1. Trang chủ
  2. » Nông - Lâm - Ngư

Đánh giá thực trạng và đề xuất giải pháp quản lý chất thải rắn của một số điểm khai thác vàng tại xã Thần Sa, huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên (Luận văn thạc sĩ)

92 248 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 92
Dung lượng 2,19 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đánh giá thực trạng và đề xuất giải pháp quản lý chất thải rắn của một số điểm khai thác vàng tại xã Thần Sa, huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên (Luận văn thạc sĩ)Đánh giá thực trạng và đề xuất giải pháp quản lý chất thải rắn của một số điểm khai thác vàng tại xã Thần Sa, huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên (Luận văn thạc sĩ)Đánh giá thực trạng và đề xuất giải pháp quản lý chất thải rắn của một số điểm khai thác vàng tại xã Thần Sa, huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên (Luận văn thạc sĩ)Đánh giá thực trạng và đề xuất giải pháp quản lý chất thải rắn của một số điểm khai thác vàng tại xã Thần Sa, huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên (Luận văn thạc sĩ)Đánh giá thực trạng và đề xuất giải pháp quản lý chất thải rắn của một số điểm khai thác vàng tại xã Thần Sa, huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên (Luận văn thạc sĩ)Đánh giá thực trạng và đề xuất giải pháp quản lý chất thải rắn của một số điểm khai thác vàng tại xã Thần Sa, huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên (Luận văn thạc sĩ)Đánh giá thực trạng và đề xuất giải pháp quản lý chất thải rắn của một số điểm khai thác vàng tại xã Thần Sa, huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên (Luận văn thạc sĩ)

Trang 1

NGUYỄN THỊ VÂN ANH

ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG VÀ ĐỀ XUẤT

GIẢI PHÁP QUẢN LÝ CHẤT THẢI RẮN CỦA MỘT SỐ ĐIỂM KHAI THÁC VÀNG TẠI XÃ THẦN SA,

HUYỆN VÕ NHAI, TỈNH THÁI NGUYÊN

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC MÔI TRƯỜNG

THÁI NGUYÊN - 2017

Trang 2

NGUYỄN THỊ VÂN ANH

ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP

QUẢN LÝ CHẤT THẢI RẮN CỦA MỘT SỐ ĐIỂM

KHAI THÁC VÀNG TẠI XÃ THẦN SA, HUYỆN VÕ NHAI, TỈNH THÁI NGUYÊN

Ngành: Khoa học môi trường

Mã ngành: 60 44 03 01

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC MÔI TRƯỜNG

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Trần Văn Điền

THÁI NGUYÊN - 2017

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác

Tôi xin cam đoan rằng các thông tin trích dẫn trong luận văn đều đã được chỉ rõ nguồn gốc

Thái Nguyên, ngày 15 tháng 9 năm 2017

Học viên

Nguyễn Thị Vân Anh

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Hoàn thành luận văn này, ngoài sự nỗ lực cố gắng hết mình của bản thân, tôi luôn nhận được sự quan tâm giúp đỡ của các thầy giáo, cô giáo và bạn bè đồng nghiệp

Nhân dịp này, trước tiên tôi xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ của các giảng viên khoa Môi trường, Trường đại học Nông Lâm Thái Nguyên đã giảng dạy tôi trong suốt thời gian học tập tại trường

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến thầy giáo PGS.TS Trần Văn Điền đã tận tình giúp đỡ, hướng dẫn tôi trong quá trình thực hiện

và hoàn thành luận văn

Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến Lãnh đạo phòng TNMT huyện Võ Nhai; UBND xã La Hiên và các bạn đồng nghiệp đã giúp đỡ tôi trong suốt thời gian qua

Tôi xin gửi lời cảm ơn tới người thân trong gia đình đã luôn giúp đỡ, động viên tôi hoàn thành luận văn này

Thái Nguyên, ngày 15 tháng 9 năm 2017

Học viên

Nguyễn Thị Vân Anh

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT vi

DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU vii

DANH MỤC CÁC HÌNH viii

DANH MỤC CÁC HÌNH viii

MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Mục tiêu của đề tài 2

3 Ý nghĩa của đề tài 3

Chương 1 : TỐNG QUAN TÀI LIỆU 4

1.1 Cơ sở khoa học của đề tài 4

1.1.1 Một số khái niệm và thuật ngữ liên quan 4

1.1.2 Cơ sở lý luận 5

1.1.3 Tác động của hoạt động khai thác mỏ tới môi trường 9

1.1.4 Cơ sở pháp lý 11

1.2 Công nghiệp khai thác và chế biến vàng 13

1.2.1 Sự hình thành của các mỏ vàng 13

1.2.2 Quy trình công nghệ chế biến vàng 13

1.2.3 Chất thải rắn trong khai thác 14

1.2.4 Chất thải nguy hại trong hoạt động khai thác 14

1.3 Tiềm năng và tình hình khai thác vàng ở Việt Nam 15

1.3.1 Tiềm năng vàng 15

1.3.2 Tình hình khai thác vàng ở Việt Nam 16

1.4 Tình hình quản lý chất thải rắn tại các mỏ khai thác khoáng sản trên Thế giới và tại Việt Nam 18

1.4.1 Công tác quản lý chất thải rắn tại các mỏ khai thác trên Thế giới 18

1.4.2 Công tác quản lý chất thải rắn tại các mỏ khai thác tại Việt Nam 20

Trang 6

1.4.3 Tình hình khai thác vàng ở huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên 21

1.4.4 Khái quát về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của xã Thần Sa, huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên 23

1.5 Đánh giá chung 25

Chương 2 : ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 26

2.1 Đối tượng, phạm vi, địa điểm và thời gian nghiên cứu 26

2.1.1 Đối tượng nghiên cứu 26

2.1.2 Phạm vi, địa điểm, thời gian nghiên cứu 26

2.2 Nội dung nghiên cứu 26

2.3 Phương pháp nghiên cứu 26

2.3.1 Phương pháp thu thập số liệu, thông tin thứ cấp 26

2.3.2 Phương pháp khảo sát thực địa 27

2.3.3 Phương pháp điều tra, phỏng vấn 27

2.3.4 Phương pháp tham khảo ý kiến chuyên gia 28

2.3.5 Phương pháp tổng hợp phân tích và xử lý số liệu 28

Chương 3 : KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 29

3.1 Tình hình hoạt động khai thác, tuyển vàng của một số mỏ vàng trên địa bàn xã Thần Sa, huyện Võ Nhai 29

3.1.1 Mỏ vàng Bản Ná, xã Thần Sa, huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên 31

3.1.2 Mỏ vàng Tân Kim, xã Thần Sa, huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên 37

3.1.3 Mỏ vàng gốc Khau Âu, xã Thần Sa, huyện Võ Nhai, tỉnh Thái 41

3.2 Đánh giá công tác quản lý chất thải rắn tại các mỏ khai thác vàng trên địa bàn xã Thần Sa, huyện Võ Nhai 47

3.2.1 Đánh giá công tác quản lý bùn thải tại các mỏ khai thác vàng trên địa bàn xã Thần Sa, huyện Võ Nhai 47

3.2.2 Đánh giá công tác quản lý các bãi tập kết đất đá thải 51

3.2.3 Đánh giá công tác quản lý chất thải nguy hại 54

3.2.4 Đánh giá công tác quản lý chất thải rắn sinh hoạt 55

Trang 7

3.3 Đánh giá của người dân về công tác quản lý chất thải rắn trong khai

thác vàng tại xã Thần Sa, huyện Võ Nhai 58

3.3.1 Đánh giá của cơ quan quản lý về công tác quản lý chất thải rắn tại các mỏ khai thác vàng 58

3.3.2 Đánh giá của các doanh nghiệp về công tác quản lý chất thải rắn tại các mỏ khai thác vàng 61

3.3.3 Đánh giá của người dân xung quanh về công tác quản lý chất thải rắn tại các mỏ khai thác vàng 64

3.4 Đề xuất các giải pháp tăng cường công tác quản lý chất thải rắn tại các mỏ khai thác, tuyển vàng trên địa bàn xã Thần Sa, huyện Võ Nhai 67

3.4.1 Đối với các đơn vị khai thác 67

3.4.2 Đối với cơ quan quản lý 71

3.4.3 Đối với cộng đồng dân cư 72

KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 73

1 Kết luận 73

2 Đề nghị 74

TÀI LIỆU THAM KHẢO 75

Trang 8

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT

CHXHCN Cộng hòa xã hội chủ nghĩa

CPĐTXD Cổ phần đầu tư xây dựng

CTRSH Chất thải rắn sinh hoạt

HTX CN&VT Hợp tác xã Công nghiệp và Vận tải

Trang 9

DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU

Bảng 3.1 Tổng hợp danh sách các dự án khai thác vàng trên địa bàn

xã Thần Sa, huyện Võ Nhai 30

Bảng 3.2 Toạ độ các điểm góc khu vực khai thác 31

Bảng 3.3 Toạ độ các điểm góc khu vực bãi thải ngoài 32

Bảng 3.4 Kế hoạch khai thác của mỏ vàng Bản Ná 33

Bảng 3.5 Toạ độ các điểm góc khu vực khai thác mỏ vàng Tân Kim 37

Bảng 3.6 Trữ lượng công nghiệp thân quặng mỏ vàng Tân Kim 38

Bảng 3.7 Bảng trữ lượng vàng gốc tại các thân quặng 42

Bảng 3.8 Bảng trữ lượng vàng gốc huy động vào khai thác 42

Bảng 3.9 Lượng bùn thải phát sinh qua các năm tại các mỏ 49

Bảng 3.10 Kết quả đo mẫu bùn thải của mỏ vàng Bản Ná 51

Bảng 3.11 Lượng đất đá thải phát sinh của các mỏ 52

Bảng 3.12 Lượng chất thải nguy hại phát sinh của Mỏ vàng Bản Ná, Tân Kim và Khau Âu 55

Bảng 3.13 Thành phần chất thải rắn sinh hoạt tại các mỏ 55

Bảng 3.14 Lượng rác thải sinh hoạt phát sinh tại các mỏ 57

Bảng 3.15 Ý kiến của cơ quan quản lý về tình hình hoạt động của các mỏ khai thác vàng tại xã Thần Sa 58

Bảng 3.16 Đánh giá về thực hiện một số công tác quản lý tại các mỏ vàng 59

Bảng 3.17 Ý kiến của doanh nghiệp về công tác bảo vệ môi trường tại các mỏ khai thác vàng 61

Bảng 3.18 Thời gian định kỳ nạo vét và vận chuyển bùn thải đi nơi khác xử lý 62

Bảng 3.19 Thiết bị và phương tiện thu gom rác thải sinh hoạt tại mỏ 63

Bảng 3.20 Thời gian thu gom rác thải sinh hoạt tại các mỏ 64

Bảng 3.21 Đánh giá của người dân về độ an toàn của bãi thải tại các mỏ 65

Bảng 3.22 Ý kiến của người dân về các bãi tập kết đất đá thải, hồ chứa bùn thải của các mỏ khai thác vàng trên địa bàn xã Thần Sa 66

Trang 10

DANH MỤC CÁC HÌNH

Hình 1.1 Phương pháp khai thác lộ thiên và hầm lò 8

Hình 3.1 Sơ đồ công nghệ khai thác quặng vàng sa khoáng Bản Ná 35

Hình 3.2 Sơ đồ công nghệ tuyển vàng sa khoáng Bản Ná 36

Hình 3.3 Sơ đồ công nghệ khai thác mỏ vàng gốc Tân Kim 39

Hình 3.4 Sơ đồ công nghệ khai thác mỏ vàng gốc vùng Khau Âu 44

Hình 3.5 Sơ đồ công nghệ làm giàu quặng vàng mỏ Khau Âu 46

Hình 3.6 Lượng bùn thải phát sinh qua các năm tại các mỏ 49

Hình 3.7 Lượng đất đá thải phát sinh qua các năm tại các mỏ 52

Hình 3.8 Biểu đồ Lượng chất thải nguy hại phát sinh tại các mỏ vàng 53

Hình 3.9 Biểu đồ thành phần chất thải rắn sinh hoạt tại các mỏ 56

Hình 3.10 Biểu đồ lượng rác thải sinh hoạt phát sinh tại các mỏ 57

Hình 3.11 Biểu đồ về thực hiện một số công tác quản lý tại các mỏ vàng 60

Hình 3.12 Biểu đồ về thời gian định kỳ nạo vét và vận chuyển bùn thải đi nơi khác xử lý 62

Hình 3.13 Biểu đồ về đánh giá của người dân về độ an toàn của bãi thải 65

Hình 3.14 Mặt cắt cống thoát nước chính qua khu vực bãi thải 68

Hình 3.15 Mặt cắt ngang của cống thoát nước phụ qua khu vực bãi thải 69

Trang 11

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Những năm gần đây, do nhu cầu phát triển kinh tế của đất nước và xu hướng hội nhập thế giới mở cửa ngày càng lớn Ngành công nghiệp khai thác khoáng sản đã có nhiều đóng góp quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội, góp phần tích cực vào sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Thái Nguyên là một trong những tỉnh có tiềm năng lớn về khoáng sản, đa dạng với các quy mô khác nhau Tài nguyên khoáng sản trên địa bàn tỉnh khá phong phú về chủng loại, đây là thế mạnh cho sự phát triển công nghiệp của cả tỉnh Trước hết phải kể đến là chì, kẽm, sắt, titan, vàng sa khoáng, các loại khoáng sản làm vật liệu xây dựng Cho đến nay, cả nước phát hiện được gần

500 điểm quặng và mỏ vàng gốc (quặng vàng thực thụ và các loại quặng khác

có chứa vàng), trong đó có gần 30 nơi được tìm kiếm thăm dò và đánh giá trữ lượng với số lượng khoảng 300 tấn vàng[21] Các mỏ vàng gốc tập trung tại miền núi phía Bắc, Thái Nguyên đã có 10 mỏ vàng Các mỏ vàng của tỉnh tập trung ở các huyện Võ Nhai và Đại Từ, bao gồm vàng sa khoáng và vàng gốc Tại huyện Võ Nhai, khu vực tập trung quặng vàng được phân bố chủ yếu ở các

xã Thần Sa, Sảng Mộc, Liên Minh

Trên địa bàn huyện Võ Nhai, hoạt động khai thác, chế biến khoáng sản đóng góp đáng kể vào sự phát triển kinh tế - xã hội, nhưng bên cạnh đó lại có tác động không nhỏ đến môi trường, cảnh quan và đời sống của một bộ phận người dân Tình trạng khai thác vàng trái phép ở Võ Nhai đã làm ô nhiễm môi trường nghiêm trọng tại khu vực thượng nguồn các con sông, suối, gây bức xúc trong dư luận.Vì vậy, thời gian qua, cùng với việc tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực này, huyện còn thực hiện nhiều giải pháp nhằm ngăn ngừa tình trạng ô nhiễm môi trường do tác động

từ khai thác, chế biến vàng Với sự vào cuộc quyết liệt của chính quyền địa

Trang 12

phương và bằng nhiều giải pháp (như tăng cường kiểm tra, lập chốt liên ngành xử lý dứt điểm những “điểm nóng” khai thác trái phép) nên thời gian gần đây, vấn đề ô nhiễm môi trường do hoạt động khai thác, chế biến khoáng sản trên địa bàn đã từng bước được hạn chế

Vấn đề quản lý chất thải rắn trong hoạt động khai thác, chế biến khoáng sản nói chung và khai thác, chế biến quặng vàng nói riêng đang là vấn đề hết sức bức xúc đối với công tác bảo vệ môi trường của các nước trên Thế giới cũng như của Việt Nam Sự phát triển trong công nghiệp khai khoáng đã tạo ra một số lượng lớn chất thải rắn bao gồm: chất thải sinh hoạt, chất thải nguy hại, bùn thải, đất đá thải, chất thải xây dựng đang là nguyên nhân gây ô nhiễm môi trường, từ quy mô nhỏ, đến ảnh hưởng trên quy mô rộng lớn và tác động xấu tới sức khoẻ, đời sống con người và chất lượng môi trường chung.Vì vậy, một trong những vấn đề cấp bách của công tác bảo vệ môi trường ở nước ta nói riêng và thế giới nói chung hiện nay là quản lý chất thải, đặc biệt là chất thải rắn

Xuất phát từ thực tế nêu trên, chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài:

“Đánh giá thực trạng và đề xuất giải pháp quản lý chất thải rắn của một số

điểm khai thác vàng tại xã Thần Sa, huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên”

2 Mục tiêu của đề tài

- Đánh giá thực trạng phát sinh chất thải rắn tại một số điểm khai thác vàng trên địa bàn xã Thần Sa, huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên

- Đánh giá được công tác quản lý chất thải rắn tại các điểm khai thác vàng thuộc vùng nghiên cứu

- Đề xuất các giải pháp tăng cường công tác quản lý chất thải rắn của một số điểm khai thác vàng trên địa bàn xã Thần Sa nói riêng và trên địa bàn huyện Võ Nhai nói chung nhằm giảm thiểu, khắc phục các tác động tiêu cực của hoạt động khai thác vàng đến môi trường của khu vực

Trang 13

3 Ý nghĩa của đề tài

- Nâng cao kiến thức và kỹ năng rút ra kinh nghiệm thực tế, vận dụng nâng cao kiến thức đã học

- Củng cố được kiến thức cơ sở cũng như kiến thức chuyên ngành, sau này có điều kiện tốt hơn để phục vụ cho công tác bảo vệ môi trường

- Tạo số liệu làm cơ sở giúp cho các cơ quan quản lý nhà nước trong công tác quản lý chất thải rắn của một số điểm mỏ khai thác, tuyển vàng trên địa bàn huyện Võ Nhai nói riêng và tỉnh Thái Nguyên nói chung nhằm giảm thiểu các tác động tiêu cực của hoạt động khai thác vàng đến môi trường xung quanh

- Nâng cao nhận thức của người dân về công tác quản lý và bảo vệ môi trường tại khu vực

Trang 14

Chương 1 TỐNG QUAN TÀI LIỆU

1.1 Cơ sở khoa học của đề tài

1.1.1 Một số khái niệm và thuật ngữ liên quan

- Theo Luật Bảo vệ Môi trường Việt Nam (Quốc hội nước CHXNCN Việt Nam, 2014) [15]:

+ Môi trường là hệ thống các yếu tố vật chất tự nhiên và nhân tạo có tác

động đối với sự tồn tại và phát triển của con người và sinh vật

+ Ô nhiễm môi trường là sự biến đổi của các thành phần môi trường

không phù hợp với quy chuẩn kỹ thuật môi trường và tiêu chuẩn môi trường gây ảnh hưởng xấu đến con người và sinh vật

+ Chất gây ô nhiễm là các chất hóa học, các yếu tố vật lý và sinh học khi xuất

hiện trong môi trường cao hơn ngưỡng cho phép làm cho môi trường bị ô nhiễm

+ Chất thải là vật chất được thải ra từ sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, sinh

hoạt hoặc hoạt động khác

+ Phát triển bền vững là phát triển đáp ứng được nhu cầu của hiện tại mà

không làm tổn hại đến khả năng đáp ứng nhu cầu đó của các thế hệ tương lai trên cơ sở kết hợp chặt chẽ, hài hòa giữa tăng trưởng kinh tế, bảo đảm tiến bộ

xã hội và bảo vệ môi trường

+ Suy thoái môi trường là sự suy giảm về chất lượng và số lượng của

thành phần môi trường, gây ảnh hưởng xấu đến con người và sinh vật

- Theo Nghị định 38/2015/NĐ-CP về Quản lý chất thải và phế liệu [17]:

+ Chất thải rắn là chất thải ở thể rắn hoặc sệt (còn gọi là bùn thải) được

thải ra từ sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, sinh hoạt hoặc các hoạt động khác

+ Chất thải thông thường là chất thải không thuộc danh mục chất thải

nguy hại hoặc thuộc danh mục chất thải nguy hại nhưng có yếu tố nguy hại dưới ngưỡng chất thải nguy hại

Trang 15

+ Chất thải rắn sinh hoạt (còn gọi là rác sinh hoạt) là chất thải rắn phát

sinh trong sinh hoạt thường ngày của con người

+ Chất thải rắn công nghiệp là chất thải rắn phát sinh từ hoạt động sản

xuất, kinh doanh, dịch vụ

+ Phân định chất thải là quá trình phân biệt một vật chất là chất thải hay

không phải là chất thải, chất thải nguy hại hay chất thải thông thường và xác định chất thải đó thuộc một loại hoặc một nhóm chất thải nhất định với mục đích để phân loại và quản lý trên thực tế

+ Xử lý chất thải là quá trình sử dụng các giải pháp công nghệ, kỹ thuật

(khác với sơ chế) để làm giảm, loại bỏ, cô lập, cách ly, thiêu đốt, tiêu hủy, chôn lấp chất thải và các yếu tố có hại trong chất thải

+ Cơ sở phát sinh chất thải là các cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ có

phát sinh chất thải

+ Chủ nguồn thải là các tổ chức, cá nhân sở hữu hoặc điều hành cơ sở

phát sinh chất thải

1.1.2 Cơ sở lý luận

1.1.2.1 Tài nguyên khoáng sản

Tài nguyên khoáng sản là sự tập trung hoăc tích tụ tự nhiên của các khoáng chất thể rắn, lỏng, khí ở trên, trong vỏ trái đất Chúng có đặc điểm hình thái, chất lượng đáp ứng yêu cầu tối thiểu cho phép khai thác, sử dụng một loại trong tích tụ đó Có khả năng đem lại lơi ích kinh tế trong thời điểm hiện tại hoặc tương lai Chúng được nhận định là có giá trị kinh tế và có đặc trưng địa chất xác định

Tài nguyên khoáng sản được phân loại theo nhiều cách:

- Theo dạng tồn tại: Rắn (nhôm, sắt, mangan, đồng, chì, kẽm, …), khí (khí đốt, Acgon, Heli), lỏng (thủy ngân, dầu, nước khoáng, nước ngầm, ….);

- Theo nguồn gốc: Nội sinh (sinh ra trong lòng trái đất), ngoại sinh (sinh

ra trên bề mặt trái đất);

Trang 16

- Theo thành phần hoá học: Khoáng sản kim loại (kim loại đen, kim loại màu, kim loại quý hiếm), khoáng sản phi kim (vật liệu khoáng, đá quý, vật liệu xây dựng), khoáng sản cháy (than, dầu, khí đốt, đá cháy)

Tài nguyên khoáng sản thường tập trung trong một khu vực gọi là mỏ khoáng sản “Mỏ là một bộ phận của vỏ trái đất, nơi tập trung tự nhiên các loại khoáng sản do kết quả của một quá trình địa chất nhất định tạo nên” [10]

1.1.2.2 Khai thác tài nguyên khoáng sản

Khai thác khoáng sản hay còn gọi là hoạt động khai thác mỏ hoặc các vật liệu địa chất từ lòng đất, thường là các thân quặng, mạch hoặc vỉa than Các vật liệu được khai thác từ mỏ như kim loại cơ bản, kim loại quý, sắt, urani, than, kim cương, đá vôi, đá phiến, dầu, đá muối và kali cacbonat Bất

kỳ vật liệu nào không phải từ trồng trọt hoặc được tạo ra trong phòng thí nghiệm hoặc nhà máy đều được khai thác từ mỏ Khai thác mỏ ở nghĩa rộng hơn bao gồm việc khai thác các nguồn tài nguyên không tái tạo (như dầu

mỏ, khí thiên nhiên, hoặc thậm chí là nước) [26]

1.1.2.3 Quá trình khai thác mỏ

Quá trình khai thác mỏ bắt đầu từ giai đoạn phát hiện thân quặng đến khâu chiết tách khoáng sản và cuối cùng là trả lại hiện trạng của mặt đất gần với tự nhiên nhất gồm một số bước nhất định

- Đầu tiên là phát hiện thân quặng, khâu này được tiến hành thông qua việc thăm dò để tìm kiếm và sau đó là xác định quy mô, vị trí và giá trị của thân quặng Khâu này cung cấp những số liệu để đánh giá tính trữ lượng tài nguyên để xác định kích thước và phân cấp quặng Việc đánh giá này là để nghiên cứu tiền khả thi và xác định tính kinh tế của quặng [27]

- Bước tiếp theo là nghiên cứu khả thi để đánh giá khả năng tài chính

để đầu tư, kỹ thuật và rủi ro đầu tư của dự án Đây là căn cứu để công ty khai thác mỏ ra quyết định phát triển mỏ hoặc từ bỏ dự án Khâu này bao gồm cả quy hoạch mỏ để đánh giá tỷ lệ quặng có thể thu hồi, khả năng tiêu thụ, và

Trang 17

khả năng chi trả để mang lại lợi nhuận, chi phí cho kỹ thuật sử dụng, nhà máy và cơ sở hạ tầng, các yêu cầu về tài chính và các phân tích về mỏ như

đã đề xuất từ khâu khai đào cho đến hoàn thổ Khi việc phân tích xác định một mỏ có giá trị thu hồi, phát triển mỏ mới bắt đầu và tiến hành xây dựng các công trình phụ trợ và nhà máy xử lý Vận hành mỏ để thu hồi quặng bắt đầu và tiếp tục dự án khi mà công ty khai thác mỏ vẫn còn thu được lợi nhuận (khoáng sản vẫn còn)

- Sau khi tất cả quặng được thu hồi sẽ tiến hành công tác hoàn thổ để làm cho đất của khu mỏ có thể được sử dụng vào mục đích khác trong tương lai

1.1.2.4 Công nghệ khai thác

Công nghệ khai thác sử dụng phổ biến hiện nay là công nghệ dùng máy xúc phối hợp với ô tô tự đổ, gồm các công đoạn chủ yếu sau:

- Khoan nổ mìn để phá vỡ đất đá nguyên khối;

- Sử dụng thiết bị cơ giới để xúc đất đá và quặng lên các phương tiện vận chuyển;

- Sử dụng thiết bị vận tải bằng xe tải để chuyển đất đá thải từ khai trường

ra bãi thải và vận chuyển các loại quặng khai thác về kho chứa;

- Sản phẩm từ kho chứa được thiết bị xúc lên phương tiện vận tải đường

bộ về nơi tiêu thụ [16]

1.1.2.5 Phương pháp khai thác

Trong thực tế sản xuất hiện nay, tùy thuộc vào điều kiện tự nhiên của khu vực có mỏ khoáng sản, điều kiện địa chất của các thân quặng và tính chất hóa lý của loại quặng, người ta tiến hành các phương pháp khai thác mỏ khoáng sản chủ yếu sau:

- Phương pháp khai thác lộ thiên (Surface mining): Thường áp dụng với khoáng sản rắn nằm gần bề mặt bằng cách bóc đi các lớp đất đá phủ lên thân quặng để lấy lên các khoáng sản cần thiết [28] Phương pháp này thường làm

Trang 18

thay đổi mạnh mẽ địa hình, mất đất canh tác, mất rừng, tạo ra nhiều bụi và chất thải rắn

- Phương pháp khai thác hầm lò (Underground mining): Áp dụng đối với các thân quặng nằm sâu trong lòng đất bằng cách đào giếng và lò đến thân quặng để lấy được các khoáng sản cần thiết Phương pháp này thường tiềm ẩn nhiều sự cố mất an toàn cho công nhân khai thác, đòi hỏi một lượng lớn gỗ chống lò và gây ra các biến động trên mặt đất

Hình 1.1 Phương pháp khai thác lộ thiên và hầm lò [4]

- Phương pháp khoan và bơm hút khoáng sản: Thường được áp dụng cho một số loại khoáng sản tồn tại dưới dạng khí và lỏng như dầu và khí đốt thiên nhiên Phương pháp này đòi hỏi vốn đầu tư lớn nhưng chỉ áp dụng cho các khoáng sản tồn tại dưới dạng khí và lỏng [4]

Trang 19

1.1.3 Tác động của hoạt động khai thác mỏ tới môi trường

1.1.3.1 Tác động tới môi trường nước và hệ sinh thái

* Tác động cơ học

Theo Bùi Công Quang (2011) [20] Quá trình đào xới, vận chuyển đất đá

và quặng làm địa hình khu khai thác bị hạ thấp, ngược lại, quá trình đổ chất thải rắn làm địa hình bãi thải được nâng cao Những thay đổi này sẽ dẫn đến những biến đổi về điều kiện thủy văn, các yếu tố của dòng chảy trong khu mỏ như thay đổi khả năng thu, thoát nước, hướng và vận tốc dòng chảy mặt, chế

độ thủy văn của các dòng chảy

Bên cạnh đó, sự tích tụ chất thải rắn do tuyển rửa quặng trong các lòng

hồ, kênh mương tưới tiêu có thể làm thay đổi lưu lượng dòng chảy, khả năng chứa nước, làm thay đổi chất lượng nguồn nước và làm suy giảm chức năng của các công trình thúy lợi, giao thông gần các khu khai thác mỏ

Mặt khác, khi tiến hành các hoạt động khai thác sẽ hình thành các moong sâu đến hàng trăm mét, là nơi tập trung nước cục bộ Ngược lại, để đảm bảo hoạt động của mỏ, phải thường xuyên bơm tháo khô nước ở đáy moong, hầm

lò, hình thành các phễu hạ thấp mực nước đuôi đất với độ sâu từ vài chục đến hàng trăm mét và bán kính phễu hàng trăm mét Điều đó dẫn đến tháo khô các công trình chứa nước trên mặt như hồ, ao, xung quanh khu mỏ

Quá trình khai thác khoáng sản gồm có ba bước là: mở cửa mỏ, khai thác

và đóng cửa mỏ Cả ba công đoạn khai thác đều tác động đến tài nguyên và môi trường đất Hơn nữa, công nghệ khai thác hiện nay chưa hợp lý, đặc biệt các mỏ kim loại và các khu mỏ đang khai thác hầu hết nằm ở vùng núi và trung du Vì vậy, việc khai thác khoáng sản trước hết tác động đến rừng và đất rừng xung quanh vùng mỏ đều dẫn đến hệ động thực vật bị giảm về số lượng hoặc tuyệt chủng

Trang 20

* Tác động hóa học

- Thoát acid từ mỏ khai thác: là một quá trình tự nhiên, trong đó axit sulfuric được hình thành khí sulfua trong đá tiếp xúc với không khí và nước Khi số lượng lớn đá chứa các khoáng vật sunfua được đào lên từ một mỏ lộ thiên hoặc lấy lên từ dưới lòng đất, nó phản ứng với nước và oxy để tạo ra axit sulfuric Acid được nước mưa hay nước theo dòng chảy thoát ra khu vực

mỏ và đổ vào các sông, suối hoặc nước ngầm xung quanh gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến chất lượng nước

- Ô nhiễm kim loại nặng: Các kim loại như asen, coban, đồng, cadimi, bạc, chì, kẽm chứa trong đất đá khai thác hoặc mỏ ngầm lộ thiên tiếp xúc với nước Kim loại bị rửa trôi ra ngoài gây ô nhiễm nguồn nước dưới hạ lưu

- Ô nhiễm do sử dụng hóa chất trong quá trình xử lý quặng: Ô nhiễm hóa học xảy ra khi các hóa chất như axit sulfuric hoặc xyanua được sử dụng trong các quá trình xử lý, tuyển quặng đã gây ra rò rỉ, hoặc ngấm vào nguồn nước mặt và nước ngầm gây ảnh hưởng nghiêm trọng tới đời sống con người và động vật

- Xói mòn và bồi tích: Trong quá trình khai thác không có các biện pháp phòng chống phù hợp và chiến lược kiểm soát đúng đắn, khu vực khai thác mỏ

sẽ bị xói mòn nghiêm trọng Bùn cát được chuyển tải tới sông suối, hồ ao gây bồi tích ở hạ lưu Bồi tích quá mức có thể làm tắc nghẽn dòng chảy, vùi lấp thảm thực vật, động vật hoang dã và ảnh hưởng lớn đến đời sống của động vật trên cạn

1.1.3.2 Tác động tới môi trường không khí

Theo Hà Quang Hải (2016) [5] Các nguồn ô nhiễm không khí lớn nhất trong hoạt động khai thác khoáng sản là:

- Các hạt vật chất vận chuyển bởi gió là kết quả của việc khai đào, nổ mìn, vận chuyển nguyên liệu, xói mòn gió, bụi tức thời từ các cơ sở đuôi

Trang 21

quặng, kho bãi, bãi thải, đường vận chuyển Khí thải từ các nguồn di động (ô

tô, xe tải, thiết bị cơ giới) tăng nồng độ hạt

- Phát thải khí do đốt nhiên liệu từ các nguồn cố định và di động, các vụ

và oxit nitơ

1.1.3.3 Tác động tới môi trường đất

Khai thác có thể làm ô nhiễm đất trên một diện tích rộng Các hoạt động nông nghiệp gần dự án khai thác có thể bị ảnh hưởng đặc biệt Theo một nghiên cứu của Liên minh châu Âu thì các hoạt động khai thác thường xuyên làm thay đổi cảnh quan xung quanh bằng việc bóc lộ đất đai bề mặt Xói mòn đất gia tăng, quặng khai thác, đuôi quặng và các vật liệu mịn trong các đống

đá thải có thể vận chuyển tới các dòng chảy mặt Ngoài ra, sự cố tràn và rò rỉ các chất độc hại và sự lắng đọng bụi ô nhiễm do gió thổi có thể dẫn đến ô nhiễm đất (Hà Quang Hải, 2016) [5]

Trang 22

- Nghị định 113/NĐ-CP ngày 03 tháng 12 năm 2010 của Chính phủ Quy định về xác định thiệt hại đối với môi trường;

- Nghị định số 15/2012/NĐ-CP ngày 09 tháng 03 năm 2012 của Chính phủ Quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Khoáng sản (có hiệu lực thi hành từ ngày 15/5/2012)

- Nghị định số 19/2015/NĐ-CP ngày 14/2/2015 của Chính phủ về việc Quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Bảo vệ Môi trường

- Nghị định số 38/2015/NĐ-CP ngày 24/4/2015 của Chính phủ quy định

về Quản lý chất thải và phế liệu

- Nghị định số 155/2016/NĐ-CP ngày 18/11/2016 của Chính phủ Quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường

- Thông tư số 36/2015/TT-BTNMT, ngày 30/6/2015 của Bộ Tài nguyên

và Môi trường về quản lý chất thải nguy hại

- Thông tư số 38/2015/TT-BTNMT, ngày 30/6/2015 của Bộ Tài nguyên

và Môi trường về cải tạo, phục hồi môi trường trong hoạt động khai thác khoáng sản

- Quyết định số 256/2003/QĐ-TTg ngày 02/12/2003 của Thủ tướng chính phủ về việc Phê duyệt Chiến lược Bảo vệ Môi trường Quốc gia đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020

- Quyết định số 185/QĐ-UBND ngày 24 tháng 01 năm 2007 của Ủy ban Nhân dân tỉnh Thái Nguyên về việc ban hành “ Đề án bảo vệ môi trường trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa giai đoạn 2007 - 2010

và những năm tiếp theo trên địa bàn Tỉnh Thái Nguyên”

- Quyết định số 1779/QĐ-UBND ngày 28/7/2009 về việc phê duyệt đề cương lập dự án khắc phục ONMT tại các khu vực khai thác, chế biến khoáng sản trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên

Trang 23

1.2 Công nghiệp khai thác và chế biến vàng

1.2.1 Sự hình thành của các mỏ vàng

Các nhà khoa học Australia cho biết khi xảy ra một trận động đất nhỏ dù lớn hay nhỏ, vỏ Trái Đất thường xuất hiện khoảng trống đầy chất lưu (chất nước và chất khí) Áp suất thay đổi đột ngột trong khoảng trống khiến chất lưu chuyển động nhanh và bay hơi, trong khi các phân tử vàng tan chảy trong chất lưu gần như lắng đọng ngay lập tức Nhiều trận động đất lặp đi lặp lại sẽ dẫn đến việc hình thành các mỏ vàng lớn (Khoahọc.vn, 2013) [12]

Theo các nhà khoa học, sẽ phải mất gần 100.000 năm để hình thành một

mỏ vàng trữ lượng 100 tấn

Trong nghiên cứu của mình, các nhà khoa học Australia sử dụng mô hình số để xác định tình trạng giảm áp trong khoảng trống chứa chất lưu trong một trận động đất Bằng cách làm này, họ đã trả lời được câu hỏi tồn tại lâu nay về cách thức vàng cô đặc từ trạng thái tan chảy sang trạng thái rắn

1.2.2 Quy trình công nghệ chế biến vàng

1.2.2.1 Thành phần và tính chất hóa học của quặng vàng

- Thành phần:

Quặng vàng thường có hai loại là quặng vàng và quặng kim loại vàng Quặng vàng là quặng mà trong ñó thành phần vàng đã đạt độ tinh khiết từ 75% - 95%; quặng kim loại vàng là quặng đa kim, vàng chưa bị

nóng chảy nên bị lẫn trong các kim loại khác như Đồng, Bạc, Sắt (Trần

Văn Tuân, 2012) [24]

- Tính chất hóa học:

Vàng là kim loại trung tính và có thể mang hóa trị ba hoặc hóa trị một trong dung môi Vàng có thể phản ứng trong nước cường toan (một dạng hỗn hợp acid) nhưng không bị ảnh hưởng bởi một acid riêng rẽ như Hydrochloric, Nitric hoặc acid Sulfuric Vàng tan trong thủy ngân, hình thành nên hợp kim Amalgam, nhưng không phản ứng hóa học với nó

Trang 24

1.2.2.2 Quy trình công nghệ chế biến vàng

Hiện nay có 03 phương pháp tuyển luyện vàng chính như sau:

- Tuyển luyện quặng vàng bằng phương pháp ngâm chiết toàn bộ lượng quặng ñầu vào;

- Tuyển luyện quặng vàng bằng phương pháp tuyển trọng lực, tuyển nổi, ngâm chiết và hấp thụ vàng bằng hạt nhựa Auric;

- Tuyển luyện quặng vàng bằng phương pháp tuyển trọng lực, tuyển nổi, ngâm chiết và hấp thụ vàng bằng than hoạt tính;

1.2.3 Chất thải rắn trong khai thác

Chất thải rắn ở các mỏ chủ yếu ở dạng đất đá phủ, đá thải và bùn thải từ quá trình xử lý quặng Với khối lượng lớn, chất thải này có thể gây ra những vấn đề phức tạp liên quan đến các rủi ro về ô nhiễm, chất lượng đất đai và các ảnh hưởng về mỹ quan

Việc thải bỏ các chất thải mỏ nói chung và bùn thải nói riêng, đều có tiềm năng gây ra các tác động tới môi trường theo nhiều khía cạnh khác nhau Quặng đuôi từ quá trình tuyển khoáng gồm có chất lỏng và cặn chất rắn Cặn chất rắn thường được gọi là huyền phù bùn thải và chủ yếu là nước, mặc

dù nó có thể chứa nhiều loại muối hòa tan khác nhau và hàm lượng vết các thuốc thử sử dụng để phân tách các khoáng chất có giá trị từ các khoáng không mong muốn Cặn chất rắn thường là các hạt đá ngầm rất mịn mà có rất nhiều loại khoáng chất có giá trị nằm trong đó bị loại ra tại khâu tuyển khoáng (Đinh Văn Tôn, 2015) [22]

1.2.4 Chất thải nguy hại trong hoạt động khai thác

Các chất thải rắn nguy hại có khả năng trở thành một nguồn phát thải độc hại vì chúng có thể biến đổi về mặt hóa học theo thời gian và sinh ra các hợp chất không mong muốn có thể gây hại tới môi trường Các chất thải rắn

Trang 25

nguy hại cũng có thể trở thành một vấn đề nan giải trong quá trình đóng cửa

mỏ Việc thải bỏ các chất thải rắn nguy hại là một thách thức lớn trong công tác quản lý môi trường trong ngành khai thác mỏ Quản lý hợp lý các chất thải rắn, đặc biệt là bùn thải, đất đá phủ rất quan trọng đối với sự đảm bảo an toàn

về mặt môi trường về lâu dài của các khu vực khai thác mỏ (Đinh Văn Tôn,

2016 [23]

Quặng đuôi đặc biệt khác các chất thải khác theo 3 phương diện sau:

- Quặng đuôi thường không bị ảnh hưởng bởi thời tiết (trừ khi thân quặng nguyên khai bị ảnh hưởng bởi thời tiết) và do đó chủ yếu chứa các khoáng chất không bị oxy hóa (các khoáng chất này khi oxy hóa sẽ hình thành dòng thải axit mỏ)

- Quặng đuôi không chứa mùn hay các vật liệu hữu cơ khác và do đó không chứa các chất dinh dưỡng quan trọng đối với thực vật thường được tìm thấy trong đất

- Quặng đuôi có thể chứa nồng độ cao các kim loại nặng và các thuốc thử tuyển và là một nguồn có khả năng gây ô nhiễm

Các chất thải khác có thể làm nảy sinh các vấn đề tại khu vực mỏ còn có: dầu mỡ, polychlorinated biphenyls (PCBs), aminăng (như các lớp cách ly hay sơn phủ), thuốc tuyển, các chất xúc tác trơ, hóa chất phòng thí nghiệm, hóa chất tồn dư, dung môi, sơn và thuốc trừ sâu/diệt cỏ

1.3 Tiềm năng và tình hình khai thác vàng ở Việt Nam

1.3.1 Tiềm năng vàng

Ở Việt Nam có cả hai loại hình quặng hóa vàng sa khoáng và vàng gốc

* Vàng sa khoáng

Vàng sa khoáng phân bố ở nhiều nơi Cho đến nay đã thống kê được

150 tụ khoáng và điểm quặng sa khoáng, nhưng chỉ có 27 sa khoáng vàng được đánh giá và thăm dò

Trang 26

Nhìn chung sa khoáng vàng Việt Nam có trữ lượng nhỏ Tổng trữ lượng

dự báo chỉ khoảng vài chục tấn vàng Hàm lượng vàng trong sa khoáng thay đổi từ 0,1 - 1 g/m3, trong một vài sa khoáng có thể lên tới 0,8 - 1,5 g/m3 Chiều dày tầng sản phẩm 0,3 - 5 m Lớp phủ từ 1 - 5 m, có sa khoáng tới 15 m

Các kiểu nguồn gốc sa khoáng gồm có eluvi, deluvi, proluvi, hỗn hợp (proluvi–aluvi, eluvi–deluvi), karst và aluvi

* Vàng gốc

Khoáng hóa vàng gốc phát hiện ở nhiều nơi và có nhiều kiểu quặng hóa khác nhau Các kiểu quặng hoá vàng chủ yếu gồm:

- Kiểu quặng hóa vàng - thạch anh

- Kiểu quặng hóa vàng – thạch anh – sunfua

- Kiểu quặng hóa vàng – bạc

- Kiểu quặng hóa vàng – antimon

- Kiểu quặng hóa vàng cộng sinh trong các loại quặng khác

Trong đó kiểu vàng – thạch anh – sunfua là phổ biến nhất, với nhiều tụ khoáng đã được thăm dò và có khả năng trở thành các mỏ vàng có giá trị kinh

sa khoáng dạng bãi bồi lòng sông với máy xúc, máy gạt và máng đãi dài Sau

đó sơ đồ công nghệ và thiết bị này được áp dụng cho cả các loại sa khoáng deluvi, proluvi và aluvi

Gần đây, rất nhiều tàu cuốc khai thác ở hầu hết các dòng sông có vàng suốt từ Bắc chí Nam

Trang 27

* Khai thác vàng gốc

Song song với việc khai thác vàng sa khoáng, việc khai thác vàng gốc cũng diễn ra ở khắp các tụ khoáng vàng trong cả nước

Quặng được khai thác chọn lọc từ các hầm lò thủ công và được chuyển

ra ngoài để đập, nghiền nhỏ trong các máy đập búa nước Sau đó được tuyển trên các máng ngắn hỗn hống thủy ngân và máng đãi dài để tận thu các hạt vàng tự sinh lớn và các khoáng vật sunfua chứa vàng Sản phẩm chứa vàng được đưa đi phân kim

Sau năm 1990, để tận thu vàng trong bùn thải tuyển máng đãi và trong quặng nghèo, bắt đầu phổ biến phương pháp hòa tách đống, hòa tách thùng bằng dung dịch xianua Sau đó dùng phương pháp xi măng hóa bằng bột kẽm

để thu hồi vàng từ dung dịch và đưa đi tinh chế

Cho đến nay, duy nhất có mỏ vàng Bồng Miêu, Quảng Nam, sử dụng phương pháp hòa tách động bằng xianua và thu hồi vàng bằng chất hấp phụ than hoạt tính hoặc bằng nhựa trao đổi ion

Việc thu hồi vàng đi kèm trong quặng sunfua–vàng cũng đã được thực hiện tại mỏ đồng Sin Quyền, Lào Cai Vàng đi theo quặng tinh đồng được đưa đến xưởng luyện kim Tại đây, sau quá trình thiêu và hòa tách axit, vàng được thu hồi bằng phương pháp xi măng hóa

Việc khai thác tự do quặng vàng (cả sa khoáng lẫn quặng gốc) diễn ra ở hầu khắp các vùng có tụ khoáng vàng trong cả nước Công nghệ khai thác và chế biến quặng vàng thủ công, chắp vá và lạc hậu, không phù hợp với đặc điểm thành phần vật chất của mỗi loại hình quặng Qui mô sản xuất nhỏ lẻ, phân tán và thường là khai thác trái phép do các “Cai bưởng vàng” tổ chức Tình trạng khai thác không được quản lý chặt chẽ như hiện nay, vừa gây tổn thất tài nguyên vàng vừa gây suy thoái môi trường và mất trật tự an ninh xã hội ở nhiều khu vực có tụ khoáng vàng (Havimex.vn, 2016) [6]

Trang 28

1.4 Tình hình quản lý chất thải rắn tại các mỏ khai thác khoáng sản trên Thế giới và tại Việt Nam

1.4.1 Công tác quản lý chất thải rắn tại các mỏ khai thác trên Thế giới

Tại Inđônêxia là một trong những nước giàu khoáng sản ở Đông Nam Á bao gồm các loại như than đá, vàng, nhôm và niken, trong đó có những mỏ vàng có trữ lượng lớn nhất thế giới Tuy nhiên, tại những mỏ vàng, các cánh rừng bị tàn phá, các dòng sông bị ô nhiễm, người lao động và cộng đồng dân

cư trong khu vực khai thác bị ảnh hưởng sức khỏe là cái giá phải trả cho việc khai thác vàng trái phép có sử dụng thủy ngân Chất độc của thủy ngân được thải ra môi trường, làm ô nhiễm đất và nguồn nước các con sông Theo ước tính, để có được 1kg vàng khai thác thì có đến 1,3 kg thủy ngân thất thoát vào môi trường Chưa kể là những khu rừng nhiệt đới có giá trị đa dạng sinh học cao bị tàn phá nặng nề, đe dọa cuộc sống của các loài động vật quý hiếm Ở Inđônêxia, không chỉ một ngôi làng mà cả nước cùng lâm nạn Gần như tỉnh thành nào cũng có hoạt động khai mỏ và điều này được xem là một thảm họa quốc gia Trước vấn nạn khai thác vàng trái phép diễn ra ồ ạt và có chiều hướng gia tăng, Chính phủ Inđônêxia đã thành lập một lực lượng đặc nhiệm

để kiểm tra các điểm khai thác khoáng sản quy mô nhỏ, nhằm ngăn chặn tình trạng khai thác vàng trái phép có sử dụng thủy ngân và xyanua Tuy nhiên, các hành động ngăn chặn khai thác vàng bất hợp pháp, thậm chí là giám sát ô nhiễm môi trường diễn ra không thường xuyên và chưa đủ mạnh nên việc khai thác vàng bất hợp pháp vẫn được thực hiện Năm 2013, Chính phủ Inđônêxia là một trong những nước đầu tiên đã tham gia Công ước Minamata

về thủy ngân, với cam kết sẽ loại bỏ việc sử dụng thủy ngân trong khai thác vàng vào năm 2018 (Phương Linh, 2014) [14]

Năm 1977, Chính phủ Mỹ đã ban hành Bộ luật khai thác mỏ, trong đó quy định, các điểm khai thác phải được phục hồi lại mỏ như ban đầu Luật pháp yêu cầu trước khi được cấp phép, công ty khai thác khoáng sản phải nộp

Trang 29

một bản kế hoạch phục hồi môi trường đất và phải có hệ thống thoát nước có chứa axít từ mỏ vàng (Linh Linh, 2013) [13]

Theo Báo cáo của Chương trình môi trường Liên hợp quốc, từ năm 1985 đến năm 2000, trên thế giới đã xảy ra hơn 10 sự cố vỡ đập, hồ chứa phế thải, trong đó có chất cyanua, gây ảnh hưởng lớn đến môi trường sinh thái, đe dọa cuộc sống của người dân Ví dụ, năm 2000, do một thảm họa khốc liệt đã xảy

ra tại một mỏ vàng ở Baia Mare, Rumani do một trận mưa lớn, đá và tuyết đã làm vỡ đập chứa chất thải cyanua, ước tính khoảng 100.000 m3 nước nhiễm cyanua, với nồng độ cao gấp 400 lần giới hạn cho phép chảy từ con đập ra ngoài hòa vào dòng nước sông Tisza (Hungary), một phụ lưu của sông Danube, gây thiệt hại nghiêm trọng trên 1.000 km đường thủy, làm chết 10 nghìn tấn cá và làm cho hơn 2,5 triệu người không có nước uống Vụ tràn chất thải trên buộc ngành công nghiệp khai thác vàng của Rumani nói riêng và thế giới nói chung phải đưa ra các quy định luật pháp nhằm hạn chế việc sử dụng cyanua (Linh Linh, 2013) [13]

Mới đây, Bộ luật môi trường mới của Mỹ đã được ban hành, trong đó đặt

ra những tiêu chuẩn khá nghiêm ngặt đối với việc vận chuyển và lưu trữ cyanua Theo khảo sát của Cục BVMT Mỹ (EPA), để xử lý ô nhiễm môi trường do các hoạt động khai thác khoáng sản, trong đó có khai thác vàng cần phải bỏ ra chi phí ước tính lên đến 54 triệu USD Các công ty khai thác vàng luôn nói rằng, họ mang tới những công việc tốt cho người dân, lợi ích kinh tế cho địa phương và chấp hành các quy định pháp luật về môi trường, công nghệ khai thác vàng đã được kiểm nghiệm Tuy nhiên, trong thực tế, không phải tất cả mọi điều họ đưa ra đều hoàn toàn là sự thật (Linh Linh, 2103) [13] Hiện nay, ngành khai khoáng của Mỹ và nhiều quốc gia trên thế giới đã đưa ra một số biện pháp để ngăn chặn, phòng ngừa những rủi ro có thể xảy ra

do cyanua tràn ra ngoài, gây ô nhiễm môi trường và ảnh hưởng đến cộng đồng Chẳng hạn như, quặng đuôi được xử lý bằng hệ thống ép lọc - rửa liên tục để làm sạch cyanua trong quặng đuôi, thông qua một hệ thống màng lọc

Trang 30

để ngăn chặn rò rỉ Để giảm thiểu những ảnh hưởng của cyanua, các cơ sở khai thác vàng phải xử lý chất thải cyanua theo một quy trình khép kín, dung dịch tách vàng bằng cyanua được xử lý tuần hoàn, tái sử dụng, không thải ra môi trường Cyanua bị phân hủy trong ánh sáng mặt trời, hay do thủy phân và ôxy hóa Ngoài ra, một số nhà khoa học trên thế giới đã nghiên cứu biện pháp thay thế việc sử dụng cyanua để tách vàng, trong đó có phương pháp sử dụng các vi sinh vật Tuy nhiên, trong khi những phương pháp này chưa có kết quả, thì cyanua vẫn là một công nghệ khai thác mà nhiều doanh nghiệp khai thác vàng lựa chọn và sử dụng, dù cho những nguy hại từ cyanua gây ra cho môi trường và con người không hề nhỏ (Linh Linh, 2013) [13]

1.4.2 Công tác quản lý chất thải rắn tại các mỏ khai thác tại Việt Nam

Việc khai thác tài nguyên khoáng sản kéo theo các hậu quả nghiêm trọng như tàn phá môi trường, làm thất thoát, lãng phí tài nguyên, gây mất an toàn lao động, làm mất trật tự, an ninh, an toàn xã hội, phải được ngăn chặn, truy quét và giải tỏa triệt để Việc khai thác tài nguyên khoáng sản gây hậu quả lớn đến môi trường như là việc khai thác vàng sử dụng cyanua - hóa chất độc hại thu hồi vàng; khai thác quặng ilmenit dọc bờ biển đã tàn phá các rừng cây chắn sóng, chắn cát, chắn gió ven biển; khai thác cát, sỏi lòng sông gây xói lở

bờ, đê, kè ảnh hưởng các công trình giao thông, gây ô nhiễm nguồn nước,… (Lê Văn Thành, 2004) [21]

Các đơn vị khai thác khoáng sản đều có chất thải nguy hại phát sinh như: Dầu máy thải, ắc quy axit chì thải,…Công tác quản lý chất thải nguy hại tại các đơn vị qua kiểm tra đều cho thấy hầu hết, các mỏ khai thác quặng kim loại của Việt Nam đều là mỏ lộ thiên, việc khai thác các mỏ này đòi hỏi phải bóc một lượng đất đá thải rất lớn Ô nhiễm nguồn nước được coi là vấn đề nổi cộm khi xảy ra ô nhiễm môi trường tại điểm khai thác Tiếp đến là lượng khí thải độc hại từ lò nung thải vào không khí, vấn đề quan trọng thứ ba là khi các hạt gây ô nhiễm cực kỳ độc hại phát tán trong không khí (bụi), có ảnh hưởng rộng rãi trong vùng hoặc các vùng lân cận Những chất thải là các hạt mịn

Trang 31

thừa còn lại của các kim loại sau khi được chiết xuất từ quặng qua nhiều khâu

xử lý khác nhau Các phương tiện quản lý chất thải (TMF) thường được gọi là các đập chứa nước thải, các bể chứa, các hồ giữ nước thải là noi lưu trữ chất thải trong quá trình hoạt động khai thác và chế biến của các khu mỏ về mặt

kỹ thuật, hậu quả từ các đập chứa chất thải là làm thay đổi hướng của dòng nước; sự hư hỏng do nước tràn qua; sự ô nhiễm do việc rò ri lặp đi lặp lại Các hoạt động khai thác kim loại thường sinh ra bụi, nước thải với khối lượng lớn, gây ô nhiễm không khí và nước chưa có kho chứa chất thải nguy hại, công tác thu gom, vận chuyển, xử lý chưa đảm bảo Các chất rắn lơ lửng không những làm ô nhiễm chất lượng nước mặt tại khu vực mỏ mà còn chứa nhiều kim loại nặng, thủy ngân và các hóa chất độc hại khác gây ảnh hưởng các vùng lân cận và hạ nguồn các con sông Tại các mỏ khai thác quặng nguy cơ tạo ra các dòng thải axit mỏ là không tránh khỏi nếu không có giải pháp xử lý triệt để Hoạt động công nghiệp khai khoáng đã tạo ra một lượng chất thải nguy hại rất lớn, gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng Công tác quản lý chất thải nguy hại tại các khu vực khai thác còn nhiều bất cấp, cần có sự phối hợp giữa các doanh nghiệp và các cấp chính quyền địa phương để giảm thiểu cũng như xử lý chất thải nguy hại sinh ra [1]

1.4.3 Tình hình khai thác vàng ở huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên

Trên địa bàn huyện Võ Nhai, hoạt động khai thác, chế biến khoáng sản đóng góp đáng kể vào sự phát triển kinh tế - xã hội, nhưng bên cạnh đó lại có tác động không nhỏ đến môi trường, cảnh quan và đời sống của một bộ phận người dân Vì vậy, thời gian qua, cùng với việc tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực này, huyện còn thực hiện nhiều giải pháp nhằm ngăn ngừa tình trạng ô nhiễm môi trường do tác động từ khai thác, chế biến khoáng sản

Trên địa bàn huyện Võ Nhai hiện có 25đơn vị khai thác, chế biến khoáng sản với vị trí chủ yếu nằm ở đầu nguồn nước, nơi có nguy cơ cao xảy ra lũ quét

và sạt lở đất đá Chính vì vậy, nếu các hồ chứa bùn thải không được gia cố,

Trang 32

quản lý theo đúng quy trình sẽ dễ phát tán ra môi trường Trong số 25 mỏ khoáng sản đang hoạt động thì có 17 mỏ khoáng sản kim loại (chủ yếu là vàng), còn lại là các mỏ khai thác vật liệu xây dựng (đá và cát sỏi) [25] Thời gian trước, tình trạng khai thác khoáng sản trái phép ở Võ Nhai đã làm ô nhiễm môi trường nghiêm trọng tại khu vực thượng nguồn các con sông, suối, gây bức xúc trong dư luận Với sự vào cuộc quyết liệt của chính quyền địa phương

và bằng nhiều giải pháp (như tăng cường kiểm tra, lập chốt liên ngành xử lý dứt điểm những “điểm nóng” khai thác trái phép) nên thời gian gần đây, vấn đề

ô nhiễm môi trường do hoạt động khai thác, chế biến khoáng sản trên địa bàn

đã từng bước được kiềm chế

Bên cạnh việc tạo điều kiện cho các doanh nghiệp khai khoáng đủ điều kiện hoạt động, UBND huyện đã chỉ đạo Phòng Tài nguyên - Môi trường phối hợp chặt chẽ với chính quyền các xã tăng cường công tác quản lý tại nơi khai thác Địa phương nào để xảy ra tình trạng khai thác khoáng sản trái phép hoặc khai thác gây ô nhiễm môi trường mà không báo cáo kịp thời với cấp trên, đến khi bị phát hiện và xử lý thì lãnh đạo địa phương đó sẽ chịu hoàn toàn trách nhiệm Để quản lý tốt các đơn vị khai thác khoáng sản trên địa bàn, từ đầu năm đến nay, huyện đã lập 6 đoàn liên ngành tổ chức kiểm tra tại các khu vực khai thác khoáng sản Qua đó đã phát hiện, nhắc nhở 10 đơn vị vi phạm Đến nay, tình trạng gây ô nhiễm môi trường do khái thác khoáng sản đã giảm đáng kể Tuy nhiên, với việc dòng suối Hạ Kim chảy qua địa bàn xã Thần Sa hiện đang bị ô nhiễm nặng do Công ty Kim Ngân đang khai thác khoáng sản bên địa bàn huyện Chợ Mới (Bắc Kạn) gây ra, huyện Võ Nhai đã có công văn

đề nghị Sở Tài nguyên và Môi trường kiểm tra để phối hợp với huyện Chợ Mới xử lý dứt điểm tình trạng trên… Bên cạnh đó, việc cấp phép cho các đơn

vị khai thác khoáng sản đã góp phần ngăn chăn được tình trạng khai thác khoáng sản trái phép và quản lý hiệu quả các vấn đề về môi trường (Dương Hưng, 2016) [11]

Trang 33

1.4.4 Khái quát về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của xã Thần Sa, huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên

* Vị trí địa lý

Thần Sa là một xã nằm ở phía Bắc của huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên

và được biết đến với nhiều khoáng sản quý như chì, kẽm, vàng Xã Thần Sa nằm cách trung tâm huyện 46 km Có tổng diện tích tự nhiên là 10.263,38 ha, được chia thành 9 xóm là Trung Sơn, Kim Sơn, Hạ Sơn Tày, Hạ Sơn Dao, Xuyên Sơn, Ngộc Sơn 1, Ngọc Sơn 2, Tân Kim, Thượng Kim

* Điều kiện về kinh tế

a Phát triển kinh tế

Nguồn sống chủ yếu của các hộ dân là sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp

và chăn nuôi Do nằm xa trung tâm huyện và trong địa phận xã không có chợ nên nhiều khu vực của xã người dân vẫn sống theo kiểu tự cung, tự cấp Giao lưu kinh tế giữa khu vực xã nhất là các xóm vùng sâu, vùng xa của xã với các vùng lân cận rất hạn hẹp Sau khi bùng nổ khai thác vàng trong khu vực, người dân ở đây cũng tham gia khai thác vàng nên cuộc sống ở đây cũng thay đổi nhiều, các tệ nạn xã hội phát triển như nghiện hút, mại dâm Hiện tại trong khu vực xã Thần Sa chưa có các hoạt động sản xuất công nghiệp

b Cơ sở hạ tầng

- Hệ thống giao thông

Khu vực dự án nằm giữ hai quốc lộ 3 và 1B Theo hướng đường 1B từ thành phố Thái Nguyên đến La Hiên với chiều dài khoảng 20 km là đường bê tông nhựa có chất lượng tốt Từ La Hiên đến UBND xã Thần Sa có chiều dài khoảng 26 km là đường cấp phối, cắt ngang qua nhiều con suối Từ UBND xã Thần Sa vào đến Bản Ná có chiều dài khoảng 4 km là đường đất, hẹp, có nhiều dốc cao, dài vào mùa mưa lũ đi lại rất khó khăn

Trang 34

Nếu đi theo quốc lộ 3 từ Thái Nguyên đến Chợ Mới khoảng cách 40 km

là đường bê tông nhựa chất lượng tốt Từ khu vực Chợ Mới đến xã là 27 km chủ yếu là đường mòn đi lại khó khăn

Khu vực xã Thần Sa có 18 km đường, trong đó 6 km là đường cấp phối,

12 km là đường đất, người dân giữa các xóm qua lại với nhau chủ yếu theo đường đất và đường mòn

- Cấp nước, cấp điện

Được sự quan tâm của chính quyền cũng như sự giúp đỡ của các tổ chức khác hiện tại có 378 hộ dân (74%) trong khu vực xã Thần Sa đã được sử dụng nước sạch Nước từ các khe núi được thu vào bể chứa nước lớn trên đỉnh núi

từ đó theo đường ống cấp về cho các hộ dân sử dụng 100% số hộ dân tại xóm Xuyên Sơn được sử dụng nước sạch

Khu vực xã Thần Sa đã có đường điện sinh hoạt đi qua Toàn xã có 284

hộ được cấp điện

- Thông tin liên lạc

Do địa bàn các xóm có mỏ khai thác thuộc vùng sâu, vùng xa vì vậy thông tin liên lạc rất khó khăn Hiện nay mới chỉ có điện thoại đến xã Để đảm bảo cho công tác thông tin liên lạc được tốt, giúp cho việc chỉ đạo sản xuất kịp thời, các công ty trong thời gian đầu đã phải sử dụng bộ đàm, đến khi đi vào hoạt động ổn định mới lắp điện thoại cố định từ trung tâm xã Thần Sa vào các mỏ

* Điều kiện về dân cư

Dân cư khu vực này thưa thớt vào khoảng 22,8 người/km2 Tổng số dân khu vực xã Thần Sa là 2352 người /494 hộ; số khẩu trung bình trong 1 hộ là 4,76 người, với mức tăng dân số trung bình 1,9% Số người trong độ tuổi lao động là: 1040 người; trong đó, nam là: 533 người, nữ là 507 người

Dân cư bản địa khu vực xã Thần Sa chủ yếu là dân tộc Tày, Nùng, Cao Lan, H’Mông ngoài ra còn có dân tộc Kinh, Dao

Trang 35

1.5 Đánh giá chung

Hoạt động khai thác khoáng sản mang lại nhiều lợi ích kinh tế thiết thực cho đất nước Tuy nhiên, nó cũng gây nên những tác động không nhỏ tới môi trường Tình trạng khai thác mỏ hiện nay đang gây ra sự lãng phí nguồn tài nguyên là nguồn không tái tạo được Đồng thời, hoạt động khai thác mỏ cũng đang gây tác hại tới các nguồn tài nguyên khác, làm thay đổi cảnh quan, địa hình, thu hẹp đất trồng và rừng do diện tích khai trường và bãi thải ngày càng phát triển Đặc biệt, gây ô nhiễm môi trường không khí, nước và đất Trong đó, nguồn chất thải nguy hại phát sinh trong hoạt động khai thác khoáng sản nói chung và trong khai thác vàng sa khoáng nói riêng có ảnh hưởng rất lớn tới môi trường Do vậy, cần có những đánh giá chính xác về lượng chất thải nguy hại phát sinh, công tác quản lý chất thải này tại các mỏ

để đưa ra được những giải pháp quản lý phù hợp và đạt hiệu quả

Trang 36

Chương 2

2.1 Đối tượng, phạm vi, địa điểm và thời gian nghiên cứu

2.1.1 Đối tượng nghiên cứu

Các loại chất thải rắn phát sinh và công tác quản lý chất thải rắn trong hoạt động khai thác vàng của một số điểm mỏ trên địa bàn xã Thần Sa, huyện

Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên

2.1.2 Phạm vi, địa điểm, thời gian nghiên cứu

- Phạm vi nghiên cứu: Các mỏ vàng trên địa bàn xã Thần Sa, huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên

- Địa điểm nghiên cứu: Nghiên cứu tại 03 mỏ vàng: Mỏ vàng sa khoáng Bản Ná, mỏ vàng gốc Tân Kim, mỏ vàng gốc Khau Âu, xã Thần Sa, huyện

Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên

- Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 7/2016 đến tháng 7/2017

2.2 Nội dung nghiên cứu

- Tình hình hoạt động khai thác, tuyển vàng của một số mỏ vàng trên địa bàn xã Thần Sa, huyện Võ Nhai

- Đánh giá công tác quản lý chất thải rắn tại các mỏ khai thác vàng trên địa bàn xã Thần Sa, huyện Võ Nhai

- Đánh giá của người dân về công tác quản lý chất thải rắn trong khai thác vàng tại xã Thần Sa, huyện Võ Nhai

- Đề xuất các giải pháp tăng cường công tác quản lý chất thải rắn tại các mỏ khai thác vàng trên địa bàn xã Thần Sa, huyện Võ Nhai

2.3 Phương pháp nghiên cứu

2.3.1 Phương pháp thu thập số liệu, thông tin thứ cấp

Để thực hiện đề tài này tôi đã thu thập thông tin qua sách báo, tài liệu nhằm mục đích tìm chọn những khái niệm và tư tưởng làm cơ sở lý luận của

Trang 37

đề tài Nguồn tài liệu nghiên cứu được tham khảo trong đề tài rất đa dạng bao gồm: giáo trình, báo cáo, số liệu thống kê, các chính sách của nhà nước,… Ngoài ra số liệu còn được thu thập thông qua các phòng ban chức năng thuộc ủy ban nhân dân huyện Võ Nhai, ủy ban nhân dân xã Thần Sa, Trung tâm Quan trắc Tài nguyên và Môi trường Thái Nguyên Các tài liệu thu thập gồm:

+ Báo cáo hàng năm về tình hình khai thác và quản lý các mỏ khai thác khoáng sản trong địa bàn nghiên cứu

+ Tình hình hoạt động khai thác và chế biến, các sơ đồ dây truyền công nghệ tại một số mỏ khai thác và chế biến vàng sa khoáng

+ Các văn bản pháp quy về khai thác khoáng sản, bảo vệ môi trường, về quản lý chất thải rắn, các tiêu chuẩn, quy chuẩn Việt Nam… và các tài liệu có liên quan

2.3.2 Phương pháp khảo sát thực địa

- Khảo sát thực địa về đặc điểm địa hình khu vực nghiên cứu

- Khảo sát thực tế, tìm hiểu tình hình khai thác, tuyển vàng, dây truyền công nghệ hiện đang áp dụng

- Tiến hành tham quan khu chứa chất thải rắn của 3 mỏ (Mỏ vàng sa

khoáng Bản Ná, mỏ vàng gốc Tân Kim, mỏ vàng gốc Khau Âu)

2.3.3 Phương pháp điều tra, phỏng vấn

- Thành lập bộ câu hỏi đánh giá nhanh, tiến hành phát phiếu điều tra, phỏng vấn

- Đối tượng phỏng vấn:

+ Cơ quan quản lý nhà nước: Phỏng vấn 10 phiếu (UBND xã Thần Sa (05 phiếu), phòng Tài nguyên và môi trường huyện Võ Nhai (05 phiếu)

+ Các doanh nghiệp khai thác vàng trên địa bàn xã Thần Sa: Phỏng vấn

45 phiếu/3 mỏ vàng (Mỏ vàng sa khoáng Bản Ná 15 phiếu , mỏ vàng gốc Tân Kim 15 phiếu, mỏ vàng gốc Khau Âu 15 phiếu)

Trang 38

+ Người dân sinh sống xung quanh địa bàn 3 mỏ vàng trên địa bàn xã Thần Sa: Phỏng vấn ngẫu nhiên 60 phiếu, trong đó xóm Xuyên Sơn (20 phiếu), Xóm Tân Kim (20 phiếu), xóm Hạ Kim (20 phiếu)

- Nội dung điều tra bao gồm

+ Thực trạng phát sinh, thu gom, quản lý và xử lý chất thải rắn trong khai thác vàng tại một số mỏ vàng ở địa phương

+ Khả năng nhận thức về ảnh hưởng của chất thải rắn đến môi trường và sức khỏe cộng đồng dân cư, công tác quản lý chất thải rắn của các mỏ khai thác vàng

+ Phương pháp điều tra theo bảng hỏi (mẫu phiếu điều tra xem phần phụ lục)

2.3.4 Phương pháp tham khảo ý kiến chuyên gia

Hình thức thực hiện phương pháp này thông qua các buổi gặp gỡ, trao đổi, thảo luận với cán bộ, giáo viên hướng dẫn nhằm tháo gỡ những thắc mắc liên quan đến luận văn Trong thời gian nghiên cứu, tác giả đã gặp và tham vấn trưởng phòng Tài nguyên & Môi trường huyện Võ Nhai (01 lần), gặp cán

bộ quản lý 03 mỏ khai thác vàng (Mỏ vàng sa khoáng Bản Ná, mỏ vàng gốc Tân Kim, mỏ vàng gốc Khau Âu) 02 lần để trao đổi thông tin, cập nhật số liệu mới trong công tác quản lý chất thải rắn phát sinh từ hoạt động khai thác vàng Đồng thời, cũng trao đổi, thống nhất với giáo viên hướng dẫn một số nội dung chính trong công tác quản lý chất thải rắn trong khai thác vàng sa khoáng được đề cập đến trong luận văn

2.3.5 Phương pháp tổng hợp phân tích và xử lý số liệu

Các kết quả thu được từ tài liệu thứ cấp, và phiếu điều tra phỏng vấn sẽ được trình bày lại dưới dạng bảng sau đó tiến hành xử lý bằng excel để chuyển sang dạng biểu đồ cần thiết phục vụ việc phân tích các kết quả dễ dàng hơn

Trang 39

Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

3.1 Tình hình hoạt động khai thác, tuyển vàng của một số mỏ vàng trên địa bàn xã Thần Sa, huyện Võ Nhai

Tính đến thời điểm hiện tại, trên địa bàn xã Thần Sa, huyện Võ Nhai có

3 Doanh nghiệp được UBND tỉnh Thái Nguyên cấp giấy phép khai thác vàng với tổng số 06 mỏ vàng Tuy nhiên, đến thời điểm nghiên cứu dự án thì chỉ có

03 mỏ đang hoạt động, 03 mỏ còn lại đang trong quá trình giải phóng mặt bằng và khai thác thăm dò Vì vậy, tôi chọn 3 mỏ khai vàng, đồng thời có hoạt động tuyển vàng tại chỗ để đánh giá, đó là:

- Mỏ vàng Bản Ná tại xóm Xuyên Sơn - Công ty Cổ phần đầu tư xây dựng và khai thác khoáng sản Thăng Long

- Mỏ vàng Tân Kim tại xóm Tân Kim - Hợp tác xã Công nghiệp và Vận tải Chiến Công

- Mỏ vàng gốc Khau Âu tại xóm Hạ Kim - Hợp tác xã Công nghiệp và Vận tải Chiến Công

Trang 40

Bảng 3.1 Tổng hợp danh sách các dự án khai thác vàng trên địa bàn xã Thần Sa, huyện Võ Nhai

KTKS

Diện tích theo GPKTKS (ha)

Dự án đã GPMB đang

HĐ khai thác

Dự án đang thực hiện GPMB

Hình thức khai thác

khoáng Bản Ná

Xóm Xuyên Sơn, xã Thần Sa

Cty CPĐTXD&KT

KS Thăng Long

3068/GP -UBND

Khai thác lộ thiên

Cty CPĐTXD&KT

Cty CPĐTXD&KT

2145/GP -UBND

Khai thác lộ thiên và hầm lò

1725/QĐ UBND ngày 31/7/2008

Ngày đăng: 04/04/2018, 15:05

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Chuyên đề môi trường, Hiện trạng quản lý chất thải nguy hại tại các khu công nghiệp khai khoáng ở Việt Nam, http://moitruong.com.vn/chuyen-de-moi-truong/hien-trang-quan-ly-chat-thai-nguy-hai-tai-cac-khu-cong-nghiep-khai-khoang-o-viet-nam-7523.htm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hiện trạng quản lý chất thải nguy hại tại các khu công nghiệp khai khoáng ở Việt Nam
5. Hà Quang Hải (2016), Tổng quan về khai thác mỏ - Phần 2: Tác động môi trường và xã hội, Cổng thông tin Địa môi trường, Đại học Khoa học Tự nhiên Tp. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổng quan về khai thác mỏ - Phần 2: Tác động môi trường và xã hội
Tác giả: Hà Quang Hải
Năm: 2016
6. Havimex.vn (2016), Công nghệ hòa tách xianua để thu hôi vàng từ quặng, http://havimex.vn/tin-trong-nganh/cong-nghe-hoa-tach-xianua-de-thu-hoi-vang-tu-quang.htm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công nghệ hòa tách xianua để thu hôi vàng từ quặng
Tác giả: Havimex.vn
Năm: 2016
10. Huỳnh Thu Hòa và Võ Văn Bé (2008), Tài nguyên khoáng sản và năng lượng, http://vietsciences1.free.fr/vietscience/giaokhoa/biology/moitruongvacon nguoi/tainghuyenkhoangsannangluong.htm#I.1 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài nguyên khoáng sản và năng lượng
Tác giả: Huỳnh Thu Hòa và Võ Văn Bé
Năm: 2008
11. Dương Hưng (2016), Khai thác, chế biến khoáng sản ở Võ Nhai: Ngăn ngừa ô nhiễm môi trường, Báo Thái Nguyên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khai thác, chế biến khoáng sản ở Võ Nhai: Ngăn ngừa ô nhiễm môi trường
Tác giả: Dương Hưng
Năm: 2016
12. Khoahoc.vn (2013), Các mỏ vàng trên Trái Đất hình thành như thế nào?, Báo Quảng Ngãi Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các mỏ vàng trên Trái Đất hình thành như thế nào
Tác giả: Khoahoc.vn
Năm: 2013
13. Linh Linh (2013), Nỗi lo từ sử dụng cyanua trong khai thác vàng, Chuyên đề khai thác khoáng sản gắn với bảo vệ môi trường, http://moitruong.com.vn/chuyen-de-moi-truong/noi-lo-tu-su-dung-cyanua-trong-khai-thac-vang-4480.htm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nỗi lo từ sử dụng cyanua trong khai thác vàng
Tác giả: Linh Linh
Năm: 2013
14. Phương Linh (2014), Hệ lụy của hoạt động khai thác vàng ở Indonexia, Tạp chí Môi trường, số 9/2014 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hệ lụy của hoạt động khai thác vàng ở Indonexia
Tác giả: Phương Linh
Năm: 2014
16. Nguyễn Quang Minh (2006), Đánh giá hiện trạng và đề xuất các giải pháp quản lý môi trường hoạt động khai thác tại mỏ Apatit Lào Cao, Trường Đại học Khoa học tự nhiên, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá hiện trạng và đề xuất các giải pháp quản lý môi trường hoạt động khai thác tại mỏ Apatit Lào Cao
Tác giả: Nguyễn Quang Minh
Năm: 2006
21. Lê Văn Thành (2004), Khai thác khoáng sản và tác động đến môi trường, Cục Địa chất và Khoáng sản Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khai thác khoáng sản và tác động đến môi trường
Tác giả: Lê Văn Thành
Năm: 2004
22. Đinh Văn Tôn (2015), Quản lý đất đá thải trong hoạt động khai thác khoáng sản, Trung tâm Môi trường Công nghiệp, http://vimluki.vn/quan-ly-dat-da-thai-trong-hoat-dong-khai-thac-khoang-san-6380.html Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý đất đá thải trong hoạt động khai thác khoáng sản, Trung tâm Môi trường Công nghiệp
Tác giả: Đinh Văn Tôn
Năm: 2015
23. Đinh Văn Tôn (2016), Quản lý chất thải nguy hại trong hoạt động khai thác khoáng sản, Trung tâm Môi trường Công nghiệp, http://vimluki.vn/quan-ly-chat-thai-nguy-hai-trong-hoat-dong-khai-thac-khoang-san-6381.html Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý chất thải nguy hại trong hoạt động khai thác khoáng sản, Trung tâm Môi trường Công nghiệp
Tác giả: Đinh Văn Tôn
Năm: 2016
24. Trần Văn Tuân (2012), Hiện trạng quản lý nước thải tại các nhà máy tuyển luyện vàng – Nghiên cứu, đề xuất cho nhà máy ĐAKSA, tỉnh Quảng Nam, Đại học Đà Nẵng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hiện trạng quản lý nước thải tại các nhà máy tuyển luyện vàng – Nghiên cứu, đề xuất cho nhà máy ĐAKSA
Tác giả: Trần Văn Tuân
Năm: 2012
25. Ủy ban nhân dân tỉnh Thái Nguyên (2012), Đề án khắc phục ô nhiễm môi trường tại các khu vực khai thác, chế biến khoáng sản trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên, Thái Nguyên.II. Tiếng Anh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đề án khắc phục ô nhiễm môi trường tại các khu vực khai thác, chế biến khoáng sản trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên
Tác giả: Ủy ban nhân dân tỉnh Thái Nguyên
Năm: 2012
26. IMINCO (2012), What is mining?, http://iminco.net/what-is-mining/, 2012 Sách, tạp chí
Tiêu đề: What is mining
Tác giả: IMINCO
Năm: 2012
27. The Detroit Salt Company (2010) Types of Mining, http://www.detroitsalt.com/types-of-mining.html, 2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Types of Mining
28. Prof. Stephen A. Nelson (2012), Mineral Resources, Tulane University, http://www.tulane.edu/~sanelson/eens1110/minresources.htm,ngày20/3/2012 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mineral Resources
Tác giả: Prof. Stephen A. Nelson
Năm: 2012
2. Công ty cổ phần đầu tư xây dựng và khai thác khoáng sản Thăng Long (2013), Báo cáo Đánh giá tác động môi trường tại mỏ vàng Bản Ná Thần Sa, huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên Khác
3. Công ty cổ phần đầu tư xây dựng và khai thác khoáng sản Thăng Long (2016), Báo cáo kiểm soát ô nhiễm định kỳ mỏ vàng Bản Ná 2015, 2016 Khác
4. Hoàng Minh Đạo (2009), Thực trạng khai thác và quản lý các nguồn tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ môi trường Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w