Tổ chức hoạt động ngoại khóa về ứng dụng kĩ thuật phần “Nhiệt học” Vật lí 8 theo hướng phát huy tính tích cực và phát triển năng lực sáng tạo của học sinh (Luận văn thạc sĩ)Tổ chức hoạt động ngoại khóa về ứng dụng kĩ thuật phần “Nhiệt học” Vật lí 8 theo hướng phát huy tính tích cực và phát triển năng lực sáng tạo của học sinh (Luận văn thạc sĩ)Tổ chức hoạt động ngoại khóa về ứng dụng kĩ thuật phần “Nhiệt học” Vật lí 8 theo hướng phát huy tính tích cực và phát triển năng lực sáng tạo của học sinh (Luận văn thạc sĩ)Tổ chức hoạt động ngoại khóa về ứng dụng kĩ thuật phần “Nhiệt học” Vật lí 8 theo hướng phát huy tính tích cực và phát triển năng lực sáng tạo của học sinh (Luận văn thạc sĩ)Tổ chức hoạt động ngoại khóa về ứng dụng kĩ thuật phần “Nhiệt học” Vật lí 8 theo hướng phát huy tính tích cực và phát triển năng lực sáng tạo của học sinh (Luận văn thạc sĩ)Tổ chức hoạt động ngoại khóa về ứng dụng kĩ thuật phần “Nhiệt học” Vật lí 8 theo hướng phát huy tính tích cực và phát triển năng lực sáng tạo của học sinh (Luận văn thạc sĩ)Tổ chức hoạt động ngoại khóa về ứng dụng kĩ thuật phần “Nhiệt học” Vật lí 8 theo hướng phát huy tính tích cực và phát triển năng lực sáng tạo của học sinh (Luận văn thạc sĩ)
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
SÁNG TẠO CỦA HỌC SINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Thành phố Hồ Chí Minh - 2017
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
SÁNG TẠO CỦA HỌC SINH
Chuyên ngành : Lí luận và phương pháp dạy học bộ môn Vật lí
Mã số : 60 14 01 11
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS PHẠM XUÂN QUẾ
Thành phố Hồ Chí Minh - 2017
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan, đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nghiên cứu nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng công bố trong bất kì công trình nào khác
Tác giả
Huỳnh Kim Ly
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình làm luận văn, tôi đã nhận được sự giúp đỡ và hỗ trợ nhiệt tình từ gia đình, thầy cô, đồng nghiệp và bạn bè Tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến:
Thầy hướng dẫn - PGS.TS Phạm Xuân Quế, người thầy đã tận tình giúp
đỡ, hướng dẫn và truyền đạt kinh nghiệm cho tôi trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn chỉnh luận văn
Ban Chủ Nhiệm khoa Vật lí, các thầy cô trong tổ Phương pháp giảng dạy
bộ môn Vật lí, Phòng Sau đại học, quý thầy cô đã giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu, hoàn thành luận văn này
Ban Giám hiệu, quý thầy cô tổ Vật lí Trường THCS Âu Lạc – Tp.HCM
đã tạo điều kiện, giúp đỡ tôi trong quá trình thực nghiệm sư phạm
Quý thầy cô phản biện và hội đồng chấm luận văn đã đọc và có những nhận xét, góp ý quý báu cho luận văn
Tôi xin cảm ơn gia đình và bạn bè, các anh chị học viên lớp Lý luận và phương pháp dạy học bộ môn Vật lí khóa 26 đã luôn động viên, ủng hộ
về mọi mặt để tôi hoàn thành tốt luận văn này
Thành phố Hồ Chí Minh, tháng 9 năm 2017
Tác giả
Huỳnh Kim Ly
Trang 5MỤC LỤC
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Lời cảm ơn
Mục lục
Danh mục các chữ viết tắt
Danh mục các bảng
Danh mục các hình ảnh
MỞ ĐẦU 1
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ HOẠT ĐỘNG NGOẠI KHÓA VẬT LÍ Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ NHẰM PHÁT HUY TÍCH TÍCH CỰC VÀ PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC SÁNG TẠO CỦA HỌC SINH 5
1.1 Tính tích cực và năng lực sáng tạo của học sinh 5
1.1.1 Tính tích cực của học sinh trong hoạt động học tập 5
1.1.2 Năng lực sáng tạo của học sinh trong hoạt động học tập 10
1.2 Dạy học ứng dụng kĩ thuật Vật lí 17
1.2.1 Khái niệm về ứng dụng kĩ thuật Vật lí 17
1.2.2 Bản chất của việc nghiên cứu các ứng dụng kĩ thuật của Vật lí trong dạy học 18
1.2.3 Các con đường dạy học ứng dụng kĩ thuật Vật lí 19
1.2.4 Vai trò của việc nghiên cứu các ứng dụng kĩ thuật trong dạy học Vật lí 21
1.3 Hoạt động ngoại khóa ở trường trung học với việc phát huy tính tích cực, phát triển năng lực sáng tạo và nâng cao chất lượng học tập của học sinh 22
1.3.1 Vị trí, vai trò của hoạt động ngoại khóa trong hệ thống các hình thức tổ chức dạy học ở trường trung học cơ sở 22
1.3.2 Đặc điểm của hoạt động ngoại khóa Vật lí 23
1.3.3 Nội dung của hoạt động ngoại khóa Vật lí 24
1.4 Điều tra tình hình dạy học các kiến thức về phần “Nhiệt học” và thực trạng hoạt động ngoại khóa ở trường THCS Âu Lạc 25
1.4.1 Mục đích điều tra 25
1.4.2 Phương pháp điều tra 25
1.4.3 Đối tượng điều tra 25
1.4.4 Kết quả điều tra 26
Kết luận chương 1 32
Trang 6Chương 2 XÂY DỰNG THIẾT KẾ KẾ HOẠCH TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG
NGOẠI KHÓA PHẦN “NHIỆT HỌC” - VẬT LÍ 8 NHẰM PHÁT HUY TÍNH TÍCH CỰC VÀ PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC SÁNG
TẠO CỦA HỌC SINH 33
2.1 Mục tiêu dạy học phần “Nhiệt học” trong chương trình Vật lí trung học cơ sở 33
2.1.1 Mục tiêu về kiến thức 33
2.1.2 Mục tiêu về kĩ năng 33
2.1.3 Mục tiêu phát triển năng lực (năng lực sáng tạo) 34
2.2 Xây dựng thiết kế kế hoạch hoạt động ngoại khóa phần “Nhiệt học” - Vật lí 8 34
2.2.1 Xác định mục tiêu của hoạt động ngoại khóa 34
2.2.2 Xác định nội dung của hoạt động ngoại khóa 35
2.2.3 Phương pháp và hình thức tổ chức hoạt động ngoại khóa 44
2.2.4 Dự kiến các bước tiến hành hoạt động ngoại khóa 45
2.2.5 Dự kiến các khó khăn của học sinh trong quá trình thực hiện các nhiệm vụ và các phương án hỗ trợ 49
2.2.6 Dự kiến tổ chức chương trình hội vui Vật lí 51
Kết luận chương 2 62
Chương 3 THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 63
3.1 Mục đích và nhiệm vụ thực nghiệm sư phạm 63
3.2 Đối tượng và thời gian thực nghiệm 63
3.3 Phương pháp thực nghiệm sư phạm 64
3.4 Phương pháp đánh giá kết quả thực nghiệm 64
3.5 Phân tích và đánh giá kết quả thực nghiệm sư phạm 65
3.5.1 Diễn biến của hoạt động ngoại khóa 65
3.5.2 Đánh giá quá trình tổ chức các hoạt động ngoại khóa với chủ đề “Nhiệt học” 81
3.5.3 Đánh giá kết quả (về tính tích cực, năng lực sáng tạo của học sinh) 82
Kết luận chương 3 95
KẾT LUẬN 96
TÀI LIỆU THAM KHẢO 98
PHỤ LỤC i
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1 Tiêu chí đánh giá tính tích cực của HS trong học tập 9
Bảng 1.2 Tiêu chí đánh giá năng lực sáng tạo của HS trong học tập 16
Bảng 1.3 Khảo sát GV về tình hình dạy học phần “Nhiệt học” Vật lí 8 26
Bảng 1.4 Khảo sát GV về tính tích cực của HS trong học tập 27
Bảng 1.5 Khảo sát về tính tích cực của HS trong học tập 28
Bảng 1.6 Khảo sát về năng lực sáng tạo của HS 29
Bảng 3.1 Thông tin về các nhóm tham gia HĐNK Vật lí 67
Bảng 3.2 So sánh mức độ phát huy tính tích cực của HS 82
Bảng 3.3 So sánh mức độ phát triển năng lực sáng tạo của HS 88
Trang 9DANH MỤC CÁC HÌNH ẢNH
Hình 2.1 Sơ đồ tổng hợp kiến thức phần nhiệt học THCS 35
Hình 2.2 Hai nửa lon sữa 37
Hình 2.3 Thanh kim loại nối với hai cực 37
Hình 2.4 Thanh lưỡng kim nối với nửa vỏ lon 37
Hình 2.5 Sơ đồ lắp đặt hệ thống báo cháy 38
Hình 2.6 Hai nửa lon sữa 39
Hình 2.7 Hai cực của đầu báo nhiệt 39
Hình 2.8 Nửa vỏ lon chứa màng đàn hồi 39
Hình 2.9 Bình chứa nước biển 41
Hình 2.10 Bình chứa nước biển và các ống dẫn nước 41
Hình 2.11 Bình chứa nước biển 41
Hình 2.12 Bộ phận tập trung năng lượng mặt trời 42
Hình 2.13 Ống dẫn khí 43
Hình 2.14 Khung chứa ống dẫn khí 43
Hình 2.15 Bộ phận tạo khí nóng 43
Hình 2.16 Máy sấy thực phẩm 44
Hình 2.17 Người câu cá dưới lớp băng (từ youtube, 2015) 56
Hình 2.18 Cây xương rồng (từ locat, 2015) 56
Hình 2.19 Khinh khí cầu (từ dantri, 2016) 57
Hình 2.20 Hơi thở như khói ở xứ lạnh (từ khoahoc, 2013) 57
Hình 2.21 Giun đất (từ ydvn, 2016) 57
Hình 2.22 Chim xù lông vào mùa lạnh (từ soha, 2013) 58
Hình 2.23 Đặt tay phía trên và ngang ngọn đèn (từ tài liệu dạy – học Vật lí 8, 2014, tr 156) 58
Hình 2.24 Cấu tạo bình thủy (từ tài liệu dạy – học Vật lí 8, 2014, tr 161) 58
Hình 2.25 Ly thủy tinh (từ vanvat, 2013) 59
Hình 3.1 Bản vẽ mô hình máy lọc nước biển của Hợp 68
Hình 3.2 Bản vẽ mô hình hệ thống báo cháy của Đăng 70
Hình 3.3 Mô hình đầu báo nhiệt tham khảo từ internet 70
Trang 10Hình 3.4 Mô hình đầu báo nhiệt tham khảo 72
Hình 3.5 Bản vẽ cấu tạo đầu báo nhiệt gia tăng của Phước 72
Hình 3.6 Bản vẽ cấu tạo đầu báo nhiệt gia tăng của Lộc 72
Hình 3.8 Hình ảnh bộ phận tạo khí nóng từ internet 73
Hình 3.7 Bản vẽ mô hình của A.Minh 73
Hình 3.9 Hình ảnh thực nghiệm của nhóm 1 78
Hình 3.10 Hình ảnh thực nghiệm của nhóm 2 78
Hình 3.11 Hình ảnh thực nghiệm của nhóm 3 79
Hình 3.12 Hình ảnh thực nghiệm của nhóm 4 79
Hình 3.13 Hình ảnh hội vui Vật lí 81
Hình 3.14 Đồ thị biểu diễn mức độ đạt được ứng với từng tiêu chí của tính tích cực của 16 HS 86
Hình 3.15 Đồ thị biểu diễn mức độ đạt được ứng với từng tiêu chí của năng lực sáng tạo của 16 HS 93
Trang 11MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Ngày này với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học kĩ thuật, con người đã đạt được những thành tựu vượt bậc đưa hiểu biết của chúng ta lên một tầm cao mới Cùng với đó con người càng phải cố gắng hơn trong việc trau dồi kiến thức hay nói cách khác là không ngừng học tập để có thể bắt kịp đà phát triển hiện nay Việt Nam cũng không ngoại lệ, đặc biệt trong lĩnh vực giáo dục, nước ta chú trọng đến phương pháp
và phương tiện dạy học đồng thời đòi hỏi đào tạo được một thế hệ con người Việt Nam mới tự tin, năng động, giàu tri thức
Tuy nhiên, việc dạy và học Vật lí trong trường trung học hiện nay vẫn còn nhiều thử thách đối với giáo viên và học sinh, khối lượng kiến thức mà học sinh cần nắm được để vượt qua các kỳ thi quá lớn, điều này tạo nên nhiều áp lực cho cả người dạy
và người học, khiến cho việc dạy và học chỉ nhằm mục đích phục vụ thi cử Bên cạnh
đó, thời lượng học tập nội khóa tương đối ngắn không đủ cho giáo viên vừa đảm bảo cung cấp đầy đủ lượng kiến thức bắt buộc vừa đổi mới phương pháp tạo hứng thú cho học sinh, đồng thời làm cho học sinh cảm thấy chán nản mất đi niềm hứng thú khám phá tìm tòi Vật lí
Tổ chức hoạt động ngoại khóa mà cụ thể là tổ chức hoạt động ngoại khóa phần
“Nhiệt học” - Vật lí 8 giúp bổ trợ và củng cố các phần kiến thức đã học, giúp học sinh nắm được kiến thức một cách tổng quát đồng thời là một sân chơi, nơi học sinh thỏa sức khám phá và sáng tạo các thí nghiệm, mô hình phục vụ đời sống từ những kiến thức Vật lí đã học; nhờ đó, học sinh sẽ hiểu sâu và nhớ lâu kiến thức Bên cạnh đó, Vật
lí không còn là những bài học khô khan trên trang sách mà là những ứng dụng, những hiện tượng xảy ra trong cuộc sống hằng ngày của học sinh, điều này giúp tăng sự hứng thú, đam mê trong học tập, đồng thời giúp phát triển khả năng sáng tạo của học sinh Thử thách đặt ra cho người giáo viên là làm thế nào để lên kế hoạch và tổ chức thực hiện các hoạt động ngoại khóa hiệu quả, phù hợp với cơ sở vật chất hiện có, trình
độ và khả năng của học sinh nhằm đạt được các mục tiêu đã đề ra một cách hiệu quả
và tiết kiệm
Trang 12Từ những lý do trên, tôi chọn đề tài: Tổ chức hoạt động ngoại khóa về ứng
dụng kĩ thuật phần “Nhiệt học” - Vật lí 8 theo hướng phát huy tính tích cực và phát triển năng lực sáng tạo của học sinh
2 Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu việc xây dựng và tổ chức hoạt động ngoại khóa về các ứng dụng kĩ thuật thuộc phần “Nhiệt học” - Vật lí 8 nhằm phát huy tính tích cực và phát triển năng lực sáng tạo của học sinh
3 Giả thuyết khoa học
Nếu vận dụng cơ sở lý luận của việc tổ chức hoạt động ngoại khóa, lí luận về dạy học các ứng dụng kĩ thuật Vật lí khi dạy phần “Nhiệt học” - Vật lí 8 để xây dựng nội dung, phương pháp, hình thức tổ chức hoạt động ngoại khóa thì sẽ phát huy tính tích cực và phát triển năng lực sáng tạo cho học sinh
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng: tính tích cực và năng lực sáng tạo của học sinh trong học tập của học sinh
Phạm vi: hoạt động ngoại khóa về ứng dụng kĩ thuật phần “Nhiệt học” ở trường THCS địa bàn Tp.HCM
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
Nghiên cứu cơ sở lý luận của dạy học Vật lí theo định hướng phát huy tính tích cực, phát triển năng lực sáng tạo của học sinh
Nghiên cứu cơ sở lý luận, các cách thức tổ chức hoạt động ngoại khóa và dạy học các các ứng dụng kĩ thuật của Vật lí
Nghiên cứu nội dung phần “Nhiệt học” - Vật lí 8 và tìm hiểu thực tế hoạt động dạy học về: HĐNK, các ứng dụng kĩ thuật nhằm phát huy tính tích cực và phát triển năng lực sáng tạo cho học sinh
Xây dựng kế hoạch dạy học và đánh giá hoạt động ngoại khóa (gồm nội dung, phương pháp, hình thức tổ chức và công cụ đánh giá hoạt động ngoại khóa)
Thực nghiệm sư phạm nhằm đánh giá tính khả thi và mục tiêu đạt được của hoạt động ngoại khóa
Trang 136 Phương pháp nghiên cứu
6.1 Nghiên cứu lý luận
Cơ sở lý luận về tâm lý học, giáo dục học và lý luận dạy học Vật lí theo định hướng phát huy tính tích cực và phát triển năng lực sáng tạo của học sinh
Cơ sở lý luận về hoạt động ngoại khóa các các ứng dụng kĩ thuật Vật lí nhằm phát huy tính tích cực và phát triển năng lực sáng tạo của học sinh
Nguyên tắc thiết kế và chế tạo các mô hình các ứng dụng kĩ thuật Vật lí
Nội dung kiến thức phần “Nhiệt học” mà học sinh cần tiếp thu được
6.2 Điều tra, quan sát
Phỏng vấn, trao đổi ý kiến với giáo viên các trường trung học cơ sở để biết thực trạng học tập phần “Nhiệt học” - Vật lí 8 của học sinh về phát huy tính tích cực, phát triển năng lực sáng tạo khi tổ chức hoạt động ngoại khóa
Trao đổi và phát phiếu điều tra đối với học sinh khối 8 để tìm hiểu, đánh giá tình hình học tập phần “Nhiệt học” - Vật lí 8
6.3 Thực nghiệm sư phạm
Tiến hành thực nghiệm sư phạm ở trường trung học cơ sở để kiểm tra tính khả thi
và lợi ích của luận văn, cụ thể là vai trò của hoạt động ngoại khóa trong việc phát huy tính tích cực, phát triển năng lực sáng tạo của học sinh
7 Các đóng góp của đề tài
Làm sáng tỏ cơ sở lý luận trong việc tổ chức dạy học thông qua HĐNK nhằm phát huy tính tích cực và phát triển năng lực sáng tạo của học sinh
Cung cấp thêm nguồn tư liệu dùng tổ chức HĐNK phần “Nhiệt học” - Vật lí 8
Chứng minh được vai trò của HĐNK trong dạy học Vật lí ở nhà trường
8 Cấu trúc của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận và phụ lục thì nội dung chính của luận văn được chia thành ba chương
Chương 1 Cơ sở lý luận và thực tiễn về hoạt động ngoại khóa Vật lí ở trường trung học cơ sở nhằm phát huy tính tích cực và phát triển năng lực sáng tạo của học sinh
Trang 14 Chương 2 Xây dựng thiết kế kế hoạch tổ chức hoạt động ngoại khóa phần
“Nhiệt học” - Vật lí 8 nhằm phát huy tính tích cực và phát triển năng lực sáng tạo của học sinh
Chương 3 Thực nghiệm sư phạm
Trang 15Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ HOẠT ĐỘNG NGOẠI KHÓA VẬT LÍ Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ NHẰM PHÁT HUY TÍCH TÍCH CỰC VÀ PHÁT TRIỂN
NĂNG LỰC SÁNG TẠO CỦA HỌC SINH 1.1 Tính tích cực và năng lực sáng tạo của học sinh
1.1.1 Tính tích cực của học sinh trong hoạt động học tập
1.1.1.1 Khái niệm về tính tích cực của học sinh trong học tập [10], [16], [21]
Hoạt động học tập của HS là một quá trình tiếp thu và lĩnh hội tri thức, quá trình này phụ thuộc vào nhiều yếu tố, một trong những yếu tố quan trọng đó là tính tích cực của HS
Theo Từ điển Tiếng Việt năm 2003, Hoàng Phê chủ biên: “Tích cực là tỏ ra chủ động, có những hoạt động nhằm tạo ra sự biến đổi theo hướng phát triển” [16, tr.981] Theo Thái Duy Tuyên: “Tính tích cực biểu thị sự nỗ lực của chủ thể khi tương tác với đối tượng, khi thực hiện một nhiệm vụ, giải quyết một vấn đề nào đó Sự nỗ lực
ấy diễn ra trên nhiều mặt: sinh lý, tâm lý, xã hội Bên cạnh đó, tính tích cực còn là một thuộc tính của nhân cách có quan hệ, chịu ảnh hưởng của rất nhiều nhân tố như: nhu cầu, động cơ, hứng thú” [21, tr.463]
Theo tác giả I F Kharlamop: “Tính tích cực là trạng thái hoạt động của chủ thể, nghĩa là của người hành động Vậy tính tích cực nhận thức là trạng thái hoạt động của học sinh, đặc trưng bởi khát vọng học tập, cố gắng trí tuệ và nghị lực cao trong quá trình chiếm lĩnh kiến thức” [10, tr.35]
Dựa vào cơ sở lý luận về tính tích cực học tập ở trên theo tôi: Tính tích cực học tập của HS là sự hứng thú và tự giác, nhu cầu và khát vọng cao của HS đối với mục đích học tập, từ đó HS sẽ cố gắng huy động mọi nguồn lực của bản thân để giải quyết nhiệm vụ học tập nhằm thu kết quả cao nhất
1.1.1.2 Một vài đặc điểm về tính tích cực của học sinh trong học tập
Theo Thái Duy Tuyên: tính tích cực của HS có mặt tự phát và mặt tự giác [21, tr.463]:
Mặt tự phát: là những yếu tố tiềm ẩn, bẩm sinh thể hiện ở tính tò mò, hiếu kì, hiếu động, linh hoạt và sôi nổi trong hành vi mà trẻ đều có ở những mức độ
Trang 16khác nhau Cần coi trọng những yếu tố tự phát này, nuôi dưỡng, phát triển chúng trong dạy học
Mặt tự giác: là trạng thái tâm lí có mục đích và đối tượng rõ rệt, do đó có hoạt động để chiếm lĩnh đối tượng đó Tính tích cực tự giác thể hiện ở óc quan sát, tính phê phán trong tư duy, trí tò mò khoa học
Tính tích cực nhận thức phát sinh không chỉ từ nhu cầu nhận thức mà còn từ nhu cầu sinh học, nhu cầu đạo đức thẩm mỹ, nhu cầu giao lưu văn hóa Hạt nhân cơ bản của tính tích cực nhận thức là hoạt động tư duy của cá nhân được tạo nên do sự thúc đẩy của hệ thống nhu cầu đa dạng Tính tích cực nhận thức và tính tích cực học tập có liên quan chặt chẽ với nhau nhưng không phải là một Có một số trường hợp, tính tích cực học tập thể hiện ở hành động bên ngoài, mà không phải là tính tích cực trong tư duy [21]
Dựa vào cơ sở lý luận về đặc điểm của tính tích cực học tập ở trên theo tôi: Tính tích cực học tập của HS thể hiện ở sự tò mò, mong muốn khám phá, tìm hiểu một vấn
đề đồng thời cũng là sự nổ lực cố gắng vượt qua mọi khó khăn để đạt được mục tiêu
1.1.1.3 Một vài biểu hiện về tính tích cực của học sinh trong học tập [6], [21]
Theo Thái Duy Tuyên, muốn xác định xem học sinh có tích cực hay không cần dựa vào các dấu hiệu sau đây [21, tr.464-465]:
Chăm chú lắng nghe, quan sát
Thích thú, hào hứng tham gia vào mọi mọi hoạt động học tập (bao gồm giơ tay phát biểu, tham gia hoạt động nhóm, ghi chép…)
Hoàn thành mọi nhiệm vụ được giao đồng thời đọc thêm, làm thêm các bài tập, các hiện tượng Vật lí
Hiểu rõ, có thể trình bày lại nội dung bài học theo ngôn ngữ riêng và vận dụng kiến thức, kỹ năng có được trong quá trình học vào việc giải quyết các bài tập hoặc các tình huống thực tế
Có ý chí quyết tâm vượt qua khó khăn trong học tập, độc lập sáng tạo trong quá trình giải quyết các nhiệm vụ và hoàn thành nhiệm vụ trong thời gian nhanh nhất Theo Trần Khánh Đức, tính tích cực học tập biểu hiện như sau [6, tr.102]:
Trang 17 Quan tâm đến các vấn đề đặt ra, hăng hái trả lời các câu hỏi của giáo viên bổ sung các câu trả lời của bạn, thích phát biểu ý kiến của mình trước vấn đề nêu ra
Hay nêu thắc mắc, đòi hỏi được giải thích cặn kẽ những vấn đề chưa đủ rõ; chủ động vận dụng kiến thức, kỹ năng đã học để nhận thức vấn đề mới
Tập trung chú ý vào vấn đề đang học; kiên trì hoàn thành các bài tập, không nản trước những tình huống khó khăn,…
Từ những biểu hiện trên về tính tích cực, chúng tôi cho rằng: tính tích cực của học sinh được biểu hiện thông qua:
Sự chú ý: mức độ chú ý các hoạt động của GV và các bạn trong quá trình học, mức độ phản hồi cụ thể là đặt các câu hỏi khi thắc mắc, phản biện các câu trả lời được nêu ra
Sự đóng góp: mức độ tham gia các hoạt động học tập và chất lượng các hoạt động đã tham gia
Sự nỗ lực: mức độ hoàn thành các nhiệm vụ được giao, trong đó chú ý đến việc
Sự đóng góp: khi GV đưa ra các nhiệm vụ hoặc các vấn đề cần giải quyết thì
HS tự nguyện tham gia với số lượng lớn, các bạn trong nhóm nhắc nhở nhau hoàn thành nhiệm vụ đúng hoặc trước thời hạn không cần sự đốc thúc của GV; thường xuyên trao đổi với bạn bè phương án giải quyết vấn đề hoặc nhờ sự giúp
đỡ của GV, các HS chủ động tìm kiếm thông tin và cách giải quyết vấn đề thông qua sách báo, internet…
Trang 18 Sự nỗ lực: HS cố gắng vượt qua khó khăn để hoàn thành tốt nhiệm vụ, quyết tâm hoàn thành nhiệm vụ, cố gắng suy nghĩ hoặc chỉ nhờ sự giúp đỡ của GV dưới dạng gợi ý
Sự tư duy: HS có thể nêu các nội dung đã học theo ngôn ngữ riêng đồng thời hiểu và giải thích được một số hiện tượng tự nhiên liên quan đến kiến thức
1.1.1.4 Một số biện pháp phát huy tính tích cực của học sinh trong học tập
Theo Nguyễn Hữu Châu để phát huy tính tích cực của học sinh cần thực hiện một
số biện pháp sau [4, tr.194-195]:
Việc dạy học phải được tiến hành ở mức độ khó khăn cao
Việc nắm vững kiến thức lý thuyết phải chiếm ưu thế
Trong quá trình dạy học phải duy trì nhịp độ khẩn trương của việc nghiên cứu tài liệu, những kiến thức đã lĩnh hội sẽ được củng cố khi nghiên cứu kiến thức mới
Trong dạy học phải tích cực chăm lo cho sự phát triển của tất cả học sinh, kể cả những em học sinh khá cũng như học sinh kém
Học sinh phải ý thức được bản thân quá trình học tập
Dựa trên những biện pháp mà Nguyễn Hữu Châu đưa ra, chúng tôi cho rằng một
số biện pháp để phát huy tính tích cực của học sinh thông qua quá trình học tập Vật lí gồm:
Đưa ra các tình huống thực tế yêu cầu học sinh vận dụng lý thuyết để giải quyết tình huống đó
Sử dụng và phối hợp các phương pháp dạy học tích cực, các hình thức tổ chức dạy học khác nhau
Sử dụng đa dạng các phương tiện dạy học để kích thích các giác quan của HS
Nội dung dạy học phải là cái mới nhưng gần gũi với thực tiễn, đời sống hằng ngày của học sinh đồng thời liên hệ với cái cũ
Thường xuyên kiểm tra, đánh giá để biểu dương, động viên, khen thưởng những học sinh có thành tích tốt trong học tập để kích thích tính tích cực của học sinh
Trang 191.1.1.5 Một số tiêu chí và công cụ đánh giá tính tích cực của học sinh trong học tập
Bảng 1.1 Tiêu chí đánh giá tính tích cực của HS trong học tập [21]
- Chú ý lắng nghe giáo viên giảng
- Chú ý lắng nghe giáo viên giảng
- Đặt câu hỏi với giáo viên khi thắc mắc
Sự đóng
góp
- Không tham gia bất kì hoạt động học tập nào
- Chỉ tham gia một số hoạt động học tập đơn giản (ghi chép bài, trả lời khi được gọi)
- Tham gia hầu hết các hoạt động học tập nhưng không tự giác, cần có sự nhắc nhở từ giáo viên hoặc các thành viên trong nhóm
- Tự giác và hăng hái tham gia mọi hoạt động học tập
Sự nỗ lực - Không hoàn
thành bất kì nhiệm vụ, bài tập nào
- Chỉ hoàn thành những nhiệm vụ, bài tập đơn giản
- Hoàn thành hầu hết các nhiệm vụ, bài tập
- Chủ động nhờ đến sự giúp đỡ
- Hoàn thành đầy đủ các nhiệm vụ, bài tập
- Kiên trì suy nghĩ giải quyết
Trang 20của giáo viên, bạn bè để hoàn thành nhiệm vụ
- Hiểu được một
số hiện tượng tự nhiên liên quan đến kiến thức/
Giải thích được tác dụng của một số bộ phận trong mô hình
- Nêu được nội dung lý thuyết
đã học theo ngôn ngữ riêng
- Hiểu và giải thích được một
số hiện tượng
tự nhiên liên quan đến kiến thức/ Giải thích được tác dụng của tất cả các
bộ phận trong
mô hình
1.1.2 Năng lực sáng tạo của học sinh trong hoạt động học tập
1.1.2.1 Khái niệm về năng lực sáng tạo của học sinh trong học tập [8], [12], [24]
Theo Bách khoa toàn thư Liên Xô (Tập 42, trang 54): “Sáng tạo là một loại hoạt động mà kết quả của nó là một sản phẩm tinh thần hay vật chất có tính cách tân, có ý nghĩa xã hội, có giá trị”, hay Từ điển bách khoa Việt Nam (tập 3): Sáng tạo là “Hoạt động tạo ra cái mới” [12, tr.27]
Năng lực sáng tạo có thể hiểu là khả năng tạo ra những giá trị mới về vật chất và tinh thần, tìm ra cái mới, giải pháp mới, công cụ mới, vận dụng thành công những hiểu biết đã có vào hoàn cảnh mới [24, tr.109]
Năng lực sáng tạo phản ánh hoạt động lí tính của con người, đó là khả năng nhận thức thế giới, phát hiện ra các quy luật khách quan và sử dụng những quy luật đó vào việc cải tạo thế giới tự nhiên, phục vụ loài người Năng lực sáng tạo biểu hiện trình độ
tư duy phát triển ở mức độ cao của con người [12, tr.27]
Trang 21Người ta phân biệt hai cấp độ của sáng tạo là sáng tạo cái mới chỉ đối với bản thân và sáng tạo cái mới đối với nhân loại Trong quá trình học tập Vật lí của học sinh, hoạt động sáng tạo chủ yếu là sáng tạo khoa học tự nhiên Ở cấp độ thứ nhất, nó thể hiện dưới nhiều hình thức như sáng tạo để nắm vững các kiến thức Vật lí như các khái niệm, định luật , sáng tạo vận dụng các kiến thức Vật lí như giải các bài tập Vật lí, lập các mô hình Vật lí, các thiết bị ứng dụng các nguyên lí Vật lí , sáng tạo để cải tiến những cái cũ Ở cấp độ thứ hai, sự sáng tạo khoa học tự nhiên tuân theo một chu trình sáng tạo là : Từ kết quả của những sự kiện mà xây dựng một mô hình trừu tượng (các giả thuyết) Từ các mô hình xây dựng rút ra các hệ quả lí thuyết, các hệ quả này phải được kiểm tra bằng thực nghiệm Thực nghiệm có thể phủ định, khẳng định hoặc điều chỉnh mô hình Nếu phủ định, phải quay trở lại xây dựng các mô hình mới Nếu khẳng định, mô hình được dùng làm nguồn tri thức mới [8, tr.37-38]
Như vậy năng lực sáng tạo của HS thể hiện ở nhiều góc độ như việc thay đổi cách giải các bài tập Vật lí, liên kết và vận dụng các kiến thức đã học để giải quyết các vấn đề thực tiễn, dựa trên những kiến thức đã học giải thích cấu tạo và nguyên tắc hoạt động của các loại máy móc thiết bị hoặc thiết kế, xây dựng các mô hình ứng dụng Vật
lí Sáng tạo là một quá trình lao động kiên trì và bền bỉ với niềm hứng thú và hăng say bởi nếu không lao động tiếp thu tri thức HS sẽ không có đủ kiến thức để sáng tạo
1.1.2.2 Một vài biểu hiện về năng lực sáng tạo của học sinh trong học tập [3], [9], [11]
Theo I.Ia Lecne hoạt động sáng tạo gồm các đặc trưng [11, tr.17]:
Trong quá trình sáng tạo đòi hỏi phải có sự tự lực chuyển hóa các tri thức và kỹ năng sang một tình huống mới
Nhìn thấy vấn đề mới trong các điều kiện quen biết “đúng quy cách”
Nhìn thấy chức năng mới của đối tượng quen biết
Nhìn thấy cấu trúc của đối tượng đang nghiên cứu
Kỹ năng nhìn thấy nhiều lời giải, nhiều cách nhìn đối với việc tìm kiếm lời giải
Kỹ năng kết hợp những phương thức giải đã biết thành một phương thức mới
Trang 22 Kỹ năng sáng tạo một phương thức giải độc đáo tuy đã biết những phương thức khác
Theo Nguyễn Mạnh Hùng năng lực sáng tạo có những biểu hiện cụ thể sau [9, tr.5-6]:
Khả năng sử dụng các tri thức và kỹ năng đã biết để giải quyết một tình huống mới, mối liên hệ giữa tri thức cũ và tình huống mới càng ít thì HS càng sáng tạo
Khả năng nhìn thấy vấn đề mới trong những điều kiện đã biết
Khả năng nhìn thấy chức năng mới của đối tượng cũ
Nhanh chóng nhìn thấy cấu trúc, các bộ phận và mối quan hệ giữa chúng của đối tượng
Khả năng đề xuất nhiều giải pháp cho một vấn đề, khả năng xem xét đối tượng
ở nhiều khía cạnh, khả năng đưa ra nhiều giả thuyết và cách giải thích một hiện tượng Vật lí nào đó
Khả năng phối hợp và vận dụng các kiến thức đã học để giải thích một vấn đề, hiện tượng và các các ứng dụng kĩ thuật Vật lí
Dự thảo của Bộ Giáo dục và Đào tạo về Chương trình Giáo dục phổ thông tổng thể tháng 4 năm 2017 đã xác định năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo đối với học sinh trung học cơ sở gồm các biểu hiện sau [3, tr 40-41]:
Xác định và làm rõ thông tin, ý tưởng mới; phân tích, tóm tắt những thông tin liên quan từ nhiều nguồn khác nhau
Phân tích được tình huống trong học tập; phát hiện và nêu được tình huống có vấn đề trong học tập
Phát hiện yếu tố mới, tích cực trong những ý kiến của người khác; hình thành ý tưởng dựa trên các nguồn thông tin đã cho; đề xuất giải pháp cải tiến hay thay thế các giải pháp không còn phù hợp; so sánh và bình luận được về các giải pháp đề xuất
Xác định được và biết tìm hiểu các thông tin liên quan đến vấn đề; đề xuất được giải pháp giải quyết vấn đề
Trang 23 Thực hiện giải pháp giải quyết vấn đề và nhận ra sự phù hợp hay không phù hợp của giải pháp thực hiện
Đặt các câu hỏi khác nhau về một sự vật, hiện tượng; chú ý lắng nghe và tiếp nhận thông tin, ý tưởng với sự cân nhắc, chọn lọc; quan tâm tới các chứng cứ khi nhìn nhận, đánh giá sự vật, hiện tượng; đánh giá vấn đề, tình huống dưới những góc nhìn khác nhau
Trong quá trình HĐNK về thiết kế và chế tạo mô hình các ứng dụng kĩ thuật Vật lí, năng lực sáng tạo của HS được thể hiện qua các biểu hiện sau:
Vận dụng kiến thức Vật lí đã học để tìm hiểu cấu tạo và nguyên tắc hoạt động của một số mô hình các ứng dụng kĩ thuật, dựa vào các kiến thức đó để thiết kế chế tạo các mô hình mới
Làm mới các mô hình có sẵn dựa trên các kiến thức Vật lí đã học
Phân tích, tìm hiểu, đưa ra nhiều giả thuyết và cách chế tạo dụng cụ thí nghiệm hoặc mô hình, các sáng kiến mới giúp mô hình hoạt động tốt hơn hoặc thí nghiệm chính xác hơn
Trong quá trình thực hiện HĐNK chế tạo mô hình, HS phát hiện những hạn chế hoặc thiếu sót của bản thân từ đó tự điều chỉnh những sai lầm, vượt qua những khó khăn một cách nhanh chóng
Những biểu hiện của sự sáng tạo của học sinh trong học tập nêu trên cũng sẽ là những căn cứ để chúng tôi đánh giá hiệu quả của hoạt động ngoại khóa về các ứng dụng kĩ thuật phần “Nhiệt học”- Vật lí lớp 8 đối với việc phát triển năng lực sáng tạo của học sinh trong quá trình thực nghiệm sư phạm
1.1.2.3 Một số biện pháp phát triển năng lực sáng tạo của học sinh trong học tập [8], [24]
Để phát triển tư duy sáng tạo trong hoạt động thực tiễn của học sinh cần thiết cho học sinh thường xuyên làm những công việc sau: Giải thích các hiện tượng Vật lí dựa trên các định luật hoặc qui tắc đã biết; dự đoán được diễn biến của các quá trình Vật lí trong các điều kiện đã cho; giải các bài tập sáng tạo (là các bài tập kĩ thuật, các bài tập thí nghiệm, các bài tập xây dựng các mô hình ); có sáng kiến nhằm cải tiến, hoàn thiện các thiết bị kĩ thuật; tự lập kế hoạch thực hiện các bài thực hành; thảo luận các
Trang 24phương án giải quyết các nhiệm vụ do giáo viên đặt ra có liên quan đến Vật lí; thiết kế
mô hình các hiện tượng Vật lí; so sánh các hiện tượng Vật lí có bản chất khác nhau…[8, tr.38-39]
Bên cạnh đó một số biện pháp giúp phát triển năng lực sáng tạo là [24, 111]:
tr.107- Tổ chức hoạt động sáng tạo gắn liền với quá trình xây dựng kiến thức mới: Việc nghiên cứu kiến thức mới sẽ đòi hỏi HS phải tư duy để đưa ra những hướng giải quyết, xây dựng các vấn đề, các kiến thức mới Hơn nữa quá trình này đòi hỏi
HS phải suy nghĩ dựa trên những kiến thức cũ để đưa ra kiến thức mới, giải pháp mới từ đó rèn luyện tư duy trực giác nhạy bén và phong phú
Luyện tập phỏng đoán, dự đoán, xây dựng giả thuyết:
Dựa vào sự liên tưởng tới một kinh nghiệm đã có
Dựa trên sự tương tự: dự đoán sự giống nhau về bản chất dựa trên các điểm bên ngoài giống nhau, dự đoán sự giống nhau về tính chất dựa trên sự giống nhau về cấu tạo
Dựa trên sự xuất hiện đồng thời giữa hai hiện tượng mà dự đoán giữa chúng
có quan hệ nhân quả
Dựa trên nhận xét thấy: hai hiện tượng luôn luôn biến đổi đồng thời, cùng tăng hoặc cùng giảm mà dự đoán về quan hệ nhân quả giữa chúng
Dựa trên sự thuận nghịch thường thấy của nhiều quá trình
Dựa trên sự mở rộng phạm vi ứng dụng của một kiến thức đã biết sang một lĩnh vực khác
Dự đoán về mối quan hệ định lượng: những hiện tượng Vật lí phức tạp nhưng các định luật chi phối chúng lại rất đơn giản và có thể biểu diễn bằng những công thức toán học đơn giản
Luyện tập đề xuất phương án kiểm tra dự đoán:
HS phải suy ra hệ quả có thể quan sát trong thực tế từ một dự đoán, sau đó tiến hành thí nghiệm để xem hệ quả rút ra bằng suy luận đó có phù hợp với kết quả thí nghiệm không Hệ quả suy ra được phải khác với những sự kiện ban đầu dùng làm cơ
Trang 25sở cho dự đoán thì mới có ý nghĩa Số hệ quả phù hợp với thực tế càng nhiều thì dự đoán càng trở thành chắc chắn, sát với chân lí hơn Vấn đề đòi hỏi sự sáng tạo ở đây là
đề xuất được phương án kiểm tra hệ quả đã rút ra được
Giải các bài tập sáng tạo:
Trong dạy học Vật lí, có những loại bài tập nhằm phát triển năng lực sáng tạo của
HS là bài tập sáng tạo Để giải loại bài tập này đòi hỏi HS vận dụng kiến thức cũ đồng thời có những ý kiến độc lập
Khi khảo sát chu trình sáng tạo khoa học, ta đã biết: hai giai đoạn khó khăn hơn
cả đòi hỏi sự sáng tạo là giai đoạn từ sự kiện cảm tính tới việc xây dựng mô hình giả thuyết trừu tượng và giai đoạn chuyển từ một tiên đề lí thuyết, những qui luật nhất định của hiện tượng sang việc kiểm tra bằng thực nghiệm Giai đoạn thứ nhất đòi hỏi
sự giải thích hiện tượng, trả lời câu hỏi: tại sao? Còn giai đoạn thứ hai lại đòi hỏi thực hiện một hiện tượng thực, đáp ứng với những yêu cầu đã cho, nghĩa là trả lời câu hỏi: làm thế nào? Tương ứng với hai trường hợp trên là hai bài tập sáng tạo: bài tập nghiên cứu và bài tập thiết kế chế tạo [24, tr.111]
Từ đó, chúng tôi nhận thấy rằng trong hoạt động thiết kế chế tạo mô hình các ứng dụng kĩ thuật có thể phát huy được tính sáng tạo của học sinh trong các hoạt động:
Dựa vào các kiến thức đã học lựa chọn mô hình các ứng dụng kĩ thuật để đáp ứng một nhu cầu nào đó trong cuộc sống
Đề xuất được các phương án thiết kế chế tạo mô hình các ứng dụng kĩ thuật
Đánh giá các ưu, nhược điểm của phương án đã đề ra và đề xuất giải pháp cải tiến mô hình
Trang 261.1.2.4 Một số tiêu chí và công cụ đánh giá năng lực sáng tạo của học sinh trong học tập
Bảng 1.2 Tiêu chí đánh giá năng lực sáng tạo của HS trong học tập [3]
- Phân tích được tình huống học tập/
thấy có cái mới
- Phân tích được tình huống học tập/ thấy có cái mới
- Nêu chính xác vấn đề
Đề xuất
giải pháp
- Không đề xuất được giải pháp
- Đề xuất giải pháp nhưng chưa phù hợp
- Đề xuất được giải pháp khá phù hợp và còn một số nhược điểm cần khắc phục
- Đề xuất được giải pháp phù hợp (không có nhược điểm)
Lựa chọn giải
pháp
- Không biết lựa chọn giải pháp nào/
Lựa chọn giải pháp nhưng không phù hợp
- Lựa chọn được giải pháp khá phù hợp (vẫn còn giải pháp tốt hơn)
- Lựa chọn được giải pháp phù hợp nhưng
được sự phù hợp của giải pháp
- Lựa chọn được giải pháp phù hợp nhất và nêu được sự phù hợp của giải pháp
Thực hiện
giải pháp
- Không thực hiện được giải pháp
- Thực hiện được một phần giải pháp
- Thực hiện
nhưng chưa hoàn mỹ
- Thực hiện hoàn toàn tốt/ hoàn
mỹ giải pháp
Trang 27Đánh giá giải
pháp
- Không nêu được ưu và nhược điểm của giải pháp
- Nêu được một số ưu và nhược điểm của giải pháp hoặc đưa ra được 1 phương
án điều chỉnh giải pháp phù hợp
- Nêu được một số ưu và nhược điểm của giải pháp
- Đưa ra được
1 phương án điều chỉnh giải pháp phù hợp
- Nêu được toàn
bộ ưu và nhược điểm của giải pháp
- Đưa ra được 1 phương án điều chỉnh giải pháp phù hợp
Tƣ duy độc
lập
- Không đặt được câu hỏi
có giá trị nào
- Đặt được 1 câu hỏi có giá trị
- Đặt được 1 câu hỏi có giá trị
- Đánh giá ý kiến của người khác
- Đặt được nhiều câu hỏi có giá trị
- Đánh giá ý kiến của người khác một cách chính xác
1.2 Dạy học ứng dụng kĩ thuật Vật lí
1.2.1 Khái niệm về ứng dụng kĩ thuật Vật lí
Theo Nguyễn Đức Thâm và cộng sự: Thuật ngữ “Các ứng dụng kĩ thuật của Vật lí” đã nói lên rằng: loại kiến thức này là kết quả của việc ứng dụng những kiến thức khái quát của Vật lí, nhất là những định luật Vật lí vào kĩ thuật để chế tạo những thiết
bị, máy móc có tính năng, tác dụng nhất định, đáp ứng được những yêu cầu của kĩ thuật và đời sống.” [24, tr.62]
Một số các ứng dụng kĩ thuật đã được nghiên cứu và giới thiệu trong chương trình Vật lí THCS là: Thiết bị đóng ngắt tự động mạch điện (hoạt động dựa trên sự nở
vì nhiệt của băng kép), chế tạo tàu ngầm (hoạt động dựa trên tác dụng của lực đẩy si-mét, từ đó người ta có thể thay đổi trọng lượng của tàu nhờ vào mực nước chứa trong khoang tàu để tàu có thể nổi lên hoặc chìm xuống), nhà máy thủy điện (hoạt động dựa trên định luật bảo toàn và chuyển hóa cơ năng), máy biến thế (hiện tượng cảm ứng điện từ)
Trang 28Ác-1.2.2 Bản chất của việc nghiên cứu các ứng dụng kĩ thuật của Vật lí trong dạy học
Dạy học các ứng dụng kĩ thuật thông qua việc phân tích các thí dụ kĩ thuật cần phải quan tâm đến việc làm sáng tỏ các nguyên tắc Vật lí trong hoạt động của các thiết
bị Vật lí khác nhau
Khi biết nguyên tắc hoạt động cơ bản của một số loại thiết bị học sinh có thể tìm thấy ứng dụng của chúng trong các máy khác, phân tích các ưu nhược điểm của các dụng cụ khác nhau [1, tr.7]
Trong việc nghiên cứu các các ứng dụng kĩ thuật, học sinh được tìm hiểu các lĩnh vực kĩ thuật chủ yếu nhất và nắm được cơ sở Vật lí của các đối tượng kĩ thuật khác nhau và các qui trình công nghệ sản xuất Những hiểu biết này nhằm chỉ ra mối quan
hệ tương đối gắn bó của sự phát triển Vật lí và kĩ thuật trong sự phát triển của xã hội [1, tr.7]
Theo phân tích ở trên cho thấy Vật lí được coi là nền tảng của kĩ thuật Còn trong thực tế, kĩ thuật lại có vai trò thúc đẩy những nghiên cứu khoa học, thực hiện công nghiệp hóa khoa học Vật lí, tạo ra những phương tiện kĩ thuật mới để nghiên cứu Vật
lí [1, tr.7]
Việc nghiên cứu các các ứng dụng kĩ thuật của Vật lí trong dạy học thực chất là việc “sắp xếp” các kiến thức Vật lí trong các mối quan hệ khác nhau, mối liên hệ có tính chất Vật lí kĩ thuật Thông qua việc nghiên cứu cấu tạo, hoạt động của các thiết bị
kĩ thuật, học sinh xác định được những mối quan hệ có tính qui luật Vật lí tồn tại trong hoạt động của thiết bị, giải thích được hoạt động của nó trên cơ sở những định luật, nguyên lý Vật lí đã biết Trong các các ứng dụng kĩ thuật của Vật lí, các kiến thức Vật
lí đã được cụ thể hóa trong điều kiện xác định [1, tr.7]
Theo chúng tôi, bản chất của việc nghiên cứu các ứng dụng kĩ thuật của Vật lí trong dạy học nhằm giúp HS thấy rõ mối liên hệ giữa kiến thức và thực tiễn đời sống,
cụ thể là thấy được các kiến thức đã học thông qua cấu tạo và hoạt động của các loại máy móc thiết bị Việc này kích thích sự tò mò, hứng thú đồng thời tạo điều kiện cho
HS phát triển năng lực sáng tạo thông qua việc thiết lập mối liên hệ giữa lý thuyết và thực tiễn
Trang 291.2.3 Các con đường dạy học ứng dụng kĩ thuật Vật lí
Việc nghiên cứu dạy học những các ứng dụng kĩ thuật của Vật lí diễn ra theo hai con đường sau:
1.2.3.1 Dạy học ứng dụng kĩ thuật theo con đường thứ nhất
Theo Nguyễn Đức Thâm và cộng sự [24, tr.63]: Con đường nghiên cứu này thực chất là giải bài toán “Hộp trắng”: dựa vào cấu tạo hộp, tác động đầu vào và kết quả ở đầu ra để giải thích vì sao hộp được cấu như thế này, tại sao yêu cầu đầu vào phải đầy
đủ các yếu tố này và tại sao kết quả ở đầu ra lại như vậy và những sự giải thích này phải dựa nào các kiến thức Vật lí đã học Để đưa ra lời giải thích đúng, trước tiên là học sinh phải xác định được “điều cần phải giải thích” Trở ngại lớn nhất hiện nay của học sinh là làm cách nào liên hệ các cấu tạo và nguyên tắc hoạt động của các ứng dụng
kĩ thuật với các kiến thức Vật lí Quá trình này đòi hỏi học sinh phải tiến hành các thao tác tư duy bao gồm: phân tích, tổng hợp, diễn dịch Lúc này, một mô hình đơn giản thay thế cho các ứng dụng kĩ thuật đang nghiên cứu sẽ giúp học sinh dễ dàng trả lời các câu hỏi hơn Mô hình này có thể chỉ bao gồm các chi tiết cơ bản của các ứng dụng
kĩ thuật và nguyên tắc hoạt động của các chi tiết này thể hiện rõ rệt một kiến thức Vật
lí nào đó Tiến trình nghiên cứu có thể gồm các giai đoạn sau:
Giai đoạn 1: quan sát thiết bị khi đang hoạt động và xác định tác động đầu vào và kết quả thu được ở đầu ra Kết quả thu được ở đầu ra chính là mục đích sử dụng của thiết bị và tác động đầu vào là các yếu tố cần thiết để thiết bị hoạt động Trong quá trình này học sinh có thể gặp khó khăn do thiết bị hoạt động nhanh lúc này giáo viên
có thể giúp đỡ bằng cách lưu ý học sinh tập trung quan sát những hoạt động của các bộ phận chính hoặc mô tả bằng lời hoạt động của thiết bị
Giai đoạn 2: quan sát thiết bị, xác định các bộ phận của thiết bị và tác động lẫn nhau giữa chúng Trong giai đoạn này một số bộ phận của thiết bị có thể bị che lấp bởi
vỏ máy hoặc các bộ phận khác Để tạo điều kiện thuận lợi cho học sinh, giáo viên có thể đưa ra một số thiết bị đã được cắt dọc hoặc cắt ngang, giúp học sinh quan sát rõ bên trong từ đó xây dựng các mô hình đơn giản của máy
Giai đoạn 3: giải thích nguyên tắc hoạt động của thiết bị Học sinh sẽ lựa chọn một trong những kiến thức Vật lí đã học làm cơ sở, từ đó giải thích các hoạt động của
Trang 30từng bộ phận bằng cách suy luận diễn dịch rồi suy ra kết luận Nếu kết luận đó phù hợp với kiến thức Vật lí ban đầu thì quá trình giải thích hoàn thành Nếu kết luận không phù hợp với kiến thức cơ sở đã chọn thì phải xem lại quá trình suy luận diễn dịch hoặc đề xuất một kiến thức cơ sở khác
1.2.3.2 Dạy học ứng dụng kĩ thuật theo con đường thứ hai
Theo Nguyễn Đức Thâm và cộng sự dạy học các ứng dụng kĩ thuật theo con đường thứ hai là [24, tr.62]: Dựa trên cơ sở các định luật, nguyên lý Vật lí, các đặc tính Vật lí của hiện tượng, thiết kế một thiết bị nhằm giải quyết một yêu cầu kĩ thuật nào
đó Con đường này thực chất là tìm tòi và chế tạo ra một loại máy móc thiết bị trong kĩ thuật Yêu cầu đưa ra là chế tạo một loại máy móc thiết bị có cấu tạo và nguyên tắc hoạt động dựa trên kiến thức Vật lí nào đó để giải quyết yêu cầu cụ thể của sản xuất hay đời sống Hoạt động này nhằm nâng cao khả năng sáng tạo của học sinh Để chế tạo một loại máy móc thiết bị nào đó, việc đầu tiên ta phải xác định mục đích của loại thiết bị này là gì, thiết bị này sẽ giải quyết vấn đề gì hoặc dùng để làm gì Từ đó, học sinh sẽ rà soát lại những định luật, định lý, kiến thức Vật lí đã được học và lựa chọn sử dụng kiến thức nào làm cơ sở để chế tạo loại máy đó, tiếp theo học sinh sẽ tìm hiểu các
bộ phận chính của thiết bị - các bộ phận hoạt động dựa trên kiến thức cơ sở Sau đó, học sinh sẽ phải xây dựng một mô hình của thiết bị gồm cấu tạo và nguyên tắc hoạt động của thiết bị và tiến hành chế tạo dựa trên mô hình Con đường này đòi hỏi học sinh phải thực hiện nhiều thao tác tư duy và cụ thể hơn cần tiến hành theo các giai đoạn sau:
Giai đoạn 1: Xác định những định luật, quy tắc Vật lí phải sử dụng để chế tạo thiết bị kĩ thuật
Giai đoạn 2: Đưa ra nhiệm vụ thiết kế một thiết bị có chức năng giải quyết một vấn đề nào đó trong sản xuất và đời sống dựa trên việc sử dụng các hiện tượng Vật lí
Giai đoạn 3: Đưa ra phương án thiết kế thiết bị
Học sinh cần vận dụng các kiến thức đã học và thực hiện thao tác tư duy để tìm
ra phương án thiết kế phù hợp Do đây là giai đoạn quan trọng và đòi hỏi học sinh tư duy nhiều nhất nên học sinh thường gặp một số khó khăn trong việc đưa ra phương án
Trang 31thiết kế, chẳng hạn như: tăng hoặc giảm cường độ của một đại lượng nào đó để có thể
áp dụng trong sản xuất, duy trì một hiện tượng trong thời gian dài, điều kiện hiện tượng sao cho hiện tượng xảy ra đúng hướng và đúng thời điểm mong muốn, chuyển hiệu quả của hiện tượng để sử dụng bên ngoài, kết hợp các hiện tượng xảy ra cùng lúc trong thiết bị hoặc giữa thiết bị với bên ngoài
Nhiệm vụ này cần học sinh phải vận dụng và tổng hợp nhiều kiến thức Vật lí và các lĩnh vực khác, để giúp đỡ học sinh giải quyết khó khăn có thể chia nhiệm vụ ra thành nhiều nhiệm vụ nhỏ, đơn giản hơn
Giai đoạn 4: Dựa trên phương án thiết kế đã chọn đưa ra một mô hình vật chất - chức năng, kèm hình vẽ các bộ phận chính của thiết bị, sau đó cho mô hình vận hành để kiểm tra tính khả thi của thiết kế này
Giai đoạn 5: Dựa trên mô hình vật chất - chức năng lắp ráp thiết bị thật
Giai đoạn 6: Hoàn chỉnh thiết kế, bổ sung các chi tiết giúp thiết bị hoạt động với hiệu suất cao hơn
1.2.4 Vai trò của việc nghiên cứu các ứng dụng kĩ thuật trong dạy học Vật lí
Theo Nguyễn Đức Thâm và cộng sự [24, tr.63-64]: Việc ứng dụng một kiến thức Vật lí vào kĩ thuật để chế tạo một thiết bị, máy móc không phải đơn thuần chỉ là vận dụng một định luật Vật lí, mà thực sự là một hoạt động sáng tạo Sự sáng tạo này nhiều khi đòi hỏi sự vận dụng tổng hợp nhiều kiến thức, nhiều kinh nghiệm Trong phạm vi của Vật lí học, ta chỉ chú ý những hiện tượng Vật lí chủ yếu xảy ra khi vận hành các thiết bị, máy móc, mà không chú ý nhiều đến những chi tiết, những giải pháp kĩ thuật nhằm nâng cao hiệu quả của thiết bị, máy móc Nghiên cứu các ứng dụng kĩ thuật của Vật lí là thiết lập mối quan hệ giữa lí thuyết và thực tiễn, giữa cái trừu tượng (các khái niệm, định luật Vật lí) và cái cụ thể (các hiện tượng xảy ra trong máy móc, thiết bị) Nhờ đó mà làm cho việc nhận thức các kiến thức Vật lí trừu tượng trở thành sâu sắc hơn, mềm dẻo hơn Việc nghiên cứu các ứng dụng kĩ thuật của Vật lí góp phần phát triển tư duy Vật lí kĩ thuật của học sinh, làm cho học sinh thấy được vai trò quan trọng của kiến thức Vật lí đối với đời sống và sản xuất; qua đó kích thích hứng thú, nhu cầu của học sinh khi học tập Vật lí
Trang 32Theo chúng tôi việc nghiên cứu các ứng dụng kĩ thuật Vật lí giúp học sinh liên hệ giữa những cái trừu tượng với những mô hình thực tế làm cho các kiến thức này trở nên gần gũi và khắc sâu hơn Hơn thế nữa, việc nghiên cứu này giúp phát triển khả năng tư duy, sáng tạo của học sinh, làm cho học sinh thấy được tầm quan trọng của Vật lí trong đời sống qua đó tạo cảm hứng và niềm yêu thích học tập môn Vật lí của học sinh Vì vậy, chúng tôi lựa chọn sử dụng phương pháp dạy học ứng dụng kĩ thuật Vật lí theo con đường thứ hai trong việc tổ chức hoạt động ngoại khóa phần nhiệt học Vật lí 8
1.3 Hoạt động ngoại khóa ở trường trung học với việc phát huy tính tích cực, phát triển năng lực sáng tạo và nâng cao chất lượng học tập của học sinh
1.3.1 Vị trí, vai trò của hoạt động ngoại khóa trong hệ thống các hình thức tổ chức dạy học ở trường trung học cơ sở
Theo Nguyễn Quang Đông trong nhà trường nước ta hiện nay, hệ thống các hình thức tổ chức dạy học đang được sử dụng rộng rãi và có hiệu quả gồm [5, tr.5]:
Hình thức lớp - bài (lên lớp)
Hình thức dạy học theo nhóm
Hình thức tự học
Hình thức thực hành
Hình thức thảo luận và xêmina
Hình thức giúp đỡ riêng (phụ đạo)
Hình thức hoạt động ngoại khóa học tập
Hình thức tham quan học tập
Hình thức trò chơi
Hình thức kể chuyện
Hình thức nghiên cứu khoa học
Mỗi hình thức tổ chức dạy học có ưu điểm và hạn chế nhất định HĐNK là một hình thức tổ chức dạy học thực hiện ngoài giờ học, tùy thuộc vào sở thích và nguyện vọng của HS trong khả năng và điều kiện tổ chức của nhà trường HĐNK là phương tiện gắn liền lý thuyết với thực tiễn, giúp HS vận dụng những kiến thức đã học vào thực tế một
Trang 33cách trực quan sinh động với nội dung rất đa dạng giúp HS mở rộng đào sâu thêm những điều được học trong giờ nội khóa [5, tr.5]
Theo Nguyễn Quang Đông hoạt động ngoại khóa Vật lí có tác dụng to lớn về [5, tr.6-7]:
Giáo dục nhận thức: HĐNK giúp HS củng cố, đào sâu, mở rộng kiến thức đã học trên lớp, ngoài ra giúp HS vận dụng kiến thức đã học vào giải quyết những vấn đề thực tiễn đời sống đặt ra, tạo điều kiện để học đi đôi với hành, lí luận đi đôi với thực tiễn
Rèn luyện kĩ năng: HĐNK rèn luyện cho HS kĩ năng tự quản, kĩ năng tổ chức,
kĩ năng điều khiển, kĩ năng làm việc theo nhóm, ngoài ra còn góp phần phát triển kĩ năng giao tiếp, kĩ năng chế tạo dụng cụ và làm thí nghiệm, kĩ năng giải quyết vấn đề,
Giáo dục tinh thần thái độ: HĐNK tạo hứng thú học tập, khơi dậy lòng ham hiểu biết, muốn hoạt động của HS, lôi cuốn HS tự giác tham gia nhiệt tình vào các hoạt động, phát huy tính tích cực, tự lực của HS
Rèn luyện năng lực tư duy, hoạt động ngoại khóa có thể rèn luyện cho HS các loại tư duy: tư duy logic; tư duy trừu tượng; tư duy kinh nghiệm; tư duy phân tích; tư duy tổng hợp; tư duy sáng tạo
Như vậy, HĐNK đã giúp HS có thể mở rộng, đào sâu kiến thức, phát triển năng lực cá nhân và kích thích khả năng sáng tạo của các em
1.3.2 Đặc điểm của hoạt động ngoại khóa Vật lí
Theo Nguyễn Quang Đông HĐNK là một hình thức dạy học có những đặc điểm sau [5, tr.6]:
HĐNK được thực hiện ngoài giờ học, dựa trên tinh thần tự nguyện và nguyện vọng của mỗi HS và có sự hướng dẫn của GV trong khả năng và điều kiện tổ chức của nhà trường
HĐNK có thể được tổ chức dưới nhiều dạng: dạng tập thể lớp, dạng nhóm theo năng khiếu, dạng học tập, dạng vui chơi, dạng thường kì, dạng đột xuất nhân những dịp kỉ niệm hay lễ hội
Trang 34 HĐNK có thể được tổ chức theo hình thức như: tổ ngoại khóa, câu lạc bộ khoa học, hội vui, hội thi tìm hiểu kiến thức, dạ hội khoa học, dạ hội nghệ thuật,…
Nội dung của HĐNK rất đa dạng bao gồm cả mặt văn hóa, khoa học công nghệ, thể dục thể thao, kĩ thuật… nhằm giúp HS mở rộng, đào sâu, làm phong phú thêm những điều đã được học trong các giờ nội khóa của môn học tương ứng
Nội dung và hình thức tổ chức hoạt động ngoại khoá phải đa dạng, mềm dẻo, hấp dẫn để lôi cuốn được nhiều học sinh tham gia
Việc đánh giá kết quả của HĐNK không đánh giá bằng điểm số mà thông qua sản phẩm của học sinh làm được, thông qua sự hứng thú, tích cực, tính sáng tạo của học sinh Để khích lệ quá trình hoạt động của HS thì cũng cần có sự khuyến khích và phần thưởng động viên kịp thời cho các em
1.3.3 Nội dung của hoạt động ngoại khóa Vật lí
HĐNK Vật lí là hình thức dùng để bổ sung và mở rộng kiến thức cho nội khóa, giới thiệu những ứng dụng của Vật lí trong khoa học và kĩ thuật, quá trình phát triển của Vật lí học… cho học sinh, làm tăng hứng thú của học sinh đối với môn học đồng thời rèn luyện khả năng giải quyết vấn đề Bên cạnh đó, khi tham gia HĐNK sẽ giúp
HS phát triển tính độc lập, tăng khả năng tư duy và sáng tạo, kĩ năng làm việc nhóm từ
đó góp phần nâng cao chất lượng học tập bộ môn Vật lí
Theo Nguyễn Quang Đông [5]: nội dung HĐNK Vật lí có thể nằm trong phạm vi chương trình hoặc nội dung vượt phạm vi chương trình với mục đích mở rộng tầm hiểu biết, phát huy sáng tạo và giáo dục tư tưởng cho HS, cụ thể là:
Tìm hiểu và nghiên cứu những kiến thức lí thuyết về Vật lí và kĩ thuật
Nghiên cứu những lĩnh vực riêng biệt của Vật lí học ứng dụng như kĩ thuật điện, kĩ thuật vô tuyến, kĩ thuật chụp ảnh…
Nghiên cứu thiết kế chế tạo dụng cụ và làm thí nghiệm Vật lí, nghiên cứu những ứng dụng kĩ thuật của Vật lí
Vì vậy, khi lựa chọn nội dung nào để tổ chức HĐNK Vật lí, GV phải dựa vào một số yếu tố, đó là:
Mục tiêu của HĐNK Vật lí
Trang 35 Xuất phát từ đặc điểm nội dung kiến thức Vật lí có tính trừu tượng, có nhiều ứng dụng trong thực tiễn nhưng trong nội khóa chưa đáp ứng được
Nội dung ngoại khóa phải hấp dẫn để thu hút được đông đảo HS tự nguyện tham gia
1.4 Điều tra tình hình dạy học các kiến thức về phần “Nhiệt học” và thực trạng hoạt động ngoại khóa ở trường THCS Âu Lạc
1.4.1 Mục đích điều tra
Tìm hiểu phương pháp mà GV sử dụng, những thuận lợi và khó khăn khi giảng dạy kiến thức phần này
Tìm hiểu việc tổ chức và tham gia HĐNK của GV và HS
Tìm hiểu về mức độ tích cực của HS trong quá trình học tập thông qua khảo sát
GV và HS
Tìm hiểu về mức độ sáng tạo của HS
Từ những kết quả tìm hiểu được về tình hình dạy học, thực trạng việc tổ chức HĐNK, thực trạng về tính tích cực và năng lực sáng tạo của HS trong quá trình học tập môn Vật lí là cơ sở để chúng tôi xây dựng nội dung, phương pháp và hình thức tổ chức HĐNK với chủ đề “Nhiệt học” trong chương trình Vật lí 8 sao cho phù hợp nhất nhằm phát huy tính tích cực và phát triển năng lực sáng tạo của HS
1.4.2 Phương pháp điều tra
Điều tra GV: trao đổi trực tiếp, dự giờ một số tiết học, tham khảo một số giáo
án dùng phiếu điều tra (phụ lục 2)
Điều tra HS: trao đổi trực tiếp, quan sát thái độ của HS trong một số giờ học, tìm hiểu thông qua phiếu điều tra (phiếu 1 - phụ lục 1)
Trao đổi với các GV trong tổ chuyên môn và tìm hiểu về các phương tiện, thiết
bị, dụng cụ thí nghiệm hỗ trợ dạy phần Nhiệt học
1.4.3 Đối tượng điều tra
Điều tra 10 GV giảng dạy bộ môn Vật lí trong và ngoài trường THCS Âu Lạc - Tp.HCM
Điều tra 92 HS khối 8 THCS Âu Lạc - TP.HCM
Trang 361.4.4 Kết quả điều tra
1.4.4.1 Khảo sát GV
Tình hình dạy học của GV
Qua việc tổng hợp kết quả ở các phiếu khảo sát ý kiến giáo viên, tham khảo giáo
án của các GV Vật lí dạy lớp 8 ở trong và ngoài trường THCS Âu Lạc về tình hình dạy
và học các kiến thức liên quan đến phần “Nhiệt học” (phụ lục 2) chúng tôi nhận thấy:
Bảng 1.3 Khảo sát GV về tình hình dạy học phần “Nhiệt học” Vật lí 8
- Phương pháp nêu và giải quyết vấn đề: 34,6%
- Thí nghiệm biểu diễn - thí nghiệm thực hành: 36,4%
=> Nội dung của phần “Nhiệt học” Vật lí 8 chủ yếu rút ra từ các thí nghiệm và hiện tượng trong cuộc sống, tuy nhiên vẫn
có hơn 20% GV sử dụng phương pháp truyền thống cụ thể là thông báo kiến thức đến HS và số lượng thí nghiệm được thực hiện không lớn
- Nhiều thí nghiệm không thành công: 36,4%
- Có đầy đủ dụng cụ thí nghiệm và trang thiết bị nhưng không
đủ thời gian để tiến hành trong tiết học: 27,3%
Khi dạy phần - Thường liên hệ thực tế hoặc đưa ra những tình huống thực tế
Trang 37mở rộng sang các tình huống khác bên ngoài
- Thỉnh thoảng đưa ra một số tình huống thực tế: 27,3%
=> Đặc thù của Vật lí THCS là những kiến thức gắn liền thực
tế, việc đưa những tình huống thực tế vào bài dạy có tác dụng
to lớn trong việc giúp HS tiếp thu nhanh và cảm thấy môn học gần gũi hơn, nhưng có hơn 20% GV rất hạn chế liên hệ thực tế
Bảng 1.4 Khảo sát GV về tính tích cực của HS trong học tập
- Đôi khi không chú ý nghe giảng (mức 2): 42,9%
Đối với các nhiệm vụ
Trang 38nêu giải thích một số tình
huống thực tế các em
thường
hiện tượng liên quan (mức 3): 71,4%
- Nêu lại nội dung lý thuyết đã học bằng ngôn ngữ riêng (diễn đạt bằng cách riêng của em) (mức 2): 28,6%
1.4.4.2 Khảo sát HS
Dựa vào câu trả lời của HS (câu 8, 9) trong phiếu điều tra 1, chúng tôi nhận thấy:
Bảng 1.5 Khảo sát về tính tích cực của HS trong học tập
- Chú ý lắng nghe nội dung GV đang giảng (mức 3): 41,8%
- Đôi khi không chú ý nghe giảng (mức 2): 35,2%
- Không biết GV đang giảng nội dung nào (mức 1): 9,9%
- Chỉ ghi chép bài, trả lời khi được GVgọi (mức 2): 47,3%
- Không tham gia bất kì hoạt động nào (mức 1): 4,4%
Sự
nỗ
lực
Khi quý thầy
cô giao bài
- Chỉ hoàn thành các bài tập, nhiệm vụ dễ (mức 2): 30,8%
- Không hoàn thành bất kỳ bài tập, nhiệm vụ nào (mức 1):
Trang 397,7%
Sự
tư
duy
Khi quý thầy
cô yêu cầu
- Nêu lại nội dung lý thuyết đã học bằng ngôn ngữ riêng (diễn đạt bằng cách riêng của em) và hiểu được một số hiện tượng liên quan (mức 3): 40,7%
- Nêu lại nội dung lý thuyết đã học bằng ngôn ngữ riêng (diễn đạt bằng cách riêng của em) (mức 2): 12,1%
- Chỉ có thể nêu lại nội dung lý thuyết đã học (mức 1): 29,7%
Bảng 1.6 Khảo sát về năng lực sáng tạo của HS
Phát hiện và
làm rõ vấn
đề (Câu 9)
- Không trả lời được (Mức 1): 37,5%
- Nêu được cách chạy thoát nhưng không phù hợp (không phụ thuộc vào kĩ thuật lái) (Mức 2): 50%
- Nêu được một cách chạy thoát phù hợp (Mức 3): 6,3%
- Nêu được nhiều cách chạy thoát phù hợp (Mức 4): 6,3%
- Không nêu được cách chế tạo (Mức 1): 75%
- Nêu được cách chế tạo nhưng không phù hợp (không phải tàu ngầm, sai nguyên lý) (Mức 2): 25%
Đánh giá
giải pháp
(Câu 8)
- Không nêu được ưu và nhược điểm của giải pháp (Mức 1): 93,8%
- Chỉ nêu được ưu điểm của giải pháp (Mức 2): 6,3%
Trang 40Mặc khác, có 56% HS trả lời chưa từng thiết kế bất kì một đồ dùng, thiết bị đơn giản nào từ kiến thức đã học mặc dù ứng dụng của các phần kiến thức Vật lí THCS khá đơn giản và các ứng dụng đa số dễ thực hiện
Từ kết quả điều tra chúng tôi thấy rằng năng lực sáng tạo của HS hiện tại ở mức khá thấp: đa số HS có năng lực sáng tạo ở mức 1, chỉ có một số HS đạt mức 2, 3 và không
có HS nào trong 92 HS được khảo sát đạt mức 4
1.4.4.3 Thực trạng tổ chức hoạt động ngoại khóa Vật lí trong nhà trường hiện nay
Qua điều tra chúng tôi nhận thấy:
Kết quả điều tra cho thấy, trong quá trình dạy học Vật lí có 80,9% GV cho rằng
HS tích cực và quan tâm tới HĐNK trong đó có đến 36,4% GV trả lời HS rất tích cực và quan tâm đến HĐNK, tuy nhiên chỉ có 72,7% GV trả lời có tổ chức hoạt động ngoại khóa nhưng thường chỉ tổ chức 1 lần /1 năm học dưới hình thức tham quan các công trình kĩ thuật (nhà máy thủy điện ) Bên cạnh đó có đến 81,8% GV cho rằng HS cảm thấy thích thú và sẽ tích cực hơn khi được tham gia ngoại khóa dưới hình thức tham gia thiết kế, chế tạo các mô hình kĩ thuật, đồ chơi Vật lí
Ngoài hình thức học tập trên lớp (chủ yếu là lý thuyết và giải các dạng bài tập phục vụ cho các kỳ thi) HS ít được tham gia hình thức học tập nào khác Vì vậy, có 100% HS mong muốn được tham gia vào hoạt động ngoại khóa dưới một số hình thức như: tham quan các công trình kĩ thuật (59,3%), nghiên cứu tìm hiểu các các ứng dụng kĩ thuật (56%), tham gia thi thiết kế chế tạo các mô hình kĩ thuật, đồ chơi Vật lí (47,3%)
Khi được hỏi vì sao HĐNK Vật lí chưa được tổ chức rộng rãi trong các trường THCS hiện nay thì chúng tôi nhận thấy do một số nguyên nhân sau đây:
Chương trình nội khóa Vật lí còn nặng nề về lí thuyết và rất ít tiết bài tập, GV thường tập trung rèn luyện kĩ năng giải bài tập để HS đạt kết quả cao trong các
kì thi vì vậy có đến 63,6% GV trả lời ngại tổ chức HĐNK vì áp lực điểm số và thi cử Bên cạnh đó GV phải chuẩn bị các kiến thức và bài tập cho chương trình nội khóa nên đa số GV không còn thời gian để tìm hiểu, chuẩn bị nội dung cho các HĐNK