TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG NGOẠI KHÓA VỀ ỨNG DỤNG KĨ THUẬT CHƯƠNG “CƠ HỌC CHẤT LƯU” VẬT LÍ 10 THEO HƯỚNG PHÁT HUY TÍNH TÍCH CỰC VÀ PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC SÁNG TẠO CỦA HỌC SINHTỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG NGOẠI KHÓA VỀ ỨNG DỤNG KĨ THUẬT CHƯƠNG “CƠ HỌC CHẤT LƯU” VẬT LÍ 10 THEO HƯỚNG PHÁT HUY TÍNH TÍCH CỰC VÀ PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC SÁNG TẠO CỦA HỌC SINHTỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG NGOẠI KHÓA VỀ ỨNG DỤNG KĨ THUẬT CHƯƠNG “CƠ HỌC CHẤT LƯU” VẬT LÍ 10 THEO HƯỚNG PHÁT HUY TÍNH TÍCH CỰC VÀ PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC SÁNG TẠO CỦA HỌC SINHTỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG NGOẠI KHÓA VỀ ỨNG DỤNG KĨ THUẬT CHƯƠNG “CƠ HỌC CHẤT LƯU” VẬT LÍ 10 THEO HƯỚNG PHÁT HUY TÍNH TÍCH CỰC VÀ PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC SÁNG TẠO CỦA HỌC SINHTỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG NGOẠI KHÓA VỀ ỨNG DỤNG KĨ THUẬT CHƯƠNG “CƠ HỌC CHẤT LƯU” VẬT LÍ 10 THEO HƯỚNG PHÁT HUY TÍNH TÍCH CỰC VÀ PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC SÁNG TẠO CỦA HỌC SINHTỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG NGOẠI KHÓA VỀ ỨNG DỤNG KĨ THUẬT CHƯƠNG “CƠ HỌC CHẤT LƯU” VẬT LÍ 10 THEO HƯỚNG PHÁT HUY TÍNH TÍCH CỰC VÀ PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC SÁNG TẠO CỦA HỌC SINHTỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG NGOẠI KHÓA VỀ ỨNG DỤNG KĨ THUẬT CHƯƠNG “CƠ HỌC CHẤT LƯU” VẬT LÍ 10 THEO HƯỚNG PHÁT HUY TÍNH TÍCH CỰC VÀ PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC SÁNG TẠO CỦA HỌC SINH
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH
Đàm Việt Thắng
TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG NGOẠI KHÓA VỀ ỨNG DỤNG KĨ THUẬT CHƯƠNG “CƠ HỌC CHẤT LƯU” - VẬT LÍ 10 THEO HƯỚNG PHÁT HUY TÍNH TÍCH CỰC VÀ PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC SÁNG TẠO CỦA HỌC SINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Thành phố Hồ Chí Minh – 2017
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH
Đàm Việt Thắng
TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG NGOẠI KHÓA VỀ ỨNG DỤNG KĨ THUẬT CHƯƠNG “CƠ HỌC CHẤT LƯU” - VẬT LÍ 10 THEO HƯỚNG PHÁT HUY TÍNH TÍCH CỰC VÀ PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC SÁNG TẠO CỦA HỌC SINH
Chuyên ngành : Lí luận và phương pháp dạy học bộ môn Vật lí
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS PHẠM XUÂN QUẾ
Thành phố Hồ Chí Minh – 2017
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan, đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nghiên cứu nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng công bố trong bất kì công trình nào khác
Tác giả
Đàm Việt Thắng
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình làm luận văn, tôi đã nhận được sự khích lệ, động viên và giúp đỡ, hỗ trợ nhiệt tình từ gia đình, thầy cô, đồng nghiệp và bạn bè Tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn chân thành đến:
- Thầy hướng dẫn – PGS.TS Phạm Xuân Quế, người thầy đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ và truyền đạt kinh nghiệm cho tôi trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn chỉnh luận văn
- Ban Chủ Nhiệm khoa Vật lí, thầy cô trong tổ Phương pháp giảng dạy bộ môn Vật lí, Phòng Sau đại học, quý thầy cô đã giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu, hoàn thành luận văn này
- Ban Giám hiệu, quý thầy cô tổ Vật lí Trường THCS - THPT Nguyễn Khuyến – Bình Dương đã tạo điều kiện, giúp đỡ tôi trong quá trình thực nghiệm
Thành phố Hồ Chí Minh, tháng 9 năm 2017
Tác giả
Đàm Việt Thắng
Trang 5MỤC LỤC
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Lời cảm ơn
Mục lục
Danh mục các bảng
Danh mục các hình
MỞ ĐẦU 7
Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG NGOẠI KHÓA VẬT LÍ Ở TRƯỜNG PHỔ THÔNG THEO HƯỚNG PHÁT HUY TÍNH TÍCH CỰC, PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC SÁNG TẠO CỦA HỌC SINH 6
1.1 Tính tích cực của học sinh trong học tập 6
1.1.1 Khái niệm tính tích cực của học sinh trong học tập 6
1.1.2 Những biểu hiện của tính tích cực của học sinh trong học tập 7
1.1.3 Tiêu chí đánh giá tính tích cực của học sinh trong học tập 9
1.1.4 Các biện pháp phát huy tính tích cực của học sinh trong học tập 10
1.2 Năng lực sáng tạo của học sinh trong học tập 11
1.2.1 Khái niệm năng lực sáng tạo của học sinh trong học tập 11
1.2.2 Những biểu hiện của năng lực sáng tạo của học sinh trong học tập 12
1.2.3 Tiêu chí đánh giá năng lực sáng tạo của học sinh trong học tập 14
1.2.4 Một số biện pháp phát triển năng lực sáng tạo của học sinh trong học tập 16
1.3 Dạy học các ứng dụng kĩ thuật của vật lí 18
1.3.1 Khái niệm về ứng dụng kĩ thuật của vật lí 18
1.3.2 Bản chất của việc nghiên cứu các ứng dụng kĩ thuật của vật lí trong dạy học 18
1.3.3 Các con đường nghiên cứu ứng dụng kĩ thuật của vật lí trong dạy học 19
1.3.4 Vai trò của nghiên cứu các ứng dụng kĩ thuật của vật lí trong dạy học 22
1.4 Hoạt động ngoại khóa ở trường phổ thông 23
1.4.1 Vị trí, vai trò của hoạt động ngoại khóa trong hệ thống các hình thức tổ chức dạy học ở trường phổ thông 23
1.4.2 Đặc điểm của hoạt động ngoại khóa vật lí 24
1.4.3 Nội dung hoạt động ngoại khóa vật lí 25
1.4.4 Quy trình hoạt động ngoại khóa vật lí 25
1.4.5 Phương pháp hướng dẫn hoạt động ngoại khóa vật lí 27
1.5 Điều tra thực trạng về tính tích cực, năng lực sáng tạo của học sinh trong học tập vật lí 29
1.5.1 Mục đích điều tra 29
Trang 61.5.2 Phương pháp điều tra 29
1.5.3 Đối tượng điều tra 29
1.5.4 Kết quả điều tra 29
Kết luận chương 1 32
Chương 2 THIẾT KẾ KẾ HOẠCH TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG NGOẠI KHÓA VỀ ỨNG DỤNG KĨ THUẬT CHƯƠNG “CƠ HỌC CHẤT LƯU” - VẬT LÍ 10 NHẰM PHÁT HUY TÍNH TÍCH CỰC VÀ PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC SÁNG TẠO CỦA HỌC SINH 34
2.1 Cấu trúc nội dung chương “Cơ học chất lưu” trong chương trình Vật lí 10 34
2.2 Mục tiêu dạy học chương “Cơ học chất lưu” trong chương trình Vật lí 10 35
2.2.1 Mục tiêu về kiến thức 35
2.2.2 Mục tiêu về kĩ năng 35
2.3 Xây dựng quy trình hoạt động ngoại khóa về ứng dụng kĩ thuật chương “Cơ học chất lưu” Vật lí 10 35
2.3.1 Xác định mục tiêu của hoạt động ngoại khóa 35
2.3.2 Xác định nội dung hoạt động ngoại khóa kiến thức chương “Cơ học chất lưu” Vật lí 10 36
2.3.3 Phương pháp tổ chức hoạt động ngoại khóa 48
2.3.4 Hình thức tổ chức hoạt động ngoại khóa 49
2.3.5 Dự kiến nội dung hoạt động ngoại khóa 49
2.3.6 Kế hoạch tổ chức chương trình hội vui vật lí 55
Kết luận chương 2 65
Chương 3 THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 66
3.1 Mục đích của thực nghiệm sư phạm 66
3.2 Nhiệm vụ của thực nghiệm sư phạm 66
3.3 Đối tượng và thời gian thực nghiệm 66
3.4 Phương pháp thực nghiệm sư phạm 67
3.5 Phương pháp đánh giá kết quả thực nghiệm sư phạm: 67
3.6 Phân tích và đánh giá kết quả thực nghiệm sư phạm 68
3.6.1 Phân tích diễn biến của HĐNK 68
3.6.2 Đánh giá quá trình tổ chức HĐNK chương “Cơ học chất lưu” 95
3.6.3 Đánh giá tính tích cực và năng lực sáng tạo của HS trong quá trình thực nghiệm sư phạm 96
Kết luận chương 3 110
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT 111
TÀI LIỆU THAM KHẢO 113
PHỤ LỤC i
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1 Tiêu chí đánh giá tính tích cực 9
Bảng 1.2 Tiêu chí đánh giá năng lực sáng tạo 14
Bảng 3.1 Thông tin về các nhóm tham gia HĐNK vật lí 72
Bảng 3.2 Phần thảo luận, làm việc của nhóm 1 - buổi 2 73
Bảng 3.3 Phần thảo luận, làm việc của nhóm 2 - buổi 2 74
Bảng 3.4 Phần thảo luận, làm việc của nhóm 3 - buổi 2 76
Bảng 3.5 Phần thảo luận, làm việc của nhóm 4 - buổi 2 77
Bảng 3.6 Phần thảo luận, làm việc của nhóm 1 - buổi 3 80
Bảng 3.7 Phần thảo luận, làm việc của nhóm 2 - buổi 3 81
Bảng 3.8 Phần thảo luận, làm việc của nhóm 3 - buổi 3 83
Bảng 3.9 Phần thảo luận, làm việc của nhóm 4 - buổi 3 84
Bảng 3.10 Phần thảo luận, làm việc của nhóm 1 - buổi 4 86
Bảng 3.11 Phần thảo luận, làm việc của nhóm 2 - buổi 4 88
Bảng 3.12 Phần thảo luận, làm việc của nhóm 3 - buổi 4 88
Bảng 3.13 Phần thảo luận, làm việc của nhóm 4 - buổi 4 90
Bảng 3.14 Đánh giá sự phát triển tính tích cực của HS qua quá trình thực nghiệm sư phạm 97
Bảng 3.15 Tổng kết tính tích cực của HS qua quá trình thực nghiệm sư phạm 101
Bảng 3.16 Đánh giá thực trạng và sự phát triển năng lực sáng tạo của HS qua quá trình thực nghiệm sư phạm 103
Bảng 3.17 Tổng kết năng lực sáng tạo của HS qua quá trình thực nghiệm sư phạm 109
Trang 9DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ VÀ ĐỒ THỊ
Hình 1.1 Đồ thị biểu diễn kết quả khảo sát tính tích cực của HS trong học tập
trước khi tham gia HĐNK 30
Hình 1.2 Đồ thị biểu diễn kết quả khảo sát năng lực sáng tạo của HStrong học tập trước khi tham gia HĐNK 31
Hình 2.1 Sơ đồ mối liên hệ giữa các kiến thức chương “Cơ học chất lưu” 34
Hình 2.2 Sơ đồ máy nén thủy lực 36
Hình 2.3 Nhánh chữ Y của bộ châm phân 40
Hình 2.4 Bộ châm phân tự động 41
Hình 2.5 Ống dẫn khí và nước 42
Hình 2.6 Lắp ống dẫn vào bệ đỡ 43
Hình 2.7 Bình phun sơn trước và sau khi lắp ráp các bộ phận 43
Hình 2.8 Van đóng mở nối với 2 xilanh nâng vật nặng 44
Hình 2.9 Van đóng mở nối với 2 xilanh nâng vật nặng được lắp vào giá đỡ 45
Hình 2.10 Van đóng mở nối với xilanh tác dụng lực bằng tay 45
Hình 2.11 Mô hình kích thủy lực 46
Hình 2.12 Một nhánh dẫn nước và hút khí 48
Hình 2.13 Mô hình máy sục khí cho bể cá 48
Hình 3.1 Sơ đồ bộ châm phân tự động 73
Hình 3.2 Sơ đồ kích thủy lực 78
Hình 3.3 Sơ đồ kích thủy lực cải tiến 79
Hình 3.4 Sơ đồ bộ châm phân tự động 80
Hình 3.5 Mặt cắt một số chi tiếttrong bình phun sơn 82
Hình 3.6 Mô hình bình phun sơn 82
Hình 3.7 Mô hình máy sục khí cho bể cá 84
Trang 10Hình 3.8 Đế của mô hình kích thủy lực 85
Hình 3.9 Gia công mô hình kích thủy lực 85
Hình 3.10 Mô hình hoàn chỉnh bộ châm phân tự động 87
Hình 3.11 HS cưa ống nước 87
Hình 3.12 HS lắp ráp ống nước 87
Hình 3.13 HS chế tạo bình đựng sơn 88
Hình 3.14 HS chế tạo hệ thống ống hút nước và khí 89
Hình 3.15 HS nối dây điện 89
Hình 3.16 HS trang trí bể cá 89
Hình 3.17 HS chế tạo bộ phận lọc nước 90
Hình 3.18 Sản phẩm: “Bộ châm phân tự động” 91
Hình 3.19 Sản phẩm: “Bình phun sơn tự động” 92
Hình 3.20 Sản phẩm: “Máy sục khí cho bể cá” 92
Hình 3.21 Sản phẩm: “Mô hình kích thủy lực” 93
Trang 11MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Nghị quyết Trung ương 8 khóa XI về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo nêu rõ: “Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ và đồng bộ các yếu tố cơ bản của giáo dục, đào tạo theo hướng coi trọng phát triển phẩm chất, năng lực của người học”, “Đổi mới chương trình nhằm phát triển năng lực và phẩm chất người học, hài hòa đức, trí, thể, mĩ; dạy người, dạy chữ và dạy nghề Đổi mới nội dung giáo dục theo hướng tinh giản, hiện đại, thiết thực, phù hợp với lứa tuổi, trình độ và ngành nghề; tăng thực hành, vận dụng kiến thức vào thực tiễn”, “Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ phương pháp dạy và học theo hướng hiện đại; phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo và vận dụng kiến thức,
kỹ năng của người học; khắc phục lối truyền thụ áp đặt một chiều, ghi nhớ máy móc Tập trung dạy cách học, cách nghĩ, khuyến khích tự học, tạo cơ sở để người học tự cập nhật và đổi mới tri thức, kỹ năng, phát triển năng lực Chuyển từ học chủ yếu trên lớp sang tổ chức hình thức học tập đa dạng, chú ý các hoạt động xã hội, ngoại khóa, nghiên cứu khoa học Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông trong dạy và học” [18]
Dưới sự chỉ đạo của Đảng và Nhà nước, ngành Giáo dục đã từng bước thay đổi
để phù hợp với vai trò, nhiệm vụ trong giai đoạn mới Cụ thể hơn, trong những năm gần đây, hoạt động dạy và học trong các trường đã được nhìn nhận lại Thay vì truyền đạt thụ động một chiều, nặng nề về lí thuyết, nhiều trường đã mạnh dạn áp dụng các phương pháp dạy - học mới theo hướng phát huy tính tích cực, năng động, sáng tạo của học sinh
Đối với Vật lí, một ngành khoa học thực nghiệm, thì việc kết hợp giữa quan sát, thực hành thí nghiệm với suy luận lí thuyết càng trở nên quan trọng hơn Vì vậy, nếu việc dạy - học Vật lí đơn thuần chỉ là truyền đạt, tiếp nhận kiến thức thuần túy mà không được thực hành, kiểm chứng sẽ trở nên nhàm chán và khó hiểu Do đó, đổi mới phương pháp phải hướng tới việc giúp học sinh được thực hành, trải nghiệm thực tế nhiều hơn
Hoạt động ngoại khóa là một hình thức tổ chức dạy học ngoài phạm vi của chương trình bộ môn nhằm hỗ trợ cho chương trình nội khóa, góp phần phát triển và
Trang 12hoàn thiện rất nhiều kĩ năng và năng lực của học sinh Nhưng thực tế hiện nay, hoạt động ngoại khoá nói chung và hoạt động ngoại khoá Vật lí nói riêng chưa được quan tâm đúng mức
Trong chương trình Vật lí trung học phổ thông, phần cơ học chất lưu chứa đựng những kiến thức có thể ứng dụng nhiều trong cuộc sống và kĩ thuật nhưng do thời lượng học ít nên chưa đủ để học sinh hiểu rõ cũng như vận dụng vào thực tế Và quá trình học nội khóa cũng không đủ thời gian để học sinh có thể rèn luyện các kĩ năng thực hành, chế tạo dụng cụ thí nghiệm hay mô hình từ những kiến thức đã học Vì vậy, việc tổ chức thêm những tiết ngoại khóa song song với việc học tập trên lớp sẽ giúp học sinh hứng thú tiếp cận với kiến thức, rèn luyện các kĩ năng thực hành cũng như phát triển tư duy sáng tạo trong quá trình học tập, góp phần vào việc nâng cao chất lượng, hiệu quả dạy học Vật lí ở trường trung học phổ thông
Từ những lí do trên, chúng tôi quyết định nghiên cứu đề tài: TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG NGOẠI KHÓA VỀ ỨNG DỤNG KĨ THUẬT CHƯƠNG “CƠ HỌC CHẤT LƯU” - VẬT LÍ 10 THEO HƯỚNG PHÁT HUY TÍNH TÍCH CỰC VÀ PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC SÁNG TẠO CỦA HỌC SINH
2 Mục đích nghiên cứu
Ngiên cứu việc xây dựng và tổ chức hoạt động ngoại khóa về ứng dụng kĩ thuật chương “Cơ học chất lưu” - Vật lí 10 nhằm phát huy tính tích cực và phát triển năng lực sáng tạo của học sinh
3 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Cơ sở lí luận của dạy học về tâm lí học, giáo dục học và lí luận dạy học Vật lí theo định hướng phát huy tính tích cực và phát triển năng lực sáng tạo của học sinh
- Cơ sở lí luận về tổ chức hoạt động ngoại khóa
- Cơ sở lí luận về dạy học các ứng dụng kĩ thuật của Vật lí
- Điều tra thực tiễn về tính tích cực và năng lực sáng tạo của học sinh khi học chương “Cơ học chất lưu”
- Nghiên cứu cấu tạo và nguyên tắc hoạt động của các thiết bị ứng dụng kĩ thuật của chương “Cơ học chất lưu” trong cuộc sống để làm tư liệu hướng dẫn học sinh vượt qua những khó khăn trong quá trình tìm hiểu, giải thích về cấu tạo và nguyên tắc hoạt
Trang 13động của các thiết bị đó cũng như thiết kế, chế tạo mô hình các ứng dụng kĩ thuật Dự kiến những khó khăn, sai lầm mà học sinh có thể mắc phải để từ đó dự kiến phương án hướng dẫn các em khắc phục những khó khăn
- Xây dựng nội dung và tiến trình tổ chức hoạt động ngoại khóa về các ứng dụng kĩ thuật của chương “Cơ học chất lưu” theo hướng phát huy tính tích cực và phát triển năng lực sáng tạo của học sinh
- Tiến hành thực nghiệm sư phạm và đánh giá tính khả thi của quy trình ngoại khóa đã xây dựng, bước đầu đánh giá hiệu quả của hoạt động ngoại khóa
4 Phương pháp nghiên cứu
4.1 Nghiên cứu lí luận
- Nghiên cứu các văn bản, văn kiện của Đảng, Nhà nước, các chỉ thị và thông tư của Bộ giáo dục và Đào tạo
- Nghiên cứu cơ sở lí luận về xu hướng đổi mới phương pháp dạy học
- Nghiên cứu các tài liệu về tính tích cực, phát triển năng lực sáng tạo của học sinh
- Nghiên cứu các tài liệu hướng dẫn tổ chức hoạt động ngoại khóa để xây dựng hoạt động ngoại khóa phù hợp
- Nghiên cứu các tài liệu về dạy học ứng dụng kĩ thuật vật lí và vai trò của các ứng dụng kĩ thuật vật lí trong dạy học
- Nghiên cứu chương trình, nội dung sách giáo khoa, sách giáo viên và các tài liệu tham khảo để xác định mục tiêu dạy học ở chương “Cơ học chất lưu” mà học sinh cần tiếp thu được
4.2 Điều tra, quan sát
Tìm hiểu việc dạy (thông qua phỏng vấn trao đổi với giáo viên) và việc học (thông qua trao đổi với học sinh, phiếu điều tra cơ bản) nhằm đánh giá tình hình dạy
học chương “Cơ học chất lưu”
4.3 Thực nghiệm sư phạm
Tiến hành thực nghiệm sư phạm theo kế hoạch Phân tích kết quả thu được trong quá trình thực nghiệm sư phạm để kiểm tra đánh giá giả thuyết khoa học
Trang 14- Nội dung: Cơ học chất lưu - Vật lí 10 trung học phổ thông
- Các hoạt động ngoại khóa của giáo viên và học sinh trường THCS và THPT Nguyễn Khuyến - Bình Dương
7 Giả thuyết khoa học
Nếu tổ chức hoạt động ngoại khóa về dạy học các ứng dụng kĩ thuật chương “Cơ học chất lưu” theo hướng tăng cường cho học sinh tham gia tìm hiểu cấu tạo và giải thích nguyên tắc hoạt động của các thiết bị ứng dụng kĩ thuật cũng như thiết kế, chế tạo mô hình các ứng dụng kĩ thuật với phương pháp và hình thức phù hợp sẽ phát huy tính tích cực, sáng tạo của học sinh
8 Đóng góp của luận văn
- Làm sáng tỏ cơ sở lí luận trong việc tổ chức tổ chức hoạt động ngoại khóa về ứng dụng kĩ thuật chương “Cơ học chất lưu” Vật lí 10 nhằm phát huy tính tích cực và phát triển năng lực sáng tạo của học sinh
- Xây dựng được phương án tổ chức hoạt động ngoại khóa về ứng dụng kĩ thuật chương “Cơ học chất lưu” Vật lí 10
- Chứng minh được vai trò của hoạt động ngoại khóa về ứng dụng kĩ thuật trong dạy học vật lí ở trường trung học phổ thông
9 Cấu trúc của đề tài
Mở đầu
Nội dung
Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn của tổ chức hoạt động ngoại khóa vật lí ở trường phổ thông theo hướng phát huy tính tích cực, phát triển năng lực sáng tạo của học sinh
Trang 15Chương 2: Thiết kế kế hoạch tổ chức hoạt động ngoại khóa về ứng dụng kĩ thuật chương “Cơ học chất lưu” – Vật lí 10 nhằm phát huy tính tích cực và phát triển năng lực sáng tạo của học sinh
Chương 3: Thực nghiệm sư phạm
Kết luận và đề xuất
Tài liệu tham khảo
Phụ lục
Trang 16Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG NGOẠI KHÓA VẬT LÍ Ở TRƯỜNG PHỔ THÔNG THEO HƯỚNG PHÁT HUY TÍNH TÍCH CỰC, PHÁT TRIỂN
NĂNG LỰC SÁNG TẠO CỦA HỌC SINH
1.1 Tính tích cực của học sinh trong học tập
1.1.1 Khái niệm tính tích cực của học sinh trong học tập
Theo Trần Khánh Đức: “Tính tích cực học tập - về thực chất là tính tích cực nhận thức, đặc trưng ở khát vọng hiểu biết, cố gắng trí lực và có nghị lực cao trong quá trình chiếm lĩnh tri thức” [6, tr.102]
Theo Từ điển Tiếng Việt, 2003, Hoàng Phê chủ biên: “Tích cực là tỏ ra chủ động, có những hoạt động nhằm tạo ra sự biến đổi theo hướng phát triển” [13, tr.981] I.F.Kharlamôp đã khẳng định: “Tính tích cực là trạng thái hoạt động của chủ thể, nghĩa là của người hành động Vậy tính tích cực nhận thức là trạng thái hoạt động của học sinh, đặc trưng bởi khát vọng học tập, cố gắng trí tuệ và nghị lực cao trong quá trình chiếm lĩnh kiến thức” [9, tr.35]
Tính tích cực trong học tập là một hiện tượng sư phạm biểu hiện ở sự cố gắng cao về nhiều mặt trong học tập Tích cực học tập thực chất là nói đến tích cực nhận thức Tính tích cực nhận thức là trạng thái hoạt động nhận thức của học sinh, đặc trưng
ở khát vọng học tập, cố gắng trí tuệ và nghị lực cao trong quá trình nắm vững kiến thức
Tính tích cực hóa hoạt động nhận thức của người học là tổ hợp các hoạt động để nhằm thay đổi, chuyển biến vị trí của người học từ thụ động sang chủ động, từ chỗ là đối tượng tiếp nhận sang chỗ là chủ động tìm kiếm kiến thức, thông qua đó nâng cao hiệu quả học tập [12]
Vậy theo chúng tôi: Tính tích cực của HS trong học tập là trạng thái hoạt động nhận thức của HS, thể hiện bằng sự chủ động, cố gắng vượt bậc, say mê tìm tòi, học hỏi trong quá trình thực hiện những nhiệm vụ học tập
Trang 171.1.2 Những biểu hiện của tính tích cực của học sinh trong học tập
Theo Nguyễn Lăng Bình và các cộng sự thì tính tích cực trong học tập của HS được biểu hiện như sau [4, tr.39]:
- Học sinh hăng hái trả lời câu hỏi của giáo viên và bổ sung câu trả lời của bạn, chỉ ra những chỗ được, chưa được và nêu rõ lý do, nguyên nhân chưa được Có thể câu trả lời chưa hoàn toàn đúng nhưng thể hiện sự tích cực tham gia vào hoạt động
- Học sinh thích thú tham gia vào các hoạt động: suy nghĩ, trao đổi, thảo luận, thực hành, thao tác với đồ dùng học tập để lĩnh hội kiến thức
- Tập trung chú ý vào vấn đề đang học, kiên trì hoàn thành nhiệm vụ được giao
- Hay hỏi bạn và giáo viên về nội dung bài học
- Trao đổi cùng nhau, có sự phân công cụ thể cho mọi thành viên tham gia thực
sự vào các hoạt động Ý kiến cá nhân được tôn trọng và đi đến thống nhất ý kiến
- Học sâu, học thoải mái, tính độc lập cao, không chờ đợi, lệ thuộc vào sự giúp
đỡ của giáo viên
Theo Thái Duy Tuyên, tính tích cực được nhận biết bởi một số biểu hiện như sau [16, tr.464-465]:
- Dấu hiệu bên ngoài biểu thị qua thái độ, hành vi và hứng thú Chúng được thể hiện qua một số biểu hiện cụ thể như:
+ Thích thú, chủ động tiếp xúc với đối tượng
+ Chú ý quan sát, chăm chú lắng nghe và theo dõi những gì thầy cô làm + Dơ tay phát biểu, nhiệt tình hưởng ứng, bổ sung ý kiến vào câu trả lời của bạn và thích tham gia vào các hoạt động
+ Sự bực mình, nỗi thất vọng nếu trí tò mò không được thỏa mãn hoặc khi không thành công trong hoạt động
- Dấu hiệu bên trong biểu thị qua sự căng thẳng của trí tuệ, sự nỗ lực của hoạt động, sự phát triển của tư duy, ý chí và xúc cảm, Chúng được thể hiện qua một số biểu hiện cụ thể như:
+ Tích cực sử dụng các thao tác nhận thức, đặc biệt là các thao tác tư duy như: phân tích, tổng hợp, so sánh, khái quát hóa, vào việc giải quyết các nhiệm vụ nhận thức
Trang 18+ Tích cực vận dụng vốn kiến thức, kỹ năng đã tích lũy được vào việc xử lý các tình huống và các bài tập khác nhau, đặc biệt là vào việc xử lý các tình huống mới
+ Phát hiện nhanh chóng, chính xác những nội dung được quan sát
+ Hiểu lời người khác và diễn đạt cho người khác hiểu được ý mình
+ Có những biểu hiện của tính độc lập, sáng tạo trong quá trình giải quyết các nhiệm vụ nhận thức như: tự tin trả lời câu hỏi, có sáng kiến, tự tìm ra một vài cách giải quyết khác nhau cho các bài tập và tình huống, biết lựa chọn cách giải quyết vấn đề hay nhất
+ Có những biểu hiện của ý chí trong quá trình nhận thức như: sự nỗ lực, cố gắng vượt qua các tác động nhiễu bên ngoài và các khó khăn để thực hiện đến cùng những nhiệm vụ được giao, sự phản ứng có khi là tín hiệu thông báo hết giờ
- Kết quả học tập: là một dấu hiệu quan trọng và có tính chất khái quát của tính tích cực nhận thức Người học phải tích cực học tập một cách thường xuyên, liên tục
và tự giác thì mới có kết quả học tập tốt
Vậy theo chúng tôi, tính tích cực trong học tập của HS biểu hiện qua những dấu hiệu sau:
- Sự chú ý: Là sự tập trung theo dõi các hoạt động của giáo viên, tập trung hoàn toàn vào nhiệm vụ HS nắm bắt được các diễn biến học tập, không bị phân tâm bởi các yếu tố bên ngoài
- Sự kiên trì, cố gắng: Thể hiện ở việc HS dốc toàn lực để giải quyết các nhiệm
vụ được giao Đó còn là sự kiên trì, nỗ lực giải quyết cả những nhiệm vụ khó khăn, có quyết tâm, ý chí vươn lên trước nghịch cảnh
- Sự đóng góp: Thể hiện ở việc HS hay đóng góp, phát biểu ý kiến, giúp đỡ bạn thực hiện nhiệm vụ khi gặp khó khăn
- Kết quả lĩnh hội: HS tiếp thu nhanh, đúng kiến thức và tái hiện lại được kiến thức khi cần Qua đó, HS chủ động vận dụng được kiến thức, kĩ năng để nhận thức những vấn đề mới, phức tạp
Trang 191.1.3 Tiêu chí đánh giá tính tích cực của học sinh trong học tập
2 (Trung bình)
3 (Khá)
4 (Tốt)
Sự chú ý
Không chú ý đến hoạt động của giáo viên/
nhiệm vụ được giao
Theo dõi một
số hoạt động của giáo viên / Làm một số hoạt động trong nhiệm
vụ được giao
Theo dõi hầu hết những hoạt động của giáo viên, nắm bắt được các diễn biến học tập chính/ Thỉnh thoảng bị phân tâm nhưng nhanh chóng tập trung lại vào nhiệm vụ
Tập trung theo dõi mọi hoạt động của giáo viên/ Tập trung hoàn toàn vào nhiệm vụ; Nắm bắt được mọi diễn biến học tập; Không bị phân tâm bởi yếu tố bên ngoài
Sự kiên trì, cố
gắng
- Không suy nghĩ giải quyết nhiệm vụ/
Luôn đổ lỗi khi gặp khó khăn
- Chỉ giải quyết những nhiệm vụ đơn giản
- Giải quyết đầy đủ nhiệm vụ/ Suy nghĩ giải quyết cả những nhiệm
vụ khó khăn nhưng không thực hiện đến cùng
- Giải quyết đầy đủ nhiệm vụ/ Kiên trì suy nghĩ giải quyết cả những nhiệm
vụ khó khăn
- Có quyết tâm, ý chí vươn lên trước nghịch cảnh
Trang 20Sự đóng góp
Không phát biểu ý kiến
Phát biểu ý kiến khi được yêu cầu
Hay phát biểu
ý kiến/ Giúp
đỡ bạn thực hiện nhiệm vụ khi gặp khó khăn
- Hay phát biểu ý kiến, góp ý bổ sung cho bạn/ Giúp
đỡ bạn thực hiện tốt nhiệm
vụ khi gặp khó khăn
Kết quả lĩnh
hội
Không lĩnh hội được kiến thức/ Lĩnh hội chậm, sai sót nhiều
Lĩnh hội đúng hầu hết kiến thức nhưng còn chậm
- Lĩnh hội nhanh, đúng kiến thức
- Tái hiện lại được kiến thức khi cần
- Vận dụng được kiến thức trong các trường hợp đơn giản
- Lĩnh hội nhanh, đúng kiến thức
- Tái hiện lại được kiến thức khi cần
- Chủ động vận dụng được kiến thức, kĩ năng để nhận thức những vấn đề mới, phức tạp Những tiêu chí đánh giá và mức độ biểu hiện của các tiêu chí được nêu ở trên chính là cơ sở để chúng tôi đánh giá hiệu quả của quy trình tổ chức HĐNK về ƯDKT chương “Cơ học chất lưu” nhằm phát huy tính tích cực của HS
1.1.4 Các biện pháp phát huy tính tích cực của học sinh trong học tập
Trong quá trình dạy học, giáo viên cần nắm bắt được nhu cầu, hứng thú, động
cơ của học sinh để thu hút họ vào quá trình học tập tích cực, cụ thể như [12, tr.10]:
- Giáo viên phải kích thích được nhu cầu, khơi gợi hứng thú học tập cho người
học thông qua tất cả các giai đoạn của tiết lên lớp
- Xác định mục đích và xây dựng động cơ, thái độ học tập
Trang 21- Kiến thức phải có tính thực tiễn, gần gũi với sinh hoạt, suy nghĩ hàng ngày, thỏa mãn nhu cầu nhận thức của HS
- Phải dùng các phương pháp đa dạng: nêu vấn đề, thí nghiệm, thực hành, so sánh, tổ chức thảo luận và phối hợp chúng với nhau
- Sử dụng các phương tiện dạy học hiện đại
- Sử dụng các hình thức tổ chức dạy học khác nhau: cá nhân, nhóm, tập thể, tham quan, làm việc trong vườn trường, phòng thí nghiệm
- Thường xuyên kiểm tra đánh giá, khen thưởng và kỉ luật kịp thời, đúng mức
- Kích thích tính tích cực qua thái độ, cách ứng xử giữa GV và HS
- Tạo không khí đạo đức lành mạnh trong lớp, trong trường, tôn vinh sự học nói chung và biểu dương những HS có thành tích học tập tốt
- Có sự động viên, khen thưởng từ phía gia đình và xã hội
Nguyễn Hữu Châu cho rằng, để phát huy tính tích cực của học sinh, người GV cần phải thực hiện các nguyên tắc sau [4, tr.194-195]:
- Việc dạy học phải được tiến hành ở mức độ khó khăn cao
- Việc nắm vững kiến thức lý thuyết phải chiếm ưu thế
- Trong quá trình dạy học phải duy trì nhịp độ khẩn trương của việc nghiên cứu tài liệu, những kiến thức đã lĩnh hội sẽ được củng cố khi nghiên cứu kiến thức mới
- Trong dạy học phải tích cực chăm lo cho sự phát triển của tất cả học sinh, kể
cả những em học sinh khá cũng như học sinh kém
- Học sinh phải ý thức được bản thân quá trình học tập
1.2 Năng lực sáng tạo của học sinh trong học tập
1.2.1 Khái niệm năng lực sáng tạo của học sinh trong học tập
Theo Bách khoa toàn thư Liên Xô (Tập 42, trang 54): “Sáng tạo là một loại hoạt động mà kết quả của nó là một sản phẩm tinh thần hay vật chất có tính cách tân, có ý nghĩa xã hội, có giá trị” [15, tr.102]
Theo Nguyễn Mạnh Hùng: “Sáng tạo là hoạt động tạo ra những cái mới chưa từng có trong tự nhiên hay trong xã hội” [7, tr.4]
Năng lực sáng tạo gắn liền với kỹ năng, kĩ xảo và vốn hiểu biết của chủ thể Trong bất cứ lĩnh vực hoạt động nào, nếu chủ thể hoạt động càng thành thạo và có vốn
Trang 22hiểu biết sâu rộng thì càng nhạy bén trong dự đoán, đề ra được nhiều dự đoán, nhiều phương án để lựa chọn, càng tạo điều kiện cho trực giác phát triển Bởi vậy, muốn rèn luyện năng lực sáng tạo thì nhất thiết không thể tách rời, độc lập với học tập kiến thức
về một lĩnh vực nào đó
Đối với HS phổ thông tất cả những gì mà học “ tự nghĩ ra” khi GV chưa dạy, HS chưa đọc sách, chưa biết được, nhờ trao đổi với bạn bè đều coi như có mang năng lực sáng tạo Sáng tạo là bước nhảy vọt trong sự phát triển năng lực nhận thức của HS Không có con đường logic để dẫn đến sáng tạo, bản thân HS phải tự tìm thấy kinh nghiệm hoạt động thực tiễn của mình Cách tốt nhất để hình thành và phát triển năng lực nhận thức, năng lực sáng tạo của HS là đặt họ vào vị trí chủ thể của hoạt động tự lực, tự giác, tích cực của bản thân mà chiếm lĩnh kiến thức, phát triển năng lực sáng tạo, hình thành quan điểm đạo đức [2, tr.22]
Vậy theo chúng tôi: Sáng tạo hiểu theo nghĩa chung là tìm ra cái mới, cái chưa từng có trong tự nhiên hay trong xã hội Tuy nhiên, đối với HS thì sáng tạo là tìm ra cái mới đối với chính HS đó Cái mới này có thể đã có trong tự nhiên, xã hội nhưng mới mẻ với HS
1.2.2 Những biểu hiện của năng lực sáng tạo của học sinh trong học tập
Dự thảo của Bộ Giáo dục và Đào tạo về Chương trình Giáo dục phổ thông tổng thể tháng 4 năm 2017 đã xác định năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo đối với học sinh trung học cơ sở gồm các biểu hiện sau [3, tr.40-41]
- Xác định và làm rõ thông tin, ý tưởng mới; phân tích, tóm tắt những thông tin liên quan từ nhiều nguồn khác nhau
- Phân tích được tình huống trong học tập; phát hiện và nêu được tình huống có vấn đề trong học tập
- Phát hiện yếu tố mới, tích cực trong những ý kiến của người khác; hình thành
ý tưởng dựa trên các nguồn thông tin đã cho; đề xuất giải pháp cải tiến hay thay thế các giải pháp không còn phù hợp; so sánh và bình luận được về các giải pháp đề xuất
- Xác định được và biết tìm hiểu các thông tin liên quan đến vấn đề; đề xuất được giải pháp giải quyết vấn đề
Trang 23- Thực hiện giải pháp giải quyết vấn đề và nhận ra sự phù hợp hay không phù hợp của giải pháp thực hiện
- Đặt các câu hỏi khác nhau về một sự vật, hiện tượng; chú ý lắng nghe và tiếp nhận thông tin, ý tưởng với sự cân nhắc, chọn lọc; quan tâm tới các chứng cứ khi nhìn nhận, đánh giá sự vật, hiện tượng; đánh giá vấn đề, tình huống dưới những góc nhìn khác nhau
Theo Nguyễn Mạnh Hùng, những biểu hiện của năng lực sáng tạo là [7, tr.5], [8, tr.20]:
- Biết kiểm tra, đánh giá hiệu quả cách giải quyết vấn đề của bản thân và của những người khác
- Biết điều chỉnh các phương án giải quyết vấn đề một cách nhanh chóng và phù hợp với điều kiện thực tiễn
- Tự chủ, tin tưởng vào khả năng giải quyết các vấn đề của bản thân Không nản chí trước một vấn đề khó mà tìm mọi cách để tìm ra phương án tốt nhất
Phạm Thành Nghị đã đề cập tới bốn đặc tính của sáng tạo, đó là[11, tr.103-104]:
- Tính độc đáo: là khả năng phát hiện những nét độc đáo, những mối liên hệ mới hay những giải pháp mới, hiếm lạ trên cơ sở những liên tưởng và kết hợp mới, với những kiến thức kinh nghiệm đã có hay những giải pháp đã được xác định Nhận ra những vấn đề mới, những bất cập, những cơ hội mới trong điều kiện quen thuộc, phát hiện ra những chức năng mới của đồ vật là nền tảng cho tính độc đáo của tư duy
- Tính mềm dẻo: là khả năng thay đổi dễ dàng, nhanh chóng trật tự của tri thức, thay đổi quan niệm, góc nhìn, định nghĩa lại sự vật, hiện tượng, thay đổi phương pháp
tư duy, phát hiện, tạo ra những mối liên hệ mới, đa dạng của sự vật và hiện tượng
+ Tính mềm dẻo của tư duy thể hiện sự thay đổi thái độ, nhiều khi đã là cố hữu trong hoạt động trí tuệ của con người, dễ dàng chuyển từ hoạt động trí tuệ này sang hoạt động trí tuệ khác, điều chỉnh suy nghĩ khi gặp lại vấn đề tương tự
+ Tính mềm dẻo thể hiện tính đa dạng trong phương án giải quyết vấn đề theo nhiều cách tiếp cận, xem xét sự vật theo nhiều góc độ, cách nhìn nhận
- Sự thành thục: là khả năng sử dụng các thao tác tư duy, các kiến thức, thông tin một cách dễ dàng
Trang 24- Tính chi tiết: là sự thể hiện chi tiết, hoàn thiện của các ý tưởng, tình huống, giải pháp
1.2.3 Tiêu chí đánh giá năng lực sáng tạo của học sinh trong học tập
Bảng 1.2 Tiêu chí đánh giá năng lực sáng tạo [3]
Mức
Tiêu chí
1 (Yếu)
2 (Trung bình)
3 (Khá)
4 (Tốt)
Nhận ra
ý tưởng
Không xác định/ không nhận ra được ý tưởng mới
Nhận ra được
ý tưởng mới nhưng chưa rõ ràng
Nhận ra được
ý tưởng mới, khá rõ; chưa phân tích được khuynh hướng của ý tưởng mới
Nhận ra được ý tưởng mới, rõ ràng; phân tích được khuynh hướng của ý tưởng mới từ các nguồn thông tin
Phát hiện và
làm rõ vấn đề
Không phân tích được tình huống trong học tập, trong cuộc sống/
Không nhận thấy thông tin mới
Nêu được một
số thông tin mới từ tình huống trong học tập, trong cuộc sống
Phân tích được tình huống trong học tập, trong cuộc sống
Phân tích được tình huống trong học tập, trong cuộc sống; nêu được tình huống
Ý tưởng giống với tài liệu tham khảo
Hình thành được ý tưởng mới, khá rõ/ ý tưởng có sự cải tiến từ ý tưởng cũ
Chưa phân
Hình thành được
ý tưởng mới, rõ ràng; phân tích được khuynh hướng của ý tưởng mới từ các nguồn thông tin
Trang 25tích được khuynh hướng của ý tưởng mới
Đề xuất giải pháp nhưng chưa phù hợp hoàn toàn/
Giải pháp quen thuộc đã được học
Đề xuất, phân tích được giải pháp phù hợp, nhiều ưu điểm nhưng còn một số vấn đề cần chỉnh sửa
Đề xuất, phân tích được giải pháp phù hợp, nhiều ưu điểm, không cần chỉnh sửa/ Đề xuất được nhiều giải pháp phù hợp
Lựa chọn giải pháp không phù hợp
Lựa chọn được giải pháp phù hợp
Lựa chọn được giải pháp phù hợp nhất trong các giải pháp được đưa ra và nêu được lý do
Thực hiện được một phần giải pháp
Thực hiện được giải pháp
Thực hiện tốt giải pháp, không cần cải tiến
Chỉ ra được mặt tốt, mặt hạn chế của giải pháp
Chỉ ra được mặt tốt, mặt hạn chế của giải pháp và đưa ra được 1 phương án
Chỉ ra được mặt tốt, mặt hạn chế của giải pháp và đưa ra được từ 2 phương án trở lên điều chỉnh
Trang 26điều chỉnh giải pháp phù hợp
giải pháp phù hợp
Tư duy
độc lập
Không nêu được câu hỏi
Nêu được 1 câu hỏi có giá trị
Nêu được 1 câu hỏi có giá trị; phản biện lại ý kiến của người khác;
quan tâm tới lập luận, chứng cứ thuyết phục
Nêu được nhiều câu hỏi có giá trị; phản biện lại ý kiến của người khác một cách chính xác; quan tâm tới lập luận, chứng cứ thuyết phục
Những tiêu chí đánh giá và mức độ biểu hiện của các tiêu chí được nêu ở trên chính là cơ sở để chúng tôi đánh giá hiệu quả của quy trình tổ chức HĐNK về ƯDKT chương “Cơ học chất lưu” nhằm phát huy năng lực sáng tạo của HS
1.2.4 Một số biện pháp phát triển năng lực sáng tạo của học sinh trong học tập
Có thể kể đến một số biện pháp như sau [15, tr.107-111]:
Tổ chức hoạt động sáng tạo gắn liền với quá trình xây dựng kiến thức mới
Việc nghiên cứu kiến thức mới sẽ đòi hỏi HS phải tư duy để đưa ra những hướng giải quyết, xây dựng các vấn đề, các kiến thức mới Hơn nữa quá trình này đòi hỏi HS phải suy nghĩ dựa trên những kiến thức cũ để đưa ra kiến thức mới, giải pháp mới từ đó rèn luyện tư duy trực giác nhạy bén và phong phú
Luyện tập phỏng đoán, dự đoán, xây dựng giả thuyết
Dựa vào sự liên tưởng tới một kinh nghiệm đã có
Dựa trên sự tương tự: dự đoán sự giống nhau về bản chất dựa trên các điểm bên ngoài giống nhau, dự đoán sự giống nhau về tính chất dựa trên sự giống nhau về cấu tạo
Dựa trên sự xuất hiện đồng thời giữa hai hiện tượng mà dự đoán giữa chúng có quan hệ nhân quả
Trang 27 Dựa trên nhận xét thấy: hai hiện tượng luôn luôn biến đổi đồng thời, cùng tăng hoặc cùng giảm mà dự đoán về quan hệ nhân quả giữa chúng
Dựa trên sự thuận nghịch thường thấy của nhiều quá trình
Dựa trên sự mở rộng phạm vi ứng dụng của một kiến thức đã biết sang một lĩnh vực khác
Dự đoán về mối quan hệ định lượng: những hiện tượng Vật lí phức tạp nhưng các định luật chi phối chúng lại rất đơn giản và có thể biểu diễn bằng những công thức toán học đơn giản
Luyện tập đề xuất phương án kiểm tra dự đoán
HS phải suy ra hệ quả có thể quan sát trong thực tế từ một dự đoán, sau đó tiến hành thí nghiệm để xem hệ quả rút ra bằng suy luận đó có phù hợp với kết quả thí nghiệm không
Hệ quả suy ra được phải khác với những sự kiện ban đầu dùng làm cơ sở cho dự đoán thì mới có ý nghĩa Số hệ quả phù hợp với thực tế càng nhiều thì dự đoán càng trở thành chắc chắn, sát với chân lí hơn Vấn đề đòi hỏi sự sáng tạo ở đây là đề xuất được phương án kiểm tra hệ quả đã rút ra được
Giải các bài tập sáng tạo
Trong dạy học vật lí, có những loại bài tập nhằm phát triển năng lực sáng tạo của
HS là bài tập sáng tạo Để giải loại bài tập này đòi hỏi HS vận dụng kiến thức cũ đồng thời có những ý kiến độc lập
Khi khảo sát chu trình sáng tạo khoa học, ta đã biết: hai giai đoạn khó khăn hơn
cả đòi hỏi sự sáng tạo là giai đoạn từ sự kiện cảm tính tới việc xây dựng mô hình giả thuyết trừu tượng và giai đoạn chuyển từ một tiên đề lí thuyết, những qui luật nhất định của hiện tượng sang việc kiểm tra bằng thực nghiệm Giai đoạn thứ nhất đòi hỏi
sự giải thích hiện tượng, trả lời câu hỏi: tại sao? Còn giai đoạn thứ hai lại đòi hỏi thực hiện một hiện tượng thực, đáp ứng với những yêu cầu đã cho, nghĩa là trả lời câu hỏi: làm thế nào? Tương ứng với hai trường hợp trên là hai bài tập sáng tạo: bài tập nghiên cứu và bài tập thiết kế chế tạo
Ngoài ra, theo I.Ia.Lecne [10, tr.38-39]:
Trang 28Để phát triển tư duy sáng tạo trong hoạt động thực tiễn của học sinh cần thiết cho học sinh thường xuyên làm những công việc sau: Giải thích các hiện tượng vật lí dựa trên các định luật hoặc qui tắc đã biết; dự đoán được diễn biến của các quá trình vật lí trong các điều kiện đã cho; giải các bài tập sáng tạo (là các bài tập kĩ thuật, các bài tập thí nghiệm, các bài tập xây dựng các mô hình ); có sáng kiến nhằm cải tiến, hoàn thiện các thiết bị kĩ thuật; tự lập kế hoạch thực hiện các bài thực hành; thảo luận các phương án giải quyết các nhiệm vụ do giáo viên đặt ra có liên quan đến vật lí; thiết kế
mô hình các hiện tượng vật lí; so sánh các hiện tượng vật lí có bản chất khác nhau Qua đây, chúng tôi nhận thấy: HS có thể phát huy được năng lực sáng tạo trong trong HĐNK thông qua các hoạt động:
- Thảo luận về tình huống thực tế dẫn đến nhiệm vụ
- Thảo luận tìm hiểu thông tin, lập phương án thiết kế, chế tạo mô hình
- Thực hiện chế tạo mô hình
1.3 Dạy học các ứng dụng kĩ thuật của vật lí
1.3.1 Khái niệm về ứng dụng kĩ thuật của vật lí
Theo nhóm tác giả Nguyễn Đức Thâm [15, tr.62]:
Thuật ngữ “các ứng dụng kĩ thuật của vật lí” đã nói lên rằng: loại kiến thức này
là kết quả của việc ứng dụng những kiến thức khái quát của vật lí, nhất là những định luật vật lí vào kĩ thuật để chế tạo những thiết bị, máy móc có tính năng, tác dụng nhất định, đáp ứng được những yêu cầu của kĩ thuật và đời sống
1.3.2 Bản chất của việc nghiên cứu các ứng dụng kĩ thuật của vật lí trong dạy học
Theo Nguyễn Đức Thâm và các cộng sự [15, tr.63]: “Nghiên cứu các ứng dụng
kĩ thuật của vật lí là thiết lập mối quan hệ giữa lí thuyết và thực tiễn, giữa cái trừu tượng (các khái niệm, định luật vật lí) và cái cụ thể (các hiện tượng xảy ra trong máy móc, thiết bị) Nhờ đó mà làm cho việc nhận thức các kiến thức vật lí trừu tượng trở thành sâu sắc hơn, mền dẻo hơn.”
Dạy học các ƯDKT thông qua việc phân tích các thí dụ kĩ thuật cần phải quan tâm đến việc làm sáng tỏ các nguyên tắc vật lí trong hoạt động của các thiết bị vật lí khác nhau Khi biết nguyên tắc hoạt động cơ bản của một số loại thiết bị học sinh có
Trang 29thể tìm thấy ứng dụng của chúng trong các máy khác, phân tích các ưu nhược điểm của các dụng cụ khác nhau Giáo viên nên sử dụng rông rãi các sơ đồ, đồ án, hình vẽ kĩ thuật, nghĩa là nói với học sinh bằng ngôn ngữ kĩ thuật Kết quả của việc học sinh nghiên cứu các ƯDKT của vật lí phải là sự lĩnh hội vững chắc những khái quát hóa kĩ thuật
Trong việc nghiên cứu các ƯDKT, học sinh được tìm hiểu các lĩnh vực kĩ thuật chủ yếu nhất và nắm được cơ sở vật lí của các đối tượng kĩ thuật khác nhau và các qui trình công nghệ sản xuất Những hiểu biết này nhằm chỉ ra mối quan hệ tương đối gắn
bó của sự phát triển vật lí và kĩ thuật trong sự phát triển của xã hội
Theo phân tích ở trên cho thấy vật lí được coi là nền tảng của kĩ thuật Còn trong thực tế, kĩ thuật lại có vai trò thúc đẩy những nghiên cứu khoa học, thực hiện công nghiệp hóa khoa học vật lí, tạo ra những phương tiện kĩ thuật mới để nghiên cứu vật lí Việc nghiên cứu các ƯDKT của vật lí trong dạy học thực chất là việc “sắp xếp” các kiến thức vật lí trong các mối quan hệ khác nhau, mối liên hệ có tính chất vật lí kĩ thuật Thông qua việc nghiên cứu cấu tạo, hoạt động của các thiết bị kĩ thuật, học sinh xác định được những mối quan hệ có tính qui luật vật lí tồn tại trong hoạt động của thiết bị, giải thích được hoạt động của nó trên cơ sở những định luật, nguyên lí vật lí
đã biết Trong các ƯDKT của vật lí, các kiến thức vật lí đã được cụ thể hóa trong điều kiện xác định [1, tr.7]
1.3.3 Các con đường nghiên cứu ứng dụng kĩ thuật của Vật lí trong dạy học
Có thể nghiên cứu những ƯDKT của vật lí trong dạy học theo hai con đường sau:
1.3.3.1 Dạy học ƯDKT theo con đường thứ nhất
Theo nhóm tác giả Nguyễn Đức Thâm [15, tr.63]:
Con đường nghiên cứu này thực chất là giải bài toán “Hộp trắng”: dựa vào cấu tạo hộp, tác động đầu vào và kết quả ở đầu ra để giải thích vì sao hộp được cấu như thế này, tại sao yêu cầu đầu vào phải đầy đủ các yếu tố này và tại sao kết quả ở đầu ra lại như vậy, và những sự giải thích này phải dựa nào các kiến thức vật lí đã học
Để đưa ra lời giải thích đúng, trước tiên là học sinh phải xác định được “điều cần phải giải thích” Trở ngại lớn nhất hiện nay của học sinh là làm cách nào liên hệ các cấu tạo và nguyên tắc hoạt động của ƯDKT với các kiến thức vật lí Quá trình này đòi
Trang 30hỏi học sinh phải tiến hành các thao tác tư duy bao gồm: phân tích, tổng hợp, diễn dịch Lúc này, một mô hình đơn giản thay thế cho ƯDKT đang nghiên cứu sẽ giúp học sinh dễ dàng trả lời các câu hỏi hơn Mô hình này có thể chỉ bao gồm các chi tiết cơ bản của ƯDKT và nguyên tắc hoạt động của các chi tiết này thể hiện rõ rệt một kiến thức vật lí nào đó Tiến trình nghiên cứu có thể gồm các giai đoạn sau:
Giai đoạn 1: quan sát thiết bị khi đang hoạt động và xác định tác động đầu vào và kết quả thu được ở đầu ra
Kết quả thu được ở đầu ra chính là mục đích sử dụng của thiết bị và tác động đầu vào là các yếu tố cần thiết để thiết bị hoạt động Trong quá trình này học sinh có thể gặp khó khăn do thiết bị hoạt động nhanh lúc này giáo viên có thể giúp đỡ bằng cách lưu ý học sinh tập trung quan sát những hoạt động của các bộ phận chính hoặc mô tả bằng lời hoạt động của thiết bị
Giai đoạn 2: quan sát thiết bị, xác định các bộ phận của thiết bị và tác động lẫn nhau giữa chúng
Trong giai đoạn này một số bộ phận của thiết bị có thể bị che lấp bởi vỏ máy hoặc các bộ phận khác Để tạo điều kiện thuận lợi cho học sinh, giáo viên có thể đưa ra một số thiết bị đã được cắt dọc hoặc cắt ngang, giúp học sinh quan sát rõ bên trong từ
đó xây dựng các mô hình đơn giản của máy Có các dạng mô hình thường dùng là mô hình hình vẽ, mô hình vật chất - chức năng hoặc kết hợp cả hai Quá trình xây dựng
mô hình sẽ giúp phát triển tư duy, khả năng sáng tạo của học sinh bên cạnh đó học sinh sẽ phải dự đoán và suy luận những bộ phận nào là chi tiết chính của thiết bị và các
bộ phận này hoạt động dựa trên nguyên lí nào, lúc này giáo viên có thể giúp đỡ học sinh bằng cách hướng sự chú ý của học sinh đến các bộ phận chính
Giai đoạn 3: giải thích nguyên tắc hoạt động của thiết bị
Quá trình giải thích nguyên tắc hoạt động của ƯDKT bao gồm chuỗi các qui tắc quy nạp và diễn dịch Học sinh sẽ lựa chọn một trong những kiến thức Vật lí đã học làm cơ sở, từ đó giải thích các hoạt động của từng bộ phận bằng cách suy luận diễn dịch rồi suy ra kết luận Nếu kết luận đó phù hợp với kiến thức Vật lí ban đầu thì quá trình giải thích hoàn thành Nếu kết luận không phù hợp với kiến thức cơ sở đã chọn thì phải xem lại quá trình suy luận diễn dịch hoặc đề xuất một kiến thức cơ sở khác
Trang 31Như vậy việc xác định kiến thức cơ sở hết sức quan trọng và yêu cầu học sinh phải dựa vào các yếu tố quan sát được trong quá trình thiết bị hoạt động để lựa chọn kiến thức cơ sở hợp lý
1.3.3.2 Dạy học ƯDKT theo con đường thứ hai
Theo Nguyễn Đức Thâm và cộng sự dạy học ƯDKT theo con đường thứ hai là [15, tr.62]:
Dựa trên cơ sở các định luật, nguyên lí vật lí, các đặc tính vật lí của hiện tượng, thiết kế một thiết bị nhằm giải quyết một yêu cầu kĩ thuật nào đó
Con đường này thực chất là tìm tòi và chế tạo ra một loại máy móc thiết bị trong
kĩ thuật Yêu cầu đưa ra là chế tạo một loại máy móc thiết bị có cấu tạo và nguyên tắc hoạt động dựa trên kiến thức vật lí nào đó để giải quyết yêu cầu cụ thể của sản xuất hay đời sống Hoạt động này nhằm nâng cao khả năng sáng tạo của học sinh
Để chế tạo một loại máy móc thiết bị nào đó, việc đầu tiên ta phải xác định mục đích của loại thiết bị này là gì, thiết bị này sẽ giải quyết vấn đề gì hoặc dùng để làm gì
Từ đó, học sinh sẽ rà soát lại những định luật, định lý, kiến thức vật lí đã được học và lựa chọn sử dụng kiến thức nào làm cơ sở để chế tạo loại máy đó, tiếp theo học sinh sẽ tìm hiểu các bộ phận chính của thiết bị - các bộ phận hoạt động dựa trên kiến thức cơ
sở Sau đó, học sinh sẽ phải xây dựng một mô hình của thiết bị gồm cấu tạo và nguyên tắc hoạt động của thiết bị và tiến hành chế tạo dựa trên mô hình Con đường này đòi hỏi học sinh phải thực hiện nhiều thao tác tư duy và cụ thể hơn cần tiến hành theo các giai đoạn sau:
Giai đoạn 1: Xác định những định luật, quy tắc vật lí phải sử dụng để chế tạo thiết bị kỹ thuật
Giai đoạn 2: Đưa ra nhiệm vụ thiết kế một thiết bị có chức năng giải quyết một vấn đề nào đó trong sản xuất và đời sống dựa trên việc sử dụng các hiện tượng vật lí
Giai đoạn 3: Đưa ra phương án thiết kế thiết bị
Học sinh cần vận dụng các kiến thức đã học và thực hiện thao tác tư duy để tìm
ra phương án thiết kế phù hợp Do đây là giai đoạn quan trọng và đòi hỏi học sinh tư duy nhiều nhất nên học sinh thường gặp một số khó khăn trong việc đưa ra phương án thiết kế, chẳng hạn như: tăng hoặc giảm cường độ của một đại lượng nào đó để có thể
Trang 32áp dụng trong sản xuất, duy trì một hiện tượng trong thời gian dài, điều kiện hiện tượng sao cho hiện tượng xảy ra đúng hướng và đúng thời điểm mong muốn, chuyển hiệu quả của hiện tượng để sử dụng bên ngoài, kết hợp các hiện tượng xảy ra cùng lúc trong thiết bị hoặc giữa thiết bị với bên ngoài
Nhiệm vụ này cần học sinh phải vận dụng và tổng hợp nhiều kiến thức vật lí và các lĩnh vực khác, để giúp đỡ học sinh giải quyết khó khăn có thể chia nhiệm vụ ra thành nhiều nhiệm vụ nhỏ, đơn giản hơn
Giai đoạn 4: Dựa trên phương án thiết kế đã chọn đưa ra một mô hình vật chất – chức năng, kèm hình vẽ các bộ phận chính của thiết bị, sau đó cho mô hình vận hành
để kiểm tra tính khả thi của thiết kế này
Giai đoạn 5: Dựa trên mô hình vật chất – chức năng lắp ráp thiết bị thật
Giai đoạn 6: Hoàn chỉnh thiết kế, bổ sung các chi tiết giúp thiết bị hoạt động với hiệu suất cao hơn
1.3.4 Vai trò của nghiên cứu các ứng dụng kĩ thuật của vật lí trong dạy học
Theo Nguyễn Đức Thâm và các cộng sự [15, tr.63-64]:
Việc ứng dụng một kiến thức vật lí vào kĩ thuật để chế tạo một thiết bị, máy móc không phải đơn thuần chỉ là vận dụng một định luật vật lí, mà thực sự là một hoạt động sáng tạo Sự sáng tạo này nhiều khi đòi hỏi sự vận dụng tổng hợp nhiều kiến thức, nhiều kinh nghiệm Trong phạm vi của vật lí học, ta chỉ chú ý những hiện tượng Vật lí chủ yếu xảy ra khi vận hành các thiết bị, máy móc, mà không chú ý nhiều đến những chi tiết, những giải pháp kĩ thuật nhằm nâng cao hiệu quả của thiết bị, máy móc Nghiên cứu các ƯDKT của vật lí là thiết lập mối quan hệ giữa lí thuyết và thực tiễn, giữa cái trừu tượng (các khái niệm, định luật vật lí) và cái cụ thể (các hiện tượng xảy
ra trong máy móc, thiết bị) Nhờ đó mà làm cho việc nhận thức các kiến thức vật lí trừu tượng trở thành sâu sắc hơn, mền dẻo hơn Việc nghiên cứu các ƯDKT của vật lí góp phần phát triển tư duy vật lí kĩ thuật của học sinh, làm cho học sinh thấy được vai trò quan trọng của kiến thức vật lí đối với đời sống và sản xuất; qua đó mà kích thích hứng thú, nhu cầu của học sinh khi học tập vật lí
Vì vậy, việc nghiên cứu ƯDKT Vật lí giúp học sinh liên hệ giữa những cái trừu tượng với những mô hình thực tế làm cho các kiến thức này trở nên gần gũi và khắc
Trang 33sâu hơn Hơn thế nữa, việc nghiên cứu này giúp phát triển khả năng tư duy, sáng tạo của học sinh, làm cho học sinh thấy được tầm quan trọng của Vật lí trong đời sống qua
đó tạo cảm hứng và niềm yêu thích học tập môn Vật lí của học sinh
1.4 Hoạt động ngoại khóa ở trường phổ thông
1.4.1 Vị trí, vai trò của hoạt động ngoại khóa trong hệ thống các hình thức tổ chức dạy học ở trường phổ thông
Theo Nguyễn Quang Đông, các hình thức tổ chức dạy học đang được sử dụng rộng rãi và có hiệu quả ở nước ta hiện nay gồm [5, tr.5]:
Hình thức lớp – bài (lên lớp)
Hình thức dạy học theo nhóm
Hình thức tự học
Hình thức thực hành
Hình thức thảo luận và xêmina
Hình thức giúp đỡ riêng (phụ đạo)
Hình thức hoạt động ngoại khóa học tập
Hình thức tham quan học tập
Hình thức trò chơi
Hình thức kể chuyện
Hình thức nghiên cứu khoa học
Mỗi hình thức tổ chức dạy học có ưu điểm và hạn chế nhất định HĐNK là một hình thức tổ chức dạy học thực hiện ngoài giờ học, tùy thuộc vào sở thích và nguyện vọng của HS trong khả năng và điều kiện tổ chức của nhà trường HĐNK là phương tiện gắn liền lý thuyết với thực tiễn, giúp HS vận dụng những kiến thức đã học vào thực tế một cách trực quan sinh động với nội dung rất đa dạng giúp HS mở rộng đào sâu thêm những điều được học trong giờ nội khóa
Cũng theo Nguyễn Quang Đông, những tác dụng của HĐNK vật lí là [5, tr.6-7]:
Giáo dục nhận thức: HĐNK giúp HS củng cố, đào sâu, mở rộng kiến thức đã học trên lớp, ngoài ra giúp HS vận dụng kiến thức đã học vào giải quyết những vấn đề thực tiễn đời sống đặt ra, tạo điều kiện để học đi đôi với hành, lí luận đi đôi với thực tiễn
Trang 34 Rèn luyện kĩ năng: HĐNK rèn luyện cho HS kĩ năng tự quản, kĩ năng tổ chức, kĩ năng điều khiển, kĩ năng làm việc theo nhóm, ngoài ra còn góp phần phát triển kĩ năng giao tiếp, kĩ năng chế tạo dụng cụ và làm thí nghiệm, kĩ năng giải quyết vấn đề,
Giáo dục tinh thần thái độ: HĐNK tạo hứng thú học tập, khơi dậy lòng ham hiểu biết, muốn hoạt động của HS, lôi cuốn HS tự giác tham gia nhiệt tình vào các hoạt động, phát huy tính tích cực, tự lực của HS
Rèn luyện năng lực tư duy, hoạt động ngoại khóa có thể rèn luyện cho HS các loại tư duy: tư duy logic; tư duy trừu tượng; tư duy kinh nghiệm; tư duy phân tích; tư duy tổng hợp; tư duy sáng tạo
Như vậy, HĐNK giúp HS: củng cố, mở rộng kiến thức; phát triển các kĩ năng, phẩm chất của bản thân; kích thích khả năng tư duy, sáng tạo
1.4.2 Đặc điểm của hoạt động ngoại khóa vật lí
Theo Nguyễn Quang Đông, những đặc điểm của HĐNK là [5, tr.6]:
HĐNK được thực hiện ngoài giờ học, dựa trên tinh thần tự nguyện và nguyện vọng của mỗi HS và có sự hướng dẫn của GV trong khả năng và điều kiện tổ chức của nhà trường
HĐNK có thể được tổ chức dưới nhiều dạng: dạng tập thể lớp, dạng nhóm theo năng khiếu, dạng học tập, dạng vui chơi, dạng thường kì, dạng đột xuất nhân những dịp kỉ niệm hay lễ hội
HĐNK có thể được tổ chức theo hình thức như: tổ ngoại khóa, câu lạc bộ khoa học, hội vui, hội thi tìm hiểu kiến thức, dạ hội khoa học, dạ hội nghệ thuật,…
Nội dung của HĐNK rất đa dạng bao gồm cả mặt văn hóa, khoa học công nghệ, thể dục thể thao, kĩ thuật… nhằm giúp HS mở rộng, đào sâu, làm phong phú thêm những điều đã được học trong các giờ nội khóa của môn học tương ứng
Nội dung và hình thức tổ chức hoạt động ngoại khoá phải đa dạng, mềm dẻo, hấp dẫn để lôi cuốn được nhiều học sinh tham gia
Việc đánh giá kết quả của HĐNK không đánh giá bằng điểm số mà thông qua sản phẩm của học sinh làm được, thông qua sự hứng thú, tích cực, năng lực sáng tạo
Trang 35của học sinh Để khích lệ quá trình hoạt động của HS thì cũng cần có sự khuyến khích
và phần thưởng động viên kịp thời cho các em
1.4.3 Nội dung hoạt động ngoại khóa vật lí
Theo Nguyễn Quang Đông [5, tr.6]:
Nội dung HĐNK vật lí có thể nằm trong phạm vi chương trình hoặc nội dung vượt phạm vi chương trình với mục đích mở rộng tầm hiểu biết, phát huy sáng tạo và giáo dục tư tưởng cho HS, cụ thể là:
Tìm hiểu và nghiên cứu những kiến thức lí thuyết về vật lí và kỹ thuật
Nghiên cứu những lĩnh vực riêng biệt của vật lí học ứng dụng như kỹ thuật điện,
kỹ thuật vô tuyến, kỹ thuật chụp ảnh…
Nghiên cứu thiết kế chế tạo dụng cụ và làm thí nghiệm vật lí, nghiên cứu những ứng dụng kỹ thuật của vật lí
Vì vậy, khi lựa chọn nội dung nào để tổ chức HĐNK vật lí, GV phải dựa vào một
1.4.4 Quy trình hoạt động ngoại khóa vật lí
Quy trình chung khi tổ chức hoạt động ngoại khóa về Vật lí [5]:
Bước 1: Lựa chọn chủ đề ngoại khoá và đặt tên cho hoạt động ngoại khóa
- Căn cứ vào nội dung chương trình, mục tiêu dạy học và tình hình thực tế của dạy học nội khoá bộ môn, đặc điểm của HS và điều kiện của GV cũng như của nhà trường
để lựa chọn chủ đề của hoạt động ngoại khoá cần tổ chức Việc lựa chọn này phải rõ ràng để có tác dụng định hướng tâm lí và kích thích sự tích cực, tự lực của HS ngay từ đầu
- Đặt tên cho hoạt động ngoại khóa là việc làm cần thiết vì tên của nó nói lên được chủ đề, mục tiêu, nội dung, hình thức của ngoại khóa Tên hoạt động ngoại khóa cũng tạo ra được sự hấp dẫn, lôi cuốn, tạo ra được trạng thái tâm lí hứng khởi và tích cực
Trang 36của HS Đặt tên cho hoạt động ngoại khóa cần rõ ràng, chính xác, ngắn gọn, phản ánh được chủ đề và nội dung, tạo được ấn tượng ban đầu cho HS
Bước 2: Lập kế hoạch tổ chức hoạt động ngoại khoá
Khi lập kế hoạch tổ chức hoạt động ngoại khoá thì GV cần:
- Xác định mục tiêu giáo dục của hoạt động, gồm có: mục tiêu về kiến thức; mục tiêu về kĩ năng và yêu cầu về phát triển năng lực, trí tuệ; mục tiêu về thái độ, tình cảm Mục tiêu của hoạt động là dự kiến trước kết quả của hoạt động Các mục tiêu hoạt động cần phải rõ ràng, cụ thể và phù hợp; phản ánh được các mức độ cao thấp của yêu cầu đạt về tri thức, kĩ năng, thái độ và định hướng giá trị
- Xây dựng nội dung cho hoạt động ngoại khoá dưới dạng những nhiệm vụ học tập
cụ thể
- Xác định hình thức tổ chức, phương pháp dạy học
- Xác định các tình huống có thể xảy ra và cách giải quyết
- Xác định những công việc có thể cần hợp tác với cán bộ quản lí của địa phương, nhà trường,với cha mẹ HS, với các tổ chức quần chúng khác
- Xác định thời gian và địa điểm tổ chức
Bước 3: Tiến hành hoạt động ngoại khoá theo kế hoạch
Khi tổ chức hoạt động ngoại khoá theo kế hoạch GV cần:
- Luôn theo dõi quá trình HS thực hiện các nhiệm vụ để có thể giúp đỡ kịp thời, đặc biệt là những tình huống phát sinh ngoài dự kiến, kịp thời điều chỉnh những nội dung diễn ra không đúng kế hoạch
- Đối với những hoạt động diễn ra ở quy mô lớn như khối lớp, trường hoặc liên trường thì GV đóng vai trò là người tổ chức, điều khiển các hoạt động Đồng thời GV cũng phải là người trọng tài để tổ chức cho HS có thể tham gia tranh luận hay bảo vệ ý kiến của mình về những nội dung hoạt động ngoại khoá
- Đối với những hoạt động diễn ra ở quy mô nhỏ như trong tổ, nhóm, một lớp HS thì cần để cho HS hoàn toàn tự chủ cả việc tổ chức và thực hiện nhiệm vụ được giao,
GV chỉ có vai trò hướng dẫn khi HS gặp khó khăn hoặc việc không xử lí được
Trang 37- Sau mỗi đợt tổ chức hoạt động ngoại khoá thì GV phải đánh giá, rút kinh nghiệm
để điều chỉnh nội dung, hình thức và phương pháp cho hợp lí để tổ chức những đợt ngoại khoá về sau đạt kết quả cao hơn
Bước 4: Tổ chức cho HS báo cáo kết quả, rút kinh nghiệm, khen thưởng
Việc đánh giá kết quả của quá trình hoạt động ngoại khoá không giống như trong nội khoá, mà phải đánh giá thông qua cả quá trình hoạt động GV đánh giá hiệu quả thông qua sự tích cực, sự hứng thú, sự sáng tạo của HS và cả những kết quả mà HS đạt được trong quá trình hoạt động Trong đó sản phẩm của quá trình hoạt động là một căn
cứ quan trọng để đánh giá Do vậy, cần tổ chức cho HS giới thiệu, báo cáo sản phẩm
đã tạo ra được trong quá trình hoạt động ngoại khoá Mặt khác, việc làm này còn có tác dụng trong việc khích lệ, động viên tinh thần tích cực học tập của HS về sau Quy trình tổ chức hoạt động ngoại khoá như trên có thể đem lại hiệu quả cao nếu
GV biết vận dụng tốt các điều kiện và tổ chức hợp lí các hoạt động của HS Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện thì GV cần phải căn cứ vào tình hình thực tế của nhà trường,
HS và các yêu cầu giáo dục của bộ môn mà vận dụng quy trình trên một cách mềm dẻo sao cho quá trình hoạt động ngoại khoá đạt hiệu quả cao nhất
1.4.5 Phương pháp hướng dẫn hoạt động ngoại khóa vật lí
Phương pháp dạy học HĐNK thường có tính mềm dẻo, không cứng nhắc, phụ thuộc và nội dung của HĐNK và trình độ GV cũng như HS Trong dạy học ngoại khóa, việc hướng dẫn của GV theo các kiểu định hướng: định hướng tái tạo, định hướng khái quát chương trình hóa, định hướng tìm tòi [14]
• Định hướng tái tạo
Đó là kiểu định hướng mà GV hướng dẫn HS vào việc huy động, áp dụng những kiến thức, cách thức hoạt động mà HS đã nắm được hoặc đã được GV chỉ ra một cách tường tận để HS có thể thực hiện nhiệm vụ mà họ đảm nhận Nghĩa là HS chỉ cần tái tạo những hành động đã được GV chỉ rõ hoặc những hành động trong các tình huống quen thuộc với HS
• Định hướng nhận thức khái quát chương trình hóa
Trang 38Trong kiểu định hướng này, GV cũng gợi ý cho HS kiểu định hướng tìm tòi trên, giúp HS nhận thức được khái quát Sự định hướng được chương trình hóa theo các bước dự định hợp lí
GV thực hiện từng bước hướng dẫn HS giải quyết nhiệm vụ mà họ đảm nhận Sự định hướng ban đầu đòi hỏi HS phải tự lực tìm tòi giải quyết vấn đề đặt ra Nếu HS không thể thực hiện được, thì GV phải giúp đỡ HS phát triển định hướng khái quát ban đầu (gợi ý thêm, cụ thể hóa, chi tiết hóa thêm một bước) để thu hẹp hơn phạm vi, mức
độ phải tìm tòi giải quyết cho vừa sức HS Nếu đã thu hẹp phạm vi, mức độ tìm tòi mà
HS vẫn không đáp ứng được thì GV hướng dẫn chuyển dần sang kiểu định hướng tái tạo Khi cần thiết phải chuyển sang kiểu định hướng tái tạo, trước hết là sử dụng hướng dẫn trình tự các hành động, thao tác hợp lí theo đó HS tự giải quyết được vấn
đề đã đặt ra Nếu HS vẫn không đáp ứng được thì mới thực hiện sự hướng dẫn tái tạo đối với mỗi hành động, thao tác cụ thể riêng biệt của trình tự hành động thao tác đó
• Định hướng tìm tòi
Đây là kiểu định hướng mà GV không chỉ ra cho HS một cách tường minh các kiến thức và cách thức hoạt động cần áp dụng, GV chỉ đưa ra cho HS những gợi ý để cho HS có thể tự tìm tòi, huy động hoặc xây dựng những kiến thức và cách thức thích hợp để giải quyết nhiệm vụ họ đảm nhận Theo định hướng này, từng HS sẽ phải tham gia vào các hoạt động như đọc sách, tạp chí khoa học, tìm kiếm thông tin trên internet theo sự gợi ý của GV Đây là hình thức hoạt động đơn giản và dễ thực hiện
Nó là yếu tố chuẩn bị cơ bản và cần thiết cho HĐNK, có thể nói, các HĐNK khác đều phải có yếu tố này Hình thức hoạt động này bổ sung nhiều cho các giờ học nội khóa Ngoài ra, hình thức này còn giúp học cho HS ham thích tìm tòi, ham thích đọc các loại sách báo hoặc tự tìm hiểu các kiến thức trên các phương tiện thông tin đại chúng như ti
vi, mạng internet
Trang 391.5 Điều tra thực trạng về tính tích cực, năng lực sáng tạo của học sinh trong học tập vật lí
1.5.1 Mục đích điều tra
- Biết được thực trạng về tính tích cực, năng lực sáng tạo của học sinh trong học tập vật lí ở trường phổ thông trước khi tổ chức hoạt động ngoại khóa chương “Cơ học chất lưu”
- Biết được thực trạng về các biện pháp phát huy tính tích cực và năng lực sáng tạo của học sinh trong học tập vật lí ở trường phổ thông trước khi tổ chức hoạt động ngoại khóa chương “Cơ học chất lưu”
Những kết quả tìm hiểu được về tính tích cực, năng lực sáng tạo của học sinh trong học tập vật lí ở trên là cơ sở để chúng tôi xây dựng nội dung, phương pháp và hình thức tổ chức HĐNK về ƯDKT chương “Cơ học chất lưu” trong chương trình Vật
lí 10 nhằm phát huy tính tích cực và phát triển năng lực sáng tạo của HS một cách phù hợp nhất Qua đó, làm cơ sở để đánh giá hiệu quả của quá trình thực nghiệm sư phạm
1.5.2 Phương pháp điều tra
- Với GV: Dự giờ một số tiết dạy, trao đổi trực tiếp với GV bộ môn vật lí, GV phụ trách phòng thí nghiệm vật lí
- Với HS: Trao đổi trực tiếp, quan sát HS trong các giờ học trên lớp, dùng phiếu điều tra (Phiếu 1 - Phụ lục 1)
1.5.3 Đối tượng điều tra
- Điều tra các GV giảng dạy bộ môn vật lí trong và ngoài trường THCS - THPT Nguyễn Khuyến
- Điều tra HS lớp 10A1, 10A5 trường THCS - THPT Nguyễn Khuyến
1.5.4 Kết quả điều tra
1.5.4.1 Thực trạng về tính tích cực và năng lực sáng tạo của học sinh trong học tập Vật lí
Thực trạng về tính tích cực
Khảo sát tính tích cực học tập của HS thông qua phiếu khảo sát HS cho kết quả như sau:
Trang 40Hình 1.1 Đồ thị biểu diễn kết quả khảo sát tính tích cực của HS trong học tập
trước khi tham gia HĐNK
- Khả năng chú ý của HS hầu hết ở mức trung bình và mức khá (mức 2 và mức 3)
- Sự kiên trì, cố gắng của HS tương đối thấp, tập trung nhiều nhất ở mức trung bình
- Sự đóng góp của HS chủ yếu ở mức trung bình
- Sự lĩnh hội kiến thức của HS trong chương “Cơ học chất lưu” còn thấp, chủ yếu
ở mức yếu và trung bình
Đánh giá thông qua việc quan sát thực tế:
- Trong các tiết nội khóa, đa số HS còn thụ động, ít phát biểu ý kiến
- Khả năng vận dụng kiến thức vật lí đã học để giải thích những hiện tượng trong thực tế chưa tốt
Thực trạng về năng lực sáng tạo
Khảo sát năng lực sáng tạo trong học tập của HS thông qua phiếu khảo sát cho kết quả như sau: