LÊ THANH VIỆT TÁC ĐỘNG CỦA QUY MÔ CHÍNH PHỦ ĐẾN TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ: NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM TẠI CÁC QUỐC GIA KHU VỰC ASEAN Chuyên ngành : Tài chính – Ngân hàng Mã số : 60340201 LUẬ
Trang 1LÊ THANH VIỆT
TÁC ĐỘNG CỦA QUY MÔ CHÍNH PHỦ ĐẾN TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ: NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM TẠI CÁC QUỐC GIA
KHU VỰC ASEAN
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
TP Hồ Chí Minh - Năm 2017
Trang 2LÊ THANH VIỆT
TÁC ĐỘNG CỦA QUY MÔ CHÍNH PHỦ ĐẾN TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ: NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM TẠI CÁC QUỐC GIA
KHU VỰC ASEAN
Chuyên ngành : Tài chính – Ngân hàng
Mã số : 60340201
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS BÙI THỊ MAI HOÀI
TP Hồ Chí Minh - Năm 2017
Trang 3Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào Đồng thời được sự góp ý, hướng dẫn của PGS.TS Bùi Thị Mai Hoài để hoàn tất luận văn này
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
LÊ THANH VIỆT
Trang 4MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Mục lục
Danh mục các chữ viết tắt
Danh mục các bảng biểu
Danh mục các đồ thị, hình vẽ
LỜI MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 2
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2
4 Phương pháp nghiên cứu 3
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUY MÔ CHÍNH PHỦ VÀ MỤC TIÊU TĂNG TRƯỜNG KINH TẾ CỦA QUỐC GIA 4
1.1 Chính sách tài khóa và hoạt động thu, chi ngân sách 4
1.1.1 Chính sách tài khóa chủ động 4
1.1.2 Chính sách tài khóa bình ổn 6
1.1.3 Thâm hụt ngân sách và nợ công 7
1.2 Tăng trưởng kinh tế 8
1.2.1 Khái niệm tăng trưởng kinh tế 8
1.2.2 Phương pháp đo lường tăng trưởng kinh tế 8
Trang 51.2.3 Một số lý thuyết về tăng trưởng kinh tế 9
1.3 Một số các nghiên cứu lý thuyết và thực nghiệm về mối quan hệ chính sách tài khóa và tăng trưởng kinh tế 15
CHƯƠNG 2: NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM TÁC ĐỘNG CỦA QUY MÔ CHÍNH PHÚ ĐẾN TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ CÁC QUỐC GIA KHU VỰC ASEAN 31
2.1 Phương pháp nghiên cứu và mô hình nghiên cứu 31
2.2 Thống kê mô tả và ma trận hệ số tương quan 35
2.3 Phân tích kết quả nghiên cứu 37
CHƯƠNG 3: KẾT LUẬN VÀ NHỮNG GỢI Ý CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN BÊN VỮNG VÀ ÔN ĐỊNH NỀN KINH TẾ VĨ MÔ 50
3.1 Tổng hợp kết luận từ kết quả nghiên cứu 50
3.2 Một số gợi ý chính sách 52
3.3 Hạn chế của đề tài và định hướng nghiên cứu trong tương lai 54
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 6ADB: Ngân hàng phát triển châu Á
ASEAN: Các quốc gia khu vực Đông Nam Á
POLS: Mô hình hồi qui gộp
FE: Mô hình tác động cố định
RE: Mô hình tác động ngẫu nhiên
Trang 7DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Bảng 2.1 Thống kê mô tả 36 Bảng 2.2 Ma trận hệ số tương quan 36 Bảng 2.3 Kết quả ước lượng xem xét tác động của chi tiêu chính phủ và các yếu tố khác đến tăng trưởng kinh tế các quốc gia khu vực ASEAN với mô hình hồi quy gộp.
39
Bảng 2.4 Kết quả ước lượng xem xét tác động của chi tiêu chính phủ và các yếu tố khác đến tăng trưởng kinh tế các quốc gia khu vực ASEAN với mô hình hồi quy tác động cố định 40 Bảng 2.5 Kết quả ước lượng xem xét tác động của chi tiêu chính phủ và các yếu tố khác đến tăng trưởng kinh tế các quốc gia khu vực ASEAN với mô hình hồi quy tác động ngẫu nhiên 41 Bảng 2.6 Kết quả ước lượng xem xét tác động của thu ngân sách và các yếu tố khác đến tăng trưởng kinh tế các quốc gia khu vực ASEAN với mô hình hồi quy gộp.
43
Bảng 2.7 Kết quả ước lượng xem xét tác động của thu ngân sách và các yếu tố khác đến tăng trưởng kinh tế các quốc gia khu vực ASEAN với mô hình hồi tác động
cố định 44 Bảng 2.8 Kết quả ước lượng xem xét tác động của thu ngân sách và các yếu tố khác đến tăng trưởng kinh tế các quốc gia khu vực ASEAN với mô hình hồi tác động ngẫu nhiên 45 Bảng 2.9 Kiểm định tham số đồng thời, kiểm định Hausman, kiểm định Breusch & Pagan cho các ước lượng với dữ liệu nghiên cứu là các quốc gia khu vực ASEAN.
4848
Trang 8DANH MỤC CÁC ĐỒ THỊ, HÌNH VẼ
Hình 1.1 Mô hình IS – LM và mô hình AD – AS 5
Hình 1.2 Đường cong tổng sản phẩm theo mô hình Lewis 11
Hình 1.3 Đường cong tổng sản phẩm theo mô hình Lewis trong công nghiệp 11
Hình 1.4 Đường cong tổng sản lượng trên lao động theo mô hình Solow 14
Trang 10LỜI MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Cho đến cuối những năm 1970, phần lớn các nghiên cứu lý thuyết và thực nghiệm
về kinh tế vĩ mô đều liên quan với các vấn đề tăng trưởng kinh tế và ổn định nền kinh
tế vĩ mô trong ngắn hạn Tuy nhiên, sự suy giảm năng suất ở các quốc gia phát triển đã đưa ra một động lực mạnh mẽ để nghiên cứu các vấn đề lâu dài về tăng trưởng kinh tế Mặt khác, hiện nay xu hướng mở rộng trong quy mô của chính phủ ngày càng gia tăng khiến cho vấn đề nghiên cứu về quy mô của chính phủ có thật sự tác động đến tăng trưởng kinh tế hay không là vấn đề cần thiết và đang được quan tâm Thực tế cho thấy rằng, không có một quốc gia nào trong lịch sử phát triển mà không có bàn tay can thiệp của chính phủ
Tăng trưởng kinh tế luôn là mục tiêu mà các quốc gia theo đuổi Kết quả tăng trưởng kinh tế bắt nguồn từ rất nhiều nguyên nhân và các nguyên nhân này đôi khi lại tương tác với nhau Chi tiêu công được xem có vai trò quan trọng trong việc hỗ trợ tăng trưởng kinh tế Chi tiêu công và thu ngân sách là biến số quan trọng ảnh hưởng đến tính bền vững của tài chính công thông qua các hiệu ứng trên số dư ngân khố và nợ chính phủ Do đó, việc kiểm soát chặt chẽ ở những mục thích hợp, giảm chi tiêu công
là rất quan trọng để cân bằng ngân sách được điều chỉnh hài hòa giữa việc giảm nợ công, cắt giảm thuế và đầu tư công tại các khu vực trọng điểm
Vì thế trong nghiên cứu này, quy mô chính phủ được đo lường thông qua thu, chi ngân sách nhà nước Đề tài xem xét quy mô của chính phủ có tác động đến tăng trưởng kinh tế hay không? Tác động đó sẽ như thế nào? Và tác động này có thực sự đủ lớn để nhận được sự quan tâm hay không?
Một số các nghiên cứu cổ điển tiên phong trong nghiên cứu mối quan hệ giữa quy
mô của chính phủ và tăng trưởng kinh tế như Meltzer & Richard (1981), Ram (1986), Gali (1994), Guseh (1997), Kneller et al (1999), Ghali (1999) và hầu như kết quả đều
Trang 11cho thấy rằng quy mô chính phủ có tác động đến tăng trưởng kinh tế Bên cạnh các nghiên cứu gần đây như Rioja & Valev (2004) và Anaman (2004) cũng xem xét tác động của quy mô chính phủ đến tăng trưởng kinh tế ở các quốc gia khu vực Đông Nam
Á Tuy nhiên, Rioja & Valev (2004) tập trung nhiều hơn vào tác động của sự phát triển của thị trường tài chính đến tăng trưởng kinh tế hơn tác động của quy mô chính phủ và Anaman (2004) thì quan tâm đến tác động của quy mô chính phủ ở thị trường Brunie nhiều hơn
Với mục tiêu đóng góp một cái nhìn đa chiều cũng như cung cấp thêm những bằng chứng về tác động của quy mô chính phủ đến tăng trưởng kinh tế, tác giả mong muốn thực hiện nghiên cứu này với dữ liệu được thu thập ở các quốc gia khu vực ASEAN giai đoạn 2000 – 2014 nhằm xem xét tác động thực sự của quy mô chính phủ đến tăng trưởng kinh tế cũng như gợi ý những chính sách liên quan đến việc thu, chi ngân sách hướng đến mục tiêu ổn định và phát triền bền vững nền kinh tế vĩ mô
2 Mục tiêu nghiên cứu
Trong nghiên cứu này, tác giả tập trung vào hai mục tiêu chính như sau:
Làm rõ tác động của quy mô chính phủ đến tăng trưởng kinh tế cùng với một số các biến kiểm soát ở các quốc gia khu vực ASEAN
Gợi ý một số giải pháp cải thiện hoạt động của thu, chi hướng đến mục tiêu tăng trưởng kinh tế và ổn định nền kinh tế vĩ mô
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Trong nghiên cứu này, tác giả tập trung vào hai đối tượng chính là quy mô chính phủ và tăng trưởng kinh tế Trong đó, tác giả sử dụng các chỉ tiêu về thu và chi ngân sách để làm đại diện cho quy mô chính phủ, tốc độ tăng của GDP trên đầu người làm đại diện cho tăng trường kinh tế Ngoài ra, một số các biến kiểm soát cũng được đưa vào mô hình nghiên cứu nhằm giúp các nhà nghiên cứu và hoạch định chính sách kiểm tra và so sánh tình đồng nhất, phù hợp với các lý thuyết lớn trong tác động của các biến
Trang 12kiểm soát đến tăng trưởng kinh tế và cũng là một trong những cơ sở để đảm bảo tính khoa học của kết quả nghiên cứu này
Nghiên cứu này chỉ tập trung vào 10 quốc gia khu vực Động Nam Á nhằm gia tăng khả năng áp dụng tại thị trường Việt Nam vì những tính tương đồng của các quốc gia trong cùng một khu vực là tương đối cao, đồng thời cũng giảm thiểu tác động của những quốc gia có nền kinh tế quá lớn hoặc quá khác biệt so với mặt bằng chung có thể ảnh hưởng đến kết quả ước lượng Bên cạnh đó, tác giả sử dụng dữ liệu lịch sử trong giai đoạn từ năm 2000 đến năm 2014 bao gồm giai đoạn trước và sau khủng hoảng tài chính năm 2008 để đánh giá tác động của cuộc khủng hoảng này trong nghiên cứu
4 Phương pháp nghiên cứu
Tác giả sử dụng kỹ thuật hồi quy với dữ liệu bảng để đánh giá tác động của quy
mô chính phủ đến tăng trưởng kinh tế bao gồm mô hình hồi quy gộp (Pooled Ordinary Least Squared), mô hình tác động cố định (Fixed Effects Model) và mô hình tác động ngẫu nhiên (Random Effects Model) Đồng thời sử dụng các kiểm định có liên quan để tìm ra ước lượng tốt nhất thể hiện tác động của việc thu, chi ngân sách đến tăng trưởng kinh tế
Trang 13CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUY MÔ CHÍNH PHỦ VÀ MỤC TIÊU TĂNG TRƯỜNG KINH TẾ CỦA QUỐC GIA
1.1 Chính sách tài khóa và hoạt động thu, chi ngân sách
Khi nói về chính sách tài khóa thì mô hình của Keynes được xem là mô hình điển hình nhất với những khái niệm rất cụ thể được đề cập đến như chính sách tài khóa chủ động, công cụ bình ổn tự động (hay chính sách bình ổn tự động) và những hoạt động liên quan đến thâm hụt ngân sách và nợ công Lấy nền tảng từ mô hình của Keynes, cơ
sở lý thuyêt của tác giả đã được xây dựng dựa trên đó
1.1.1 Chính sách tài khóa chủ động
Chính sách tài khóa chủ động được định nghĩa là chính sách điều tiết thu nhập và chi tiêu ngân sách Nói một cách dễ hiểu đó là việc chính phủ chủ động điều chỉnh thu chi chính phủ một cách chủ động và hợp lý để đạt được một mục tiêu kinh tế cụ thể Chính sách tài khóa được phân biệt dưới 2 dạng chính là chính sách tài khóa mở rộng và chính sách tài khóa thu hẹp Việc phân loại như vậy chủ yếu là do tác động của chính sách tài khóa lên sản lượng của nền kinh tế Cụ thể là chính sách tài khóa mở rộng kích thích tăng trưởng kinh tế và được áp dụng khi nền kinh tế rơi vào tính trạng suy thoái hoặc khủng hoảng, sản lượng thực tế của toàn nền kinh tế thấp hơn sản lượng tiềm năng Nếu nhìn trên biểu diễn của đường giới hạn khả năng sản xuất, thì nền kinh
tế đang ở bên trong đường biểu diễn, nghĩa là các nguồn lực đang dư thừa và nên thúc đẩy tăng trưởng và gia tăng việc làm Vì thế, nếu nền kinh tế không chịu áp lực lạm phát thì đây chính là điều kiện thuận lợi để chúng ta thực hiện chính sách này Mặc khác, chính sách tài khóa thu hẹp nhằm kìm hãm tăng trưởng và lạm phát khi nền kinh
tế có dấu hiệu tăng trưởng quá cao và quá nóng, các nguồn lực trong nền kinh tế bị sử dụng quá tải và nguy cơ lạm phát cao xuất hiện
Thâm hụt, thặng dư hay cân bằng ngân sách là kết quả gây ra từ quyết định của chính phủ liên quan đến thay đổi về thu nhập hoặc chi tiêu ngân sách Những công cụ
Trang 14chính của chính sách tài khoa chủ động là chi tiêu mua sắm chính phủ và thuế Để hiểu
rõ ràng hơn thì sự thay đổi về chi tiêu mua sắm của chính phủ sẽ có tác động trực tiếp tới tổng cầu (AD) vì thu chi chính phủ là nhân tố nằm ngay trong công thức tính tổng cầu Mặc khác, thuế lại có tác động gián tiếp đến tổng cầu vì nó sẽ giúp tăng (hoặc giảm) thu nhập của hộ gia đình và tăng (hoặc giảm) lợi nhuận sau thuế của doanh nghiệp Chính phủ có thể sử dụng 1 trong 2 hoặc cả công cụ trên Cần lưu ý rằng việc
sử dụng công cụ này nhiều hơn công cụ khác sẻ ảnh hưởng đến cơ cấu thu và chi ngân sách nhà nước
Chính sách tái khóa mở rộng hoặc thu hẹp có cơ chế tác động giống nhau đến sản lượng nhưng sự khác nhau nằm ở chiếu hướng tác động Các mô hình IS – LM và AD – AS có thể minh họa rõ cho vấn đề này
Hình 1.1 Mô hình IS – LM và mô hình AD - AS
Nguồn: Todaro và Smith (2003)
Khi nền kinh tế đang ở trạng thái dưới mức tiềm năng, trạng thái cân bằng tạm thời đó là điểm E Để đưa nền kinh tế về vị trí tối ưu hơn, chính phủ đã áp dụng chính sách tài khóa mở rộng (cụ thể trong ví dụ này là giảm thuế) Việc giảm thuế của chính phủ đã kích thích nhu cầu tiêu dùng và tịnh tiến đường IS sang bên phải với thu nhập
Trang 15quốc dân cao hơn so với ban đầu và lãi suất cao hơn sao với ban đầu Đặc biệt, khi lãi suất cao hơn, nó là nên tảng thúc đẩy đầu tư ở khu vực tư nhân, đây cũng là nhân tố khiến cho tổng cầu gia tăng trong mô hình AD – AS Tuy nhiên, khi áp dụng chính sách tài khóa chủ động nguy cơ rơi vào bẫy lạm phát là rất cao nếu không có những tính toán phù hợp để điều chỉnh chính sách hợp lý Có thể thấy rõ điều này thông qua minh họa ở hình bên trên, khi mà tổng sản phẩm tăng do đường tổng cầu tịnh tiến sang phải thì nó cũng kéo theo việc tăng lên của giá bình quân Trong quá khứ, nền kinh tế
Mỹ cũng đã vấp phải điều này trong giai đoạn đầu những năm 1970, lạm phát tại Mỹ tăng kỉ lục do những chính sách nới lỏng tài khóa trước đó và điều này khiến chính phủ
Mỹ quan tâm nhiều hơn đến tác động của lạm phát
sẽ bị kìm hãm do chi tiêu ngân sách giảm hoặc thu nhập ngân sách tăng một cách tự động Và như vậy chính sách bình ổn tự động là cơ chế tự động làm giảm các dao động của chu kỳ tăng trưởng kinh tế Những chính sách bình ổn tự động chính bao gồm:
Hệ thống trợ cấp thất nghiệp
Khi nền kinh tế trong thời kỳ suy thoái, chi phí mà chính phủ dùng cho trợ cấp thất nghiệp sẽ tự động tăng lên Điều này sẽ giúp giảm áp lực giảm của chi tiêu hộ gia đình, và kết quả là tổng sản lượng giảm trong mô hình AD – AS sẽ ít hơn so với không
có trợ cấp thất nghiệp đồng thời khởi cách giữa tổng sản lượng thực tế và tổng sản
Trang 16lượng tiềm năng cũng được giữ ở mức thấp hơn so vơi việc không có trợ cấp thất nghiệp Ngược lại, khi nền kinh tế trong thời kỳ lạm phát cao, trợ cấp thất nghiệp sẽ ở mức thấp, nó góp một phần làm giảm chi tiêu chính phủ một cách tự động và đóng góp vào quá trình lấy lại trạng thái cân bằng của nền kinh tế
Thuế thu nhập
Thuế thu nhập là công cụ bình ổn có mặt hầu hết ở các nền kinh tế thị trường Cơ chế hoạt động của nó rất linh hoạt và tự động Cụ thể, trong thời kỳ suy thoái kinh tế, thu nhập từ cá nhân và doanh nghiệp giảm nên thu nhập từ thuế cũng giảm Chính vì khoản thuế phải nộp giảm đi nên nó cũng góp phần vào việc hạn chế sự suy giảm của chi tiêu trong nền kinh tế Đây được xem là hiệu ứng kìm hãm đà giảm của tổng cầu Ngược lại, khi nền kinh tế trong thời kì lạm phát, việc tăng thuế thu nhập giúp kìm hãm đã tăng của tổng cầu theo cùng cơ chế
Khi nói về thuế thu nhập thì thuế lũy tiến là hình thức bình ổn tự động hiệu quả nhất vì thuế suất của nó giảm trong thời kỳ suy thoái và tăng torng thời kỳ lạm phát Trong khi đó thì, thuế lũy thoái là công cụ bình ổn kém hiệu quả nhất
1.1.3 Thâm hụt ngân sách và nợ công
Chính sách tài khóa và việc điều tiết ngân sách nhà nước có quan hệ mật thiết với nhau Trên thực tế, chính phủ có thể giải quyết bài toán thâm hụt ngân sách bằng 2 phương thức chính là sử dụng chính sách tiền tệ hóa hoặc vay nợ
Tuy nhiên, đã có rất nhiều bài viết chỉ ra những rủi ro lớn trong nền kinh tế khi sử dụng tiền tệ hóa để thanh toán các khoản thâm hụt ngân sách như lạm phát và cơ chế tỷ giá sẽ bị ảnh hưởng sâu sắc Chính vì vậy mà hình thức vay nợ là hình thức mà chính phủ dùng để bù đắp các khoản thâm hụt ngân sách Thường thì nợ công hàng năm tăng đúng bằng mức thâm hụt ngân sách của năm đó Một định nghĩa khác, nợ công là tổng các mức thâm hụt ngân sách cộng dồn Một khi nợ công quá lớn thì chi phí lãi vay sẽ
Trang 17trở thành khoản chi tiêu chiếm tỷ trọng lớn trong chi tiêu chính phủ và ngân sách nhà nước Hậu quả là việc sử dụng chính sách tài khóa của chính phủ sẽ bị hạn chế Từ chính điều này, một vòng luẩn quẩn được hình thành:
Thâm hụt ngân sách Nợ công tăng Chi phí lãi vay tăng Thâm hụt ngân sách
Biện pháp đang được nhiều nước áp dụng để giải quyết vấn đề này là cấm chính phủ chi tiêu vượt ngân sách Tuy nhiên, chính việc này lại gây ra khó khăn cho chính phủ trong việc ổn định nền kinh tế và vì vậy dao động trong tăng trưởng kinh tế lại trở lại mức cao Vì vậy, thâm hụt ngân sách và nợ công được xem là hệ quả không tránh khỏi của chính sách tài khóa
1.2 Tăng trưởng kinh tế
1.2.1 Khái niệm tăng trưởng kinh tế
Tăng trưởng kinh tế được định nghĩa là sự gia tăng về quy mô sản lượng của một quốc gia hay quy mô sản lượng quốc gia trên đầu người trong một khoảng thời gian nhất định Và với định nghĩa trên, thì khi lấy chênh lệch giữa quy mô sản lượng của năm nay so với năm trước thì ta có mức tăng trưởng Thêm vào đó, việc lấy chênh lệch giữa quy mô sản lượng trên đầu người giữa năm này với năm khác cũng được xem là tăng trưởng nếu mức tăng của quy mô sản lượng cao hơn mức tăng dân số Qua đây cũng cho thấy vì sao các nước đang phát triển hầu như kiểm soát gia tăng dân số để đảm bảo mức tăng trưởng của quy mô sản lượng trên đầu người phản ánh đúng mức tăng trưởng của toàn bộ nền kinh tế
1.2.2 Phương pháp đo lường tăng trưởng kinh tế
Để đo lường tăng trưởng kinh tế, người ta thường sử dụng các thước đo sau:
Tốc độ tăng của tổng sản phẩm quốc nội (GDP): Trong đó GDP là giá trị tính bằng tiền của tất cả sản phẩm và dịch vụ cuối được sản xuất ra trên phạm vi lãnh thổ của một quốc gia trong một khoảng thời gian nhật định thường là 1 năm
Trang 18 Tốc độ tăng của tổng sản phẩm quốc dân (GNP): Trong đó GNP là giá trị tính bằng tiền của tất cả sản phẩm và dịch vụ cuối được sản xuất ra bởi công dân của một quốc gia trong một khoảng thời gian nhật định thường là 1 năm
Tốc độ tăng thu nhập bình quân đầu người (GDP per Capita): Trong đó thu nhập bình quân đầu người là tổng sản lượng quốc gia chia cho tổng dân số của quốc gia đó Thước đo này cho thấy sự khác biệt giữa thu nhập của người dân giữa các quốc gia
1.2.3 Một số lý thuyết về tăng trưởng kinh tế
Lý thuyết tăng trưởng kinh tế được xây dựng dọc theo chiều dài lịch sử phát triển các lý thuyết kinh tế học Các lý thuyết bàn đầu của tăng trưởng kinh tế có thể kể đến
là lý thuyết của Ricardo năm 1817, sau đó là các mô hình của Lewis (1954), mô hinh Harrord – Domar (1947) và mô hình của Solow (1956) Đây có thể xem là những bước phát triển bền vững của lý thuyết tăng trưởng kinh tế
Mô hình Ricardo (1817)
David Ricardo (1772 – 1823) là nhà kinh tế học người Anh, ông đã đặt những nền móng đầu tiên về tăng trưởng kinh tế Ông đã đóng góp xây dựng lý thuyết giá trị, lợi thế so sánh, quy luật năng suất biên giảm dần và địa tô Theo lý luận của Ricardo, đất
là sản phẩm của tự nhiên và có giới hạn và giới hạn này là tuyệt đối Điều này dẫn đến một thừa nhận tất yếu đó là đất là tài nguyên khan hiếm của xã hội và nó có ảnh hưởng trực tiếp đến 2 khu vực sản xuất nông nghiệp và công nghiệp Cụ thể, Ricardo đã lý luận rằng giới hạn sản xuất nông nghiệp ảnh hưởng đến thay đổi sản lượng nông nghiệp, mặt khác tăng sản lượng còn gọi là tăng trưởng Vì vậy, giới hạn đất sản xuất nông nghiệp ảnh hưởng tới tăng trưởng nông nghiệp
Thêm vào đó, ở khu vực công nghiệp, đây là khu vực chịu ảnh hưởng từ khu vực nông nghiệp, do giới hạn về đất sản xuất ở khu vực nông nghiệp, chi phí sản xuất công nghiệp tăng Điều này làm tăng chi phí sản xuất hàng hóa, do chi phí nguyên liệu đầu
Trang 19vào từ công nghiệp tăng, nó dẫn đến một kết quả tất yêu đó là giá hàng hóa tăng cao và gây ra lạm phát Khi lạm phát xảy ra, thì tiền lương thực của công nhân nhận về giảm, điều này thúc đẩy các tổ chức công đoàn đấu tranh đòi tăng lương cho công nhân Tuy nhiên, lương chính là một yếu tố chi phí sản xuất công nghiệp và khi lương tăng thì cùng kéo theo chi phí sản xuất tăng Hậu quả là sản lượng công nghiệp sẽ giảm
Theo cách lập luận này của Ricardo, giới hạn về đất (Resources) ảnh hưởng đến sản lượng của nông nghiệp và công nghiệp Thêm vào đó, nông nghiệp và công nghiệp được xem là đại diện của tổng sản lượng quốc gia Vì vậy, giới hạn đất (Resources) ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế
Mô hình Lewis (1954)
William Arthur Lewis (1915 – 1991) là nhà kinh tế học người Anh, ông đạt giải Nobel kinh tế năm 1979 với những đóng góp về mô hình hai khu vực, lý thuyết phát triển kinh tế với cung lao động Theo Lewis thì lao động chính là yếu tố tác động mạnh
mẽ lên tăng trưởng kinh tế, và để chứng minh cho nhận định của mình, ông đã xây dựng đường TPA (Total Products of Agriculture) của khu vực nông nghiệp Tính chất của đường biểu diễn này là một đường biểu diễn quan hệ dương giữa số lượng lao động trong nền kinh tế và tổng sản lượng theo quy luật giá trị sản lượng biên giảm dần (Tham khảo hình bên dưới) Như vậy nếu giả định, khu vực nông nghiệp đang ở trạng thái cân bằng với số lượng lao động là L0 và tổng sản lượng là Y0 thì khi L0 tăng lên L1 (L1>L0) thì Y0 sẽ tăng lên Y1 (với Y1>Y0) Điều này cho thấy rằng lao động là yếu tố tác động lên tăng trưởng nông nghiệp
Trang 20Hình 1.2 Đường cong tổng sản phẩm theo mô hình Lewis
Nguồn: Todaro & Smith (2003)
Trong công nghiệp, với yếu vốn (Capital) cho trước K1 thì ta có L1 tương ứng là điểm cân bằng Khi lao động dồi dao từ khu vực nông nghiệp dịch chuyển qua khu vực công nghiệp, thì ngay lập tức cung lao động tăng làm giảm chi phí sản xuất, điều này làm gia tăng lợi nhuận cho các nhà sản xuất, chính nguồn lợi nhuận này được dùng tái đầu tư lại và nó là tác nhân gia tăng vốn lên K2 tương ứng với nguồn lao động L2 Kết
quả là, ta thấy rất rõ được tác động của lao động lên khu vực công nghiệp
Hình 1.3 Đường cong tổng sản phẩm theo mô hình Lewis trong công nghiệp
Nguồn: Todaro & Smith (2003)
Trang 21Chúng ta thấy rằng ở cả nông nghiệp và công nghiệp, theo các lập luận của Lewis thì lao động là yếu tố tác động lên cả hai khu vực này Hay nói tóm lại, khi lao động thay đổi sẽ tác động lên tăng trưởng kinh tế
Mô hình Harrod (1939) – Domar (1947)
Evsey David Domar (1914 – 1977) nhà kinh tế học người Mỹ và Henry Roy Forbes Harrod (1900 – 1978) nhà kinh tế học người Anh là hai học giả có những đóng góp rất to lơn trong lý thuyết về vốn – tăng trưởng kinh tế Điều thú vị là 2 nhà kinh tế học này đã tiến hành nghiên cứu độc lập về tăng trưởng kinh tế Vì vậy, mô hình tăng trưởng kinh tế này đã được đặt tên là mô hình Harrod – Domar
Theo Harrod – Domar thì tăng trưởng kinh tế có nguồn gốc từ vốn (Incremental Capital) hoặc tiết kiệm (Savings) Họ lý luận rằng khi vốn (K) thay đổi thì sản lượng quốc gia sẽ thay đổi
Nghĩa là: ∆K ∆Y
Để biểu diễn mối quan hệ này, Harrod – Domar đã xây dựng chỉ số ICOR (incremental capital – output rate) còn gọi là hệ số tăng vốn – đầu ra Chỉ số này được tính bằng công thức:
∆𝑌 (1) Với biểu diễn trên, có thể thấy rằng ICOR biểu diễn để tổng sản lượng tăng thêm 1 đơn
vị thì cần bao nhiêu đơn vị vốn Từ (1), để thấy được tác động từ vốn thì (1) sẽ được viết lại thành:
∆𝐾 = 𝐼𝐶𝑂𝑅 ∗ ∆𝑌 (2) Trên thực tế, các hoạt động làm vốn tăng thêm chủ yếu đến từ hoạt động đầu tư (I) Vì vậy, (2) có thể được viết dưới dạng:
Trang 22Nói tóm lại, với mô hình Harrod – Domar, thì tăng trưởng kinh tế phụ thuộc vào vốn tăng thêm hoặc đầu tư mới hàng năm sau khi đã trừ đi khấu hao Dựa trên kết luận này
mà trên thực tế các quốc gia hàng năm đều đẩy mạnh thu hút vốn đầu tư nước ngoài để đẩy nhanh tăng trưởng kinh tế
Mô hình Solow (1956)
Robert Merton Solow là nhà kinh tế người Mỹ rất nổi tiếng với giải Nobel kinh tế năm 1987 và đóng góp của ông chủ yếu ở mô hình tăng trưởng kinh tế Với mô hình của Solow, ông lập luận rằng vốn chỉ có tác động đến tăng trưởng trong ngắn hạn và trong dài hạn thì yếu tố công nghệ mới là nhân tố sống còn của tăng trưởng kinh tế Điều này thể hiện rõ Solow là người theo chủ nghĩa Keynes mới (kết hợp Keynes và Tân cổ điển)
Để minh chứng cho lập luận của mình, Solow đã xây dựng mô hình như hình bên dưới với giả định ban đầu nền kinh tế ở vị trí cân bằng với mức vốn trên lao động (K/L)0 và mức sản lượng trên lao động là (Y/L)0 theo đường sản lượng Y(t) Nếu tiếp tục tăng vốn đầu tư như kết quả của mô hình Harrod – Domar thì các chỉ số sẽ tăng từ (K/L)0 lên (K/L)1 rồi (K/L)2 , (K/L)3; tương tự, (Y/L)0 sẽ tăng lên (Y/L)1, (Y/L)2 rồi (Y/L)3 Chúng ta cần lưu ý rằng, mức tăng này giảm dần theo thời gian và khi vốn tăng
từ (K/L)2 lên (K/L)3 thì đường sản lượng gần như nằm ngang Nói một cách ngắn gọn thì lúc này nếu tiếp tục tăng vốn đầu tư thì tăng trưởng sản lượng vẫn không đổi hay
Trang 23vốn không còn tác dụng giúp tăng trưởng trong dài hạn nữa Tuy nhiện, Solow đã chỉ
ra rằng nếu các quốc gia tập trung phát triển công nghệ thì với công nghệ cao hơn thì sản lượng sẽ tăng với một giá trị vốn trên lao động cho trước Vì vậy, trong dài hạn, công nghệ mới là yếu tố tác động đến tăng trưởng
Hình 1.4 Đường cong tổng sản lượng trên lao động theo mô hình Solow
Nguồn: Todaro & Smith (2003)
Trang 241.3 Một số các nghiên cứu lý thuyết và thực nghiệm về mối quan hệ chính sách tài khóa và tăng trưởng kinh tế
Trong hơn ba thập kỷ qua có nhiều nghiên cứu kinh tế, cả lý thuyết và thực nghiệm, phân tích vai trò của chi tiêu công đối với tăng trưởng kinh tế ở các quốc gia trên thế giới Có nhiều quan điểm cũng như kết luận khác nhau từ các nghiên cứu về việc liệu chi tiêu chính phủ có hỗ trợ thúc đẩy hay ngăn cản tăng trưởng kinh tế
Đầu tiên, các quan điểm ủng hộ quy mô chi tiêu công lớn xoay quanh việc các chương trình chi tiêu này sẽ hỗ trợ cung cấp các hàng hoá công cộng như cơ sở hạ tầng tạo điều kiện cho sản xuất tư nhân, giáo dục nhằm tăng chất lượng nguồn vốn lao động… Đồng thời, sự gia tăng chi tiêu chính phủ cũng sẽ tạo đà cho sức mua của người tiêu dùng gia tăng, gián tiếp thúc đẩy tăng trưởng kinh tế Tuy nhiên, có một số quan điểm cho rằng quy mô chính phủ nhỏ (đo lường bằng tổng chi tiêu công) có một
số lợi ích Đầu tiên, chi tiêu chính phủ nếu quá lớn sẽ khiến dịch chuyển nguồn lực từ khu vực sản xuất tư nhân vốn đang hiệu quả sang khu vực công kém hiệu quả Mặt khác, chi phí tốn kém để mở rộng chi tiêu công trong những nỗ lực thực hiện các chính sách thúc đẩy tăng trưởng có thể dẫn đến sự phản đối các chính sách này
Một số mô hình tân cổ điển nghiên cứu các yếu tố tác động đến tăng trưởng kinh
tế như Solow (1956) không xét đến vai trò của chính phủ (đặc biệt là vai trò của chính sách tài khoá) Các lý thuyết khác có đưa vai trò của chính phủ trong tăng trưởng kinh
tế, và thường có những kết luận không thống nhất Các nghiên cứu chỉ ra trong một số trường hợp thu hẹp quy mô chi tiêu công có lợi cho tăng trưởng kinh tế nhưng một số trường hợp khác thì nhà nước nên gia tăng chi tiêu nhằm thực hiện mục tiêu này Thực
tế, nếu chi tiêu chính phủ bằng không, kinh tế sẽ tăng trưởng rất thấp vì việc thực thi các hợp đồng kinh tế, bảo vệ quyền sở hữu tài sản, phát triển cơ sở hạ tầng… sẽ rất khó khả thi nếu không có chi tiêu của chính phủ Nói cách khác, một số khoản chi tiêu của chính phủ là cần thiết để tạo điều kiện cho kinh tế tăng trưởng
Trang 25Dù vậy, chi tiêu chính phủ nếu ở mức quá cao có thể vượt qua ngưỡng cần thiết,
sẽ cản trở kinh tế tăng trưởng do nguồn lực không còn được phân bổ hiệu quả Rahn (1986) đã xây dựng đường cong phản ánh mối quan hệ giữa chi tiêu chính phủ và tăng trưởng kinh tế Nghiên cứu này có hàm ý tăng trưởng kinh tế đạt mức tối đa khi chi tiêu chính phủ ở mức vừa phải và được phân bổ ưu tiên vào những hàng hoá công cộng thiết yếu như cơ sở hạ tầng, bảo vệ luật pháp và quyền sở hữu Nếu vượt qua mức tối
ưu này thì tăng trưởng kinh tế sẽ bị hạn chế bởi chính việc tăng thêm trong chi tiêu của chính phủ Nghiên cứu của Rahn (1986) tạo tiền đề cho các nghiên cứu khác về việc xác định mức chi tiêu tối ưu của chính phủ
Các nhà kinh tế nhìn chung cho rằng điểm tối ưu trên đường cong Rahn là khoảng
từ 15% đến 25% GDP Nếu theo ước tính này thì các quốc gia như Hồng Kông, Ấn Độ
là những nước có quy mô chi tiêu chính phủ phù hợp, trong khi Việt Nam lại ở mức 30% GDP (ADB, 2007) Điều dĩ nhiên là tăng trưởng kinh tế không chỉ phụ thuộc vào quy mô chi tiêu chính phủ, vì các chính sách khác như tiền tệ, thương mại, lao động cũng có vai trò quyết định Dù vậy, đây vẫn là điểm cần chú ý đối với tính hiệu quả của chi tiêu công trong việc thúc đẩy tăng trưởng kinh tế Các nhà kinh tế theo trường phái Keynes cho rằng chi tiêu công có lợi cho tăng trưởng kinh tế do làm tăng tổng sức mua, nghĩa là tổng cầu của nền kinh tế cũng sẽ gia tăng; do đó trường phái này khuyến khích nhà nước dùng ngân sách để đặt các đơn hàng lớn, trợ cấp tài chính và tạo môi trường đảm bảo lợi nhuận ổn định cho tư nhân Lý thuyết Keynes đánh giá quá cao việc tăng chi tiêu chính phủ nhằm kích thích gia tăng sản lượng kinh tế, giảm thất nghiệp, nhưng lại đã bỏ qua thực tế là chính phủ sẽ phải thực hiện điều nay thông qua đánh thuế thu nhập doanh nghiệp và người tiêu dùng và vay nợ
Lý thuyết của trường phái Keynes đã gặp thách thức lớn khi kinh tế thế giới có sự tăng trưởng ngoạn mục nhờ cắt giảm thuế cùng thắt chặt chi tiêu vào những năm 1980 Mặt khác một số nhà nghiên cứu đã lượng hoá tác động tích cực của chi tiêu chính phủ
Trang 26và sản lượng của nền kinh tế, nhưng các phương pháp ước lượng không đảm bảo tính tin cậy Những phương pháp ước lượng phù hợp hơn chỉ ra chi tiêu chính phủ thực chất không thể thúc đẩy tăng trưởng Hiện nay mặc dù lý thuyết của Keynes về chi tiêu công không còn được các nhà kinh tế sử dụng nhiều nhưng các chính trị gia vẫn thường xuyên nhắc đến như lý do giải thích gia tăng chi tiêu công nhằm thúc đẩy tăng trưởng Các hàng hoá và dịch vụ mà Chính phủ cung cấp thường có hiệu quả vốn đầu tư thấp, vốn lớn cần thời gian dài để thu hồi, nhưng lại rất cần thiết cho sự phát triển kinh tế xã hội Các nhà kinh tế theo trường phái Keynes thường ủng hộ chi tiêu chính phủ lớn nhưng họ không có phản đối gì với quy mô chi tiêu chính phủ nhỏ, miễn là chi tiêu chính phủ có thể được tăng khi cần thiết để đưa nền kinh tế thoát khỏi tình trạng trì trệ
Ngược lại với quan điểm của trường phái Keynes, nhiều nhà kinh tế cho rằng cắt giảm thâm hụt ngân sách sẽ hỗ trợ tăng trưởng kinh tế tốt hơn Họ lập luận rằng cắt giảm chi tiêu chính phủ (do đó cũng giảm được thâm hụt ngân sách) sẽ giúp lãi suất giảm nhiệt, tăng đầu tư, tăng năng suất và cuối cùng là thúc đẩy tăng trưởng Tuy nhiên
có nhiều lý do để tin rằng giả thuyết trên về mối quan hệ giữa thâm hụt, lãi suất, đầu tư
và tăng trưởng được đề cao quá mức Cụ thể, số liệu thực tế của Mỹ và nhiều nước khác cho thấy thâm hụt ngân sách có tác động không đáng kể đến lãi suất, đặc biệt là các nước có nền kinh tế Mỹ Trong khi đó cầu tín dụng mới là nhân tố quan trọng quyết định lãi suất, đây chính là lý do lãi suất luôn ở mức cao trong những giai đoạn kinh tế tăng trưởng tốt Hơn nữa thuế đánh vào thu nhập tiền lãi có ảnh hưởng mạnh đến lãi suất Do đó điều này hàm ý gia tăng thuế, mặc dù làm giảm thâm hụt ngân sách, nhưng nhiều khả năng lại làm tăng lãi suất và do đó không giúp kích thích đầu tư và tăng trưởng kinh tế Ngoài ra, quy mô chi tiêu lớn cũng cần được tài trợ bằng thuế thay
vì vay nợ Chi tiêu công quá nhiều gắn liền với một số ảnh hưởng tiêu cực như sau:
Thứ nhất, chi tiêu chính phủ được tài trợ từ các nguồn trong nền kinh tế Mọi lựa chọn biện pháp tài trợ chi tiêu đều có thể gây ra những hậu quả tiêu cực Ví dụ:
Trang 27tăng thuế sẽ cản trở các hành vi thúc đẩy sản xuất như lao động, tiết kiệm đầu tư…, thuế tạo ra các gánh nặng thu nhập và thậm chí có thể làm thay đổi hành vi sản xuất và tiêu dùng; vay nợ sẽ làm giảm nguồn vốn đáng lẽ dành ra đầu tư tư nhân, và trong một số trường hợp còn làm tăng lãi suất cho vay
Thứ hai, mặc dù một số khoản chi tiêu của chính phủ nhằm đáp ứng vận hành tốt của hệ thống pháp luật mang lại lợi ích rất lớn, tuy nhiên nhìn chung chính phủ thường không sử dụng nguồn lực một cách hiệu quả như khu vực tư nhân Thâm hụt ngân sách và tài trợ thâm hụt có thể tạo ra hiệu ứng chèn lấn (crowding-out effect) đối với đầu tư và tiêu dùng của khu vực tư nhân Khi chính phủ đi vay để tài trợ thâm hụt sẽ làm tăng lượng cầu vốn, và nếu giả định nguồn cung vốn cố định thì lãi suất cho vay sẽ phải tăng Điều này dễ dàng dẫn đến giảm nhu cầu vay vốn đầu tư của khu vực doanh nghiệp cũng như vay mượn tiêu dùng của khu vực
hộ gia đình
Thứ ba, một số khoản chi tiêu công vô tình khuyến khích các hành vi tiêu cực Nhiều chương trình trợ cấp của chính phủ dẫn đến những quyết định không mong muốn về mặt kinh tế Ví dụ điển hình là các chương trình phúc lợi khuyến khích các cá nhân lựa chọn nghỉ hưu thay vì lao động; các chương trình bảo hiểm thất nghiệp làm giảm động cơ tìm việc… Do đó, các chương trình hỗ trợ của nhà nước
có thể làm giảm tăng trưởng kinh tế và làm giảm sản lượng quốc gia vì chúng tạo các động lực chọn các hành vi kém hiệu quả, không có lợi cho sản xuất Ngoài ra động cơ tiết kiệm của dân cư có thể suy giảm vì các chương trình trợ cấp cho người về hưu, trợ cấp nhà ở, giáo dục… Cuối cùng, những đối tượng hưởng lợi từ chương trình chi tiêu của chính phủ có thể ít quan tâm đến tính hiệu quả của việc
sử dụng nguồn lực mà họ được nhận từ chính phủ Điều này làm giảm vai trò của các thị trường cạnh tranh và gây ra hiệu quả kém của các khu vực như giáo dục
và y tế
Lý thuyết về mối quan hệ giữa việc thu, chi ngân sách và tăng trưởng kinh tế:
Trang 28Một số mô hình tăng trưởng tân cổ điển được sử dụng phổ biến trên thế giới khi phân tích mối quan hệ giữa chi tiêu chính phủ và tăng trưởng kinh tế kinh điển như:
Mô hình của Robert Barro (1990): Barro (1990) đưa vai trò chính phủ vào mô
hình tăng trưởng tân cổ điển nhằm xét mối quan hệ giữa các lựa chọn chính sách của chính phủ đối với tăng trưởng kinh tế Barro (1990) giả định chi tiêu của chính phủ để mua sắm/cung cấp hàng hoá và dịch vụ công cộng (xây dựng cơ sở hạ tầng, bảo vệ quyền sở hữu…) có ảnh hưởng tích cực đến sản xuất của khu vực tư nhân Barro (1990) giả định chính phủ tài trợ cho chi tiêu của mình nhờ áp dụng thuế (luôn thực hiện chính sách ngân sách cân bằng)
Việc tăng thuế sẽ làm giảm sản phẩm biên sau thuế của tư bản, do đó làm giảm mức độ tích luỹ vốn và làm giảm tốc độ tăng trưởng kinh tế Tuy nhiên việc tăng thuế cũng có nghĩa tăng chi tiêu chính phủ cho các hàng hoá, dịch vụ công và những hàng hoá này làm tăng sản phẩm biên và sản lượng cho khu vực tư nhân Do có 2 chiều tác động nên ta có thể tìm được mức thuế suất tối ưu đối với tăng trưởng kinh tế Do đó,
mô hình của Barro (1990) có hàm ý rằng việc tăng chi tiêu chính phủ hay tăng thuế chỉ thúc đẩy tăng trưởng kinh tế khi tác động tích cực của tăng chi tiêu lớn hơn tác động tiêu cực của tăng thuế, hay nói cách khác khi thuế suất nhỏ hơn hiệu suất biên của khoản chi tiêu chính phủ đối với tổng sản lượng của nền kinh tế Kết quả này thống nhất với đường cong Rahn
Mô hình của Devarajan, Swaroop & Zou (1996): Devarajan et al (1996) dựa
trên mô hình của Barro (1990) và bổ sung một số thành phần chi tiêu chính phủ khác nhau nhằm nghiên cứu tác động đối với tăng trưởng kinh tế Mô hình của Devarajan et
al (1996) nhằm xác định thành phần chi tiêu nào hiệu quả và không hiệu quả, và sự chuyển dịch giữa các thành phần chi tiêu có tác động như thế nào đối với tăng trưởng kinh tế Mỗi loại chi tiêu được giả định có tác động khác nhau đối với tổng sản lượng của nền kinh tế, đồng thời giả định chính phủ vẫn tài trợ cho chi tiêu bằng cách áp
Trang 29dụng một mức thuế suất cố định (một lần nữa giả định chính phủ luôn thực hiện cán cân cân bằng) Mô hình của Devarajan et al (1996) hàm ý rằng sự chuyển dịch cơ cấu chi tiêu giữa 2 thành phần chi tiêu chính phủ có thể làm tăng hay giảm tốc độ tăng trưởng kinh tế không chỉ phụ thuộc vào hiệu quả của hai thành phần mà còn phụ thuộc vào tỷ trọng ban đầu của hai thành phần Mô hình của Devarajan et al (1996) cho thấy mối quan hệ giữa tốc độ tăng trưởng và thuế suất là không rõ ràng
Mô hình của Davoodi & Zou (1998): phát triển dựa trên hai mô hình trên để xét
mối quan hệ giữa tính tập trung của chính sách tài khoá và tăng trưởng kinh tế Trước
đó đã có nhiều nghiên cứu ủng hộ sự phân quyền trong việc thực thi chính sách tài khoá, vì chính sách phân quyền tài khoá tạo điều kiện gia tăng hiệu quả của các khoản chi vì các chính quyền địa phương có thông tin tốt hơn so với trung ương Mặt khác, chính quyền địa phương với các thông tin tốt hơn có thể cung cấp hàng hoá, dịch vụ thiết thực hơn đối với nhu cầu của cư dân, nhà sản xuất địa phương… Ngoài ra phân quyền chi ngân sách xuống cấp chính quyền địa phương nâng cao sự quan tâm của người dân sở tại đối với những người đại diện của họ, và người dân sẽ thận trọng trong việc bầu ra chính quyền địa phương, vốn đại diện cho quyền lợi của họ
Tuy nhiên, các hàng hoá công cộng cũng như các khoản thu ngân sách nếu có ảnh hưởng vươn ra ngoài phạm vi của địa phương thì không nên phân cấp cho địa phương,
mà để cho chính quyền trung ương đảm nhiệm Trong nghiên cứu của Davoodi và Zou (1998), chi tiêu chính phủ được chia thành 3 cấp: trung ương, bang và điạ phương Mô hình này chỉ ra rằng tốc độ tăng trưởng kinh tế là một hàm của thuế suất và các tỷ trọng chi tiêu của chính phủ các cấp Với tổng chi tiêu chính phủ cố định, sự thay đổi tỷ trọng giữa các cấp chính quyền có thể hỗ trợ thúc đẩy tăng trưởng nếu sự phân bổ hiện tại chưa tối ưu
Chính sách tài khoá có tác động đến nền kinh tế, và là công cụ hữu hiệu để điều tiết nền kinh tế Về lý thuyết, việc thay đổi chính sách thu ngân sách nhà nước có thể
Trang 30làm thay đổi thu nhập tương đối của cư dân, do đó tác động gián tiếp đến giá cả và dịch
vụ Từ đó có thể thấy chính sách tài khoá có liên quan đến hoạt động kinh tế Khi xét
về tác động của chính sách tài khoá, các nghiên cứu cần đánh giá tác động của cả hai công cụ là chi tiêu chính phủ và thu ngân sách nhà nước Chính sách tài khoá có vai trò đặc biệt quan trọng, mục tiêu là huy động vốn cho Ngân sách Nhà nước một cách vững chắc và ổn định, đáp ứng các nhu cầu chi tiêu của Nhà nước
Một trong những nguồn thu quan trọng tài trợ cho chi tiêu chính phủ là thuế Có nhiều loại thuế khác nhau như thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế thu nhập cá nhân, giá trị gia tăng, tiêu thụ đặc biệt… Ngoài ra còn có cách phân loại là thuế trực thu (direct taxes) và thuế gián thu (indirect taxes) Thuế trực thu đánh trực tiếp lên tài sản và/hoặc thu nhập của người dân, trong khi thuế gián thu đánh lên giá trị hàng hoá, dịch vụ Cùng với việc bán trái phiếu, tín phiếu, in tiền thì nhà nước cân nhắc thuế để tài trợ cho các chi tiêu của mình Dĩ nhiên mỗi chính sách huy động để tài trợ đều phải cân nhắc vì
có lợi ích và chi phí kinh tế đi kèm
Ảnh hưởng của thuế đối với sản lượng của nền kinh tế nhìn chung có nhận định khá thống nhất, so với rất nhiều ý kiến trái chiều về tác động của chi tiêu chính phủ và tăng trưởng kinh tế Cả các mô hình lý thuyết tân cổ điển và Keynes dự đoán thuế cao hơn khiến sản lượng giảm, mặc dù cơ cế gây ra kết quả này vẫn chưa có sự thống nhất cao Các nghiên cứu của Romer & Romer (2007) ghi nhận ảnh hưởng khá lớn của thuế đối với tăng trưởng, trong khi Karras (1999) và Furceri & Karras (2009) cho kết quả khá tương đồng là thấp hơn mức của Romer & Romer (2007) và Blanchard & Perotti (2002) và Romer & Bernstein (2009) đối với Mỹ
Karras & Furceri (2009) phân tích ảnh hưởng của thuế suất đối với tăng trưởng kinh tế sử dụng mẫu 19 quốc gia châu Âu từ 1965-2003 Phân tích của nghiên cứu này cũng chuyên sâu vào 4 loại thuế chủ yếu: thuế thu nhập, lợi tức và thuế do lãi chứng khoán; thuế tài sản, thuế hàng hoá dịch vụ… Kết quả cho thấy thuế tăng làm giảm sản
Trang 31lượng quốc gia trong dài hạn Kết quả này cho thấy tăng cường an sinh xã hội và thuế đối với hàng hoá và dịch vụ có ảnh hưởng tiêu cực đối với sản lượng so với tăng trong thuế thu nhập
Một số các nghiên cứu thực nghiệm
Đã có rất nhiều nghiên cứu thực nghiệm về tăng trưởng kinh tế có liên quan đến chi tiêu chính phủ từ những năm 1980 Kormendi & Meguire (1985), Aschauer (1989), Barro (1990) … nghiên cứu tổng chi tiêu của chính phủ và tăng trưởng kinh tế và năng suất xã hội Các nghiên cứu này phân loại chi tiêu công thành chi tiêu tiêu dùng công
và đầu tư công Trong khi đó, Easterly & Rebelo (1993), Devarajan et al (1996) phân loại chi tiết hơn các chi tiêu công và ảnh hưởng của chúng đối với tăng trưởng kinh tế Các nghiên cứu trước năm 1992 sử dụng các phương pháp phân tích hồi quy sử dụng
số liệu chéo đơn giản và các phương pháp kiểm định thống kê để xét vai trò chi tiêu chính phủ đối với tăng trưởng kinh tế
Điển hình là các nghiên cứu của Kormendi & Meguire (1985) và Barro (1991) sử dụng mẫu gồm nhiều quốc gia trên thế giới Các biến kiểm soát trong mô hình thực nghiệm của các nghiên cứu này là vốn con người, mức GDP ban đầu… vốn được chọn dựa trên các lý thuyết tăng trưởng tân cổ điển; cùng các biến số dựa trên dự đoán có tác động đến tăng trưởng kinh tế như lạm phát, tỷ trọng xuất khẩu trên GDP, tỷ trọng đầu
tư trên GDP, tiêu dùng chính phủ và các biến phản ánh thể chế kinh tế, chính trị trong nước, pháp luật bảo vệ quyền sở hữu… Kết quả của Kormendi & Meguire (1985) cho thấy tiêu dùng chính phủ không có tác động đáng kể, trong khi Barro (1991) cho thấy tiêu dùng chính phủ có tác động tiêu cực đến tăng trưởng kinh tế Ngoài ra còn có một
số nghiên cứu khác tính toán sự đóng góp riêng lẻ của nhân tố vốn, lao động và nhân tố tổng hợp gọi là kế toán tăng trưởng (Growth Accounting), được đề xuất bởi Solow (1957) Thực hiện phân tích kế toán tăng trưởng kinh tế giúp xác định được vai trò của các nhân tố trong tăng trưởng
Trang 32Các nghiên cứu thực nghiệm sau này được thực hiện với các phương pháp phức tạp hơn Cùng với hồi quy dữ liệu chéo, các phương pháp hồi quy số liệu bảng và chuỗi thời gian cũng được sử dụng Dowrick (1993) & Lin (1994) nghiên cứu liệu chi tiêu chính phủ có tác động đến tăng trưởng kinh tế hay ngược lại Levin & Zervos (1993), Easterly & Rebelo (1993) cho thấy với các biến giải thích khác nhau, kết quả có thể khác nhau và chỉ ra rằng hầu hết các tương quan giữa tăng trưởng và các thước đo khác nhau về thuế và chính sách tài khoá đều không bền vững trong nghiên cứu của họ Bên cạnh đó, một số khảo sát về mối liên hệ giữa tăng trưởng kinh tế và khu vực công cũng cho các kết quả khác nhau Một số nghiên cứu cho thấy tăng trưởng kinh tế có mối tương quan âm với chi tiêu công và thuế, như Grier & Tullock (1989) và Barro (1991) Một số nghiên cứu khác lại cho rằng các yếu tố này không có mối liên hệ nào cả, như Levine & Zervos (1993), Easterly & Rebelo (1993)
Nhìn chung rất khó đánh giá kết quả nghiên cứu nào đáng tín cậy vì các tác giả sử dụng các phương pháp ước lượng khác nhau, mẫu khác nhau cả về thời gian lẫn thành phần các quốc gia Ngoài ra số liệu ở nhiều nước cũng thiếu và không nhất quán Việc thiếu khung cơ sở nhất quán trong phân tích thực nghiệm khiến việc so sánh kết quả các nghiên cứu gặp nhiều khó khăn Các nhà kinh tế gần đây chuyển sang phân tích mối quan hệ giữa cơ cấu chi tiêu chính phủ và tăng trưởng kinh tế, thay vì chỉ xét mối quan hệ giữa tổng chi tiêu công và tăng trưởng Trong các thuật ngữ ngân sách chính phủ, chi ngân sách thường gồm 3 mục lớn: chi đầu tư phát triển, chi thường xuyên và các khoản chi khác (chi trả nợ, chi khác) Trong đó, chi đầu tư phát triển là các khoản chi nhằm cải thiện năng lực sản xuất cho nền kinh tế, có tác động dài hạn tới tăng trưởng kinh tế Chi thường xuyên là các khoản chi nhằm duy trì hoạt động của các cơ quan nhà nước và cũng là các khoản chi hàng năm
Chính sách tài khoá bao gồm hai yếu tố chính là việc thu cho ngân sách và chi tiêu chính phủ thực chất liên quan đến nhiều loại chi tiêu khác nhau như chi cho quốc
Trang 33phòng, giáo dục, y tế, giao thông vận tải, tiêu dùng chính phủ…, và mỗi loại chi tiêu có thể có tác động khác nhau đối với tăng trưởng Do đó các nghiên cứu như Devarajan et
al (1996), Chen (2006) và Ghosh & Gregorious (2008) đã mở rộng mô hình của Barro (1990) để xét tác động của các thành phần chi tiêu chính phủ khác nhau đối với tăng trưởng kinh tế Kỹ thuật chủ yếu được sử dụng là gán các hệ số co dãn khác nhau cho từng thành phần chi tiêu công khác nhau nhằm xác định quy mô và cấu trúc tối ưu của chi tiêu công đối với tăng trưởng kinh tế
Trong đó, Devarajan et al (1996) sử dụng phương pháp hồi quy dữ liệu chéo với mẫu gồm 43 quốc gia đang phát triển, cho thấy kết quả khá ngạc nhiên rằng sự gia tăng chi thường xuyên lại có tác động tích cực, trong khi gia tăng chi đầu tư có tác động tiêu cực đến tăng trưởng kinh tế Điều này theo tác giả có hàm ý cơ cấu chi tiêu chính phủ các quốc gia đang phát triển gặp một số sai lầm khi họ phân bổ quá nhiều nguồn lực cho các khoản chi đầu tư, trong khi các khoản chi này theo Devarajan et al (1996) là không có hiệu quả cao so với các khoản chi thường xuyên Ghosh & Gregoriou (2008)
sử dụng phương pháp hồi quy phức tạp hơn với kỹ thuật ước lượng moment tổng quát (GMM) nhưng mẫu nhỏ hơn 15 nước đang phát triển trong khoảng thời gian 28 năm, cũng đưa ra kết quả khá thống nhất với kết quả trên, nghĩa là chi thường xuyên vẫn có hiệu quả hơn so với chi đầu tư
Ngoài ra, khả năng tác động của mức phân cấp tài khoá đối với tăng trưởng kinh
tế ở một số các nước đang phát triển cũng được nghiên cứu khá nhiều Hàng loạt các phân tích thực nghiệm như Davoodi et al (1995), Zhang & Zhou (1998), Lin & Liu (2000) sử dụng các thước đo phân cấp tài khoá khác nhau Các kết quả thu được cũng không thống nhất Lin & Liu (2000) chỉ ra rằng sự phân cấp tài khoá có tác động tích cực đến tăng trưởng kinh tế Trung Quốc Trong khi đó, các nghiên cứu của Zhang & Zhou (1998), Davoodi et al (1998) đã cho thấy sự phân cấp tài khoá làm chậm tốc độ tăng trưởng lần lượt tại Trung Quốc và Mỹ Trái lại, Woller & Phillips (1998) lại
Trang 34không tìm thấy mối liên hệ nào giữa hai yếu tố này sử dụng mẫu các quốc gia đang phát triển
Nghiên cứu đối với Việt Nam của Phạm (2008) dựa trên các mô hình của Barro (1990) và Devarajan et al (1996) nhằm xét mối quan hệ giữa cơ cấu chi tiêu công và tăng trưởng kinh tế trong giai đoạn 2001-2005 Kết quả cho thấy các khoản chi tiêu cho các lĩnh vực khác nhau có hiệu quả khác nhau Các khoản chi cho đầu tư có hiệu quả tích cực hơn các khoản chi thường xuyên với một số ngành nông lâm thuỷ sản, giáo dục, y tế; và có chiều hướng ngược lại với ngành giao thông vận tải Các tác giả cho rằng kết quả nghiên cứu có hàm ý chuyển dịch cơ cấu chi tiêu giữa các ngành cũng như giữa chi thường xuyên và đầu tư có thể thúc đẩy tăng trưởng kinh tế Việt Nam
Ở tầm vóc nhỏ hơn là nghiên cứu của Đặng và Bùi (2014) xét ảnh hưởng dài và ngắn hạn của chi tiêu công và tổng sản lượng GDP tại thành phố Hồ Chí Minh, Việt Nam từ 1990 - 2012, sử dụng mô hình hồi quy đồng tích hợp và mô hình ECM Kết quả nghiên cứu này chỉ ra chi thường xuyên không giúp tăng trưởng kinh tế trong dài hạn, nhưng có tác động tích cực trong ngắn hạn Tiếp theo, chi đầu tư phát triển có tác động tích cực đối với tăng trưởng kinh tế trong cả ngắn và dài hạn, với hiệu ứng trong dài hạn cao hơn ngắn hạn Ngoài ra, tổng chi tiêu chính phủ tác động tiêu cực đến tăng trưởng kinh tế trong ngắn hạn, trong khi đầu tư tư nhân có ảnh hưởng tích cực đến tăng trưởng kinh tế cả trong ngắn và dài hạn
Một số nghiên cứu như Bohl (1996) áp dụng kiểm định đồng liên kết và nhân quả Granger đã ủng hộ Wagner đối với các quốc gia Mỹ và Canada Trong khi đó Ghali (1998) cũng sử dụng kỹ thuật đồng liên kết cho mẫu 10 nước trong khối OECD cho thấy quy mô chi tiêu công có quan hệ nhân quả với tăng trưởng kinh tế Nghiên cứu của Sử Đình Thành (2011) sử dụng dữ liệu chuỗi cho Việt Nam từ 1990-2010 sử dụng
mô hình VAR để kiểm định mối quan hệ nhân quả giữa 2 yếu tố này Kết quả cho thấy chi tiêu chính phủ có vai trò tích cực đối với tăng trưởng kinh tế, do đó ủng hộ quan