1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

SKKN 2016 2017 nhung

33 160 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 33
Dung lượng 3,17 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Sáng kiến kinh nghiệm của cấp giáo dục mầm non. Đây là những kinh nghiệm thực tế, được đúc rút qua quá trình giảng dạy và tìm hiểu của giáo viên. Đây là tài liệu dùng làm đánh giá giáo viên, đồng thời làm tài liệu tham khảo cho các đồng nghiệp trên các tỉnh thành cả nước.

Trang 1

BÁO CÁO KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU, ỨNG DỤNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

“MỘT SỐ BIỆN PHÁP PHÁT TRIỂN KỸ NĂNG VẬN ĐỘNG TINH CHO TRẺ 24-36 THÁNG TUỔI THÔNG QUA HOẠT ĐỘNG VỚI ĐỒ VẬT”

1 Lời giới thiệu

Nước ta đang trong giai đoạn hội nhập, vấn đề phát triển con người toàn diệnđang được quan tâm đặc biệt Chính vì vậy, giáo dục đóng vai trò quan trọng trongcông cuộc Công nghiệp hóa - Hiện đại hóa đất nước và đổi mới nền giáo dục làquốc sách hàng đầu, được ví như đòn bẩy của sự phát triển kinh tế - xã hội

Giáo dục mầm non là cấp học đầu tiên trong hệ thống giáo dục quốc dân, đặtnền móng cho sự hình thành và phát triển nhân cách con người Việt Nam trong giaiđoạn hiện nay Mục tiêu của giáo dục mầm non là giúp trẻ em phát triển về thểchất, tình cảm, trí tuệ, thẩm mỹ, hình thành những yếu tố đầu tiên của nhân cách,chuẩn bị cho trẻ vào lớp một Như vậy, giáo dục thể chất là một trong năm lĩnh vựccần phát triển cho trẻ ngay từ khi còn nhỏ để trẻ có cơ hội được giáo dục, hướngdẫn, uốn nắn và tạo điều kiện phát triển toàn diện Một trong những nội dung quantrọng của giáo dục thể chất là rèn luyện các kĩ năng vận động cho trẻ, trong đó có

kĩ năng vận động thô và kĩ năng vận động tinh (KNVĐT) Nếu như nhiệm vụ củaviệc rèn luyện kĩ năng vận động thô là phát triển sức khỏe và các tố chất thể lực, thìnhiệm vụ rèn luyện KNVĐT là giúp trẻ vận động một cách khéo léo, tỉ mỉ, chínhxác thông qua việc phối hợp giữa mắt với các nhóm cơ nhỏ của bàn tay và ngóntay Nhờ có KNVĐT, trẻ có thể thăm dò và khám phá thế giới xung quanh, làm chủđược những hành động của bản thân và dần trở nên độc lập Ngoài ra, kĩ năng này

có thể giúp trẻ thực hiện được những nhiệm vụ đòi hỏi sự tinh khéo, giải quyếtnhững nhiệm vụ khác nhau một cách tự tin, thoải mái, không căng thẳng và mệtmỏi

Ở lứa tuổi nhà trẻ, KNVĐT đã được hình thành và trẻ có thể thực hiện một

số thao tác nhất định bằng việc kết hợp giữa các nhóm cơ nhỏ của bàn tay, ngón tayvới mắt Tuy nhiên trên thực tế, hiệu quả của việc phát triển KNVĐT cho trẻ 24 –

36 tháng tuổi chưa cao Có thể kể đến một số nguyên nhân như: Người lớn chưahiểu rõ về vai trò và nhiệm vụ phát triển KNVĐT cho trẻ, khả năng tổ chức hoạt

Trang 2

động của giáo viên còn nhiều hạn chế, số lượng giáo viên trong lớp ít, người lớnkhông tin tưởng vào khả năng của trẻ ….

Hoạt động chủ đạo của trẻ 24 – 36 tháng tuổi là hoạt động với đồ vật(HĐVĐV), hoạt động này làm thay đổi những đặc điểm tâm sinh lí, góp phần quantrọng trong việc hình thành và phát triển nhân cách của trẻ Khi tác động vào đồvật, trẻ có cơ hội mở rộng vốn kiến thức của bản thân về thế giới xung quanh, nắmđược cách thức thao tác với đồ vật bằng cách phối hợp sử dụng giữa tay và các giácquan như mắt, tai… , nhờ vậy mà KNVĐT của trẻ được hình thành và phát triển

Xuất phát từ vấn đề trên là một giáo viên trực tiếp đứng lớp chăm sóc giáodục các cháu 24-36 tháng tuổi tôi luôn trăn trở, suy nghĩ để tìm ra những giải phápphát triển kĩ năng vận động tinh cho trẻ Chính vì vậy tôi đã mạnh dạn chọn đề tài

“ Biện pháp phát triển kĩ năng vận động tinh cho trẻ 24 – 36 tháng tuổi thông

qua hoạt động với đồ vật” làm đề tài nghiên cứu.Với mong muốn kết quả nghiên

cứu của đề tài sẽ góp phần nâng cao hiệu quả giáo dục trẻ lứa tuổi 24-36 tháng tuổi

2 Tên sáng kiến:

“ Biện pháp phát triển kĩ năng vận động tinh cho trẻ 24 – 36 tháng tuổi thôngqua hoạt động với đồ vật”

3 Tác giả sáng kiến:

- Họ và tên: Lê Thị Hồng Nhung

- Địa chỉ tác giả sáng kiến: Trường mầm non Định Trung – Xã Định Trung – thànhphố Vĩnh Yên – tỉnh Vĩnh Phúc

- Số điện thoại: 0989593424; E_mail : hongnhung211290@gmail.com

4 Chủ đầu tư tạo ra sáng kiến: Lê Thị Hồng Nhung

5 Lĩnh vực áp dụng sáng kiến:

Áp dụng trực tiếp đối với trẻ 24-36 tháng tuổi ở trường mầm non Định Trung– Xã Định Trung – thành phố Vĩnh Yên – tỉnh Vĩnh Phúc

6 Ngày sáng kiến được áp dụng lần đầu:

Từ tháng 10/9 /2016 đến 15/02/2017 đưa các giải pháp áp dụng vào thựctiễn chăm sóc giáo dục trẻ nhằm “ phát triển kĩ năng vận động tinh cho trẻ 24 – 36

Trang 3

tháng tuổi thông qua hoạt động với đồ vật” - Lĩnh vực phát triển thể chất trẻ 24-36

tháng tuổi.

7 Mô tả bản chất của sáng kiến:

* Về nội dung của sáng kiến

7.1 Cơ sở lý luận “ kĩ năng vận động tinh và phát triển kĩ năng vận động tinh cho trẻ 24 – 36 tháng tuổi thông qua hoạt động với đồ vật”

7.1.1 Một số khái niệm cơ bản.

* Khái niệm kĩ năng:

Kĩ năng là năng lực của con người biết vận dụng có kết quả những tri thức

về phương thức hành động đã được chủ thể lĩnh hội vào việc giải quyết nhiệm vụnhằm đạt được mục đích đề ra

* Khái niệm kĩ năng vận động:

Kĩ năng vận động là năng lực giải quyết nhiệm vụ vận động đòi hỏi sự phốihợp thần kinh và cơ bắp ở mức độ cao nhằm đạt được mục đích đề ra

* Khái niệm “Vận động tinh”

Vận động tinh là vận động sử dụng các cơ nhỏ của bàn tay, ngón tay phốihợp với sự vận động của thị giác để thực hiện vận động một cách tỉ mỉ, tinh tế,khéo léo và chính xác

* Khái niệm “Kĩ năng vận động tinh”

Kĩ năng vận động tinh là năng lực điều khiển, phối hợp, kiểm soát các cơnhỏ của bàn tay, ngón tay cùng với sự vận động của thị giác để thực hiện vận độngmột cách tỉ mỉ, tinh tế, khéo léo và chính xác

* Khái niệm “Phát triển”

Phát triển là sự thay đổi theo chiều hướng tích cực nhằm tạo ra những biếnđổi trong đối tượng theo một diện mạo mới tốt hơn, hoàn thiện hơn dưới nhiều hìnhthức khác nhau như tăng trưởng, tiến hóa, phân hóa, chuyển đổi, mở rộng, cuốicùng tạo ra sự biến đổi về chất

* Khái niệm “Phát triển kĩ năng vận động tinh”

Phát triển kĩ năng vận động tinh là sự thay đổi tích cực năng lực điều khiển,phối hợp, kiểm soát các cơ nhỏ của bàn tay, ngón tay cùng với sự vận động của mắtnhằm thực hiện vận động một cách tỉ mỉ, tinh tế, khéo léo và chính xác

Trang 4

* Khái niệm “hoạt động”

Hoạt động là mối quan hệ tác động qua lại giữa con người với thế giới(khách thể) nhằm tạo ra sản phẩm cả về phía thế giới cả về phía con người (chủthể)

* Khái niệm “Hoạt động với đồ vật”

HĐVĐV là tác động của trẻ đến thế giới đồ vật xung quanh nhằm tìm hiểu,khám phá đặc tính và cách sử dụng của đồ vật, từ đó giúp trẻ mở rộng hiểu biết vềthế giới xung quanh và nắm được phương thức sử dụng đồ vật theo kiểu Người

* Khái niệm “Biện pháp phát triển kĩ năng vận động tinh cho trẻ 24 – 36 thángtuổi thông qua hoạt động với đồ vật”

Biện pháp phát triển KNVĐT cho trẻ 24 – 36 tháng tuổi thông qua HĐVĐV

là cách thức tổ chức HĐVĐV cho trẻ 24 – 36 tháng tuổi nhằm giúp trẻ phát triểnnăng lực điều khiển, phối hợp, kiểm soát các cơ nhỏ của bàn tay, ngón tay cùng với

sự vận động của mắt nhằm thực hiện vận động một cách tỉ mỉ, tinh tế, khéo léo vàchính xác

7.1.2 Đặc điểm kĩ năng vận động tinh và đặc điểm hoạt động với đồ vật của trẻ 24 – 36 tháng tuổi

* Đặc điểm KNVĐT của trẻ giai đoạn 24-36 tháng tuổi

Trẻ 24-36 tháng tuổi xuất hiện kĩ năng vận động tinh và ngày càng trở nêntinh khéo hơn Vận động bàn tay, ngón tay của trẻ cuối giai đoạn này trở nên linhhoạt hơn Các giác quan của trẻ phát triển tinh tường hơn, đặc biệt là khả năng phốihợp các giác quan với vận động:

+ Trẻ bắt đầu tự ăn bằng các dụng cụ ăn uống, có thể xếp chồng các khối lên

nhau, nối dài hơn các nguyên vật liệu xây dựng với nhau Trẻ bắt đầu học cách cầmthìa, ban đầu trẻ cầm thìa bằng cả bàn tay và cảm thấy khó khăn từ việc dùng thìa đểxúc, nhấc thìa lên và đưa được thìa vào miệng, cách đưa thức ăn vào miệng màkhông bị rơi ra ngoài, … Cần phải mất thời gian dài làm quen để trẻ có thể xúc được

đồ ăn đưa lên miệng và vẫn cầm thìa bằng cả bàn tay Khi hệ cơ xương của trẻ pháttriển hơn, các ngón tay trở nên khỏe mạnh và linh hoạt, kĩ năng điều khiển đồ vật tốthơn, trẻ đã có thể cầm thìa đúng cách và xúc đồ ăn đưa lên miệng mà không bị rơi rangoài

Đối với việc xếp chồng khối, đây là một kĩ năng đòi hỏi cả sự nhanh nhẹn,chính xác và khéo léo Trẻ cần phải nhặt được đồ vật và cầm bằng các ngón tay chứ

Trang 5

không phải bằng cả bàn tay, sau đó đặt các khối chồng lên nhau sao cho khớp để cóthể xếp chồng được nhiều khối Trên thực tế, trẻ chỉ chú ý tới việc làm thế nào chonhanh và chồng được nhiều khối lên nhau, chính vì vậy dẫn đến trường hợp cáckhối đặt lệch nhau và rất dễ đổ Một số trẻ dùng cả bàn tay để nắm đồ vật và đặt đồvật lên nhau một cách vụng về, làm cho các khối đã chồng trước đó bị dịch chuyển,điều đó làm cho trẻ loay hoay và cảm thấy khó khăn.

+ Trẻ có thể dùng dây để xâu các hạt vào với nhau Đây là một kĩ năng khóđòi hỏi trẻ phải kiên trì và thực sự khéo léo Ở tuổi này, trẻ có thể xâu những đồ vật

có lỗ tròn to và dây xâu cứng đầu Trong quá trình xâu hạt, trẻ gặp khó khăn trongviệc điều khiển dây xâu sao cho đúng lỗ trên đồ vật và còn xuất hiện nhiều động tácthừa Trẻ cầm dây xâu quá dài hoặc quá ngắn, làm cho đầu dây không cố định dẫnđến việc khó điều khiển để luồn dây qua lỗ của hạt Nhiều trẻ đã biết cách cầmđúng dây xâu nhưng lại không biết cách điều khiển sao cho dây xâu luồn thẳngđược vào lỗ tròn, trẻ thường xâu lệch ra ngoài

+ Trẻ cũng bắt đầu chú ý đến những dụng cụ vẽ mặc dù sự cầm nắm bút chì

màu của trẻ ban đầu có thể đang còn vụng về Trẻ cầm bút chưa đúng cách và nhiềutrẻ cầm bằng cả bàn tay, những nét viết – vẽ ban đầu còn nguệch ngoạc và chưađược định hình, trẻ hay cầm bút vẽ thành vòng tròn xoáy ốc Lực cầm bút và viết –

vẽ còn chưa được kiểm soát, chính vì vậy trẻ hay ấn mạnh tay và thường làm ráchgiấy

- Trẻ ở giai đoạn này thường xuyên sử dụng những kĩ năng vận động tinh đểthăm dò, khảo sát, khám phá thế giới xung quanh và dần đạt đến sự độc lập Trẻthường xuyên dùng tay của mình để tiếp xúc với các đồ vật và hành động bằng

Trang 6

nhiều cách khác nhau với những đồ vật đó Trẻ sử dụng các ngón tay để thực hiệnnhững hành động như có thể nhặt những đồ vật nhỏ Khi kĩ năng này mới đượchình thành, trẻ sử dụng các cơ bàn tay một cách vụng về, cứng nhắc và khá chậm,trẻ nhặt đồ vật không chính xác hoặc nhặt không trúng đồ vật Sau đó, trẻ dần trởnên thuần thục hơn, thao tác chính xác, phối hợp tay - mắt một cách linh hoạt hơn.Lúc đầu, trẻ dùng cả bàn tay của mình để thao tác, ví dụ như cầm viên bi hoặc khối

gỗ bằng cả bàn tay Sau đó, khi hành động đã thành thạo hơn, trẻ chỉ sử dụng cácngón tay cần thiết để nâng lên – hạ xuống đồ vật và đặt vào vị trí mà chúng muốn

* Đặc điểm hoạt động với đồ vật của trẻ 24 – 36 tháng tuổi

- Hành động của trẻ với đồ vật vẫn theo nguyên tắc “Thử và sai” nhắc đi nhắclại nhiều lần, nhờ đó mà trẻ nhận thức, tìm hiểu được phương thức sử dụng và nhữngtính chất mới lạ của đồ vật Trẻ tác động vào các đối tượng mà trẻ bắt gặp, ban đầutrẻ có thể thao tác sai với đối tượng Ví dụ: Trẻ làm quen với một đồ vật mới lạ làquả bóng mà trẻ chưa từng biết đến trước đó, trẻ bắt đầu có những hành động nhằmtác động vào đồ vật như bóp, đập, kéo, đẩy, ném… Sau nhiều hành động thử và sainhư vậy, trẻ nhận ra được rằng quả bóng có thể lăn được và trẻ có thể dùng tay đểđẩy hoặc lấy chân để đá vào quả bóng Hoặc đối với một đồ chơi phát ra âm thanh,nếu trẻ không tác động vào nó thì nó không kêu, trẻ kéo – đẩy đồ vật cũng khôngthấy đồ vật có điều gì đặc biệt, nhưng khi trẻ bấm nút hoặc vỗ vào đồ vật thì đồ vật

đó phát ra tiếng kêu, mỗi một nút bấm đồ chơi lại phát ra một loại âm thanh khácnhau, từ đó trẻ tìm ra được cách làm cho đồ vật kêu theo mong muốn của mình

Ngoài ra, trẻ có thể nhận ra được đặc điểm và tính chất của từng loại đồ vậtvới chất liệu khác nhau Ví dụ: Cái cốc dùng để uống nước, và chiếc cốc thủy tinh

dễ vỡ, khi trẻ dùng thìa gõ vào cốc làm cái cốc bị vỡ, trẻ sẽ nhận ra rằng không thểdùng thìa gõ vào cái cốc đó được Ngược lại đối với cốc nhựa, trẻ gõ mà thấy rằngcốc không vỡ như cốc thủy tinh, từ đó trẻ có thể thấy được tính chất của 2 loại cốc

là khác nhau

- Trong vui chơi với bạn, trẻ nhận ra mình, muốn nhận làm nhiều việc, muốnhơn bạn và chưa có nhu cầu hợp tác Ý thức về bản thân là nguồn gốc làm nảy sinhnhững ý muốn và hành động phân biệt mình với người khác, do ảnh hưởng củanhững hoạt động ngày càng mang tính độc lập nhiều hơn của trẻ Lúc này trẻ đã cókhả năng tự mình thực hiện những hành động với đồ vật, không cần sự giúp đỡ củangười khác, đã có khả năng tự phục vụ trong những trường hợp đơn giản Kết quả

Trang 7

là trẻ đã bắt đầu hiểu được rằng chính bản thân mình đã làm được việc này hay việcnọ.

Trong quá trình vui chơi với bạn, trẻ biết nhiệm vụ của mình và công việc

mà cô giáo yêu cầu, trẻ luôn muốn được khen và thực hiện nhiệm vụ cố gắng nhanhhơn các bạn khác, trẻ thường tự làm một mình và chưa biết hợp tác với các bạn

Trong thời kì này, hoạt động của trẻ không chỉ hướng về thế giới bên ngoài(thế giới đồ vật và những người xung quanh) mà còn hướng tới bản thân mình, bắtđầu tự nhận thức Điều đó thể hiện ở chỗ có nhiều lúc trẻ muốn thử sức với các đồvật, cố gắng thực hiện các hành động với đồ vật và chú ý theo dõi những sự thayđổi mà nó tạo ra ở đó (chẳng hạn trẻ cầm búa đóng đinh, cầm xẻng xúc đất, đẩy xecát, tắt bật đèn) Chính nhờ các hành động do ý muốn chủ động ấy mà trẻ cảm thấymình có thể làm thay đổi các vật xung quanh Đồng thời mối quan hệ với nhữngngười xung quanh ngày càng được mở rộng hơn nhờ có sự giao tiếp bằng ngônngữ Tất cả những thay đổi ấy khiến trẻ lần đầu tiên nhận ra sức mạnh nơi bản thânmình và nhận ra mình là một chủ thể

- Trẻ chủ yếu hoạt động một mình, thích tự mình thực hiện Từ tình trạng hòa

mình vào những người khác, trẻ chuyển sang tự khẳng định mình trong thế giớixung quanh, trên thực tế trẻ đã làm được nhiều điều, trẻ nắm được phương thức sửdụng đồ vật, tự thỏa mãn được nhiều nhu cầu và chủ động giao tiếp với nhữngngười xung quanh bằng ngôn ngữ Trong quá trình chơi, trẻ chỉ chơi cạnh nhau và

tự nói với mình chứ chưa biết chơi cùng với bạn Mọi hoạt động của trẻ đều là hoạtđộng cá nhân một mình, trẻ chưa có kĩ năng chơi cùng với bạn và phân công côngviệc cho nhau Ví dụ: Cô giáo cho các bạn ngồi theo nhóm để trẻ chơi xâu hạt, nếu

là trẻ mẫu giáo thì trẻ có thể chia sẻ với nhau về cách mà trẻ tạo ra những chiếcvòng nhiều màu sắc hoặc nói với bạn về cách thực hiện Nhưng đối với trẻ lứa tuổinày, trẻ tự mình thực hiện nhiệm vụ mà cô đưa ra, nếu có thể thì trẻ chỉ nhìn sangbạn bên cạnh và xem bạn thực hiện chứ không nói hoặc hỏi thêm điều gì Nguyênnhân là do đặc điểm tâm lý của trẻ lứa tuổi này chi phối, ngoài ra do ngôn ngữ củatrẻ 24 – 36 tháng tuổi còn hạn chế, trẻ có nhu cầu giao tiếp nhưng lại không cóphương tiện giao tiếp hoặc phương tiện giao tiếp không đầy đủ, trẻ không có nhiềuvốn từ để giao tiếp

- Mục đích vui chơi chưa rõ ràng, những mẫu hình hành động đồ chơi chưanằm trong mục đích vui chơi của trẻ mà trẻ thích bắt chước, có thể bắt chước một

Trang 8

cách không trọn vẹn một hành động Trẻ chơi là chơi chứ không có mục đích rõràng, trẻ sử dụng các khối để lắp ghép ra những hình thù khác nhau chứ không cómục đích ghép ra một đồ vật cụ thể nào Trẻ có thể nhìn thấy bạn xếp chồng cáckhối vuông lên nhau và làm theo chứ không biết bạn làm gì và mình đang làm gì.Trẻ nhìn theo cô và bắt chước theo cô nhưng không có khả năng làm theo toàn bộnên trẻ chỉ có thể bắt chước được một phần, những động tác khó không thực hiệnđược trẻ có thể sẽ bỏ qua.

7.2 Thực trạng vấn đề nghiên cứu “ kỹ năng vận động tinh của trẻ 24-36 tháng tuổi” ở trường Mầm non tôi đang công tác.

7.2.1 Về nhận thức giáo viên.

Kết quả nghiên cứu thực trạng cho thấy rằng, phần lớn giáo viên (90%) đãnhận thức được tầm quan trọng của việc phát triển KNVĐT cho trẻ 24 – 36 thángtuổi thông qua HĐVĐV, một số ít giáo viên cho rằng có vai trò quan trọng (10%).Không có giáo viên nào coi nhẹ hay phủ nhận vai trò của KNVĐT Như vậy, giáoviên đã có nhận thức đúng đắn về vai trò của KNVĐT đối với việc phát triển củatrẻ 24 – 36 tháng tuổi Giáo viên đã đưa ra một số biện pháp phát triển KNVĐT chotrẻ, tuy nhiên những biện pháp mà giáo viên sử dụng vẫn chưa đạt được hiệu quảcao

7.2.2 Về nhận thức của phụ huynh.

Kết quả nghiên cứu thực trạng cho thấy một số phụ huynh đã có nhận thứcđúng đắn về KNVĐT đối với sự phát triển của trẻ Đa số phụ huynh vẫn còn hạnchế trong việc nhận thức về KNVĐT đối với sự phát triển của trẻ Phụ huynh vẫncho rằng trẻ 24-36 tháng tuổi còn nhỏ nên chưa cần thiết phải cho trẻ hoạt độngnhiều

Trang 9

thông qua hoạt động với đồ vật” tôi đã lập biểu bảng khảo sát 20 trẻ ở lớp 24-36tháng tuổi mà tôi phụ trách:

* Đối với trẻ:

Các tiêu chí

Số lượng trẻ khảo sát

Mức độ phát triển KNVĐT trước khi áp

Trang 10

* Thuận lợi và khó khăn trong việc “ phát triển KNVĐT cho trẻ 24-36 tháng tuổi thông qua hoạt động với đồ vật”

Qua quá trình điều tra và khảo sát về “ kĩ năng vận động tinh trẻ 24-36 thángtuổi” tại trường mầm non tôi đang công tác Để thực hiện đề tài này tôi nhận thấy

có thuận lợi và khó khăn như sau:

* Thuận lợi

Được công tác tại đơn vị trường đã có nhiều thành tích và là tốp đầu củahuyện, Ban giám hiệu nhà trường luôn quan tâm, chỉ đạo sát sao về công tác chămsóc- nuôi dưỡng giáo dục trẻ

Về cơ sở vật chất: Lớp học được trang bị đầy đủ đồ dùng đồ chơi, học liệuđáp ứng việc thực hiện chương trình giáo dục mầm non, có máy tính được kết nốiinternet Môi trường lớp học đảm bảo an toàn cho trẻ

Bản thân đã có trình độ đào tạo trên chuẩn, được tham gia học tập đầy đủ cáclớp bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ của Phòng giáo dục và nhà trường tổ chức,luôn nhiệt tình, yêu nghề, mến trẻ, tích cực học hỏi trau dồi đạo đức, kiến thức, kỹnăng, nghiệp vụ sự phạm để nâng cao tay nghề và năng lực công tác, năng động,sáng tạo trong công việc, luôn có ý thức tìm kiếm, tận dụng những vật liệu sẵn có

để đưa vào hoạt động và cùng trẻ tạo ra sản phẩm, có giọng nói thu hút sự tậptrung, chú ý của trẻ, nắm chắc đặc điểm tâm - sinh lý, phương pháp chăm sóc giáodục trẻ 24 – 36 tháng tuổi

* Khó khăn.

Lớp học gần xưởng mộc nên đôi khi bị ảnh hưởng của tiếng ồn ( máy móc) dễlàm trẻ bị phân tán

Đồ dùng phục vụ hoạt động cho cô và trẻ còn thiếu

Đa số bậc phụ huynh chưa có những quan tâm đúng mức và sự định hướngđúng đắn đối với trẻ Một số cha mẹ trẻ chưa dành nhiều thời gian để chơi với trẻ

và đáp ứng nhu cầu cần thiết của trẻ

Từ tình hình thực trạng trên tôi đã mạnh dạn áp dụng những biện pháp để “Phát triển kĩ năng vận động tinh cho trẻ 24 – 36 tháng tuổi thông qua hoạt động với

đồ vật” của lớp tôi như sau:

Trang 11

7.3 Biện pháp phát triển kỹ năng vận động tinh cho trẻ 24-36 tháng tuổi thông qua hoạt động với đồ vật.

7.3.1 Biện pháp 1: Lựa chọn hoạt động với đồ vật phù hợp với mục đích và nội dung phát triển kĩ năng vận động tinh cho trẻ 24 – 36 tháng tuổi ( Xây dựng

kế hoạch…)

HĐVĐV là hoạt động chủ đạo của trẻ 24 – 36 tháng tuổi, đây là hoạt động có ýnghĩa to lớn đối với sự phát triển toàn diện của trẻ, góp phần hình thành nhân cách vànhững phẩm chất tốt, làm tiền đề cho hoạt động vui chơi ở lứa tuổi mẫu giáo.HĐVĐV có vai trò quan trọng đối với việc phát triển KNVĐT, việc lựa chọn nội dunghoạt động phù hợp với KNVĐT của trẻ giúp giáo viên thuận tiện trong việc lập kếhoạch, tổ chức hoạt động và đánh giá mức độ phát triển KNVĐT, giúp cho quá trình

tổ chức hoạt động hiệu quả hơn

HĐVĐV phù hợp sẽ tạo điều kiện thuận lợi để KNVĐT của trẻ được pháttriển đúng cách, các kĩ năng được hình thành chính xác Ngoài ra, HĐVĐV giúp trẻtham gia hoạt động vừa sức, có hứng thú hơn và đạt được những kĩ năng cần thiết

+ Căn cứ vào nội dung phát triển KNVĐT và mức độ phát triển của trẻ, căn

cứ vào nội dung HĐVĐV trong chương trình GDMN để lựa chọn HĐVĐV phùhợp với mục đích và nội dung phát triển KNVĐT cho trẻ

+ Sắp xếp nội dung của HĐVĐV tương ứng với nội dung phát triển KNVĐTcủa trẻ 24 – 36 tháng tuổi và đưa vào hoạt động trong từng chủ đề, phân chia hoạtđộng theo tuần và theo từng hoạt động

- Khi tiến hành các nội dung trên giáo viên cần tiến hành theo 3 bước sau:

Bước 1: Giáo viên tìm hiểu về nội dung phát triển KNVĐT cho trẻ trong giai

đoạn này Trong chương trình GDMN, nội dung phát triển KNVĐT được đề cậpđến bao gồm:

+ Xoa tay, chạm các đầu ngón tay với nhau, rót, nhào, khuấy, đảo, vò xé

+ Đóng cọc bàn gỗ

Trang 12

Bước 2: Thông qua việc tìm hiểu nội dung phát triển KNVĐT và nội dung

HĐVĐV của trẻ trong chương trình GDMN, căn cứ vào mức độ phát triển của trẻ ởtừng nhóm lớp, điều kiện thực tiễn của địa phương, giáo viên tiến hành lựa chọncác HĐVĐV phù hợp với mục đích và nội dung phát triển KNVĐT cho trẻ 24 – 36tháng tuổi Một nội dung phát triển KNVĐT giáo viên có thể lựa chọn một hoặcmột số HĐVĐV và có thể tổ chức ở các hoạt động khác nhau với vai trò hình thành

kĩ năng hoặc phát triển kĩ năng bằng cách luyện tập

Bước 3: Giáo viên cần nắm được kế hoạch năm, kế hoạch tháng, tuần, ngày.

Sau đó, dựa vào hoạt động cần tổ chức cho trẻ để sắp xếp các nội dung phát triểnKNVĐT và đưa vào các hoạt động tương ứng như hoạt động vui chơi, hoạt độngchơi – tập có chủ định hay hoạt động ngoài trời…

Từ đó giáo viên xây dựng kế hoạch cụ thể đối với từng hoạt động Trước hết,cần xác định mục tiêu rõ ràng cho hoạt động, sau đó là đưa ra những đồ dùng cầnchuẩn bị, xác định hình thức và phương pháp thực hiện, cuối cùng là tổ chức HĐVĐVcho trẻ nhằm phát triển KNVĐT và đánh giá kết quả đạt được sau hoạt động

Ví dụ 1: Giáo viên lựa chọn nội dung PTKNVĐT cho trẻ thông qua hoạt độngnhón nhặt đồ vật Giáo viên đưa nội dung nhặt hạt màu vào kế hoạch thực hiệnchương trình để cho trẻ thực hiện với đề tài: “ Hạt màu tặng bạn” trong chủ đề “ Bé vàcác bạn”

Trang 13

Ví dụ 2: Giáo viên đưa nội dung tập xâu, luồn dây vào kế hoạch thực hiệnchương trình Với đề tài “ Xâu vòng tặng cô” trong chủ đề “ Các cô, các bác trong nhàtrẻ.

Qua việc thực hiện phương pháp này tôi thấy KNVĐT của trẻ phát triển mộtcách rõ rệt Chính vì vậy tôi đã lên kế hoạch tổ chức các hoạt động cho trẻ phù hợpvới tình hình thực tế của trẻ ở lớp mình phụ trách Tôi cho đây là một vấn đề quantrọng đòi hỏi giáo viên cần:Điều kiện thực hiện

- Giáo viên cần nắm rõ mục tiêu và nội dung HĐVĐV cũng như nội dungphát triển KNVĐT cho trẻ 24 – 36 tháng tuổi trong chương trình GDMN, quan tâmđến kết quả mong đợi cuối độ tuổi

- Cần xác định mức độ phát triển KNVĐT của trẻ trong lớp, nắm được mụctiêu phát triển nội dung hình thành kĩ năng vận động tinh cho trẻ

- Biết cách sắp xếp nội dung HĐVĐV phù hợp với việc phát triển KNVĐTcho trẻ Bên cạnh đó, giáo viên phải biết cách lập kế hoạch và có khả năng tổ chứcHĐVĐV nhằm phát triển KNVĐT cho trẻ 24 – 36 tháng tuổi

7.3.2 Biện pháp 2: Tạo môi trường hoạt động hấp dẫn, an toàn

Môi trường hoạt động cho trẻ bao gồm môi trường vật chất và môi trườngtinh thần

Môi trường vật chất bao gồm thế giới đồ vật, đối tượng xung quanh trẻ, cáchtrang trí không gian hoạt động trong lớp học và ngoài lớp học Trẻ thao tác với đồ

Trang 14

vật bằng các bộ phận trên cơ thể kết hợp với sự điều khiển của não bộ và hệ thầnkinh, nhờ đó mà KNVĐT có cơ hội phát triển Sử dụng nguyên vật liệu có sẵntrong tự nhiên giúp trẻ gần gũi hơn với môi trường xung quanh, nắm được đặcđiểm và phương thức sử dụng với từng loại đối tượng Các nguyên vật liệu tựnhiên giúp tăng hứng thú của trẻ, kéo dài hơn thời gian hoạt động và sự tập trung,làm đa dạng hóa các loại đồ vật giúp trẻ tiếp thu được kiến thức một cách dễ dànghơn Những hoạt động thực tiễn như vậy không chỉ giúp trẻ phát triển KNVĐT màcòn giúp tăng kinh nghiệm sống cho trẻ

Một không gian rộng rãi, thoáng mát, đồ dùng đồ chơi phong phú, được sắpxếp khoa học giúp cho trẻ có hứng thú và tham gia hoạt động thuận lợi hơn so vớikhông gian chật hẹp, sắp xếp không theo trật tự

Môi trường tinh thần thuận lợi giúp kích thích trẻ tham gia hoạt động mộtcách tự nguyện, vui vẻ và thoải mái Nhờ việc tham gia chơi với đồ vật liên tục màKNVĐT của trẻ phát triển

Ngoài yếu tố hấp dẫn, môi trường an toàn giúp trẻ có thể thao tác với đồ vậtmột cách thoải mái và xóa bỏ cảm giác sợ hãi Đồ dùng đồ chơi an toàn sẽ khônggây nguy hiểm cho trẻ, giúp giáo viên có thể tổ chức hoạt động một cách thuận lợihơn

Giáo viên lựa chọn các nội dung sau để tổ chức cho trẻ hoạt động:

+ Lựa chọn địa điểm phù hợp để tổ chức cho trẻ HĐVĐV

+ Trang trí, sắp xếp các đồ dùng, phương tiện, trang thiết bị đảm bảo tínhkhoa học, an toàn, sạch sẽ và dễ sử dụng

+ Tăng cường sử dụng đa dạng các nguyên vật liệu hấp dẫn như vải, cát,giấy, lá cây…

+ Tạo không gian hấp dẫn bằng cách thay đổi linh hoạt các đồ dùng theo chủ

đề, theo hoạt động, theo hứng thú và sở thích của trẻ

Giáo viên tổ chức tiến hành theo các bước sau:

Giáo viên cần xác định được không gian sẽ tổ chức hoạt động cho trẻ, lựachọn địa điểm thoáng mát, đủ không khí và thân thiện với môi trường Địa điểmhoạt động có thể thay đổi linh hoạt tùy thuộc vào mục đích của hoạt động và điềukiện thời tiết

Trang 15

Ví dụ 1: Giáo viên có thể tổ chức hoạt động nhón nhặt đồ vật cho trẻ tronghoạt động vui chơi hoặc hoạt động dạo chơi ngoài trời nếu thời tiết đẹp và sức khỏecủa trẻ tốt Trước khi tổ chức hoạt động, giáo viên cần xác định không gian và đềxuất phương án dự phòng để kịp thời xử lý khi có sự thay đổi.

Sắp xếp đồ dùng ngăn nắp và vừa tầm với của trẻ, đảm bảo yêu cầu thuậntiện để trẻ có thể dễ dàng hoạt động và cảm thấy thoải mái Tránh những đồ vật gâynguy hiểm cho trẻ như những đồ vật sắc nhọn, đồ vật có nguy cơ gây thương tíchcao, các đường dây điện

Ví dụ: Giáo viên căn cứ vào khả năng của bản thân và điều kiện thực tế ở địaphương để lựa chọn các đồ vật kích thích hứng thú của trẻ như vải, cát, giấy, lácây…

Việc lựa chọn các đối tượng mới và hấp dẫn cần đảm bảo các yếu tố sau:+ Đảm bảo tính mục đích: Căn cứ vào mục đích của hoạt động và mục đíchphát triển KNVĐT cho trẻ, giáo viên chuẩn bị đồ dùng đảm bảo đúng kích thước,đúng yêu cầu (không quá to hoặc không quá nhỏ, không quá trơn nhẵn)

Ví dụ 2: Khi cho trẻ thực hiện nhiệm vụ nhón nhặt đồ vật, giáo viên khôngnên chuẩn bị nguyên vật liệu quá nhỏ và nguy hiểm cho trẻ như đá dăm, vật sắcnhọn… hoặc quá trơn, trẻ sẽ dễ nhặt trượt hoặc đánh rơi khi di chuyển Hoặc khixếp chồng khối, giáo viên cần lựa chọn những khối có bề mặt nhẵn, chuẩn về hìnhdạng và kích thước như khối vuông, khối chữ nhật

Trang 16

+ Đảm bảo tính thẩm mỹ: Các nguyên vật liệu hoặc đồ dùng được lựa chọncần đẹp mắt để trẻ hứng thú hơn trong quá trình thực hiện Khi chuẩn bị những đồvật này, giáo viên có thể sử dụng một số nguyên vật liệu hỗ trợ làm tăng tính thẩm

mỹ của đồ vật như dùng sơn để sơn màu cho đối tượng, hoặc biến đổi các đốitượng bằng cách sử dụng nguyên vật liệu có sẵn để tạo thành một đối tượng mới(dùng lá cây để tạo thành con nghé ọ cho trẻ chơi trò chơi)

+ Đảm bảo an toàn: Cần đảm bảo an toàn cho trẻ trong suốt quá trình trẻtham gia hoạt động Giáo viên tiến hành kiểm tra và thử nghiệm tất cả các đồ vậttrước khi cho trẻ tham gia hoạt động cùng với những đồ dùng cô đã chuẩn bị Tránhnhững đối tượng gây nguy hiểm cho trẻ như dao, kéo, các vật sắc nhọn, các vật gâythương tích (que dài, dây thép, thanh sắt nhỏ…) Những đồ vật trong lớp gây nguyhiểm, giáo viên nên để xa tầm với để trẻ không gặp những rủi ro trong quá trìnhthực hiện Một môi trường hoạt động an toàn sẽ giúp trẻ cảm thấy thoải mái hơn vàhoạt động hăng say hơn

+ Đảm bảo vệ sinh: Các đồ dùng và nguyên vật liệu tự nhiên cần được làmsạch trước khi tiến hành tổ chức hoạt động cho trẻ Trong quá trình trẻ thao tác với

đồ vật, có thể phát sinh ra những yếu tố mới lạ làm trẻ say mê, giáo viên cần chú ýquan sát và đảm bảo vệ sinh

Ví dụ: Khi trẻ chơi với cát, trẻ có thể đưa cát lên miệng, giáo viên nhắc nhởtrẻ trước khi chơi và trong quá trình chơi cần bao quát, nhắc nhở để trẻ không đưacát vào miệng hoặc mắt mình cũng như mắt các bạn khác

+ Đảm bảo tính kinh tế: Có thể tận dụng những đồ vật đã qua sử dụng để tạothành đồ dùng đồ chơi cho trẻ Đối với nhiệm vụ phát triển KNVĐT, giáo viên cóthể sử dụng vỏ ốc, sơn thành nhiều màu khác nhau, đục lỗ tròn to để trẻ xâu hột hạt.Hoặc có thể sử dụng những viên sỏi sơn màu để trẻ chơi trò chơi cắp hạt bỏ giỏ…Cần chú ý đảm bảo tính thẩm mỹ, tính bền vững cho đồ dùng trong quá trình lựachọn màu sắc và phối hợp với nhau tạo thành sản phẩm

Ngoài việc tổ chức môi trường vật chất để trẻ có điều kiện hoạt động mộtcách hứng thú, giáo viên cần tạo ra một môi trường thoải mái, vui vẻ để trẻ có tinhthần tốt và tham gia hoạt động đạt hiệu quả cao Thường xuyên động viên, khuyếnkhích trẻ chơi ở các góc chơi mới với những đồ vật mới

Giáo viên có thể thay đổi linh hoạt đồ dùng và cách trang trí lớp theo từngchủ đề, theo hoạt động sao cho phù hợp nhằm tăng hứng thú cho trẻ

Ngày đăng: 04/04/2018, 19:39

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w