1. Trang chủ
  2. » Nông - Lâm - Ngư

Vai trò của cây khoai tây trong sinh kế và kinh tế nông hộ trên địa bàn huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh (Luận văn thạc sĩ)

81 227 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 81
Dung lượng 1,39 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Vai trò của cây khoai tây trong sinh kế và kinh tế nông hộ trên địa bàn huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh (Luận văn thạcVai trò của cây khoai tây trong sinh kế và kinh tế nông hộ trên địa bàn huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh (Luận văn thạc sĩ)Vai trò của cây khoai tây trong sinh kế và kinh tế nông hộ trên địa bàn huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh (Luận văn thạc sĩ)Vai trò của cây khoai tây trong sinh kế và kinh tế nông hộ trên địa bàn huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh (Luận văn thạc sĩ)Vai trò của cây khoai tây trong sinh kế và kinh tế nông hộ trên địa bàn huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh (Luận văn thạc sĩ)Vai trò của cây khoai tây trong sinh kế và kinh tế nông hộ trên địa bàn huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh (Luận văn thạc sĩ)Vai trò của cây khoai tây trong sinh kế và kinh tế nông hộ trên địa bàn huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh (Luận văn thạc sĩ)Vai trò của cây khoai tây trong sinh kế và kinh tế nông hộ trên địa bàn huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh (Luận văn thạc sĩ) sĩ)

Trang 1

––––––––––––––––––––––

NGUYỄN VĂN ĐÀM

VAI TRÒ CỦA CÂY KHOAI TÂY TRONG SINH KẾ

VÀ KINH TẾ NÔNG HỘ TRÊN ĐỊA BÀN

HUYỆN QUẾ VÕ, TỈNH BẮC NINH

Ngành: Phátn

Mã số: 60.62.01.16

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ NÔNG NGHIỆP

Người hướng dẫnhọc: P GS.TS Trần Văn Điền

PG iền

THÁI NGUYÊN - 2017

Trang 2

––––––––––––––––––––––

NGUYỄN VĂN ĐÀM

VAI TRÒ CỦA CÂY KHOAI TÂY TRONG SINH KẾ

VÀ KINH TẾ NÔNG HỘ TRÊN ĐỊA BÀN

HUYỆN QUẾ VÕ, TỈNH BẮC NINH

Chuyên ngành: Kinh tế nông nghiệp

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS DƯƠNG VĂN SƠN

PG iền

THÁI NGUYÊN - 2017

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các kết quả nghiên cứu được trình bày trong luận văn là trung thực và chưa từng dùng bảo vệ

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới PGS.TS Dương Văn Sơn - người hướng dẫn khoa học đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ tôi với sự tận tâm, tinh thần trách nhiệm cao và đóng góp nhiều ý kiến quý báu giúp tôi hoàn thành luận văn này

Tôi xin cảm ơn Ban giám hiệu trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, các thầy, cô trong nhà trường đã tạo điều kiện thuận lợi, giúp đỡ và có những góp ý chân thành cho luận văn

Tôi xin cảm ơn gia đình, bạn bè, đồng nghiệp đã luôn bên cạnh động viên, giúp đỡ, tạo điều kiện thuận lợi để tôi hoàn thành luận văn

Luận văn khó tránh khỏi những thiếu sót, tôi rất mong nhận được những ý kiến đóng góp của các thầy cô, bạn bè và đồng nghiệp

Xin trân trọng cảm ơn!

Thái Nguyên, ngày 15 tháng 11 năm 2017

Tác giả luận văn

Nguyễn Văn Đàm

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

MỤC LỤC iii

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT v

DANH MỤC BẢNG vi

MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Mục tiêu nghiên cứu 3

3 Ý nghĩa nghiên cứu 3

Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4

1.1 Cơ sở lý luận 4

1.1.1 Tổng quan về cây khoai tây 4

1.1.2 Một số khái niệm có liên quan 8

1.2 Cơ sở thực tiễn 10

1.2.1 Tình hình sản xuất khoai tây ở một số nước trên thế giới 10

1.2.2 Tình hình sản xuất khoai tây ở một số địa phương trong nước 12

1.2.3 Tình hình sản xuất khoai tây tại tỉnh Bắc Ninh 13

2.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 16

2.1.1 Đối tượng nghiên cứu 16

2.1.2 Phạm vi nghiên cứu 16

2.2 Nội dung nghiên cứu 17

2.2.1 Vai trò của cây khoai tây trong sinh kế và kinh tế nông hộ tại địa bàn nghiên cứu 17

2.2.2 Thực trạng sản xuất và thị trường tiêu thụ khoai tây tại huyện Quế Võ 17

2.2.3 Những thuận lợi, khó khăn ảnh hưởng đến phát triển khoai tây tại huyện Quế Võ 17

2.2.4 Giải pháp phát triển sản xuất và thị trường tiêu thụ khoai tây tại huyện Quế Võ 17

2.3 Tiếp cận và phương pháp nghiên cứu 18

Trang 6

2.3.1 Tiếp cận nghiên cứu 18

2.3.2 Phương pháp nghiên cứu 18

2.3.3 Phương pháp phân tích, xử lý thông tin, số liệu 21

2.4 Hệ thống các chỉ tiêu nghiên cứu 21

Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 23

3.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu 23

3.1.1 Đặc điểm tự nhiên 23

3.1.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội 24

3.2 Vai trò của khoai tây trong sinh kế và kinh tế nông hộ tại huyện Quế Võ 26

3.2.1 Cây khoai tây trong cơ cấu cây trồng và sinh kế nông hộ 26

3.2.2 Thu nhập từ khoai tây và đóng góp của khoai tây về kinh tế đối với nông hộ 27

3.3 Thực trạng sản xuất và thị trường tiêu thụ khoai tây tại huyện Quế Võ 34

3.3.1 Thực trạng tổ chức sản xuất khoai tây 34

3.3.2 Thực trạng phát triển diện tích, năng suất và sản lượng 38

3.3.3 Thực trạng cơ cấu giống 41

3.3.4 Thực trạng kỹ thuật sản xuất canh tác 44

3.3.5 Thực trạng thị trường tiêu thụ 48

3.4 Những thuận lợi, khó khăn trong phát triển khoai tây tại huyện Quế Võ 50

3.4.1 Thuận lợi 50

3.4.2 Khó khăn 52

3.5 Giải pháp phát triển sản xuất và thị trường tiêu thụ khoai tây tại huyện Quế Võ 59

3.5.1 Căn cứ đề xuất các giải pháp 59

3.5.2 Giải pháp chung 61

3.5.3 Các giải pháp cụ thể 61

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 66

TÀI LIỆU THAM KHẢO 70

Trang 7

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

GDP : Gross Domestic Product (Tổng sản phẩm quốc nội) FAO: Tổ chức Lương thực và Nông nghịêp Liên Hiệp Quốc GTZ: Hiệp hội hợp tác kỹ thuật Đức

TN&MT : Tài nguyên và Môi trường

NN&PTNT : Nông nghiệp và phát triển nông thôn

UBND : Uỷ ban nhân dân

Trang 8

DANH MỤC BẢNG

Bảng 1.1: Giá trị dinh dưỡng của một số sản phẩm 5

Bảng 1.2: Diện tích, sản lượng và năng suất khoai tâytrên thế giới năm 2016 10

Bảng 1.3: Một số quốc gia sản xuất khoai nhiều nhất trên thế giới năm 2016 11

Bảng 1.4: Tình hình sản xuất khoai tây tại Bắc Ninh giai đoạn 2010 – 2016 14

Bảng 3.1: Cơ cấu các loại cây rau màu của nông hộ 26

Bảng 3.2: Dự định của hộ về phát triển sản xuất khoai tây 27

Bảng 3.3: Một số thông tin chung của hộ điều tra 28

Bảng 3.4: Giá trị sản xuất nông nghiệp phân theo kinh tế hộ 29

Bảng 3.5: Sản xuất và thu nhập khoai tây phân theo loại kinh tế hộ 30

Bảng 3.6: Hiệu quả kinh tế trung bình 1ha sản xuất khoai tây tại các xã điều tra năm 2016 32

Bảng 3.7: Hiệu quả kinh tế trung bình 1ha sản xuất một số loạicây trồng tại các xã điều tra năm 2016 33

Bảng 3.8: Thời vụ sản xuất khoai tây tại Quế Võ 34

Bảng 3.9: Đặc điểm của tổ chức sản xuất theo hộ gia đình 36

Bảng 3.10: Đặc điểm của tổ chức sản xuất theo hình thứcliên kết hộ gia đình, cá nhân 37

Bảng 3.11: Đặc điểm của hình thức tổ chức sản xuất theo hộ thu gom 38

Bảng 3.12: Diện tích, năng suất và sản lượng khoai tâycủa huyện Quế Võ giai đoạn 2014 - 2016 39

Bảng 3.13: Diện tích, năng suất và sản lượng khoai tâycủa các xã điều tra giai đoạn 2014 - 2016 40

Bảng 3.14: Cơ cấu và năng suất các giống khoai tây năm 2016 41

Bảng 3.15: Một số thông tin cơ bản nguồn giống khoai tây 43

Bảng 3.16: Biện pháp chủ yếu phòng trừ sâu bệnh hại khoai tây 46

Bảng 3.17: Những khó khăn chủ yếu trong sản xuất khoai tây tại các hộ điều tra 52

Bảng 3.18: Nhu cầu trong phát triển sản xuất khoai tây tại các hộ điều tra 60

Trang 9

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Ngành nông nghiệp giữ vai trò quan trọng trong nền kinh tế quốc dân, đặc biệt với các nước đang phát triển Đối với Việt Nam, ngành sản xuất nông nghiệp đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng Nó đảm bảo an ninh lương thực, thực phẩm cho khoảng 88,7 triệu người, là một ngành sản xuất có thặng dư xuất khẩu Sản lượng lương thực qua các năm tăng lên, năm 1980 là 10 triệu tấn, đến năm 2011 là 47,12 triệu tấn, đóng góp 22% giá trị GDP Bên cạnh đó, ngành nông nghiệp còn cung cấp lao động cho các ngành khác Năm 2012, cơ cấu dân cư sống ở nông thôn

là 68,06%, cơ cấu lao động trong nông nghiệp chiếm 47,4%, hàng năm chuyển sang các ngành khác từ 2,4 - 2,5 triệu lao động (Đỗ Kim Chung, 2013) [3]

Theo báo cáo của Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên Hiệp Quốc (FAO), Cây khoai tây là một cây trồng có vai trò rất to lớn trong việc cung cấp lương thực trên thế giới, là loài cây trồng phổ biến thứ tư về mặt sản lượng tươi, xếp sau lúa, lúa mì và ngô, sản lượng khoai tây toàn thế giới năm 2009 là 330 triệu tấn, trong đó chỉ hơn 2/3 là thức ăn trực tiếp của con người, còn lại thức ăn cho động vật

và nguyên liệu sản xuất tinh bột Điều này cho thấy chế độ ăn hàng năm của mỗi công dân toàn cầu trung bình trong thập kỷ đầu của thế kỷ 21 là 33 kg khoai tây

Cây khoai tây được người Pháp mang đến Việt Nam hơn 100 năm trước đây Sản xuất khoai tây tại Việt Nam phát triển mạnh từ năm 1998 Đến nay, cây khoai tây ở Việt Nam có diện tích khoảng 35.000 - 37.000 ha, sản lượng đạt từ 420.000 - 450.000 tấn, đáp ứng được khoảng 50% nhu cầu trong nước (GTZ, 2010) [10]

Tại tỉnh Bắc Ninh, vào những năm đầu của thế kỷ XXI cây khoai tây phát triển mạnh, nhưng một vài năm gần đây do chất lượng một số nguồn giống thấp, khí hậu cực đoan, thị trường đầu ra sản phẩm không ổn định nên diện tích sản xuất cây khoai tây có chiều hướng tăng giảm không ổn định Năm 2010, diện tích đạt 2.477,8

ha, sản lượng đạt 36.868 tấn, đến năm 2016 diện tích còn 2.213 ha, sản lượng là 36.071,9 tấn (Cục thống kê tỉnh Bắc Ninh, 2010 - 2016) [9]

Trang 10

Cây khoai tây được người nông dân huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh làm quen

và trồng từ những năm 70 của thế kỷ XX Trong giai đoạn 1996 - 1998 đối với các

xã như Việt Hùng, Nhân Hoà, Quế Tân, Bằng An, Mộ Đạo,…cây khoai tây đã được sản xuất đại trà ở vụ đông Hàng năm, toàn huyện gieo trồng cây vụ đông với diện tích giao động từ 2.690 ha đến 3.196 ha, trong đó diện tích khoai tây khoảng từ 1.150 ha đến 1.550 ha Trong những năm gần đây, diện tích, năng suất và sản lượng khoai tây của huyện Quế Võ tăng giảm không ổn định Năm 2014, tổng diện tích là 1.215 ha, năng suất đạt 180,1 tạ/ha, sản lượng đạt 21.882,1 tấn Năm 2016, diện tích đạt 1.516,5 ha, năng suất 176,2 tạ/ha và sản lượng là 26.720,7 tấn (Chi cục thống kê huyện Quế Võ, 2014 - 2016) [8]

Mặc dù, với vị trí địa lý thuận lợi trong phát triển kinh tế, bên cạnh đó tiềm năng về đất đai, kinh nghiệm sản xuất, rất thuận lợi trong phát triển kinh tế nói chung, phát triển sản xuất nông nghiệp nói riêng Nhưng trong những năm gần đây, phát triển sản xuất khoai tây tại huyện Quế Võ cũng gặp không ít khó khăn, đó là: Quá trình công nghiệp hoá, đô thị hoá diễn ra mạnh mẽ, diện tích đất sản xuất nông nghiệp bị thu hẹp dần; một số giống đã được sản xuất qua nhiều vụ do đó củ giống

bị thoái hoá, chất lượng thấp, bộ giống còn nghèo nàn, nguồn giống chất lượng cao còn thiếu; các nguồn lực đầu vào như vốn, kỹ thuật sản xuất còn hạn chế; giá chi phí đầu vào cho sản xuất cao, giá thị trường sản phẩm đầu ra thấp, không ổn định, khả năng cạnh tranh thấp, do đó thường bị tư thương ép giá; hệ thống cơ sở hạ tầng kênh tưới tiêu, đường giao thông nội đồng chưa được đầu tư nhiều; tình hình sâu hại dịch bệnh, thời tiết cực đoan diễn biến bất thường Do đó, đã làm cho diện tích, năng suất và sản lượng khoai tây của huyện Quế Võ tăng giảm không ổn định và có chiều hướng giảm dần, sản xuất của ngành chưa phát triển ổn định, chưa khai thác hết tiềm năng đất đai và lợi thế so sánh của Huyện, ý nghĩa kinh tế của cây khoai tây trong dân chúng bị hạn chế

Từ những lý do trên, nhằm mở rộng quy mô sản xuất, tăng năng suất và chất lượng sản phẩm, nâng cao vai trò khoai tây trong sinh kế và kinh tế nông hộ thì vấn

Trang 11

đề nghiên cứu đề tài: “Vai trò của cây khoai tây trong sinh kế và kinh tế nông

hộ trên địa bàn huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh” là rất cấp thiết

2 Mục tiêu nghiên cứu

Nghiên cứu đánh giá vai trò của cây khoai tây trong sinh kế nông hộ, thu nhập và sự đóng góp của khoai tây trong phát triển kinh tế nông hộ tại địa bàn nghiên cứu Đánh giá thực trạng hệ thống sản xuất, diện tích, sản lượng, giống, kỹ thuật canh tá, thị trường tiêu thụ và chuỗi cung cấp sản phẩm củ khoai tây Đề xuất giải pháp phát triển sản xuất và thị trường tiêu thụ khoai tây, cải thiện sinh kế theo hướng bền vững, góp phần phát triển kinh tế nông hộ tại địa bàn nghiên cứu

3 Ý nghĩa nghiên cứu

+ Ý nghĩa thực tiễn

- Kết quả nghiên cứu của đề tài là cơ sở để đề xuất định hướng giải pháp phát triển sản xuất và thị trường tiêu thụ khoai tây, cải thiện sinh kế theo hướng bền vững và góp phần phát triển kinh tế nông hộ tại địa bàn nghiên cứu

- Góp phần thúc đẩy việc mở rộng và đưa cây khoai tây vào hệ thống cây trồng trong quá trình luân canh tăng vụ, tăng hiệu quả kinh tế của sản xuất khoai tây

và góp phần nâng cao thu nhập cho nông dân

Trang 12

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Cơ sở lý luận

1.1.1 Tổng quan về cây khoai tây

+ Nguồn gốc và lịch sử phát triển của khoai tây Khoai tây thuộc họ cà, có nguồn gốc từ dãy núi Andes Nơi khởi thủy của cây khoai tây trồng ở quanh hồ Titicca giáp ranh thuộc Peru và Bolivia Những di tích khảo cổ tìm thấy ở vùng này đã tìm thấy cây khoai tây làm thức ăn cho người đã có từ thời đại 500 năm trước công nguyên Những hóa thạch củ khoai tây khô và những đồ vật hình dáng khoai tây có khá nhiều ở thế kỷ thứ II sau công nguyên Hiện nay, ở dãy núi Andes còn có rất nhiều loài khoai tây hoang dại, bán hoang dại, loài khoai tây trồng (Trương Văn Hộ, 2010) [5]

Người Tây Ban Nha phát hiện ra cây khoai tây tại lưu vực sông Canca (Colombia), nơi thổ dân da đỏ cư trú vào năm 1538 Cây khoai tây được du nhập vào Tây Ban Nha vào khoảng năm 1570 Từ đó khoai tây được truyền sang Italia, Đức Vào cuối thế kỷ XVI, khoai tây được mang về trồng ở Mỹ Năm 1586, một nhà hàng hải đem khoai tây về trồng ở Anh Năm 1785, khoai tây được mang về trồng ở Pháp

Từ đó khoai tây được đưa vào trồng ở các nước Châu Âu khác Qua gần 100 năm khoai tây được trồng rộng rãi và phát triển rộng lớn ở Châu Âu, khoai tây được du nhập sang các nước ở các châu lục khác: Ấn Độ (1610), Trung Quốc (1700) (Đường Hồng Dật, 2004) [4]

Ở Việt Nam, khoai tây được đưa vào năm 1890 do những nhà truyền giáo người Pháp đem đến Trước năm 1970, khoai tây được trồng rải rác ở Sapa - Lào Cai, Đồ Sơn - Hải Phòng, Trà Lĩnh - Cao Bằng, Đông Anh - Phúc Yên, Đà Lạt - Lâm Đồng Diện tích tất cả khoảng 3 nghìn ha Thời gian này, khoai tây được coi

là loại rau cao cấp (Trương Văn Hộ, 2010) [5]

+ Đặc điểm trong sản xuất khoai tây Cây khoai tây là cây trồng ngắn ngày

(khoảng 90 ngày) nhưng lại cho năng suất cao Thời điểm sản xuất cây khoai tây được thực hiện sau khi thu hoạch song các cây trồng vụ mùa trên các chân ruộng

Trang 13

vàn, vàn cao, đất tơi xốp, đất cát pha, đất thịt nhẹ và đất phù xa phù hợp với các loại cây trồng ưa lạnh, khí hậu ôn đới Do đó, điều kiện sản xuất, chăm sóc cây khoai tây

có sự khác biệt với các loại cây trồng được sản xuất ở các vụ khác trong năm

+ Giá trị dinh dưỡng của khoai tây Cây khoai tây là cây có giá trị dinh

dưỡng cao như: Protein, đường, lipit và các loại vitamin B, vitamin C, khoáng chất, và được chế biến thành nhiều sản phẩm, món ăn có giá trị dinh dưỡng và giá trị kinh tế cao

Bảng 1.1: Giá trị dinh dưỡng của một số sản phẩm Sản phẩm Tỷ lệ protein sử dụng (% so với trứng)

(Nguồn: Beukema, Vander Zaag, 1979)

Theo Beukema, Vander Zaag (1979) [11], nếu “tỷ lệ Protein sử dụng ở trứng

gà là 100 thì ở khoai tây là 71, đậu tương là 56, ngô là 55, bột mỳ là 52 và đậu Hà Lan là 44” Nên hiện nay trên khắp thế giới, từ khoai tây đã chế biến ra hàng trăm sản phẩm, món ăn khác nhau Trong củ khoai tây có 2% protein bao gồm cả lysine (một axít amin thường không có trong protein thực vật) phối hợp tốt với ngũ cốc

Theo Burton (1974) [12], thì “khi sử dụng 100g khoai tây có thể đảm bảo ít nhất 8% nhu cầu năng lượng, 10% nhu cầu Fe, 10% vitamin B1, 20 - 50% nhu cầu

về vitamin C của một người/ngày”

+ Vai trò của cây khoai tây Khoai tây là loại cây trồng có giá trị kinh tế

cao trong sản xuất, là cây vụ đông quan trọng trong công thức luân canh lúa xuân - lúa mùa - cây vụ đông Những năm gần đây, nhu cầu sử dụng khoai tây thương phẩm ngày càng tăng do khoai tây được coi là sản phẩm sạch, người trồng khoai tây cũng có thu nhập cao hơn so với các loại cây trồng khác Thị trường tiêu dùng

Trang 14

hiện nay bao gồm khoai tây tươi cho chế biến trong gia đình và nhà hàng, cho chế biến trong nhà máy và xuất khẩu, góp phần thúc đẩy ngành công nghiệp chế biến phát triển Bên cạnh đó, khoai tây còn được dùng làm nguyên liệu thức ăn cho ngành chăn nuôi phát triển Cây khoai tây có vai trò rất to lớn trong việc cung cấp lương thực thế giới Theo báo cáo của Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên Hiệp Quốc (FAO), cây khoai tây có vai trò rất to lớn trong việc cung cấp lương thực trên thế giới, là loài cây trồng phổ biến thứ tư về mặt sản lượng tươi - xếp sau lúa, lúa mì và ngô, năm 2009 là 330 triệu tấn Trong đó chỉ hơn 2/3 là thức ăn trực tiếp của con người, còn lại thức ăn cho động vật và nguyên liệu sản xuất tinh bột Điều này cho thấy chế độ ăn hàng năm của mỗi công dân toàn cầu trung bình trong thập kỷ đầu của thế kỷ 21 là 33 kg khoai tây

+ Các yếu tố ảnh hưởng đến cây khoai tây Cây khoai tây cũng như một số

loại cây trồng khác trong năm, chịu ảnh hưởng bởi một số các yếu tố chủ yếu sau:

* Nhiệt độ Cây khoai tây là cây yêu cầu khí hậu mát mẻ và ôn hoà Mỗi một giai đoạn sinh trưởng và phát triển của cây chúng yêu cầu nhiệt độ khác nhau Nhiệt

độ thích hợp cho thân lá phát triển là 200C - 220C Nếu nhiệt độ xuống thấp dưới

70C, cây khoai tây ngừng sinh trưởng Ở thời kỳ hình thành và phát triển củ nhiệt độ cần đạt được từ 150C - 220C, nhiệt độ thích hợp nhất là từ 160C - 180C Trong điều kiện nhiệt độ cao, khoai tây thường kéo dài thời gian sinh trưởng và cho năng suất thấp (Đường Hồng Dật, 2004) [4]

* Ánh sáng Ánh sáng là yếu tố cần thiết cho cây quang hợp để tích luỹ vật chất Khoai tây là cây ưa ánh sáng, cường độ ánh sáng mạnh có lợi cho quá trình quang hợp của khoai tây, thúc đẩy tốt cho việc hình thành củ và tích luỹ hàm lượng chất khô Tuy nhiên, trong mỗi thời kỳ sinh trưởng và phát triển chúng yêu cầu ánh sáng khác nhau Thời kỳ mọc mầm khỏi mặt đất đến lúc cây có nụ hoa, khoai tây yêu cầu ánh sáng ngày dài sẽ có lợi cho sự phát triển thân lá và thúc đẩy mạnh quá trình quang hợp Đến thời kỳ hình thành tia củ chúng yêu cầu thời gian chiếu sáng ngắn (Đường Hồng Dật, 2004) [4]

Trang 15

* Nước Trong thời kỳ sinh trưởng phát triển khoai tây cần lượng nước lớn

và phải được cung cấp thường xuyên

Theo Ngô Đức Thiệu (1978) [7], giai đoạn từ khi trồng đến bắt đầu ra nụ hoa khoai tây yêu cầu 60% độ ẩm đồng ruộng, các giai đoạn sau chúng yêu cầu 80% và

sẽ cho năng suất cao nhất Trong điều kiện thiếu và thừa độ ẩm trong các giai đoạn trên thì rễ, thân, lá đều phát triển kém, củ ít, nhỏ chống chịu sâu bệnh kém dẫn đến năng suất thấp

* Đất trồng và dinh dưỡng Khoai tây có khả năng thích ứng với nhiều loại đất khác nhau trừ đất thịt nặng và đất sét ngập úng Đất có tầng canh tác dày và tơi xốp khả năng giữ nước và thông khí tốt là thích hợp nhất với khoai tây và sẽ cho năng suất cao nhất Đất có pH từ 5-7, nhưng thích hợp nhất là 6 - 6,5 Độ pH cao hơn có thể bị bệnh ghẻ trên củ cho năng suất thấp (Nguyễn Văn Bộ, 2004) [1]

Yếu tố dinh dưỡng như lân, đạm, kali có ảnh hưởng rất lớn đến quá trình sinh trưởng và phát triển của cây khoai tây

Theo Ngô Đức Thiệu (1978) [7], Đạm là nguyên tố cần thiết để hình thành

tế bào mới cấu tạo nên các bộ phận như rễ, thân, lá, củ Nếu bón không đấy đủ cây

sẽ kém phát triển năng suất thấp, nhưng nếu bón quá nhiều đạm sẽ ảnh hưởng không tốt đến sự sinh trưởng của cây làm mất cân đối giữa các bộ phận trên mặt đất và dưới mặt đất đồng thời tạo điều kiện cho bệnh phát triển

Đối với lân có vai trò đặc biệt quan trọng giúp tăng cường quá trình sinh trưởng thân lá, quá trình hình thành tia củ sớm tăng số lượng củ và tăng năng suất Lân cần trong giai đoạn đầu sinh trưởng của cây vì kích thích bộ rễ phát triển Thiếu lân sẽ làm cho cây phát triển không bình thường

Khoai tây cần nhiều kali hơn cả, nó có tác dụng làm tăng quá trình sinh trưởng, đặc biệt khả năng quang hợp và khả năng vận chuyển các chất về củ, tăng chất lượng củ, tăng khả năng chống chịu một số bệnh quan trọng trên củ

Trang 16

1.1.2 Một số khái niệm có liên quan

+ Sinh kế Hiện nay có rất nhiều định nghĩa khác nhau về sinh kế Theo một

số tác giả, sinh kế bao gồm năng lực tiềm tàng, tài sản (gồm các nguồn lực vật chất

và xã hội như: cửa hàng, nguồn tài nguyên, đất đai, nước mặt, đường xá,…) cùng

các hoạt động cần thiết làm phương tiện để kiếm sống của con người

Sinh kế là hoạt động kiếm sống của con người Một sinh kế được xem là bền vững khi nó phải phát huy được tiềm năng con người để từ đó sản xuất và duy trì phương tiện kiếm sống của họ Nó phải có khả năng đương đầu và vượt qua áp lực cũng như các thay đổi bất ngờ Sinh kế bền vững không được khai thác hoặc gây bất lợi cho môi trường hoặc cho các sinh kế khác ở hiện tại và tương lai Trên thực tế thì nó nên thúc đẩy sự hòa hợp giữa chúng và mang lại những điều tốt đẹp cho tương lai Sinh kế bền vững, nếu theo nghĩa này, phải hội đủ những nguyên tắc sau: Lấy con người làm trung tâm, dễ tiếp cận, có sự tham gia của người dân, xây dựng dựa trên sức mạnh con người và đối phó với các khả năng dễ bị tổn thương, tổng thể, thực hiện ở nhiều cấp, trong mối quan hệ với đối tác, bền vững và năng động

Về cơ bản, các loại vốn sinh kế có 5 loại cơ bản là: vốn vật chất, vốn tài chính, vốn xã hội, vốn con người và vốn tự nhiên Sinh kế bền vững của đồng bào dân tộc thiểu số là sinh kế có thể đương đầu với khủng hoảng và phục hồi sau khủng hoảng, duy trì hoặc nâng cao năng lực, tài sản và cung cấp những cơ hội sinh kế bền vững cho những thế hệ tương lai của họ và đóng góp lợi ích lâu dài cho những nghề nghiệp khác ở các cấp địa phương, quốc gia trong một thời gian ngắn và dài hạn (Ngô Quang Sơn, 2014) [6]

Như vậy, phương pháp tiếp cận sinh kế là một trong các phương pháp tiếp cận mới trong phát triển nông thôn nhằm không chỉ nâng cao mọi mặt đời sống của hộ gia đình mà còn phát triển nông nghiệp, nông thôn bền vững và hiệu quả Ta thấy sinh kế bao gồm toàn bộ những hoạt động của con người để đạt được mục tiêu dựa trên những nguồn lực sẵn có của con người như các nguồn tài nguyên thiên nhiên, vốn, lao động, trình độ phát triển của khoa học công nghệ

Trang 17

+ Kinh tế nông hộ Trong từ điển ngôn ngữ của Mỹ (Oxford Press - 1987), có

nghĩa “Hộ là tất cả những người cùng sống chung trong một mái nhà Nhóm người

đó bao gồm những người cùng chung huyết tộc và những người làm ăn chung”

(English Dictionary, 1964) [13]

Theo Frank Ellis (1988) [14]., Kinh tế nông hộ là kinh tế của những hộ gia đình có quyền sinh sống trên các mảnh đất đai, sử dụng chủ yếu sức lao động gia đình Sản xuất của họ thường nằm trong hệ thống sản xuất lớn hơn và tham gia ở mức độ không hoàn hảo vào hoạt động của thị trường

Kinh tế nông hộ có các đặc điểm cơ bản sau:

- Kinh tế nông hộ là hình thức kinh tế có quy mô gia đình, các thành viên có mối quan hệ gắn bó với nhau về kinh tế cũng như huyết thống Về mức độ phát triển có thể trải qua các hình thức: kinh tế hộ sinh tồn, kinh tế hộ tự túc tự cấp và kinh tế hộ sản xuất hàng hoá

- Đất đai là tư liệu sản xuất quan trọng nhất không thể thiếu của sản xuất kinh tế hộ nông dân

- Người nông dân là người chủ thật sự của quá trình sản xuất trực tiếp tác động vào sinh trưởng, phát triển của cây trồng vật nuôi, không qua khâu trung gian,

họ làm việc không kể giờ giấc và bám sát vào tư liệu sản xuất của họ

- Kinh tế nông hộ có cấu trúc lao động đa dạng, phức tạp, trong một hộ có nhiều loại lao động vì vậy chủ hộ vừa có khả năng trực tiếp điều hành, quản lý tất cả các khâu trong sản xuất, vừa có khả năng tham gia trực tiếp quá trình đó

- Do có tính thống nhất giữa lao động quản lý và lao động sản xuất nên kinh

tế hộ nông dân giảm tối đa chi phí sản xuất và nó tác động trực tiếp lên lao động trong hộ nên có tính tự giác để nâng cao hiệu quả và năng suất lao động

Như vậy, kinh tế nông hộ: Là hình thức tổ chức kinh tế cơ sở của xã hội, trong đó các nguồn lực như đất đai, tiền vốn và tư liệu sản xuất được coi là của chung để tiến hành sản xuất Có chung ngân quỹ, ngủ chung một nhà, ăn chung, mọi quyết định trong sản xuất kinh doanh và đời sống tuỳ thuộc vào chủ hộ, được

Trang 18

Nhà nước thừa nhận, hỗ trợ và tạo điều kiện phát triển Kinh tế hộ nông dân là kinh

tế của những hộ gia đình có quyền sinh sống trên các mảnh đất đai, sử dụng chủ yếu sức lao động gia đình Sản xuất của họ thường nằm trong hệ thống sản xuất lớn hơn

và tham gia ở mức độ không hoàn toàn vào hoạt động của thị trường

1.2 Cơ sở thực tiễn

1.2.1 Tình hình sản xuất khoai tây ở một số nước trên thế giới

Vào thế kỷ XVI người Tây Ba Nha đến Nam Mỹ và đã tìm thấy cây khoai tây ở thung lũng Ander, và sau đó cây khoai tây được đưa từ Peru về Châu Âu Vài thế kỷ sau đó nó trở thành thức ăn hàng ngày của người Châu Âu Theo kết quả thống kê mới nhất của FAO (2016) cho ta thấy, diện tích trồng khoai tây của Châu Á là châu lục đứng đầu với hơn 9,9 triệu ha chiếm hơn nửa tổng diện tích trồng khoai tây trên thế giới, nhưng năng suất khoai tây của Châu Á không cao 18,9 tấn/ha Trong khi đó Châu Úc là châu lục có diện tích sản xuất và sản lượng khoai tây nhỏ nhất trên thế giới với diện tích hơn 38 nghìn ha; sản lượng

là 1,6 triệu tấn, nhưng lại có năng suất cao nhất thế giới, đạt 41,6 tấn/ha, cao gấp 2,2 lần Châu Á và 2,07 lần thế giới Dưới đây là bảng thống kê diện tích, năng suất và sản lượng khoai tây của các khu vực năm 2016 trên thế giới

Bảng 1.2: Diện tích, sản lượng và năng suất khoai tây

trên thế giới năm 2016

(Nguồn: FAO, 2016 [15].)

Trang 19

Diện tích trồng khoai tây sau Châu Á là Châu Âu có tổng diện tích là hơn 5,6 triệu ha với sản lượng 122,6 triệu tấn và năng suất bình quân là 21,8 tấn/ha

Đứng thứ 3 là Châu Phi với gần 2 triệu ha có năng suất bình quân là 14,9 tấn/ha thấp nhất thế giới

Đứng thứ 4 là Châu Mỹ hơn 1,6 triệu ha với tổng sản lượng là 42,6 triệu tấn

và năng suất là 26,6 tấn/ha, năng suất cao đứng sau Châu Úc

Cây khoai tây là cây trồng chủ lực của Châu Âu, nơi sản xuất khoai tây bình quân đầu người lớn nhất Nhưng việc mở rộng diện tích trồng khoai tây lại phát triển mạnh ở Nam Á và Đông Á trong vài thập kỷ qua Trung Quốc hiện là nước sản xuất khoai tây lớn nhất thế giới, gần 1/3 sản lượng khoai tây được thu hoạch ở Trung Quốc và Ấn Độ

Bảng 1.3: Một số quốc gia sản xuất khoai nhiều nhất trên thế giới năm 2016

Trang 20

Qua bảng 1.3 cho thấy, năm 2016 tổng sản lượng khoai tây của Trung Quốc đạt trên 87 triệu tấn, là quốc gia thu được sản lượng khoai tây lớn nhất trên thế giới Sau Trung Quốc là Ấn Độ với sản lượng hơn 41 triệu tấn Lần lượt tới các nước: Liên Bang Nga, Ukraine, Hoa Kỳ, CHLB Đức, Bangladesh, Ba Lan, Hà Lan và đứng thứ 10 là Pháp

1.2.2 Tình hình sản xuất khoai tây ở một số địa phương trong nước

Khoai tây không phải là cây bản địa nhưng đã được trồng ở Việt Nam từ hơn

100 năm nay, do người Pháp đưa vào Cây khoai tây được trồng chủ yếu ở Đồng bằng Sông Hồng, là loại cây trồng có thời gian sinh trưởng ngắn, nhưng lại cho

năng suất cao, sản phẩm dễ tiêu thụ (Đường Hồng Dật, 2004) [4]

Theo tác giả Đỗ Kim Chung (2006) [2]: Khí hậu nhiệt đới của Việt Nam là một điểm không mấy phù hợp cho sản xuất cây khoai tây và phần nhiều các vùng không hề thuận lợi cho việc trồng khoai tây Phần lớn khoai tây được sản xuất ở vùng Đồng bằng sông Hồng Ở đây khoai tây được trồng chủ yếu vào các tháng mùa đông Tất cả các tỉnh miền Bắc đều có vùng sản xuất khoai tây Nhưng từ

Hà Tĩnh trở vào Nam, khoai tây chỉ được trồng ở Lâm Đồng nơi có khí hậu ôn hoà nhờ độ cao đáng kể so với mực nước biển nên khoai tây có thể được trồng quanh năm Khoai có thể trồng được ba vụ trong năm ở Lâm Đồng Nhìn chung, thực trạng sản xuất khoai tây ở trong nước luôn biến động và phát triển theo nhiều giai đoạn, chưa phản ánh đúng với tiềm năng mà chúng ta có, cụ thể từng giai đoạn sau:

Giai đoạn 1971 - 1979, cây khoai tây được coi là cây lương thực, diện tích khoai tây tăng nhanh từ vài nghìn ha quanh các thành phố lớn và năm 1979, diện tích cao nhất đã đạt 104.600 ha Tuy nhiên, năng suất khoai tây bình quân còn ở mức độ thấp khoảng 7 - 10 tấn/ha Sản lượng khoai tây giao động từ 45.100 đến 721.100 tấn/năm

Giai đoạn 1980 - 2000, cây khoai tây không chỉ là cây trồng quan trọng trong

cơ cấu luân canh vụ Đông, mà còn được coi là cây thực phẩm có giá trị kinh tế cao Tuy nhiên, năm 1985 diện tích khoai tây giảm mạnh, chỉ còn 23.600 ha và đến năm

Trang 21

1990 diện tích khoai tây lại tăng lên gần 40.000 ha Năng suất khoai tây thời kỳ này cũng tăng lên nhanh chóng, đạt trung bình 12 tấn/ha, thâm canh tốt có thể đạt 15 tấn/ha Sản lượng khoai tây từ 342.100 - 576.000 tấn/năm

Giai đoạn từ năm 2000 đến nay, diện tích khoai tây tăng dần và giữ ở mức 30.000 - 35.000 ha Thời kỳ đầu, nguồn giống chủ yếu được nhập từ Trung Quốc, tuy giá thành rẻ nhưng chất lượng giống kém, sâu bệnh nhiều, nên năng suất thấp, bình quân đạt 10 - 12 tấn/ha Do giống nhập không chủ động được nên diện tích và thời vụ trồng bấp bênh

Nếu so sánh năng suất khoai tây của nước ta thì chỉ bằng khoảng 62% năng suất bình quân chung của thế giới, bằng 51,3 % năng suất của Châu Âu Có nhiều nguyên nhân làm cho diện tích trồng khoai tây ở nước ta bị giảm, năng suất thấp, đó

là sử dụng giống không đảm bảo chất lượng, củ giống đã thoái hóa, điều kiện bảo quản giống kém, kỹ thuật canh tác chưa hoàn thiện, trong khi đầu tư sản xuất khoai tây lại cao, đặc biệt là chi phí giống và phân bón dẫn đến hiệu quả sản xuất thấp

1.2.3 Tình hình sản xuất khoai tây tại tỉnh Bắc Ninh

Bắc Ninh là một tỉnh nằm ở vùng Đồng bằng sông Hồng, liền kề với thủ đô

Hà Nội, thuộc vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ Đây là điều kiện thuận lợi trong quá trình giao thương, phát triển kinh tế - xã hội Trong những năm gần đây, với chủ trương phát triển cây vụ đông của tỉnh đã đưa thời vụ sản xuất cây vụ đông trở thành một trong ba vụ sản xuất chính trong năm (lúa chiêm - lúa mùa - cây vụ đông)

và chú trọng đưa cây có giá trị kinh tế cao vào sản xuất như khoai tây và một số loại rau Cây khoai tây là cây chủ lực trong vụ đông của tỉnh Bởi cây khoai tây không yêu cầu thời vụ khắt khe, dễ canh tác, cho hiệu quả kinh tế cao, tăng thu nhập cho người dân

Tỉnh Bắc Ninh có khí hậu nhiệt đới gió mùa, có mùa đông lạnh, rất phù hợp với cây khoai tây sinh trưởng và phát triển Vì vậy, khoai tây được trồng ở tất cả các huyện trong tỉnh

Trang 22

Bảng 1.4: Tình hình sản xuất khoai tây tại Bắc Ninh

(Nguồn: Cục thống kê tỉnh Bắc Ninh, 2010 - 2016) [9]

Qua bảng 1.4 cho thấy, diện tích trồng cây khoai tây của tỉnh Bắc Ninh trong những năm gần đây tăng giảm không ổn định Năm 2011, diện tích trồng khoai tây giảm mạnh do nguồn cung ứng giống không đáp ứng được yêu cầu sản xuất, chất lượng giống thấp Rất nhiều khoai thương phẩm được đưa ra xử lý để trở thành khoai giống, do vậy năng suất khoai thấp, sâu bệnh hại phát triển mạnh, trong khi đó đầu ra không ổn định Nhưng, từ năm 2012 đến nay tỉnh đã mạnh dạn đưa một số giống khoai tây có năng suất, chất lượng cao vào sản xuất như giống Atlantic, Solara, Marabel, Daimant, KT2 và có chính sách trợ giá giống, hỗ trợ công chỉ đạo sản xuất nên diện tích trồng khoai tây tăng trở lại và đạt 2.213 ha vào năm 2016 Bên cạnh đó, một bộ phận người trồng khoai tây không phải lo lắng về đầu ra bởi công ty trách nhiệm hữu hạn (TNHH) Orion đặt tại huyện Yên Phong đã bao tiêu toàn bộ khoai tây thương phẩm giống Atlantic (chiếm 35% sản lượng khoai tây của tỉnh) cho người dân Còn những giống khác thì tiêu thụ tại các thị trường trong và ngoài tỉnh Có những thời điểm người nông dân thu hoạch đến đâu có thương lái đến tận nhà thu mua với giá thành khá cao, đã tạo tâm lý cho người trồng khoai tây yên tâm sản xuất

Trang 23

Về năng suất khoai tây: Năm 2010 năng suất đạt 140,3 tạ/ha đến năm 2016 tăng lên 163 tạ/ha Năng suất khoai tây tăng là do tỉnh đã đưa nguồn giống chất lượng cao nhập khẩu từ Mỹ, Hà Lan vào sản xuất như giống Atlantic, Solara, Marabel thay thế một số giống cho năng suất thấp như những giống địa phương, giống khoai tây nhập từ Trung Quốc không rõ nguồn gốc

Nhìn chung, diện tích, năng suất và sản lượng khoai tây của tỉnh Bắc Ninh cũng chưa thực sự ổn định Bởi nguồn giống chất lượng cao còn thiếu, giá giống cao, nhiều người dân tự để khoai thịt làm giống, do vậy chất lượng giống thấp dẫn đến năng suất thấp, Bên cạnh đó, do quy trình kỹ thuật chưa đảm bảo, tác động của các điều kiện ngoại cảnh không thuận lợi làm cho năng suất khoai tây chưa cao

Trang 24

Chương 2 ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

2.1.1 Đối tượng nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu: Những vấn đề lý luận và thực tiễn về vai trò, đóng

góp của cây khoai tây trong sinh kế và kinh tế nông hộ

- Đối tượng khảo sát: Hộ nông dân sản xuất khoai tây, hộ thu gom, hộ chế

biến và sử dụng khoai tây thành phẩm trên địa bàn nghiên cứu cùng với các thành viên thị trường khác trong chuỗi giá trị khoai tây trên địa bàn nghiên cứu

2.1.2 Phạm vi nghiên cứu

- Phạm vi về nội dung:

+ Vai trò của cây khoai tây trong sinh kế và kinh tế nông hộ tại địa bàn nghiên cứu

+ Thực trạng sản xuất và thị trường tiêu thụ khoai tây tại huyện Quế Võ

+ Những thuận lợi, khó khăn trong phát triển sản xuất khoai tây

+ Giải pháp phát triển sản xuất và thị trường tiêu thụ khoai tây, cải thiện sinh kế theo hướng bền vững và góp phần phát triển kinh tế nông hộ tại địa bàn nghiên cứu

- Phạm vi về thời gian: Thời gian thu thập thông tin giai đoạn 2014 - 2016,

đề xuất một số giải pháp cho những năm tiếp theo

- Phạm vi về không gian: Đề tài tập trung nghiên cứu tại 3 xã đại diện của huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh là Việt Hùng, Phù Lương và Mộ Đạo Mô tả lý do lựa chọn 3 xã này sẽ được trình bày ở mục tiếp theo

Trang 25

2.2 Nội dung nghiên cứu

2.2.1 Vai trò của cây khoai tây trong sinh kế và kinh tế nông hộ tại địa bàn nghiên cứu

- Cây khoai tây trong cơ cấu cây trồng và sinh kế nông hộ

- Thu nhập của cây khoai tây và đóng góp của cây khoai tây về kinh tế đối với kinh tế nông hộ (kết quả, hiệu quả trong sản xuất cây khoai tây)

2.2.2 Thực trạng sản xuất và thị trường tiêu thụ khoai tây tại huyện Quế Võ

- Thực trạng tổ chức sản xuất

- Thực trạng phát triển diện tích, năng suất và sản lượng

- Thực trạng cơ cấu giống

- Thực trạng kỹ thuật sản xuất canh tác

+ Đối với nông hộ sản xuất khoai tây

+ Giải pháp về kỹ thuật sản xuất

+ Giải pháp về thị trường tiêu thụ

Trang 26

2.3 Tiếp cận và phương pháp nghiên cứu

2.3.1 Tiếp cận nghiên cứu

- Tiếp cận vĩ mô: Huyện, xã

- Tiếp cận vi mô: Điều tra khảo sát nông hộ bằng phiếu điều tra đã chuẩn bị trước và phỏng vấn bán cấu trúc với người cung cấp thông tin chính

2.3.2 Phương pháp nghiên cứu

2.3.2.1 Thu thập số liệu thứ cấp

Thu thập thông tin số liệu từ các báo cáo, tài liệu của các ngành, phòng ban

(Phòng TN&MT, Phòng NN&PTNT, Trạm khuyến nông huyện, Chi cục thống kê huyện.…)

2.3.2.2 Thu thập số liệu sơ cấp

a Phương pháp chọn địa điểm và mẫu nghiên cứu

Chọn địa điểm nghiên cứu là vấn đề quan trọng, bởi vì địa điểm nghiên cứu ảnh hưởng khách quan tới kết quả phân tích và mang tính đại diện cho toàn bộ địa bàn nghiên cứu và đối tượng nghiên cứu Trên cơ sở đã lựa chọn được địa điểm nghiên cứu

đề tài tiến hành lựa chọn mẫu nghiên cứu và tính số lượng mẫu nghiên cứu phù hợp

* Chọn điểm nghiên cứu

Chọn xã nghiên cứu: để đảm bảo tính khách quan của tài liệu điều tra, trước khi chọn hộ, tác giả chọn 3 xã sau đây để điều tra sản xuất khoai tây:

- Xã Việt Hùng, là một xã có vị trí địa lý gần trung tâm huyện lỵ, có quốc lộ

18 chạy qua, điều kiện đồng đất và cơ sở hạ tầng thuận lợi cho việc sản xuất và tiêu thụ khoai tây tại địa bàn nghiên cứu

- Xã Phù Lương, là một xã nằm ở phía Đông của huyện, xa khu trung tâm huyện lỵ, là một xã có điều kiện sản xuất và tiêu thụ khoai tây khó khăn

- Xã Mộ Đạo thuộc phía Tây của huyện, có điều kiện phát triển kinh tế - xã hội trung bình khá

Trang 27

Tại các địa điểm đó lập danh sách chọn các mẫu nghiên cứu, đề tài chọn mẫu theo hệ thống

* Chọn mẫu nghiên cứu

Hộ điều tra phụ thuộc vào số xã điều tra và số hộ trồng khoai tây tại các xã Theo đó, trung bình mỗi xã điều tra 45 hộ, nên qua cách tính cỡ mẫu điều tra trên tác giả lựa chọn số mẫu điều tra về hộ sản xuất khoai tây của luận văn là 3 xã x 45 hộ/xã = 135 hộ, là độ lớn của mẫu điều tra hộ sản xuất khoai tây

Chọn mẫu nghiên cứu là các hộ trồng cây khoai tây, hộ được lựa chọn đại

diện ở các đối tượng sản xuất khoai tây trọng điểm của huyện đang được đầu tư phát triển mạnh mẽ, đồng thời các hộ sản xuất và các trung gian phân phối sẽ được điều tra ở các thôn, khu, xã khác nhau trên địa bàn huyện Quế Võ đảm bảo đại diện được tính toàn diện của địa bàn huyện Mẫu chọn ra vừa đảm bảo tính đại diện từng đối tượng nghiên cứu, cho từng vùng, vừa đại diện và suy rộng được cho cả huyện

Có 3 xã trên đây được lựa chọn để điều tra

b Phương pháp điều tra phỏng vấn bằng phiếu điều tra đã chuẩn bị trước đối với

hộ sản xuất cây khoai tây

- Mục tiêu của hoạt động điều tra: Mục tiêu của hoạt động điều tra nhằm thu thập chính xác các thông tin về sự ảnh hưởng của các yếu tố bên trong và bên ngoài đến việc phát triển khoai tây và vai trò của khoai tây trong sinh kế nông hộ Đặc biệt, hoạt động điều tra trực tiếp với các bộ phận thực hiện các dự án đầu tư trọng điểm của huyện Quế Võ

- Phương pháp điều tra: Đầu tiên, tác giả xây dựng phương án điều tra dựa vào danh sách các hộ sản xuất, các tác nhân đã được chọn trước cùng với phiếu điều tra đã chuẩn bị kỹ lưỡng để bắt đầu cuộc điều tra đã được thống nhất trước và trong khi điều tra như: Mục đích điều tra; nội dung điều tra; phạm vi, đơn vị và đối tượng điều tra; thời điểm, thời gian điều tra; phương pháp điều tra; lực lượng tiến hành điều tra; kinh phí và các điều kiện vật chất đảm bảo thực hiện; trách nhiệm của các

cá nhân liên quan; tổng hợp, phân tích và công bố kết quả điều tra

Trang 28

Sau đó căn cứ vào đối tượng và mục đích nghiên cứu, tác giả chọn mẫu theo hệ thống đã xác định Tác giả tính toán cân đối lượng mẫu điều tra theo tỷ lệ phù hợp với loại hình sản xuất và quy mô tình trạng sản xuất khoai tây của huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh

Việc thiết kế phiếu điều tra được tác giả tham khảo qua nhiều công trình nghiên cứu, điều tra về kinh tế hộ nông dân và các cán bộ thống kê ở địa phương, nhằm thu thập hệ thống thông tin một cách đầy đủ, phản ánh tương đối toàn diện về thực trạng sản xuất, thị trường và phát triển sản xuất khoai tây

Sau khi thiết kế phiếu điều tra, tác giả tổ chức tập huấn điều tra gồm các nội dung: Giới thiệu phương án điều tra; giới thiệu, giải thích mẫu phiếu điều tra và phương pháp ghi mã; giới thiệu nội dung, kỹ thuật tổng hợp nhanh kết quả điều tra

- Nội dung phiếu điều tra: Phiếu điều tra có các thông tin chủ yếu như: Tên

chủ hộ, địa chỉ, tuổi, trình độ văn hóa của chủ hộ, số lao động của hộ, khoai tây trong sinh kế (cơ cấu cây trồng, cơ cấu thu nhập về cây trồng) và kinh tế (thu nhập

từ cây khoai tây), người cung cấp thông tin, hình thức tuyên truyền, cung cấp thông tin áp dụng công nghệ trong việc phát triển sản xuất cây khoai tây, các biện pháp kỹ thuật sản xuất khoai tây trên địa bàn nghiên cứu Để phản ánh đầy đủ những thông tin sản xuất khoai tây của hộ như: diện tích trồng khoai tây và diện tích các cây trồng khác, thu nhập từ khoai tây và thu nhập từ các cây trồng khác, chi phí sản xuất khoai tây, đất đai, lao động, giá trị sản xuất của hộ, văn hóa của chủ hộ, được tập hợp theo phiếu điều tra rồi tổng hợp thành bảng số liệu cơ bản để phân tích

c Phương pháp phỏng vấn bán cấu trúc với những người cung cấp thông tin chính

Những người cung cấp thông tin chính gồm: đại lý cung cấp dịch vụ đầu vào (giống, phân bón, vật tư khác,…), hộ thu gom, tư thương, doanh nghiệp chế biến, cán bộ quản lý và chuyên viên một số ban, ngành, địa phương liên quan đến việc phát triển cây khoai tây Thông qua phương pháp này sẽ thu thập các ý kiến đánh giá nhận xét của các chuyên gia, những người am hiểu vấn đề nghiên cứu Sử dụng các bảng kiểm kê để thu thập thông tin phục vụ cho nghiên cứu của đề tài

Trang 29

Để thực hiện được phương pháp này cần phát triển những bảng kiểm kê, liệt

kê những thông tin cần thu thập để phỏng vấn bán cấu trúc với những người cung cấp thông tin được đề cập trên đây Nội dung các thông tin được trình bày ở mục tiếp sau

d Phương pháp quan sát trực tiếp Nhằm xác nhận những hệ thống sản xuất, hệ

thống thị trường tiêu thụ khoai tây

2.3.3 Phương pháp phân tích, xử lý thông tin, số liệu

Sau đây là một số phương pháp phân tích, xử lý thông tin, số liệu mà đề tài nghiên cứu sử dụng:

- Phương pháp thống kê: Phương pháp này dùng để giải quyết mục tiêu số một và hai của đề tài nhằm hệ thống hóa mặt lý luận cũng như phân tích thực trạng phát triển cây khoai tây tại huyện Quế Võ một cách có hệ thống Phương pháp thống kê được sử dụng trong đề tài nhằm biểu hiện các số liệu thống kê một cách có

hệ thống, lôgíc giúp mô tả cụ thể, rõ ràng các đặc trưng về mặt lượng của các hiện tượng trong việc phát triển cây khoai tây Phương pháp này nhằm chủ yếu giải quyết mục tiêu thứ hai của đề tài là phân tích thực trạng sản xuất- tiêu thụ và phát triển cây khoai tây tại địa phương

- Phương pháp so sánh: Dùng so sánh sự biến động về các điều kiện kinh tế-

xã hội của địa bàn nghiên cứu qua các năm So sánh kết quả và hiệu quả sản xuất của các hộ qua các năm, giữa các nhóm hộ trong cùng một thời điểm và điều kiện sản xuất để rút ra kết luận Các chỉ tiêu phân tích biến động của diện tích, năng suất, sản lượng và hiệu quả của cây khoai tây, qua sự biến động

của dãy số theo thời gian

2.4 Hệ thống các chỉ tiêu nghiên cứu

- Nhóm chỉ tiêu đánh giá về khoai tây trong sinh kế nông hộ: Số hộ trồng khoai tây, tỷ lệ hộ trồng khoai tây, diện tích khoai tây và diện tích các cây trồng khác, thu nhập về khoai tây và thu nhập về các cây trồng khác của hộ, phi nông nghiệp,

Trang 30

- Nhóm chỉ tiêu về đặc điểm, nguồn lực và hình thức tổ chức sản xuất khoai tây: + Đặc điểm và hệ thống sản xuất khoai tây: Hệ thống cây trồng, công thức luân canh, đất đai, mùa vụ, giống,

+ Nguồn lực cho sản xuất khoai tây: đất đai, lao động, vốn, khoa học kỹ thuật, thâm canh,

+ Hình thức tổ chức sản xuất khoai tây: hộ gia đình, tổ nhóm, hợp tác xã,

- Nhóm chỉ tiêu về kết quả sản xuất khoai tây: Diện tích, năng suất, sản lượng, giá trị sản xuất, chi phí sản xuất, chi phí trung gian (IC), giá trị tăng thêm (VA), thu nhập hỗn hợp (MI),

- Nhóm chỉ tiêu về chuỗi giá trị và thị trường tiêu thụ sản phẩm khoai tây: Chuỗi giá trị, kênh tiêu thụ Đại lý cung cấp dịch vụ đầu vào, trung gian thị trường (hộ thu gom, đại lý, ), người tiêu dùng cuối cùng (khu công nghiệp, cơ sở chế biến khoai tây, người bán lẻ, ),

- Chỉ tiêu về hiệu quả sản xuất khoai tây:

• Tỷ suất giá trị sản xuất theo chi phí (TGO)

• Tỷ suất giá trị tăng thêm theo chi phí (TVA)

• Tỷ suất thu nhập hỗn hợp theo chí phí (TMI)

• Tỷ suất giữa thu nhập hỗn hợp bình quân trên 1 công lao động

Trang 31

Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 3.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu

3.1.1 Đặc điểm tự nhiên

Huyện Quế Võ nằm ở phía Đông của tỉnh Bắc Ninh, cách trung tâm hành chính tỉnh Bắc Ninh 10km, cách thủ đô Hà Nội 40 km về phía Tây Nam, có vị trí tiếp giáp với các huyện sau:

Phía Bắc giáp Sông Cầu, qua sông là huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang;

Phía Nam giáp Sông Đuống, qua sông là các huyện Gia Bình, huyện Lương Tài, tỉnh Bắc Ninh;

Phía Đông giáp huyện Chí Linh, tỉnh Hải Dương;

Phía Tây giáp huyện Tiên Du, thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh;

Địa bàn huyện có quốc lộ 18 chạy qua là cầu nối phát triển kinh tế - xã hội của vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ gồm: Hà Nội, Hải Phòng, Quảng Ninh, Hải Dương và Bắc Ninh Mặt khác, huyện Quế Võ gần thành phố Hà Nội và thành phố Bắc Ninh đây là những thị trường rộng lớn, đồng thời cũng là nơi cung cấp thông tin, chuyển giao công nghệ và tiếp thị thuận lợi các sản phẩm hàng hoá đối với mọi miền đất nước và cũng là thị trường tiêu thụ trực tiếp các mặt hàng nông sản, hàng thủ công mỹ nghệ truyền thống

Với vị trí địa lý thuận lợi như vậy huyện Quế Võ có đủ điều kiện để giữ vững

an ninh, phát huy tiềm năng đất đai sẵn có, cũng như các nguồn lực khác, tạo điều kiện để phát triển kinh tế - xã hội, hòa nhập với nền kinh tế thị trường

Do nằm trong vùng đồng bằng châu thổ Sông Hồng nên địa hình Quế Võ tương đối bằng phẳng Hầu hết diện tích đất trong huyện đều có độ dốc < 30 Địa hình vùng đồng bằng có xu thế nghiêng ra biển theo hưởng Tây Bắc - Đông Nam

Độ chênh cao so với mặt nước biển trung bình từ 3 - 5 m

Trang 32

Nhìn chung địa hình của huyện thuận lợi cho việc phát triển mạng lưới giao thông, thuỷ lợi, xây dựng cơ sở hạ tầng, mở rộng mạng lưới khu dân cư, các khu công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và kiến thiết đồng ruộng tạo ra những vùng chuyên canh lúa, rau màu chất lượng cao và cây công nghiệp ngắn ngày

Đặc điểm địa chất của huyện Quế Võ tương đối đồng nhất do nằm gọn trong vùng đồng bằng châu thổ Sông Hồng nên Quế Võ mang những nét đặc trưng của cấu trúc địa chất sụt trũng sông Hồng

Huyện Quế Võ có chế độ thuỷ văn thuộc hệ thống lưu vực Sông Thái Bình

và Sông Hồng, nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa: nóng ẩm, mưa nhiều, chịu ảnh hưởng trực tiếp của gió mùa Thời tiết trong năm chia làm 2 mùa rõ rệt: mùa mưa và mùa khô Mùa mưa thường từ tháng 4 đến tháng 10, lượng mưa trung bình từ 100mm - 312mm và thường phân bố không đều trong năm, vào mùa mưa lượng mưa chiếm khoảng 80% tổng lượng mưa cả năm Nhiệt độ bình quân tháng 23,7 - 29,10C Mùa khô thường từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau, nhiệt độ trung bình từ 16 - 210C, lượng mưa/tháng biến động từ 20 - 56mm

Nhìn chung huyện Quế Võ có điều kiện khí hậu thuận lợi thích hợp với nhiều loại cây trồng, phát triển nền nông nghiệp đa dạng và phong phú Mùa đông có thể trồng nhiều loại cây hoa màu ngắn ngày có giá trị kinh tế cao Tuy nhiên, cũng cần phải chú ý đến các hiện lượng bất lợi gây khó khăn cho việc thâm canh tăng vụ và

mở rộng diện tích gieo trồng như nắng nóng, lạnh, khô hạn và lượng mưa phân bố không đều giữa các mùa trong năm

3.1.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội

Tổng diện tích tự nhiên là 15.484,82 ha, diện tích đất sản xuất nông nghiệp là 8.291,06 ha, trong đó diện tích trồng cây hàng năm là 8.267,85 ha (năm 2016)

Kết quả kinh tế - xã hội của huyện Thực hiện đường lối đổi mới của Đảng và

thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ huyện Quế Võ khoá XVII, đến nay nhiều chỉ tiêu kinh tế phát triển khá, nhất là lĩnh vực sản xuất nông nghiệp, công nghiệp, dịch

vụ bước đầu đã có sự phát triển Năng suất, chất lượng sản phẩm từng bước được

Trang 33

nâng lên Năm 2016, tốc độ tăng trưởng bình quân là 12,75%, tăng 0,25% so với kế hoạch, trong đó: nông, lâm, ngư nghiệp, thương mại dịch vụ tăng 15,7% Cơ cấu kinh tế tiếp tục chuyển biến tích cực: nông nghiệp chiếm 10,26%; công nghiệp, xây dựng cơ bản chiếm 61,09%; thương mại, dịch vụ 28,65% Thu nhập bình quân/người/năm là 32,5 triệu đồng Tỷ lệ hộ nghèo giảm còn 2,46% Tỷ lệ tăng dân

số tự nhiên 1,24%, giảm 0,1%

- Văn hoá xã hội: Sự nghiệp văn hoá tiếp tục có bước phát triển, đẩy mạnh

công tác tuyên truyền việc thực hiện các nhiệm vụ chính trị của địa phương, gắn với thực hiện Chỉ thị số 03/2011 của Bộ Chính trị về “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”, trong cán bộ, đảng viên và nhân dân

- Giáo dục: Huyện đã phát triển giáo dục theo hướng đa dạng hoá các loại

hình đào tạo, từng bước xã hội hoá giáo dục; qui mô, chất lượng ở các ngành học, bậc học từng bước được nâng lên Đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục và giáo viên được tăng cường cả về số lượng và chất lượng Cơ sở vật chất phục vụ cho dạy và học được quan tâm, đầu tư tỷ lệ phòng học kiên cố chiếm 95,87% Toàn huyện có 41/52 trường đạt chuẩn Quốc gia

- Y tế: Huyện có một Trung tâm y tế với trên 80 giường bệnh; 21 xã, thị trấn

có Trạm y tế; 100% xã, thị trấn đạt chuẩn Quốc gia về y tế Công tác khám chữa bệnh ban đầu tại các cơ sở y tế cơ bản đáp ứng được yêu cầu Công tác chăm sóc

sức khoẻ luôn được quan tâm, tỷ lệ trẻ em suy dinh dưỡng hàng năm đều giảm

- Cơ sở hạ tầng: Huyện Quế Võ có Quốc lộ 18 chạy với chiều dài 22km là

cầu nối phát triển kinh tế - xã hội giữa huyện với các tỉnh của vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ như: Hà Nội, Hải Phòng, Quảng Ninh, Hải Dương, cùng với hệ thống các đường tỉnh lộ, trục đường liên thôn, liên xã của huyện tạo cơ hội điều kiện giao lưu, phát triển kinh tế - xã hội của các địa phương trong tỉnh, trong huyện Trên địa bàn huyện còn có ba hệ thống kênh chính: kênh Tào Khê, kênh Hiền Lương 4 và kênh Hiền Lương 6 Bên cạnh đó, còn có các hệ thống kênh cấp I, cấp

II và cấp III được phân bố khắp địa bàn, nguồn nước dồi dào, hệ thống đường giao

Trang 34

thông nội đồng đã được đầu tư cải tạo, nâng cấp để phục vụ tưới tiêu cho sản xuất

và đời sống của nhân dân

3.2 Vai trò của khoai tây trong sinh kế và kinh tế nông hộ tại huyện Quế Võ

3.2.1 Cây khoai tây trong cơ cấu cây trồng và sinh kế nông hộ

Trong công thức luân canh các loại cây trồng chủ yếu trong năm: lúa chiêm - lúa mùa - cây màu vụ đông, trong các cây màu vụ đông được người dân rất quan tâm đưa vào sản xuất các loại cây trồng có giá trị kinh tế cao, dễ bố trí thời vụ

Theo kết quả điều tra năm 2016 các hộ chủ yếu tập trung diện tích để sản xuất khoai tây

Bảng 3.1: Cơ cấu các loại cây rau màu của nông hộ

Đơn vị tính: Tỷ lệ % /tổng diện tích gieo trồng

Việt Hùng

Xã Phù Lương

Mộ Đạo

BQ chung

6 Cây rau màu khác 8,6 8,3 6,1 7,8

(Nguồn: Số liệu điều tra các hộ, 2016)

Qua bảng 3.1 cho thấy, trong các cây rau màu thì cây khoai tây được các hộ gia đình sản xuất với diện tích chiếm tỷ lệ cao, trung bình chiếm 86,2% tổng diện tích Đặc biệt, đối với xã Mộ Đạo với diện tích trồng khoai tây trung bình chiếm 91,1% tổng diện tích điều tra, xã Việt Hùng có diện tích trồng khoai tây vụ đông trung bình chiếm 88,1% và xã Phù Lương trung bình là 79,4%

Trang 35

Hiện nay, với nhu cầu sử dụng khoai tây cho chế biến, nhà hàng, … ngày một tăng lên và giá trị kinh tế từ việc sản xuất khoai tây mang lại thì trong một vài năm tới diện tích gieo trồng khoai tây vụ đông của huyện Quế Võ sẽ được tăng lên

Bảng 3.2: Dự định của hộ về phát triển sản xuất khoai tây

(Nguồn: Số liệu điều tra các hộ, 2016)

Qua bảng 3.2 cho thấy, tỷ lệ các hộ dự định trong một vài năm tới mở rộng diện tích chiếm tỷ lệ cao (54,4%), tỷ lệ các hộ có dự định giữ nguyên diện tích chiếm 25,6%, các hộ dự định giảm diện tích chiếm 16,7% và các hộ dự định thôi không trồng chiếm 3,3% tổng số hộ điều tra

Đồng thời với việc tăng diện tích, mạnh dạn áp dụng tiến bộ KHKT về giống, về quy trình thâm canh tăng vụ kết hợp với kinh nghiệm sản xuất nhằm nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm, đáp ứng nhu cầu tiêu dùng ngày càng cao của xã hội và tương lai trở thành hàng hoá xuất khẩu ra thị trường nước ngoài, giải quyết việc làm cho một phần lao động dư thừa trong nông thôn, tăng thu nhập cho người dân, góp phần thắng lợi trong sự nghiệp phát triển kinh tế, sự nghiệp xây dựng nông thôn mới của địa phương

3.2.2 Thu nhập từ khoai tây và đóng góp của khoai tây về kinh tế đối với nông hộ

Để làm rõ hơn vai trò của khoai tây trong sinh kế và kinh tế hộ của người dân huyện Quế Võ Tác giả tiến hành điều tra cụ thể 135 hộ trên địa bàn 3 xã của huyện Quế Võ với hình thức ngẫu nhiên

Trang 36

Thông tin chung về đối tượng khảo sát:

Bảng 3.3: Một số thông tin chung của hộ điều tra

(Nguồn: Số liệu điều tra của hộ, 2016)

Trong 135 hộ điều tra chủ hộ được điều tra phần lớn là nam giới, chiếm 75%, trình độ văn hóa của các chủ hộ là cấp 2 chiếm 68%, cấp 3 trở lên có 32

%, độ tuổi của chủ hộ phần lớn rơi vào khoảng từ 41- 60 tuổi chiếm 62% Số khẩu mỗi hộ chủ yếu là từ 3-4 nhân khẩu chiếm 58% Các nhóm hộ chủ yếu là thuần nông chiếm 60% nên diện tích sản xuất nông nghiệp của các hộ phần lớn

từ 1081 - 3600m2 chiếm 65% Trong đó diện tích sản xuất khoai tây của hộ

Trang 37

phần lớn trên 1440 m2(4 sào Bắc Bộ), từ 1081m2- 1440 m2 chiếm 33% Còn từ

(Nguồn: Số liệu điều tra hộ, 2016)

Qua bảng 3.4 cho thấy: Các hộ điều tra sản xuất 3 loại cây trồng chính đó là lúa, khoai tây và rau các loại Trong đó:

Cây lúa 100% hộ điều tra đều sản xuất, có bình quân giá trị sản xuất đạt 10.177 nghìn đồng với độ lệch 10.042 nghìn đồng, sai số 864 nghìn đồng, hệ số biến động là 98,0%

Cây khoai tây cũng như cây lúa 100% hộ điều tra sản xuất, giá trị sản xuất bình quân đạt 13.934 nghìn đồng, với độ lệch là 13.798,9 nghìn đồng, sai số đến 1.187 nghìn đồng, nên độ lệch biến động là 99%

Cây rau các loại cho giá trị kinh tế không cao Trong tổng 135 hộ điều tra thì

có 32 hộ sản xuất, bình quân giá trị mỗi hộ khá đạt 4.048 nghìn đồng; hộ cận nghèo đạt 2.200 nghìn đồng Bình quân giá trị sản xuất chung các hộ đạt 3.663 nghìn đồng với độ lệch chuẩn là 3.630,9 nghìn đồng, sai số đến 641 nghìn đồng nên độ biến động đến 99%

Trang 38

So sánh giá trị kinh tế có thể thấy cây khoai tây cho giá trị kinh tế cao, phù hợp với các hộ dù hộ khá, trung bình hay hộ cận nghèo và cây chủ yếu được trồng vào vụ đông như vậy có thể thấy cây cho giá trị cao gấp 2 đến 3 lần trồng lúa Vì Lúa được trồng hai vụ mà giá trị trung bình chỉ đạt 10.177 nghìn đồng mà khoai tây chủ yếu chỉ trồng một vụ vào mùa đông mà chỉ trong 3 - 4 tháng giá trị trung bình người dân thu đc là 13.934 nghìn đồng

Trong những năm gần đây, trong các loại cây rau màu thì cây khoai tây đã trở thành cây trồng chính tại huyện Quế Võ, góp phần không nhỏ trong tổng giá trị ngành sản xuất nông nghiệp, cũng như đóng góp về kinh tế đối với nông hộ trên địa bàn toàn huyện

Cây khoai tây được trồng chủ yếu vào vụ đông trong năm Nó quan trọng đối với người nông dân, không những tạo thêm việc làm, giải quyết một phần lao động

dư thừa trong nông thôn, nâng cao thu nhập, hiệu quả sử dụng đất mà còn lĩnh hội những kiến thức, tiến bộ khoa học kỹ thuật áp dụng vào phát triển sản xuất các loại cây trồng có giá trị kinh tế cao Từ đó, không ngừng nâng cao trình độ dân trí, trình

độ canh tác trong phát triển sản xuất nông nghiệp nói chung, phát triển sản xuất các loại cây trồng có giá trị kinh tế cao nói riêng, trong đó cây khoai tây là chủ đạo

Bảng 3.5: Sản xuất và thu nhập khoai tây phân theo loại kinh tế hộ

(đồng/kg)

Bán (%)

Trang 39

Qua bảng 3.5 cho thấy: Bình quân chi phí lao động của các hộ là 10,06 công/sào, trung bình thành tiền là 1.508,9 nghìn đồng/sào, với độ lệch chuẩn là 1.508,6 đồng /sào

và sai số là 129.841,8 đồng/sào ,có độ lệch biến động 99,98% Trung bình sản lượng khoai tây thu được năm 2016 là 3.215,7 kg với độ lệch chuẩn 3.080,7 kg và sai số là 265,14 kg nên sự biến động đến 95,8%, trong đó sản lượng trong loại kinh tế hộ khá trung bình là 3.562,96 kg và hộ cận nghèo trung bình sản lượng là 2.880 kg như vậy có thể thấy hộ sản xuất khoai tây nằm ở nhóm hộ khá và trung bình đạt sản lượng trung bình cao hơn các hộ thuộc nhóm loại kinh tế cận nghèo Các hộ bán với giá trung bình

là 8.243,7 đồng/kg với sai số chuẩn 8.108,7 nghìn đồng, hệ số biến động 98,36% Với tổng sản lượng thu được các hộ bán trung bình đạt 90,26% tổng sản lượng khoai tây thu được, với độ lệch chuẩn 90,21 %, sai số là 7,76%, biến động là 99,95% Thông qua bảng ta cũng có thể thấy được các hộ khá số sản lượng khoai tây thu được đem bán với

tỷ lệ cao 91,13% tổng sản lượng thu được và có hộ bán 100%

Với chi phí đầu vào so với các cây trồng khác trên địa bàn không quá cao mà cây trồng cho hiệu quả kinh tế cao, và còn là nguồn thu nhập chủ yếu của một số

hộ gia đình nông dân, cải thiện kinh tế hộ, nâng cao đời sống về vật chất tinh thần góp phần phát triển sản xuất nông nghiệp cho địa phương

Qua điều tra khảo sát, hiệu quả kinh tế trong sản xuất khoai tây được thể hiện qua một số chỉ tiêu phản ánh kết quả sản xuất và chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sản xuất

Trang 40

Bảng 3.6: Hiệu quả kinh tế trung bình 1ha sản xuất khoai tây tại các xã điều tra

năm 2016

vị tính

Xã điều tra

Bình quân Việt

Hùng

Phù Lương

Mộ Đạo

I Kết quả sản xuất

II Chỉ tiêu thể hiện hiệu

quả

1 Tỷ suất giá trị sản xuất

2 Tỷ suất giá trị tăng thêm

(Nguồn: Số liệu điều tra các hộ, 2016)

Để thấy được hiệu quả kinh tế trong sản xuất khoai tây so với các cây trồng khác trong năm, tác giả nghiên cứu tính toán sơ bộ hiệu quả kinh tế của một số loại cây trồng trong năm 2016 tại huyện Quế Võ như cây khoai lang, cây đậu tương, cây dưa các loại

Ngày đăng: 05/04/2018, 08:39

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm