Dân luật Bắc kỳ 1931, Dân luật Trung kỳ 1936, Dân luật giản yếu Nam
kỳ 1883 đã giành cho người chồng những đặc quyền riêng biệt hơn so với người vợ.Điều này thể hiện rõ sự bất bình đẳng giữa nam và nữ thời kỳ này Chẳng hạn theođoạn 2 Điều 109 Dân luật Bắc kỳ và đoạn 2 Điều 107 Dân luật Trung Kỳ thì ngườichồng có thể định đoạt tài sản chung không cần phải vợ bằng lòng cũng được miễndùng vào việc lợi ích cho gia đình, trừ bất động sản là tài sản riêng của người vợ
Năm 1858 thực dân Pháp nổ súng xâm lược nước ta, triều đình nhà Nguyễn đã
đi từ nhượng bộ này đến nhượng bộ khác và cuối cùng đã đầu hàng vô điều kiện Thời
kỳ Pháp đã chia nước ta thành ba miền và ở từng miền cho ban hành và áp dụng các
Bộ luật riêng điều chỉnh các quan hệ hôn nhân và gia đình, trong đó có chế độ tài sảncủa vợ chồng
+ Bắc kỳ áp dụng Bộ luật Dân sự năm 1931 (BLBK);
+ Trung kỳ áp dụng Bộ luật Dân sự năm 1936 (BLTK);
+ Nam kỳ cho ban hành tập Dân luật giản yếu năm 1883 (DLGYNK)
Nhìn chung, những quy định của pháp luật thời kỳ này nhằm điều chỉnh cácquan hệ hôn nhân và gia đình đã mang những sắc thái mới so với cổ Luật phong kiếnViệt Nam Bên cạnh những tục lệ tồn tại trong xã hội phong kiến từ lâu đời, nhà làmluật đã “phỏng theo” Bộ luật Dân sự Pháp (1804) khi quy định về chế độ hôn nhân vàgia đình trong đó có chế độ tài sản vợ chồng Quy định của pháp luật thời kỳ này vẫnthực hiện chế độ đa thê (nhiều vợ), việc kết hôn được tiến hành khi nam nữ còn chưađến tuổi thành niên (nam trong 18 tuổi, nữ tròn 15 tuổi); trường hợp đặc biệt có thểcho phép hạ thấp tuổi kết hôn của nam xuống 15 tuổi, nữ xuống 12 tuổi (Điều 73, 75
Trang 13DLBK 1931); việc kết hôn dù con đã thành niên hay chưa thành niên đều phải được sựưng thuận của cha mẹ hay các bậc tôn trưởng trong gia đình, nếu cha mẹ chết hoặc mấtnăng lực hành vi dân sự (hôn nhân cưỡng ép); bảo vệ quyền gia trưởng của cha mẹ đốivới các con Trong quan hệ giữa vợ chồng vẫn thực hiện nguyên tắc bất bình đắng,người vợ; phụ thuộc chồng về mọi phương diện, người vợ ở đâu, làm gì phải đượcchồng ưng thuận, cho phép, vẫn với quan niệm “Thuyền theo lái, gái theo chồng”,
“Phu xướng phụ tùy”
Về vấn đề tài sản giữa vợ chồng đã có những quy định cụ thể trong các vănbản pháp luật (DLBK 1931, DLTK 1936) Đối với Tập Dân luật giản yếu ngày03/10/1883 áp dụng ở Nam Kỳ bao gồm 3 tiết nói về thất tung, hôn thú, ly dị, phụ hệ,con nuôi, phu quyền, vị thành niên, giám hộ; chỉ quy định các vấn đề thuộc về khảnăng theo Bộ luật Dân sự Pháp (1804) mà không có đoạn nào nói về tài sản, khế ước
và nghĩa vụ
Đối với tài sản trong gia đình thì Tập Dân luật giản yếu không nói gì đến chế
độ tài sản của vợ chồng, về di sản Chính vì “sự im lặng” của các nhà lập pháp năm
1883 về chế độ tài sản của vợ chồng, trãi qua mấy chục năm thực hiện ở Nam kỳ, đã
có nhiều trường phái với những quan điểm khác nhau khi áp dụng chế độ tài sản của
vợ chồng trong thực tế Có quan điểm cho rằng, không có tài sản cộng đồng giữa vợchồng, “Khối cộng đồng tài sản không có trong luật Việt Nam, theo nguyên tắc ngườichồng là chúa tể tuyệt đối tất cả các tài sản bất luận là của ai hoặc ở đâu mang lại” Đó
là hệ quả của tổ chức gia đình Việt Nam, trong đó người vợ có địa vị kém hơn ngườichồng Người chồng là chủ đoàn thể phu thê mà cũng là chủ sở hữu duy nhất toàn bộtài sản gia đình Theo thuyết này thì người vợ không có tài sản riêng Có quan điểmcho rằng, người vợ trong gia đình Việt Nam có của riêng Theo luật pháp thời Nguyễnthì người chồng có quyền tự ý sử dụng của cải của người vợ, dù là người vợ khôngđồng ý, vì luật cẩm không cho người vợ đi kiện chồng, nhưng tục lệ lại công nhận rằngngười chồng có quyền quản trị của cải của vợ, nhưng không thể sử dụng của cải ấy nếu
vợ không đồng ý
Người vợ không có của riêng, do đó không thể có cộng đồng tài sản giữa vợ vàchồng Tất cả tài sản của gia đình đều thuộc quyền sở hữu và quyền quản lý của ngườichồng trong thời kỳ hôn nhân cũng như sau khi người vợ chết Trong trường hợpngười vợ chết thì chồng là chủ sở hữu đối với toàn bộ tài sản của gia đình do hiệu lựccủa hôn nhân chứ không phải là hưởng gia tài của người vợ; nhưng nếu người chồngchết trước thì người vợ chỉ cơ quyền hưởng dụng thu lợi trên toàn bộ tài sản gia đìnhkhi còn ở góa
Theo đó, các án lệ tại các Tòa án ở Nam kỳ đã áp dụng nguyên tắc người chồng
là chủ sở hữu duy nhất các tài sản của gia đình, bao gồm:
Trang 14+ Các động sản đã mua được trong thời kỳ hôn nhân, kể cả các động sản khimua đã đứng tên vợ;
+ Các bất động sản đã ban cấp riêng cho người vợ;
+ Các bất động sản có được trong thời kỳ hôn nhân mặc dù các bất động sản đó
đã đứng tên người vợ khi mua
Như vậy, chế độ tài sản của vợ chồng được áp dụng tại Nam kv dưới thời kỳPháp thuộc đã rất bất công đối với người vợ, kể cả những tài sản do người vợ tạo rađược khi hành nghề riêng trong thời kỳ hôn nhân vẫn phải coi là thuộc tài sản củachồng
Tuy nhiên, án lệ cũng công nhận trong một số trường hợp người vợ (có thể) cótài sản riêng, bao gồm:
+ Các đồ tư trang của vợ;
+ Tài sản mà người vợ có được do được gia đình vợ tặng cho hoặc để lại thừakế;
+ Bất động sản đã ghi rõ tên vợ là chủ sở hữu trong sổ địa bộ
Do các án lệ đã công nhận người chồng là chủ sở hữu duy nhất đối với các tàisản của gia đình, nên trong việc quản lý tài sản, người chồng có quyền một mình đứng
ra thực hiện các giao dịch và thu nhận hoa lợi; nếu con nợ vay tiền của vợ thì có thể trảmón nợ đó cho người chồng Ngược lại, người vợ không được ký kết các hợp đồngmột mình và người chồng có quyền khiếu nại để phủ nhận hợp đồng đó Là chủ sở hữuđối với tài sản của gia đình, nên người chồng có quyền một mình ký kết các hợp đồng
để chuyển dịch các động sản và bất động sản Trên thực tế, mỗi khi người chồng bánhoặc tặng cho bất động sản thì người vợ cũng thường ký cùng chồng vào các giấy tờ,văn tự, nhưng các án lệ lại không cho đó là một thể thức có giá trị pháp lý
Tại Bắc và Trung kỳ, ảnh hưởng của BLDS Pháp (1804) thể hiện trong việcnhà làm luật dự liệu chế độ tài sản ước định, và áp dụng nguyên tắc bất di, bất dịch củachế độ tài sản của vợ chồng theo hôn khế Dân luật Bắc kỳ gồm 1455 điều được banhành ngày 30/3/1931, có hiệu lực từ ngày 01/7/1931 Bộ luật dân sự Trung kỳ (HoàngViệt bộ luật) được ban hành từng quyển một từ ngày 13/6/1936 đến ngày 28/9/1939 doBan Tư pháp Huế soạn thảo phỏng theo Dân luật Bắc kỳ 1931 Được ban hành sau,nên Dân luật Trung kỳ đã có một số sửa đổi cho phù hợp hơn so với Dân luật Bắc kỳ.Tại điều 104, Dân luật Bắc kỳ quy định: “về đường tài sản, pháp luật chỉ can thiệp đếntoàn thể vợ chồng là khi vợ chồng không có tùy ý lập ước riêng với nhau mà thôi,miễn là ước riêng ấy không được trái với phong tục và không được trái với quyền lợingười chồng là người chủ trương trong đoàn thể”; phàm tư ước về tài sản của vợchồng khi đã làm giá thú thì không được thay đổi gì nữa (Điều 105 Dân luật Bắc kỳ)
Quy định chế độ tài sản ước định này lần đầu tiên được dự liệu trong hệ thống
Trang 15pháp luật Việt Nam theo quan niệm của nhà làm luật tư sản đã không phù hợp với tục
lệ và truyền thống của gia đình người Việt Nam; nên mặc dù được hai bộ Dân luật Bắc
kỳ và Dân luật Trung kỳ dự liệu, các cặp vợ chồng thường không thỏa thuận lựa chọnloại chế độ tài sản ước định này
Trong trường hợp vợ chồng không có thỏa thuận lập hôn khế khi kết lập giáthú, Dân luật Bắc kỳ và Dân luật Trung kỳ đều dự liệu một chế độ tài sản pháp định để
áp dụng cho họ Tuy nhiên, nếu những đôi vợ chồng không lập hôn khế trước ngày lậphôn thú và đồng thời còn dự liệu một chế độ hôn sản là kiểu mẫu để cho các đôi vợchồng lựa chọn trong trường hợp họ lập hôn khế; thì trong Dân luật Bắc kỳ và Dânluật Trung kỳ chỉ quy định một loại chế độ tài sản pháp định để áp dụng cho các cặp
vợ chồng không lập hôn khế trước ngày lập hôn khế; thì trong Dân luật Bắc kỳ và Dânluật Trung kỳ chỉ quy định một loại chế độ tài sản pháp định để áp dụng cho các cặp
vợ chồng không lập hôn khế Đó là chế độ cộng đồng toàn sản Theo tục lệ của ngườiViệt Nam, mọi tài sản trong gia đình đều là tài sản chung và đều để dành cho các concháu Dân luật Bắc kỳ và Dân luật Trung kỳ đã chấp nhận tục lệ này khi dự liệu chế độtài sản pháp định của vợ chồng là chế độ cộng đồng toàn sản, bao gồm tất cả các củacải và hoa lợi của chồng cũng như của vợ hợp thành khối tài sản chung của vợ chồng
Theo Điều 106, 107 Dân luật Bắc kỳ và Điều 105 Dân luật Trung kỳ quy định: “Nếu hai vợ chồng không có tư ước với nhau thì cứ theo lệ hợp nhất tài sản, nghĩa là bao nhiêu lợi tức tài sản của chồng và của vợ hợp làm một mà chung nhau”
Mặc dù vợ hoặc chồng có thể có tài sản riêng từ trước khi kết hôn, nhưng kể từkhi kết hôn và trong suốt thời kỳ hôn nhân thì các tài sản riêng đó (bao gồm cả độngsản và bất động sản) được hợp nhất thành khối tài sản chung của vợ chồng Tuy nhiên,
đó chỉ là sự hợp nhất tạm thời trong thời kỳ hôn nhân Chỉ có những tài sản do hai vợchồng tạo ra trong thời kỳ hôn nhân mới là tài sản chung chính thức Khi hôn nhânchấm dứt thì các tài sản riêng của vợ, chồng đã được hợp nhất tạm thời vào khối tàisản chung của vợ chồng lại được tách ra để chia theo nguyên tắc tài sản riêng của bênnào thì bên đó có quyền lấy lại, còn đối với tài sản chung sẽ được chia đôi cho vợchồng
Một điểm cần chú ý là vào thời kỳ này, Dân luật Bắc kỳ, Dân luật Trung kỳ vàDân luật giản yếu Nam kỳ đều thực hiện chế độ đa thê, cho phép người chồng cóquyền lấy nhiều vợ Chế độ đa thê đã được áp dụng rộng rãi theo tục lệ trong thời cổ ở
xã hội Việt Nam; đến thời Pháp thuộc, nó được nhà làm luật dự liệu một cách minh thị(Điều 79, 80 Dân luật Bắc kỳ, Điều 79 Dân luật Trung kỳ, Tiết V của Dân luật giảnyếu Nam kỳ) Chế độ đa thê này bị bãi bỏ từ khi có Luật gia đình ngày 02/01/1959dưới chế độ Ngô Đình Nhiệm (ở miền Nam) và theo Luật Hôn nhân và Gia đình năm
1959 của nhà nước ta Theo chế độ đa thê, có hai cách giá thú hợp pháp: chính thất (vợ
Trang 16cả) và thứ thất (vợ lẽ) Trong gia đình, nếu người chồng lấy nhiều vợ thì chỉ được cómột vợ là chính thất (vợ cả), có nhiều quyền hành trong các bà vợ, còn vợ thứ nhất (vợlẽ) thì không kể, thường là vợ hai, vợ ba Cũng có khi có người chồng, ngoài vợ cả racòn sống chung với một hay nhiều đàn bà khác, với danh nghĩa là “thiếp”, “tỳ”, “nànghầu” mà không lập hôn thú (thứ thất) với những người đàn bà này “Vợ lẽ có một địa
vị thấp kém và lệ thuộc so với địa vị người vợ cả, vợ lẽ ở vào tình trạng nào cũng rấtbấp bênh và tình trạng ấy thường chỉ được ổn định sau khi vợ lẽ đã sinh con mà thôi
Vợ lẽ chỉ được ở nhà chồng khi vợ cả ưng thuận, chồng không thể bắt vợ cả phải nhận
vợ lẽ về ở chung” (Trả lời câu hỏi 38 của ủy ban tư vấn án lệ Bắc kỳ)
Tuy nhiên, trong trường hợp người chồng lấy vợ lẽ, chế độ tài sản được ápdụng cũng không khác gì so với trường hợp của chồng với vợ cả, vì dù vợ lẽ có lậphôn thú (thứ thất) hợp pháp hay không, thì tài sản của vợ lẽ cũng riêng biệt hẳn với tàisản của chồng
Cả hai bộ Dân luật Bắc kỳ và Dân luật Trung kỳ đều dự liệu về thành phầnkhối hôn sản của vợ chồng bao gồm:
+ Kỷ phần hay phần đóng góp của chồng;
+ Kỷ phần hay phần góp của vợ;
+ Của chung của vợ chồng
Đồng thời còn dự liệu khối cộng đồng (tài sản chung của vợ chồng) phải bảođảm cho cuộc sống chung của gia đình, cũng như các món nợ của vợ chồng vay cholợi ích của gia đình (thành phần tiêu sản)
Theo Điều 106, 107 Dân luật Bắc kỳ và Điều 104, 105 Dân luật Trung kỳ thìchế độ tài sản pháp định được áp dụng cho các cặp vợ chồng không lập hôn khế trướckhi kết hôn là chế độ cộng đồng toàn sản, với thành phần tài sản chung của vợ chồngbao gồm:
+ Các tài sản do vợ chồng có được (tạo mãi) trong thời kỳ hôn nhân;
+ Tài sản do vợ chồng làm việc mà kiếm ra;
+ Lợi tức của toàn bộ tài sản trong gia đình, không phân biệt lợi tức đó thuđược từ tài sản riêng hay tài sản chung của vợ chồng
Như vậy, toàn bộ tài sản mà vợ chồng có được trong thời kỳ hôn nhân (cả độngsản và bất động sản) đều là tài sản chung của vợ chồng Để phân biệt được động sản,bất động sản nào là tài sản riêng hay tài sản chung của vợ chồng, pháp luật căn cứ vàoviệc đăng ký quyền sở hữu hoặc có chứng thư xác nhận nguồn gốc của tài sản đó Đốivới các động sản không được đăng ký và cũng không có chứng thư xác nhận nguồngốc thì được suy đoán là tài sản chung của vợ chồng; nếu bên vợ, chồng cho rằng đó làtài sản riêng của mình thì có nghĩa vụ phải chứng minh Rõ ràng, Dân luật Bắc kỳ vàDân luật Trung kỳ cũng như các án lệ tại Nam kỳ đã không đặt ra ngoại lệ nào đối với
Trang 17những tài sản do một bên vợ hay chồng hành nghề mà kiếm ra hoặc có được Một giảipháp đã được dự liệu giống như với Bộ luật Dân sự Pháp là: Tất cả các tài sản (lươngbổng, lợi tức thu được từ tài sản của vợ chồng) trong thời kỳ hôn nhân, dù là động sảnhay bất động sản đều thuộc khối tài sản chung của vợ chồng; trừ khi vợ, chồng chứngminh được tài sản đó là tài sản riêng của mình Giải pháp này có ý nghĩa giúp cho việcthanh toán (chia) tài sản chung của vợ chồng được thuận lợi và đơn giản, vì khôngnhất thiết vợ chồng phải chứng minh một tài sản nào đó là tài sản chung của vợ chồng(theo phương pháp suy đoán là tài sản chung từ chế độ cộng đồng toàn sản) Vả lại,nếu bên vợ, chồng cho rằng đó là tài sản riêng của mình thì đương nhiên phải chứngminh.
Theo Điều 111 Dân luật Bắc kỳ và Điều 109 Dân luật Trung kỳ dự liệu khối tàisản cộng đồng phải gánh chịu các khoản nợ (thành phần tiêu sản của khối cộng đồng)sau đây:
+ Những khoản nợ của vợ chồng đã vay trước khi kết hôn;
+ Những khoản nợ của chồng vay trong thời kỳ hôn nhân;
+ Những khoản nợ do vợ vay với tư cách là đại diện cho đoàn thể vợ chồng vàcác khoản nợ do vợ vay với sự ưng thuận của chồng;
+ Những khoản nợ do vợ ký kết khi hành nghề buôn bán hay làm công nghệmột cách hợp lệ;
+ Những khoản nợ do hành vi phạm pháp của vợ gây ra
Theo quy định trên đây, tất cả các khoản nợ của chồng, dù vay từ trước khi kếthôn hoặc trong thời kỳ hôn nhân, không phân biệt là do ký kết hợp đồng hoặc do hành
vi phạm pháp mà gây ra thì đều phải coi là nợ của hai vợ chồng và do khối cộng đồngphải gánh chịu Riêng đối với những món nợ do hành vi phạm pháp của chồng gây ra,mặc dù Điều 111 Dân luật Bắc kỳ và Điều 109 Dân luật Trung Kỳ không dự liệu rõràng nhưng xét trên cơ sở đạo lý và theo lẽ tất nhiên khối cộng đồng phải gánh chịu vìngười chồng (theo Luật định) luôn là người chủ gia đình Đối với việc quản lý, sửdụng và định đoạt tài sản của gia đình, dựa theo Bộ luật Dân sự Pháp (1804) đã coingười đàn bà lấy chồng là “vô năng cách”; Dân luật Bắc kỳ và Dân luật Trung kỳ đều
dự liệu trong việc quản lý và định đoạt tài sản chung của gia đình thì cần có sự phânbiệt về quyền hạn của vợ và của chồng theo từng trường hợp cụ thể:
Việc mà vợ chồng có thể tự mình thực hiện:
Theo Điều 100, Điều 111 Dân luật Bắc kỳ và Điều 98, Điều 109 Dân luậtTrung kỳ thì đối với những nhu cầu chung của gia đình, vợ hoặc chồng đều có thể đạidiện cho gia đình để giao dịch và khối tài sản cộng đồng được bảo đảm cho các giaodịch do vợ chồng kết ước với người khác Thông thường, việc vợ chồng sử dụng tàisản chung nhằm bảo đảm nhu cầu thiết yếu hàng ngày của gia đình (nhu cầu gia vụ:
Trang 18ăn, ở, chữa bệnh ) thì pháp luật đều đương nhiên coi là đã có sự thỏa thuận của hai
vợ chồng khi định đoạt tài sản chung
Việc phải do cả hai vợ chồng cùng thực hiện:
Theo Điều 109 Dân luật Bắc kỳ và Điều 107 Dân luật Trung kỳ thì ngoài việcquản lý thường, vợ và chồng muốn định đoạt tài sản chung phải cùng nhau thỏa thuận(đồng ý), sự đồng ý có thể là công nhiên hoặc mặc nhiên
Việc một mình chồng làm được, còn vợ phải xin phép chồng:
Theo Điều 98 Dân luật Bắc kỳ và Dân luật Trung kỳ thì đối với các việc nhưlập hội, vay mượn, thuê mướn, đi kiện người chồng có quyền tự mình thực hiện; vảlại, người vợ chỉ được thực hiện nếu được chồng cho phép (ưng thuận); sự cho phépcủa người chồng có thể là công nhiên hay mặc nhiên
Đặc quyền của người chồng khi định đoạt tài sản chung của vợ chồng Đoạn 2Điều 109 Dân luật Bắc kỳ quy định: Người chồng có thể định đoạt tài sản chungkhông cần phải vợ bằng lòng cũng được, miễn là dùng vào việc có lợi ích cho gia đình,trừ bất động sản là tài sản riêng của người vợ
Như vậy, trên cơ sở phân định quyền hạn của vợ chồng trong việc thực hiệnquyền sở hữu tài sản chung của vợ chồng theo luật định, người chồng là chủ gia đình
có quyền tự mình định đoạt tài sản chung, dù tài sản là động sản hay bất động sản,miễn là vì quyền lợi của gia đình Ngược lại, người vợ (thông thường) chỉ được đạidiện trong những nhu cầu gia vụ; nếu định đoạt những tài sản có giá trị lớn của giađình, đều phải được chồng ưng thuận, việc ưng thuận của người chồng phải bàng vănbản có chữ ký của người chồng Điều này thật bất công đối với người vợ trong giađình quan hệ bất bình đẳng giữa nam và nữ, giữa vợ và chồng luôn được áp dụng trong
xã hội và trong pháp luật của nhà nước thực dân, phong kiến ở nước ta trước đây
Bên cạnh đó, pháp luật còn dự liệu về phương thức bảo vệ khối tài sản của giađình Theo Điều 100 Dân luật Bắc kỳ và Điều 98 Dân luật Trung kỳ thì trường hợpngười vợ một mình thực hiện các giao dịch liên quan đến tài sản chung của vợ chồng
mà lạm dụng quyền đó, ảnh hưởng tới quyền lợi của gia đình thì người chồng cóquyền thu hồi một phần hoặc toàn bộ quyền của người vợ
Trường hợp người chồng không chu cấp để nuôi dưỡng vợ, con hoặc có hành
vi phá tán tài sản của gia đình thì người vợ có quyền yêu cầu Tòa án cấm người chồng
sử dụng kỷ phần của mình và tất cả các tài sản do người vợ hành nghề mà có Tòa án
có thể cho phép người vợ quản lý, hưởng dụng tài sản đó (Điều 110 Dân luật Bắc kỳ,Điều 108 Dân luật Trung kỳ), về việc chia tài sản chung của vợ chồng, pháp luật thời
kỳ pháp thuộc (thông qua Dân luật giản yếu Nam kỳ, Dân luật Bắc kỳ, Dân luật Trungkỳ) đã dự liệu một vài trường hợp và nguyên tắc phân chia Tuy nhiên, khác với Bộluật Dân sự Pháp dự liệu khi vợ, chồng chết trước thì khối cộng đồng tài sản chấm dứt
Trang 19và phải được thanh toán; án lệ tại Nam kỳ cũng như Dân luật Bắc kỳ và Dân luậtTrung kỳ đã áp dụng thuyết “Cộng đồng tiếp tục” trong trường hợp vợ hoặc chồngchết trước Theo Điều 113“ Dân luật Bắc kỳ và Điều 111 Dân luật Trung kỳ thì:
+ Khi người chồng mệnh một (chết) đã rồi, nếu người vợ cứ sương thủ tiết(không tái giá) thì của chung vẫn để nguyên Khi ấy người vợ góa được thay quyềnchồng mà quản lý tài sản chung;
+ Khi người vợ chết trước, thì một mình người chồng trở thành sở hữu chủ tất
cả tài sản chung, kể cả kỷ phần của người vợ nữa
Rõ ràng quy định này không đảm bảo được quyền bình đẳng của người vợtrong quan hệ thừa kế
Trong trường hợp vợ, chồng ly hôn, theo Dân luật Bắc kỳ và Dân luật Trung
kỳ thì cộng đồng tài sản sẽ được phân chia Tuy nhiên, việc áp dụng quan niệm khốicộng đồng tài sản được gây dựng để cho các con, do vậy pháp luật phân biệt haitrường hợp: Vợ, chồng ly hôn mà có con chung hoặc không có con chung với nhau.Tùy theo từng trường hợp mà áp dụng nguyên tắc phân chia khác nhau
Khi ly hôn, nếu hai vợ chồng có lập hôn khế thì chia theo các điều khoản tronghôn khế mà hai vợ chồng đã thỏa thuận, nếu không có hôn khế thì áp dụng Điều 112Dân luật Bắc kỳ và Điều 110 Dân luật Trung kỳ chia như sau: Trường hợp giữa hai vợchồng không có con chung, người vợ được lấy lại kỷ phần tài sản của mình “bằng hiệnvật hiện còn” Nếu tài sản riêng của người vợ đã bị bán đi để chi dùng cho gia đình haycho riêng người chồng thì người vợ không có quyền đòi lại Vả lại, nếu tài sản riêngcủa vợ hay chồng đã được tu sửa, quản lý bằng tài sản chung của vợ chồng thì phần tàisản chung đó phải được tính vào khối tài sản cộng đồng để chia Sau khi đã trả lại cho
vợ, chồng kỷ phần của vợ, chồng, phần tài sản chung của vợ chồng được chia đôi cho
vợ chồng mỗi người một nữa
Trường hợp hai vợ chồng có con chung: Người vợ không được thu hồi toàn bộcủa riêng của mình, tức là những của cải đã đem về nhà chồng khi cưới và tài sản đãđược tạo ra trong thời kỳ hôn nhân; những tài sản ấy sẽ thuộc tài sản chung của vợchồng do người chồng quản lý, vì của cải của vợ chồng là để dành cho các con Dânluật Bắc kỳ và Dân luật Trung kỳ đã ấn định rằng nếu vợ, chồng ly hôn mà có con vớinhau thì sẽ không thanh toán tài sản chung Theo Điều 112 Dân luật Bắc kỳ dự liệurằng nếu có con thì sau khi ly hôn người vợ được hưởng một phần của chung, phần ấynhiều hay ít sẽ do Tòa án quyết định tùy theo công sức của người vợ Còn theo Điều
110 Dân luật Trung kỳ thì dự liệu kỷ phần của người vợ sẽ là 1/3 số của chung, vớingụ ý rằng 1/3 chia cho chồng và 1/3 chia cho các con Trường hợp vợ chồng ly hôn
do lỗi của người vợ (phạm gian) thì phần trả cho người vợ sẽ bị giảm đi một nữa (1/2)(Điều 112 Dân luật Bắc kỳ) và một phần tư (1/4) (Điều 112 Dân luật Trung kỳ)
Trang 201.2.3 Chế độ tài sản của vợ chồng trong pháp luật ở miền Nam nước ta trước ngày thống nhất đất nước (1954-1975)
Sau cuộc kháng chiến chống Pháp thắng lợi, Theo Hiệp định Giơnevơ, đấtnước ta vẫn tạm thời bị chia cắt làm hai miền, với hai chế độ chính trị khác biệt MiềnBắc được giải phóng, bước vào thời kỳ quá độ xây dựng chủ nghĩa xã hội (CNXH) Ởmiền Nam nước ta, sau năm 1954, đế quốc Mỹ đã thay chân thực dân Pháp tiến hànhcuộc chiến tranh xâm lược kiểu mới, hòng chia cắt lâu dài đất nước ta Sự nghiệp cáchmạng nước ta trong giai đoạn này thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược: Cách mạngXHCN ở miền Bắc và cách mạng dân tộc, dân chủ nhân dân ở miền Nam Về vấn đềpháp luật điều chỉnh các quan hệ Hôn nhân và Gia đình trong giai đoạn này ở miềnNam, chế độ ngụy quyền Sài Gòn theo thời gian đã cho ban hành và áp dụng ba vănbản pháp luật:
- Luật Gia đình ngày 02/01/1959 dưới chế độ Ngô Đình Diệm gồm 135 điềuchia làm bốn thiên;
- Sắc Luật số 15/64 ngày 23/7/1964 dưới chế độ Nguyễn Khánh, quy định vềgiá thú, tử hệ và tài sản cộng đồng, gồm ba Chương và 158 Điều;
- Bộ luật Dân sự ngày 20/12/1972 dưới chế độ Nguyễn Văn Thiệu
Nhìn chung, các văn bản pháp luật này đều có khuynh hướng “dân luật hóa”các quan hệ hôn nhân và gia đình, trong đó có chế độ tài sản của vợ chồng; mặc dùlĩnh vực hôn nhân và gia đình được quy định riêng trong hai văn bản Luật Gia đình số1-59 ngày 02/01/1959 (LGĐ) và sắc luật số 15/64 ngày 23/7/1964; trong Bộ luật Dân
sự ngày 20/12/1972 (BLDS), các quan hệ hôn nhân và gia đình được quy định như làmột chế định của BLDS trong các thiên thứ V, VI, VII, VIII Về chế độ tài sản của vợchồng (LGĐ quy định trong Chương II từ Điều 45 đến Điều 54; sắc luật số 15/64 quyđịnh ở tiết 6 của Chương I từ Điều 49 đến Điều 61; BLDS quy định tại Chương thứ
VI, thiên thứ V, từ Điều 144 đến Điều 169); cả ba văn bản luật này đều dự liệu về chế
độ tài sản ước định, cho phép vợ chồng ký kết với nhau một hôn ước thỏa thuận về vấn
đề tài sản từ trước khi kết hôn, miễn là sự thỏa thuận bằng hôn ước đó không trái vớitrật tự công cộng, thuần phong mỹ tục và quyền lợi của con (Điều 45 LGĐ, Điều 49Sắc luật số 15/64 và Điều 144, 145 BLDS) Trong trường hợp hai vợ chồng không lậphôn ước với nhau về tài sản thì áp dụng chế độ tài sản của vợ chồng theo các căn cứquy định của pháp luật (chế độ tài sản pháp định) Cả ba văn bản luật này cũng đều dựliệu chế độ tài sản của vợ chồng theo các căn cứ quy định của pháp luật, tuy nhiên, có
sự khác nhau về thành phần tài sản trong khối cộng đồng, dẫn tới có những quy địnhkhác nhau trong việc quản lý, sử dụng, định đoạt, và thanh toán khối hôn sản
Theo LGĐ, chế độ tài sản của vợ chồng theo luật định cũng là chế độ cộngđồng toàn sản, giống như chế độ tài sản của vợ chồng đã được áp dụng trong Dân luật
Trang 21Bắc kỳ và Dân luật Trung kỳ trước đây Tuy vậy, LGĐ cũng như Dân luật Bắc kỳ vàDân luật Trung kỳ đã dự liệu khác với Bộ luật Dân sự Pháp (1804), không dự liệu chế
độ tài sản làm kiểu mẫu để cho các cặp vợ chồng lựa chọn khi họ lập hôn ước, mà chỉ
dự liệu chế độ tài sản pháp định để áp dụng cho các cặp vợ chồng không lập hôn ước.Những nhà lập pháp LGĐ 1959 cho rằng chế độ cộng đồng toàn sản đã được áp dụng
từ trước theo Dân luật Bắc kỳ và Dân luật Trung kỳ và phù hợp với phong tục củangười Việt Nam Theo đó, nội dung của chế độ tài sản pháp định được dự liệu trongLGĐ (Điều 48) cũng giống như Dân luật Bắc kỳ (Điều 106, Điều 107) và Dân luậtTrung kỳ (Điều 105) Điều 48 LGĐ quy định khối cộng đồng tài sản của vợ chồng(thành phần tích sản) bao gồm:
+ Tất cả của cải, động sản và bất động sản thuộc quyền sở hữu của vợ haychồng khi lập hôn thú (tức là tất cả các tài sản mà vợ hay chồng đã có từ trước khi kếthôn);
- Các động sản và bất động sản của mỗi bên được hưởng do được thừa kế hoặctặng cho (các tài sản này thuộc kỷ phần của vợ hay của chồng trong thời kỳ hôn nhânđược nhập chung với tài sản của vợ chồng, trừ những tài sản do vợ hoặc chồng đượcthừa kế hay tặng cho mà người lập di chúc hay người tặng chỉ định khác);
+ Các tài sản do hai vợ chồng có được hoặc do một bên vợ, chồng tạo ra trongthời kỳ hôn nhân;
+ Các hoa lợi thu được từ tài sản chung của vợ chồng hoặc thu được từ tài sảnriêng của mỗi bên vợ, chồng
Cũng như Dân luật Bắc kỳ và Dân luật Trung kỳ, Luật Gia đình cũng dự liệunhững tài sản (động sản hoặc bất động sản) mà vợ, chồng có từ trước khi kết hôn thuộcquyền sở hữu riêng của vợ, chồng Tuy nhiên, trong thời kỳ hôn nhân, những tài sảnnày, được coi là tài sản chung của vợ chồng một cách “tạm thời”; trường hợp phảiphân chia tài sản của vợ chồng thì của riêng ai lại trả cho người đó
Theo Điều 54 Luật Gia đình thì tài sản chung của vợ chồng phải gánh chịu:(thành phần tiêu sản của khối cộng đồng)
+ Nợ của vợ hay chồng đã vay từ trước khi kết hôn;
+ Những nợ của hai vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân;
+ Những nợ do hành vi trái pháp luật của vợ hay chồng gây ra
Khác với Dân luật Bắc kỳ và Dân luật Trung kỳ, Luật Gia đình được xây dựngtheo quan niệm nhằm bảo đảm quan hệ bình đẳng giữa vợ chồng (Điều 43), cả vợchồng đều có đủ năng lực pháp lý Vì vậy, trong việc thực hiện quyền sở hữu đối với
tài sản chung của vợ chồng, Điều 49 ấn định rằng “vợ, chồng cùng quản trị khối tài sản cộng đồng” Tuy nhiên, quan hệ bình đẳng giữa vợ chồng về tài sản này vẫn chưa
được bảo đảm thực hiện trong đời sống xã hội; bởi lẽ về mặt pháp lý, tại Điều 39 Luật
Trang 22Gia đình vẫn ghi nhận: “Người chồng là trưởng gia đình và người vợ phải cùng nhau
lo sự thịnh vượng của phối hiệp phu phụ và việc nuôi dưỡng cùng giáo dục con cái”.
Mặt khác, xét về bản chất của chế độ xã hội cũng như tục lệ của xã hội phong kiến đãkhông chấp nhận quyền bình đẳng giữa vợ chồng
Về việc thanh toán hôn sản, khác với Dân luật Bắc kỳ và Dân luật Trung kỳđều quy định việc thanh toán hôn sản khi vợ, chồng ly hôn và ấn định về việc cộngđồng tài sản vẫn tiếp tục sau khi người vợ, chồng chết trước (Điều 112, 113 Dân luậtBắc kỳ; Điều 110,111 Dân luật Trung kỳ); Luật Gia đình đã không đề cập vấn đề này.Theo Luật Gia đình thì vấn đề thanh toán hôn sản chỉ được đặt ra khi một bên vợ hoặcchồng chết Cũng bởi lẽ, vấn đề ly hôn của vợ chồng không được Luật Gia đình chấpnhận, vì thế Luật Gia đình không dự liệu việc chia tài sản của vợ chồng trong trườnghợp ly hôn Duy nhất một ngoại lệ đã cho phép Tổng thống có quyền cho đôi vợ chồngđược ly hôn, sau khi đã hỏi ý kiến Chánh án Tóa phá án và Chánh nhất Tòa Thượngthâm, nơi cư trú của vợ chồng và sau khi nghe Tộc trưởng hai bên cùng ý kiến, nguyệnvọng của hai vợ chồng (Điều 55) Nếu Tổng thống cho phép vợ chồng được ly hôn,khi đó vấn đề phân chia tài sản của vợ chồng mới được giải quyết Đối với trường hợp
vợ chồng ly thân, Luật Gia đình đã dự liệu cho khối cộng đồng tài sản vẫn tiếp tục
theo Điều 66, “Bản án tuyên bố ly thân không chấm dứt chế độ cộng đồng tài sản”.
Tuy vậy, do ly thân mà vợ chồng không cùng sống chung với nhau, dẫn tới phải có sựthay đổi về việc quản lý tài sản chung của vợ chồng, do Tòa án quyết định (Điều 66),cũng như việc giải quyết vấn đề cấp dưỡng và nuôi con giữa hai vợ chồng
Sắc Luật số 15/64 ngày 23/7/1964 và Bộ luật Dân sự ngày 20/12/1972 dưới chếngụy quyền Sài Gòn cũng ghi nhận chế độ tài sản ước định cho phép vợ chồng được tự
do ký kết hôn ước, thỏa thuận về vấn đề tài sản của họ từ trước khi kết hôn, miễn saokhông trái với thuần phong mỹ tục và trật tự công cộng (Điều 49 sắc luật số 15/64;Điều 144 Bộ luật Dân sự năm 1972)
Trường hợp vợ chồng không lập hôn ước, thỏa thuận về vấn đề tài sản của họ,Sắc luật số 15/64 và Bộ luật Dân sự đã dự liệu một chế độ tài sản áp dụng cho các cặp
vợ chồng, đó là chế độ cộng đồng động sản và tạo sản (Điều 53 sắc luật số 15/64 Điều
150 Bộ luật Dân sự) Loại chế độ tài sản này với thành phần khối tài sản cộng đồng vàquyền quản lý của vợ chồng đối với khối tài sản cộng động khác với chế độ cộng đồngtoàn sản đã được thực hiện theo Dân luật Bắc kỳ, Dân luật Trung kỳ và Luật Gia đìnhtrước đây
Theo Điều 54 sắc luật số 15/64 và Điều 151 Bộ luật Dân sự năm 1972 thì khốitài sản chung của vợ chồng (thành phần tích sản) gồm có:
+ Các động sản thuộc quyền sở hữu của mỗi bên vợ, chồng khi kết hôn;
+ Các động sản của vợ hay chồng được hưởng trong thời kỳ hôn nhân do được
Trang 23+ Những bất động sản thuộc quyền sở hữu của mỗi bên vợ, chồng khi kết hôn(tức là các bất động sản mà vợ hay chồng đã có từ trước khi kết hôn);
+ Những bất động sản mà mỗi bên vợ, chồng có được trong thời kỳ hôn nhân
do được tặng cho riêng hoặc được thừa kế riêng
Rõ ràng, theo quy định của sắc luật số 15/64 và Bộ luật Dân sự thì thành phầnkhối tài sản của vợ chồng hẹp hơn nhiều so với chế độ cộng đồng toàn sản đã được ápdụng trong Dân luật Bắc kỳ, Dân luật Trung kỳ và Luật Gia đình Ngoài ra, sắc luật số15/64 và Bộ luật dân sự còn ghi nhận về khối tài sản riêng của vợ, chồng (nếu có) Nếunhư trong chế độ cộng đồng toàn sản mà các bộ Dân luật Bắc kỳ, Dân luật Trung kỳ vàLuật Gia đình dự liệu thì khi hôn nhân được xác lập, toàn bộ tài sản của vợ chồng cóđược từ trước khi kết hôn hoặc được tạo dựng trong thời kỳ hôn nhân, đều là tài sảnchung của vợ chồng; kỷ phần tài sản riêng của vợ, chồng chỉ được lấy về trong trườnghợp phân chia khối hôn sản; thì ngược lại, sắc luật số 15/64 và Bộ luật Dân sự đã ấnđịnh bên cạnh khối tài sản chung của vợ chồng; vợ, chồng có một khối tài sản riêng(nếu có) tồn tại độc lập Quy định theo chế độ cộng đồng động sản và tạo sản này củaSắc luật số 15/64 và Bộ luật Dân sự giống với chế độ tài sản của vợ và chồng mà Bộluật Dân sự Pháp (1804) áp dụng ở thời kỳ đầu, khi coi các bất động sản là tài sản chủyếu của gia đình, trước khi có sự thay đổi theo Đạo luật số 65-570 ngày 13/07/1965(chế độ tài sản của vợ chồng theo Bộ luật Dân sự Pháp kể từ khi ban hành Đạo luật số65-570 ngày 13/07/1965 là chế độ cộng đồng tạo sản)
Về thành phần tiêu sản (Điều 61 sắc luật số 15/64, Điều 160 Bộ luật Dân sự),khối tài sản chung của vợ chồng phải được bảo đảm:
+ Những nợ của vợ hay chồng đã vay từ trước khi kết hôn, trừ những nợ đượcbảo đảm bởi những quyền đối vật các bất động sản (theo Điều 55 sắc luật số 15/64;Điều 52 Bộ luật Dân sự);
+ Những nợ của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân;
+ Những nợ do hành vi phạm pháp của vợ hay chồng gây ra
Về việc quản lý tài sản của vợ chồng khác với Luật Gia đình 1959 dự liệu vợ
và chồng đều có đủ năng lực về pháp lý; sắc luật số 15/64 (Điều 42) và Bộ luật Dân sự
Trang 24(Điều 137) đã ghi nhận người chồng là gia trưởng và hành xử quyền gia trưởng theoquyền lợi của gia đình và con cái Vợ cộng tác với chồng trong việc sinh hoạt gia đình,giáo dục và gầy dựng cho con cái Quy định này một lần nữa đặt người vợ vào tìnhtrạng như là “vô năng lực”, với địa vị thấp kém so với người chồng - là người chủ giađình Người vợ chỉ được hành xử nghề nghiệp riêng biệt, trừ phi chồng phản kháng(Điều 47 Sắc luật số 15/64; Điều 142 Bộ luật Dân sự) Đối với tài sản chung của vợchồng, Sắc luật số 15/64 (Điều 56) và Bộ luật Dân sự (Điều 153) đã giành cho ngườichồng - chủ gia đình có quyền quản lý tài sản chung như là chủ sở hữu duy nhất, trừtrường hợp người chồng bị mất tích hoặc bị mất năng lực hành vi dân sự, luật định chongười vợ thay thế chồng quản lý tài sản chung như là chủ sở hữu duy nhất, trừ trườnghợp thay thế chồng quản lý tài sản chung của gia đình Ngoài ra, người chồng còn cóquyền quản lý tài sản riêng của người vợ Đối với tài sản riêng của người chồng thìngười chồng có toàn quyền sở hữu với tư cách là chủ sở hữu Vì quyền lợi của giađình, khi có lý do chính đáng, vợ hay chồng có quyền yêu cầu Tòa án ngăn cản ngườichồng hoặc vợ rút tiền ở các chương mục do vợ, chồng mở tại ngân hàng hoặc sai áplương bổng và lợi tức, hoa lợi từ tài sản của chồng, vợ (như một bên vợ, chồng đã cóhành vi hoang phí, phát tán tài sản của gia đình, vô trách nhiệm đối với quyền lợi củagia đình ).
Về việc thanh toán hôn sản, sắc luật số 15/64 không dự liệu việc chia tài sảnchung của vợ chồng khi một bên vợ, chồng chết trước mà chỉ dự liệu việc chia tài sảnchung của vợ chồng khi vợ chồng ly thân hoặc ly hôn Đối với Bộ luật Dân sự thì việcthanh toán hôn sản được đặt ra trong cả ba trường hợp Khi vợ, chồng chết; khi vợchồng ly hôn hoặc ly thân Bởi lẽ, bên cạnh việc thừa nhận vấn đề ly thân, sắc luật số15/64 và Bộ luật Dân sự năm 1972 đã dự liệu việc ly hôn của vợ chồng; (vấn đề ly hôn
đã bị cấm chỉ theo quy định của Luật Gia đình năm 1959) Như vậy, khi thanh toánhôn sản cần phân biệt:
+ Nếu có hôn ước thì phải phân chia theo các điều khoản của hôn ước;
+ Nếu không có hôn ước thì chia theo nguyên tắc;
+ Tài sản của bên nào thì vẫn thuộc quyền sở hữu của bên đó;
+ Tài sản của vợ chồng được chia đôi cho vợ chồng, mỗi người một nửa (Điều
94 Sắc luật số 15/64; Điều 201 Bộ luật Dân sự)
Đối với trường hợp ly hôn do lỗi của vợ, chồng thì người vợ, chồng có lỗi đó
sẽ bị mất hết những quyền lợi mà người kia dành cho hoặc do hôn ước từ khi kết hôn(Điều 92 Sắc luật số 15/64; Điều 200 Bộ luật Dân sự) Trường hợp thanh toán hôn sảnkhi vợ chồng ly thân, hậu quả của việc thanh toán tài sản của vợ chồng đặt vợ, chồngrơi vào tình trạng biệt sản Tuy nhiên, Sắc luật số 15/64 không dự liệu cụ thể vấn đềnày, mà chỉ quy định chung: Sự ly thân đặt vợ chồng rơi vào tình trạng tài sản riêng
Trang 25biệt Tài sản sẽ phân chia (Điều 97), Ngược lại, Bộ luật Dân sự đã dự liệu khi lậphôn ước, vợ chồng có quyền quản lý, hưởng dụng và định đoạt tài sản riêng của mình.
Cũng có thể chế độ biệt sản sẽ do Tòa án quyết định theo yêu cầu của vợ,chồng khi có lý do chính đáng (Điều 165) Ngoài ra, trường hợp vợ chồng ly thân thìtài sản của vợ chồng sẽ được chia như khi ly hôn, tuy nhiên, ly thân không làm chấmdứt quan hệ hôn nhân của vợ chồng, mà chỉ làm chấm dứt chế độ tài sản chung, việc lythân đương nhiên đặt vợ chồng rơi vào tình trạng biệt sản (Điều 204)
Như vậy, chế độ tài sản của vợ chồng theo các văn bản pháp luật dưới chế độngụy Sài Gòn ở miền Nam nước ta trước ngày giải phóng (1954-1975) đã được nhàlàm luật dự liệu tương đối cụ thể: Vợ chồng có quyền tự do lập hôn ước, thỏa thuận vềvấn đề tài sản của vợ chồng nhằm duy trì trong suốt thời kỳ hôn nhân Nếu không lậphôn ước, chế độ tài sản cộng đồng pháp định sẽ được áp dụng cho hai vợ chồng.Những văn bản pháp luật trên đây đã dự liệu chế độ cộng đồng toàn sản (Luật Gia đình1959) hoặc chế độ cộng đồng động sản và tạo sản (Sắc luật số 15/64 và Bộ luật Dân sựnăm 1972) với những thành phần tài sản, phạm vi quản lý, định đoạt tài sản và việcphân chia tài sản chung của vợ chồng, có những nội dung khác nhau Đặc biệt, cả bavăn bản luật này vẫn bảo vệ quyền gia trưởng của người chồng trong gia đình; vì vậy,quan hệ bình đẳng về tài sản giữa vợ và chồng vẫn tồn tại trong pháp luật và thực tếđời sống xã hội Điều đó như một minh chứng thể hiện bản chất của chế độ hôn nhân
và gia đình phong kiến, tư sản trong xã hội duy trì đối kháng giai cấp, quyền lợi củangười phụ nữ, người vợ trong gia đình không được bảo vệ chặt chẽ Mặt khác, nhữngquy định về Hôn nhân và gia đình, trong đó có chế độ tài sản của vợ chồng luôn theokhuynh hướng “dân luật hóa”, coi trọng vấn đề tiền bạc, tài sản hơn là yếu tố tình cảmgắn bó trong quan hệ vợ chồng
1.2.4 Chế độ tài sản chung của vợ chồng từ năm 1976 đến nay
1.2.4.1 Luật Hôn nhân và gia đình năm 1986
Sau gần ba mươi năm thực hiện Luật Hôn nhân và gia đình năm 1959, đất nước
ta bắt đầu bước vào thời kỳ đổi mới, các quan hệ xã hội ngày càng phong phú, đa dạng
và đặc biệt là về mặt kinh tế Để đảm bảo thực sự quyền tự định đoạt của công dân,Luật Hôn nhân và gia đình năm 1986 được Quốc hội khóa VII, kỳ họp thứ 12 thôngqua ngày 29 tháng 12 năm 1986 và được Hội đồng Nhà nước công bố ngày 03 tháng
01 năm 1987 Luật gồm 10 Chương, 57 Điều, được xây dựng và thực hiện theo cácnguyên tắc:
- Hôn nhân tự nguyện và tiến bộ;
- Hôn nhân một vợ một chồng;
- Vợ chồng bình đẳng;
Trang 26- Bảo vệ bà mẹ và trẻ em.
Về chế độ tài sản của vợ chồng, luật không ghi nhận chế độ tài sản theo thỏathuận mà chỉ quy định chế độ cộng đồng tạo sản Đặc biệt Luật Hôn nhân và gia đìnhnăm 1986 quy định về chế độ tài sản của vợ, chồng khác về căn bản so với Luật Hônnhân và gia đình năm 1959 Với chế độ tài sản là chế độ cộng đồng tạo sản theo LuậtHôn nhân và gia đình năm 1986 thì phạm vi khối tài sản chung của vợ, chồng hẹp hơnnhiều so với Luật Hôn nhân và gia đình năm 1959 Đó cũng là yêu cầu của công táclập pháp và thực hiện pháp luật Hôn nhân và gia đình năm 1986
Tài sản chung của vợ chồng theo Luật Hôn nhân và gia đình năm 1986 đượcquy định cụ thể qua các điều như sau:
“Điều 14: Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ hoặc chồng tạo ra, thu nhập về nghề nghiệp và những thu nhập hợp pháp khác của vợ chồng trong thời
kỳ hôn nhân, tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được cho chung.
Điều 15: Tài sản chung được sử dụng để đảm bảo những nhu cầu chung của gia đình.
Vợ, chồng có quyền và nghĩa vụ ngang nhau đối với tài sản chung Việc mua bán, đổi, cho, vay, mượn và những giao dịch khác có quan hệ đên tài sản mà có giá trị lớn thì phải được sự thỏa thuận của vợ, chồng.
Điều 17: Khi một bên chết trước, nếu cần chia tài sản chung của vợ chồng thì chia đôi Phần tài sản của người chết được chia theo quy định của pháp luật về thừa kế.
Vợ, chồng có quyền thừa kế tài sản của nhau.
Điều 18: Khi hôn nhân tồn tại, nếu một bên yêu cầu và có lý do chính đáng, thì
có thể chia tài sản chung của vợ chồng theo quy định ở Điều 42 của Luật này ”
Quyền có tài sản riêng của vợ, chồng chính thức được ghi nhận theo “Điều 16 Đối với tài sản mà vợ hoặc chồng có trước khi kết hôn, tài sản được thừa kế riêng hoặc được cho riêng trong thời kỳ hôn nhân thì người có tài sản đó có quyên nhập hoặc không nhập vào khối tài sản chung của vợ chồng” Quy định này có tính mở, vợ
chồng có thể lựa chọn trong việc nhập hay không nhập tài sản riêng của mình vào khốitài sản chung của vợ chồng
Như vậy, chế độ tài sản giữa vợ chồng mà Luật Hôn nhân và gia đình năm
1986 quy định đã tạo ra môi trường pháp lý đảm bảo sự bình đẳng về quyền và nghĩa
vụ tài sản giữa vợ và chồng; đảm bảo sự tự do của vợ và chồng khi tham gia các giaodịch ngoài xã hội cũng như xác định rõ trách nhiệm, khả năng thanh toán của vợ hoặcchồng và bảo vệ quyền lợi của những người khác khi tham gia giao dịch Mặt khác đó
là căn cứ pháp lý để Tòa án giải quyết những vụ việc tranh chấp liên quan đến tài sảncủa vợ chồng
Trang 271.2.4.2 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000
Do Luật Hôn nhân và gia đình năm 1986 ra đời vào những năm đầu của thời kỳđổi mới, quá trình công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước với các điều kiện kinh tế,văn hóa, xã hội không ngừng phát triển đã tác động tới tình hình thực tế của quan hệhôn nhân và gia đình, mặt khác đầu những năm 1980 cho đến nay có nhiều văn bảnliên quan đến lĩnh vực hôn nhân được Nhà nước ta ban hành như những quy địnhtrong Luật Đất đai, Luật Hợp tác xã, Bộ luật Dân sự Hơn mười năm, Luật Hôn nhân
và gia đình năm 1986, bên cạnh những thành tựu đạt được, thực tế áp dụng cho thấyđược những quy định của Luật còn mang tính khái quát chung, chưa cụ thể, việc ápdụng luật giải quyết các tranh chấp từ các quan hệ hôn nhân và gia đình còn nhiềuvướng mắc Trước tình hình đó đòi hỏi Nhà nước cần phải sửa đổi bổ sung Luật Hônnhân và gia đình năm 1986 một cách hoàn thiện Năm 1994, Ban dự thảo sửa đổi bổsung Luật năm 1986 thành lập Sau quá trình soạn thảo, lấy ý kiến đóng góp của toàndân, dự Luật đã được Quốc hội khóa X kỳ họp thứ 7 chính thức thông qua ngày 09tháng 06 năm 2000 và được Chủ tịch nước ký lệnh công bố ngày 22 tháng 6 năm 2000
Theo Nghị quyết số 35/2000/QH10 ngày 09/6/2000 của Quốc hội, Luật này cótên là Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2001.Luật 2000 đã kế thừa và phát triển hệ thống Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam, gồm
13 Chương, 110 Điều được xây dựng và thực hiện trên nguyên tắc hôn nhân tựnguyện, tiến bộ, một vợ một chồng, vợ chồng bình đẳng; hôn nhân giữa công dân ViệtNam thuộc các dân tộc, các tôn giáo, giữa người theo tôn giáo và người không theo tôngiáo, giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài được tôn trọng và được phápluật bảo vệ; vợ chồng có nghĩa vụ thực hiện chính sách dân số và kế hoạch hóa giađình; cha mẹ có nghĩa vụ nuôi dạy con thành công dân có ích cho xã hội; con có nghĩa
vụ kính trọng, chăm sóc, nuôi dưỡng cha mẹ; cháu có nghĩa vụ kính trọng, chăm sóc,phụng dưỡng ông bà, cha mẹ; các thành viên trong gia đình phải có nghĩa vụ quan tâm,chăm sóc nhau, giúp đỡ nhau; Nhà nước không thừa nhận sự phân biệt đối xử giữa cáccon, giữa con trai với con gái, con đẻ và con nuôi, con trong giá thú và ngoài giá thú;Nhà nước, xã hội và gia đình có trách nhiệm bảo vệ phụ nữ và trẻ em
Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 quy định vợ chồng về tài sản chung của vợchồng, cụ thể qua các Điều:
“Điều 27 Tài sản chung của vợ chồng
Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh và những thu nhập hợp pháp khác của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và những tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung.
Quyền sử dụng đất mà vợ chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của
Trang 28vợ chồng Quyền sử dụng đất mà vợ hoặc chồng có được trước khi kết hôn, được thừa
kế riêng chỉ là tài sản chung khi vợ chồng có thỏa thuận.
Tài sản chung của vợ chồng thuộc sở hữu chung hợp nhất.
Trong trường hợp tài sản thuộc sở hữu chung của vợ chồng mà pháp luật quy định phải đăng ký quyến sở hữu thì trong Giấy chứng nhận quyền sở hữu phải ghi tên của cả vợ chồng.
Trong trường hợp không có chứng cứ chứng minh tài sản mà vợ, chồng đang
có tranh chấp là tài sản riêng của mổi bên thì tài sản đó là tài sản chung.
Điều 28 Chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung
Vợ, chồng có quyền và nghĩa vụ ngang nhau trong việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung.
Tài sản chung của vợ chồng được chi dùng đế bảo đảm nhu cầu của gia đình, thực hiện các nghĩa vụ chung của vợ chồng.
Việc xác lập, thực hiện và chấm dứt giao dịch dân sự liên quan đến tài sản chung có giá trị lớn hoặc là nguồn sống duy nhất của gia đình, việc dùng tài sản chung để đầu tư kinh doanh phải được vợ chồng bàn bạc, thỏa thuận, trừ tài sản chung đã được chia đế đầu tư kinh doanh riêng theo quy định tại Khoản 1 Điều 29 của Luật này.
Điều 29 Chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân
Khi hôn nhân tồn tại, trong trường hợp vợ chồng đầu tư kinh doanh riêng, thực hiện nghĩa vụ dân sự riêng hoặc có lý do chính đáng khác thì vợ chồng có thê thỏa thuận chia tài sản chung; việc chia tài sản chung phải lập thành văn bản; nêu không thỏa thuận được thì có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết.
Việc chia tài sản chung của vợ chồng nhằm trốn tránh thực hiện nghĩa vụ về tài sản không được pháp luật công nhận.
Điều 30 Hậu quả chia tài sản chung của vợ chồng
Trong trường hợp chia tài sản chung của vợ chồng thì hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản đã được chia thuộc sở hữu riêng của mỗi người; phần tài sản còn lại không chia vẩn thuộc sở hữu chung của vợ chồng ”
Luật hôn nhân và Gia đình còn quy định “Vợ chồng có quyền nhập hoặc không nhập tài sản riêng vào khối tài sản chung” - Điều 32 khoản 2 Nếu vợ chồng
không muốn có sự phân biệt “của anh, của tôi” nên đã tự nguyện nhập tài sản riêngvào khối tài sản chung thì pháp luật cũng thừa nhận sự tự nguyện của họ
1.2.4.3 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014
Tuy nhiên sau 13 năm đi vào cuộc sống, trong bối cảnh đất nước bước sanggiai đoạn phát triển mới, cùng với tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước vàhội nhập quốc tế, các quan hệ hôn nhân và gia đình đã có những thay đổi đáng kể cần
Trang 29có sự điều chỉnh phù hợp hơn của pháp luật Trong bối cảnh như vậy, Luật Hôn nhân
và gia đình năm 2000 đã bộc lộ một số điểm bất cập, hạn chế Do đó, việc sửa đổi, bổsung Luật này là yêu cầu cấp thiết nhằm đáp ứng đòi hỏi của thực tế các quan hệ xãhội phát sinh trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình
Sau một thời gian tổ chức lấy ý kiến đóng góp của các địa phương và bộ ngành
có liên quan và thông qua quá trình tiếp thu, chỉnh lý của cơ quan soạn thảo, ngày19/6/2014, tại kỳ họp thứ 7 Quốc hội khóa XIII Luật Hôn nhân và gia đình sửa đổichính thức được thông qua, với 79,52% số phiếu tán thành, Luật Hôn nhân và gia đìnhsửa đổi có hiệu lực từ 01/01/2015, với 10 Chương, 133 Điều quan hệ hôn nhân giađình sẽ có những quy định pháp lý điều chỉnh về chế độ hôn nhân và gia đình; chuẩnmực pháp lý cho cách ứng xử giữa các thành viên gia đình; trách nhiệm của cá nhân,
tổ chức, Nhà nước và xã hội trong việc xây dựng, củng cổ chế độ hôn nhân và giađình Cụ thể, Luật quy định những vấn đề như: kết hôn; quan hệ giữa vợ và chồng;chấm dứt hôn nhân; quan hệ giữa cha, mẹ và con; quan hệ giữa các thành viên kháccủa gia đình; cấp dưỡng; quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài
Điểm mới đáng lưu ý trong luật sửa đổi lần này là những quy định về giảiquyết quan hệ tài sản phải đảm bảo quyền, lợi ích hợp pháp của phụ nữ và con Điểmkhác biệt so Luật Hôn nhân và gia đình hiện hành là luật mới đã quy định rõ công việcnội trợ và các công việc khác có liên quan để duy trì đời sống chung được xem như lao
động có thu nhập
Khi kết hôn: Luật quy định chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận Luật
Hôn nhân và gia đình hiện hành quy định chưa rõ ràng về chế độ sở hữu của vợ chồng,thiếu cơ chế công khai minh bạch về tài sản chung, tài sản riêng Luật hiện hành chủyếu đề cập đến vấn đề đất đai, còn các tài sản khác như chứng khoán, tài sản trongdoanh nghiệp thì chưa được đề cập tới, gây khó khăn trong quá trình giải quyết tranhchấp Luật Hôn nhân và gia đình sửa đổi năm 2014 quy định cụ thể: Việc thỏa thuậnphải được lập bằng văn bản có công chứng hoặc chứng thực trước khi kết hôn Thỏathuận này vẫn có thể được thay đổi sau khi kết hôn Quy định này sẽ làm giảm thiểu sựtranh chấp tài sản sau ly hôn của các cặp vợ chồng trong tình hình hiện nay
Được thỏa thuận về tài sản khi ly hôn: Cụ thể, về tài sản chung của vợ chồng,
theo luật thì đó là tài sản do vợ hoặc chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sảnxuất - kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và những thu nhập hợppháp khác trong thời kỳ hôn nhân; tài sản mà vợ chồng được thừa kể chung hoặc đượctặng, cho chung và những tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung Đốivới quyền sử dụng đất mà vợ hoặc chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của
vợ chồng, trừ trường hợp vợ, chồng được thừa kế riêng, được tặng, cho riêng hoặc cóđược thông qua giao dịch bằng tài sản riêng Tài sản chung của vợ chồng thuộc sở hữu
Trang 30chung hợp nhất, được dùng để bảo đảm nhu cầu của gia đình, thực hiện các nghĩa vụchung của vợ chồng Luật cũng quy định rõ, trong trường hợp không có căn cứ đểchứng minh tài sản mà vợ, chồng đang có tranh chấp là tài sản riêng của mỗi bên thìtài sản đó được coi là tài sản chung.
Bên cạnh đó, Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 cũng quy định cụ thể cáchgiải quyết về con, tài sản, nghĩa vụ và hợp đồng các bên khi nam nữ chung sống như
vợ chồng mà không đăng ký kết hôn là căn cứ vào thỏa thuận giữa các bên Trongtrường hợp không có thỏa thuận, thì giải quyết theo quy định của Bộ luật Dân sự vàcác quy định khác của pháp luật có liên quan Không tính thời gian chung sống như vợchồng truớc khi đăng ký kết hôn vào thời kỳ hôn nhân
Theo Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định về tài sản chung của vợchồng như sau:
“Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ chồng tạo ra, thu nhập do lao
động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp trong thời kỳ hôn nhân; trừ trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 40
của Luật này; tài sản vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và tài
sản khác mang vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung;
Quyền sử dụng đất mà vợ, chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của
vợ chồng, trừ trường hợp vợ hoặc chồng được thừa kế riêng, được tặng cho riêng hoặc có được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng”.4
Tất cả các tài sản và thu nhập của hai vợ chồng tạo lập ra trong thời kỳ hônnhân được coi là tài sản chung Thu nhập có được từ công việc gồm có tất cả tiềncông, tiền lương, tiền hoa hồng, tiền làm thêm hàng tháng Các nguồn thu từ hoạt độngsản xuất, kinh doanh của gia đình Do quá trình phân công lao động xã hội mà vợ,chồng làm những công việc khác nhau, phù hợp với khả năng của mỗi bên Bất kể mộtbên hay hai bên làm ra trong thời kỳ hôn nhân đều là tài sản chung của vợ chồng
Tài sản do vợ chồng được thừa kế chung, tặng cho chung: Đây là trường hợpxác lập quyền sở hữu chung hợp nhất của vợ chồng, phụ thuộc vào sự định của chủ sởhữu hoặc quy định của pháp luật thừa kế
Quyền sử dụng đất sau khi kết hôn: Trừ trường hợp được tặng cho riêng, thừa
kế riêng, nếu vợ chồng hoặc một bên vợ, bên chồng được nhà nước có thẩm quyềngiao hoặc cho thuê đất ở, giao đất nông nghiệp trồng cây hàng năm, nuôi trồng thủysản, đất nông nghiệp trồng cây lâu năm, đất lâm nghiệp để trồng rừng thì quyền sửdụng các loại đất này cũng thuộc sở hữu chung ngay cả khi bên vợ, chồng không trựctiếp sử dụng đất đó
Ý nghĩa của việc tạo lập tài sản chung: “được dùng để bảo đảm nhu cầu gia
4 Điều 33 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
Trang 31đình thực hiện nghĩa vụ chung của vợ chồng” Trong hôn nhân hiện đại tạo lập ra đượckhối tài sản chung mang rất nhiều ý nghĩa lớn, giúp duy trì cuộc sống hàng ngày, tạolập mối quan hệ, những đòi hỏi về nhu cầu vật chất Sự hợp nhất này sẽ mang tới lợiích cho cả hai bên, người vợ thường sẽ chịu trách nhiệm cầm giữ sổ này.
Trong trường hợp không có căn cứ để chứng minh tài sản mà vợ, chồng đang
có tranh chấp là tài sản riêng của mỗi bên thì tài sản đó được coi là tài sản chung” Đểbảo vệ quyền lợi chính đáng của các bên, trong trường hợp tài sản do vợ, chồng cóđược trong thời kỳ hôn nhân mà pháp luật quy định phải đăng ký quyền sở hữu, nhưngtrong giấy chứng nhận quyền sở hữu chỉ ghi tên vợ hoặc chồng, nếu không có tranhchấp thì đó là tài sản chung của vợ chồng; nếu có tranh chấp là tài sản riêng thì người
có tên trong giấy chứng nhận quyền sở hữu phải chứng minh được tài sản này do đượcthừa kế riêng, được tặng riêng trong thời kỳ hôn nhân hoặc tài sản này có được từnguồn tài sản riêng
Vì vậy, vợ chồng hãy cùng chung tay góp sức tạo lập gia đình, người chồng cóthế tạo ra thu nhập hơn người vợ nhưng không được phủ định vai trò phụ trợ rất quantrọng trong đời sống gia đình
1.3 Vai trò, ý nghĩa của quy định pháp luật về tài sản chung của vợ chồng
Đối với tài sản chung quy định căn cứ xác định tài sản chung của vợ chồng tạo
cơ sở pháp lý để vợ chồng thực hiện dân chủ, bình đẳng trong các quan hệ về tài sản.Đồng thời qua đó có thể tạo được điều kiện để khuyến khích vợ chồng có trách nhiệmđối với gia đình mình, cùng xây dựng gia đình hạnh phúc, tiến bộ, bền vững Việcphân định các tiêu chí xác định tài sản chung của vợ chồng Vợ, chồng là đồng sở hữuvới tài sản chung của họ Vì vậy, một bên vợ chồng không thể tự ý định đoạt tài sảnchung nếu không có sự thỏa thuận của bên kia, đặc biệt liên quan đến tài sản chungcủa vợ chồng có giá trị lớn như nhà ở, quyền sử dụng đất các cơ sở pháp lý xác địnhtài sản chung của vợ, chồng là các cơ sở pháp lý để giải quyết các tranh chấp về tài sảnchung của vợ chồng với nhau hoặc với người khác Trong thực tế, nhằm bảo vệ quyền
và lợi ích chính đáng về tài sản cho các bên vợ, chồng hoặc người thứ ba tham gia giaodịch liên quan tài sản chung của vợ, chồng Vì vậy, mỗi bên vợ hoặc chồng có quyềnchiếm hữu, sử dụng và định đoạt và quyết định sát nhập hay không sát nhập tài sảnriêng của vợ chồng vào khối tài sản chung của vợ chồng
-Tài sản chung của vợ chồng được pháp luật ghi nhận (dù là chế độ tài sản theothỏa thuận - Chế độ tài sản ước định, hay theo căn cứ của pháp luật - chế độ tài sản phápđịnh) nhằm điều chỉnh các quan hệ tài sản của vợ chồng, tạo điều kiện để vợ, chồng cónhững cách “xử sự” theo yêu cầu của pháp luật và phù hợp với đạo đức xã hội
- Trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình, Luật Hôn nhân và gia đình đều chỉnhcác quan hệ về nhân thân và tài sản giữa vợ chồng, giữa cha mẹ và các con, giữa các
Trang 32thành viên khác trong gia đình Việc thực hiện và áp dụng chế độ tài sản nói chung vàtài sản chung của vợ chồng nói riêng góp phần củng cố, bảo đảm thực hiện các quyền
và nghĩa vụ nhân thân giữa vợ chồng và giữa các thành viên của gia đình với nhau
- Khối tài sản chung của vợ chồng cũng góp phần điều tiết, ổn định quan hệ tàisản trong giao lưu dân sự, kinh tế, thương mại Trong thời kỳ hôn nhân, vợ chồng phải
ký kết rất nhiều hợp đồng dân sự với người khác, nhờ có chế độ tài sản của vợ chồng,các giao dịch đó được đảm bảo thực hiện, quyền lợi của vợ chồng, của người tham giagiao dịch liên quan đến tài sản của vợ chồng được bảo vệ
CHƯƠNG 2 CHẾ ĐỊNH TÀI SẢN CHUNG THEO LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH
VIỆT NAM
2.1 Căn cứ xác định tài sản chung của vợ chồng
Trong quá trình vợ chồng chung sống, ngoài tình cảm thì giữa vợ chồng còncần có tài sản chung, tài sản chung được coi là một điều kiện không thể thiếu để duy trì
mối quan hệ vợ, chồng Theo quy định trong Bộ luật Dân sự năm 2005 thì “Tài sản bao gồm vật, tiền, giấy tờ có giá và các quyền tài sản” 5 Trong Bộ luật Dân sự năm
2015 quy định: “Tài sản là vật, tiền, giấy tờ có giá và quyền tài sản Tài sản bao gồm bất động sản và động sản Bất động sản và động sản có thể là tài sản hiện có và tài sản hình thành trong tương lai” 6
5 Điều 163 Bộ luật Dân sự 2005.
6 Điều 105 Bộ luật Dân sự 2015.
Trang 33Tài sản chung của vợ chồng là tài sản thuộc sở hữu chung của cả vợ chồng, làhình thức sở hữu chung đặc biệt Xuất phát từ quan hệ hôn nhân, sự tồn tại của chế độtài sản chung vợ chồng phụ thuộc vào sự tồn tại của quan hệ hôn nhân và chấm dứt khimột trong hai vợ chồng chết hoặc có bản án, quyết định của Tòa án chấp thuận cho vợchồng ly hôn.
Tài sản chung của vợ chồng là tài sản do vợ, chồng tạo ra trong quá trình laođộng, hoạt động sản xuất kinh doanh và những thu nhập hợp pháp khác của vợ chồngtrong thời kỳ hôn nhân, tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung, tặng cho chung vànhững tài sản vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung, quyền sử dụng đất của vợ, chồng
có được khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng Khác với tài sản chung đơn thuần,tài sản chung vợ, chồng có nguồn gốc tạo ra từ thời kỳ hôn nhân, có thể là do vợ,chồng lao động tạo ra hoặc từ những hành vi pháp lý diễn ra trong thời kỳ hôn nhân(thỏa thuận tài sản riêng trở thành tài sản chung, thừa kế, tặng cho )
Từ xưa đến nay, cha ông ta vẫn nói “của chồng công vợ”, tài sản chung của vợchồng không nhất thiết do hai vợ, chồng trực tiếp tạo ra hoặc tạo ra gần bằng nhau Tàisản chung có thể chỉ do vợ, chồng tạo ra trong thời kỳ hôn nhân, quy định này thể hiện
sự gắn kết “Như hai mà một” của quan hệ hôn nhân Đây là điểm khác biệt của tàisản chung vợ chồng so với các tài sản chung theo phần khác
Tài sản chung vợ, chồng là tài sản thuộc sở hữu chung hợp nhất; khi vợ, chồngchưa phân chia tài sản thì không xác định được tỷ lệ tài sản của mỗi người Khi haibên thỏa thuận phân chia xong hoặc có quyết định phân chia của Tòa án thì phần tàisản của vợ, chồng trong khối tài sản chung mới được xác định Đây là điểm khác biệtđặc trưng của tài sản chung vợ, chồng so với các tài sản chung theo phần
Vợ, chồng có quyền ngang nhau trong việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tàisản chung Tài sản chung vợ chồng có thể phân chia theo thỏa thuận hoặc theo quyđịnh của Tòa án
Luật Hôn nhân và gia đình là cơ sở pháp lý quan trọng nhất để xác định tài sảnchung của vợ chồng và các quy phạm về tài sản chung được sử dụng để điều chỉnhquan hệ vợ chồng liên quan đến tài sản chung của vợ chồng khi xảy ra tranh chấp Cụthể các căn cứ để xác định tài sản chung của vợ chồng được quy định tại Điều 33 LuậtHôn nhân và gia đình năm 2014:
“Điều 33 Tài sản chung của vợ chồng
1 Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân, trừ trường hợp được quy định tại khoản
1 Điều 40 của Luật này; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung
Trang 34Quyền sử dụng đất mà vợ, chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp vợ hoặc chồng được thừa kế riêng, được tặng cho riêng hoặc
có được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng.
2 Tài sản chung của vợ chồng thuộc sở hữu chung hợp nhất, được dùng để bảo đảm nhu cầu của gia đình, thực hiện nghĩa vụ chung của vợ chồng.
3 Trong trường hợp không có căn cứ để chứng minh tài sản mà vợ, chồng đang
có tranh chấp là tài sản riêng của mỗi bên thì tài sản đó được coi là tài sản chung”.
2.1.1 Tài sản chung do hoạt động thu nhập
Tài sản tạo ra trong thời kỳ hôn nhân có thể được coi như cốt lõi của chế độ tàisản chung của hai vợ chồng
Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 khi giải thích từ ngừ được sử dụng trong
Luật đã chỉ rõ: “Thời kỳ hôn nhân là khoảng thời gian tồn tại quan hệ vợ chồng, tính
từ ngày đăng ký kết hôn đến ngày chấm dứt hôn nhân ” 7
Như vậy, “Thời kỳ hôn nhân” được tính từ khi hai bên nam nữ kết hôn - thờiđiểm phát sinh quan hệ vợ chồng trước pháp luật; việc kết hôn được cơ quan nhà nước
có thẩm quyền công nhận theo đúng thủ tục và các điều kiện Luật định Sau khi kếthôn, vợ chồng cùng chung sống với nhau, cùng chung sức, ý chí tạo dựng tài sản nhằm
“nuôi” sống gia đình, vì lợi ích chung của gia đình Thời kỳ hôn nhân là khoảng thờigian tồn tại của quan hệ vợ chồng trước pháp luật Những tài sản, bao gồm cả động sản
và bất động sản do vợ chồng tạo ra được trong thời kỳ hôn nhân đều thuộc khối tài sảnchung của vợ chồng
Ví dụ: Thu nhập của mỗi bên trước khi kết hôn sẽ là tài sản riêng của người đó,nhưng sau khi kết hôn thì thu nhập của mỗi bên vợ chồng đều thuộc khối tài sản chungcủa vợ chồng Tính cộng đồng của quan hệ hôn nhân và gia đình được xác lập, mụcđích nhằm đảm bảo đời sống chung của gia đình; đòi hỏi pháp luật phải có quy địnhcăn cứ quan trọng, đầu tiên để xác định tài sản chung của vợ chồng là “Thời kỳ hônnhân” Dẫn đến hệ lụy sau:
+ Tài sản chung của vợ chồng không cần phải cả hai vợ chồng cùng trực tiếptạo ra tài sản đó;
+ Tài sản chung của vợ chồng được tạo dựng không phụ thuộc vào điều kiện vợchồng ở chung hay ở riêng; vì điều quan trọng theo Luật định là tài sản mà “vợ, chồngtạo ra trong thời kỳ hôn nhân” là tài sản chung của vợ chồng
Đây là loại tài sản phổ biến trong khối tài sản chung của vợ chồng Sau khi kếthôn, quan hệ vợ chồng được xác lập, vợ chồng cùng chung sức chung lòng trọng việctạo dựng tài sản để “nuôi sống” gia đình, bảo đảm các nhu cầu của đời sống chung,đáp ứng các nghĩa vụ chăm sóc lẫn nhau Nuôi dưỡng và giáo dục các con
7 Khoản 13 Điều 3 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
Trang 35Hành vi “tạo ra” tài sản của vợ chồng được hiểu là vợ chồng dựa theo côngviệc, chuyên môn của mình để trực tiếp tạo ra tài sản đó bằng chính sức lao động củamình như: xây dựng nhà ở, đóng bàn ghế, gường, tủ, trồng cây, nuôi cá Cũng có thể
vợ chồng sử dụng tiền bạc của mình mà “thuê” người khác trực tiếp tạo ra những tàisản đó thông qua các hợp đồng cụ thể
Bên cạnh đó, hành vi tạo ra tài sản của vợ, chồng còn được hiểu là vợ, chồng đã
sử dụng tiền bạc, tài sản của mình thông qua các hợp đồng để mua sắm các tài sản,chuyển quyền sử dụng từ người khác sang quyền sử dụng của vợ chồng; như mua nhà
ở, tivi, xe máy hay chuyển quyền sử dụng đất bảo đảm cho các nhu cầu sinh hoạt,tiêu dùng của gia đình hoặc để vợ chồng đầu tư sản xuất kinh doanh Như vậy, nhữngtài sản do vợ hoặc chồng tạo ra trong thời kỳ hôn nhân thuộc khối tài sản chung của vợchồng Có thể thấy được qua các thời kỳ thì pháp luật về hôn nhân và gia đình đều cóquy định như vậy
Trước đây, Luật Hôn nhân và gia đình năm 1986 cũng đã dự liệu tài sản chungcủa vợ chồng cũng bao gồm “những tài sản do vợ hoặc chồng tạo ra, thu nhập về nghềnghiệp” trong thời kỳ hôn nhân Đây được coi là loại tài sản chủ yếu thuộc khối tài sảnchung của vợ chồng
Bên cạnh những căn cứ đã được xác nhận trong Luật Hôn nhân và gia đình năm
1986, Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 đã làm rõ hơn khái niệm “thu nhập vềnghề nghiệp bằng quy định thu nhập do lao động sản xuất kinh doanh ” cũng là tàisản chung Đây là thu nhập thường xuyên, cơ bản, chính đáng và chủ yếu của mỗingười, để đảm bảo cuộc sống vật chất ổn định, lâu dài của gia đình Pháp luật khôngcăn cứ vào mức thu nhập để quy định mà chỉ quy định “thu nhập về nghề nghiệp” của
vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân là tài sản chung của vợ chồng Dù vợ chồng làm việc
ở những ngành nghề khác nhau với mức thu nhập khác nhau; bên cạnh đó, mọi thunhập từ lao động, từ hoạt động sản xuất kinh doanh của vợ chồng đều là tài sản chungcủa vợ chồng
Cho đến Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, thì căn cứ để xác định tài sảnchung của vợ chồng cũng bao gồm “tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động,hoạt động sản xuất, kinh doanh” Theo điểm b Khoản 2 Điều 59 Luật Hôn nhân và Gia
đình năm 2014 “Lao động của vợ, chồng trong gia đình được coi như lao động có thu nhập”, vì thế trong cuộc sống gia đình, vì sức khỏe, vì hoàn cảnh và khả năng lao
động mà tài sản chỉ do một người tạo ra thì vẫn coi như vợ chồng cùng đóng góp côngsức lao động của người vợ và ngược lại, bởi vì nếu như không có vợ hoặc chồng chăm
lo cho gia đình, bảo quản tài sản, chăm sóc con cái tạo điều kiện cho người kia laođộng tạo thu nhập thì khó có thể tạo ra được khối tài sản chung một cách trọn vẹn Đóchính là đặc trưng mang tính chất cộng đồng của cuộc sống vợ chồng
Trang 36Như vậy, thu nhập của vợ chồng thuộc khối tài sản chung của vợ chồng lànhững lợi ích vật chất mà vợ, chồng có được do tham gia lao động, hoạt động sản xuấtkinh doanh Theo tính chất nghề nghiệp, chuyên môn, công việc mà vợ chồng thựchiện; vợ chồng hưởng thành quả lao động gồm nhiều loại, nhưng thu nhập do laođộng, hoạt động sản xuất kinh doanh là loại thu nhập ổn định, cơ bản và chủ yếu Vợchồng bằng hoạt động của mình tạo thu nhập trong quá trình lao động, sản xuất kinhdoanh một cách trực tiếp hoặc gián tiếp.
2.1.2 Tài sản chung do được thừa kế, tặng, cho chung
Ví dụ: Anh A và chị B là hai vợ chồng, đã chung sống với nhau được 10 nămthì cha của anh A là ông T lập di chúc để lại tài sản là một căn nhà, căn nhà thuộc khốitài sản chung khi trong di chúc ông T ghi rõ là để lại cho hai vợ chồng A và B; ngượclại nếu trong di chúc thể hiện rõ là căn nhà chỉ để lại cho A hoặc chỉ để cho B thì cănnhà sẽ là tài sản riêng của A hoặc B
* Tặng, cho chung:
Cũng như trường hợp thừa kế, nếu như người có tài sản tặng cho thể hiện rõ làtặng cho chung vợ chồng mà không hề phân biệt phần quyền của mỗi người đối với tàisản tặng cho thì tài sản đó mới được coi là sở hữu chung hợp nhất của vợ chồng
Trường hợp tặng cho mang tính chất quà biếu của đối tác trong giao dịch
Việc tặng cho có mối liên hệ mật thiết với một công việc nào đó đã, đang hoặc
sẽ được thực hiện và công việc đó là một phần công tác của người được tặng cho.Trong chừng mực đó, tặng cho có thể được đồng hóa với một loại thu nhập bất thường
do lao động và là tài sản chung
Trang 37Việc tặng cho được thực hiện nhằm mục đích thưởng cho đối tác vì đã chấpnhận giao dịch với mình Đối với người được tặng cho, giao dịch đó có thể khôngđược thực hiện một cách thường xuyên; nhưng nó là một phần trong hoạt động nghềnghiệp hoặc trong sinh hoạt của người này Do vậy, cũng có thể coi tặng cho loại này
là một loại thu nhập bất thường do lao động
Trường hợp tặng cho mang tính chất xã giao
Tặng cho mang tính chất xã giao thường được thực hiện không phải nhân dịpxác lập một mối quan hệ đối tác trong giao dịch mà nhân một dịp lễ, tết hoặc nhân một
sự kiện nào đó đáng chú ý trong cuộc sống của người được tặng cho (sinh nhật, kỷniệm ngày cưới, ngày giỗ người thân, tân gia, đỗ đạt, thăng chức, ), thậm chí, nhânmột sự kiện đáng chú ý trong cuộc sống của người tặng cho
Giả sử tặng cho xã giao được thừa nhận là có giá trị, thì trên nguyên tắc, luậtchung về quan hệ tài sản giữa vợ chồng được áp dụng để xác định tính chất chung hayriêng: nếu là tặng cho chung thì đó là tài sản chung; nếu là tặng cho riêng, thì là tài sảnriêng Tính chất của tặng cho có thể được xác định, trong nhiều trường hợp, dựa vàotính chất của sự kiện mà nhân sự kiện đó, việc tặng cho được thực hiện: tặng cho nhânngày cưới, tân gia, tết là tặng cho chung; tặng cho nhân dịp sinh nhật, thăng chức làtặng cho riêng Có trường hợp việc dựa vào tính chất của sự kiện tỏ ra không hiệu quảđối với việc xác định tính chất của tặng cho, khi đó, có lẽ nên suy đoán rằng tài sảnđược tặng cho là tài sản chung cho đến khi có bằng chứng ngược lại
Trong thời kỳ hôn nhân, vợ chồng (có thể) được người khác (những người thânthuộc trong gia đình hoặc bạn bè) tặng cho chung tài sản Những tài sản này thuộckhối tài sản chung của vợ chồng Tuy nhiên, đối với trường hợp vợ chồng được tặngcho chung trong hợp đồng tặng cho chung chủ sở hữu đã tuyên bố tặng cho chung hay
đế lại thừa kế chung cho hai vợ chồng mà không phân biệt “kỷ phần” tài sản cho mỗibên vợ, chồng được hưởng Nếu trong hợp đồng tặng cho chung mà chủ sở hữu tài sản
đã “xác định” kỷ phần (tỷ lệ) tài sản từ trước cho mỗi bên vợ, chồng thì về nguyên tắc,những tài sản đó sẽ thuộc tài sản riêng của vợ, chồng; chỉ là tài sản chung khi vợ,chồng tự nguyện nhập vào tài sản chung hoặc có thỏa thuận là tài sản chung của vợchồng
2.1.3 Tài sản chung của vợ chồng có được do hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng của vợ, chồng trong thời kỳ hôn nhân
Tài sản riêng của chồng hoặc vợ mà có hoa lợi, lợi tức (là các khoản thu được
từ việc khai thác tài sản) thì khoản thu được đó là của chung: “Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân, trừ trường hợp được quy định tại khoản 1 Điều 40 của Luật
Trang 38này; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung” 8
Xét dưới góc độ thuần túy của pháp luật Dân sự thì cho ràng chỉ chủ sở hữu tàisản mới có quyền thu lợi - hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng đó
Tuy nhiên, đến khi Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 thì căn cứ thứ hai đểxác định tài sản chung của vợ chồng lại ghi nhận “hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản
riêng” nhưng trừ các trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 40 của Luật này: “Trong trường hợp chia tài sản chung của vợ chồng thì phần tài sản được chia, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng của mổi bên sau khi chia tài sản chung là tài sản riêng của vợ, chồng, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác” thì hoa lợi, lợi tức phát
sinh từ tài sản riêng đó vẫn thuộc khối tài sản chung của vợ chồng Các nhà làm Luật
đã nhìn thấy rằng trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình, do tính chất cộng đồng củaquan hệ hôn nhân, vợ chồng cùng chung sức, chung ý chí tạo dựng tài sản chung nhằmđảm bảo nhu cầu đời sống chung của gia đình
Trước đây, hệ thống pháp luật về hôn nhân và gia đình ở nước ta dưới chế độ cũ
đã quy định cụ thể về vấn đề này Theo khoản 4 Điều 54 sắc luật 15/64 ngày23/07/1964 và khoản 4 Điều 151 Bộ luật Dân sự ngày 20/12/1972 dưới chế độ ngụyquyền Sài Gòn đã quy định hoa lợi của tất cả các tài sản thủ đắc trước hay trong thờigian hôn thú đều thuộc khối tài sản chung của vợ chồng Cùng quan điểm này, tại
khoản 3 Điều 30 Luật Gia đình Cộng hòa CuBa đã ghi nhận: “Thu nhập, hoa lợi, lợi tức do tài sản chung của hai vợ chồng hay do tài sản riêng của môi người trong thời
kỳ hôn nhân là tài sản chung của vợ chồng”.
Ví dụ: A và B là hai vợ chồng hợp pháp có tài sản chung là 600 triệu đồng, A
có tài sản riêng là 200 triệu đồng, A đã dùng phần tài sản riêng của mình vào việc đầu
tư sản xuất kinh doanh, từ đó hàng tháng A có lợi nhuận là 20 triệu đồng; B cũng cótài sản riêng là mảnh đất và được dùng để cho thuê; hàng tháng B thu được 10 triệuđồng Sau đó, hai vợ chồng muốn phát triển việc đầu tư sản xuất kinh doanh nên đãthỏa thuận phân chia tài sản chung là 600 triệu đồng và mỗi bên được 300 triệu đồng;việc thỏa thuận chia phần tài sản chung là do hai vợ chồng muốn tránh rủi ro cho giađình khi dùng tiền đó để sản xuất đầu tư thêm Vì vậy, đối với phần hoa lợi, lợi tức mà
A thu được 20 triệu đồng hàng tháng từ khoản tiền 200 triệu đồng và khoản 10 triệuđồng từ mảnh đất riêng của B đều thuộc khối tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳhôn nhân Còn riêng khoản hoa lợi, lợi tức phát sinh từ phần tài sản mà hai bên cóđược do thỏa thuận chia tài sản chung thì thuộc tài sản riêng của mỗi bên
Từ ví dụ trên, kết luận được là các khoản hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sảnriêng của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân là tài sản chung của vợ chồng phù hợp với
8 Khoản 1 Điều 33 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
Trang 39quy định tại khoản 1 Điều 33 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 và đối với hoa lợi,lợi tức phát sinh từ tài sản mà vợ chồng có được do chia tài sản chung trong thời kỳhôn nhân là tài sản riêng của vợ chồng theo quy định tại khoản 1 Điều 40 Luật Hôn
nhân và gia đình năm 2014 là “Trong trường hợp chia tài sản chung của vợ chồng thì phần tài sản được chia, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng của mỗi bên sau khi chia tài sản chung là tài sản riêng của vợ chồng; trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác Phần tài sản còn lại không chia vẫn là tài sản chung của vợ chồng”.
2.1.4 Tài sản chung vợ chồng có được từ thu nhập hợp pháp khác của vợ và chồng trong thời kỳ hôn nhân
Kế thừa từ những Điều Luật trước, tại khoản 1 Điều 33 Luật Hôn nhân và gia
đình năm 2014 cũng có quy định: “Tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân” cũng là tài sản chung của vợ chồng.
Khoản 1 Điều 27 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định: “Thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh và những thu nhập hợp pháp khác của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân’’ Theo từ điển Tiếng Việt thì thu nhập được hiểu là
“nhận được tiền bạc, của cải vật chất từ một hoạt động nào đó” Còn theo từ điển thuật ngữ về thuế thì thu nhập là “quyền lợi kinh tế, tiền hay giá trị nhận được”.
Như vậy có thể hiểu: Thu nhập của vợ chồng là những lợi ích vật chất mà vợchồng có được do tham gia lao động, hoạt động sản xuất kinh doanh như: tiền công,tiền lương, thành quả lao động hay lợi nhuận do kinh doanh mang lại cũng như cáchoa lợi, lợi tức thu được từ các loại tài sản của vợ chồng trong quá trình sản xuất kinhdoanh Đây được coi là thu nhập ổn định, cơ bản và chủ yếu của khối tài sản chungcủa vợ chồng
Ngoài ra theo khoản 1 Điều 33 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 tài sản vợ
chồng còn có: “Những thu nhập hợp pháp khác của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân” Theo Nghị định số 126/2014/NĐ-CP đã hướng dẫn: Những thu nhập hợp pháp
khác vợ, chồng trong thời kỳ hôn nhân gồm:
“Khoản tiền thưởng, tiền trúng thưởng xổ sổ, tiền trợ cấp (trừ khoản trợ cấp,
ưu đãi mà vợ, chồng được nhận theo quy định của pháp luật về ưu đãi người có công với cách mạng; quyền tài sản khác gắn liền với nhân thân của vợ, chồng;
Tài sản mà vợ, chồng được xác lập quyển sở hữu theo quy định của Bộ luật Dân sự đối với vật vô chủ, vật bị chôn giấu, bị chìm đắm, vật bị đánh rơi, bị bỏ quên, gia súc, gia cầm bị thất lạc, vật nuôi dưới nước;
Thu nhập hợp pháp khác theo quy định của pháp luật” 9
Những thu nhập còn có thể coi là thu nhập hợp pháp khác do lao động