Nghiên cứu đặc điểm dịch tễ, bệnh lý lâm sàng bệnh ve, ghẻ ở chó tại huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang và biện pháp điều trị (Luận văn thạc sĩ)Nghiên cứu đặc điểm dịch tễ, bệnh lý lâm sàng bệnh ve, ghẻ ở chó tại huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang và biện pháp điều trị (Luận văn thạc sĩ)Nghiên cứu đặc điểm dịch tễ, bệnh lý lâm sàng bệnh ve, ghẻ ở chó tại huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang và biện pháp điều trị (Luận văn thạc sĩ)Nghiên cứu đặc điểm dịch tễ, bệnh lý lâm sàng bệnh ve, ghẻ ở chó tại huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang và biện pháp điều trị (Luận văn thạc sĩ)Nghiên cứu đặc điểm dịch tễ, bệnh lý lâm sàng bệnh ve, ghẻ ở chó tại huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang và biện pháp điều trị (Luận văn thạc sĩ)Nghiên cứu đặc điểm dịch tễ, bệnh lý lâm sàng bệnh ve, ghẻ ở chó tại huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang và biện pháp điều trị (Luận văn thạc sĩ)Nghiên cứu đặc điểm dịch tễ, bệnh lý lâm sàng bệnh ve, ghẻ ở chó tại huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang và biện pháp điều trị (Luận văn thạc sĩ)
Trang 1NGUYỄN THỊ THỦY
NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM DỊCH TỄ, BỆNH LÝ LÂM SÀNG
BỆNH VE, GHẺ Ở CHÓ TẠI HUYỆN TÂN YÊN,
TỈNH BẮC GIANG VÀ BIỆN PHÁP ĐIỀU TRỊ
LUẬN VĂN THẠC SĨ THÚ Y
THÁI NGUYÊN - 2017
Trang 2NGUYỄN THỊ THỦY
NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM DỊCH TỄ, BỆNH LÝ LÂM SÀNG
BỆNH VE, GHẺ Ở CHÓ TẠI HUYỆN TÂN YÊN,
TỈNH BẮC GIANG VÀ BIỆN PHÁP ĐIỀU TRỊ
Ngành: Thú y
Mã ngành: 60.64.01.01
LUẬN VĂN THẠC SĨ THÚ Y
Người hướng dẫn khoa học: 1 TS Ngô Nhật Thắng
2 GS TS Nguyễn Thị Kim Lan
THÁI NGUYÊN - 2017
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng cá nhân tôi Các số liệu công bố trong luận văn là trung thực, chính xác và có trích dẫn rõ ràng Tác giả chịu trách nhiệm hoàn toàn về nội dung và các số liệu đã công bố trong luận văn này Tôi xin cam đoan mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện đề tài nghiên cứu và hoàn thành luận văn đều đã được cảm ơn đầy đủ
Thái Nguyên, ngày tháng năm 2017
Học viên
Nguyễn Thị Thủy
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Trong thời gian thực tập và thực hiện đề tài này, tôi đã nhận được sự quan tâm, chỉ bảo, hướng dẫn, giúp đỡ tận tình của các thầy cô giáo, đồng nghiệp, bạn bè;
sự động viên khích lệ của gia đình để tôi hoàn thành luận văn
Nhân dịp này tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới TS Ngô Nhật Thắng
và GS.TS Nguyễn Thị Kim Lan với cương vị giáo viên hướng dẫn khoa học, đã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo và giúp đỡ tôi trong quá trình hoàn thành luận văn
Cảm ơn Ban đào tạo Sau đại học - Đại học Thái Nguyên; Khoa Chăn nuôi thú
y - Trường đại học Nông lâm Thái Nguyên; Trạm Chăn nuôi Thú y huyện Tân Yên (Bắc Giang), các hộ gia đình trên địa bàn các xã thuộc huyện Tân Yên (Bắc Giang),
đã giúp đỡ, tạo điều kiện trong quá trình thực hiện đề tài và hoàn thành luận văn Nhân dịp này tác giả chân thành cảm ơn gia đình, bạn bè và đồng nghiệp đã giúp đỡ, động viên để tôi hoàn thành luận văn tốt nghiệp của mình
Xin chân thành cảm ơn
Thái Nguyên, ngày tháng năm 2017
Học viên
Nguyễn Thị Thủy
Trang 5MỤC LỤC
Trang
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT v
DANH MỤC BẢNG BIỂU vi
DANH MỤC HÌNH ẢNH vii
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục tiêu của đề tài 2
3 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của đề tài 2
3.1 Ý nghĩa khoa học 2
3.2 Ý nghĩa thực tiễn của đề tài 2
Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
1.1 Cơ sở khoa học của đề tài 3
1.1.1 Một số đặc điểm cấu tạo và sinh lý da của gia súc 3
1.1.2 Một số đặc điểm sinh học của chó 5
1.1.3 Bệnh ve ký sinh ở chó 8
1.1.4 Bệnh ghẻ trên chó 15
1.2 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước 27
1.2.1 Tình hình nghiên cứu trong nước 27
1.2.2 Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài 27
Chương 2: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 30 2.1 Đối tượng, địa điểm và thời gian nghiên cứu 30
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu 30
2.1.2 Vật liệu nghiên cứu 30
2.1.3 Địa điểm nghiên cứu 30
2.1.4 Thời gian nghiên cứu 30
2.2 Nội dung nghiên cứu 30
2.3 Phương pháp nghiên cứu 31
2.3.1 Phương pháp điều tra 31
2.3.2 Phương pháp cố định chó 32
2.3.3 Phương pháp kiểm tra cơ thể 32
2.3.4 Phương pháp lấy mẫu 32
2.3.5 Phương pháp xử lý mẫu tại phòng thí nghiệm 33
2.3.6 Phương pháp định danh loài ve, ghẻ 34
Trang 62.3.7 Phương pháp xác định tỷ lệ và cường độ nhiễm ve, ghẻ 34
2.3.8 Phương pháp lấy mẫu máu và xác định chỉ tiêu sinh lý máu 35
2.4 Xử lý số liệu 35
Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 36
3.1 Nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ bệnh ve và ghẻ ở chó nuôi tại huyện Tân Yên - tỉnh Bắc Giang 36
3.1.1 Điều tra số lượng và tình hình chăn nuôi các giống chó tại huyện Tân Yên 36
3.1.2 Tỷ lệ nhiễm ve, ghẻ trên chó tại huyện Tân Yên 39
3.1.3 Cường độ nhiễm ve và ghẻ ở chó nuôi tại huyện Tân Yên 41
3.1.4 Tỷ lệ nhiễm ve và ghẻ theo giống chó 44
3.1.5 Tình hình nhiễm ve, ghẻ trên chó theo tính biệt 46
3.1.6 Tỷ lệ nhiễm ve, ghẻ trên chó theo lứa tuổi 48
3.2 Nghiên cứu bệnh ve, ghẻ trên chó nuôi tại huyện Tân Yên – Bắc Giang 50
3.2.1 Các loài ve, ghẻ ký sinh trên chó tại huyện Tân Yên 50
3.2.2 Xác định các vị trí ve và ghẻ thường ký sinh trên cơ thể chó nuôi tại huyện Tân Yên 52
3.2.3 Triệu chứng lâm sàng của chó nhiễm ve, ghẻ 54
3.2.4 Sự thay đổi một số chỉ tiêu huyết học của chó bị bệnh ve và ghẻ 56
3.3 Kết quả thử nghiệm hai phác đồ trị ve, ghẻ trên chó 59
3.3.1 Phác đồ điều trị bệnh ve, ghẻ cho chó 59
3.3.2 Hiệu quả điều trị đối với chó bị nhiễm đơn ve hoặc ghẻ 61
3.3.3 Hiệu lực của 2 phác đồ đối với chó bị nhiễm ghép ve và ghẻ 64
3.3.4 Độ an toàn của hai phác đồ điều trị ve, ghẻ cho chó 65
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 68
TÀI LIỆU THAM KHẢO 70
Trang 7DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
R sanguineus :Rhipicephalus sanguineus
Trang 8DANH MỤC BẢNG BIỂU
Trang
Bảng 3.1: Các giống chó đang được nuôi tại huyện Tân Yên 36
Bảng 3.2: Tỷ lệ nhiễm ve, ghẻ trên chó tại một số xã của huyện Tân Yên 39
Bảng 3.3: Cường độ nhiễm ve và ghẻ ở chó nuôi tại huyện Tân Yên 41
Bảng 3.4: Tỷ lệ nhiễm ve và ghẻ ở các giống chó tại huyện Tân Yên trong số chó nhiễm 44
Bảng 3.5: Tỷ lệ nhiễm ve, ghẻ theo tính biệt của chó 46
Bảng 3.6: Tỷ lệ nhiễm ve, ghẻ trên chó theo lứa tuổi 48
Bảng 3.7: Sự phân bố các loài ve, ghẻ trên chó tại huyện Tân Yên 50
Bảng 3.8: Vị trí ve và ghẻ thường ký sinh trên cơ thể chó tại Tân Yên 52
Bảng 3.9: Triệu chứng lâm sàng của chó nhiễm ve, ghẻ tại Tân Yên 54
Bảng 3.10: So sánh sự thay đổi một số chỉ tiêu huyết học của chó bị mắc bệnh ve, ghẻ kết hợp 56
Bảng 3.11: Sự thay đổi công thức bạch cầu của chó bị bệnh ve, ghẻ 58
Bảng 3.12: Phác đồ điều trị 1 60
Bảng 3.13: Phác đồ điều trị 2 60
Bảng 3.14: Hiệu lực của 2 phác đồ đối với chó bị nhiễm đơn ve hoặc ghẻ 61
Bảng 3.15: Hiệu lực của 2 phác đồ đối với chó bị nhiễm ghép ve và ghẻ 64
Bảng 3.16: Độ an toàn của hai phác đồ điều trị bệnh ve và ghẻ cho chó 66
Trang 9DANH MỤC HÌNH, SƠ ĐỒ, BIỂU ĐỒ
Trang
Hình 1.1: Cấu tạo da của gia súc 3
Hình 1.2: Các giai đoạn phát triển của ve Rhipicephalus sanguineus 10
Hình 1.3: Ve Boophilus microplus 12
Hình 1.4: Hình dạng ghẻ Sarcoptes scabiei canis 15
Hình 1.5: Sơ đồ vòng đời Sarcoptes scabiei canis 16
Hình 1.6: Ghẻ tai Otodectes cynotis 17
Hình 1.7: Vòng đời phát triển của Otodectes cynotis 18
Hình 1.8: Hình thái và cấu tạo của Demodex canis 20
Hình 1.9: Vòng đời, vị trí ký sinh và sự truyền lây của Demodex canis 21
Hình 1.10: Thuốc trị ngoại ký sinh trùng 25
Hình 1.11: Vitamin ADE 25
Hình 1.12: Thuốc Hantox Spray 26
Hình 3.1: Số lượng đàn chó trên địa bàn huyện Tân Yên 38
Hình 3.2: Biểu đồ tỷ lệ nhiễm ve và ghẻ ở chó tại huyện Tân Yên 40
Hình 3.3: Biểu đồ số ve nhiễm trung bình trên 100 cm2 bề mặt da của chó 42
Hình 3.4: Biểu đồ cường độ nhiễm ghẻ ở chó theo địa phương 44
Hình 3.5: Biểu đồ tỷ lệ nhiễm ve, ghẻ ở các giống chó 45
Hình 3.6: Biểu đồ tỷ lệ nhiễm ve, ghẻ theo tính biệt của chó 47
Hình 3.7: Biểu đồ tỷ lệ nhiễm ve, ghẻ theo độ tuổi của chó 49
Hình 3.8: Biểu đồ tỷ lệ vị trí ký sinh của ve và ghẻ trên chó 53
Hình 3.9: Sự thay đổi chỉ tiêu huyết học đối với chó mắc bệnh ve và ghẻ 57
Hình 3.10: Sự thay đổi công thức bạch cầu của chó bị bệnh ve, ghẻ 59
Hình 3.11: So sánh hiệu quả điều trị 2 phác đồ với bệnh ve trên chó 62
Hình 3.12: So sánh hiệu quả điều trị 2 phác đồ với bệnh ghẻ trên chó 62
Hình 3.13: So sánh hiệu quả điều trị 2 phác đồ đối với chó nhiễm ghép ve và ghẻ 65 Hình 3.14: So sánh độ an toàn của 2 phác đồ điều trị bệnh ve và ghẻ 66
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Đã từ lâu, chó được xem là người bạn sống gần gũi với con người Chó có các đặc điểm như: thông minh, trung thành, nhanh nhẹn, khứu giác và thính giác rất nhạy bén,… vì vậy mà chó được nuôi với nhiều mục đích khác nhau như: để giữ nhà, giải trí, bầu bạn… Việc chăm sóc sức khỏe đàn chó cần phải được quan tâm đúng mức Chó là vật nuôi có thể mắc các bệnh gây thiệt hại đáng kể như bệnh dại, bệnh carê, bệnh
lepto, Tuy nhiên, phần lớn các bệnh này đều có thể phòng bằng các loại vắc xin Trong khi, bệnh ký sinh trùng chưa có loại vắc xin nào phòng một cách hiệu quả
Ngoại ký sinh trùng là một trong những nguyên nhân phổ biến gây bệnh rối loạn chức năng da, gây viêm da trên chó Ngoại ký sinh trùng gây thiếu máu và rối loạn do phản ứng quá mẫn trên những động vật non và những động vật bị suy nhược (Araujo và cs, 1998)[45] Bên cạnh đó, độc tố của ve có thể gây
tê liệt trên chó và một số loài khác như mèo, ngựa, chim, bò sát và cả con người Trong quá trình hút máu, một số loài ve tiết ra độc tố trong tuyến nước bọt của chúng, gây tê liệt cơ cấp tính trên vật nuôi
Ve ký sinh được xem là một trong những loài thuộc ngành động vật tiết túc đóng vai trò như vector truyền virus, rickettsia, truyền giun chỉ, xoắn khuẩn, vi khuẩn, nguyên bào (Mosallanejad, 2012)[68]
Ghẻ hút dinh dưỡng khiến chó bị tổn thương trên da gây lở loét, rụng lông và bốc ra mùi hôi
Ve thường ký sinh trên nhiều ký chủ khác nhau Tuy nhiên, tất cả các giai đoạn
phát triển của ve Rhipicephalus sanguineus xảy ra chủ yếu ở chó (Dantas - Torres,
2008)[54] và là loài phổ biến thứ hai trong số các loài ngoại ký sinh trên chó (Aldemir, 2007)[47] Các loài ký sinh trùng này còn là nguồn lây truyền dịch bệnh nguy hiểm cho con người như bệnh dịch hạch, bệnh xoắn trùng, bệnh lyme, sốt phát ban (Bùi Quý Huy, 2002)[21]
Xuất phát từ thực tế trên, để phòng trị bệnh ve, ghẻ cho chó, từ đó phòng nhiễm bệnh truyền lây khác cho chó và cả con người, chúng tôi thực hiện đề tài:
“Nghiên cứu đặc điểm dịch tễ, bệnh lý lâm sàng bệnh ve, ghẻ ở chó tại huyện Tân Yên – tỉnh Bắc Giang và biện pháp điều trị”
Trang 112 Mục tiêu của đề tài
- Xác định tình hình nhiễm ve, ghẻ trên chó tại huyện Tân Yên
- Xác định thành phần loài ve, ghẻ trên chó
- Thử nghiệm hiệu lực của một số thuốc điều trị bệnh ve và ghẻ trên chó
3 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của đề tài
3.1 Ý nghĩa khoa học
- Kết quả của đề tài là những thông tin khoa học bổ sung và hoàn thiện thêm các nghiên cứu về đặc điểm dịch tễ và bệnh học của bệnh ve, ghẻ ký sinh trên chó trong điều kiện chăn nuôi hiện nay ở nước ta
- Bổ sung nguồn tài liệu tham khảo cho công tác nghiên cứu, giảng dạy và chỉ đạo sản xuất
3.2 Ý nghĩa thực tiễn của đề tài
- Kết quả nghiên cứu của đề tài là những minh chứng về tác hại của ve, ghẻ ký sinh trên chó, đồng thời là những khuyến cáo có ý nghĩa cho những hộ gia đình nuôi chó ở Tân Yên - Bắc Giang và các địa phương khác
- Kết quả nghiên cứu có thể ứng dụng để chẩn đoán phát hiện và phòng trừ bệnh ve, ghẻ ký sinh trên chó, góp phần khống chế bệnh trong thực tiễn
Trang 12Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Cơ sở khoa học của đề tài
1.1.1 Một số đặc điểm cấu tạo và sinh lý da của gia súc
1.1.1.1 Cấu tạo da
Da có cấu tạo gồm ba lớp: Lớp biểu mô trên mặt gọi là lớp thượng bì, kế tiếp
là lớp mô liên kết dưới gọi là lớp đệm (hay lớp trung bì), phía dưới lớp trung bì là lớp hạ bì (Nguyễn Quang Mai, 2004)[26]
Hình 1.1: Cấu tạo da của gia súc
* Lớp thượng bì
Lớp thượng bì là tầng ngoài cùng của da, nó gồm nhiều tế bào biểu mô dẹp
Tế bào thượng bì ngoài nhất là tế bào chết đã hóa sừng Tế bào thượng bì không có mạch máu nên vi khuẩn không thể xâm nhập vào cơ thể được, nó dựa vào dịch bạch huyết để tiến hành trao đổi chất Lớp tế bào ở tầng sâu phát triển phân ra nhiều tế bào mới, tế bào già bị đẩy ra bề mặt, dần dần hóa sừng thành “vỏ da” rơi rụng Chất sừng là protein có chứa lưu huỳnh, có thành phần khác nhau tùy theo loài, tuổi, giới tính, vị trí cơ thể (Trần Cừ, 1975)[5]
* Lớp trung bì
Lớp trung bì ở dưới biểu bì do mô liên kết tạo thành Tính đàn hồi và tính bền của da do hai loại sợi quyết định là sợi keo và sợi đàn hồi Sợi keo chiếm 98% trong lớp trung bì, nó quyết định tính bền Sợi đàn hồi chiếm 1,5% trong lớp trung bì, nó quyết định tính co dãn của da Ngoài hai sợi trên còn có sự phân bố các loại tế bào
Trang 13mô liên kết, rất nhiều đầu mút dây thần kinh ngoại biên, mạch máu, mạch bạch huyết… chịu các trách nhiệm khác nhau của da (Nguyễn Quang Mai, 2004)[26]
* Lớp hạ bì
Dưới lớp trung bì là lớp hạ bì được cấu tạo bởi mô liên kết thưa, nối trung
bì với các cơ quan bên dưới giúp cho da trượt được trên các cấu trúc nằm dưới Tùy vùng của cơ thể ở hạ bì có thể có những lớp mỡ Các lớp mỡ này có tác dụng đệm cho các cơ quan bên dưới da tránh tổn thương và điều hòa thân nhiệt Dưới lớp mỡ còn có các lớp cơ là lớp sâu nhất của da Tác dụng của tầng cơ là làm rung da nhờ đó mà có tác dụng xua đuổi côn trùng hoặc vật bám vào da Ngoài ra, trong hạ bì còn chứa nhiều mạch máu, tuyến mồ hôi và bao lông (Nguyễn Quang Mai, 2004)[26]
* Lông
Gồm có hai phần là phần trục và phần gốc lông Phần lộ ra ngoài da là phần trục lông, phần còn lại nằm trong bao lông là phần gốc Trục lông do tế bào gốc tạo thành, thường có ba lớp (lớp ngoài là vẩy, lớp giữa là phần da, trong cùng là phần tủy) Tầng vẩy do tế bào hóa sừng tạo thành tác dụng bảo vệ phần trong lông, tầng vỏ là tầng thể ống do tế bào hình thoi nối với nhau một cách chặt chẽ Tầng tủy do mô thừa tạo thành gồm có khí bào và có sắc tố có tác dụng cách nhiệt Gốc lông nằm trong túi thượng bì Chất dinh dưỡng cần thiết cho sự phát dục của lông lấy từ mao mạch xung quanh (Trần Cừ, 1975)[5]
* Sự tuần hoàn và hệ thống thần kinh của da
Mạch máu: Những động mạch và tĩnh mạch của da nối với nhau bằng lưới mao mạch chạy song song với bề mặt của da
Mạch bạch huyết: bắt nguồn từ những mao mạch kín, nằm trong nhú trung bì sau đó đổ vào lưới mao mạch bạch huyết dưới nhú đến tầng sâu của trung bì tạo thành lưới bạch huyết trong trung bì Từ lưới này lại đổ vào tĩnh mạch bạch huyết rồi xuyên qua hạ bì để đến tĩnh mạch bạch huyết dưới da
Thần kinh: Những nhánh thần kinh của da có hai nguồn gốc: giao cảm và não tủy Những nhánh thần kinh này đan với nhau tạo thành những đám rối ở hạ bì
* Các bộ phận phụ của da
Tuyến da là dẫn xuất của biểu bì, chủ yếu có hai loại tuyến là tuyến mồ hôi và tuyến mở
Trang 14- Tuyến mồ hôi là tuyến ống đầu phía dưới cuộn lại thành búi nằm trong tầng dưới của lớp chân bì Đầu phía trên vòng xoắn ốc xuyên qua biểu bì và đổ ra ngoài mặt da Tuyến mồ hôi tạo mùi đặc trưng cho từng loài Tuyến mồ hôi của chó chủ yếu nằm ở cầu đệm bốn chân (Trần Cừ, 1975)[5]
- Tuyến mở (hay tuyến nhờn) là tuyến nằm trong chân bì Tác dụng làm mềm mại, tránh nứt nẻ, tránh thấm nước Tác dụng của tuyến là bảo vệ, phòng vệ, thoát nhiệt,… (Trịnh Hữu Bằng và Đỗ Công Huỳnh, 2001)[1]
Tuyến sữa: Là loại tuyến mồ hôi biến đổi để thích ứng với chức phận tạo sữa, tuyến này chỉ thấy trên thú cái Tuyến sữa là một khối tròn dẹp nằm trong hạ bì đẩy
da phồng lên
1.1.1.2 Chức năng của da
Da là lớp ngăn cách cơ thể với môi trường bên ngoài nên có nhiều chức năng quan trọng như: bảo vệ cơ thể chống lại sự mất nước và bốc hơi nước, cơ quan cảm giác nhiệt và đau, bảo vệ cơ thể chống lại những tác động cơ học, sự xâm nhập của
vi sinh vật, ký sinh trùng và độc tố, da tham gia vào chức năng hô hấp và điều hòa thân nhiệt, ngăn ngừa mất nước cho cơ thể, tổng hợp 7-dehydrocholesterol để chuyển hóa thành vitamin D3 bởi tia cực tím mặt trời, da thực hiện chức năng bài tiết nước, muối khoáng và chất nhờn, dự trữ mỡ và nước (Trần Thị Dân và Dương Nguyên Khang, 2006)[9]
1.1.2 Một số đặc điểm sinh học của chó
1.1.2.1 Nguồn gốc của chó
Chó nhà được nuôi hiện nay có nhiều nguồn gốc khác nhau Tổ tiên loài chó
đã được con người nuôi và thuần hóa cách đây khoảng 13.000-15.000 năm Vùng Đông Nam Á là khu vực thuần hóa chó lâu đời nhất, từ đó chó nhà xâm nhập sang Châu Úc, các nước phương Đông, sau đó là Châu Mỹ
Ở Việt Nam, theo các nhà khảo cổ học, chó được nuôi từ thời kỳ đồ đá mới, khoảng 3.000 – 4.000 năm trước Công Nguyên (cách đây 5- 6 nghìn năm)
Các tác giả cho biết qua thời gian thuần hóa, nuôi dưỡng và chọn lọc, cải tạo liên tục, con người đã tạo ra hơn 400 loài chó khác nhau Từ loài chó tầm vóc nhỏ chỉ nặng 200 – 300 g đến các loài chó chăn cừu Châu Âu có tầm vóc lớn, nặng 50-60kg, được gọi là loài chó nhà (Canis familiars), thuộc họ chó (Canidae), bộ ăn thịt (Carnivora), lớp động vật có vú (Mammilia)
Trang 15Theo Phạm Ngọc Thạch (2010)[38], loài chó được con người thuần hóa từ rất sớm và được nuôi rộng rãi ở khắp các quốc gia trên thế giới Chó nhà là họ hàng của chó sói, đã từng sống hoang dã ở khắp Châu Âu, Châu Á và Bắc Mỹ
Những người Ai Cập đã biết chăn nuôi chó từ rất lâu đời Trên nghìn năm, chó đã biết giúp đỡ, làm thú cảnh của con người Chó giúp người chăn cừu, chó giúp con người đi săn, canh giữ nhà và các trang trại
Ngày nay chó làm được rất nhiều các công việc: chó dẫn đường cho người mù, được huấn luyện để mang đồ Một trong những đặc điểm quan trọng nhất của loài chó là lòng trung thành
1.1.2.2 Phân nhóm chó, mèo
* Phân nhóm chó mèo theo giống chó
Theo Jiongxin Liu và cs (2012)[63], dựa vào đặc điểm sinh học của chó, các giống chó được phân loại dựa vào tài liệu phân loại giống chó Tôi tiến hành phân loại thành 3 nhóm chó như sau:
- Chó nội (hay chó ta): là các giống chó thuần chủng tồn tại từ lâu đời và gắn
bó với đời sống người Việt từ nông thôn đến thành thị như: chó vàng, chó Lài (Dingo Đông Dương), H’Mông, đặc biệt là chó Phú Quốc
- Chó lai: là con lai giữa chó nội và chó ngoại và được đẻ tại Việt Nam
- Chó ngoại (hay chó tây): là những giống chó có nguồn gốc ngoại nhập từ các nước khác như giống chó Fox Chihuahua, Akita, Bulldog, Dobermann ; các con lai của chó ngoại với nhau và đẻ tại Việt Nam tôi ghép chúng vào chó ngoại
Chó nội (còn gọi là chó cỏ, chó ta, chó mực, chó vện,…) là tên gọi chung cho giống chó thuần chủng có nguồn gốc tại Việt Nam Hiện nay, Việt Nam có 4 giống chó nội có giá trị cao và thường gọi là “Tứ đại khuyển” gồm: Chó Bắc Hà (Lào Cai), chó Phú Quốc (Kiên Giang), chó H’Mông (vùng đồng bào dân tộc H’Mông)
và chó Lài (Dingo Đông Dương, tên khoa học là Canis lupus dingo)
Đặc điểm chung của các giống chó nội của Việt Nam là có tầm vóc trung bình, khi trưởng thành có khối lượng từ 10 – 12 kg Chó Lài khi trưởng thành có chiều cao từ 45 – 65 cm, khối lượng từ 15 – 30 kg Chiều dài cơ thể lớn hơn chiều cao, con đực có khối lượng lớn hơn con cái Chó Lài thuần chủng bốn chân có lông màu trắng bít tất, chóp lông đuôi màu trắng (đuôi bông lau Chiều dài toàn đầu so với chiều dài mõm là 2:1 đầu thon, dài vừa phải và cân đối, mặt có hình tam giác theo
Trang 16kiểu chó sói, mõm có hình chữ V và ngắn, mũi có màu đen, lưỡi có màu hồng hoặc
có đốm màu đen Hai tai nằm hai bên hộp sọ, dựng đứng như hình vỏ sò và hướng
về phía trước, tai to vừa phải, cân đối, không nhọn, phía trong tai ít lông, nếu nhìn thẳng trực diện thì hai tai dựng đứng vuông góc với đỉnh hộp sọ Các màu lông phổ biến là lông đỏ lửa, đen toàn thân bốn mắt trắng, đen tuyền, xám tro, đốm (khoang), nâu và vện Giống chó nội hiện nay đã được nuôi lâu đời, thích nghi với điều kiện khí hậu và chăm sóc nên có tính kháng bệnh cao
* Phân nhóm chó mèo theo lứa tuổi
Căn cứ theo độ tuổi của chúng, chúng tôi phân chó mèo nghiên cứu thành 3 nhóm lứa tuổi như sau:
+ Nhỏ hơn hoặc bằng 1 tuổi
+ Lớn hơn 1 tuổi đến 2 tuổi
+ Lớn hơn 2 tuổi đến 3 tuổi
+ Lớn hơn 3 tuổi
1.1.2.3 Các đặc điểm sinh lý của chó
Theo tác giả Phạm Ngọc Thạch (2010)[36] cho biết: Chó trưởng thành khỏe mạnh có các chỉ tiêu sinh lý không thay đổi như sau:
- Thân nhiệt: 37,5oC - 39oC Mùa hè thân nhiệt có thể tăng 0,2oC, mùa đông có thể giảm 0,2oC Khi hoạt động thân nhiệt có thể tăng 0,5oC Khi ngừng hoạt động thân nhiệt lại bình thường
- Nhịp tim: 70 nhịp/phút Mùa đông nhịp tim có thể giảm 5 nhịp khi thời tiết lạnh Mùa hè, nhịp tim tăng 5 nhịp, khi hoạt động mạnh nhịp tim có thể tăng 10 - 20 nhịp/phút Khi ngừng hoạt động nhịp tim trở lại bình thường
- Nhịp thở (hô hấp): Trung bình: 50 - 60 nhịp/phút Mùa đông nhịp thở giảm 5 nhịp, mùa hè có thể tăng 10 nhịp/phút, khi hoạt động mạnh có thể tăng 10 - 15 nhịp/phút
- Công thức máu: Số lượng hồng cầu: 5 - 8 triệu/mm3 máu; Số lượng bạch cầu:
7 - 10 nghìn/ mm3 máu; Hàm lượng huyết sắc tố: 13 - 18 g% (Phạm Ngọc Thạch, 2010)[36]
- Độ tuổi thành thục về tính của chó nội đực khoảng 15 - 18 tháng tuổi, chó cái
là 12 - 14 tháng tuổi Chó cái mang thai 60 ± 2 ngày rồi đẻ, mỗi lứa đẻ từ 2 - 4 con
Sự hoạt động rụng trứng của chó có chu kỳ 180 ngày, tức là 2 lần/năm ( Huỳnh Thị Bạch Yến, 2007)[44]
Trang 171.1.3 Bệnh ve ký sinh ở chó
1.1.3.1 Loài ve Rhipicephalus sanguineus
Tác giả Dantas-Torres và Otranto (2015)[57] cho biết: Rhipicephalus
sanguineus là một loài ve được mô tả bởi Latreille vào năm 1806 dựa trên mẫu vật
thu thập được từ Pháp
* Vị trí của ve R sanguineus trong hệ thống phân loại động vật học
Theo tác giả Trịnh Văn Thịnh (1963)[39], Phan Trọng Cung và cs (1977)[6],
Phạm Văn Khuê và Phan Lục (1996)[22], vị trí của ve Rhipicephalus sanguineus
trong hệ thống phân loại động vật như sau:
Phân họ Ixodoidea Leach, 1815
Giống Rhipicephalus Latreille, 1806
Loài Rhipicephalus sanguineus Latreille, 1806
Theo nghiên cứu của nhiều tác giả cho thấy, ve R sanguineus là loài thường
gặp và ký sinh nhiều nhất ở chó
Nguyễn Thị Kim Lan và cs (2008)[23] cho biết: nhiều loài ve là môi giới truyền bệnh dịch hạch của loài gặm nhấm, bệnh viêm não của người, bệnh sốt phát ban, các bệnh nguyên trùng, đặc biệt là bệnh lê dạng trùng của trâu, bò, dê, cừu, ngựa, chó, lợn…
* Đặc điểm hình thái, cấu tạo của ve R sanguineus
Ve R sanguineus là động vật tiết túc có thân hình quả lê Ve đực màu nâu đen,
có kích thước khoảng 3,5 x 1,5 mm Ve cái to hơn nhiều (kích thước 11 x 7 mm), màu nâu xẫm, vàng hay xám bẩn Cơ thể ve phân đốt nhưng không rõ, được phân
thành hai phần chính: đầu giả (Capililum) và thân (Idiosoma)
* Đầu giả (Capililum)
Đầu giả ngắn gồm 2 phần chính: gốc đầu giả hay gốc đầu (Basiscapituli) và vòi (Gnathosoma)
- Gốc đầu: là một bao kitin đầu chắc, nơi gắn những cơ vận động xúc biện và các phụ miệng Gốc đầu hình sáu cạnh, hai góc bên nhọn và nhô ra ngoài Trên lưng gốc đầu ve cái có một đôi hõm đầu - cơ quan cảm giác có liên hệ với ống sản trứng
Trang 18- Vòi: gồm có một đôi kìm (Chelicera), tấm dưới miệng (Hypostoma) có nhiều hàng gai nhọn hướng về phía sau và một đôi xúc biện
+ Xúc biện ngắn và không lồi cạnh, có bốn đốt có cấu tạo khác nhau, đánh số
từ I đến IV bắt đầu từ đốt gốc, ba đốt nhìn rõ mặt lưng, đốt IV nằm ở mặt bụng của đốt III Xúc biện của ve là cơ quan cảm giác giúp phát hiện ra những nơi có da mỏng, nơi có mạch máu
+ Đôi kìm hay hàm miệng: nằm giữa hai xúc biện được bao bọc bên ngoài bởi bao kìm Đôi kìm này có tác dụng rạch da vật chủ
+ Tấm dưới miệng: ngắn và không lồi cạnh, là một tấm lẻ, hình thoi gắn vào gốc vòi giữa hai xúc biện, trên đó phủ kín răng hướng về sau Răng trên tấm dưới miệng thường phân bố theo hàng dọc, công thức răng 3/3 Tấm dưới miệng có tác dụng móc vào da vật chủ Đầu cuối của tấm này nhọn, sắc, cũng tham gia vào động tác dùi vào da vật chủ
* Thân (Idiosoma)
Thân gồm có mặt lưng và mặt bụng
- Mặt lưng: có mai lưng bằng kitin cứng rắn nên khi hút máu vật chủ, mai này vẫn không thay đổi, chỉ có những phần da mềm thì mới phình rộng ra Mai lưng của ve đực phủ toàn lưng Mai lưng của ve cái, thiếu trùng, ấu trùng chỉ phủ một phần ba phía trước lưng Trên mai lưng có mắt, rãnh cổ, rãnh cạnh, rãnh giữa sau và mấu đuôi + Mắt: nằm ở hai bên bờ trước mai Mắt có cấu tạo đơn giản
+ Hai rãnh cổ bắt đầu từ hai hõm bờ trước chạy song song với trục giữa xuống phía sau
+ Rãnh cạnh: nằm giới hạn giữa miền vai và hõm cổ
+ Rãnh giữa sau: nằm ở miền giữa theo trục thân
+ Mấu đuôi ngắn và tầy (khi ve hút no máu)
+ Rua (feston): là những ô viền ở bờ sau thân
- Mặt bụng gồm có:
+ Lỗ sinh dục nằm ở 1/3 phía trước mặt bụng, chỉ có ở ve trưởng thành
+ Lỗ hậu môn nằm ở 1/3 phía sau thân
+ Rãnh sinh dục thường có hình parabol vòng trước lỗ sinh dục xuống phía đuôi đến tận cùng rua III và rua IV
Ve R sanguineus có rãnh hậu môn vòng sau, rãnh hậu môn vòng quanh lỗ hậu
môn Rãnh sau hậu môn bắt đầu từ giữa sau hậu môn đến bờ sau thân
Trang 19Tấm thở nằm hai bên hông, sau gốc háng IV, là tấm kitin hẹp, dày Tấm thở hình dấu phẩy, ở ve đực dài, ở ve cái ngắn Trên tấm thở có lỗ thở
Tấm bụng là tấm hóa kitin còn gọi là tấm cạnh hậu môn, ở ve đực tấm cạnh hậu môn có hình tam giác
Chân ve đực, ve cái và thiếu trùng có bốn đôi chân, đánh số thứ tự từ I-IV, từ đôi chân trước đến đôi chân sau cùng, còn ấu trùng thỉ chỉ có ba đôi chân Mỗi đôi chân gồm có sáu đốt: háng, chuyển, đùi, ống, chày và bàn chân Trên mặt lưng bàn chân I, ở phía cuối có cơ quan cảm giác Haller với nhiều chức năng khác nhau: thính giác, định hướng hoặc thăng bằng
Hình 1.2: Các giai đoạn phát triển của ve Rhipicephalus sanguineus
Ấu trùng có 3 đôi chân, trĩ trùng (thiếu trùng) có 4 đôi chân, đều chưa có lỗ sinh dục (Phan Lục, 2006 [25])
* Vòng đời phát triển của ve R sanguineus
Theo Nguyễn Thị Kim Lan và cs (2008)[23], vòng đời phát triển của ve R
sanguineus như sau: ve đực và cái ký sinh ở ký chủ và giao phối, sau khi hút no
máu rơi xuống đất Ve cái đẻ trứng thành ổ trên mặt đất, có màng nhầy bảo vệ Trứng ve nhỏ, hình cầu, màu vàng nâu hay nâu sẫm Sau một thời gian, trứng nở ra
ấu trùng, Ấu trùng bò lên cây cỏ, ẩn dưới lá cây (nhất là cây có lông như sim, mua,
cỏ tranh) Khi ký chủ đi qua, ấu trùng nhanh chóng bám vào ký chủ, hút no máu rồi biến thái ngay trên ký chủ đó hoặc rơi xuống đất thành thiếu trùng Thiếu trùng vào
ký chủ mới, lại hút no máu, phát triển thành ve trưởng thành và tiếp tục chu kỳ trên
Ấu
trùng
Thiếu trùng R.sanguineus đực R.sanguineus cái
Trang 20Theo Phạm Văn Khuê và Phan Lục (1996)[22] vòng đời phát triển của ve R
sanguineus trải qua ba giai đoạn: ấu trùng, thiếu trùng và trưởng thành Đây là loài
ve 3 ký chủ, mỗi giai đoạn phát triển của ve R sanguineus sau khi hút no máu đều
rơi xuống đất, biến thái rồi lại bám vào ký chủ mới
- Ấu trùng: Ve đực và ve cái ký sinh ở ký chủ, giao cấu, sau khi hút máu no rơi xuống đất, đẻ trứng có lớp màng nhầy bảo vệ Sau quá trình phát triển của phôi,
trứng nở thành ấu trùng Theo Trịnh Văn Thịnh và cs (1982)[41], ve R sanguineus
có thời gian ủ trứng 17 - 25 ngày trong điều kiện 21oC - 35oC, độ ẩm là 60 - 90% Sau khoảng thời gian này trứng nở ra ấu trùng
Sau khi trứng nở ra ấu trùng, ấu trùng bò lên cây cỏ Ở những vị trí này ấu trùng thuận lợi tiếp xúc với vật chủ, đồng thời tránh gió và ánh sáng mặt trời Thời gian nhịn đói của ấu trùng có thể lên đến trên 8 tháng rưỡi
Khi bám được vào vật chủ ấu trùng sẽ đi tìm nơi ký sinh thích hợp và thực
hiện quá trình hút máu Thời gian này ở ấu trùng R sanguineus là 2 - 6 ngày
Theo Phan Trọng Cung và cs (1977)[6], sau khi no máu, ấu trùng rời vật chủ
xuống dưới đất rồi mới lột xác thành thiếu trùng Thời gian lột xác của ấu trùng R
sanguineus là 6 - 12 ngày ở điều kiện nhiệt độ 21oC - 33oC, độ ẩm 60 - 90%
- Thiếu trùng: Thiếu trùng vừa lột xác không cử động, sau một thời gian nó hoạt động, bám vào vật chủ hút máu Thiếu trùng có thể nhịn đói trên 6 tháng đến khi có thể bám vào vật chủ thì hút no máu
Theo Trịnh Văn Thịnh và Đỗ Dương Thái (1978)[40], sau khi no máu thiếu trùng biến thái và lột xác thành ve trưởng thành ở môi trường ngoài Thời gian của quá trình này kéo dài khoảng 12 - 17 ngày
- Ve trưởng thành: Ve trưởng thành có thể nhịn đói trên 19 tháng, đến khi bám được vào vật chủ thì hút máu, ve cái có thể hút no máu sau khi giao cấu (Phạm Văn
Khuê và Phan Lục, 1996[22]) Bữa ăn của ve cái R sanguineus là 4 - 8 ngày (Phan
Trang 21Ve cái đẻ trứng thành ổ trên mặt đất và có màng nhày bảo vệ Thời gian đẻ trứng của ve cái là 10 ngày, mỗi lần đẻ 1301 - 2433 trứng (trung bình 1387 trứng) (Phạm Văn Khuê và Phan Lục, 1996[22])
1.1.3.2 Loài ve Boophilus microplus
Vị trí của Boophilus microplus trong hệ thống phân loại như sau:
Loài Boophilus microplus
Thân hình bầu dục dài, màu nâu vàng hay nâu đỏ Con đực nhỏ hơn con cái
Ve đực dài 1,5 - 3,0 mm, rộng 1,6 - 2,0 mm Ve cái dài 1,9 - 5 mm, rộng 1,1 - 3,2
mm Đầu giả ngắn Gốc đầu hình 6 cạnh Xúc biện ngắn, to, có nhiều tơ ngắn Mặt bụng có nhiều tơ trắng dài, mịn Tấm thở gần tròn, nằm sát bờ sau háng IV
Con đực có mai lưng gần giống hình bầu dục dài, nửa trước hẹp hơn nửa sau,
bờ sau lưng tròn rộng Mấu đuôi nhỏ, ngắn, nhọn Con cái mai lưng màu vàng nâu với kích thước biến đổi nhiều, chiều dài lớn hơn chiều rộng
Trứng của Boophilus microplus có hình bầu dục, dài khoảng 1,5 mm, màu nâu nhạt đến nâu sẫm
Hình 1.3: Ve Boophilus microplus
1 Mặt lưng thân, 2 Mặt bụng thân, 3 Tấm dưới miệng
4 Bàn chân I, 5 Bàn chân IV, 6 Mấu đuôi
Chu kỳ phát triển Ve Boophilus microplus: Ve cái bắt đầu hút máu ký chủ, rồi
chờ ve đực đến để giao phối Sau khi giao phối, ve tiếp tục hút no máu rồi rơi xuống đất tìm nơi thích hợp đẻ trứng Ve đẻ khoảng 2.500 trứng Thời gian đẻ trứng trung
Trang 22bình 11 ngày Tùy nhiệt độ môi trường, sau 12 - 28 ngày trứng nở ra ấu trùng (Larva) Ấu trùng bò lên ký chủ, hút máu Sau khi hút no máu ấu trùng biến thái
thành thiếu trùng Thiếu trùng hút no máu và lột xác thành ve trưởng thành
1.1.3.3 Đặc điểm dịch tễ học của bệnh ve ở chó
Khi ve ký sinh trên ký chủ, chúng gây ra những tổn thương thực thể cho ký chủ Những tác động cơ giới của ve làm cho da bị hình thành sẹo hay thủng da làm giảm chất lượng sản phẩm, giảm tăng trưởng, còi cọc, chậm lớn… Song tác hại to
lớn nhất của ve R sanguineus là trung gian truyền bệnh nguy hiểm cho người và vật
nuôi Ký chủ chính là chó và một số gia súc khác như mèo, cừu, bò, trâu, ngựa, lạc
đà một bướu, R sanguineus ký sinh trên cả động vật hoang dại như nhím, cầy bạc
má và ký sinh cả ở người
1.1.3.4 Đặc điểm bệnh lý của bệnh ve chó
Ve đói hút máu làm chó thiếu máu, gày yếu, sinh trưởng và phát triển chậm, gây thiệt hại về kinh tế cho người chăn nuôi Những nơi ve đốt thường để lại sẹo hay lỗ thủng làm giảm chất lượng da
Hoepple và Feny (1933) khi nghiên cứu vết đốt của ve trên các súc vật thí nghiệm đã nhận thấy, tất cả các vị trí của cơ thể bị các loài ve đốt đều bị viêm, thâm Những nơi ve bám đều có hiện tượng tăng bạch cầu eosin cục bộ Dẫn theo Nguyễn Thị Kim Lan và cs (2008)[23]
Inokuma và cs (1998)[60] cho biết, nước bọt của ve R sanguineus pha loãng
20 lần làm vẫn ức chế yếu tố phân bào lectin (83%) và hạn chế tăng trưởng của tế bào limpho T cảm ứng (69%), dẫn đến giảm sản xuất interleukin 2 (IL 2) làm giảm quá trình đáp ứng miễn dịch
1.1.3.5 Biện pháp phòng, trị bệnh do ve
Áp dụng các biện pháp phòng trừ tổng hợp để diệt tận gốc ve R sanguineus:
* Diệt ve trên cơ thể vật nuôi: Tùy theo số lượng vật nuôi mà áp dụng các biện
pháp phù hợp sau:
- Biện pháp cơ học: Áp dụng với trường hợp số lượng gia súc ít Lấy que quấn
bông tẩm dầu hỏa bôi vào nơi có nhiều ve (háng, nách, kẽ chân, vú, tai) Dầu hỏa có tác dụng bịt lỗ thở của ve (ở vị trí sau đốt háng của đôi chân thứ IV) làm ve nhả kìm
Trang 23ra Sau đó dùng kẹp bắt ve ra, điều này giúp làm giảm tổn thương cơ giới cho da của gia súc
- Biện pháp hóa học: Áp dụng cho những đàn chó có số lượng lớn, có thể
dùng bình xịt, dùng thuốc bôi hoặc sát lên da, xây bể tắm cho chó…
Theo Nguyễn Thị Nguyệt (1999)[31], bôi và sát thuốc tập trung cả vào những nơi ấu trùng và thiếu trùng tập trung ký sinh, không nên chỉ chú trọng vào chỗ bám của ve trưởng thành Vì diệt ve vào giai đoạn ấu trùng và thiếu trùng sẽ làm giảm lượng máu vật chủ bị mất do ve hút
Theo Lê Thị Ngọc Diệp (1999)[14], những thuốc trị ngoại ký sinh trùng gồm 3 nhóm:
+ Nhóm dẫn xuất chứa clo
+ Nhóm các estephospho hữu cơ
+ Nấu nước sắc Bách bộ tắm cho gia súc
+ Dùng Thuốc lào khô, Thuốc lá ngâm trong axit acetic 5% để phun hoặc bôi trị ve, ghẻ
+ Dùng hạt Củ đậu giã nát, dùng dầu sở để diệt ve
- Biện pháp sinh học: Đây là biện pháp lợi dụng các thiên địch của ve (như gà,
sáo sậu, những loài nấm gây bệnh cho ve…) tạo điều kiện thuận lợi cho chúng phát
triển để diệt ve Estrada - Pena và cs (1990)[59] đã phân lập được nấm Aspergillus
ocharceus từ ve Rhipicephalus sanguineus, là tác nhân gây bệnh làm cho ve không
đẻ trứng, cơ thể khô lại và chết
* Diệt ve ở chuồng vật nuôi: Sau khi ve hút máu no trên vật chủ sẽ rơi
xuống đất, chúng tìm đến khe tường, vách tường, nơi nham nhở của tường chuồng để sống và đẻ trứng Mặt khác, ấu trùng và thiếu trùng sẽ theo cỏ cây
Trang 24vào chuồng Vì vậy, phải làm nhẵn tường chuồng, định kỳ phun thuốc diệt ve ở chuồng trại, không dùng lá cây, cỏ tươi làm chất độn chuồng
* Diệt ve ngoài thiên nhiên: Cần thực hiện các biện pháp sau:
- Làm thay đổi môi trường, điều kiện sống của ve
- Chăn dắt luân phiên đồng cỏ để ve chết đói
- Dùng thuốc hóa học phun diệt ve trên đồng cỏ, bãi chăn
* Tạo ra các giống gia súc có sức đề kháng tự nhiên với ve: Theo Phạm Gia
Ninh, Nguyễn Đức Tâm (2000)[30], một số giống bò có sức đề kháng tự nhiên đối với ve bò và các bệnh do ve truyền, ví dụ bò Zebu (Bos indicus)
1.1.4 Bệnh ghẻ trên chó
1.1.4.1 Bệnh ghẻ do loài Sarcoptes scabiei canis
* Đặc điểm hình thái cấu tạo Sarcoptes scabiei canis
Ghẻ có hình tròn hay bầu dục, con đực nhỏ hơn con cái Kích thước con đực 0,25
mm, con cái 0,4 - 0,43 mm Cả con đực và con cái đều có đệm vuốt bàn chân Trên mình phủ nhiều lông tơ, capitulum (đầu) có hình nón, chiều ngang lớn gấp 2 lần chiều dọc Mặt lưng có nhiều đường vân song song, có 4 đôi chân ngắn nhú ra như măng tre mọc, mỗi chân có 5 đốt Hậu môn ở rìa cơ thể và có thể thấy ở mặt lưng
Ghẻ đực có giác bàn chân ở đốt chân số I, II, III, lỗ sinh dục ở giữa đôi chân thứ III Ghẻ cái có lỗ âm môn sau mặt lưng, có giác bàn chân ở đốt chân số I, II, trứng hình bầu dục, màu trứng xám hoặc hơi vàng, kích thước 0,15 x 0,1 mm
Hình 1.4: Hình dạng ghẻ Sarcoptes scabiei canis
Trang 25* Đặc điểm vòng đời phát triển Sarcoptes scabiei canis
Hình 1.5: Sơ đồ vòng đời Sarcoptes scabiei canis
Vòng đời của Sarcoptes scabiei canis trải qua 5 giai đoạn phát triển: Trứng –>
Larva -> Protonymph -> Deutonymph -> Trưởng thành
Ghẻ ngầm đào rãnh dưới biểu bì lấy dịch lâm ba và dịch tế bào làm chất dinh
dưỡng Sau khi giáo phối ghẻ cái bắt đầu đẻ trứng, 3 - 4 ngày sau trứng nở ra Larva có
6 đôi chân Larva chui ra khỏi hang sống trên mặt da, sau đó chui vào lỗ chân lông phát triển rồi biến thái thành Nymph có 8 đôi chân, 4 - 6 ngày sau biến thành ghẻ trưởng
thành Hoàn thành vòng đời mất 15 - 21 ngày Tùy thuộc vào môi trường bên ngoài ghẻ dạng trưởng thành có thể sống từ 2 - 3 tuần sau khi rời vật chủ
* Biểu hiện lâm sàng
Có 3 biểu hiện chính:
- Ngứa: do ghẻ đào hang, tiết ra độc tố, nước bọt và các chất bài tiết làm cho con vật bị ngứa, khi trời nóng hay thú vận động thì ngứa càng nhiều Chó bị ghẻ hay gãi, cắn chỗ ngứa Đôi khi chó có sát lưng vào tường hay nằm lăn qua lăn lại dưới đất
- Rụng lông: Ấu trùng chui vào nang bao lông gây viêm bao lông cùng với việc cọ sát gây rụng lông, rụng thành từng đám càng về sau càng lan rộng
- Da đóng vảy: Chỗ ngứa nổi những mụn nước bằng đầu kim, do cọ sát nên mụn vỡ, chảy tương dịch rồi khô đi tạo vảy dính chặt vào lông và da Tiếp tục lan rộng sau 5 - 6 tháng da hoàn toàn trơ trụi, đóng vảy dày và nhăn nheo như da voi, bốc mùi hôi thối
Ghẻ trưởng thành thụ tinh trên bề mặt da
Cái ghẻ đẻ trứng ở những rãnh ngầm
Ấu trùng lột xác thành
thiếu trùng ở rãnh đào da
Ấu trùng trong rãnh hoặc bò trên da Thiếu trùng lột xác thành
dạng trưởng thành
Trang 26Bệnh làm cản trở chức năng của da, con vật bị ngứa liên tục, mất ngủ, chỗ gãi nhiễm trùng, viêm tạo ung nhọt
1.1.4.2 Bệnh ghẻ do loài Otodectes cynotis
Ghẻ tai Otodectes cynotis là những con vật ký sinh rất nhỏ có hình như con
cua, sống chủ yếu trong tai, cũng có thể sống trên bề mặt da chó
Chúng ăn thức ăn trong ống tai chó gây ngứa dữ dội, nếu như không điều trị kịp thời có thể dẫn đến tình trạng mắc vi sinh, lên men và mắc trùng, nếu nặng có thể gây tổn thương nhĩ tai dẫn đến xuất huyết hay gây điếc
* Đặc điểm hình thái cấu tạo
Con cái dài 0,4 - 0,5 mm, bốn chân trước có cấu trúc giống như cái cốc, bốn chân sau có cấu trúc lông cứng dài
Con đực nhỏ hơn dài khảng 0,3 mm và có cấu trúc giống như cái cốc ở tất cả 8 chân, con đực có 1 cặp các suckers giao phối ở phía sau
Ở cả con đực và con cái thì cặp chân thứ tư đều nhỏ hơn so với các chân khác Trứng mềm, dính, màu trắng như ngọc trai Trứng thuôn dài khoảng 0,2 mm và gần như tròn ở mặt cắt ngang
Hình 1.6: Ghẻ tai Otodectes cynotis
A Con cái B Con đực
C Ấu trùng D Nhộng
Ấu trùng (Larva) dài khoảng 0,2 mm, có ba cặp chân, bốn chân trước có cấu
trúc giống như cái cốc, ở đầu và hai chân sau có lông cứng dài
Trang 27Protonymph dài khoảng 0,25 mm có bốn cặp chân có cấu trúc giống như cái
cốc, hai chân cuối cùng rất nhỏ
Deutonymph dài khoảng 0,3 - 0,4 mm chỉ có ba đôi chân Đây là giai đoạn
cuối cùng trước khi trưởng thành
Giai đoạn này bốn chân trước có cấu trúc giống như cái cốc và cấu trúc lông cứng dài trên hai chân sau
* Đặc điểm vòng đời phát triển
Chu kỳ của Otodectes cynotis kéo dài khoảng 21 ngày, gồm bốn giai đoạn
- Giai đoạn 3 (Nhộng): Gồm 2 giai đoạn là Protonymph và Deutonymph, mỗi
giai đoạn kéo dài từ 3 đến 5 ngày và sau đó rụng lông đến giai đoạn trưởng thành
- Giai đoạn 4 (Trưởng thành): Giai đoạn này ghẻ có màu trắng, hiếm khi nhìn thấy bằng mắt thường Ở giai đoạn này ghẻ tai dễ di cư sang động vật khác, có trường hợp lây sang người
Hình 1.7: Vòng đời phát triển của Otodectes cynotis
Trang 28* Đặc điểm bệnh lý
Ghẻ tai gây ngứa và khó chịu cho chó nên triệu chứng thường thấy nhất là chó thường xuyên gãi tai và chà sát đầu gây nên những vết thương hở ở vành tai dẫn đến sưng viêm làm cho vành tai có thể bị biến dạng
Quan sát bên trong vành tai thấy màu nâu đỏ giống như bã cà phê Sau khi xâm nhập vào tai, ghẻ ăn các mảnh vụn và các chất tiết dọc theo bề mặt của ống tai gây viêm và kích ứng
Nếu không được điều trị kịp thời, ký sinh trùng có thể phá vỡ màng nhĩ và di chuyển bên trong tai gây rối loạn tai giữa rất, có thể dẫn đến điếc
Ghẻ tai cũng có thể di chuyển đến các bộ phận khác của cơ thể gây phát ban
và kích ứng da
Nếu điều trị đúng cách, kịp thời, bệnh ghẻ tai có thể được chữa khỏi Tuy nhiên tất cả các loài động vật đã tiếp xúc với chó bị mắc bệnh cũng phải được điều trị tốt vì ghẻ tai rất dễ lây
1.1.4.3 Bệnh ghẻ do loài Demodex canis
* Đặc điểm hình thái cấu tạo
Vị trí Demodex canis ký sinh trên chó trong hệ thống phân loại động vật như sau:
Loài Demodex canis
Demodex canis là loại mò nhỏ, dài 0,1 - 0,39 mm, không có lông, ký sinh ở
tuyến nhờn bao lông của chó
Cấu tạo cơ thể chia làm 3 phần: đầu, ngực, bụng
Đầu: là đầu giả, ngắn, hình móng ngựa gồm một đôi xúc biện (palpe), một đôi kìm (chelicera), một tấm dưới miệng (hypostome)
Ngực: có 4 đôi chân rất ngắn, tiêu giảm giống như hình mấu
Trang 29Bụng: dài, có nhiều vân ngang ở mặt lưng và mặt bụng
Demodex canis đực: có dương vật nhô lên ở phần ngực của mặt lưng
Demodex canis cái: có âm hộ nằm chính giữa phần thân của mặt bụng, kể từ
gốc chân thứ tư lui xuống phía dưới phần bụng
Trứng Demodex canis có hình bầu dục, có kích thước 0,07 - 0,09 mm
Hình 1.8: Hình thái và cấu tạo của Demodex canis
Theo Phạm Văn Khuê và Phan Lục (1996)[22], loài này có thân dài khoảng 0,25 mm Đầu giả rộng và lồi cạnh Ngực mang một đôi chân hình mấu, ngắn Bụng dài, có vân ngang trên mặt lưng và mặt bụng Phần phụ miệng gồm một đôi xúc biện, kìm và một tấm dưới miệng Xúc biện có hai đốt, đốt cuối ngắn Kìm hình trâm, dẹp, mỏng Cơ quan sinh dục đực ở mặt lưng phần ngực của con đực Âm môn ở mặt bụng, trước lỗ sinh dục của con cái Trứng hình thoi
Theo Sakulploy R và Sangvaranond A (2010) [78], hình thái của Demodex canis
trưởng thành thanh mảnh và thon dài, chiều dài phần bụng là 91 – 115 µm , chiều rộng
cơ thể là 40 – 45 µm và tổng chiều dài cơ thể là 167 – 244 µm
Trang 30* Đặc điểm vòng đời phát triển
Vòng đời của Demodex canis xảy ra trên da chó, được chia làm 4 giai đoạn,
kéo dài khoảng 20 - 35 ngày Trứng - ấu trùng - tiền nhộng - nhộng - trưởng thành
Hình 1.9: Vòng đời, vị trí ký sinh và sự truyền lây của Demodex canis
Theo Phạm Văn Khuê và Phan Lục (1996)[22], mò bao lông phát triển trên da
vật chủ Ấu trùng có 3 đôi chân, chắc chắn có 3 giai đoạn thiếu trùng Mò Demodex
canis chịu đựng khá tốt, có thế sống vài ngày ngoài cơ thể vật chủ ở nơi ẩm Trong
điều kiện thực nghiệm sống được 21 ngày trên một miếng da để ở nơi ẩm và lạnh Theo Nguyễn Thúy Hằng (2016)[17], toàn bộ vòng đời ghẻ mò bao lông đều phát triển trên cơ thể chó, mèo Thời gian phát triển từ trứng đến con ghẻ trưởng thành khoảng hai tuần, tùy thuộc vào điều kiện sống của ghẻ và thời tiết, mùa vụ trong năm
Toàn bộ vòng đời phát triển của Demodex canis trên cơ thể con chó Các con
cái trưởng thành đẻ trứng trong da chó và phát triển thành ấu trùng ba đôi chân
Những ấu trùng phát triển thành protonymph và protonymph này dần dần phát triển thành nymph và phát triển thành con trưởng thành
Vòng đời phát triển của Demodex canis mất 18 - 24 ngày trong nang lông
hoặc tuyến bã nhờn
Trang 31* Biểu hiện lâm sàng
Bệnh gây ra bởi Demodex canis còn gọi là bệnh mò bao lông ở chó (Demodicosis) Demodex canis có khả năng gây bệnh trên tất cả các giống chó Chó
ở các độ tuổi khác nhau thì tỷ lệ mắc bệnh do Demodex canis cũng khác nhau Bệnh
do Demodex canis ở chó tăng dần theo lứa tuổi (Nguyễn Thúy Hằng, 2016)[17]
Theo Phạm Văn Khuê và Phan Lục (1996)[22] cho biết: Hai dạng bệnh thường gặp Da dầy lên và nhăn nheo, xuất hiện vẩy hoặc thể vẩy, rụng lông, da ửng
đỏ, cuối cùng thành màu xanh hay màu vàng đỏ
Dạng khác: mụn đỏ mắc vi khuẩn, thường dạng này xuất hiện trước dạng vẩy, phát triển những mụn nhỏ, đường kính vài minimet, hoặc có thể là những nốt apxe, đôi khi gặp cả những ổ hoại tử
Khi nghiên cứu về bệnh lý lâm sàng, các tác giả đều cho thấy: Bệnh thể hiện ở nhiều mức độ từ thể nhẹ đến nặng
+ Thể nhẹ: xuất hiện các hạt viêm hình tròn, đường kính 2 - 10 mm, chó bị rụng lông ở mặt, quanh mắt hay chân trước, hoặc cả 4 chân
+ Thể nặng: Chó ngứa ngáy nhiều, da viêm đỏ, có mụn mủ, có máu và dịch vàng rỉ ra từ những vùng mắc bệnh, lâu ngày chó có mùi rất hôi, cũng có những con chó bị mắc trùng kế phát làm thành lớp nhày màu hơi vàng ở ngoài da Chó rụng lông theo vết mò phát triển, giảm ăn, không ngủ được, lâu ngày suy mòn rồi chết Triệu chứng bệnh thường xuất hiện hai dạng
- Dạng ghẻ khô: Thời kỳ đầu căn bệnh thấy chó rụng lông trên trán, mí mắt, bốn chân, da dày cộm thành màu đỏ sẫm Chó bệnh bị ngứa thường đưa chân lên gãi
- Dạng ghẻ mủ: Trên da của chó xuất hiện những mụn mủ sưng mọng, bên trong chứa dịch màu vàng xám Tại những vùng này da nhăn nheo, lông rụng, lâu ngày chết cùng với dịch viêm bết lại tạo thành các vẩy khô cứng và dày cộm lên Trường hợp bệnh nặng, toàn thân chó trụi lông và đầy những mụn ghẻ có mủ đặc quánh bên trong Ở những vùng da mỏng như bẹn, háng, nách xuất hiện những ổ áp
xe, khi các ổ áp xe vỡ mủ tự chẩy ra ngoài, có mùi hôi tanh khó chịu ((Nguyễn Thúy Hằng (2016) [17]; Phạm Văn Khuê và Phan Lục (1996)[22])
Trang 32Theo Ali và cs (2011)[47], biểu hiện bệnh: rụng lông, da thô, khô và nhăn nheo, ban đỏ, những mảng vẩy và ngứa Quan sát dưới kính hiển vi thấy sự phá hủy các lớp hạ bì và biểu bì, tăng sinh tuyến bã nhờn và các tế bào lông, trong lớp nhú nang lông có sự xuất hiện của bạch cầu trung tính, oeosinophils, tế bào lympho và đại thực bào
Mueller và cs (2011)[70] cho biết: Ở dạng nhẹ có biểu hiện ban đỏ, mụn trứng
cá Trường hợp nặng thì lan rộng khắp cơ thể gây tổn thương, rụng lông, da sần, dạng vẩy, tiết dịch và loét Tổn thương da thường bắt đầu trên mặt và chân trước sau đó lan rộng ra các cơ quan khác Đặc biệt nghiêm trọng là kế phát mắc khuẩn gây ra những nốt mủ, sưng tấy, làm con chó đau đớn Chó có biểu hiện lông rụng,
da ban đỏ ngứa, da khô, dày và nhăn nheo, sừng hóa
1.1.4.4 Một số thuốc điều trị bệnh ve, ghẻ
Cơ chế tác dụng
Ivermectin tăng cường phóng thích γ-aminobutyric acid (GABA) từ synap của hệ thần kinh GABA là chất dẫn truyền thần kinh, được tổng hợp từ glutamate nhờ men glutamic acid decarboxylase Kích hoạt GABA làm tăng sự vận chuyển Cl‾ và tế bào hình thành điện thế ức chế sau synap, ngăn chặn sự dẫn truyền thần kinh Kết quả là ký sinh trùng bị tê liệt (Huỳnh Kim Diệu, 2008)[12]
- Dược động học: Dược động học của Ivermectin phụ thuộc vào thành phần chính của thuốc, đường cấp thuốc và từng loài động vật Với liều 300 mg/kg thể trọng tiêm tĩnh mạch, thời gian bán hủy ở chó là 1,6 - 1,8 ngày Dung dịch ivermectin chứa 1% (tá dược thường là propylene glycol và glucerol) thường được sử dụng tiêm dưới da cho trâu bò, cừu, heo, chó Thông thường liều sử dụng cho tất cả các loài động vật là 0,3 mg/kg
Trang 33- Phổ kháng sinh: Ivermectin có tác động cả ngoại và nội ký sinh, đặc biệt là giun tròn và chân đốt, không có tác dụng với sán dây, sán lá và nguyên bào Thuốc
có tác dụng hầu hết với giun tròn đường ruột, giun phổi và ngoại ký sinh trùng ở trâu, bò, lợn, ghẻ tai và Sarcoptes ở chó Dùng thuốc cho chó mẹ 10 ngày trước và sau khi đẻ với liều 0,5 mg/kg tiêm dưới da, ngăn ngừa 100% Toxocara canis và Ancylostoma caninum truyền qua sữa đầu sang con Nhiều động vật chân đốt ký sinh ở chó, mèo nhạy cảm với ivermectin Liều 0,3 mg/kg cấp 2 lần cách nhau 2 tuần có hiệu quả với Sarcoptes, Pneumonyssus canium và Cheyletiella Với Demodex phải dùng liều 0,6 mg/kg lập lại 5 lần, mỗi lần cách 7 ngày
- Độc tính và độ an toàn: Nếu tăng gấp 10 lần so với liều điều trị, Ivermectin vẫn an toàn đối với loài nhai lại, ngựa và chó Triệu chứng cấp tính thể hiện sự ức chế thần kinh trung ương Mất phản xạ, nằm liệt một bên Con vật
có thể chết nếu tiêm bắp với liều 60 lần đối với ngựa, liều 100 lần đối với lợn và tiêm dưới da 40 lần đối với trâu bò Liều uống trên 20 mg/kg có thể xuất hiện triệu chứng rung cơ, ức chế, co giật, hôn mê và chết đối với chó thí nghiệm Thuốc an toàn cho động vật giống cũng như động vật mang thai, không ảnh hưởng đến sự sinh tinh và sự phát triển của bào thai
- Công thức hóa học: 22, 23 - dihydroavermectin B1a
Trang 34Hình 1.10: Thuốc trị ngoại ký sinh trùng
Thuốc Mectin -27 của Công ty cổ phần thuốc thú y Marphavet Thành phần: Mỗi ml chứa:
Trang 35Thành phần thuốc Vit.ADE tiêm của Công ty Marphavet, mỗi ml chứa:
Hình 1.12: Thuốc Hantox Spray
Hantox-Spray chứa Pyrethriod hoạt chất chiết xuất từ cây họ Cúc và hoàn toàn
an toàn cho vật nuôi
- Quy cách đóng gói, xuất xứ sản phẩm:
+ Lọ xịt 100 ml
+Sản phẩm của Hanvet – Việt Nam
- Công dụng sản phẩm:
+ Hantox-Spray có tác dụng kéo dài, diệt hầu hết các loại ngoại ký sinh trùng
ký sinh ở thú cảnh, gia súc, gia cầm: Bọ chét, ve, mòng, bét, chấy, rận, bọ mạt, bọ lông, ghẻ, ruồi, muỗi…
Trang 36+ Thuốc có tác dụng trực tiếp hay qua đường tiêu hóa, làm tê liệt, giết ký sinh trùng và diệt cả trứng ký sinh trùng
- Chú ý:
+ Chỉ dùng ngoài cho gia súc
+ Không để gần lửa, thức ăn
+ Rửa kỹ tay chân hay nơi bị thuốc bắn vào
+ Có thể dùng cho gia súc chửa
+ Để ngoài tầm tay của trẻ em
+ Bảo quản: Nơi khô, mát, tránh ánh sáng
1.2 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước
1.2.1 Tình hình nghiên cứu trong nước
Các tác giả Phạm Khắc Hiếu và Bùi Thị Tho (1994)[18] đã nghiên cứu dùng cao Hạt thàn mát: hạt thàn mát giã nhỏ (3 phần), hạt Dầu trẩu giã nhỏ (1 phần), lưu huỳnh phi (1 phần), nước (8 phần) Trộn các thứ trên với nhau, cô cách thủy trong thời gian 30 phút thành cao đặc, để nguội 37 – 40oC dùng bôi lên chỗ ghẻ cho gia súc Hoặc dùng hạt thàn mát ngâm vào nước nóng, giã nát sau đó ngâm nước ấm
37oC, dùng nước đó tắm cho gia súc có thể diệt được cả ve cứng lẫn ve mềm
Tác giả Tô Du và Xuân Giao (2006)[11] cho biết có một số loài côn trùng ký sinh trên da và lông chó, chúng hút máu và truyền một số bệnh cho chó như lê dạng
trùng, xuất huyết do Rickettsia, bệnh sán hạt dưa… trong đó có loài Rhipicephalus
sanguineus
`Nguyễn Thanh Hải (2007)[16] đã nghiên cứu và bào chế được 12 chế phẩm dạng thuốc mỡ từ cây Thuốc cá, sử dụng để điều trị bệnh ve cho chó và bò đạt hiệu quả cao
Nguyễn Thị Kim Lan và cs (2008)[23] cho biết ở nước ta gặp hai loài thuộc
giống ve Rhipicephalus có đặc điểm: thường không có màu sắc, có mắt và tua, tấm
dưới miệng và xúc biện ngắn, ve đực có mai bụng
1.2.2 Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài
Beck và cs (2014)[52] cho biết, ve chó có khả năng lây truyền một số bệnh quan trọng ở người và động vật Từ tháng 3/2010 - 4/2011, các tác giả đã kiểm tra
441 chó nuôi tại 392 gia đình thuộc Berlin - Brandenburg thấy có 251 chó nhiễm ve,
Trang 37chiếm 57% Các tác giả cũng đã thu thập được 1728 ve bao gồm 46,0% là Ixodes
ricinus, 45,1% là Dermacentor reticulatus, 8,8% là Ixodes hexagonus và
0,1% Rhipicephalus sanguineus
Rojas và cs (2014)[77] đã điều tra tỷ lệ nhiễm các bệnh truyền nhiễm ở chó tại
Costa Rica và cho biết: Ehrlichia canis được phát hiện trong 34%, Anaplasma
platys trong 10% và Babesia vogeli trong 8% số mẫu máu xét nghiệm (146 mẫu)
Tỷ lệ nhiễm A platys, B vogeli hoặc E canis đều có liên quan đáng kể với tỷ lệ nhiễm R sanguineus ở chó (p <0,029)
Iwakami và cs (2014)[62] đã tiến hành một cuộc khảo sát về các loài ve ký sinh ở chó và mèo trên diện rộng tại Nhật bản Các tác giả đã thu thập được 4.237
con ve từ 1.162 chó để định loại và cho biết: Haemaphysalis longicornis là loài ve thường gặp nhất (trên 739 con chó), tiếp theo là H flava (166 chó), Ixodes ovatus (139 chó) và Rhipicephalus sanguineus (70 chó) Ngoài ra còn phát hiện các loài ve khác như: H hystricis, H japonica, H megaspinosa, H formosensis, H
campanulata, H IAS, I nipponensis, I persulcatus và Amblyomma testudinarium
Theo Latrofa và cs (2014)[64], ve R sanguineus có vai trò là vật môi giới truyền một số mầm bệnh nguy hiểm ở chó như: A platys, H canis và
Cercopithifilaria spp
Cicuttin và cs (2014)[53] cho biết: bằng phương pháp PCR phát hiện
Rickettsia massiliae trong 3,4% số mẫu ve R sanguineus (207 mẫu) và Anaplasma platys trong 13,5% số mẫu máu chó (52 mẫu) thu thập từ thành phố Buenos Aires,
Argentina
Trong một cuộc thám hiểm khảo cổ học tại El Deir, Otranto và cs (2014)[71]
đã xác định được loài R sanguineus ký sinh ở xác ướp chó từ Ai Cập cổ đại
(khoảng thế kỷ 1 - thế kỷ thứ 4)
Theo Maria và cs (2014)[66] đã thu thập 925 cá thể ve ở các giai đoạn phát triển (ấu trùng, thiếu trùng và trưởng thành) từ chó, mèo và thảm thực vật tại 4 địa phương thuộc Bồ Đào Nha Kết quả cho thấy, tất cả ve thu thập từ chó và thảm thực
vật là R sanguineus; chỉ có 6 cá thể ve thu thập từ mèo là loài Ixodes rcinus
Một cuộc điều tra tỷ lệ nhiễm ve ở chó theo mùa đã được tiến hành tại khu vực đông nam Romania từ 01/12/2012 - 30/11/2013 Mirabela và cs (2014)[69] đã tiến
Trang 38hành kiểm tra 8 chó/ lần và 4 lần/ tháng, tổng cộng đã kiểm tra 384 chó trong thời gian nghiên cứu Kết quả cho thấy, tỷ lệ và cường độ nhiễm ve cao vào tháng 5, 6
và 7; thấp hơn ở các tháng khác và không thấy ve ký sinh ở chó vào tháng 9, 12 và tháng 1 trong năm
Thu thập được 893 cá thể ve thuộc 6 loài: R rossicus (95,6%), Dermacentor
reticulatus (3,2%), Ixodes ricinus (0,5%), Hyalomma marginatum (0,3%), Rhipicephalus sanguineus (0,2%) và Ixodes crenulatus (0,1%)
Otranto và cs (2014)[71] cho biết, ve Rhipicephalus sanguineus là một trong
những động vật môi giới làm lây truyền các bệnh do vi sinh vật nguy nhất cho chó
và cả ở người
Khi nghiên cứu về hình thái học của loài R sanguineus, Otranto và cs (2014)[71] cho biết: có ít nhất 4 hình thái khác nhau của loài ve R sanguineus ký
sinh ở chó đã được xác định tại châu Âu, châu Phi, châu Mỹ và châu Đại Dương
Claudia và cs (2015)[54] cho biết: nấm Beauveria bassiana có độc lực rất cao
và ảnh hưởng đến tất cả các giai đoạn phát triển của ve R sanguineus; đây có thể là một phương pháp sinh học tiềm năng dùng để kiểm soát tốc độ phát triển của ve R
sanguineus
Rotondano và cs (2015)[76] đã thu thập được 1.151 con ve ký sinh ở 100 chó nuôi tại Paraíba, Đông bắc Brazil Các tác giả cho biết, tất cả số ve thu thập đều
thuộc loài Rhipicephalus sanguineus
Lee và cs (2015)[65] đã kiểm tra 78 chó nuôi trên các quần đảo Ấn Độ Dương
của Mauritius, thấy có 52 chó nhiễm ve Rhipicephalus sanguineus Tiến hành thu thập ve từ 52 chó để định loài, thấy có 175/178 ve là loài Rhipicephalus sanguineus
và 3/178 ve là loài Amblyomma variegatum
Trang 39Chương 2 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng, địa điểm và thời gian nghiên cứu
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu
- Chó nuôi tại các hộ gia đình trên địa bàn huyện Tân Yên - tỉnh Bắc Giang
- Bệnh ve, ghẻ trên chó
- Thuốc Hantox Spray, Mectin-27 điều trị bệnh ve, ghẻ cho chó
2.1.2 Vật liệu nghiên cứu
- Động vật thí nghiệm: (1) Chó bị bệnh ve, ghẻ và (2) Ve, ghẻ ký sinh trên chó
- Dụng cụ: Dây cầm cột, ống nghiệm có nắp để đựng mẫu, lọ nhỏ để nhuộm
mẫu Dao, kéo, lá kính, phiến kính, đĩa petri, giấy thấm, bông gòn, đèn cồn, máy li tâm, kính hiển vi, kính lúp
- Hóa chất: Nước cất, cồn 50o, 60o, 70o, 80o, 85o, 90o, 95o, 99o, Xylene,
glycerin 50%, KOH 10%, MgSO4 bão hòa, cồn Iod, Carmin, Permount quick
2.1.3 Địa điểm nghiên cứu
- Điều tra, thử nghiệm điều trị trên địa bàn huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang
- Xét nghiệm mẫu và định danh phân loại tại phòng thí nghiệm Bộ môn Bệnh động vật, Khoa Chăn nuôi thú y, trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên
2.1.4 Thời gian nghiên cứu
Thời gian nghiên cứu từ tháng 7/2016 đến tháng 7/2017
2.2 Nội dung nghiên cứu
Nội dung 1: Nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ bệnh ve và ghẻ ở chó
nuôi tại huyện Tân Yên - tỉnh Bắc Giang
+ Số lượng và tình hình chăn nuôi các giống chó tại huyện Tân Yên
+ Tỷ lệ nhiễm ve, ghẻ trên chó tại huyện Tân Yên
+ Cường độ nhiễm ve và ghẻ ở chó nuôi tại huyện Tân Yên
+ Tỷ lệ nhiễm ve và ghẻ trên chó theo giống chó
+ Tình hình nhiễm ve, ghẻ trên chó theo tính biệt
+ Tỷ lệ nhiễm ve, ghẻ trên chó theo lứa tuổi
Trang 40Nội dung 2: Nghiên cứu bệnh ve, ghẻ trên chó nuôi tại huyện Tân Yên –
Bắc Giang
+ Các loài ve, ghẻ ký sinh trên chó tại huyện Tân Yên
+ Xác định các vị trí ve và ghẻ thường ký sinh trên cơ thể chó tại huyện Tân Yên + Triệu chứng lâm sàng của chó nhiễm ve, ghẻ
+ Sự thay đổi một số chỉ tiêu huyết học của chó bị bệnh ve và ghẻ
Nội dung 3: Kết quả thử nghiệm hai phác đồ trị ve, ghẻ trên chó
+ Hiệu lực của 2 phác đồ đối với chó bị nhiễm đơn ve hoặc ghẻ
+ Hiệu lực của 2 phác đồ đối với chó bị nhiễm ghép ve và ghẻ
+ Độ an toàn của hai phác đồ điều trị ve, ghẻ cho chó
2.3 Phương pháp nghiên cứu
2.3.1 Phương pháp điều tra
- Điều tra trực tiếp trên địa bàn các xã nghiên cứu Các mẫu khảo sát được thực hiện theo phương pháp điều tra cắt ngang tại thời điểm thí nghiệm
- Dung lượng mẫu: Dung lượng mẫu điều tra được tính theo công thức số lượng mẫu tối thiểu cần phải thu thập của Trần Thị Dân và Lê Thanh Hiền (2007)[10] như sau:
n = z
2 x p x q
d2
Trong đó:
n: Lượng mẫu tối thiểu điều tra
z: Độ tin cậy (khảo sát với độ tin cậy 95%)
p: Tỷ lệ nhiễm thăm dò
q: Tỷ lệ không bị nhiễm bệnh tính bằng q = 1 - p
d: Độ chính xác mong muốn giữa tỷ lệ đạt được và tỷ lệ thăm dò (d = 0,10)
- Phương pháp xác định tuổi: Hỏi gia chủ để xác định tuổi của chó